b Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký, quản lý sử dụng tên miền, so sánh với một số quy định của Tổ chức Quản lý tên miền - Số hiệu mạng quốc tế ICANN; xem xét tín
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ luật “Pháp luật điều chỉnh tên miền ở
Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của Giáo
viên hướng dẫn Những thông tin, kết quả, số liệu nêu trong luận văn được trích dẫn
rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc Những thông tin thu nhập của cá nhân đảm bảo tính khách quan và trung thực
Tác giả luận văn
Nguyễn Đỗ Ngọc Linh
Trang 4Phụ lục 1: Tài liệu xử phạt vi phạm hành chính tên miền baocantho.net 1
Phụ lục 2: Thống kê số vụ tranh chấp tên miền giải quyết tại WIPO 6
Phụ lục 3: Nội dung vụ kiện liên quan tên miền nokiabooks.com 11
Phụ lục 4: Nội dung vụ kiện liên quan tên miền validas.com 20
Phụ lục 5: Nội dung vụ kiện liên quan tên miền samsungmobile.com.vn và samsungmobile.vn 39
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÊN MIỀN 7
1.1 Khái quát về các tổ chức quản lý và giải quyết tranh chấp tên miền trên quốc tế và tại Việt Nam 7
1.1.1 Tổ chức cấp phát số hiệu Internet-IANA 7
1.1.2 Tổ chức quản lý tên miền và số hiệu mạng quốc tế-ICANN 8
1.1.3 Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới-WIPO 8
1.1.4 Trung tâm Internet Việt Nam-VNNIC 9
1.2 Khái quát về tên miền 10
1.2.1 Sự hình thành mạng Internet 10
1.2.2 Giao thức điều khiển truyền dẫn/giao thức liên mạng-TCP/IP và địa chỉ IP 11
1.2.3 Tên miền (Domain Name) 12
1.2.4 Tiện ích của hệ thống quản lý tên miền trong quản lý về mặt hành chính 15
1.2.5 Tên miền trong mối quan hệ với các đối tượng của Luật Sở hữu trí tuệ và các luật khác 15
1.3 Quy định của pháp luật chuyên ngành về tên miền 29
1.3.1 Cơ quan quản lý tên miền 29
1.3.2 Đăng ký, sử dụng tên miền 30
1.3.3 Chấm dứt tên miền 31
1.3.4 Khôi phục, đăng ký lại tên miền 33
1.3.5 Thuận lợi và hạn chế từ chính sách quản lý tên miền “.vn” của Việt Nam 33
1.4 Quy định của các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam về tên miền 36
1.4.1 Việc thừa nhận tên miền trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005 36
1.4.2 Cơ chế bảo hộ tên miền thao Luật Công nghệ thông tin 36
Trang 61.5 Kết luận Chương 1 39
CHƯƠNG 2: TRANH CHẤP TÊN MIỀN - THỰC TRẠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 40
2.1 Khái quát chung về tranh chấp tên miền 40
2.1.1 Khái niệm tranh chấp tên miền 40
2.1.2 Điểm khác nhau giữa tranh chấp tên miền và tranh chấp kinh doanh thương mại 41
2.1.3 Phân tích nguyên nhân phát sinh tranh chấp 44
2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp tên miền quốc tế 52
2.2.1 Chính sách giải quyết tranh chấp tên miên thống nhất 52
2.2.2 Một số vụ kiện tiêu biểu 56
2.2.3 Ý nghĩa pháp lý từ kinh nghiệm giải quyết tranh chấp tên miền quốc tế 57
2.3 Thực tiễn giải quyết tranh chấp tên miền tại Việt Nam 59
2.3.1 Vụ kiện tranh chấp tên miền samsumgmobile.com.vn và samsungmobile.vn 59
2.3.2 Vụ kiện tranh chấp tên miền nguoilaodong.vn 61
2.3.3 Vụ kiện liên quan đến tên miền oscvietnamtravel.com.vn 63
2.4 Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của tranh chấp tên miền “.vn” và nguyên nhân nổi trội của tranh chấp tên miền hiện nay tại Việt Nam 64
2.4.1 Xét ở khía cạnh thực tiễn của tranh chấp tên miền “.vn” 64
2.4.2 Xét ở khía cạnh pháp lý của tranh chấp tên miền “.vn” 64
2.5 Một số kiến nghị hoàn thiện 66
2.5.1 Hoàn chỉnh ở góc độ lập pháp 66
2.5.2 Các kiến nghị, giải pháp bổ sung 78
2.6 Kết luận chương 2 84
KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghệ, một trong ba động lực chính thúc đẩy toàn cầu hóa1, là một yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển Thực hiện cơ chế thị trường, Việt Nam tiến hành đổi mới, hội nhập kinh tế khu vực, thế giới và thực hiện mở cửa kêu gọi đầu tư, tiếp thu nền văn minh tiến bộ của nhân loại Theo đó, Việt Nam bắt đầu tiếp cận, hòa nhập vào Internet từ ngày 01 tháng 12 năm 1997 Vài năm sau, Internet đã chính thức trở thành công cụ hữu ích cho người sử dụng từ tổ chức, cá nhân đến các doanh nghiệp Đến ngày 17 tháng 10 năm 2000, Bộ Chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW, trong đó nhấn
mạnh: “…ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng
tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1073/2010/QĐ-TTg về phê duyệt “Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011-2015” Trên cơ sở đó, Internet ngày càng phát triển mạnh và khẳng định được mình trong thời đại thông tin,
kỹ thuật số hiện nay
Qua 13 năm, cùng với sự phát triển của ngành khoa học công nghệ, mạng Internet nói chung và tên miền nói riêng góp phần quan trọng trong việc xúc tiến thương mại, mở rộng cơ hội kinh doanh, quảng bá sản phẩm, khẳng định hình ảnh, giới thiệu thương hiệu của doanh nghiệp, đặc biệt là khi lĩnh vực thương mại điện tử ngày càng phát triển
Ngày nay, khi sử dụng tiện ích của Internet, có lẽ nhiều người trong xã hội đều quá quen thuộc với những địa chỉ như www.thegioididong.com, www.vnexpress.net, www.chinhphu.vn, … Đó chính là tên miền Chỉ cần “click chuột”, mỗi người trong chúng ta có thể tìm được khối lượng thông tin lớn trên thư viện trực tuyến mà không có một bộ bách khoa toàn thư hay thư viện nào có thể so sánh được
Theo thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), số lượng tổ chức,
cá nhân đăng ký, sử dụng tên miền ngày càng gia tăng Tuy nhiên, trong số đó, ít chủ thể nào có thể biết hết các quy định pháp luật điều chỉnh liên quan đến tên miền, như: đăng ký, quản lý, sử dụng và bảo vệ tên miền
1 Công nghệ, chính sách kinh tế và các thay đổi về chính trị là động lực đính thúc đẩy toàn cầu hóa Xem WTO (2008), World Trade Report 2008: Trade in Globalizing World, Geneva: WTO, tr.20
2 Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.7
Trang 8Mặt khác, trên mạng Internet, chúng ta dễ dàng tìm thấy hiện tượng mạo danh những người nổi tiếng nhưng không thể, không được xử lý rốt ráo Ví dụ gần 20 tên miền mạo danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (nguyentandung.org, nguyentandung.biz, nguyentandung.us, thutuongnguyentandung.net, thutuongnguyentandung.org, thutuongnguyentandung.info, ), cũng như các vị lãnh đạo Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, các vị bộ trưởng, thứ trưởng các bộ, Bí thư Thành ủy TP Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh 3
Thực trạng này chứng minh khung pháp lý của chúng ta hiện nay chưa hoàn thiện, các quy định pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này còn chưa đầy đủ, được quy định rời rạc trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau; nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến tên miền còn bỏ ngỏ Pháp lệnh Bưu chính viễn thông được ban hành năm 2002 (sau này là Luật Bưu chính, Luật Viễn thông), Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin đã được Quốc hội thông qua và bước đầu tạo dựng được khung pháp
lý liên quan đến tên miền Là vấn đề còn khá mới với Việt Nam nên các đạo luật trên vẫn chưa quy định đầy đủ, chi tiết các vấn đề về tên miền Đồng thời, kiến thức, trình
độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức về lĩnh vực tên miền còn yếu, doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng của tên miền đối với bảo vệ, phát triển hoạt động kinh doanh của mình Do vậy, một số chủ thể đã lợi dụng “tính duy nhất” của tên miền để đăng ký chiếm dụng hay đầu cơ nhằm thu lợi nhuận cao, dẫn đến phát sinh tranh chấp tên miền Trong nền kinh tế thị trường, một khung pháp lý hoàn thiện điều chỉnh về tên miền, bảo vệ quyền của quyền lợi của chủ thể liên quan và sự cạnh tranh của doanh nghiệp, tránh gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi doanh nghiệp trở nên rất cần thiết
Với mong muốn được góp phần làm rõ vấn đề nêu trên, tác giả đã chọn đề
“PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH TÊN MIỀN Ở VIỆT NAM” cho luận văn thạc sĩ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh phát triển mạnh của công nghệ thông tin, các website và tên miền đã thực sự trở nên thông dụng, phổ thông với hầu hết người dân Việt Nam Tuy nhiên, hệ thống pháp luật điều chỉnh về tên miền, đặc biệt là chính sách giải quyết tranh chấp tên miền có thể tiếp cận với hệ thống pháp luật tiên tiến trên thế giới hay chưa là một vấn đề quan trọng cần được quan tâm
Ở nước ta, công trình nghiên cứu về tên miền khá ít Bên cạnh các bài viết về tên miền, giải quyết tranh chấp tên miền từ các chuyên gia pháp lý, các chủ thể liên
3 http://news.dangkytenmien.org/2011/09/tran-lan-web-mao-danh-lanh-ao.html
Trang 9quan được đăng tải trên các bài báo, tạp chí cũng như trên Internet, có một số đề tài, khóa luận liên quan lĩnh vực này:
1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ tên miền tại Việt Nam, Luận
văn cử nhân, 2006, tác giả: Nguyễn Đỗ Ngọc Linh, trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh
Luận văn này nghiên cứu các vấn đề, như: (a) Lịch sử hình thành, phát triển
Internet, tên miền tại Việt Nam, những lợi ích của tên miền; phân tích các khái niệm
khác nhau về tên miền, trên cơ sở đó tác giả đưa ra một khái niệm về tên miền (b)
Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký, quản lý sử dụng tên miền, so sánh với một số quy định của Tổ chức Quản lý tên miền - Số hiệu mạng quốc tế (ICANN); xem xét tính đúng đắn hiệu quả của các quy định trên cơ sở khoa
học (c) Tác giả khóa luận phân tích các quy định pháp luật Việt Nam về tên miền
thông qua thực tiễn một số vụ việc thực tế đã xảy ra tại Việt Nam (như vụ việc liên quan đến tên miền Internet.com của Công ty Luật Gia Phạm; tên miền tie.com của công ty P&G; tên miền yellowpages.com.vn và yellowpage.com.vn của Công ty TNHH Trang Vàng Việt Nam) Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện chính sách pháp luật
Tại thời điểm luận văn hoàn thành, Luật Công nghệ thông tin vừa được Quốc hội thông qua nhưng chưa phát sinh hiệu lực Bên cạnh đó, Luật Viễn thông được Quốc hội thông qua vào ngày 23 tháng 11 năm 2009 Đây là hai văn bản pháp luật quy định về phân bổ, quản lý tài nguyên Internet và giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”
Mặt khác, luận văn không phân tích các vụ kiện liên quan đến tên miền được giải quyết theo pháp luật quốc tế Ngoài ra, kiến nghị của luận văn chưa giải quyết mối quan hệ giữa tên miền và quyền sở hữu trí tuệ
2 Bên cạnh khóa luận cử nhân nêu trên thì có một số luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc sử dụng Internet, vấn đề thương mại điện tử, vấn đề phát triển và bảo mật các thông tin trong lĩnh vực thương mại điện tử (không nghiên cứu về/liên quan đến tên miền) như:
- Chứng cứ và bảo mật trong thương mại điện tử, Luận văn thạc sĩ, 2006,
Trần Thanh Hoa, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
- Luật Giao dịch điện tử 2005 - Cơ sở pháp lý cho hình thức giao dịch mới ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ, 2006, Châu Việt Bắc, trường Đại học Luật thành
phố Hồ Chí Minh
Ngoài các đề tài nêu trên thì chưa có một công trình khoa học, đề tài luận văn nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật trong xử lý, giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến tên miền, tranh chấp tên miền; kinh nghiệm của quốc tế Do đó, đề
Trang 10tài mà tác giả khai thác “PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH TÊN MIỀN Ở VIỆT NAM”
là một khía cạnh mới trong lĩnh vực luật học và mang tính thời sự Đề tài này được tác giả nghiên cứu sâu hơn nhằm phát triển khóa luận cử nhân năm 2006, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật, đặc biệt là cơ chế giải quyết tranh chấp tên miền tại Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trước hết, đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về tên miền như: quy định của pháp luật hiện hành về tên miền (định nghĩa tên miền, cấu trúc tên miền, nguyên tắc đăng ký, quản lý, sử dụng tên miền, mối quan hệ giữa tên miền và đối tượng sở hữu trí tuệ); tranh chấp tên miền (làm rõ sự khác biệt giữa tranh chấp tên miền và tranh chấp kinh doanh thương mại, tìm hiểu điều khoản cụ thể của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp tên miền “.vn”; tham khảo pháp luật quốc tế; phân tích hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật thông qua thực tiễn trên thế giới và tại Việt Nam) Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành xem xét, đánh giá tính chính xác, hiệu quả của các quy định pháp luật trên cơ sở khoa học; đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế điều chỉnh về tên miền Tác giả ghi nhận những điểm chưa phù hợp, còn thiếu sót từ khung pháp lý của Việt Nam và ghi nhận những khía cạnh tiến bộ, những ưu điểm trong khung pháp lý quốc tế
