Chính lịch sử thăng trầm và điều kiện sống khắc nghiệt đã hun đúc lên những giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, trong đó có tinh thần nhân ái, độ lượng và vị tha t
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
KỶ YẾU HỘI THẢO
Tp Hồ Chí Minh, 11/2010
Trang 2MỤC LỤC
1 SƠ LƯỢC TƯ TƯỞNG VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG ĐẤU TRANH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRUYỀN THỐNG VÀ LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM
Ths Phạm Thị Ngọc Thủy - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 1
2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG NAM NỮ QUA TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ TỪ NĂM
1930 ĐẾN NAY
Trần Thị Rồi - Ts GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 7
3 HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON NGƯỜI
Trần Ngọc Anh – Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 12
4 VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Hồng - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 21
5 VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Minh Hằng - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 27
6 QUYỀN CON NGƯỜI GÓC NHÌN TỪ CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG
Ngô Đạt - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 33
7 BÀN VỀ VẤN ĐỀ DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG HIỆN NAY
Nguyễn Quốc Vinh - Ts GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 46
8 QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CƠ CHẾ BẢO TRỢ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Phạm Văn Dinh - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 53
9 PHÁT HUY TÍNH CHỦ THỂ CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC – MỘT ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỂ PHÁT HUY NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Nguyễn Thanh Hải - Cn GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 58
Trang 310 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
Lê Văn Bích - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 65
11 QUYỀN CON NGƯỜI - ẢNH HƯỞNG THÔNG QUA CÁCH XƯNG HÔ TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Phạm Thị Minh Hải - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 72
12 NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN BẢN TRONG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA TRẦN THÁI TÔNG
Nguyễn Hoài Đông - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 78
Trang 4SƠ LƯỢC TƯ TƯỞNG VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG ĐẤU TRANH
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRUYỀN THỐNG VÀ LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM
Ths Phạm Thị Ngọc Thủy
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
Sự tôn trọng các quyền con người, lòng khoan dung, nhân đạo,… là những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Điều này cơ bản xuất phát từ lịch sử hàng ngàn năm kiên cường chống chọi với thiên tai và các thế lực ngoại xâm của người Việt Chính lịch sử thăng trầm và điều kiện sống khắc nghiệt đã hun đúc lên những giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, trong đó có tinh thần nhân ái, độ lượng và vị tha trong đối xử với những người lầm lỗi, ngay cả với những kẻ xâm lược…
Tư tưởng khoan dung, nhân đạo kể trên trước hết thể hiện trong các truyền
thuyết và kho tàng thơ ca dân gian của Việt Nam: đánh kẻ chạy đi, không đánh
người chạy lại… Những tư tưởng đó còn ảnh hưởng đến cách thức cầm quyền qua
các thời đại Từ thời các vua Hùng dựng nước, các triều đại phong kiến Việt Nam
đã chú ý kết hợp giữa “đức trị” và “pháp trị”, giữa “trị quốc” và “an dân” Tư tưởng
“lấy dân làm gốc” đã được Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đề cập một cách trực tiếp
và gián tiếp từ những thế kỷ XIV, XV… Có lẽ bởi vậy, lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam không có nhiều trang tàn bạo, khốc liệt như ở nhiều nước khác trên thế giới mà ngược lại, hầu như ở thời kỳ nào cũng có những ví dụ về tinh thần khoan dung, nhân đạo đối với những kẻ lầm lạc và kể cả những tên giặc ngoại xâm
, năm 1042 bộ Hình Thư - bộ luật thành văn đầu tiên của
nhà nước quân chủ Việt Nam - được ban hành là một dấu mốc quan trọng trong lịch
sử pháp quyền Việt Nam, nội dung của bộ luật thể hiện tính nhân đạo rất cao Mặc
dù được ban hành để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước phong kiến tập quyền, song bộ luật này đã bao gồm những quy định nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền áp bức dân lành của giới quan liêu quý tộc Bộ luật này còn chứa đựng nhiều quy định giàu tính nhân văn, nhân đạ
,
Trang 5lấy dân làm gốc Tư tưởng này sau đó cũng được khắc họa bởi vị anh hùng dân tộc
Trần Hưng Đạo, người trước khi qua đời còn khuyên vua cần quan tâm đến dân,
“khoan thư sức dân” để làm kế “sâu rễ bền gốc” Ở một góc độ khác, tinh thần nhân
đạo, nhân văn thời nhà Trần còn được phản ánh qua hình ảnh của nhà vua Trần Nhân Tôn, người được coi là một Phật hoàng, hay qua việc nhà Trần đối xử nhân đạo với tù binh v.v
Tinh thần khoan dung, nhân đạo ở thời Lê được thể hiện ngay trong giai đoạn xây dựng vương triều, qua việc đối xử khoan dung với 10 v
, tiêu biểu như: bảo vệ tính mạng, nhân phẩm và tài sản của
người dân; bảo vệ người dân khỏi bị nhũng nhiễu bởi giới quan lại, cường hào; bảo
Tư tưởng về quyền con người xuyên suốt trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam còn thể hiện ở truyền thống dân chủ trong nhiều lĩnh vực, mà tiêu biểu là trong việc quản lý cộng đồng, tuyển dụng và sử dụng nhân tài, trong việc thảo luận và quyết định các công việc quốc gia đại sự Như vậy, có thể khẳng định dân tộc Việt
Trang 6Nam có truyền thống nhân đạo và tôn trọng con người, nhiều triều đại trong lịch sử
đã biết trân trọng ý kiến nhân dân ở những mức độ nhất định
Từ cuối thế kỷ XIX, nhiều trí thức Việt Nam như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Huỳnh Thúc Kháng… đã tiếp thu các tư tưởng tiến bộ về
tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về dân quyền, dân chủ của Cách mạng tư sản Ban đầu, có ảnh hưởng đặc biệt lớn đến các nhà nho yêu nước cấp tiến là các bản dịch tác phẩm của Rousseau, Hobbes, Locke… do các nhà tư tưởng Trung Quốc cùng thời như Khang Hữu Vi (Kang Youwei, 1858 - 1927), Lương Khải Siêu (Liang Qichao, 1873 – 1929) dịch và giới thiệu trên các tạp chí tiếng Trung Sau này, do có điều kiện ra nước ngoài nhiều, các nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu càng hiểu thêm sâu sắc về tư tưởng tự do và dân quyền, hai ông đã trở thành những người truyền bá những tư tưởng này sớm nhất, có hệ thống nhất ở Việt Nam đầu thế
kỷ XX
Một trong các chủ trương của Phong trào Duy Tân (khởi xướng từ khoảng năm 1903, với các lãnh tụ chính yếu Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần
Quý Cáp) là vận động nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, phát triển dân sinh, vận
động dân quyền (Khai dân trí, chấn dân khí và hậu dân sinh) Trong sách Tự Phán,
Phan Bội Châu cho biết sau khi đi Nhật trở về năm 1906, Phan Châu Trinh khẳng
định lập trường: chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc khác có
thể tính lần được Có thể khẳng định Phan Châu Trinh là nhà hoạt động chính trị
đầu tiên đề xướng dân quyền ở Việt Nam Sau khi sang Pháp năm 1911 nhờ sự can thiệp của Hội nhân quyền (trụ sở tại Pháp), ông cũng là người đầu tiên báo động tình trạng thiếu dân quyền ở Việt Nam và lên án chế độ phong kiến, thực dân trong nước bằng các bài diễn thuyết và các bài viết như “Thư gửi Hội nhân quyền về cuộc dân biến ở Trung Kỳ” (1911), “Đông Dương chính trị luận” (1913), thư “Thất điều”
kể tội của vua Khải Định (1922), “Bản kiến nghị gửi Tổng thống Pháp về hiện trạng Đông Dương” (1925) Cuối năm 1925, Phan Châu Trinh về nước, ông có hai bài diễn thuyết tại Sài Gòn, trong đó bài “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa” hướng đến một xã hội dân chủ và pháp trị
Phan Bội Châu, mặc dù lựa chọn con đường cách mạng khác với con đường
mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn cho dân tộc, nhưng cũng dùng thơ văn và các bài diễn thuyết kêu gọi người dân có ý thức về các quyền tự do Chẳng hạn trong loạt bài
Trang 7“Nam quốc dân tu tri” (Quốc dân nam giới cần biết, được đăng dần trên báo Tiếng Dân từ tháng 8/1926), tác giả kêu gọi công dân có ý thức về quyền lợi, nghĩa vụ đối với xã hội, với quốc gia, giải thích thế nào là “độc lập”, “tự do”… Các quyền cơ bản đã được ông trình bày dưới dạng thơ rất xúc tích và lý thú:
Miệng có quyền nói,
Óc có quyền suy
Chân có quyền đi, Tay có quyền đẩy
Mắt có quyền thấy, Tai có quyền nghe
Đất nọ xứ kia,
Có quyền dời ở
Viết sách làm vở, Quyền bút mặc lòng
Hội hè việc chung,
Có quyền nhóm họp…
Quyền lợi rành rành, Đồng bào phải biết! 1
Từ những chuyển biến về tư tưởng tự do và dân chủ, nhiều cuộc vận động
đã diễn ra vào đầu thế kỷ XX ở Việt Nam từ trong và ngoài nước nhằm mục tiêu đánh đổ ách phong kiến, thực dân, giành quyền độc lập cho dân tộc và các quyền tự
do cho nhân dân Các phong trào giai đoạn này rất đa dạng về hình thức và nội dung, có sự tham gia của nhiều giới, nhiều thành phần xã hội, không chỉ trí thức, học sinh mà cả công nhân, nông dân, viên chức…Các phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ không tách biệt với phong trào đòi độc lập dân tộc
1
Phan Bội Châu: Toàn tập, t8, Văn vần 1925 – 1949, NXB Thuận Hóa & Trung tâm văn hóa Đông Tây,
2001, tr.19
Trang 8Phong trào Duy Tân là một trong những phong trào đầu tiên được khởi xướng từ các năm 1903 - 1908 Một chủ trương của phong trào này là vận động nâng cao dân trí, chú trọng các kiến thức về dân quyền Nhiều trường học được thành lập trên cả nước nhằm thực hiện chủ trương này, tiêu biểu nhất là Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập năm 1907 tại Hà Nội với mục tiêu du nhập những tư tưởng dân chủ, phát triển văn hóa, thúc đẩy sử dụng chữ quốc ngữ, từ bỏ những yếu
tố lạc hậu trong Khổng giáo… Phong trào Duy Tân đã góp phần dẫn tới những chuyển biến về tư tưởng và xã hội đáng kể, đặc biệt là phong trào kháng thuế ở miền Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận) năm 1908 Một số nhà cách mạng khác lựa chọn con đường có thiên hướng bạo động hơn Năm 1912, Việt Nam Quang Phục Hội được thành lập bởi Phan Bội Châu tại Quảng Châu do ảnh hưởng của Cách mạng Tân Hợi (1911), đây là một tổ chức cách mạng theo tư tưởng dân chủ
với tôn chỉ: khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam Cộng hòa Dân quốc Giai đoạn