Mục đích cuối cùng và lớn nhất của công trình nghiên cứu này là đưa ra cơ sở
lý luận và thực tiễn cho những kiến nghị góp phần xây dựng, hoàn thiện khung pháp
lý của Việt Nam và tiếp cận với khung pháp lý quốc tế; đưa ra giải pháp để để những quy định này mang tính khả thi, áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn, đặc biệt là tên miền “.vn” Qua đó, tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho chủ thể an tâm đầu tư, kinh doanh, nhất là khi họ đã tạo lập được một thương hiệu hoặc xây dựng nhãn hiệu hàng hóa đã được bảo hộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu như trên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Các vấn đề lý luận về tên miền, tranh chấp tên miền
- Các điều khoản liên quan điều chỉnh về tên miền
- Quy định về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”
- Quy định của pháp luật quốc tế (Chính sách giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất- Uniform Domain Name Resolution Policy-UDRP) về giải quyết tranh chấp tên miền
Trang 11- Tìm hiểu một số vụ kiện phổ biến trong thực tiễn tranh chấp tên miền trên thế giới và tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung nghiên cứu của đề tài và giải quyết được các vấn đề đã đặt ra, đề tài được tiến hành trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp như: phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê… Tất cả các phương pháp nêu trên được vận dụng linh hoạt trên cơ sở phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm của Đảng về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, tài nguyên Internet nói chung, tên miền nói riêng
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Đề tài này sẽ góp phần bổ sung cho những công trình nghiên cứu còn khá ít về lĩnh vực tên miền, giải quyết tranh chấp tên miền Trước hết, đề tài là một công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn một cách cơ bản, có hệ thống
về các quy định điều chỉnh tên miền tại Việt Nam, như: bảo hộ tên miền, giải quyết tranh chấp tên miền Đặc biệt là đặc điểm, mối quan hệ giữa tên miền, tranh chấp tên miền với những đối tượng liên quan và xem xét những vấn đề này trên cả bình diện thực tiễn để thấy rõ tính khả thi của các quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp tên miền
Trong bối cảnh, pháp luật điều chỉnh về tên miền “.vn” còn khá mới, đề tài đã phân tích một số quy định của pháp luật quốc tế trên cả bình diện lý luận và thực tiễn Qua đó, đề tài cung cấp thêm cơ sở lý luận để hoàn thiện một số quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này Các kiến nghị của đề tài có thể là nguồn tư liệu tham khảo để cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về tên miền quốc gia “.vn” tại Việt Nam Ngoài ra, kết quả công trình nghiên cứu có thể phục vụ cho các cơ quan liên quan, viện nghiên cứu, trường đại học
Kết quả nghiên cứu có thể giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về tài sản trí tuệ của mình và quản lý, khai thác hiệu quả tên miền trong kinh doanh; đồng thời, nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp về vấn đề bảo hộ tên miền, giải quyết tranh chấp tên miền khi đầu tư phát triển thương mại điện tử, tham gia môi trường kinh doanh trực tuyến Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xây dựng những giải pháp phù hợp, đúng đắn để bảo vệ tài sản trí tuệ, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, đảm bảo môi trường kinh doanh trực tuyến ngày một an toàn và lành mạnh
Ngoài ra, đề tài cũng cung cấp cho đội ngũ cán bộ công chức, cơ quan áp dụng pháp luật cùng những chuyên gia tư vấn những kiến thức bổ ích khi tư vấn, xử
lý những tình tiết liên quan đến tên miền, giải quyết tranh chấp tên miền
Trang 127 Kết cấu của đề tài
Đề tài được xây dựng theo bố cục như sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tên miền
Chương 2: Tranh chấp tên miền - Thực trạng trên thế giới và tại Việt Nam Kết luận
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÊN MIỀN
1.1 Khái quát về các tổ chức quản lý và giải quyết tranh chấp tên miền trên quốc tế và tại Việt Nam
Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật và mạng Internet, con người trên toàn cầu có điều kiện kết nối, liên lạc với nhau nhanh chóng, nắm bắt thông tin xảy
ra ở khắp mọi nơi trên thế giới Chỉ cần một gõ một địa chỉ, chúng ta sẽ được dẫn đến website4 liên kết, địa chỉ này được gọi là tên miền Trên phạm vi toàn thế giới, Internet Corporation for Assigned Names and Numbers là tổ chức chịu trách nhiệm quản lý về tên miền, số hiệu Internet Khi tên miền trở nên phổ biến thì tình trạng tranh chấp tên miền cũng phát sinh nhanh chóng, một trong những tổ chức giải quyết tên miền quốc tế chính là World Intellectual Property Organization Trên lãnh thổ Việt Nam, tên miền được quản lý bởi một cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin truyền thông, đó là Trung tâm Internet Việt Nam Phần 1.1.1 của luận văn sẽ tập trung giới thiệu về những tổ chức này
1.1.1 Tổ chức cấp phát số hiệu Internet-IANA
IANA-Internet Assigned Numbers Authority là một cơ quan giám sát việc chỉ định địa chỉ IP, quản lý khu vực quốc tế của DNS toàn cầu và cấp phát giao thức Internet khác, chủ yếu do Jon Postel quản lý tại Viện Khoa học Thông tin của trường Đại học Nam California, dưới một hợp đồng USC/ISI với Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, cho đến khi ICANN được thành lập để nhận trách nhiệm dưới hợp đồng của Bộ Thương mại Hoa Kỳ Bắt đầu từ năm 1988, IANA được chu cấp bởi chính phủ Hoa
Kỳ theo hợp đồng giữa Cục Dự án Nghiên cứu Cao cấp Phòng thủ và Viện Khoa học Thông tin (ISI) Hợp đồng này hết hạn vào tháng 4 năm 1997, nhưng đã được kéo dài
để duy trì chức năng của IANA Jon Postel quản lý chức năng IANA từ khi bắt đầu cho tới khi ông qua đời vào tháng 10 năm 1998 Ngày 24 tháng 12 năm 1998, USC gia nhập vào thỏa thuận chuyển tiếp với Cơ quan tên miền và số hiệu mạng Internet ICANN, chuyển chức năng IANA cho ICANN và hoàn tất vào ngày 01 tháng 01 năm 1999 Ngày 08 tháng 02 năm 2000, Bộ thương mại Hoa Kỳ tham gia vào thỏa thuận với ICANN để thực hiện chức năng IANA5
Tại Việt Nam, IANA được hiểu là tổ chức quản lý tài nguyên địa chỉ IP (v4, v6)/số hiệu mạng cấp cao nhất (cấp toàn cầu), thực hiện việc phân phối tài nguyên cho các tổ chức quản lý cấp vùng (RIR)6
4 Khoản 17 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin quy định: Webiste-Trang thông tin điện tử là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin
5 Tham khảo tại http://www.iana.org/about/
6 Khoản 1 Điều 2 Quy định hướng dẫn việc đăng ký và quản lý sử dụng địa chỉ IP/số hiệu mạng tại Việt Nam, được ban hành kèm theo Quyết định số 196/QĐ-VNNIC ngày 06 tháng 8 năm 2010 của Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam
Trang 141.1.2 Tổ chức quản lý tên miền và số hiệu mạng quốc tế-ICANN
ICANN7-Internet Corporation for Assigned Names and Numbers là một tổ chức phi lợi nhuận đặt trụ sở tại Marina Del Rey, California, Hoa Kỳ, được thành lập ngày
18 tháng 9 năm 1998, có trách nhiệm điều hành thượng tầng kiến trúc mạng thông tin toàn cầu, tức là giám sát một số nhiệm vụ liên quan tới Internet mà trước đây được thực hiện trực tiếp bởi các tổ chức khác trên danh nghĩa của Chính phủ Mỹ
Nhiệm vụ chung của ICANN: phân bổ địa chỉ theo thể thức mạng (IP8), quản
lý hệ thống nối máy chủ gốc Internet (root) và thực hiện những thay đổi ở tầng cao nhất của kiến trúc mạng, xác định phân vùng những tên miền cấp cao nhất9 ICANN phối hợp các định danh duy nhất trên toàn thế giới nhằm tạo một mạng Internet toàn cầu Nó thúc đẩy cạnh tranh và phát triển chính sách về định danh duy nhất của Internet ICANN không kiểm soát nội dung trên Internet, không thể ngăn chặn thư rác và nó không đối phó với truy cập Internet Công việc kĩ thuật của ICANN giống như chức năng của IANA Những nguyên tắc cơ bản hàng đầu trong việc điều hành của ICANN được mô tả như việc giúp đỡ duy trì sự hoạt động ổn định của Internet; thúc đẩy việc cạnh tranh; đạt được sự đại diện rộng rãi của cộng đồng Internet toàn cầu và xây dựng chính sách phù hợp với nhiệm vụ của ICANN thông qua các quá trình từ dưới lên, dựa trên sự nhất trí ý kiến
Đối với lĩnh vực quản lý và sử dụng tên miền: ICANN có trách nhiệm quản
lý tất cả tên miền quốc tế trên phạm vi toàn thế giới và có quyền thông qua các tên miền cấp cao mới phù hợp với sự phát triển của hệ thống Internet cũng như trình độ kiến thức của con người (ví dụ: việc thông qua tên miền dùng chung “.xxx”10)
1.1.3 Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới-WIPO
WIPO11-World Intellectual Property Organization là một trong những cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc, được thành lập năm 1967 có trụ sở chính tại Genève, Thụy Sĩ, với mục tiêu chính là "đẩy mạnh hoạt động trí tuệ sáng tạo và tạo điều kiện chuyển giao công nghệ liên quan đến sở hữu trí tuệ sang các nước đang phát triển nhằm mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá"12 và phạm
vi hoạt động là khuyến khích sự sáng tạo của nhân loại và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới Tiền thân của WIPO là Văn phòng Quốc tế về Quản lý quyền đối
7 Tham khảo tại http://www.icann.org/
8 Xem mục 1.2.1.2 luận văn
9 Xem mục 1.2.1.4 luận văn
10 Xem nội dung ICANN chấp thuận tên miền “.xxx” tại website
http://www.bbc.co.uk/news/world-us-canada-12793606
11 Tham khảo thông tin tại website của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới http://www.wipo.int/portal/index.html.en và Michael Blakeney, Tài liệu giảng dạy về Sở hữu trí tuệ, nguồn http://nhaquanlytre.wordpress.com/2011/05/29/tai- li%e1%bb%87u-gi%e1%ba%a3ng-d%e1%ba%a1y-v%e1%bb%81-s%e1%bb%9f-h%e1%bb%afu-tri-
tu%e1%bb%87/
12 Điều 1 của Hiệp ước giữa UN và WIPO năm 1974
Trang 15với Sáng chế-BIRPI được thành lập vào năm 1893 để quản lý việc thực thi Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật và Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp Ban đầu BIRPI có trụ sở tại Berne, đến năm 1960 chuyển về Geneve, Thụy Sỹ Năm 1970, các nước thành viên của hai Công ước Berne và Paris ký kết hiệp ước thành lập Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới và đổi tên BIRPI thành WIPO trên cơ sở Công ước ký tại Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967-Công ước về việc thành lập "Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới", có hiệu lực ngày 26 tháng 4 năm 1970 Theo điều 3 của công ước, WIPO hướng tới mục đích thúc đẩy việc bảo hộ tài sản trí tuệ trên toàn cầu Năm 1974, WIPO chính thức trở thành một trong 16 cơ quan của Liên hiệp quốc WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh luật pháp và quản lý sở hữu trí tuệ13
Hiện nay, WIPO đang quản lý 21 công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ với các chức năng sau đây: thống nhất hoá pháp luật của các quốc gia thành viên về sở hữu trí tuệ; nhận đăng ký đơn sở hữu công nghiệp quốc tế; trao đổi thông tin về sở hữu trí tuệ; đào tạo và hỗ trợ pháp lý hay kỹ thuật về sở hữu trí tuệ; tạo điều kiện giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ và quản lý các thông tin khoa học công nghệ14 Với chức năng thúc đẩy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn cầu, WIPO đã nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến tên miền, nhãn hiệu Trên cơ sở đó, WIPO đã gửi bản báo cáo với khuyến nghị hình thành một chính sách giải quyết tranh chấp tên miền được tất
cả các cơ quan đăng ký tên miền cấp cao áp dụng thống nhất15 WIPO là 01 trong 04 tổ chức cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất được ICANN chỉ định
1.1.4 Trung tâm Internet Việt Nam-VNNIC
Ngày 01 tháng 12 năm 1997, mạng Internet Việt Nam đã chính thức hòa vào mạng Internet toàn cầu Mười ba năm phát triển-một chặng đường không dài nhưng khoảng thời gian đó cũng đủ để Internet có những đóng góp đặc biệt cho sự phát triển của đất nước Việt Nam về nhiều mặt: kinh tế chính trị, văn hóa xã hội Việt Nam, con đường hội nhập, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và thế giới Do đó, chính phủ Việt Nam luôn quan tâm, chú trọng tạo điều kiện tốt nhất để lĩnh vực này phát triển16
Năm 2000, Trung tâm thông tin mạng Internet Việt Nam được thành lập, trực thuộc Tổng cục Bưu điện, có chức năng quản lý, phân bổ, giám sát việc sử dụng nguồn
15 Xem mục 2.2.1.1 của luận văn
16 Tham khảo thông tin tại website Khoa quan hệ quốc tế - Học viện báo chí và tuyên truyền http://www.khoaqhqt.edu.vn/news/187-Cai-goi-la-Tu-do-Internet-cua-My.html
Trang 16tài nguyên Internet của Việt Nam; thông tin hướng dẫn về mạng Internet; tham gia các hoạt động quốc tế về Internet Trung tâm Internet Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Interner Network Information Center17 Sau này, tổ chức được đổi tên thành Trung tâm Internet Việt Nam, viết tắt là VNNIC, là đơn vị trực thuộc Bộ Thông tin và truyền thông, thực hiện chức năng quản lý, giám sát, thúc đẩy phát triển và hỗ trợ việc
sử dụng tài nguyên Internet ở Việt Nam18 Từ khi đi vào hoạt động, VNNIC đã góp phần quan trọng từng bước đưa Internet Việt Nam hội nhập thế giới, là đầu mối thông tin, hướng dẫn người sử dụng Internet và thúc đẩy sự phát triển Internet trong nước
1.2 Khái quát về tên miền
1.2.1 Sự hình thành mạng Internet 19
Internet (Inter-network) là một mạng máy tính rất rộng lớn kết nối các mạng máy tính khác nhau trải rộng khắp toàn cầu Các mạng liên kết với nhau dựa trên bộ giao thức (như là ngôn ngữ giao tiếp) TCP/IP-Giao thức điều khiển truyền dẫn/giao thức Internet, cho phép mọi máy tính liên kết, giao tiếp với nhau theo một ngôn ngữ máy tính thống nhất giống như một ngôn ngữ quốc tế (chẳng hạn như tiếng Anh) Internet được hình thành khoảng cuối thập kỉ 1960, từ một dự án nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Mỹ Tháng 7 năm 1968, Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu cấp cao của
Bộ Quốc phòng Mỹ (ARPA-Advanced Research Project Agency) đã đề nghị liên kết 4 địa điểm: Viện Nghiên cứu Standford, Trường Đại học tổng hợp California ở LosAngeles, UC-Santa Barbara và Trường Đại học tổng hợp Utah Bốn điểm trên được nối thành mạng vào năm 1969 đã đánh dấu sự ra đời của Internet Mạng này được biết đến dưới cái tên ARPANET Sau 20 năm, ARPANET trở nên không còn hiệu quả và đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990 và thay thế là mạng Internet Nhờ sự cải tiến và phát triển không ngừng, mạng Internet phát triển mạnh mẽ hơn các phương tiện truyền thông truyền thống khác như phát thanh và truyền hình Các công nghệ đang áp dụng trên Internet giúp cho Internet trở thành mạng liên kết vô số kho thông tin toàn cầu với dịch vụ phong phú về nội dung, hình thức Đó cũng chính là lý
do để thế giới Internet trở nên phổ biến với cộng đồng dân cư toàn cầu
World Wide Web (gọi tắt là Web hay WWW): là mạng lưới nguồn thông tin cho phép khai thác thông qua một số công cụ, chương trình hoạt động dưới các giao
17 Điều 1 Quyết định số 372/QĐ-TCBĐ ngày 28 tháng 4 năm 2000 của Tổng cục Bưu điện về việc thành lập Trung tâm thông tin mạng Internet Việt Nam
18 Điều 4 Mục I Những quy định chung của Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của
Bộ Thông tin và truyền thông Tham khảo thêm Quyết định 02/2008/QĐ-BTTTT của Bộ trưởng Bộ Thông tin
và Truyền thông quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Internet Việt Nam
19 Tham khảo nguồn gốc và lịch sử hình thành Internet tại Nguyễn Đăng Hậu-Viện Đào tạo Công nghệ và quản
lý-Khoa Công nghệ thông tin (2004), Kiến thức thương mại điện tử và
http://www.khoahocviet.org/chu-de/18666-nguon-goc-cua-internet/; xem trang web thanh-internet.html; trang web http://hedieuhanh.forumvi.net/t2165-topic; tham khảo Nguyễn Hoài Anh-Ao
http://tinhocvaungdung.blogspot.com/2009/11/lich-su-hinh-Thu Hoài (2010), Thương mại điện tử, NXB Thông tin và truyền thông, tr.90-tr.95 và tham khảo Nguyễn Duy
Phương, Dương Trần Đức, Đào Quang Chiểu, Phan Thị Huế, Nguyễn Thị Ngọc Hân-Học viện Công nghệ Bưu
chính viễn thông, Bài giảng Nhập môn Inernet và E-learning
Trang 17thức mạng WWW là công cụ, phương tiện, hay đúng hơn là một dịch vụ của Internet (Ví dụ: Địa chỉ www.google.com được biết đến như là một trong những công cụ tìm kiếm nổi tiếng trên Internet Khả năng tra cứu với mức độ chính xác cao đã khiến cho Google trở nên quen thuộc với người sử dụng)
Tại Việt Nam, Internet là một bộ phận quan trọng thuộc cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, được bảo vệ theo pháp luật, không ai được xâm phạm20
1.2.2 Giao thức điều khiển truyền dẫn/giao thức liên mạng-TCP/IP và địa chỉ
IP 21
TCP/IP-Transmission Control Protocol/Internet Protocol là một tập hợp các giao thức dùng để truyền tải và sửa lỗi các dữ liệu, cho phép chuyển dữ liệu giữa các máy tính trong mạng Internet, TCP/IP là giao thức chuẩn trong Internet Máy tính chủ Internet là máy tính được liên kết trực tiếp với mạng Internet bằng giao thức TCP/IP,
có khả năng cung cấp dịch vụ Internet TCP/IP và các giao thức liên quan tạo ra một
hệ thống hoàn chỉnh giúp quản lý quá trình dữ liệu được xử lý, chuyển và nhận trên một mạng sử dụng TCP/IP Ưu thế chính của bộ giao thức này là khả năng liên kết hoạt động của nhiều loại máy tính khác nhau TCP/IP đã trở thành tiêu chuẩn thực tế cho kết nối liên mạng cũng như kết nối Internet toàn cầu Hiện nay, TCP/IP được sử dụng rộng rãi trong các mạng cục bộ cũng như trên mạng Internet
IP-Internet Protocol là địa chỉ được gán cho các máy tính thuộc mạng Internet
để các máy tính này có thể liên lạc với nhau một cách thống nhất Địa chỉ Internet-IP
là địa chỉ mạng của thiết bị, máy chủ bao gồm các thế hệ địa chỉ IPv4, IPv622 và các thế hệ địa chỉ mới sẽ được sử dụng trong tương lai23 Các máy tính trên Internet phải làm việc với nhau theo giao thức chuẩn TCP/IP nên đòi hỏi phải có địa chỉ IP và địa chỉ này tồn tại duy nhất trong mạng IP là một phần của TCP/IP Địa chỉ IP được một
tổ chức phi chính phủ-InterNIC (Internet Network Information Center) cung cấp để đảm bảo không có máy tính kết nối Internet nào bị trùng địa chỉ (http://www.internic.net)
20 Khoản 8 Điều 4 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet Khoản 4 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 quy định: Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu
21 Điều 2 Quyết định số 679/1997/QĐ-TCBĐ ngày 14 tháng 11 năm 1997 của Tổng cục Bưu điện về ban hành Thể lệ dịch vụ Internet
22 Khoản 6, Khoản 7 và Khoản 8 Điều 2 Quy định hướng dẫn việc đăng ký và quản lý sử dụng địa chỉ IP/Số hiệu mạng tại Việt Nam, được ban hành kèm theo Quyết định số 196/QĐ-VNNIC ngày 06 tháng 8 năm 2010 của Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam quy định: Địa chỉ IPv4 là thế hệ địa chỉ Internet được sử dụng từ khi mạng Internet
ra đời IPv4 được thiết kế có chiều dài 32 bit và có thể cung cấp khoảng 4 tỉ địa chỉ Địa chỉ IPv6 là phiên bản địa chỉ Internet mới với chiều dài 128 bit, được sử dụng thay thế cho nguồn tài nguyên IPv4 sắp cạn kiệt để phục vụ cho cho hoạt động Internet toàn cầu
23 Điểm 2.3 Điều 2 Mục I Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet; Tham khảo quan điểm thúc đẩy sử dụng địa chỉ Intetnet thế hệ mới IPv6 được quy định tại Chỉ thị số 03/2008/CT-BTTTT ngày 06 tháng 5 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Trang 181.2.3 Tên miền (Domain Name)
1.2.3.1 Khái niệm tên miền:
Ngày nay, người dùng Internet dễ dàng tìm hiểu về tên miền tại các trang điện
tử khác nhau trên Internet, chẳng hạn: (i) Theo Mắt Bão Network Service: Mục đích
chính của tên miền là cung cấp một hình thức đại diện, hay nói cách khác, dùng những tên dễ nhận biết, thay cho những tài nguyên Internet mà đa số được đánh địa chỉ bằng
số Cách nhìn trừu tượng này cho phép bất kỳ tài nguyên nào (ở đây là website) đều có thể được di chuyển đến một địa chỉ vật lý khác trong cấu trúc liên kết địa chỉ mạng, có thể là toàn cầu hoặc chỉ cục bộ trong một mạng Intranet, mà trên thực tế là đang làm thay đổi địa chỉ IP Việc dịch từ tên miền sang địa chỉ IP (và ngược lại) do hệ thống DNS trên toàn cầu thực hiện Với việc cho phép sử dụng địa chỉ dạng chữ cái không trùng nhau thay cho dãy số, tên miền cho phép người dùng Internet dễ tìm kiếm, liên lạc với các trang web và bất kỳ dịch vụ liên lạc dựa trên IP24 (ii) Theo Công ty Trách
nhiệm hữu hạn một thành viên Viễn thông quốc tế FPT: Tên miền là định danh của website trên Internet, thường gắn với tên công ty và thương hiệu của doanh nghiệp Tên miền là duy nhất, được ưu tiên cấp phát cho chủ thể đăng ký trước25 (iii) Theo
Dan L.Burk: Một tên miền là một hình thức địa chỉ cho biết vị trí của một máy tính kết nối Internet và loại của tổ chức hoặc quốc gia mà địa chỉ thuộc về26
Về mặt kỹ thuật: Người sử dụng sẽ khó nhớ được địa chỉ IP dẫn đến việc sử dụng dịch vụ từ một máy tính nào đó là rất khó khǎn Vì thế hệ thống DNS (Domain Name System) sẽ gán cho mỗi địa chỉ IP một cái tên tương ứng mang một ý nghĩa nào
đó, dễ nhớ cho người sử dụng mà thuật ngữ Internet gọi là tên miền Tên miền là một
sự nhận dạng vị trí của một máy tính trên mạng Internet Nói cách khác, tên miền là tên của các mạng lưới, tên của các máy chủ trên mạng Internet Mỗi địa chỉ dạng chữ này luôn tương ứng với một địa chỉ IP dạng số Theo pháp luật Việt Nam: Tên miền là một phần của tài nguyên Internet27 Tên miền là tên được sử dụng để định danh địa chỉ
Như vậy, có thể hiểu tên miền là một giải pháp kỹ thuật dùng để thay thế cho các con số trong địa chỉ Internet (địa chỉ IPv4, IPv6 cùng các thế hệ địa chỉ mới trong tương lai), giúp chủ thể sử dụng Internet dễ dàng truy cập, tiếp cận các nguồn thông tin trên Internet Mỗi tên miền được đặt dựa trên những tiêu chí nhất định (tương tự như
24 http://www.matbao.net/ten-mien/dang-ky-ten-mien.aspx Công ty Mắt Bão là nhà đăng ký tên miền được thành lập theo Giấy phép cung cấp dịch vụ Viễn thông số 1683/GP-BTTTT cấp ngày 01 tháng 12 năm 2009
25 http://data.fpt.vn/dich-vu-ten-mien.aspx FPT là nhà đăng ký tên miền của VNNIC
26 Dan L.Burk, Trademarks Along the Infobahn: A First Look at the Emerging Law of Cybermarks, 1 RICH.J.L & TECH P.24 (Apr.10, 1995): A domain name is a form of address that indicates the location of a computer connected
to the Internet and the type of organization or the country to which the address belongs
27 Khoản 2, Điều 3 và Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
28 Điểm 2.2 Điều 2 Mục I Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ thông tin và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
Trang 19tên riêng, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa…) và phải tuân thủ quy định của pháp luật về đặt tên Mỗi tên miền như vậy thường mang một ý nghĩa nào đó Tên miền là loại tài sản đặc thù, trực thuộc nguồn tài nguyên thông tin quốc gia, do Nhà nước thống nhất quản lý, quy định chính sách quản lý, đăng ký và sử dụng, phù hợp với quy hoạch chung của nguồn tài nguyên quốc tế
1.2.3.2 Phân loại tên miền:
Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai hình thức tên miền, đó là:
- Tên miền quốc tế: là tên miền do ICANN thống nhất quản lý theo một chính sách chung trên phạm vi toàn thế giới29 Theo đó, việc xuất hiện những đuôi tên miền mới (gồm cấp cao dùng chung và cấp cao mã quốc gia) đều do ICANN họp thống nhất
và ban hành quyết định thông qua Tên miền quốc tế được quy định, quản lý bởi các tổ chức quốc tế có thẩm quyền về tài nguyên Internet30 Chi phí đăng ký tên miền quốc tế
có khác nhau, phụ thuộc vào nhà đăng ký tên miền, các dịch vụ bảo đảm tên miền Tên miền quốc tế gồm: tên miền cấp cao dùng chung (generic top level domain-gTLD), tên miền cấp cao mã quốc gia (country code top level domain-ccTLD)
- Tên miền quốc gia: là một loại tên miền đặc biệt được sở hữu và bảo hộ bởi một quốc gia, vùng lãnh thổ Tên miền quốc gia có tính đặc thù cao và có những quy định riêng biệt so với các tên miền quốc tế Tên miền được quy định theo chuẩn quốc
tế về mã quốc gia [ISO3166]31 Tên miền quốc gia Việt Nam có đuôi là “.vn”, được xác định là tài nguyên thông tin quốc gia Chính sách quản lý, sử dụng tên miền “.vn” thuộc trách nhiệm của Bộ Thông tin truyền thông, cụ thể là Trung tâm Internet Việt Nam-VNNIC Tên miền “.vn” không nằm trong đối tượng điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ32, được nhà nước hỗ trợ về mặt pháp lý lẫn kỹ thuật
Ví dụ: Trong nhiệm vụ xây dựng chính sách quản lý, phát triển tên miền, VINNIC đã triển khai chính sách tên miền tiếng Việt và khuyến khích cá nhân, tổ chức