sau có khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc Dân Đảng phát động, cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (năm 1930), cao trào cách mạng ở các tỉnh Nam Trung Kỳ, Bắc
Kỳ (1930 – 1931)
Bên cạnh đó, nhiều nhà cách mạng hoạt động đòi các quyền dân chủ từ nước ngoài như Phan Châu Trinh (giai đoạn 1911 -1925 ở Pháp), Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc… Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhóm những người Việt
Nam yêu nước tại Pháp đã soạn và gửi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, bản
yêu sách này gồm 8 điều, trong đó có 4 điều trực tiếp về các quyền cơ bản Năm
1925, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc được xuất bản
bằng tiếng Pháp tại Paris đã lên án chế độ cai trị thuộc địa tàn bạo, vô nhân đạo của thực dân Pháp và đòi các quyền độc lập, tự quyết cho các dân tộc thuộc địa
Trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, cuộc đấu tranh đòi các quyền tự do diễn ra
cả công khai và bí mật Năm 1925, báo Thanh Niên được thành lập và ra số đầu tiên Năm 1927, báo Tiếng Dân, cơ quan ngôn luận độc lập đầu tiên tại Trung Kỳ, được Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu thành lập, tờ báo này có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức miền Trung trong gần 16 năm (1927 - 1943)… Đặc biệt trong giai đoạn 1936 -1939, bên cạnh các phong trào như Đông Dương Đại hội, các cuộc vận động bầu cử…, phong trào của giới báo chí Việt Nam càng sôi động với các hoạt
Trang 9động đòi quyền tự do báo chí và thành lập tổ chức thống nhất của báo giới trên toàn quốc (Hội nghị báo giới Trung Kỳ, Hội nghị báo giới Bắc Kỳ…)
Điều đặc biệt là có một số phong trào gắn liền với các lãnh tụ nổi tiếng như phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu (năm 1925) và phong trào để tang Phan Châu Trinh (năm 1926) Cả hai phong trào này đều lan rộng cả nước ở khắp
ba miền Bắc Trung Nam, ở cả các đô thị lớn và vùng nông thôn, khiến thực dân Pháp phải tìm đủ mọi cách kiểm soát, khống chế và trả thù Các phong trào này đã làm thức tỉnh cả một thế hệ thanh niên, giúp họ nhận thức rõ hơn về sứ mệnh đấu tranh giành độc lập và tự do cho dân tộc, nhiều người sau này trở thành lãnh đạo trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Kế thừa và tiếp tục phát triển những tư tưởng về quyền con người trong lịch
sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hành trình tìm con đường giải phóng cho dân tộc, Người đã sớm nhận thức được những gì thuộc về chân giá trị của con người, của loài người, trong đó có tinh thần nhân đạo, nhân phẩm, tự do, bình đẳng Trên lĩnh vực quyền con người, đóng góp có tính thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã nghiên cứu đưa ra các luận điểm giải quyết vấn đề quyền con người trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới ở các nước thuộc địa Cốt lõi tư tưởng đó là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội - tiền
đề và điều kiện cơ bản nhất bảo đảm các quyền và tự do của con người Quyền con người không chỉ là những chế định pháp luật, thuộc trách nhiệm của nhà nước, mà còn là giá trị đạo đức, văn hóa, là trách nhiệm của các tổ chức chính trị – xã hội, là đòi hỏi nội tại của nhân cách làm người đối với tất cả mọi người, từ cán bộ, công chức đến người dân Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người mang tầm vóc thời đại Tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh của nhân dân ta ngày nay
Trang 10NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG NAM NỮ QUA TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ
TỪ NĂM 1930 ĐẾN NAY
Ts Trần Thị Rồi
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
Thực hiện quyền bình đẳng nam nữ - một nội dung quan trọng liên quan đến quyền công dân, quyền con người là vấn đề mang tính toàn cầu Vấn đề này hiện nay đang được Liên Hiệp Quốc và các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Bởi
vì, việc bảo đảm cho mọi công dân không phân biệt nam nữ được bình đẳng xã hội
là một trong những cơ sở quan trọng khi xem xét, đánh giá về tình hình dân chủ, nhân quyền của các quốc gia
Tuy nhiên, nhận thức về vấn đề bình đẳng nam nữ và việc triển khai thực hiện quyền bình đẳng nam nữ ở các quốc gia trên thế giới vẫn còn những sự khác biệt nhau Ngay cả trong tiến trình phát triển của từng quốc gia, ở mỗi thời kỳ lịch
sử, nhận thức của xã hội và quy định của pháp luật về quyền bình đẳng nam nữ trong hoạt động quản lý nhà nước cũng không hoàn toàn giống nhau
Vào đầu thế kỷ XX, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và là một nước thuộc địa nửa phong kiến Trong thực tế, khi đất nước mất độc lập, dưới ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai phong kiến, toàn thể dân tộc Việt Nam sống trong thân phận nô lệ, phụ thuộc và do ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo, những quyền
cơ bản của công dân như quyền bình đẳng trong tham gia hoạt động chính trị, kinh
tế, văn hóa - xã hội hầu như đều bị vi phạm Riêng đối với phụ nữ, ngoài sự áp bức bóc lột về dân tộc, giai cấp, phụ nữ Việt Nam còn bị áp bức, bóc lột về giới, bị kìm hãm, bị phân biệt đối xử trong gia đình và ngoài xã hội
Từ khi ra đời vào năm 1930 cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định thực hiện quyền bình đẳng nam nữ là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam Qua các thời kỳ lịch sử, chủ trương đường lối của Đảng về quyền bình đẳng nam nữ trong quan hệ gia đình và trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội không ngừng được bổ sung và phát triển
Trang 111 Thời kỳ 1930-1945
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Trong bối cảnh Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, phụ nữ không có quyền bình đẳng với nam giới trong quan hệ gia đình và xã hội, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng khẳng định sau khi giành chính quyền, một trong những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam
ở phương diện xã hội là thực hiện nam nữ bình quyền
Đến tháng 10/1930, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ I, trong Luận cương chính trị, nhiệm vụ giải phóng phụ nữ, nam nữ bình đẳng tiếp tục được khẳng định một trong những nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Cũng trong Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết về vận động phụ nữ tham gia vào sự nghiệp cách mạng chung của toàn thể dân tộc
Trong các phong trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 Đảng đưa ra những khẩu hiệu phù hợp với hoàn cảnh lịch sử để đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ
nữ như: “Nam và nữ làm việc ngang nhau, tiền lương ngang nhau”, “Chị em được
nghỉ đẻ 10 ngày, được hưởng lương”,…
Trước khi Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Đảng đã lãnh đạo thành lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân đấu tranh giành độc lập Trong Chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh, việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, thực hiện nam nữ bình đẳng là vấn
đề được nêu lên hàng đầu Chủ trương đúng đắn của Đảng đã thu hút đông đảo phụ
nữ Việt Nam tham gia Mặt trận Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Phụ nữ Cứu quốc
ra đời, tập hợp các tầng lớp phụ nữ tham gia đấu tranh giành chính quyền
Tháng 8 năm 1945, phụ nữ Việt Nam cùng với toàn thể dân tộc đã tích cực hưởng ứng quyết định Tổng khởi nghĩa của Đảng, đứng lên đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập cho toàn thể dân tộc
Trang 12bình đẳng với nam giới, tham gia đóng góp cho sự nghiệp cách mạng chung của toàn thể dân tộc
Tháng 12/1960, lần đầu tiên Đảng đã triệu tập Hội nghị cán bộ phụ nữ để tổng kết về công tác cán bộ nữ và khẳng định vai trò, vị trí của phụ nữ Việt Nam trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội Năm 1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng
đã ban hành Nghị quyết số 153 về “Công tác cán bộ nữ”, thể hiện rõ sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước đối với công tác cán bộ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam được bồi dưỡng, đào tạo, bố trí giữ những cương vị lãnh đạo, quản lý nhà nước
và đối xử bất công với phụ nữ…
Sau Đại hội VI và Đại hội VII, ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị ra Nghị quyết
số 04-NQ/TW “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình
mới” Nghị quyết nêu rõ: “Giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước” Nghị quyết khẳng định “Cải thiện đời sống vât chất và tinh thần cho phụ nữ, nâng cao địa vị xã hội và quyền bình đẳng của phụ nữ; nhấn mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, chính quyền, các tổ chức nhân dân, toàn xã hội và từng gia đình”
Sau đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 37-CT/ TW ngày
16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới Chỉ thị tiếp tục
khẳng định việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý kinh tế, quản lý nhà
Trang 13nước, xã hội là yêu cầu quan trọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng dân chủ của phụ nữ; là điều kiện để phát huy tài năng trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ
Năm 2001, thế giới và đất nước bước vào thế kỷ XXI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định phụ nữ Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng vào những thắng lợi to lớn của đất nước trong cách mạng giải phóng dân tộc
và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Khi đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập vào quá trình toàn cầu về kinh tế, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy dân chủ trong xã hội, tạo điều kiện cho việc thực hiện bình đẳng nam - nữ ngày càng đầy đủ hơn, phát huy những ưu thế và thiên chức của phụ nữ Trong hoạt động quản lý nhà nước, Đại hội chủ
trương “Thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, nâng cao
nghề nghiệp, nâng cao học vấn, có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.”1
Sau Đại hội IX, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy
(khóa X) ra thông qua Nghị quyết “Phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc, vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ văn minh” Để triển khai thực
hiện Nghị quyết Đại hội IX về vấn đề bình đẳng giới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy (khóa IX) chỉ đạo:
‐ Tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và trong toàn xã hội về công tác phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới
‐ Khẩn trương thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ và công tác cán bộ nữ trong tình hình mới; lồng ghép vấn đề giới trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch chung
‐ Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2001, tr 126.