sử dụng tên miền tiếng Việt thông qua chính sách đăng ký tự do, miễn phí tên miền tiếng Việt từ ngày 10 tháng 01 năm 201133
29 Tham khảo tại http://www.iana.org/reports/
30 Đoạn 2, Điểm a, Khoản 2.2 Mục 1 Phần I Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
31 Tham khảo tại trang web http://www.iso.org/iso/country_codes/iso_3166_code_lists.htm và trang web http://www.iso.org/iso/updates_on_iso_3166
32 Điểm c, Khoản 2.1 Mục 2 Phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ thông tin
và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
33 Tham khảo tại trang web của Trung tâm Internet Việt Nam http://www.vnnic.vn/ Tên miền tiếng Việt gồm các ký
tự được quy định trong bảng mã tiếng Việt theo tiêu chuẩn TCVN 6909:2001 và các ký tự nằm trong bảng mã mở rộng của tiếng Việt theo tiêu chuẩn nói trên và không viết tắt toàn bộ tên miền, rõ nghĩa trong ngôn ngữ tiếng Việt (ví dụ: toánhọc.vn, hộichợonline.vn ) Theo thống kê của VNNIC tại http://www.vnnic.vn/tintuc.htm, cho thấy : từ cuối tháng 4 năm 2011, cho đến tháng 7 năm 2011, đã có 300.000 tên miền tiếng Việt được đăng ký
Trang 201.2.3.3 Cấu tạo tên miền
Để quản lý các máy đặt tại những vị trí vật lý khác nhau trên hệ thống mạng nhưng thuộc cùng một tổ chức, cùng lĩnh vực hoạt động… người ta nhóm các máy này vào một tên miền Trong tên miền này nếu có những tổ chức nhỏ hơn, lĩnh vực hoạt động hẹp hơn… thì được chia thành các miền con (Sub Domain) Tên miền dùng dấu chấm (.) làm dấu phân cách Cấu trúc miền và các miền con giống như một cây phân cấp Có thể hiểu cấu tạo tên miền qua mô hình đơn giản sau:
Theo mô hình trên, người dùng không cần biết địa chỉ IP của máy chủ Web Server của VNNIC, chỉ cần nhớ tên miền www.vnnic.vn là truy cập được
Tại Việt Nam: tên miền cấp dưới là các tên miền nằm dưới tên miền cấp cao nhất, được quy định cụ thể như sau:
- Tên miền cấp 2 (Second Level Domain Name)34, gồm:
+ Tên miền cấp 2 dùng chung (gSLD): được phân theo 12 lĩnh vực; + Tên miền cấp 2 theo địa giới hành chính;
+ Tên miền khác do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định
- Tên miền cấp 3 (Third Level Domain Name): là tên miền dưới tên miền cấp 2 (ví dụ: mic.gov.vn, mic.hanoi.vn, …)
- Tên miền cấp 4;
34 Điểm 1.2 Mục 1 Phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet; Khoản 2 Điều 6 Quyết định số 27/QĐ-BBCVT ngày 11 tháng 8 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông ban hành quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet và Điều 8 Quyết định số 92/2003/QĐ-BBCVT ngày 26 tháng 5 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính và Viễn thông ban hành quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
- Xem 12 lĩnh vực tên miền cấp 2 dùng chung tại Khoản 1.2 Mục 1 Phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
- Danh sách các tên miền cấp 2 theo địa giới hành chính được liệt kê tại Khoản 2, Điều 7 Quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet, ban hành kèm theo Quyết định số 92/2003/QĐ-BBCVT ngày 26 tháng 5 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông
IP:
203.162.157.101
Tên miền cấp dưới (Sub level domain) :
Tên doanh nghiệp/ Tên riêng
Lĩnh vực dùng chung (edu.vn, gov.vn…)
Địa giới hành chính (hcm.vn, hn.vn…) www.vnnic.vn
Tên miền cấp cao nhất (top level domain - TLD):
gTLD: com , net , org, info…
ccTLD: vn, ca, de, us…
Trang 21- Tên miền cấp 5
Tên miền phải có tối thiểu là 02 cấp và nhiều nhất là 05 cấp
Trong khi tên miền quốc tế được coi là hàng hóa được bán rộng rãi dưới nhiều hình thức và giá cả đa dạng theo nhu cầu thị trường (ví dụ: Social.com được chuyển nhượng với giá 2,6triệu USD) thì tên miền “.vn” là một phần tài nguyên thông tin quốc gia và quản lý theo một cơ chế đăng ký-cấp phát khá chặt chẽ35 Tên miền do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp phát cho chủ thể theo đúng trình tự quy định, chủ thể sử dụng tên miền cần phải đóng phí duy trì định kỳ để sử dụng tên miền
1.2.4 Tiện ích của hệ thống quản lý tên miền trong quản lý về mặt hành chính (Domain Name System-DNS)
Mỗi máy tính khi kết nối vào mạng Internet thì được gán cho một địa chỉ IP xác định Địa chỉ IP của mỗi máy là duy nhất và giúp máy tính xác định đường đi đến một máy tính khác một cách dễ dàng DNS-Hệ thống phân giải tên miền ra đời nhằm giúp chuyển đổi từ địa chỉ IP khó nhớ mà máy sử dụng sang một tên dễ nhớ cho người
sử dụng, đồng thời giúp hệ thống Internet ngày càng phát triển DNS server có khả năng ghi nhớ lại những tên vừa phân giải để dùng cho những yêu cầu phân giải lần sau Số lượng những tên phân giải được lưu lại tùy thuộc vào quy mô của từng DNS
Hệ thống DNS sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán và phân cấp hình cây Vì vậy, việc quản lý sẽ dễ dàng và thuận tiện cho việc chuyển đổi từ tên miền sang địa chỉ IP
và ngược lại Hệ thống DNS giống như mô hình quản lý công dân của một nước Mỗi công dân sẽ có một tên xác định đồng thời cũng có địa chỉ (số chứng minh nhân dân) nhằm giúp các cơ quan Nhà nước quản lý con người được dễ dàng hơn DNS giúp cho việc tìm kiếm, xử lý, truy vấn tên máy và địa chỉ IP tương ứng với tên miền mà người
sử dụng Internet đã gõ đến với website tương ứng Tại Việt Nam, nhờ có DNS, VNNIC có thể quản lý không gian tên miền cấp quốc gia “.vn” một cách dễ dàng, hợp
Sở hữu trí tuệ bằng ngôn ngữ Ả-rập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha tại trang web www.wipo.int/sme; Esteban Burrone, Tầm quan trọng của Sở hữu trí tuệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại trang web www.wipo.int/sme/documents/pdf/ipmatters.pdf
Trang 22và tương lai của quốc gia về vật chất, văn hóa, xã hội37 Cùng với sự phát triển của xã hội loài người là sự tiến bộ không ngừng của khoa học, kỹ thuật công nghệ đã giúp chuyển biến xã hội từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và tiến đến nền kinh tế trí thức như ngày hôm nay Trong thời đại kỷ nguyên số, tài sản trí tuệ được xem là một loại tài sản vô hình, không thể nhận biết bằng các giác quan cụ thể mà phải thông qua các biện pháp kỹ thuật và chúng có khả năng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần lo lớn, mang lại sức mạnh cạnh tranh, tạo điều kiện thu lợi nhuận khổng lồ cho các chủ thể sở hữu chúng Trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, tên miền không chỉ được biết đến với chức năng dùng để định danh các địa chỉ trên Internet, thay thế cho địa chỉ IP gồm một dãy số khó có thể ghi nhớ mà dần dần đã trở thành một công cụ trao đổi thông tin và quảng bá tuyệt vời trong thế giới kinh doanh hiện đại Tên miền gắn với website đang ngày càng trở thành một yếu tố không thể tách rời của thương hiệu và hình ảnh doanh nghiệp Ngày nay, tên miền-một trong những nguồn tài nguyên Internet vô cùng quý giá đã trở thành tài sản có hàm lượng trí tuệ cao của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia Tên miền có thể được xem là “tài sản”38 của mỗi
tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp Như vậy, để tài sản này ngày càng phát triển, nâng cao doanh thu thì cần phải làm rõ tiềm lực phát triển của tên miền cũng như mối quan hệ tương tác qua lại giữa tên miền và đối tượng sở hữu trí tuệ, thông qua đó khai thác đúng giá trị tiềm ẩn để thu được lợi ích to lớn và có điều kiện thuận lợi mở rộng thị trường
1.2.5.1 Quan hệ với nhãn hiệu hàng hóa
Qua nghiên cứu về khảo cổ học, đã xác định được những nhãn hiệu đầu tiên trên thế giới ra đời từ thời kỳ cổ đại 3.000 năm trước Công nguyên, những người thợ thủ công Ấn Độ đã chạm khắc chữ ký của họ trên các tác phẩm nghệ thuật do họ tạo ra; 2000 năm trước Công nguyên, những người thợ thủ công La Mã đã sử dụng những dấu hiệu chạm khắc trên các sản phẩm đồ gốm của mình với mục đích để phân biệt hàng hóa của họ với hàng hóa của những thương nhân khác39 Với sự tiến hóa của loài người, sự phát triển của các hình thái xã hội, sự phát triển của nền kinh tế, nhãn hiệu hàng hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các nhà sản xuất, cung cấp thông tin cho người tiêu dùng, là biểu tượng cho sự uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp40 Nhãn hiệu (theo định nghĩa của WIPO) là một dấu hiệu
37 Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính tri quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.9
38 Điều 163 Bộ Luật dân sự năm 2005, quy định: « Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản »
39 Cẩm nang Sở hữu trí tuệ, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới-WIPO, bản dịch của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, tr.65
40 Xem Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày
30 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định về Nhãn hiệu hàng hóa như sau: Nhãn hiệu hàng hóa là bản viết, bản
in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa Theo quy định này, Nhãn hiệu hàng hóa không thể nhầm lẫn với tên thương mại bởi lẽ tên thương mại là tên gọi đầy
đủ của doanh nghiệp (ví dụ như: Công ty trách nhiệm hữu hạn Sony Electronics Việt Nam), trong tên gọi thường có các từ ngữ viết tắt thể hiện hình thức pháp lý của công ty còn nhãn hiệu hàng hóa được dùng để phân biệt các sản
Trang 23(hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức Nhãn hiệu hàng hóa là một loại tư liệu giúp thực hiện chức năng kinh tế vĩ mô quan trọng trong việc xác định nguồn gốc sản phẩm, công nghệ, tăng cường uy tín của doanh nghiệp Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Nhãn hiệu hàng hóa sẽ không được bảo hộ nếu không có khả năng thực hiện chức năng phân biệt và sẽ bị từ chối bảo hộ nếu trái với trật tự và đạo đức xã hội hay thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác Nhãn hiệu hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa41 Mỗi nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng cho những hàng hóa, dịch vụ nhất định để phân biệt với hàng hóa dịch vụ cùng loại hoặc tương tự
a Điểm giống nhau giữa tên miền và nhãn hiệu hàng hóa
Tên miền cũng như nhãn hiệu hàng hóa đều là những tài sản có thuộc tính “vô hình”, tài sản phi vật chất nên việc chiếm hữu thực tế các đối tượng này trên thực tế không xảy ra mà chỉ có thể quản lý thông qua các biện pháp nghiệp vụ, biện pháp kỹ thuật Trong nền kinh tế thị trường phát triển không ngừng, sự gia tăng của các hoạt động thương mại, việc sở hữu nhãn hiệu hàng hóa (cũng như các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp), tên miền đem lại giá trị kinh tế rất lớn vì cùng có tác động
hỗ trợ doanh nghiệp tăng doanh thu, mở rộng thị trường tiềm năng Nếu trong môi trường kinh doanh truyền thống, nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm doanh nghiệp mình với các đơn vị cùng loại, đóng vai trò chiến lược trong quảng cáo-tiếp thị hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm, thu hút thêm nhiều khách hàng mới thì trên môi trường mạng, tên miền góp phần củng cố vị thế, xác lập thị phần của doanh nghiệp, mở rộng thị trường, tăng sản lượng và doanh số thông qua những thông tin quảng cáo hấp dẫn, thu hút người dùng Internet Tên miền, nhãn hiệu hàng hóa đều đăng ký theo nguyên tắc “ai đến trước thì cấp phát trước”42
phẩm của các doanh nghiệp với nhau Một doanh nghiệp có thể đăng ký nhiều nhãn hiệu hàng hóa nhưng chỉ có thể đăng ký một tên thương mại trên thủ tục pháp lý để thực hiện giao dịch
41 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định về nhãn hàng hóa
42 Nhãn hiệu sẽ bị từ chối đăng ký nếu không có khả năng thực hiện chức năng phân biệt của nhãn hiệu hoặc đã thuộc quyền của chủ thể khác (tức là chủ thể này đã nộp đơn đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu có liên quan trước), cụ thể: Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được đăng ký hoặc nộp đơn đăng ký sớm hơn, hoặc được coi là nổi tiếng hoặc được thừa nhận rộng rãi; Trùng hoặc tương tự với những đối tượng đã thuộc quyền của người khác, gồm tên thương mại,chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả; Trùng với tên riêng, biểu tượng, hình ảnh của quốc gia, địa phương, danh nhân, tổ chức của Việt Nam và nước ngoài (trừ trường hợp được phép của các cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền); Mỗi một nhãn hiệu dùng cho một sản phẩm, dịch vụ nhất định chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất - là người nộp đơn đăng ký đầu tiên Vì vậy,để tránh đầu tư công sức và chi phí vô ích, trước khi nộp đơn đăng ký, doanh nghiệp cần biết chắc nhãn hiệu mà mình muốn đăng ký chưa thuộc về người
Trang 24b Lợi ích của việc “sở hữu” tên miền với phát triển nhãn hiệu hàng hóa Tên miền giúp mở rộng, phổ biến nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp một cách nhanh chóng đến mọi tổ chức, cá nhân trên phạm vi toàn thế giới Với xu hướng toàn cầu hóa, số hóa cùng với trình độ phát triển ngày càng cao của dân trí, các tổ chức
cá nhân có xu hướng tìm đến các nhãn hiệu nổi tiếng từ các website để biết thêm thông tin về công ty trước khi giao kết hợp đồng, về sản phẩm dự định mua… Với nhu cầu
đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đưa thông tin, đưa nhãn hiệu các sản phẩm của mình lên website Như vậy, các trang mạng, đặc biệt là các trang tìm kiếm thông tin ngày càng có thêm nhiều thông tin hữu ích, người sử dụng ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận với doanh nghiệp, tìm hiểu về nhãn hiệu sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa, dịch
vụ của doanh nghiệp Mặt khác, Internet cho phép mỗi cá nhân có thể trở thành chủ thể truyền phát, khiến cho số lượng phân phối tăng theo theo cấp số nhân, đôi khi gọi là
“hiệu ứng virus” (do khả năng phổ biến, sao chép nhanh chóng, chi phí thấp) Điều này chứng minh rằng, việc khai thác, sử dụng tên miền không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên mà còn có tác dụng làm tăng giá trị nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp thông qua việc làm cho nhãn hiệu trở nên nổi tiếng, có phạm vi sử dụng được mở rộng
Người tiêu dùng có thể góp ý về sản phẩm, dịch vụ trực tiếp tại trang web có địa chỉ tên miền của doanh nghiệp và nhờ đó, doanh nghiệp có cơ hội tiếp nhận thông tin để hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ cũng như đổi mới nhãn hiệu hàng hóa để phù hợp với thị hiếu nhằm làm tăng doanh thu
Tên miền và webiste gắn với tên miền đó giúp các doanh nghiệp có điều kiện nghiên cứu đánh giá thị trường, tìm ra cơ hội tiếp thị, mở rộng thị trường cho sản phẩm Qua đó, doanh nghiệp biết được nhãn hiệu hàng hóa đó có tiềm năng phát triển mạnh trong tương lai tại thị trường trong nước, nước ngoài hay không; đồng thời, biết được thị trường rộng lớn của sản phẩm, xu hướng thị trường hiện nay, điều kiện tiếp cận, thực tiễn của thị trường, sự quan tâm của người tiêu dùng và khả năng của đối thủ cạnh tranh Tên miền là kênh nghiên cứu đem lại hiệu quả nhanh, ít tốn kém chi phí nhất
c Rủi ro trong kinh doanh từ việc “sở hữu” tên miền
Tuy có nhiều điểm tương đồng nhưng hệ thống nhãn hiệu hàng hóa và hệ thống tên miền khác nhau, trong một số trường hợp chúng chồng chéo gây ra thiệt hại đáng kể cho doanh nghiệp Việc quản trị tên miền trên hệ thống máy chủ được thực hiện bằng các biện pháp nghiệp vụ kỹ thuật nên tên miền có thể bị tấn công bằng cách chiếm đoạt tài khoản thông qua địa chỉ thư điện tử (e-mail) được người sử dụng đăng ký với nhà cung cấp tên miền hoặc thông qua địa chỉ e-mail để yêu cầu
khác hoặc chưa có người nào khác nộp đơn đăng ký Đồng thời, Điều 90 Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định nguyên tắc “Nộp đơn đầu tiên” (The first to file principle)
Trang 25nhà đăng ký tên miền thay mật khẩu mới hay chuyển tên miền đến nhà cung cấp khác, … Trong các trường hợp như vậy, chủ sử dụng không thể kiểm soát được tên miền, nội dung đăng tải trên các webiste Do đó, nếu doanh nghiệp chính đáng, hợp pháp có thể phát triển thịnh vượng nhờ tên miền thì nay sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn:
- Hacker43 sau khi chiếm đoạt được quyền kiểm soát webiste của doanh nghiệp sẽ tiến hành đăng tải các thông tin với mục đích lừa đảo như: huy động vốn nhàn rỗi trong cộng đồng dân cư để thực hiện dự án mở rộng quy mô kinh doanh và chia lại lợi nhuận khi dự án được triển khai, đưa vào sử dụng trên thực tế; hoặc chiếm đoạt thông tin khách hàng của doanh nghiệp để bán lại cho đối thủ cạnh tranh…
- Những đối thủ không trung thực lợi dụng kẽ hở để có được lợi thế không công bằng, thực hiện hành vi xâm phạm quyền, lợi ích của các bên tham gia, khách hàng Chẳng hạn: đăng ký tên miền gần giống hay tương tự gây nhầm lẫn với tên miền, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng của doanh nghiệp (trang web bán hàng thật) tạo
ra website bán hàng giả gần như hàng chính hiệu hay giữ nguyên kiểu dáng nhưng chất lượng thì thấp; hoặc lợi dụng khả năng sao chép, phổ biến dễ dàng của website
để hưởng lợi từ việc bán các bản sao chép, bản copy nguyên bản có thể giữ nguyên chất lượng gần như tương tự ban đầu hay chất lượng kém hơn so với ban đầu nhưng giá trị lại rất thấp (ví dụ: Đĩa nhạc CD-bản gốc44 khi vừa được phát hành trên thị trường, nhanh chóng được sao chép thành hàng triệu bản Vấn đề này trở nên phổ biến trong những năm gần đây); hay đưa nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại của doanh nghiệp có uy tín lên mục quảng cáo của website mình để thu hút sự chú ý, quan tâm của người dùng
- Thông qua chức năng phản hồi thông tin (comment) về sản phẩm, dịch vụ trên website, đối thủ cạnh tranh thực hiện đăng tải thông tin phản hồi mang tính chất bôi nhọ nhãn hiệu hàng hóa, làm thiệt hại về uy tín, danh tiếng vốn có của doanh nghiệp do nhãn hiệu hàng hóa này mang lại, gây tổn thất về lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng; đồng thời tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp mình Điều này cho thấy, bất cứ sản phẩm mới nào được đưa vào thị trường, thu hút khách hàng thành công, nhãn hiệu được khẳng định và được phản ứng mạnh mẽ trên các phương tiện truyền thông, nhất là webiste, sẽ có nguy cơ bị
43 Theo hướng dẫn tại Bách khoa toàn thư: trong tiếng Anh, Hack, là hành động thâm nhập vào phần cứng máy
tính, phần mềm máy tính hay mạng máy tính để thay đổi hệ thống đó Hacker là người có thể viết hay chỉnh sửa phần mềm, phần cứng máy tính bao gồm lập trình, quản trị và bảo mật Những người này hiểu rõ hoạt động của hệ thống máy tính, mạng máy tính và dùng kiến thức bản thân để làm thay đổi, chỉnh sửa nó với nhiều mục đích tốt xấu khác nhau (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hack)
44 Xem giải thích về bản gốc, bản sao tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ
về quyền tác giả và quyền liên quan
Trang 26đối thủ cạnh tranh sản xuất các sản phẩm gần giống, sản phẩm kém chất lượng hoặc tìm cách hạ thấp uy tín, danh tiếng để hưởng lợi từ hoạt động kinh doanh Trường hợp này, tên miền đã làm ảnh hưởng xấu đến nhãn hiệu hàng hóa, doanh thu của doanh nghiệp
- Sử dụng một số thủ thuật, phần mềm máy tính để chuyển hướng truy nhập của người dùng Internet từ tên miền khác về tên miền của mình, từ tên miền này sang tên miền khác; để kết quả tìm kiếm nhãn hiệu nổi tiếng trên công cụ tìm kiếm (google, vinaseek, yahoo…) chuyển về tên miền của mình; hoặc làm cho tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa uy tín bị đưa vào danh sách những doanh nghiệp không đáng tin cậy hoạt động trên Internet; đăng tải công khai trên Internet khuyến cáo người sử dụng không nên truy nhập vào tên miền đó, làm ảnh hưởng và gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến nhãn hiệu hàng hóa, lợi nhuận của doanh nghiệp
Trong một số trường hợp, sự chồng chéo lại gây ra mâu thuẫn khó giải quyết khi tên thương mại hoặc nhãn hiệu được sử dụng là một phần trong tên miền Theo quy định của văn bản điều chỉnh về lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam cũng như của các nước, tổ chức quốc tế trên thế giới, cho thấy: hai nhãn hiệu giống nhau có thể cùng tồn tại và thuộc sở hữu của các công ty khác nhau cho các sản phẩm tương tự tại các khu vực địa lý khác nhau45 Thực tiễn tranh chấp nhãn hiệu “SUPERMAN & Hình” cho thấy rõ nội dung này Ngày 13 tháng 02 năm 1993, DC COMICS, New York nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu “SUPERMAN & Hình” tại Việt Nam và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa số 9119 ngày 14 tháng 9 năm 1993 cho các sản phẩm gồm phim nhựa, băng đĩa, ấn phẩm, mũ nón, quần áo, đồ chơi, trò chơi Các nhãn hiệu “SUPERMAN”, “SUPERMAN & Hình” của DC COMICS cũng đã được đăng ký, sử dụng rộng rãi, liên tục tại 150 quốc gia từ những năm 1930 Ngày 13 tháng
5 năm 1996, Công ty TNHH Xây dựng Việt Địa, thành phố Hồ Chí Minh (“Việt Địa”) nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu “SUPERMAN” và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký nhãn hiệu hàng hóa số 24089 ngày 03/4/1997 cho các dịch vụ thuộc Nhóm 42 gồm
"mua bán, đại lý ký gửi, bán buôn, bán lẻ phụ tùng cơ khí các loại phục vụ nghành
45 Do vấn đề bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa nói chung cũng như đối tượng quyền sở hữu công nghiệp nói riêng không mang tính tuyệt đối Do đó, khi một chủ thể có đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại quốc gia A thì sau khi cơ quan có thẩm quyền xem xét, cấp văn bằng bảo hộ thì nhãn hiệu này đương nhiên được bảo hộ trên toàn lãnh thổ của quốc gia A Hành vi chỉ nộp đơn đăng ký cấp văn bằng bảo hộ tại quốc gia A không có ý nghĩa đối với việc xác lập bảo hộ tự động ở các quốc gia khác khi chủ thể không nộp đơn đăng ký bảo hộ gửi cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia này; đồng thời hệ thống nhãn hiệu cho phép đăng ký và sử dụng một nhãn hiệu giống hoặc tương tự nhau cho các nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ khác nhau, với điều kiện đó không phải là nhãn hiệu nổi tiếng Ngoại trừ trường hợp chủ thể tham gia đăng ký bảo hộ nhãn hiệu quốc tế Bảo hộ nhãn hiệu quốc tế là việc chủ thể nộp đơn đăng ký bảo hộ theo Thỏa ước Madrid hoặc theo Nghị định thư Madrid (hiện nay đã có trên 70 quốc gia trên thế giới là thành viên của Madrid) Theo đó, chủ thể muốn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu quốc tế chỉ cần nộp đơn đăng ký bằng một ngôn ngữ tại quốc gia có xuất xứ của nhãn hiệu, sau đó cơ quan này xác nhận thông tin nêu trong đơn đăng ký quốc tế và gửi đến Văn phòng đăng ký quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới-WIPO Thông tin về đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu có thể xem tại website www.wipo.int/madrid/, sau đó đăng ký quốc tế có thể được duy trì và gia hạn thông qua một thủ tục duy nhất
Trang 27công nghiệp nhẹ (kìm, búa, mỏ lết )46 Như vậy, nhãn hiệu “SUPERMAN” của hai công ty đều được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định Trong trường hợp này, nếu cả hai công ty cùng nộp đơn xin đăng ký sử dụng tên miền có chứa thành phần của nhãn hiệu hàng hóa để mở rộng phạm vi kinh doanh đến nhiều đối tượng thông qua công cụ Internet (ví dụ: www.superman.com.vn) sẽ là vấn đề khó giải quyết
Với đặc tính duy nhất và theo nguyên tắc ai đăng ký trước thì được sử dụng, một chủ thể có thể đăng ký tên miền giống hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã tồn tại và không thể đăng ký khi pháp luật cấm đăng ký tên gọi địa lý hoặc tên gọi chung/mang tính mô tả làm tên miền Điều này làm cho chủ sở hữu của một số loại nhãn hiệu nhất định không thể đăng ký nhãn hiệu của mình làm tên miền
ở một số nước (như ở Tây Ban Nha: nhãn hiệu MADRID thuộc sở hữu của một nhà xuất bản tư nhân và ở Ý, nhãn hiệu ROMA thuộc sở hữu của một tờ báo Ý không thể
được đăng ký làm tên miền cấp cao dùng chung, chẳng hạn: www.madrid.es; www.roma.it) gây ra thiệt hại về lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp47
1.2.5.2 Quan hệ với thương hiệu
Tại Việt Nam, từ khi bắt đầu giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý theo hướng kinh tế thị trường, thuật ngữ “thương hiệu” được sử dụng trong truyền thông với hàm nghĩa rất rộng, có thể bao hàm cả tên doanh nghiệp, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu hàng hóa (trademark), nhãn hàng hóa (label) Trên các phương tiện thông tin đại chúng,
“thương hiệu” thường được nhắc đến một cách thường xuyên với ý nghĩa như “danh tiếng” hay “tên tuổi” Đến nay, thương hiệu vẫn được hiểu ở nhiều cách khác nhau
Do thương hiệu có nội hàm rộng nên trong luận văn này chỉ đề cập đến thương hiệu với ý nghĩa là đối tượng sở hữu trí tuệ như tên thương mại, với các cách hiểu, như:
- Thương hiệu, trước hết là một thuật ngữ dùng nhiều trong marketing; là hình ảnh một cơ sở sản xuất, kinh doanh (gọi tắt là doanh nghiệp) hoặc hình tượng về một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ; là tập hợp các dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác Thương hiệu, không chỉ được nhìn nhận, xem xét trên góc độ pháp lý mà trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam, cần nhìn nhận dưới góc độ quản trị doanh nghiệp, marketing Như vậy, thương hiệu là một thuật ngữ với nội hàm rộng Từ đó, có thể hiểu thương hiệu là toàn bộ những dấu hiệu, hình tượng danh tiếng… để người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp giữa những hàng hóa cùng loại khác Thương hiệu góp phần duy trì, mở rộng thị trường
Trang 28cho doanh nghiệp, nâng cao văn minh thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp48
- Thương hiệu là tập hợp những dấu hiệu khác biệt của một doanh nghiệp được tạo ra trong hoạt động kinh doanh mà người tiêu dùng biết đến như một loại tài sản vô hình đặc trưng, tiêu biểu giúp doanh nghiệp có một lợi thế kinh doanh trên thị trường so với doanh nghiệp khác49
Thương hiệu được hiểu theo cách đơn giản là khái niệm mà người tiêu dùng liên tưởng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hóa nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm Thương hiệu được hiểu ở khái niệm rộng, bao gồm các loại tài sản hữu hình, vô hình (nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, cơ sở kinh doanh…) Trong một chừng mực nào đó, một khái niệm đa nghĩa như vậy khó có thể trở thành một thuật ngữ pháp lý chính thức50
a Điểm giống nhau giữa thương hiệu và tên miền
Thương hiệu, tên miền là những khái niệm còn khá mới, xuất hiện trong những năm gần đây Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, tên miền ngày càng phát triển rộng rãi, có khả năng làm thay đổi nhận thức của thế giới Nếu tên miền thực sự góp phần trong chiến lược định vị, phát triển thương hiệu thì thương hiệu thực sự có khả năng hướng doanh nghiệp đến những lực lượng, phân khúc thị trường tiềm năng để có cơ hội khẳng định, phát triển51 Thương hiệu, tên miền thường gắn liền với quyền của doanh nghiệp, nhà sản xuất và mang giá trị kinh tế Nếu sử dụng, xây dựng, khai thác đúng cách sẽ làm tăng giá trị kinh tế của nó, giúp thu được lợi nhuận khổng lồ Thương hiệu, tên miền cùng có đặc tính là dấu hiệu để nhận biết sản phẩm hay hàng hóa, dịch vụ Tên miền được nhận biết thông qua các ký hiệu chữ cái, thương hiệu được nhận biết thông qua hình ảnh, cảm xúc… hữu hình hay vô hình
Do đó, thương hiệu, tên miền đều được xem là tài sản của doanh nghiệp Tên miền có mối quan hệ chặt chẽ với thương hiệu nhưng tên miền chưa hẳn là thương hiệu, cần tránh gây ngộ nhận không đăng ký tên miền là mất thương hiệu Vì chưa có nhu cầu sử dụng, chưa đăng ký thì không thể gọi là mất, trừ khi một chủ thể đăng ký tên miền trùng với thương hiệu đã được khẳng định Khi không có nhu cầu, không
48 Xem Bùi Hữu Đạo, Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp, tại http://truyenthongsucmanhviet.com/110/
49 Xem “Cần hiểu đúng khái niệm thương hiệu”, nguồn http://www.luatsu24h.com/index.php/company/detail/8.ls
50 Trước đây, khái niệm giữa nhãn hiệu, thương hiệu đã được phân biệt rõ ràng, cụ thể: Luật số 13/57 ngày 01 tháng 8 năm 1957 ở miền Nam đã quy định về “nhãn hiệu sản xuất” dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông và
“thương hiệu” dùng cho các thương phẩm Trong thực tiễn kinh doanh, thuật ngữ “thương hiệu” đó không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân, mà còn bao hàm cả các loại hình hoạt động dịch vụ của mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, hãng bảo hiểm và dần dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung Xem thêm thông tin tại http://www.saga.vn/view.aspx?id=12622 Cho đến thời điểm hiện nay, trên thế giới cũng chưa có định nghĩa pháp lý
cụ thể, chính thức, mang tính thống nhất về “thương hiệu”
51 Tham khảo thông tin về thương hiệu quốc gia của Brymer C (2003), Interbrand: Branding a country, www.brandchannel.com, 10 th , October, 2003: “Thương hiệu thực sự có quyền năng làm thay đổi thế giới, thay đổi cách thức chúng ta nhìn nhận thế giới, cách thức chúng ta chọn để nhìn nhận một quốc gia này trong mối quan hệ so sánh với một quốc gia khác”
Trang 29đăng ký và chủ thể khác đăng ký thì đương nhiên sẽ được sử dụng nếu tên miền được đăng ký đúng theo quy định
b Lợi ích của việc “sở hữu” tên miền với phát triển thương hiệu
Thương hiệu, tên miền đã hỗ trợ qua lại giúp doanh nghiệp mở rộng thị phần, khẳng định vị thế trên thị trường, đồng thời còn đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các đối thủ cạnh tranh Xu hướng chung hiện nay là doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân đăng ký tên miền gần giống hay tương tự với thương hiệu do họ quan niệm nhờ đó giá trị thương hiệu của doanh nghiệp có cơ hội được khẳng định, như52:
- Thu hút thêm khách hàng mới, khách hàng tiềm năng, duy trì nguồn khách hàng cũ thông qua các chương trình quảng cáo, khuyến mãi được đăng trên website của doanh nghiệp Số người tiêu dùng hưởng ứng sẽ đông hơn khi họ thấy đây là một thương hiệu quen thuộc, đã tin tưởng vào chất lượng, uy tín của sản phẩm Khách hàng tiềm năng mới sẽ tìm thông tin về sản phẩm được niêm yết trên website nhằm tìm hiểu
rõ, cảm nhận sâu sắc về chất lượng sản phẩm, thuộc tính thương hiệu Đây là một trong những kênh quảng cáo cho thương hiệu hữu hiệu và đạt được lợi ích kinh tế (không tốn chi phí) Những khách hàng mới sẽ đặt hàng trực tuyến hay mua trực tiếp Việc gia tăng sự trung thành của những khách hàng cũ, thu hút thêm những khách hàng mới giúp thương hiệu ngày càng phát triển Ngoài ra, nguồn thông tin liên quan đến thương hiệu, quy mô doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ do chính doanh nghiệp đăng tải khi xây dựng website sẽ góp phần tạo dựng lòng tin, tính tin cậy đối với sản phẩm, hàng hóa ở những khách hàng mới; đồng thời, qua những thông tin này, khách hàng tiếp nhận, xử lý và cảm thấy “đồng cảm” về kiểu dáng, giá
cả, chất lượng, tính hữu hiệu của dịch vụ cũng như những cam kết hậu mãi (nếu có) (chất lượng thương hiệu) và có cảm nhận doanh nghiệp thực sự tốt, đáng tin cậy (uy tín của thương hiệu), có tính nổi trội hơn so với các thương hiệu khác (tính ưu việt của thương hiệu) Đây là một trong những lý do dẫn đến sự hài lòng của khách hàng và quyết tâm chọn doanh nghiệp để thực hiện giao kết hợp đồng Trong thời đại kỷ nguyên số, hiện tượng đem lại hiệu quả khá cao nhờ có hiện tượng “lây lan” trên các website
- Thông qua các trang điện tử, doanh nghiệp có điều kiện nâng cao hiệu quả của các chương trình marketing, cắt giảm được nhiều chi phí cho việc quảng bá, mở rộng thương hiệu theo những phương thức truyền thống như in poster, tờ rơi, … Tên miền còn là một kênh phân phối sản phẩm hữu hiệu Với một thủ tục đăng ký tên miền khá dễ dàng, doanh nghiệp đã có một showroom với không gian không bị giới hạn để trưng bày hàng hóa, dịch vụ với những hình ảnh đẹp, sống động được thể hiện dưới nhiều góc độ kèm những lời chú thích để đưa đến người tiêu dùng Hành vi này đem lại hiệu quả kinh tế lớn: không chỉ giúp doanh nghiệp tăng thị phần mà còn giúp doanh
52 http://lantabrand.com/cat5news2547.html
Trang 30nghiệp và các đối tác tiềm năng tìm thấy nhau Như vậy, tên miền là giải pháp marketing trực tuyến quen thuộc, hữu hiệu đối với doanh nghiêp
- Tên miền còn giúp doanh nghiệp quản lý được hệ thống các kênh phân phối, đại lý một cách khoa học, thuận lợi Trong trường hợp này, bộ phận quản lý không cần tìm đến các đại lý để kiểm tra, ghi nhận mà theo những quy định chung khi có đơn hàng hoặc khi một loại sản phẩm đã hết, hệ thống đại lý, kênh phân phối hoàn toàn có thể đặt hàng một cách nhanh chóng chỉ bằng một cái “click” chuột trên website của doanh nghiệp
Như vậy, việc “sở hữu” tên miền không chỉ đem lại lợi ích cho khách hàng, người tiêu dùng mà còn đem lại rất nhiều giá trị kinh tế cho doanh nghiệp Những hiệu quả đạt được từ việc đăng ký tên miền, xây dựng website là để trở thành đòn bẩy thương mại, tạo điều kiện tăng lợi thế cạnh tranh, mở rộng thương hiệu, nâng cao giá trị kinh tế từ hiệu quả hoạt động kinh doanh Tuy đem lại giá trị kinh tế cao cùng nhiều
cơ hội thuận lợi nhưng tên miền có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, gây ra thiệt hại không nhỏ về lợi ích kinh tế của doanh nghiệp
c Rủi ro đối với thương hiệu từ việc “sở hữu” tên miền
Trong xu hướng toàn cầu hóa, để tham gia “sân chơi chung” đòi hỏi mỗi quốc gia phải tiến hành mở cửa, tạo hành lang pháp lý thoáng, khuyến khích đầu tư nước ngoài, giúp gia tăng thu nhập bình quân, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân; giúp doanh nghiệp có thêm cơ hội hợp tác phát triển kinh doanh, học tập kinh nghiệm từ doanh nghiệp nước ngoài để hoàn thiện, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ Mặt khác, xu thế này lại đem lại sự cạnh tranh “khốc liệt” cho doanh nghiệp, bao gồm cạnh tranh lành mạnh và không lành mạnh Theo đó, đối thủ cạnh tranh một mặt xây dựng chiến lược khẳng định mình trước doanh nghiệp đối thủ, một mặt tìm mọi cách hạ thấp uy tín, ảnh hưởng doanh thu của đối thủ nhằm chiếm lĩnh thị phần, hạn chế doanh nghiệp phát triển, … Đặc biệt, trong môi trường kỹ thuật số, tên miền càng giúp cho đối thủ cạnh tranh thực hiện “ý đồ” này Khi phát hiện một sản phẩm có lỗi do nhà sản xuất, chưa được kiểm chứng hoặc vì nguyên nhân nào đó thông tin đã đến với người tiêu dùng thì họ dễ dàng gửi lời phê bình trên website của doanh nghiệp cũng như các trang thông tin xã hội Đây là cơ hội thuận lợi cho đối thủ cạnh tranh công kích53 để gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, thị phần, doanh thu của doanh nghiệp
53 Đối thủ cạnh tranh có thể công kích để hạ thấp uy tín của doanh nghiệp bằng nhiều biện pháp, một trong những giải pháp có liên quan đến tên miền: đăng ký một tên miền nhằm xây dựng một website chung để bình luận về sản phẩm, khuyến khích, thu hút những người tiêu dùng khác cùng vào trang web này để viết những lời phê bình Đối thủ cạnh tranh lợi dụng “hiệu ứng virus” để mở rộng trang web để nhiều người tiêu dùng biết về những lỗi này hoặc đưa đường dẫn của diễn đàn “phê bình” liên kết với trang web của doanh nghiệp mình hay với các trang web phổ biến về tìm kiếm thông tin Hoặc lợi dụng diễn đàn đã xây dựng thành công, được nhiều người quan tâm để quảng cáo về doanh nghiệp mình hoặc đối thủ cạnh tranh khác của doanh nghiệp này
Trang 31Như vậy, tên miền, thương hiệu đều được xem là tài sản của doanh nghiệp Trong đó, tên miền là nhân tố góp phần khẳng định, phát triển doanh nghiệp trên mạng thông tin số-môi trường không biên giới; thương hiệu là công cụ để khẳng định vị thế trong môi trường kinh doanh thực tế Việc sử dụng, kết hợp hài hòa giữa thương hiệu, tên miền giúp doanh nghiệp ngày càng khẳng định được mình, xác định được phân khúc thị trường cụ thể cần đạt đến nhưng nếu vận dụng không hiệu quả thì tên miền trở thành công cụ gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.5.3 Quan hệ với thương mại điện tử
Thương mại điện tử là một lĩnh vực tương đối mới tại Việt Nam, xuất hiện cùng với sự phổ cập mạng Internet, tin học từ cuối những năm 1990 đầu những năm
2000 Thương mại điện tử được biết đến với khá nhiều tên gọi, phổ biến nhất vẫn là thương mại điện tử, bên cạnh đó là các tên gọi như kinh doanh điện tử, thương mại phi giấy tờ Thương mại điện tử đã góp phần làm thay đổi mô hình kinh doanh truyền thống
a Khái niệm thương mại điện tử
Khi hiểu theo nghĩa rộng54: phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử Khi hiểu theo nghĩa hẹp55: Thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc mua bán hàng hóa, dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là Internet và các mạng viễn thông Có thể hiểu một cách tổng quát: Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ
54 Luật mẫu về thương mại điện tử của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định
nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ
mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại commercial bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ" Theo Ủy
ban châu Âu (EC): "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện
tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh" Thương mại điện tử trong
định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt động mua bán hàng hóa; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo).