Trang 14Năm 2006, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục đưa ra
những chính sách cụ thể đối với phụ nữ để thực hiện quyền bình đẳng giới: “Đối với
phụ nữ, nâng cao trình độ về mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới1…”
Sau Đại hội X và khi Quốc hội đã thông qua Luật bình đẳng giới, ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 11- NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đánh giá về phong trào phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới ở nước ta, Nghị quyết số 11- NQ/TW nhận định: trong những năm qua “phong trào phụ nữ và bình đẳng giới ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tình hình phụ nữ và công tác phụ nữ còn nhiều mặt hạn chế, đồng thời lại có những vấn đề mới đặt ra với nhiều
thách thức “Phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý có tỷ lệ thấp, chưa tương xứng với
năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ, nguồn cán bộ nữ hẫng hụt, ở một số lĩnh vực, tỷ lệ cán bộ nữ sụt giảm”.2
Vì vậy, việc xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng
Tóm lại, từ khi ra đời cho đến nay, trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vấn đề bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong quan hệ gia đình và xã hội là mục tiêu nhất quán của cách mạng Việt Nam Mọi công dân Việt Nam không phân biệt nam nữ đều có cơ hội phấn đấu và cống hiến tài năng, sức lực của mình cho công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, tiến bộ, văn minh
1
Đảng Cộng sản Việt Nam- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X NXBCTQG Hà nội,2006.tr 120
2 Bộ Chính trị- Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam- Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày
27-4-2007
Trang 15HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ CON NGƯỜI
VÀ QUYỀN CON NGƯỜI
Ths Trần Ngọc Anh
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa của thế giới
Có thể thấy rằng trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh thì vấn đề con người
và quyền con người không hề xa lạ Người ra đi tìm đường cứu nước thực chất cũng xuất phát từ vấn đề con người và quyền con người Trong suốt hành trình cứu nước,
từ những năm đầu, khi Người tham gia Hội những người ái quốc An Nam cùng với
cụ Phan Chu Trinh và luật sư Phan Văn Trường ở nước Pháp cho đến khi viết về
con người trong Di chúc trước khi mất, thì vấn đề Con người và Quyền con người
được đề cập xuyên suốt những bài nói và viết của Hồ Chí Minh
Sự cảm nhận về “thân phận con người” ấy là một yếu tố rất quan trọng để Người
gắn bó với những lính chiến và lính thợ An Nam bị đưa sang chiến trường châu Âu hồi Chiến tranh thế giới thứ nhất
Cũng chính sự cảm nhận về “thân phận con người” ấy đã nhanh chóng đưa Nguyễn Tất Thành tham gia Liên đoàn nhân quyền và dân quyền lúc Người vừa đặt chân tới Pari Và càng rõ hơn trong sự kiện Người thay mặt nhóm những người An
Nam yêu nước ở Pháp đưa tới Hội nghị Véc-xây (1919) Bản Yêu sách của nhân dân
An Nam, trong đó nêu bật các quyền con người phải được thực hiện ngay trong khi
chờ đợi thực hiện quyền dân tộc tự quyết
Sau sự kiện tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một nhà cách mạng chuyên nghiệp, với tư cách một người đấu tranh giải phóng dân tộc và một người cộng sản thì Người đề cập đến thân phận con người trên những bình diện ngày càng rộng lớn Tuy nhiên, Hồ Chí Minh bao giờ cũng nói đến con người cụ thể, lịch sử Tùy theo từng thời điểm lịch sử cụ thể gắn liền với từng thời kỳ cách mạng, Người
Trang 16dùng khái niệm này hay khái niệm khác để chỉ “con người” và xem xét nó trong những bình diện, những chiều khác nhau Thật vậy, trong những năm 20 của thế kỷ
XX, qua rất nhiều bài báo, như: Tâm địa thực dân, Thù ghét chủng tộc, Khai hóa giết người, Vực thẳm thuộc địa… Người đã dùng các khái niệm “người bản xứ”,
“người bản xứ bị áp bức”, “người bản xứ bị bắt làm nô lệ”, “người mất nước”,
“người lao động bản xứ”, “người bị bóc lột”, “người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc”, “người da vàng”, “người da đen”, “người vô sản”, người vô sản thuộc địa”,
“người vô sản ở chính quốc”, “người cùng khổ”,… và đối lập với họ là những tên
“thực dân”, “thực dân tàn ác”, “viên chức tàn bạo”, “bọn ăn bám đủ các cỡ”, “kẻ diễm phúc có đặc quyền đặc lợi”, “đức ngài tư bản chủ nghĩa”,…1
Hồ Chí Minh rất khâm phục cuộc Đại cách mạng Pháp 1789, một cuộc cách mạng vĩ đại đã đem sức mạnh của lý trí khoa học khắc phục thần quyền, đem sức mạnh của con người phủ định thần thánh, đem quyền con người và quyền công dân xóa bỏ quyền lực của nền quân chủ chuyên chế Như đã thể hiện rõ trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Người trân trọng tiếp thu và phát triển tư tưởng bất hủ
về nhân quyền và dân quyền được ghi trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Cách mạng Pháp
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong các bài nói và bài viết của mình, chúng ta thấy Hồ Chí Minh rất ít dùng từ “con người” như trên, thay vào đó Người sử dụng những từ như: “dân”, “nhân dân”, “quốc dân đồng bào”, “quốc dân Việt Nam”… và qua đó đặt con người trong quan hệ gắn bó với khối thống nhất của cộng đồng dân tộc Như vậy, ở đây không có sự phân chia thành các nhóm xã hội có những lợi ích khác nhau, mà chỉ có sự phân biệt theo lứa tuổi, công việc, trách nhiệm… trong sự thống nhất của “chúng ta” Theo chúng tôi có sự thay đổi trên là
do hoàn cảnh đất nước lúc đó đã có những thay đổi căn bản Đó là Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một nước độc lập, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người tự do, làm chủ đất nước
Trong thời kỳ cải cách ruộng đất và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1953-1960), Hồ Chí Minh đã nói rõ về con người trong các quan hệ giai cấp Sau khi miền Bắc đã
1 Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc gia các bộ môn Khoa học Mác-Lê Nin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.382
Trang 17hoàn thành công cuộc cải tạo nói trên thì Hồ Chí Minh dùng những khái niệm phù hợp với các quan hệ xã hội mới, như “lao động chân tay”, “lao động trí óc”, “công nhân”, “nông dân tập thể”, “người chủ tập thể”,… Ngoài các quan hệ xã hội, Hồ Chí Minh còn xem xét con người theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp…1
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đang diễn ra rất ác liệt, Hồ Chí Minh lại dùng phổ biến các từ như:
“đồng bào”, “đồng bào miền Bắc”, “đồng bào miền Nam”, “đồng bào cả nước” trong các bài nói và bài viết của mình
Và cuối cùng, tháng 5/1968, trong phần bổ sung Di chúc, Hồ Chí Minh lại dùng từ “con người” Nhưng khái niệm con người trong Di chúc được Người dùng rất cụ thể:
“Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình
(cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…
Đối với các liệt sĩ
Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ)
Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong
Như vậy, Hồ Chí Minh bắt đầu hoạt động cách mạng với những khái niệm
“con người”, “quyền con người” và cũng khép lại cuộc đời mình bằng khái niệm
“con người”, tuy với nội dung có khác nhau
2 Về vấn đề quyền con người
Cùng với vấn đề con người, thì quyền con người cũng là vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Và xuyên suốt trong tư tưởng của Hồ Chí Minh quyền con
1 Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc gia các bộ môn Khoa học Mác-Lê nin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.383
2 Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.3, tr.729-730
Trang 18người được đề cập trên nhiều góc độ, sau đây xin trình bày một số góc độ cơ bản:
Thứ nhất, theo tư tưởng của Người thì quyền và tự do cá nhân đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm Nói đến quyền con người là nói đến quyền và tự do của cá
nhân, trách nhiệm của nhà nước và công dân, đến việc phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này, trước hết là mối quan hệ giữa quyền, lợi ích của cá nhân với lợi ích của nhà nước và xã hội
Kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới tự do, gắn liền tự do với hạnh phúc, tự do với độc lập Và Hồ Chí Minh quyết tâm hy sinh chiến đấu để giải phóng con người và đem lại tự do hạnh phúc
cho con người Người từng nói: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt
phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”1 và “Tôi chỉ có một ham muốn,
ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”2
Tự do tư tưởng là một giá trị cơ bản, quan trọng bậc nhất của quyền con người Người giải thích: Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do Tự
do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý lúc đó quyền tự do tư tưởng
hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý3
Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là việc Người gắn liền quyền con người với quyền làm người Người đòi hỏi mỗi người phải xứng đáng với “quyền làm người” Người đã để lại bút tích trong Sổ Vàng của trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương khi đến thăm trường vào tháng 9/1949, về mục
tiêu học tập: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”, “Học để phụng sự Đoàn
thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”
Như vậy, quyền làm người còn bao hàm những đòi hỏi nội tại của mỗi con người, trước hết về đạo đức, về nhân cách và năng lực Đây là một cách tiếp cận mới tích cực về quyền con người Cũng có thể xem đây là nghĩa vụ của mỗi người
1
Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.2, tr.21
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.4, tr.161
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.216
Trang 19đối với chính mình Người thường nhắc nhở cán bộ phải lo “Làm sao cho nhân dân
biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”1
Thứ hai, theo tư tưởng của Hồ Chí Minh thì quyền con người chỉ được bảo đảm khi Tổ quốc được độc lập và nhân dân được tự do, hạnh phúc Sau khi tìm ra
con đường cứu nước cho nhân dân Việt Nam, Người đã tích cực chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của một chính Đảng (3/2/1930) Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng (qua ba cao trào cách mạng), chúng ta đã làm tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, một Nhà nước Việt Nam mới đã được ra đời Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng thông qua Tuyên ngôn độc lập Trong Tuyên
ngôn, Người đã trích những lời bất hủ từ Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ “Tất cả
mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và từ Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và
bình đẳng về quyền lợi”, từ đó Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý mới có ý
nghĩa thời đại, đó là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”2
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của giai cấp Người nhấn mạnh: Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia - tiền đề và điều kiện của quyền con người - phải thông qua đấu tranh cách mạng mới giành lại được Từ kinh nghiệm lịch sử và phân tích lý luận, Người rất quan tâm tới sự nghiệp bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước
và giữ vững khối đại đoàn kết các dân tộc, xem đó cũng là một điều kiện cơ bản để bảo đảm quyền con người của cả dân tộc ta
Thứ ba, phải xây dựng Nhà nước pháp quyền, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân với đội ngũ cán bộ, công chức là công bộc của dân
Lênin đã từng nói: “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó
hơn” Với mục đích giành độc lập cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân,
Hồ Chí Minh đã nghiêm túc nghiên cứu lý luận, phân tích các cuộc cách mạng ở
Mỹ, Pháp, Nga để rút ra những kinh nghiệm cho cách mạng Việt Nam Tiêu chuẩn
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.223
2 Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1, tr.699
Trang 20để đánh giá các cuộc cách mạng, theo Người, là quyền lực sau thắng lợi của cách mạng nằm trong tay ai và dân chúng có được hưởng tự do, hạnh phúc thực sự hay
không Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Người viết: Một cuộc cách mạng thành công thì phải “giao cho dân chúng số nhiều” và dân chúng phải “được hưởng
cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật”1
Cũng theo Người, việc bảo đảm quyền con người một phần quan trọng tùy thuộc vào hệ thống pháp luật và đội ngũ cán bộ, công chức viên chức, nhất là công chức ngành tư pháp Là người sáng lập Nhà nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến xây dựng nền pháp chế của quốc gia, đặc biệt là xây dựng
hệ thống pháp luật bảo vệ công dân, quyền con người Trong bản Yêu sách của
nhân dân An Nam, Người đòi thực dân Pháp cải cách nền pháp lý ở Đông Dương,
đòi “bãi bỏ chế độ cai trị bằng các sắc lệnh và thay thế bằng các đạo luật”
Khẳng định “Nước ta là dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu
quyền hạn đều của dân”2, Người còn nhấn mạnh: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ
trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì? Làm đày tớ Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải làm quan cách mạng”3
Để xúc tiến cho việc xây dựng một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, thì Ủy ban Dân tộc giải phóng (nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau này) đã được thành lập trong Đại hội Quốc Dân tại Tân Trào, Tuyên Quang Trong Nghị quyết ngày 16, 17/8/1945, Quốc dân Đại hội đã thiết tha hiệu triệu nhân dân toàn quốc,
các đoàn thể cách mạng kịp thời đứng lên đoàn kết phấn đấu, để thi hành Mười điều (Mười chính sách lớn) Trong Mười điều có đến 2 điều đề cập đến các quyền tự do
của con người:
“5 Ban bố những quyền của dân cho dân:
‐ Nhân quyền;
‐ Tài quyền (quyền sở hữu);
‐ Dân quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.2, tr.270
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.698
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.375
Trang 219 Xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp Kiến thiết nền văn hóa mới”1
Khác với những cuộc cách mạng ở nhiều nước, chủ trương xóa bỏ toàn bộ luật pháp của xã hội cũ, thì Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn duy trì toàn bộ hệ thống các thiết chế về kinh tế cũ, chỉ trừ những gì quá trái ngược với chế
độ mới Sắc lệnh của Chủ tịch nước ngày 10/10/1945, quy định tạm thời các luật lệ hiện hành ở Bắc - Trung - Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc
Không hấp tấp một cách cực đoan, nhưng không chậm trễ Một bộ máy mới vừa được xây dựng vừa được thiết kế khẩn trương Chắc cũng ít có nơi nào trên thế giới có thể “sản xuất” ra luật pháp với khối lượng và tốc độ như ở Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám Chỉ trong vòng hai tuần lễ, từ 4/9/1945 đến 20/9/1945, riêng Chủ tịch nước đã ban hành 34 Sắc lệnh2 Tính trung bình mỗi ngày Chủ tịch nước ban hành 2 sắc lệnh Đó chưa kể hàng loạt thông tư, nghị định, quy định của các bộ, các cơ quan chính quyền địa phương, đặc biệt là Bản Hiến pháp năm 1946… Nhờ
đó mà bộ máy nhà nước mới có thể hoạt động được, không bị tê liệt, không bị vấp váp lớn Những phái đoàn ngoại quốc thời kỳ này và những nhà sử học sau này không khỏi ngạc nhiên: tại sao một chính quyền của những người vừa mới ở tù và mới ở trong rừng ra mà lại có thể sản sinh ra được một khối lượng những văn bản pháp luật mà xét về chất lượng thì cũng không đến nỗi thua kém trình độ chung của thế giới lúc đó Để giải thích điều bất thường và cũng là phi thường này, phải tính đến một nhân tố: đó là chính quyền mới (đứng đầu là Hồ Chí Minh) rất trọng dụng các chuyên gia thiết kế luật pháp Chính quyền mới là một chính quyền biết “lễ phép” với dân; cán bộ, công chức thực sự là công bộc của dân
Thứ tư, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bên cạnh việc kiên quyết bảo vệ độc lập
dân tộc và quyền con người của nhân dân ta, đồng thời phải tôn trọng chủ quyền quốc gia và quyền con người của các dân tộc khác Từ những trải nghiệm trong
cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: phải “đem
sức ta mà giải phóng cho ta”, phải đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin mới
giành được độc lập dân tộc và tự do hạnh phúc cho nhân dân
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.560
2 Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2008, tr.31
Trang 22Khẳng định độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, song Hồ Chí Minh luôn luôn mong muốn duy trì và phát triển các quan hệ quốc tế bình đẳng với các dân tộc, kể cả với Pháp và Mỹ Tuyên bố về chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm
thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Người viết: “Về kinh tế,… ra sức phát triển
nông nghiệp, ra sức trồng trọt chăn nuôi để tránh nạn đói Về chính sách đối ngoại: thân thiện với Kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa Kiều Đối với Pháp, chỉ đánh bọn thực dân, còn đối với những kiều dân Pháp không làm hại gì cho nền độc lập của
ta, ta sẽ bảo vệ tính mạng và tài sản của họ” 1
Cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, chính sách của Chính phủ Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu bảo vệ hòa bình và giải pháp chính trị, với tinh thần
“còn nước còn tát”, chiến tranh chỉ là biện pháp cuối cùng Có thể nói trong suốt thời kỳ chiến tranh, kể từ khi thực dân Pháp nổ súng khiêu khích ở Hà Nội tháng 12/1946 cho đến khi thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954, chấp nhận hòa bình, không lúc nào Chủ tịch Hồ Chí Minh không tranh thủ mọi cơ hội để thương thuyết với Pháp nhằm sớm kết thúc chiến tranh
Với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và ngay cả trước khi nước ta chưa trở thành thành viên Liên Hợp Quốc, năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký đơn gia nhập bốn công ước Giơnevơ về Luật Nhân đạo, đó là: công ước về bảo vệ dân thường trong chiến tranh; về đối xử với tù binh trong chiến tranh;
về cải thiện tình cảnh của những người bị thương, bị bệnh hoặc bị đắm tàu thuộc các lực lượng vũ trang trên biển; về cải thiện tình cảnh của những người bị thương,
bị bệnh thuộc các lực lượng vũ trang trên bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được những gì thuộc về chân giá trị của con người, của loài người, trong đó có tinh thần nhân đạo, nhân phẩm, tự do, bình đẳng Trên lĩnh vực quyền con người, đóng góp có tính thời đại của Chủ tịch
Hồ Chí Minh là đã nghiên cứu đưa ra các luận điểm giải quyết vấn đề quyền con người trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới ở các nước thuộc địa Cốt lõi tư tưởng đó là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước - tiền đề và điều kiện cơ bản nhất bảo đảm các quyền và tự do của con người
1 Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Sđd, t.1, tr.374, 392
Trang 23Trong nhiều thập niên vừa qua, dựa trên những nền tảng tư tưởng về con người và quyền con người của Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước đã thực thi nhiều chính sách đảm bảo quyền con người Việt Nam đã tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người như: Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ (1979), xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc (1966), về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (1966), về các quyền dân sự (1966), về quyền trẻ em; Nghị định thư bổ sung Công ước Giơnevơ về bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế… và tham gia các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) với tư cách là thành viên của tổ chức này Ở trong nước, các chính sách kinh tế - xã hội đã đem lại nhiều quyền lợi và điều kiện để người dân thực hiện các quyền con người, đặc biệt là thành quả trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, văn hóa, tự do báo chí, tự do tôn giáo, chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách an sinh
xã hội, an ninh con người… được quốc tế thừa nhận
Tuy nhiên, ngày nay theo chúng tôi để thực hiện tốt quyền con người ở Việt Nam thì chúng ta luôn noi gương Hồ Chí Minh, chúng ta phải đề cao và áp dụng đúng đắn những tư tưởng về con người và quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 24VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Ths Lê Thị Hồng
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trước hết thể hiện ở cách tiếp cận mang tính cách mạng – sáng tạo của Người về vấn đề này Xuất phát từ lợi ích của dân tộc ta và các dân tộc tộc bị áp bức, từ chọn lọc, kế thừa và phát triển các giá trị nhân quyền của nhiều học thuyết, nhiều nền văn hóa, nhiều hệ
tư tưởng, đặc biệt từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con
người góp phần phát triển lý luận nhân quyền của nhân loại trong thời đại ngày nay
Nguồn gốc sâu xa về quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo và tinh thần yêu nước của dân tộc, Bác là người đã
kế thừa có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ về nhân quyền của các nước phương Đông và các nước phương Tây Đặc biệt Bác đã vận dụng rất sáng tạo tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác -Lênin
Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, Nguyễn Tất Thành ngay từ nhỏ
đã được kế thừa tư tưởng yêu nước, thương dân của thân phụ – cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và của các nhân sĩ yêu nước đương thời
Thời kỳ hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã cảm nhận được giá trị của chế độ dân chủ và của nguyên tắc nhà nước pháp quyền Sau sự kiện Nguyễn Ái
Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi “Bản yêu sách của nhân dân
An Nam” đến đại diện chính phủ các nước Đồng minh thắng trận họp ở Véc-xây,
bản yêu sách đã không được các nước đồng minh thắng trận thừa nhận Qua sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc thấy rõ hơn những khái niệm “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”
mà chủ nghĩa thực dân rêu rao ở các thuộc địa chỉ là thứ “bánh vẽ”
Khi nói tới nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, không thể không nói tới những ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng mười Nga cũng như sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân dân Liên Xô dưới sự lãnh đạo của V.I Lênin và Đảng Cộng sản Liên Xô
Trong hồi ký “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin”, Người viết: Lúc đầu
chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đưa tôi tin theo
Trang 25Lênin… Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới1
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập tới quyền con người từ rất sớm, Bác là người đã khẳng định quyền con người gắn liền với quyền dân tộc, với độc lập chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ Người đã chỉ ra rằng quyền con người chỉ có thể
có được bằng con đường đấu tranh cách mạng chống áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và đoàn kết toàn dân để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Chỉ có như vậy thì các quyền cá nhân và quyền dân tộc mới được bảo đảm và bền vững
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, đã tạo dựng được những nét văn hóa riêng của mình Tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhân quyền là sự kế thừa truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại phương Đông và phương Tây Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Người đã nghiên cứu và đánh giá cao quyền con người được đề cập trong hai bản tuyên ngôn của Cách mạng tư sản Pháp và Cách mạng tư sản Mỹ
Sự kế thừa thể hiện qua bản Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo đọc ngày 2/9/1945 trước quảng trường Ba Đình lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Từ cách tiếp cận về quyền con người trong Tuyên ngôn của Mỹ năm 1776
“Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có
thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc”, và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm
1791 của cách mạng Pháp “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và
phải luôn luôn được tự do bình đẳng về quyền lợi”, Hồ Chí minh nâng lên thành
quyền của các dân tộc Lời đầu tiên trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào
cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”2 Đây được coi là quyền tự
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t10, tr 128
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 2000, t 3, tr 548
Trang 26nhiên của các dân tộc, là sự khẳng định một chân lý bất di bất dịch về quyền cơ bản của các dân tộc
Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cứu nước theo con đường cách mạng vô sản Đi theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin
để giành độc lập dân tộc, song Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của giai cấp Người nhấn mạnh: Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia – tiền đề
và điều kiện của quyền con người – phải thông qua đấu tranh cách mạng mới giành lại được
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới sự nghiệp bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước và giữ vững khối đại đoàn kết các dân tộc, xem đó cũng là một điều kiện cơ bản để bảo đảm quyền con người của dân tộc ta
Năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị đã ghi nhận:
“Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự quyết” (Điều 1) Điều đó cũng có nghĩa
Hồ Chí Minh đã đi trước nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với quyền con người hơn 20 năm Tại Hội nghị nhân quyền thế
giới ở Viên (Áo), cộng đồng quốc tế một lần nữa lại khẳng định: Tất cả các dân tộc
đều có quyền dân tộc tự quyết… Việc khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện để đảm bảo quyền con người Song, để bảo đảm trên thực tế các quyền và
tự do cho nhân dân, thì phải có nhiều điều kiện khác, trong đó hai điều kiện cơ bản
là có nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và đội ngũ cán bộ, công chức có đạo đức cách mạng
Để thực hiện mục tiêu đem lại hạnh phúc cho nhân dân, Người đã giành nhiều thời gian nghiên cứu lý luận, nghiên cứu kỹ các cuộc cách mạng ở Mỹ, Pháp, Nga để rút ra những kinh nghiệm cho cách mạng Việt Nam Tiêu chuẩn để đánh giá các cuộc cách mạng, theo Hồ Chí Minh, là quyền lực sau thắng lợi của cách mạng nằm trong tay ai và dân chúng có được hưởng tự do, hạnh phúc thực sự hay không Hai tiêu chuẩn này là biểu hiện tập trung nhất các giá trị dân chủ và nhân quyền
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam mới của dân dưới hình thức Ủy ban dân tộc giải phóng do Đại hội quốc dân họp ở Tuyên
Trang 27Quang ngày 13/8/1945 bầu ra, sau đó được cải tổ thành “Chính phủ lâm thời”để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, cũng
có thể nói là của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã thể hiện
rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người Trong mười chính sách, đáng chú ý có những chính sách thể hiện nổi bật và trực tiếp các quyền và tự
do của con người, như: “Ban bố những quyền của dân: a) nhân quyền; b) tài quyền
(quyền sở hữu); c) dân quyền (quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ, quyền tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại, quyền bình đẳng dân tộc, nam nữ” (chính sách thứ 5); “xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn
mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn hóa mới” (chính sách thứ 9) 1
Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo và chỉ đạo xây dựng nhà nước kiểu mới dưới sự lãnh đạo của Đảng theo nguyên tắc pháp quyền Hiếm có một cuộc cách mạng nào mà ngay sau khi giành được chính quyền, chính phủ với nhiều thành phần được thành lập; bầu cử tự do trong toàn quốc được tiến hành, Hiến pháp (1946) được công bố, tất cả những nguyên tắc cơ bản, thiết chế của một nhà nước, một xã hội mới được xác lập chỉ trong vòng một năm
Sau Hiến pháp 1946, Việt Nam đã có 3 Hiến pháp (1959, 1980, 1992), song những quyền hiến định của Hiến pháp 1946 vẫn giữ nguyên giá trị Các nguyên tắc nhân quyền như: bình đẳng, tự do, tôn trọng nhân phẩm đã được quy định rõ ràng,
quyền của người nước ngoài cũng được bảo vệ Điều 15 ghi: “Những người ngoại
quốc đấu tranh cho dân chủ và tự do mà đến trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam”
Bảo đảm quyền con người một phần quan trọng tùy thuộc vào hệ thống pháp luật và đội ngũ cán bộ, công chức ngành tư pháp Là người sáng lập Nhà nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến xây dựng nền pháp chế của quốc gia, đặc biệt là xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ công dân, quyền con
người, hạn chế các sắc lệnh (nay gọi là pháp lệnh) Trong bản Yêu sách của nhân
dân An Nam (năm 1919), Người đòi thực dân Pháp cải cách nền pháp lý ở Đông
Dương, phải “bãi bỏ chế độ cai trị bằng các sắc lệnh và thay thế bằng các đạo
1 Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (sơ thảo), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, t 1, tr 408 – 409
Trang 28luật” Trong Việt Nam yêu cầu ca, Người đã viết: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” Là người sáng lập Nhà nước dân chủ mới Việt Nam, Hồ Chí Minh có
công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp Ở cương vị Chủ tịch nước, Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, ký
và công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật khác1 Trong thư
gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc, Người viết: “Các bạn là những người phụ trách thi
hành pháp luật Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” cho nhân dân noi theo” 2
Nói đến quyền con người là nói đến quyền và tự do của cá nhân, trách nhiệm của nhà nước và công dân, đến việc phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này, trước hết là mối quan hệ giữa quyền, lợi ích của cá nhân với lợi ích của nhà nước và xã
hội.Xã hội xã hội chủ nghĩa không đối lập với lợi ích của cá nhân, bởi “Không có
chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”3, đồng thời “lợi ích của cá nhân nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ
phận của lợi ích tập thể… lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”4
Kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới tự do, gắn liền tự do với hạnh phúc, tự do với độc lập Người từng nói:
“Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Nhưng
nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”5
Tự do tư tưởng là một giá trị cơ bản, quan trọng bậc nhất của quyền con người Trong bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 21/7/1956, Người giải thích: Chế độ ta là chế độ dân chủ,
tư tưởng phải được tự do Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý… (khi) đã tìm thấy chân lý lúc đó
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.382
3
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quôc gia, Hà Nội, 2000, t.9, tr.293
4 Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, t 2, tr 105
5 Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, t 1, tr 381.
Trang 29quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý1 Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là việc Người gắn quyền con người với quyền làm người Người đòi hỏi mỗi người phải xứng đáng với “quyền làm người” Lời ghi ở trang đầu Sổ vàng truyền thống Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, tháng 9/1949,
Người viết về mục tiêu học tập là: “để làm việc, làm người, làm cán bộ”2 Như vậy, quyền làm người còn bao hàm những đòi hỏi nội tại của mỗi con người, trước hết
về đạo đức, nhân cách và năng lực Đây là một cách tiếp cận mới tích cực về quyền con người Cũng có thể xem đây là nghĩa vụ của mỗi người đối với chính mình
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người hết sức phong phú và sâu sắc Đó là sự kế thừa truyền thống nhân ái và dân chủ của dân tộc ta, là sự tiếp thu những tư tưởng về quyền con người tiến bộ của các nước phương Đông và các nước phương Tây Người đã sớm nhận thức được những gì thuộc về chân giá trị của con người, của loài người, trong đó có tinh thần nhân đạo, nhân phẩm, tự do, bình đẳng Cốt lõi tư tưởng đó là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước – tiền đề và điều kiện cơ bản nhất bảo đảm các quyền và tự do của con người Quyền con người không chỉ là những chế định pháp luật, thuộc trách nhiệm của nhà nước, mà còn là giá trị đạo đức, văn hóa, là trách nhiệm của các tổ chức chính trị – xã hội, là đòi hỏi nội tại của nhân cách làm người đối với tất cả mọi người, từ cán bộ, công chức đến người dân Tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh của nhân dân ta ngày nay
Trang 30VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Ths Ngô Thị Minh Hằng
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
Vấn đề quyền con người đã được đặt ra từ rất sớm Lịch sử loài người là lịch
sử tiếp cận vấn đề con người Vấn đề con người có vẻ cũ, nhưng nó lại luôn mới
mẻ, luôn có vấn đề phải nói rằng, nó là vấn đề của mọi vấn đề
Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước
bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào Mọi con người được sinh ra đều bình đẳng
và được tạo hóa ban cho một số quyền không thể tước bỏ, như quyền sống, quyền
tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc
Quyền con người được nhắc đến từ rất lâu trong tiến trình tiến hóa của con người, trên thế giới, nhân quyền được xem là một trong mười sáng kiến làm thay đổi thế giới, cùng với nông nghiệp, phân tâm học, thuyết tương đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, World Wide Web, xà phòng, số không, và lực hấp dẫn
Theo quan điểm của các nhà triết học thời đại khai sáng của thế kỷ 17 và 18 thì các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ Các quyền không thể tước bỏ bao gồm các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền
mà các công dân có được trong một nền dân chủ Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó Các nội dung chi tiết và các thủ tục của luật pháp liên quan tới quyền con người cần phải thay đổi tùy theo xã hội, nhưng tất cả các nền dân chủ đều được giao trọng trách trong việc xây dựng các cấu trúc xã hội lập hiến, lập pháp để bảo đảm cho các quyền con người đó
Tổ chức Liên Hiệp Quốc cũng đưa ra một tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, đưa ra quan điểm về các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và
an ninh thân thể, quyền tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận
Trang 31và bày tỏ quan điểm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản tuyên ngôn, dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy tôn trọng các quyền tự do này
Cho đến nay, từ Đông sang Tây đã có rất nhiều định nghĩa về quyền con người Có thể nói rằng quyền con người chẳng qua là sự tự ý thức của con người về những giá trị, những nhu cầu sống cơ bản, phù hợp với trình độ phát triển mang tính thời đại của xã hội loài người Quyền con người, có thể định nghĩa: là những đòi hỏi chính đáng về tự do và những nhu cầu cuộc sống cơ bản cần được đáp ứng của con người
Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề quyền con người Con
người được Bác đề cập với những nội dung khác nhau, nhưng rõ ràng đã xuyên suốt những bài nói và viết của Bác luôn đề cập đến con người, đó là những con người cụ
thể như: những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình – cán
bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong, các liệt sĩ, cha mẹ, vợ con – của thương binh và liệt sĩ, những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong, phụ nữ, những nạn nhân của chế độ xã hội cũ như
trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… Với Hồ Chí Minh thì trong mọi ý nghĩ tình
cảm đều hướng vào giải phóng con người, nghĩa là phải chống bóc lột, áp bức, chống nô dịch, mọi người phải có cơm ăn, có áo mặc, được học hành Điều này không chỉ mang ý nghĩa chính trị, đạo đức, mà có cơ sở khoa học triết học là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh xuất phát từ con người và mục tiêu là giải phóng con người
Trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng Việt Nam về quyền con người, Hồ Chí Minh là người đã tiếp cận một cách khoa học nhất, đầy đủ nhất và nhân văn nhất
Tư tưởng của Bác về quyền con người bắt nguồn sâu xa từ truyền thống nhân đạo
và tinh thần yêu nước của dân tộc, kế thừa tư tưởng nhân quyền tiến bộ của phương Đông và phương Tây, nhất là tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin
Từ giữa thế kỷ thứ XIX, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có những nhân tố mới do ảnh hưởng của trào lưu cách mạng dân chủ tư sản Trong bối cảnh đó, “ái
Trang 32quốc” bao hàm cả ý nghĩa thương dân, là đấu tranh giành lại độc lập, xóa bỏ thân phận nô lệ cho dân tộc Nhân tố mới của phong trào yêu nước ở giai đoạn này là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước truyền thống với sự chọn lọc, kế thừa tư tưởng dân chủ
tư sản, mà ban đầu là ảnh hưởng từ cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi,
Lương Khải Siêu qua “tân thư”, tư tưởng “Tam dân” của Tôn Trung Sơn – “Dân
tộc độc lập”, “Dân quyền tự do”, “Dân sinh hạnh phúc” Những tư tưởng này đã
tác động mạnh mẽ đến tầng lớp trí thức Nho học bấy giờ Đồng thời những tư tưởng nhân quyền của cách mạng dân chủ tư sản Pháp cũng đã được đưa vào Việt Nam qua con đường giáo dục, qua chính sách “khai hóa” của thực dân Pháp
Tư tưởng về quyền con người của Bác được thể hiện rõ nhất bắt đầu bằng
Bản yêu sách của nhân dân An Nam năm 1919 và phát triển đến đỉnh cao sáng lạn
là Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945
Trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Versailles vào đầu
năm 1919, sau cuộc Thế chiến lần thứ nhất, do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, gồm 8 điểm mà điểm thứ hai là yêu cầu: thứ nhất là cải cách nền công lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu châu, thứ hai bảo đảm tự do báo chí và tự do ngôn luận; tự do lập hội và hội họp; tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ Nội dung đấu tranh đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc là đòi hỏi thực dân Pháp cải cách nền công lý nhằm bảo đảm các quyền con người
Cũng trong bản yêu sách này, Bác Hồ đã gắn liền vấn đề “độc lập dân tộc” với vấn đề “các quyền tự do dân chủ của nhân dân” Người vừa khẳng định về
“quyền dân tộc” và “quyền tự do dân chủ”, vừa kết hợp tài tình hai mặt tất yếu không thể tách rời đó: quyền sống, tự do của dân tộc và quyền sống, tự do của con người
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đọc Bản Tuyên ngôn Độc Lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là kết quả tuyệt vời của trí tuệ, điểm hội tụ tư
tưởng thời đại, tư tưởng nhân văn cách mạng tư sản cận đại Âu – Mỹ, tư tưởng nhân văn truyền thống phương Đông và tư tưởng nhân văn Mác – Lênin hiện đại
Trang 33Mở đầu Bản Tuyên ngôn Độc lập là hai câu được trích dẫn từ “Tuyên ngôn
Độc lập” của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp (1791) đều nói đến quyền con người Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhìn thấy trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng này những giá trị vững bền,
đó là “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định
một sự thật hiển nhiên, đó là “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng,
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do” Người đã mở
rộng quyền của con người thành quyền của dân tộc Quyền lợi của mỗi cá nhân được coi là cơ sở cho quyền lợi của dân tộc Tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình Đó là sự thống nhất giữa quyền sống của mỗi con người và quyền độc lập của dân tộc
Một trong những tư tưởng nổi tiếng, mang tầm vóc thời đại của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập là đã nêu lên một luận điểm hoàn toàn mới về
quyền con người: Quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền tự quyết của mỗi dân tộc, thể hiện rõ tính thống nhất biện chứng không thể tách rời giữa quyền con người, quyền công dân và quyền dân tộc thiêng liêng
Luận điểm nhân quyền nói trên là kết quả kiểm nghiệm và nghiên cứu lý luận, lịch sử trong hơn 30 năm của Người, kể từ ngày ra đi tìm đường cứu nước (1911)
Trước toàn thế giới, Tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945 là một sự khẳng
định pháp lý đầu tiên, về cả trên nguyên tắc, cả trên thực tế, quyền sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng vấn đề quyền tự nhiên của con người lên một tầm cao mới về chất, dưới ánh sáng của thế giới quan khoa học, phản ánh đúng thực trạng đặc thù của dân tộc Việt Nam Người đã nhận thức hết sức đúng đắn mối quan
hệ biện chứng giữa tự do cá nhân và tự do của cộng đồng, giữa giải phóng cá nhân
và giải phóng toàn xã hội Người khẳng định rằng, muốn giải phóng toàn bộ những lực lượng xã hội, muốn xã hội phát triển, thì trước hết phải giải phóng toàn diện cá nhân – con người, tạo ra những tiền đề cho sự phát huy cao độ những khả năng tiềm tàng trong mỗi cá nhân Và chỉ khi đó, quyền con người mới được hiện thực hóa
Trang 34Qua thực tiễn đấu tranh cách mạng lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là ngọn
cờ bảo vệ quyền con người chân chính Và cũng chính vì vậy mà bản Tuyên ngôn
Độc lập năm 1945 có thể được coi như là bản Tuyên ngôn về quyền con người của
các dân tộc thuộc địa
Quyền con người được thể hiện rất rõ qua bản Tuyên Ngôn Độc Lập
2/9/1945, nhằm xác định rõ tính chất và nội dung qua chính thể “cộng hòa” mà Hồ
Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước thế giới Trên nền tảng dân chủ đó, độc lập, tự
do, hạnh phúc được xác lập vững chắc, với nội dung dân là chủ, dân làm chủ Cả ba mục tiêu đó được ghi ngay dưới tên nước như là sự khẳng định về tiêu chí của chế
độ mà "Toàn thể dân tộc Việt Nam” quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính
mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"
Nhưng Hồ Chí Minh không chỉ nghĩ đến những nhu cầu về vật chất, Người hiểu rõ những quyền lợi về tinh thần mà nhân dân cân phải có Cho nên, trong sáu vấn đề cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đề ra một ngày sau Tuyên bố Độc lập, ngày 3/9/1945, sau vấn đề trước tiên: chống đói, là vấn đề thứ
hai: chống dốt, vì Hồ Chí Minh thấy rõ "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, rồi
tiếp liền sau đó vấn đề thứ ba là quyền tự do, dân chủ, và Người xác định rõ:
“Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” Người đòi hỏi “tự do báo chí, tự do hội
họp và lập hội, tự do dạy học, thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ Pháp luật”! Và
ta hiểu vì sao, trong hoàn cảnh cực kỳ phức tạp của giặc ngoài, thù trong, Hồ Chí Minh vẫn kiên quyết tổ chức Tổng Tuyển cử bầu ra Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam mới, một nước dân chủ, biểu tỏ tín tâm và quyết tâm dân là chủ, dân làm chủ!
Xét đến cùng, hạnh phúc mới là mục tiêu cụ thể của con người, thiết thực mà từng người trong mọi tầng lớp xã hội có thể cảm nhận được Tự do và hạnh phúc đi sau độc lập Vì có dân tộc có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự
do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc cho mình được Phải có độc lập và
tự do đã, rồi mới có thể có điều kiện mưu cầu hạnh phúc Cho nên hạnh phúc là cái đến sau Đến sau, nhưng hạnh phúc mới là mục tiêu thiết thực nhất, cụ thể nhất đáng quan tâm nhất trong mỗi người dân
Trang 35Sau bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào ngày 10/2/1948, Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua “Tuyên ngôn toàn thế giới
về nhân quyền” Nhưng rất tiếc là, văn kiện này của Liên hiệp quốc đã không tránh
khỏi khiếm khuyết cơ bản, đó là, khái niệm nhân quyền chỉ là quyền của cá nhân, không tính đến các điều kiện chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa… của mỗi dân tộc, trong đó có quyền dân tộc tự quyết
Năm 1966, Liên hiệp quốc lại thông qua 2 Công ước quốc tế được coi là “Bộ
luật nhân quyền quốc tế” Đó là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
(1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966) Năm
1993, Liên hiệp quốc lại ra Tuyên bố Viên và Chương trình hành động Những văn kiện này đã xác định: Quyền dân tộc tự quyết là một quyền con người Điều 1 của
hai Công ước trên đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền dân tộc tự
quyết…” Tuyên bố Viên và Chương trình hành động đã nhấn mạnh: “Việc khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm nhân quyền” Như vậy, rõ ràng, tư tưởng về
quyền dân tộc tự quyết trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi trước nhận thức chung của Liên hiệp quốc hơn 20 năm Đó là đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phát triển sáng tạo tư tưởng quyền con người của nhân loại trong thế kỷ 20
Tư tưởng quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ ở trong Tuyên ngôn Độc lập mà còn được thể hiện phong phú trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài của Người, cả trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn, là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta
Trang 36
QUYỀN CON NGƯỜI GÓC NHÌN TỪ CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG
Ths Ngô Đạt
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
1 Quyền con người – Một giá trị phổ biến
Trong triết học, “cái chung” là những thuộc tính không chỉ có ở một sự vật nhất định mà được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác Cái chung là cái phổ biến Một trong những giá trị nhân văn phổ biến của mọi nền
văn hóa là quyền con người Dù là người da trắng, da vàng, da đen, da đỏ thì nhân
quyền, hay quyền con người đều được hiểu là những quyền tự nhiên của con người
và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào
Nhưng quyền con người không phải tự dưng mà có Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức Quyền con người chỉ được ghi nhận là giá trị phổ biến và được bảo đảm bằng nhà nước từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập, cùng với Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào 10/12/1948 tại Palais de Chaillot ở Paris)
Tuy nhiên, những tư tưởng nhân đạo về nhân quyền đã được các nhà triết học Khai sáng khởi xướng từ thế kỷ 17 và 18 và được nhà luật học Thomas Jefferson và cũng là tổng thống thứ hai của Mỹ khái quát trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ vào 4/7/1776
Những giá trị nền tảng tạo nên quyền con người là: Mọi con người được sinh
ra đều bình đẳng và được tạo hóa ban cho một số quyền không thể tước bỏ, như quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc
Quyền con người được xem là một trong mười sáng kiến làm thay đổi thế giới, cùng với nông nghiệp, phân tâm học, thuyết tương đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, World wide web, xà phòng, số không, và lực hấp dẫn
Để bảo đảm quyền con người, trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ
Trang 37bản cho con người, mà chính các chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền tự
do đó – các quyền mà mọi cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình
Theo quan điểm của các nhà triết học thời đại khai sáng của thế kỷ 17 và 18 thì các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ Các quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội, một chính phủ hay một người nào có thể xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” các quyền này
Các quyền không thể tước bỏ trước hết là quyền sống, tiếp theo là quyền tự
do (bao gồm các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật) tiếp theo nữa là quyền mưu cầu hạnh phúc Các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó Vì vậy, các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền trên, là còn phải xác lập nên các điều kiện vật chất và pháp lý để công dân thụ hưởng quyền của họ Ví dụ như điều sửa đổi bổ sung đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ không đưa ra quyền tự do tín ngưỡng hay tự to báo chí cho dân chúng Điều sửa đổi bổ sung đó nghiêm cấm Quốc hội thông qua các luật vi phạm tới tự do ngôn lụân, tự do tín ngưỡng và quyền hội họp ôn hòa Nhà sử học Leonard
Levy đã phát biểu: “Các cá nhân có thể tự do khi chính phủ của họ không tự do”
Các nội dung chi tiết và các thủ tục của luật pháp liên quan tới quyền con người cần phải thay đổi tùy theo xã hội, nhưng tất cả các nền dân chủ đều được giao trọng trách trong việc xây dựng các cấu trúc xã hội lập hiến, lập pháp để bảo đảm cho các quyền con người đó
Trong Diễn văn kỷ niệm 50 năm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người,
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan khẳng định: “Quyền con người là nền tảng
cho sự hiện hữu và đồng tồn của nhân loại Quyền con người là những gì lý trí đòi hỏi và lương tri yêu cầu Quyền con người là những quyền bất cứ ai cũng có để làm người Quyền con người chính là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích, năng lực của con người, với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại, được pháp luật ghi nhận
và bảo đảm thực hiện.1
1 Viện Thông tin Khoa học xã hội: Quyền con người - các văn kiện quan trọng - Hà Nội, 1998, tr 26
Trang 38Như vậy, quyền con người là CÁI CHUNG, một giá trị phổ biến, có tính
nhân loại
2 Quyền con người – Một giá trị lịch sử
Quyền con người là một giá trị phổ biến, có tính toàn cầu Song, quyền con người còn là một giá trị lịch sử, gắn với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi dân tộc, quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới Chính “cái riêng” này mà vấn đề
nhân quyền được các Nhà nước ghi nhận về mặt lập pháp, thực hiện về mặt hành
pháp và bảo vệ về mặt tư pháp có những khác nhau
Trong thực tế, việc thụ hưởng nhân quyền, thực hiện nhân quyền, bảo đảm
cho người dân thực hiện quyền làm người của chính họ là một vấn đề hoàn toàn
không dễ dàng; đó là một quá trình, là tổng hòa nhiều mối quan hệ, là vấn đề văn
hóa Trong lịch sử phát triển, chưa có nước nào thực hiện đúng và đủ các quyền tự
nhiên của con người
Như vậy “cái riêng” tất nhiên và cái riêng như trên thì ai cũng biết Nhưng có
mấy nước lớn lại cố tình không biết Vì mục đích riêng, vì những “động cơ trong -
đục”, vì nhu cầu trục lợi về mặt chính trị, “họ” cứ chê bai các nước khác và còn luận tội các nước khác
Mỹ là quốc gia luôn cho mình là dân chủ nhất, quyền con người được bảo đảm nhất Mỹ là xã hội đạo đức đầu tiên trong lịch sử và là xã hội đạo đức nhất Kể
ra đúng thật Những gì người Mỹ làm được, nhiều quốc gia còn lâu lắm mới có
được Người Pháp đã rất có lý khi tặng người Mỹ tượng Nữ thần Tự do ( Statue of
Liberty; Statue de la Liberté), mà chỉ riêng một ngón tay trỏ cũng dài tới 2,4 m
Nhưng Mỹ lại là nước “Chà đạp lên chủ quyền và nhân quyền của các nước khác” nhiều nhất Chẳng thế mà người ta gọi Mỹ là “Đế quốc Mỹ”1 Gần đây nhất
là Mỹ đánh chiếm Irac, giết chết tổng thống nước này với chiếu bài nhân quyền nhưng thực chất là dầu mỏ
Trung Quốc rất đúng khi cáo buộc Mỹ với sức mạnh quân sự hùng hậu đã
theo đuổi quyền bá chủ trên thế giới, chà đạp lên chủ quyền của các nước khác và xâm phạm nhân quyền ở những nước này Với tư cách là nước xuất khẩu vũ khí lớn
1 Các quốc gia Tư bản phát triển đều là đế quốc.
Trang 39nhất thế giới, các hợp đồng bán vũ khí của nước này đang gây ra tình trạng bất ổn định trên khắp thế giới Mỹ cũng tăng chi tiêu quân sự, mặc dù đã lớn nhất thế giới, lên 10% năm 2008, tức 607 tỉ USD, chiếm 42% tổng chi tiêu quân sự toàn thế giới (đương nhiên Trung Quốc cũng có nhiều cư xử ngang ngược không kém gì Mỹ)
Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã từng công bố bản báo cáo dày 54 trang lên án Mỹ đã vi phạm Công ước quốc tế về nhân quyền đối với các tù nhân bị giam giữ tại Guantanamo Lính Mỹ đã bơm thức ăn qua đường mũi cho những tù nhân tuyệt thực, lột hết quần áo rồi đẩy họ vào những nơi thật lạnh hoặc xua chó dữ hăm doạ Trước đó, Mỹ đã hứng chịu làn sóng giận dữ của dư luận quốc tế Làn sóng đó diễn ra khi chương trình Dateline của Đài SBS (Australia) công bố những hình ảnh mới về việc lính Mỹ tại nhà tù Abu Ghraib ngược đãi tù nhân Iraq1.
Nhân quyền của Mỹ ở Việt Nam
Trước việc hàng năm Mỹ vẫn công bố báo cáo về nhân quyền tại nhiều nước, Tổng thống Ecuador Rafael Correa và Tổng thống Venezuela Hugo Chávez đã lên tiếng bác bỏ tư cách của Mỹ trong việc nhận xét về tình trạng nhân quyền tại các
quốc gia khác, vì cho rằng Washington có ít "thẩm quyền đạo đức" nhất để nói về
đề tài này và là "những kẻ đầu tiên trên hành tinh vi phạm quyền con người" Nhà
lãnh đạo cánh tả của Venezuela nhắc nhở chính Mỹ là nước đã thả bom nguyên tử cướp đi quyền sống của hàng trăm ngàn người và chưa từng xin lỗi về việc này, cũng như tiến hành xâm lược nhiều quốc gia, sát hại hàng triệu người và thậm chí là
1 Ở nhà tù Côn Đảo, người Mỹ còn tàn ác hơn
Trang 40cả các tổng thống và họ cho rằng, Mỹ hãy nhìn vào chính nước Mỹ, nhìn lại bản thân mình
Đúng thế
Hãy nhìn xa hơn một chút, nhìn vào vụ án Martin Luther King Ngày
28/8/1963, Martin Luther King đọc bài diễn văn nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ” (I
Have A Dream) tại Đài Tưởng niệm Lincoln trong cuộc Tuần hành đến Washington
vì Việc làm và Tự do “ Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày khi đất nước này trỗi
dậy để sống theo ý nghĩa thật của niềm xác tín của chính mình: "Chúng ta tin rằng chân lý này là đầy trọn, ấy là mọi người sinh ra đều bình đẳng" Tôi có một giấc
mơ, rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại cùng nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ Tôi có một giấc
mơ, rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississippi, bức bối vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở thành
ốc đảo của tự do và công bằng Tôi có một
giấc mơ, rồi có một ngày bốn con nhỏ của
tôi sẽ sống trong một đất nước mà chúng
không còn bị đánh giá bằng màu da, mà
bằng tính cách của chúng Hôm nay, tôi
có một giấc mơ ”
Mục sư Martin Luther King Ước mơ của Martin Luther King xuất phát từ thực trạng đen tối của hàng chục triệu người Mỹ gốc Phi Vào thời điểm năm 1963 (tức là sau Tuyên ngôn độc lập Mỹ 187 năm), rất nhiều người da đen không có quyền bỏ phiếu; họ không được
sử dụng chung nhà tắm, khách sạn, nhà hàng, trường học cùng với người da trắng
Tệ hại hơn, cuộc sống khó khăn của họ càng bi thảm vì những kỳ thị trong các hoạt động kinh tế - xã hội
Ông bị ám sát vào chiều tối ngày 4/4/1968, vào lúc 6 giờ 01 phút, khi sắp sửa rời khách sạn để dẫn đầu một cuộc tuần hành ủng hộ liên đoàn công nhân vệ sinh của người da đen tại Memphis Ông đã chết vì ước mơ làm người trên chính đất nước có Nữ thần Tự do (Xin nhớ, vào cùng thời điểm trên, giấc mơ của Martin Luther King lại được xác tín tại Cuba)