55 Theo Đại hội đồng WTO: “Thương mại điện tử được hiểu là việc sản xuất (production), phân phối (distribution), marketing, bán (sale) hoặc chuyển giao (delivery) hàng hóa và dịch vụ bằng phương tiện điện tử” Phương tiện điện tử được quy định là các phương tiện truyền tin như điện thọai, fax, telex, điện tín, truyền hình, thư điện tử và các phương tiện điện tử khác (Marc Bacchett, Patrick Low, Aaditya Mattoo, Ludger Schuknecht, Hannu Wager and Madelon Wehrens (1998), Electronic Commerce and the Role of the WTO, WTO publication) Theo Ủy ban Thương mại điện
tử của APEC: "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công
nghệ tin học kỹ thuật số" Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế-OECD đưa ra định nghĩa: “Thương mại điện tử
được định nghĩa sơ bộ là toàn bộ các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”
Trang 32hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử Thương mại điện tử vẫn mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống Thông qua các phương tiện điện
tử mới, các hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh Thương mại điện tử càng được biết như một phương thức kinh doanh hiệu quả từ khi Internet hình thành, phát triển
Tại Việt Nam, dưới góc độ kinh tế: Thương mại điện tử thường được hiểu là mua bán hàng hóa, dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông (nghĩa hẹp); là việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông vào các hoạt động quản lý và kinh doanh (nghĩa rộng) Dưới góc độ pháp lý: Luật Giao dịch điện tử đã có những quy định tiếp cận với khung pháp lý quốc tế khi quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước; trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định (Đoạn 1 Điều 1); đồng thời quy định: Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử (Khoản 6 Điều 4) là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự (Khoản 10 Điều 4)
b Lợi ích của việc “sở hữu” tên miền với phát triển thương mại điện tử
So với thương mại truyền thống, thương mại điện tử có nhiều ưu thế hơn, như: Thương mại điện tử có chức năng lưu thông, là kênh phân phối và là thị trường56 Những chức năng này được triển khai thực hiện có hiệu quả khi doanh nghiệp xây dựng một cơ sở hạ tầng công nghệ (một mạng máy tính, với cấu trúc liên kết mạng và website riêng, phù hợp)
Đăng ký sử dụng tên miền, tức là doanh nghiệp tạo ra nguồn tiềm năng để thương mại điện tử có điều kiện phát triển Với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, tên miền dần được thừa nhận như một trong những công cụ marketing hữu hiệu nhất trong môi trường kinh doanh hiện nay vì có giá trị tương đương như một thương hiệu, góp phần quan trọng quảng bá, xây dựng thương hiệu trong “thế giới phẳng không biên giới” Hòa chung với xu thế hội nhập, doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều tìm cách đăng ký tên miền để có cơ sở đăng tải dữ liệu thông tin, tìm kiếm đối tác giao kết hợp đồng Số liệu sau cho thấy tình hình đăng ký, sử dụng tên miền ở Việt Nam: Sau 04 năm, kể từ khi triển khai “Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện
tử giai đoạn 2006-2010” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2005 tính đến năm 2009, thương mại điện tử không chỉ tập trung tại các doanh nghiệp ở hai thành phố lớn (Hà Nội, Hồ Chí Minh57)
Trang 33http://www.ictnews.vn/Home/tin-tuc/Thuong-mai-dien-tu-tai-Viet-Nam-Nhung-buoc-tien-mà đã phát triển rộng khắp cả nước, về số lượng doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cũng như đối tượng sử dụng tên miền58
Trong lĩnh vực thương mại điện tử, nếu không có tên miền, doanh nghiệp không thể xây dựng website thương mại để cung cấp những thông tin hữu ích cho thị trường, đối tác cũng như giảm chi phí, rút ngắn chu kỳ sản xuất, dễ dàng tạo dựng, củng cố quan hệ khách hàng; đồng thời không có điều kiện tiến hành thương lượng trực tuyến, liên tục Tên miền giúp phổ biến, quảng cáo thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm một cách nhanh chóng với chi phí thấp Mặt khác, những công cụ điện tử hỗ trợ tìm kiếm thông tin trên Internet có chức năng lưu giữ thông tin như một danh bạ điện thoại và sẽ xuất hiện mỗi ngày; ngay khi chúng tìm được một chủ đề mới, chúng sẽ kiểm tra nội dung, tự động tạo ra cổng vào cho chủ đề này59 Do đó, vận dụng công cụ tìm kiếm cũng là cách quảng cáo hiệu quả
Việc đăng ký, sử dụng tên miền để phát triển thương mại điện tử đã góp phần tối ưu hóa hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Chẳng hạn, với chi phí đầu tư cho thương mại điện tử, công nghệ thông tin chỉ chiếm khoảng 5% tổng chi phí nhưng trung bình 33% doanh thu của doanh nghiệp là từ các đơn đặt hàng qua phương tiện điện tử và doanh nghiệp cũng dành bình quân 28% chi phí mua hàng cho việc đặt hàng qua các kênh điện tử60
Thực tế cho thấy, doanh nghiệp đã gặt hái được những kết quả đáng kể (như: thu được khoản lợi nhuận không nhỏ, tiếp cận nguồn thông tin phong phú của đối tác, đối thủ…) từ việc “sở hữu” tên miền, đầu tư xây dựng website thương mại điện tử
c Rủi ro đối với thương mại điện tử từ việc “sở hữu” tên miền
Để có được một mạng lưới khách hàng trên toàn thế giới, doanh nghiệp phải đầu tư rất nhiều tiền, thời gian, phải ứng dụng kỹ thuật mới để thiết lập trang thông tin điện tử Đăng ký một tên miền, đầu tư xây dựng thành công một website, doanh nghiệp phải đối mặt với vấn đề cạnh tranh từ hàng nghìn, hàng vạn công ty nhỏ đã xuất hiện khắp nơi trên toàn thế giới nhờ các trang điện tử Những rủi ro xảy ra với nhãn hiệu hàng hóa, thương hiệu từ việc “sở hữu” tên miền cũng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại điện tử của doanh nghiệp
Thương mại điện tử là phương thức kinh doanh có hiệu quả, phát triển đặc biệt nhanh từ khi Internet hình thành, phát triển Thương mại điện tử tạo ra một phong cách kinh doanh, làm việc mới phù hợp với cuộc sống công nghiệp; là một công cụ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ khắc phục yếu kém lợi thế để cạnh tranh ngang bằng với
58 Tham khảo thêm tại trang web http://www.thongkeinternet.vn/jsp/trangchu/index.jsp Theo thống kê của VNNIC, đến tháng 7 năm 2011, số người sử dụng tên miền là 29.506.961, tổng số tên miền “.vn” đã đăng ký là 223.890
59 Báo cáo Thưong mại điện tử năm 2010 của Bộ Công thương
60 Tham khảo tại tien-nhay-vot/2010/09/2SVMC2931129/View.htm
Trang 34http://www.ictnews.vn/Home/tin-tuc/Thuong-mai-dien-tu-tai-Viet-Nam-Nhung-buoc-doanh nghiệp lớn Do đó, hơn bao giờ hết để củng cố, phát triển mạnh, đạt được những phân khúc thị trường, doanh nghiệp cần đăng ký, sử dụng, quản lý những tên miền liên quan đến thương hiệu, phải luôn luôn chú ý củng cố website Doanh nghiệp cũng cần chú ý đầu tư nguồn kinh phí để phát triển website, phù hợp với sự phát triển không ngừng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của khoa học, công nghệ thông tin, các ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của thị trường, theo kịp quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập nền kinh tế thế giới trong thời kỳ mở cửa
Như vậy, sự thay đổi của môi trường kinh doanh, hành vi khách hàng cùng với
sự phát triển của hình thức kinh doanh mới trên một phạm vi rộng lớn, đa dạng, làm cho xu hướng ứng dụng tên miền đã phát triển rất nhanh Tên miền được sử dụng như đặc tính chung để xác định vị trí của một website, mô tả tên, nhãn hiệu hay các đặc tính định danh của mỗi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức sử dụng tên miền Ở những nước đang phát triển, nhờ việc sử dụng công nghệ thông tin, truyền thông, thương mại điện tử, tên miền trở nên quan trọng đối với hoạt động thương mại, phi thương mại tại các nước này Tên miền có mối quan hệ mật thiết với các đối tượng sở hữu trí tuệ, thương hiệu, là cơ sở để thực hiện hoạt động thương mại điện tử Tên miền đã trở thành một phần tài sản của doanh nghiệp Sự nổi tiếng, phổ biến của tên miền là một lợi thế trong kinh doanh, là sự đảm bảo cho tiềm năng của doanh nghiệp Trong thời đại kỷ nguyên số, tên miền cùng với nhãn hiệu hàng hóa, thương hiệu, bí mật kinh doanh, kiểu dáng công nghiệp… dần dần trở nên quan trọng, chiếm ưu thế nhiều hơn
so với tài sản hữu hình, trở thành nhân tố chính trong sự thành công của doanh nghiệp
Để làm chủ được nền kinh tế Internet cần phải “sở hữu” và giữ được tên miền Tuy nhiên, trong thời gian qua, phần lớn các doanh nghiệp ở Việt Nam còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của tên miền cũng như vai trò của nó đối với sự phát triển của doanh nghiệp Cho đến thời điểm hiện nay, số lượng tên miền được cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đăng ký theo thống kê Internet của VNNIC61, là rất ít Điều này chứng minh rằng: đa phần các doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức rõ sự cần thiết xây dựng, phát triển tên miền nên chưa đưa ra được một chiến lược rõ ràng dẫn đến lãng phí nhiều thời gian, bỏ lỡ nhiều cơ hội, thậm chí đã tạo điều kiện cho những chủ thể khác đăng ký sử dụng tên miền liên quan đến thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp
Vì vậy, việc quan tâm, bảo vệ tên miền có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ sự thành công của doanh nghiệp; đặc biệt bảo vệ tên miền “.vn” còn có ý nghĩa trong bảo
vệ thương hiệu quốc gia Việt Nam trên mạng Internet Do đó, nghiên cứu, nắm vững các quy định pháp luật liên quan về tên miền, đầu tư phát triển tên miền, sử dụng hợp
61 Xem trang web http://www.thongkeinternet.vn/jsp/trangchu/index.jsp
Trang 35lý các công cụ sở hữu trí tuệ trở thành vấn đề rất quan trọng trong thời đại công nghệ thông tin, kinh tế thị trường hiện nay
1.3 Quy định của pháp luật chuyên ngành về tên miền
Suốt chiều dài lịch sử phát triển xã hội loài người, tri thức luôn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại, sự phát triển của từng hình thái kinh tế xã hội Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật số đã tạo ra sự thay đổi lớn trong xã hội Những ứng dụng của nó vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực hoạt động kinh doanh đã đem lại lợi ích rất lớn về mặt kinh tế Do
đó, xây dựng khung pháp lý chung để điều chỉnh hoạt động nêu trên, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật số như sử dụng tên miền, thực hiện hoạt động thương mại điện tử, … là đòi hỏi quan trọng Tại Việt Nam, khung pháp lý về lĩnh vực công nghệ số, đặc biệt là quy định điều chỉnh về tên miền đã hình thành
1.3.1 Cơ quan quản lý tên miền
Chính phủ thống nhất quản lý, kiểm soát mạng và các dịch vụ Internet62 Cơ quan giúp việc cho Chính phủ về quản lý ngành liên quan tên miền nói riêng, kho số-tài nguyên Internet nói chung thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Bộ Thông tin và Truyền thông có thẩm quyền ban hành quy hoạch, chương trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quy định về quản lý viễn thông, công nghệ thông tin, tài nguyên Internet; đồng thời ban hành các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, điều kiện khai thác
sử dụng, quyết định chính sách hợp tác quốc tế63… VNNIC là một trong hệ thống các
cơ quan trực thuộc thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông (Khối các đơn vị tham mưu, Khối các đơn vị chức năng, Khối các đơn vị sự nghiệp, tổ chức tài chính, các cơ quan báo chí, xuất bản), có chức năng quản lý, giám sát, thúc đẩy phát triển và hỗ trợ việc
sử dụng tài nguyên Internet ở Việt Nam VNNIC thuộc khối các đơn vị sự nghiệp, tổ chức tài chính, các cơ quan báo chí, xuất bản64
Do nhu cầu đăng ký, sử dụng tên miền rất lớn, với bộ máy tổ chức của mình VNNIC không thể trực tiếp quản lý hồ sơ, cơ sở dữ liệu của từng cá nhân, tổ chức đăng ký sử dụng tên miền nên đã cấp giấy phép cho các nhà đăng ký tên miền trên toàn lãnh thổ Việt Nam65 Nhà đăng ký chỉ được công nhận khi đã đảm bảo các tiêu
Trang 36chuẩn luật định66 Nhà đăng ký tên miền là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế, được thành lập theo pháp luật Việt Nam để cung cấp dịch vụ Internet cho cộng đồng67 Khi có nhu cầu đăng ký tên miền, các tổ chức, cá nhân liên hệ với nhà đăng ký gần nhất và những thông tin, cơ sở dữ liệu kê khai khi đăng ký sẽ do nhà đăng ký thẩm định trước khi gửi về VNNIC qua giao diện online; thông tin này sẽ được lưu giữ, quản lý tại nhà đăng ký Trên cơ sở dữ liệu do mình quản lý, nhà đăng ký phải thực hiện kiểm soát, duy trì báo cáo định kỳ danh sách khách hàng đăng ký tên miền “.vn”, tên miền quốc tế đến VNNIC để trình Bộ Thông tin và truyền thông theo quy định, phổ biến quy định, hướng dẫn cho chủ thể thực hiện nghĩa vụ thông báo hoạt động qua website với Bộ Thông tin và Truyền thông VNNIC chỉ thực hiện quản lý chủ yếu về mặt kỹ thuật, không quản lý nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký Vì vậy, trong trường hợp cần thiết, khi máy chủ DNS của các nhà đăng ký có sự cố bất khả kháng, VNNIC có thể khôi phục lại tên miền “.vn” Mọi thay đổi liên quan đến tên miền “.vn” đều phải xuất phát từ chính chủ thể đăng ký, được nhà đăng ký kiểm tra thông tin trước khi thực hiện Do thông số kỹ thuật của tên miền “.vn” được quản lý tại VNNIC nên khi bị mất tên miền “.vn” vì lí do tương tự như trường hợp của tên miền P.A Việt Nam68 có thể yêu cầu nhà đăng ký khôi phục lại quyền sử dụng tên miền cho mình
Ngoài Bộ Thông tin và Truyền thông trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện quản
lý Nhà nước về Internet, còn có Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính,
Bộ Nội vụ, các bộ ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về Internet tại địa phương phù hợp với quy định pháp luật69
1.3.2 Đăng ký, sử dụng tên miền
Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và tên miền quốc tế70 Đăng ký tên miền là việc thực hiện quy trình, thủ tục theo luật định để tên miền đó được công nhận, kích hoạt và tồn tại trên Internet Sử dụng tên miền là việc gắn tên miền đó với IP của máy chủ đang hoạt động phục vụ các ứng dụng trên mạng; hoặc để bảo vệ thương hiệu, nhãn hiệu, tên dịch vụ, tên tổ
66 Điều 4 Quyết định số 679/1997/QĐ-TCBĐ ngày 14 tháng 11 năm 1997 của Tổng cục Bưu điện về ban hành Thể lệ dịch vụ Internet và tham khảo thêm Mục 4 Phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của
Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
67 Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
68 Sự cố của nhà đăng ký P.A Việt Nam xảy ra khoảng tháng 7 năm 2008, một số tên miền trong đó có pavietnam.com bị mất quyền kiếm soát dẫn đến hàng loạt các tên miền quốc tế khác của khách hàng khai báo sử dụng DNS dưới tên miền pavietnam.com không hoạt động được nhưng VNNIC vẫn can thiệp hỗ trợ khôi phục hoạt động cho toàn bộ các tên miền “.vn” đăng ký qua P.A Việt Nam dù các chủ thể không sử dụng máy chủ trong nước; hoặc trường hợp xảy ra đối với website thương mại điện tử, tên miền Chodientu.com đã bị cướp và thay đổi giao diện trang chủ Tham khảo thêm tại http://vnexpress.net/gl/vi-tinh/2009/08/3ba12e1d/
69 Các khoản 2, 3, 4, 5, 6 Điều 5 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
70 Điều 17 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp,
sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet
Trang 37chức khỏi bị chiếm dụng71 Khi chủ thể đăng ký sử dụng tên miền trên Internet theo quy định pháp luật72, tức là chủ thể này đã khẳng định quyền sử dụng hợp pháp tài nguyên thông tin đối với cộng đồng xã hội, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
Đến thời điểm hiện nay, khung pháp lý về tên miền cơ bản đã có những điều chỉnh, bổ sung tiến bộ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho tên miền phát triển Do đó, số lượng tên miền được cấp phát ngày càng nhiều Xuất phát từ sự thuận lợi trên, ngày càng nhiều tranh chấp liên quan đến tên miền phát sinh Mặt khác, từ trước đến nay, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý tên miền theo cách tiền kiểm tức là kiểm soát từ khâu đăng ký sử dụng-khâu đầu tiên tức là giám sát chặt đầu vào, đầu ra chưa quản lý chuyên nghiệp73
1.3.3 Chấm dứt tên miền
Tổ chức, cá nhân khi làm thủ tục đăng ký sử dụng tên miền phải đảm bảo trách nhiệm trước pháp luật về mục đích sử dụng hợp pháp, tính chính xác của các thông tin đăng ký, bảo đảm việc đăng ký sử dụng tên miền không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các tổ chức cá nhân được xác lập trước khi nộp đơn đăng ký thì sẽ được cấp tên miền Trong quá trình sử dụng, chủ thể đăng ký thực hiện không đúng hay vi phạm quy định pháp luật sẽ phải chấm dứt sử dụng tên miền Chấm dứt sử dụng tên miền xảy ra khi trả lại, tạm ngừng hay bị thu hồi tên miền theo quy định
1.3.3.1 Trả lại tên miền
Khi không còn nhu cầu sử dụng tên miền “.vn”, các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có văn bản đề nghị trả lại tên miền gửi đến nhà đăng ký tên miền hoặc trường hợp tên miền hết thời hạn sử dụng mà chưa kịp đóng phí, chủ thể đăng ký tên miền sẽ nhận được văn bản nhắc nhở đóng phí duy trì của nhà đăng ký Khi hết thời hạn được nhắc nhở vẫn không đóng phí, tên miền được xem là không có nhu cầu sử dụng và đề nghị trả lại74
1.3.3.2 Tạm ngừng tên miền
Tạm ngừng sử dụng tên miền xảy ra khi75:
- Có hành vi vi phạm pháp luật phát sinh trong quá trình sử dụng, vận hành tên miền nhằm đạt được mục đích, lợi nhuận không được pháp luật bảo hộ, có nghĩa
là khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát hiện hoặc nhận được đơn phản ánh mục
09/2008/TT-73 Tham khảo thêm tại địa chỉ website thong-tin/20541860/217/
http://vietbao.vn/Vi-tinh-Vien-thong/Se-quan-ly-ten-mien-theo-noi-dung-74 Khoản 8.1 Mục 8 Phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ thông tin và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
75 Khoản 8.2 Mục 8 Phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ thông tin và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet; Khoản 3 Điều 68 Luật Công nghệ thông tin
Trang 38đích sử dụng tên miền của bất kỳ tổ chức, cá nhân nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, gây rối an ninh kinh tế, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp của tổ chức,
cá nhân; cản trở bất hợp pháp hoạt động của máy chủ tên miền quốc gia (DNS), vi phạm điều cấm của pháp luật, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ ban hành văn bản thông báo về việc tạm ngừng sử dụng tên miền
- Chủ thể đăng ký tên miền chậm đóng phí gia hạn, nhà đăng ký tên miền sẽ thông báo bằng văn bản về việc tạm ngừng sử dụng tên miền trong thời gian được pháp luật gia hạn để đóng phí Thời hạn này do nhà đăng ký xem xét trên cơ sở tính toán, đánh giá các yếu tố để xác định thời gian gia hạn hợp lý nhưng không được vượt quá 30 ngày liên tục kể từ thời điểm tên miền hết hạn sử dụng76 Đối với trường hợp tạm ngừng cho chậm đóng phí, tên miền sẽ tự động được khôi phục sau khi chủ thể đăng ký đã đóng phí duy trì tên miền theo quy định77
- Tên miền cấp 3 của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đăng ký sử dụng vi phạm các quy định pháp luật liên quan, cơ quan Nhà nước đã ban hành văn bản đề nghị phải xử lý ngay những vi phạm này nhưng chủ thể đăng ký đã không thực hiện theo yêu cầu, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện tạm ngừng tên miền cấp 2 của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân
Ví dụ: Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (viết tắt là MHB Bank), đăng ký tên miền là mhb.vn và tên miền cấp 3 là mhb.com.vn Trong trường hợp tên miền mhb.com.vn có hành vi giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác, cơ quan Nhà nước đã ban hành văn bản đề nghị phải xử lý ngay những vi phạm này nhưng chủ thể đăng ký đã không thực hiện theo yêu cầu Do đó, tên miền cấp 2 mhb.vn sẽ bị tạm ngừng theo quy định
1.3.3.3 Thu hồi tên miền
Thu hồi tên miền là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện xóa toàn
bộ dữ liệu liên quan chủ thể đăng ký tên miền tại hệ thống máy chủ tên miền quốc gia, thu hồi lại địa chỉ IP đã cấp phát Sau khi bị thu hồi, người dùng Internet sẽ không truy cập được trang web có địa chỉ tên miền này Thu hồi tên miền xảy ra trong trường hợp78: có văn bản yêu cầu hợp pháp của nhà đăng ký hay kết luận có
76 Điểm b Khoản 8.2 Mục 8 Phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ thông tin
và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet; Tham khảo thêm quy định tại Khoản 2 Điều 13 Quyết định sô 27/2005/QĐ-BBCVT ngày 11 tháng 8 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông
77 Tham khảo hướng dẫn về phí, lệ phí, thuế, chứng từ được sử dụng để thu phí, lệ phí đối với tên miền được quy định tại Quyết đinh số 28/2006/QĐ-BTC ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài chính, Công văn số 4544/BTC-CST ngày
03 tháng 4 năm 2007 của Bộ Tài chính, Công văn số 2015/TCT-CS ngày 26 tháng 5 năm 2008 của Tổng Cục thuế và Thông tư số 189/2010/TT-BTC ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Bộ Tài chính
78 Điểm 8.3, Khoản 8, Mục II của Thông tu số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin
và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet; Khoản 2 Điều 1 Quyết định số VNNIC ngày 10 tháng 01 năm 2011 của Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam quy định thời điểm cho phép
Trang 3918/QĐ-hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với nội dung yêu cầu hủy bỏ đăng ký
sử dụng tên miền hoặc theo kết quả giải quyết tranh chấp tên miền; vi phạm nguyên tắc đăng ký tên miền hoặc có sự vi phạm trong quá trình sử dụng tên miền do sự quản lý lỏng lẻo của chủ thể đăng ký tên miền; đăng ký một tên miền mới theo quy định pháp luật để thay đổi hoàn toàn tên miền cũ79; chủ thể vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật sau khi hoặc nhận được văn bản nhắc nhở của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc hết thời hạn tạm ngừng
Trong trường hợp tạm ngừng hay thu hồi, nhà đăng ký tên miền “.vn” thông báo bằng văn bản về việc thực hiện tạm ngừng gửi đến cá nhân, tổ chức có liên quan theo yêu cầu của VNNIC Trong thời hạn chấm dứt sử dụng, tên miền được trả về trạng thái tự do của nó Nếu thông tin này bị tiết lộ sẽ dẫn đến tình trạng chủ thể khác đăng ký ngay lập tức, theo đúng trình tự thủ tục luật định, dịch vụ sẽ chính thức được cung cấp trong vòng 48 giờ kể từ thời điểm được đăng ký thành công80 Trong trường hợp này, chủ thể đăng ký ban đầu không có cơ hội tiếp tục được sử dụng tên miền Do đó, tranh chấp, khiếu nại tên miền có thể phát sinh, như: khiếu nại nhà đăng ký cấp phát tên miền không đúng hay tranh chấp liên quan đến quyền được “sở hữu” tên miền
1.3.4 Khôi phục, đăng ký lại tên miền
Trừ trường hợp tên miền bị thu hồi, hủy bỏ bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì tên miền có khả năng được khôi phục, đăng ký sử dụng lại Như trường hợp: tên miền tạm ngừng
do chậm đóng phí, nếu chủ thể đóng phí gia hạn trong khoảng thời gian hợp lý, không vượt quá 30 ngày liên tục kể từ thời điểm tên miền hết hạn sử dụng hoặc tên miền bị thu hồi theo quy định thì thời điểm cho phép đăng ký lại bắt đầu kể từ khi tên miền ở trạng thái tự do và được cập nhật trên website chính thức của VNNIC
1.3.5 Ưu điểm và hạn chế từ chính sách quản lý tên miền của Việt Nam
đăng ký lại các tên miền “.vn” không còn nhu cầu sử dụng đề nghị trả lại, tên miền hết thời hạn sử dụng mà không đóng tiếp phí duy trì
79 Khoản 7.1 Mục 7 Phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ thông tin và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet; Khoản 3 Điều 68 Luật Công nghệ thông tin
80 Tham khảo tại http://tenmientiengviet.vn/jsp/index.jsp
Trang 40Ủy ban nhân dân quận huyện Chính hệ thống quản lý chặt chẽ này, việc phát hiện và
xử lý vi phạm tên miền trên địa bàn được thực hiện nhanh chóng kịp thời Nội dung này được thể hiện thông qua việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm tên miền www.baocantho.net của Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Cần Thơ (Quyết định xử phạt số 161/QĐ-XPHC-TTTT, Quyết định xử phạt số 162/QĐ-XPHC-TTTT ngày 20 tháng 9 năm 2011-Xem phụ lục 1)
- Cho phép đăng ký tên miền trực tuyến, đảm bảo giải quyết nhanh, phù hợp tốc độ phát triển của Internet và có thể đăng ký tại cơ sở của nhà đăng ký tên miền
“.vn” Quy định này tạo thuận lợi, khuyến khích chủ thể đăng ký sử dụng tên miền, nhất là tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”81
Những quy định hiện hành về tên miền giúp doanh nghiệp có lợi thế kinh doanh trên Internet và không bị mất tên miền hợp pháp khi đăng ký sử dụng sớm; đảm bảo không bị trùng lắp hoàn toàn, trong khi các đối tượng sở hữu trí tuệ có khả năng trùng lặp Khi xác định tên miền là một loại tài sản đặc thù, thuộc tài nguyên thông tin quốc gia, không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ82, do Nhà nước thống nhất quy định về chính sách quản lý, sử dụng đã thể hiện quy định pháp luật Việt Nam về tên miền phù hợp, tiếp cận với pháp luật quốc tế83
1.3.5.2 Hạn chế
Công tác quản lý, giải quyết tranh chấp, khiếu nại về tên miền trong thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế Cụ thể: Đối với thời hạn gia hạn nộp phí duy trì tên miền, được quy định không quá 30 ngày liên tục kể từ khi tên miền hết thời hạn sử dụng84 Quy định này chỉ mang tính điều chỉnh riêng Xét về mặt pháp lý, đây là văn bản dưới luật nên các quy định trong văn bản dưới luật cần phải tuân thủ văn bản có giá trị pháp lý cao hơn Chẳng hạn, trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự85 về thời hạn, cần quy định thời hạn gia hạn tên miền tính từ ngày tiếp theo ngày hết hạn đóng phí duy trì và không quá 30 ngày Thời hạn kết thúc được xác định theo quy định của
84 Điểm b mục 8.2 phần II Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2008 của Bộ Thông tin và truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
85 Khoản 3 Điều 152 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện
không được tính mà tính từ ngày tiếp theo của ngày xảy ra sự kiện”; Khoản 5 và khoản 6 Điều 153 quy định: “Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó”