MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ LỒNG GHÉP HƯỚNG DẪN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRONG GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM Trần Thị Rồi – Ts.. Xuất phát từ mục tiêu và chuyên
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
KỶ YẾU TỌA ĐÀM
Trang 2MỤC LỤC
MỀ
HCM
Ths Phạm Thị Ngọc Thủy - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 1
2 MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ LỒNG GHÉP HƯỚNG DẪN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRONG GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
Trần Thị Rồi – Ts GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 9
3 LỒNG GHÉP DẠY KỸ NĂNG MỀM TRONG GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Quốc Vinh - Ts GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 14
4 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY CHO SINH VIÊN LUẬT QUA VIỆC GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN
Lê Thị Hồng Vân - Ts GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 19
5 RÈN LUYỆN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO SINH VIÊN THÔNG QUA VIỆC GIẢNG DẠY MÔN LOGIC HỌC – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
Phạm Thị Minh Hải - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 28
6 LỒNG GHÉP DẠY KỸ NĂNG TỰ HỌC TRONG GIẢNG DẠY MÔN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trần Ngọc Anh – Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 34
7 VẬN DỤNG MỘT SỐ KỸ NĂNG VÀO GIẢNG DẠY MÔN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Hồng - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 39
8 LỒNG GHÉP KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN THÔNG QUA VIỆC GIẢNG DẠY MÔN ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM
Ngô Thị Minh Hằng - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 43
Trang 39 LỒNG GHÉP DẠY KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRONG GIẢNG
DẠY MÔN TÂM LÝ HỌC
Phạm Văn Dinh - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 50
10 VẤN ĐỀ LỒNG GHÉP KỸ NĂNG MỀM TRONG GIẢNG DẠY MÔN HỌC TÂM LÝ HỌC
Lê Văn Bích - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 60
11 LỒNG GHÉP DẠY KỸ NĂNG MỀM TRONG GIẢNG DẠY MÔN XÃ HỘI HỌC
Nguyễn Hữu Túc - Ths GV Khoa Khoa học cơ bản
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 70
12 LỚP HỌC ĐẢO NGƢỢC – MÔ HÌNH THÍCH HỢP TRONG DẠY VÀ HỌC NHẰM TĂNG HIỆU QUẢ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN
Ths Vũ Duy Cương - Lê Minh Hoàng Tú
Trung tâm Đảm bảo chất lượng và Phương pháp giảng dạy (AQAC)
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 77
13 KHI GIẢNG DẠY CÁC MÔN KỸ NĂNG MỀM PHẢI DÙNG CHÍNH
KỸ NĂNG ĐÓ ĐỂ GIẢNG
Ths Vũ Duy Cương
Trung tâm Đảm bảo chất lượng và Phương pháp giảng dạy (AQAC)
Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh trang 86
Trang 4Kỹ năng là “khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn
cảnh, điều kiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định Các kỹ năng có thể là kỹ năng nghề nghiệp (các kỹ năng kỹ thuật cụ thể như hàn, tiện, đánh máy, lái xe, lãnh đạo, quản lý, giám sát, kế toán,…) và kỹ năng sống (các kỹ năng giao tiếp, ứng xử,
tư duy, giải quyết xung đột, hợp tác, chia sẻ,…)”1
, kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc
1
Phan Quốc Việt, Ths Nguyễn Huy Hoàng, ”, http://chungta.com
28/9/2009
Trang 5nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống
, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướ , kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể
thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi
ời ta phân kỹ năng thành hai loại cơ bản là: kỹ năng cứng và kỹ
năng mềm Kỹ năng cứng là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà
trường hoặc tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng Kỹ năng mềm là loại kỹ năng
mà chúng ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp
Kỹ năng "mềm" (soft skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: Khám phá năng lực bản thân; Tư duy sáng tạo; Xác định mục tiêu, lập kế hoạch và quản lý thời gian; Kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm ; Kỹ năng giải quyết stress, thư giãn, vượt qua khủng hoảng là những thứ thường không được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người Chúng quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả
–
Kỹ năng “mềm” liên quan tới tập hợp các đặc tính con người, thái độ xã hội, thói quen cá nhân, tính thân thiện, sự lạc quan, sử dụng ngôn ngữ mà dựa vào đó con người được đánh giá theo nhiều mức độ khác nhau Kỹ năng mềm thiên khá nhiều về yếu tố bẩm sinh, tuy nhiên phần lớn con người nếu chịu khó rèn luyện thì vẫn có thể nâng cao đáng
Trang 6kể kỹ năng của bản thân Điều này thực sự cần thiết, bởi vì kỹ năng mềm là một trong những yếu tố quan trọng nhất đưa bạn đến thành công
Trên cơ sở nghiên cứu các hệ thống kỹ năng mềm cần thiết cho người lao động của các nước phát triển trên thế giới (Mỹ, Australia, Canada, Anh, Singapore)
và thực tế ở Việt Nam, Ts Phan Quốc Việt đã tổng hợp 10 kỹ năng mềm cần thiết cho người lao động cũng như sinh viên Việt Nam như sau1
:
1 Kỹ năng học và tự học (Learning to learn);
2 Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership &Personal branding);
3 Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills);
4 Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills);
5 Kỹ năng lắng nghe (Listening skills);
6 Kỹ năng thuyết trình (Presentation skills);
7 Kỹ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills);
8 Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills);
9 Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork);
10 Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
Trang 7
ị hiếu thẩm mỹ, có khả năng phát triển toàn diệ
- bởi họ là nguồn nhân lực chính phục vụ thiết thực cho các mục tiêu phát triển kinh
tế, văn hoá của toàn xã hộ
Tp Hồ
Hồ
, năng lực của con người được đánh giá trên cả ba khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ
Trang 8
Hồ
Các nhà khoa học thế giới cho rằng: để thành đạt trong cuộc sống thì kỹ năng mềm (trí tuệ cảm xúc) chiếm 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15%1
1
http://www.softskillsinstitution.com/faq.htm
Trang 9hoạt để sống hòa nhập và phát triển, có thể nhìn nhận, đánh giá các sự vật, hiện tượng, con người cũng như thiết lập và vận hành các mối quan hệ xã hội đúng đắ
, các kỹ năng lập luận, tranh luậ
,… Đây là các kỹ năng rất cần thiết để sau này các em sẽ trở thành những luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên… là những ngành nghề rất cần thiết phải sử dụng các kỹ năng mềm
Trang 10được khả năng lập luận sắc sảo và tài hùng biện thuyết phục là những đòi hỏi tối cần thiết để có thể tồn tại, khẳng định chỗ đứng và uy tín trong nghề1
Hồ Chí Minh
Trang 11ử dụng các công cụ hỗ trợ giảng dạy như Powerpoint, Video clip, Internet,… để truyền đạt kiến thức sinh động, phong phú hơn là chỉ có phấn trắng, bảng đen và thuyết trình đơn điệ
u Có kiến thức lý luận và các tình huống thực tế tương đối rộng và phong phú cùng với cách diễn đạt dễ hiểu, vui nhộn, hấp dẫn nhằm cuốn hút người học tham gia, kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau và đặc biệt chú ý dạy học dựa trên vấn đề cũng như các phương pháp giảng dạy tích cực khác nhằm phát huy tính chủ động của sinh viên
Tóm lạ
K
Trang 12
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ LỒNG GHÉP HƯỚNG DẪN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
Ts Trần Thị Rồi
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
Những năm gần đây, nằm đáp ứng nhu cầu xã hội, yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế, bên cạnh kiến thức về chuyên môn, nhiều trường đại học rất chú trọng việc trang bị kỹ năng mềm cho sinh viên bằng nhiều cách thức khác nhau Một số trường đại học đã mở các khóa học chuyên đề, mời các chuyên gia đến hướng dẫn các kỹ năng mềm cho sinh viên hoặc lồng ghép việc dạy kỹ năng mềm qua các môn học chuyên ngành
Tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, lãnh đạo Nhà trường cũng đã quan đã chỉ đạo rà soát, sửa đổi chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập nhằm rèn luyện các kỹ năng mềm cho sinh viên Tuy nhiên, tùy theo đặc thù của từng Khoa, từng môn học và khả năng của mỗi giảng viên, việc lồng ghép dạy
kỹ năng mềm có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau Bài viết sẽ trình bày ý kiến của cá nhân về việc lồng ghép hướng dẫn kỹ năng mềm trong hoạt động giảng dạy các môn Khoa học cơ bản tại Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
1 Khái quát về kỹ năng mềm và những kỹ năng mềm quan trọng đối với sinh viên Luật
a) Khái quát về kỹ năng mềm
Trong những năm gần đây, khái niệm kỹ năng mềm và vấn đề giáo dục kỹ
năng mềm cho học sinh, sinh viên được đề cập khá nhiều trong các Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật liên quan đến giáo dục và trên các phương tiện thông tin
đại chúng Về mặt thuật ngữ thì kỹ năng mềm (hay còn gọi là Kỹ năng thực hành xã
hội) là khái niệm dùng để chỉ các kỹ năng trong quá trình sống, làm việc như: giao tiếp, thuyết trình trước đông người, kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm, kỹ năng
Trang 13quản lý thời gian, vượt qua khủng hoảng, thư giãn, sáng tạo và đổi mới 1 “ là khả năng ứng xử, nhạy bén với công việc và giải quyết khó khăn một cách nhanh nhất
có thể, hạn chế tối đa những rủi ro”, “là nghệ thuật ứng xử với các đồng nghiệp, cộng sự; với cấp trên và với tất cả mọi người”2
Như vậy, kỹ năng mềm là các kỹ năng thuộc về tính cách cá nhân của mỗi con người, khác với kỹ năng cứng (kỹ năng về chuyên môn, trình độ học vấn) Một
số công trình nghiên cứu cho thấy “người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị”3 Trong quá trình sống và làm việc của con người, kỹ năng mềm có vai trò quan trọng quyết định sự thành công
b) Một số kỹ năng mềm cần thiết đối với sinh viên Luật
Hiện nay, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh đang là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực về pháp luật lớn nhất tại khu vực phía Nam Việt Nam Xuất phát từ mục tiêu và chuyên ngành đào tạo của Nhà trường, sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể tham gia làm việc trong các tổ chức, cơ quan thuộc hệ thống chính trị như: Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội hoặc làm việc cho các đơn vị, các tổ chức kinh tế,…
Khi làm việc trong các tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan nhà nước hay trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và ở bất cứ cương
vị nào: nhà lãnh đạo, quản lý, nhà tư vấn, luật sư, chuyên viên…, bên cạnh kiến thức về chuyên môn thì các kỹ năng mềm như trình bày ý tưởng, nói chuyện trước công chúng; hợp tác, làm việc nhóm; giao tiếp, ứng xử, giải quyết vấn đề; vượt qua
áp lực, khó khăn trong công việc và cuộc sống; sáng tạo, linh hoạt… đóng vai trò rất quan trọng để người học sau khi ra trường có thể thành công trong cuộc sống và hoà nhập tốt với môi trường làm việc
Chính vì vậy, trong hoạt động giảng dạy tại Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh nói chung và khoa Khoa học cơ bản nói riêng, ngoài giảng dạy kiến thức
http://www.lhu.edu.vn/285/17463/Nhung-ky-nang-mem-giup-sinh-vien-moi-ra-truong-thuyet-3
http://kenhtuyensinh.vn/ky-nang-mem-la-gi
Trang 14chuyên môn thì việc hướng dẫn, rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên là một vấn
a) Về kỹ năng trình bày ý tưởng, phát biểu trước đông người
Thực tế nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp bậc phổ thông và bước vào môi trường giáo dục bậc đại học chưa được trang bị kỹ năng trình bày ý tưởng, phát biểu trước đông người Có những sinh viên khi đứng trước thầy cô và các bạn trong lớp học không thể trình bày một cách rõ ràng, mạch lạc ý tưởng, quan điểm, lập luận của mình Nếu không được hướng dẫn, rèn luyện thì khả năng trong tương lai họ không thể thực hiện tốt việc trình bày quan điểm tại tại các cuộc họp, sự kiện hoặc tham gia tranh tụng tại tòa án… Để khắc phục hạn chế này của sinh viên, tùy theo
số lượng sinh viên và điều kiện của lớp học, giảng viên giảng dạy các môn học thực hiện các phương pháp khác nhau
Ví dụ, đối với lớp khoảng từ 30 đến 50 sinh viên, giảng viên có thể tổ chức cho sinh viên thuyết trình cá nhân hoặc thảo luận theo nhóm một số nội dung thuộc
về chuyên môn và yêu cầu tất cả sinh viên phải tham gia để thực hành kỹ năng nói trước đám đông Trong quá trình giao tiếp, trình bày quan điểm trước đông người,
có một số sinh viên rất sợ hãi, lo lắng, lúng túng Trong những trường hợp này, tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân mà giảng viên hướng dẫn sinh viên cách thức để vượt qua sự căng thẳng, lúng túng để có thể giao tiếp hiệu quả
Đối với các lớp mà số lượng sinh viên quá đông (200 đến 300 sinh viên), việc tổ chức thuyết trình, thảo luận không thể thực hiện được thì trong quá trình giảng dạy, giảng viên có thể đặt câu hỏi và đề nghị sinh viên phát biểu ý kiến
Trang 15b) Về kỹ năng làm việc nhóm
Trong công việc và trong cuộc sống, con người không thể lúc nào cũng làm việc một mình, dù ở bất kỳ môi trường làm việc nào cũng sẽ có lúc phải làm việc nhóm Điều kiện quan trọng để làm việc nhóm là mỗi cá nhân phải biết cách phối hợp hài hòa với cách thành viên trong đội để có được kết quả cuối cùng tốt nhất, tôn trọng thời hạn hoàn thành công việc Đồng thời, sẵn sàng giúp đỡ những thành viên còn lại trong nhóm để kịp tiến độ Làm việc nhóm cũng là cơ hội để mỗi cá nhân thể hiện năng lực, sự nhiệt tình của bản thân trong công việc chung Kỹ năng làm việc nhóm rất cần thiết cho quá trình thăng tiến của sinh viên sau khi ra trường
Để rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên, trong quá trình giảng dạy, giảng viên có thể giao các đề tài và yêu cầu tất cả thành viên của nhóm phải tham gia phối hợp thực hiện
Tuy nhiên, việc rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cũng phải linh hoạt và tùy theo số lượng sinh viên của lớp học Hiện nay, đối với các lớp thuộc Chương trình đào tạo đặc biệt với số lượng sinh viên khoảng 50 đến 60 thì việc tổ chức làm việc nhóm rất thuận lợi nhưng đối với lớp quá đông thì việc rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm rất khó để thực hiện
c) Về kỹ năng tổ chức công việc và quản lý thời gian
Thông qua hoạt động giảng dạy, giảng viên có thể hướng dẫn, rèn luyện cho sinh viên cách sắp xếp công việc và quản lý thời gian Ví dụ, trước khi tổ chức cho sinh viên thuyết trình một vấn đề nào đó thì giảng viên cho sinh viên một thời hạn nhất định nghiên cứu, chuẩn bị Nếu là làm việc nhóm thì hướng dẫn cho sinh viên cách phân công và phối hợp để làm việc Khi sinh viên trình bày thì giảng viên quy định thời gian cụ thể cho mỗi nhóm, mỗi cá nhân
d) Về kỹ năng ra quyết định
Trong cuộc sống và công việc, kỹ năng ra quyết định đóng vai trò then chốt cho thành công hay thất bại của con người Khi sinh viên ra trường và được nhận vào làm việc trong một cơ quan hoặc đơn vị nào đó thì phải biết cách ra quyết định Trường hợp nếu trở thành người lãnh đạo thì việc ra quyết định càng quan trọng hơn Quyết định đúng hay sai sẽ tác động trực tiếp tới tổ chức và cả cá nhân người
Trang 16lãnh đạo Do vậy, trong quá trình giảng dạy giảng viên cũng có thể lồng ghép hướng dẫn sinh viên kỹ năng ra quyết định với tư cách là trưởng nhóm hoặc là thành viên
để đạt được kết quả tốt nhất cho cả nhóm và cho bản thân mình Cụ thể như: khi tiến hành thảo luận nhóm, giảng viên yêu cầu sinh viên tự quyết định ai là nhóm trưởng? Ai là người nhận nhiệm vụ thiết kế bài thuyết trình bằng chương trình Powerpoint? Ai là người thay mặt nhóm để trình bày trước lớp, ai trả lời các câu hỏi? Giao quyền cho sinh viên tự quyết định trong quá trình làm việc nhóm sẽ giúp cho sinh viên rèn luyện được kỹ năng quyết định các vấn đề trong công việc tương lai
e) Về kỹ năng xử trí xung đột, giải quyết vấn đề, tranh luận, phê bình và tiếp nhận phê bình
Trong cuộc sống cũng như trong công việc, giữa các cá nhân đôi lúc xảy ra những xung đột, tranh luận căng thẳng, phê bình nhau một cách gay gắt Nếu không
có kỹ năng xử trí các vấn đề hiệu quả thì sẽ gặp khó khăn Vì vậy, trong hoạt động giảng dạy, những giảng viên có kinh nghiệm cũng có thể lồng ghép hướng dẫn sinh viên về cách sử dụng ngôn ngữ, cách hành xử nhẹ nhàng, lịch sự trong giao tiếp cho
dù có thể hoàn toàn không đồng ý với quan điểm của người khác hoặc có thể hướng dẫn để sinh viên biết nhận xét, đánh giá về kết quả công việc của bản thân và của những người khác một cách khách quan
Tóm lại, việc lồng ghép dạy kỹ năng mềm cho sinh viên khi giảng dạy các môn Khoa học cơ bản tại Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh là quan trọng và cần thiết Tùy theo đặc thù của môn học, kinh nghiệm của bản thân, mỗi giảng viên
có thể lồng ghép việc dạy kỹ năng giao tiếp, phát biểu trước đám đông, làm việc nhóm, tranh luận, giải quyết xung đột,… cho sinh viên bằng những cách thức, phương pháp khác nhau
Tuy nhiên, để dạy các kỹ năng mềm cho sinh viên thì bản thân giảng viên cũng phải là người giàu kinh nghiệm, hiểu biết và thực hành tốt các kỹ năng mềm,
có tâm huyết và tinh thần trách nhiệm Giảng dạy kỹ năng mềm không thể chỉ bằng
lý thuyết mà chủ yếu là qua rèn luyện, thực hành Kỹ năng mềm của một con người không phải tự nhiên có mà được hình thành trong quá trình sống, học tập, làm việc, tích luỹ kinh nghiệm và được rèn luyện thường xuyên
Trang 17LỒNG GHÉP DẠY KỸ NĂNG MỀM TRONG GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Ts Nguyễn Quốc Vinh
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
Hiện nay, ở Việt Nam, đào tạo trong các bậc cao đẳng, đại học và thậm chí sau đại học đều theo nhu cầu xã hội Bên cạnh những kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp mà sinh viên được trang bị trên giảng đường đại học, người học còn phải được trang bị hàng loạt kỹ năng, trong đó có kỹ năng mềm thì mới đáp ứng
được nhu cầu của các nhà tuyển dụng Vì vậy kỹ năng mềm, một thuật ngữ được
nhắc nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, được xã hội và đặc biệt là các cơ sở giáo dục đào tạo quan tâm, đang từng bước đưa vào chương trình đào tạo
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ năng mềm, nhưng khái quát lại, có thể hiểu như sau: kỹ năng mềm là khả năng ứng xử nhạy bén và có nghệ thuật trong công việc, trong cuộc sống, giúp bạn phát huy hết những kiến thức chuyên môn và
kỹ năng nghề nghiệp trong công việc, gíúp bạn có những mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống, giúp bạn xử lý những tình huống bất ngờ và nan giải một cách nhanh chóng và thông minh Tóm lại khi đã được trang bị những kiến thức chuyên môn tốt, nếu bạn được trang bị thêm các kỹ năng mềm thì bạn sẽ thành công trong mọi lĩnh vực
Kỹ năng mềm được hình thành từ nhiều yếu tố: khả năng bẩm sinh, do tích lũy kinh nghiệm từ sự tương tác với gia đình, nhà trường, xã hội … và do được trang bị trong quá trình học tập Trên thế giới, việc đào tạo kỹ năng mềm tại các trường đại học rất được chú trọng Còn ở nước ta, do ảnh hưởng tư duy từ thời kỳ bao cấp và học tập mô hình đào tạo của các nước Xã hội Chủ nghĩa trước đây, nội dung đào tạo vẫn mang nặng tính hàn lâm, lý thuyết, xem nhẹ thực hành, nên vấn đề giảng dạy kỹ năng mềm vẫn chưa thực sự được tiến hành tốt, có chăng cũng chỉ là những buổi ngoại khóa, những buổi nói chuyện chuyên đề Nhà trường hoặc các Khoa đào tạo thường mời một số diễn giả tới trình bày sơ lược kiến thức về kỹ năng mềm cho sinh viên Những buổi trao đổi như vậy chỉ đáp ứng được nhu cầu rất nhỏ của sinh viên Chính vì vậy, sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp ra trường rất khó
Trang 18được tuyển dụng vào các công ty nước ngoài, hoặc nếu được tuyển dụng thì cũng phải qua một khóa đào tạo lại Điều này cho thấy, tiến hành đưa kỹ năng mềm vào giảng dạy cho sinh viên là điều vô cùng cần thiết Khi phương pháp giáo dục và nội dung chương trình đào tạo được đổi mới thì sinh viên Việt Nam mới có thể phát triển tốt hơn các thế mạnh về tư duy, về khả năng sáng tạo và sự năng động của mình Tuy nhiên để việc trang bị những kỹ năng mềm cho người học thực sự có hiệu quả, cần phải tiến hành từng bước, từ cơ bản cho đến chuyên sâu và nhất thiết phải học hỏi kinh nghiệm từ những nước có nền giáo dục phát triển
Tại khoa Khoa học cơ bản Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, lồng ghép dạy kỹ năng mềm trong giảng dạy các môn Khoa học cơ bản là vấn đề rất được quan tâm Những kỹ năng như: Kỹ năng tư duy (Thinking skills), Kỹ năng học tập (Learning skills), Kỹ năng giao tiếp (Communication skills), Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills), Kỹ năng thuyết trình (Oral communication skills), được các giảng viên khai thác để lồng ghép trong quá trình giảng dạy tùy theo nội dung từng môn học Và đặc biệt trong những năm gần đây, trong chương trình đào tạo của Nhà trường đã bổ sung thêm môn Kỹ năng nghiên cứu và lập luận Môn học này được các giảng viên khoa Khoa học cơ bản xây dựng theo chỉ đạo của lãnh đạo Nhà trường cũng xuất phát từ những đòi hỏi và nhu cầu xã hội và trên cơ
sở tham khảo kinh nghiệm của một số trường đại học trên thế giới
Cá nhân tôi, trong quá trình giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Leenin cũng kết hợp bồi dưỡng cho sinh viên một số kỹ năng mềm, xin được chia sẻ một số kinh nghiệm sau:
1 Kỹ năng làm việc nhóm
Kỹ năng làm việc nhóm là cách thức để một nhóm (thường thì khoảng 5, 6 sinh viên) cùng phối hợp để thực hiện một nhiệm vụ chung, chẳng hạn: chuẩn bị một bài thuyết trình… Trong quá trình các nhóm làm việc, giảng viên nên hướng dẫn một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Thành phần các nhóm nên có đầy đủ cả nam và nữ, nên có các thành viên có những sở trường khác nhau: thành thạo về công nghệ thông tin, khả năng thuyết trình tốt và giỏi ngoại ngữ… Trong quá trình làm việc, nhóm trưởng sẽ phân công nhiệm vụ theo thế mạnh của từng người
Trang 19- Trong quá trình làm việc nhóm, chắc chắn sẽ có những ý kiến trái chiều, thậm chí có thể dẫn đến mâu thuẫn Vì vậy, các thành viên phải biết lắng nghe và tôn trọng người khác Nếu mỗi thành viên tuân thủ nguyên tắc này tốt thì chắc chắn nhóm sẽ có rất nhiều ý tưởng hay để đưa vào bài thuyết trình của mình Đồng thời thông qua thảo luận, trao đổi trong nhóm, mỗi một thành viên sẽ nhận ra những thiếu sót, hạn chế của mình, học hỏi những ưu điểm của người khác và từ đó rút kinh nghiệm để bản thân ngày càng hoàn thiện hơn
- Trưởng nhóm phải là người có khả năng tổ chức và quản lý công việc tốt, phân công nhiệm vụ một cách đồng đều và hợp lý, giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh Các thành viên phải thực hiện công việc một cách tự giác, khoa học, phối hợp tốt để hoàn thành đúng tiến độ Mỗi người phải tự ý thức rằng, nếu mình chậm trễ sẽ ảnh hưởng đến kết quả của cả nhóm
- Các nhóm luôn chủ động liên hệ với giảng viên để nhận những góp ý, chỉ dẫn
- Giữa các thành viên phải có sự chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau khi cần thiết Vì vậy, làm việc nhóm còn có vai trò tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết trong tập thể lớp
- Giữa các nhóm cũng phải có sự hợp tác, trao đổi kinh nghiệm và phản biện lẫn nhau trong quá trình làm việc, nhất là trong giờ thuyết trình và thảo luận trên lớp
Có thể nói, kỹ năng làm việc nhóm là một trong những kỹ năng cơ bản và quan trọng nhất, được áp dụng một cách rất phổ biến trong nhiều tình huống Một tập thể sẽ luôn đoàn kết, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, gặt hái nhiều thành công nếu các thành viên nắm vững và thực hiện nhuần nhuyễn những nguyên tắc cơ bản của
kỹ năng này
2 Kỹ năng thuyết trình
Phần lớn các môn học ở khoa Khoa học cơ bản đều thực hiện việc thuyết trình để lấy điểm giữa kỳ Giảng viên có thể lồng ghép hướng dẫn kỹ năng thuyết trình cho sinh viên theo nội dung môn học mình phụ trách Với kỹ năng này sinh viên sẽ được hướng dẫn về phong thái, ngôn ngữ (giọng nói, khẩu hình, cách xưng
Trang 20hô), ngôn ngữ hình thể, vẻ mặt, ánh mắt, cách sử dụng công cụ hỗ trợ… Cần cho sinh viên nhận thấy rằng, thuyết trình không phải là "trình bày, thuyết minh" cho người khác nghe mà là một hoạt động nghệ thuật Một số nguyên tắc cơ bản trong thuyết trình là:
- Tạo cảm xúc: là một kỹ năng quan trọng trong thuyết trình Tùy theo nội
dung của bài thuyết trình mà sinh viên biểu hiện tình cảm vui hay buồn, thương yêu hay tức giận… Để thực hiện được điều này, người thuyết trình phải trở thành một
“nghệ sĩ”, phải biết kết hợp thuần thục ngôn ngữ nói với “ngôn ngữ của cơ thể” tức
là ánh mắt, nét mặt và cử chỉ
- Giọng nói cũng đóng một vai trò rất quan trọng Tốc độ giọng nói nhanh
hay chậm, tông giọng cao hay thấp, âm lượng lúc trầm lúc bổng… cũng góp phần làm nên thành công của bài thuyết trình Cần cho sinh viên thấy rằng, để có kỹ năng thuyết trình tốt cũng cần phải tập luyện rất công phu và bài bản Trong lịch sử đã từng có những người khiếm khuyết về giọng nói (nói lắp, nói ngọng…) nhưng nhờ kiên trì “khổ luyện” mà họ đã trở thành những nhà hùng biện nổi tiếng
- Một yếu tố khác rất quan trọng trong thuyết trình là sự tự tin Để đạt được
điều này thì bên cạnh các kỹ năng đã nêu trên thì sinh viên phải nắm chắc nội dung của bài thuyết trình Sắp xếp các ý tưởng thành một hệ thống, mạch lạc và nhất quán Chuẩn bị sẵn các câu trả lời cho những vấn đề mà mình cho là thú vị hoặc là khó, rất có thể người nghe sẽ nêu câu hỏi xung quanh những vấn đề này Ngoài ra,
để tăng tính hấp dẫn của bài thuyết trình, thu hút được sự chú ý của người nghe, tạo không khí thư giãn, thoải mái, sinh viên cũng nên lồng ghép những tình huống hài
hước, dí dỏm phù hợp với hoàn cảnh và nội dung của bài thuyết trình
- Ngoại hình cũng là một nhân tố xúc tác mạnh đến quá trình xuất hiện trước
đám đông, vì vậy, trang phục và phong thái khi thuyết trình cũng phải phù hợp với khung cảnh và chủ đề của buổi thuyết trình
- Ngoài ra, để buổi thuyết trình đạt được thành công, những công cụ hỗ trợ như âm thanh, ánh sáng, hình ảnh, và những đạo cụ khác… cũng đóng vai trò rất quan trọng Phải khác thác tối đa những công dụng của các công cụ hiện đại này Khi sử dụng phải thành thạo và bình tĩnh xử lý nếu có những trục trặc bất ngờ xảy
ra Trong xã hội đang ngày càng phát triển hiện nay, các công cụ hỗ trợ hiện đại,
Trang 21đặc biệt là công nghệ thông tin giúp chúng ta tạo ra những bất ngờ thú vị đôi khi không thể tưởng tượng trước được
- Để sinh viên chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện bài thuyết trình, giáo viên nên thông báo trước cho các nhóm tiêu chí đánh giá
Bảng đánh giá kỹ năng thuyết trình thường như sau:
Điểm
Tên
Thuyết trình
Bình tĩnh
Vẻ mặt/
ánh mắt
Tư thế
Cách xưng
hô
Giọng nói
Ngôn ngữ
Nội dung
Tổng cộng
Trên đây là vài kỹ năng cơ bản, còn rất nhiều kỹ năng mà sinh viên cần phải học và thực hành để đạt được kết quả tốt trong học tập Có thể nói, bên cạnh những kiến thức chuyên môn của từng môn học, sinh viên còn được trang bị một số kỹ năng mềm trong quá trình học các môn Khoa học cơ bản Điều này có ý nghĩa rất quan trọng để sinh viên học các môn chuyên ngành tốt hơn, giúp sinh viên thành công hơn trong cuộc sống và trong sự nghiệp sau này
Trang 22RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƢ DUY CHO SINH VIÊN LUẬT
QUA VIỆC GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN
Ts Lê Thị Hồng Vân
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
1 Sự cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng tƣ duy cho sinh viên trong đào tạo đại học
Từ thế kỷ XVI, Montaigne - nhà văn, học giả nổi tiếng người Pháp từng khẳng định: “Một cái đầu biết suy nghĩ tốt hơn là một cái đầu đầy” Lời khẳng định
này không những chưa bao giờ cũ, trái lại, càng trở nên đúng đắn hơn bao giờ hết,
khi chúng ta đang sống trong bối cảnh của xã hội bùng nổ thông tin và tri thức Theo thông tin từ một cuộc điều tra của một nhóm nghiên cứu ở Mỹ cho biết, cứ khoảng sau 9 tháng thì lượng tri thức của nhân loại đã tăng lên gấp đôi Khi các tri thức cụ thể rất nhanh chóng bị lạc hậu thì thay vì việc cung cấp những tri thức cụ thể, “toàn bộ mục tiêu của giáo dục là để phát triển tư duy Tư duy sẽ là thứ duy nhất phát huy hiệu quả” (lời khẳng định của nhà văn Mỹ Sherwood Anderson) Tư duy có vai trò đặc biệt quan trọng để phát triển khả năng lĩnh hội của trí óc, giúp ta khai mở những “khả năng tinh thần” để có thể tự mình chủ động biết cách cập nhật, khai thác, tiếp nhận, phân tích, tổng hợp vốn tri thức cho mình Có phương pháp và
kỹ năng tư duy cũng có nghĩa là chúng ta đã có được cái “chìa khóa vạn năng” để
có thể chủ động mở cánh cửa kho tàng tri thức vô tận của nhân loại đang không ngừng gia tăng nhanh chóng mỗi ngày Chính vì vậy các nền giáo dục đại học tiên tiến hiện nay đều hướng mục tiêu trọng tâm vào nhiệm vụ đào tạo các năng lực tổng quát, coi trọng việc trang bị những tri thức có tính phương pháp luận để phát triển năng lực tư duy hơn là cung cấp những kiến thức cụ thể, để nhờ đó mỗi người có khả năng làm chủ trong việc khai thác kho tàng tri thức nhân loại phục vụ cho những đòi hỏi của công việc chuyên môn cũng như cuộc sống của mình
Mặc dù nhu cầu chuyên môn hóa là một đòi hỏi tất yếu trong thời đại thống trị của khoa học công nghệ và tri thức với sự cạnh tranh khốc liệt, nhưng lại cũng chính vì vậy mà nhu cầu nhân sự không chỉ cần những chuyên viên thạo việc, những chuyên gia lành nghề mà còn cần hơn hết những người lãnh đạo giỏi, có tư duy năng động, nhạy bén và sáng tạo, có khả năng chọn giải pháp, ra quyết định, có
Trang 23tầm nhìn bao quát rộng hơn lĩnh vực chuyên môn của mình, thay vì chỉ là “những người thợ sửa giày không có khả năng nhìn xa hơn đôi giày của mình” Vì vậy, tinh thần đại học là tinh thần tư duy; cứu cánh của giáo dục đại học không phải là cung
cấp kiến thức, mà quan trọng hơn, đó là trang bị phương pháp và dạy cách tư duy để
chuẩn bị cho sinh viên khi ra trường có khả năng thích nghi, ứng phó và giải quyết các vấn đề phong phú và đa dạng của thực tiễn Về điều này, nhà bác học lỗi lạc Albert Einstein từng khẳng định: “Dạy cho con người một chuyên ngành thì chưa
đủ Bởi bằng cách đó, anh ta có thể trở thành một cái máy khả dụng nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm chất” Bởi vậy, nhiệm vụ của giáo dục đại học không chỉ giảng dạy các tri thức chuyên sâu để hành nghề, mà điều quan trọng hơn là phải dạy kỹ năng và phương pháp tư duy, đó là kỹ năng tư duy logic;
kỹ năng phân tích, đánh giá, tổng hợp, khái quát một vấn đề; kỹ năng kết nối thông tin, hệ thống hóa tri thức; kỹ năng suy luận để từ cái đã biết tìm ra cái chưa biết; kỹ năng suy nghĩ đa chiều – phản biện; kỹ năng biết xử lý tình huống một cách linh hoạt, nhạy bén, sáng tạo…
Ý thức về tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng tư duy nên môn học Tư
duy về tư duy (Thinking about thinking) là môn học chung cho tất cả các chương
trình nhập môn tại các đại học ở Mỹ Để rèn luyện kỹ năng tư duy đa chiều, tư duy phản biện cho sinh viên, phương pháp song giảng cũng là phương pháp được áp dụng phổ biến tại các trường đại học ở Mỹ, đặc biệt là tại các Khoa Luật, Khoa Triết, Khoa Kinh tế, Khoa Quản trị kinh doanh vốn là những ngành học đòi hỏi khả năng tư duy phân tích, tư duy phản biện cao Ví dụ, ba giáo sư cùng tham gia thực hiện một bài giảng mang tính liên ngành giữa Khoa Triết, Khoa Luật và Khoa Kinh tế Ba giáo sư thuộc ba chuyên ngành luân phiên trình bày hoặc tranh luận, phản bác lẫn nhau về một vấn đề, ví dụ: “Nên hay không nên bãi bỏ án tử hình?”;
“Nên hay không nên cấm việc mua súng làm phương tiện tự vệ cá nhân?” Theo
đó, mỗi vị giáo sư đưa ra các quan điểm nhìn nhận, đánh giá vấn đề từ các góc nhìn, các cách tiếp cận khác nhau: quan điểm Triết học, quan điểm Luật học, quan điểm Kinh tế học Các sinh viên chứng kiến và có thể cùng tham gia tranh luận, thể hiện quan điểm của mình1
1
Xem: Dương Ngọc Dũng, Tư duy sáng tạo và phê phán trong giáo dục Mỹ, Tuổi trẻ Chủ
nhật - Số 33/2002
Trang 24Nhìn vào thực tế nền giáo dục Việt Nam hiện nay có thể thấy, từ các cấp học phổ thông đến đại học, từ nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy cũng như cách thức kiểm tra, đánh giá đều đang chú trọng việc cung cấp tri thức cụ thể
mà chưa coi trọng mục tiêu rèn luyện phương pháp và kỹ năng tư duy cho học sinh
- sinh viên Do áp lực thi cử, do bệnh thành tích, giáo dục phổ thông còn nặng tính
áp đặt khi khuyến khích học sinh làm theo đề cương mẫu, bài giải mẫu, với phương pháp chủ đạo là thuyết giảng một chiều đã làm thui chột năng lực tư duy của người học Sau một quá trình dài ở phổ thông với cách dạy và học coi trọng việc “nhồi nhét” các kiến thức sách vở cho những “cái đầu đầy” với mục đích duy nhất là để thi cử đạt kết quả cao nên hệ quả tất yếu là khi lên đại học, sinh viên đã định hình thói quen tư duy thụ động, lười suy nghĩ, không chịu khó tìm tòi, sáng tạo cũng như không có các kỹ năng và phương pháp tư duy Do đó, trước một tình huống mà giáo viên đưa ra đòi hỏi sinh viên phải thể hiện quan điểm cá nhân cũng như các năng lực phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp, đòi hỏi một cái nhìn đa diện, đa chiều thì hầu hết sinh viên thiếu mạnh dạn, tự tin để chủ động phát biểu ý kiến, cũng như rất
ít sinh viên có quan điểm độc lập; khi yêu cầu trả lời một câu hỏi trong đó đòi hỏi phải khái quát, tổng hợp, suy luận, liên kết kiến thức từ các môn học liên quan, thậm chí từ các chương, các bài ngay trong giáo trình của một môn học nhưng cũng nhiều sinh viên không làm được
Để minh chứng cho điều này, chúng tôi xin trích dẫn một email của sinh viên nhờ giải đáp các câu hỏi ôn tập môn Kỹ năng nghiên cứu và lập luận, qua đó có thể thấy rõ những hạn chế trong kỹ năng tư duy khi sinh viên chỉ có thể soạn được các câu hỏi mà nội dung đã có nguyên một phần trong giáo trình, chỉ cần thao tác chép lại Còn đối với những câu hỏi yêu cầu phải vận dụng tư duy tổng hợp, khái quát và suy luận, kết nối kiến thức với môn học khác hoặc phải trình bày những suy nghĩ cá nhân thì sinh viên bất lực Ví dụ:
Câu 7: Tại sao người Việt không có truyền thống tư duy phản biện? (để trả lời câu hỏi này cần liên hệ, kết nối với kiến thức môn Văn hóa Việt Nam) Bạn có
đề xuất gì cho việc dạy và học để rèn luyện tư duy phản biện trong nhà trường hiện nay (đòi hỏi phải thể hiện quan điểm cá nhân)
Câu 8 Làm thế nào để giành chiến thắng trong tranh luận khiến đối phương
phải “tâm phục khẩu phục”? (đòi hỏi phải liên kết các kiến thức trong cả chương)
Trang 25Tuy tình trạng như sinh viên trên là phổ biến trong sản phẩm giáo dục của Việt Nam hiện nay, nhưng điều đáng quan tâm ở đây chính là tính đặc thù của nghề Luật – một nghề mà năng lực tư duy được đặt ở hàng ưu tiên số một trong năng lực nghề nghiệp, nếu không muốn nói là đòi hỏi có tính “sống còn” Người làm nghề Luật, dù với các công việc cụ thể là luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên, tư vấn luật hay làm công việc soạn thảo, ban hành văn bản pháp luật, … thì công việc chuyên môn phải thực hiện thường xuyên đó là lập luận – tranh luận, là các cuộc đấu trí, đấu khẩu để giải quyết xung đột, tranh chấp giữa có/ không, phải/ trái, đúng/ sai Những công việc ấy đòi hỏi năng lực tư duy sắc sảo và các kỹ năng tư duy phân tích
- tổng hợp, tư duy hệ thống - suy luận, tư duy đa chiều - phản biện ở một trình độ cao, đó là những đòi hỏi tối cần thiết để có thể tồn tại, khẳng định chỗ đứng và uy tín trong nghề Bởi vậy các đặc điểm này cũng được coi là đặc thù của tư duy pháp
lý, nên có người gọi đây là các yêu cầu của “tư duy kiểu luật sư” Và cũng bởi vậy, trong mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành Luật, theo chúng tôi, trước hết phải phải coi trọng việc rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng tư duy này
2 Rèn luyện kỹ năng tƣ duy cho sinh viên Luật qua việc giảng dạy các môn Khoa học cơ bản
Trong chương trình đào tạo chuyên ngành Luật, các môn Khoa học cơ bản có nhiệm vụ trang bị cho người học các kiến thức xã hội có tính có tính nền tảng, nặng
về tính chất phương pháp luận với các tri thức lý thuyết có tính khái quát, trừu
Trang 26tượng cao, lại là các môn học chủ yếu được học ngay từ năm thứ nhất, khi sinh viên mới bước đầu làm quen với môi trường học tập mới ở đại học, chưa quen với việc tiếp cận hệ thống tri thức mới, với những cách dạy và học mới Đây trước hết là những khó khăn đối với cả hai phía, người dạy và người học Tuy nhiên, những điểm đặc thù này nếu biết vận dụng thì lại trở thành những yếu tố thuận lợi để rèn
luyện phương pháp và kỹ năng tư duy cho sinh viên
Có thể nói, mỗi môn Khoa học cơ bản trong chương trình đào tạo chuyên ngành Luật tại trường Đại học Luật TP HCM hiện nay, ở những mức độ khác nhau đều có thể giúp rèn luyện kỹ năng tư duy cho sinh viên Tuy nhiên, trong đó có 4 môn học có vai trò quan trọng hơn cả trong việc giúp rèn luyện kỹ năng tư duy, đó là: Triết học, Tâm lý học; Logic học, Kỹ năng nghiên cứu và lập luận Nếu môn Triết học và Tâm lý học có nhiệm vụ trực tiếp trang bị những kiến thức về bản chất, đặc điểm và các qui luật của hoạt động nhận thức và tư duy, làm cơ sở lý thuyết cho việc rèn luyện kỹ năng, thì môn Logic học và Kỹ năng nghiên cứu và lập luận lại có
vai trò trực tiếp rèn luyện kỹ năng tư duy cho sinh viên
Môn Triết học với chương Lý luận nhận thức bao gồm những nguyên tắc có
tính phương pháp luận của hoạt động nhận thức – tư duy, được khái quát, đúc kết qua các nguyên lý và các qui luật có tính phổ quát, đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển, từ đó đúc kết nên các qui luật nhận thức và tư
duy để vận dụng vào hoạt động thực tiễn Môn Tâm lý học cũng có chương về Hoạt
động nhận thức, trong đó nghiên cứu bản chất của tư duy với tư cách là một hoạt
động tâm lý (khái niệm, đặc điểm, các loại tư duy, các thao tác của tư duy, các giai đoạn của tư duy, các sản phẩm của tư duy, các phẩm chất của tư duy tích cực, tiêu cực) làm nền tảng cho các hoạt động tâm lý khác như tình cảm, ý chí, nhân cách Với các môn học này, theo chúng tôi, vấn đề quan trọng là giáo viên cần giúp sinh viên chuyển hóa các kiến thức có tính phương pháp luận về tư duy thành kỹ năng để vận dụng trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn chứ không nên chỉ truyền đạt các tri thức ở dạng tĩnh, tức chỉ là những tri thức lý thuyết nặng tính kinh viện, chỉ đóng khung trong sách vở Đến lượt từ các tình huống cụ thể, giảng viên lại cần giúp sinh viên biết khái quát nên những tri thức có tính phương pháp luận để giúp
cho việc giải quyết các tình huống cụ thể khác
Trang 27Môn Logic học có nhiệm vụ dạy các thao tác, các qui luật tư để duy đúng và các cấp độ của hoạt động tư duy Đây là môn học có nhiệm vụ trung tâm trong việc rèn luyện kỹ năng tư duy cho sinh viên, và trong thực tế môn học đã được giảng dạy gắn kết chặt chẽ với thực tiễn các tình huống tư duy pháp lý để rèn luyện kỹ năng tư
duy cho sinh viên Luật
Đối với môn Kỹ năng nghiên cứu và lập luận, chúng tôi đặc biệt coi trọng việc rèn luyện các kỹ năng tư duy cần thiết cho việc hành nghề Luật như: chú trọng việc rèn luyện cho sinh viên sự nhạy bén trong việc phát hiện và nhận diện những tình huống có vấn đề; năng lực phân tích, kết nối, tổng hợp, so sánh, đánh giá các tình tiết, sự việc dựa trên sự suy xét vấn đề một cách cẩn trọng, sâu sắc và thấu đáo; năng lực tư duy độc lập, biết đặt các câu hỏi và tìm câu trả lời cần thiết cho mình; khả năng xem xét vấn đề một cách toàn diện từ nhiều mặt, nhiều chiều, nhiều mối quan hệ, nhiều khía cạnh và góc độ để tìm tòi, khám phá bản chất khách quan sự việc; kỹ năng suy luận, lập luận dựa trên cơ sở của chứng cứ và lý lẽ; kỹ năng phát hiện những sai lầm, thiếu sót trong quan điểm của người khác để phản biện lại… các hoạt động này được chúng tôi thực hiện thông qua việc yêu cầu sinh viên thực
hành gắn với các hoạt động pháp luật Cụ thể là:
a) Để thực hành vận dụng kỹ năng tư duy phản biện trong hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản pháp luật, chúng tôi yêu cầu sinh viên đặt các câu hỏi để rèn luyện thói quen biết nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách toàn diện, đa chiều trong việc soạn thảo, ban hành một chính sách, một văn bản luật, như: Tính hợp hiến/ hợp pháp? Tính cần thiết? (Vì sao ban hành văn bản này? Tích cực? Tiêu cực? Với nhà nước? Với người dân?); Tính phù hợp? (về kinh tế, chính trị, tâm lý, văn hóa (thói quen, phong tục, tín ngưỡng, đạo đức?); Tính khả thi? (có/không? Vì sao?) Từ đó yêu cầu sinh viên liên hệ với thực tế, sưu tầm, thống kê những văn bản luật không
có khả năng đi vào thực tế, đồng thời yêu cầu trả lời các câu hỏi:
- Vì sao trong thực tế hiện nay, nhiều văn bản luật không đi vào đời sống?
- Những hậu quả mà các văn bản đó gây ra?
- Giải pháp để hạn chế tình trạng này?
b) Để thực hành vận dụng kỹ năng tư duy phản biện trong hoạt động tư vấn, giải quyết một vấn đề pháp lý; trong hoạt động điều tra, xét hỏi/buộc tội, gỡ tội trong xử án, chúng tôi định hướng, gợi mở cho sinh viên những cách nhìn nhận,
Trang 28đánh giá vấn đề từ nhiều khía cạnh, như việc đặt ra các câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Thế nào? Tại sao? Tại sao không là? (Các phương án giải quyết? Sự việc
có thể khác như thế không? Nếu khác đi thì sẽ thế nào?) để qua đó có thể nắm bắt thông tin một cách toàn diện cũng như sự đánh giá và tìm mối liên hệ giữa các vấn
đề, sự việc, giữa bộ phận với toàn thể; quan hệ giữa các lĩnh vực pháp luật và đời sống, từ đó có thể đưa ra phương án giải quyết vấn đề một cách thấu đáo nhất
Ngoài các môn có nhiệm vụ trực tiếp rèn luyện kỹ năng tư duy như trên thì tất cả các môn học chuyên ngành cũng như các môn Khoa học cơ bản ở các mức độ khác nhau, trong đặc thù chuyên môn của mình đều có thể và cần phải rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng tư duy phân tích – tổng hợp, tư duy hệ thống, liên kết, tư duy suy luận, phán đoán Việc tiếp nhận và thẩm thấu tri thức vốn đã không bao giờ
là một quá trình đơn giản, nhưng ngày nay quá trình đó lại càng phức tạp hơn nữa vì lượng thông tin quá lớn và đa dạng, đa chiều Không ai có thể nắm hết thông tin, ngay cả trong lĩnh vực chuyên môn của mình, bởi vậy, cần phải rèn luyện cho sinh viên với những cái đầu biết suy nghĩ, có khả năng tổng quát hóa, biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, biết nối kết những kiến thức với nhau để làm bật ra ý nghĩa Với nghề Luật, nếu không có kỹ năng tư duy phân tích, tổng hợp, hệ thống, liên kết và suy luận thì sẽ chỉ có thể thấy dấu chân, dấu tay, dấu máu, thấy hung khí… nhưng không thể tìm ra hung thủ
Để rèn luyện tư duy liên kết - hệ thống, theo chúng tôi, cần phải giúp sinh viên hình thành ý thức và thói quen biết liên kết kiến thức giữa các môn Khoa học
cơ bản cũng như liên kết kiến thức giữa các môn Khoa học cơ bản với các kiến thức chuyên ngành; liên kết các kiến thức trong một môn (giữa các chương/ bài)… để làm nổi bật những liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa những kiến thức đó, bởi vì mỗi khoa học không thể tồn tại nếu thiếu sự nối kết Đặc biệt là phải biết liên kết kiến thức trong sách vở với kiến thức thực tế, bởi “mọi lý thuyết chỉ là màu xám…”
3 Kết luận
Tóm lại, với mỗi môn Khoa học cơ bản, trong tính đặc thù của mình, đều có những thế mạnh khác nhau trong việc rèn luyện kỹ năng tư duy cho sinh viên, nếu mỗi giảng viên đều có ý thức về trách nhiệm của mình để tích cực tìm tòi, đổi mới,
Trang 29cập nhật thông tin, bổ sung kiến thức và kỹ năng để có những phương pháp có hiệu quả nhất
Tuy nhiên, việc rèn luyện kỹ năng tư duy cho sinh viên chỉ có thể đem lại hiệu quả khi có sự hợp tác tích cực từ phía sinh viên – yếu tố trung tâm của giờ học
Cụ thể, từ phía người học, sinh viên phải có tinh thần và ý thức nghiêm túc, tự giác
và chủ động trong việc tự học, tìm kiếm tài liệu, thu thập, chọn lọc và xử lý thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (sách, báo, tạp chí, internet…) Trong thực tế, một bộ phận không nhỏ sinh viên hiện nay do vẫn nặng tâm lý học chỉ để thi, do đã quá quen thuộc với cách tiếp thu kiến thức thụ động (thầy giảng trò chép) ở phổ thông nên khi tiếp cận phương pháp mới đòi hỏi sự năng động, khả năng tư duy và tính sáng tạo thì một bộ phận sinh viên do sức ì quá lớn nên không thích ứng được Vì vậy bên cạnh một số sinh viên có ý thức tự giác, năng động và sáng tạo trong học tập thì vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ sinh viên chỉ đến lớp để đối phó với điểm danh, thi cử Điều này đối với các môn học không thuộc chuyên ngành thì lại càng phổ biến hơn Có thể thấy, trong tâm lý – nhận thức của đại đa số sinh viên nói chung và sinh viên Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh nói riêng đều chưa thực
sự ý thức được vai trò nền tảng của các kiến thức xã hội đối với việc học các ngành Khoa học xã hội nói chung và ngành Luật nói riêng Bởi vậy, việc học các môn Khoa học cơ bản đối với sinh viên chủ yếu chỉ để đối phó với việc thi cử nên họ không hào hứng, chủ yếu chỉ học thụ động và cũng không đầu tư thời gian cho các môn học Và như thế, lẽ tất nhiên là khi cùng một thời điểm phải thực hiện nhiều nhiệm vụ được giao ở các môn học khác nhau, sinh viên sẽ dành ưu tiên trước hết cho các môn học chuyên ngành
Đặc thù của các môn học cùng với tâm lý - nhận thức - thái độ của sinh viên
là những rào cản không nhỏ đối với giảng viên các môn Khoa học cơ bản ở một trường đào tạo chuyên ngành, khiến cho những người nếu không có tâm huyết với nghề thì rất dễ bi quan, an phận, không chịu khó tìm tòi, đổi mới các phương pháp giảng dạy tích cực để có thể khắc phục những khó khăn do đặc thù môn học, cũng như làm thay đổi nhận thức, tâm lý và thái độ học tập của sinh viên Sự không hợp tác tích cực từ sinh viên thực sự là những rào cản không nhỏ đối với giảng viên khi muốn áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực để rèn luyện kỹ năng tư duy
Trang 30Những khó khăn trên đây là những thách thức đối với việc tìm tòi, đổi mới phương pháp giảng dạy ở các môn Khoa học cơ bản, nhất là khi số lượng giảng viên của các bộ môn lại rất hạn chế (chỉ 2 người/1 môn) nên không thể thực hiện được nhiều các giờ thảo luận chia lớp nhỏ - một điều kiện cần thiết để có thể thực hiện việc rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng nói chung và kỹ năng tư duy nói riêng./
Trang 31RÈN LUYỆN TƢ DUY PHẢN BIỆN CHO SINH VIÊN
THÔNG QUA VIỆC GIẢNG DẠY MÔN LOGIC HỌC –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Ths Phạm Thị Minh Hải
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
1 Tƣ duy phản biện và vai trò của nó với sinh viên đại học Luật
Ngày nay, tư duy phản biện đã trở thành một trong những từ khóa thông dụng trong lĩnh vực giáo dục hiện đại Trong quá khứ, giáo viên đóng vai trò là người diễn viên chính duy nhất, có khi là người độc thoại trong hoạt động giảng dạy Tuy nhiên, những năm gần đây, xu hướng giáo dục đã trở nên thay đổi nhiều
và cán cân tập trung chú ý đã nghiêng dần đến sự cân bằng và có khi rơi trọng tâm
về phía người học với sự hiện diện ngày càng mạnh mẽ của tư duy phản biện Theo
từ điển Oxford Avanced Learners, critical khi được dùng như tính từ diễn tả hai ý
nghĩa chính sau: “Epressing disapproval” tạm dịch là diễn tả sự phê phán; “making
careful judgements: involving making fair, careful judgements about the good and bad quanlities os sb/sth”: tức sự xem xét cẩn trọng, khách quan về cả mặt tốt và mặt
xấu của một vấn đề nào đó Từ điển cũng lấy ví dụ: “Students are encouraged to
develop critical thinking instead of accepting opinions without questioning them.”
(Tạm dịch: Sinh viên được khuyến khích tư duy phản biện thay vì chấp nhận thụ động các ý kiến)
Như vậy, tư duy phản biện không bó hẹp chỉ là tư duy phê phán như một số người nhầm tưởng, mà đó là tư duy đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng theo một cái nhìn đa diện và đa chiều, cả bề sâu và bề rộng, cả mặt trái và mặt phải Tư duy phản biện không có nghĩa là anh không tin vào cái gì, luôn hoài nghi tất cả mà phải là tinh thần “hoài nghi khoa học” tức chỉ tin khi có đầy đủ lý do để tin, tin khi
có đầy đủ bằng chứng để tin Tư duy phản biện đòi hỏi người tiếp cận và xử lý thông tin buộc phải đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi: Tại sao lại có điều đó; Dựa vào đâu mà có điều đó; Tại sao điều đó là tốt, là xấu; Căn cứ vào đâu để giải thích, đánh giá cho nó; Có những cách thức, phương pháp nào tốt hơn không…
Vai trò của tư duy phản biện đối với sinh viên Luật
Trang 32Không phải ngẫu nhiên mà người ta ví nôm na những người hành nghề luật
là thầy cãi Cãi để cho ra chân lý, ra sự thật, cãi là cần thiết vì nó liên quan đến số mệnh con người Do đó, tư duy một chiều dễ dẫn đến sai lầm ảnh hưởng người khác Nếu rèn luyện được kỹ năng tư duy phản biện, người hành nghề Luật sẽ không tiếp nhận các thông tin một cách thụ động, mà sẽ nhìn nhận mọi giả thuyết, mọi khả năng dưới một cái nhìn công tâm, tỉ mỉ, logic và đầy đủ bằng chứng
Tư duy phản biện tạo cho sinh viên tâm thế luôn sẵn sàng tiếp nhận các giả thuyết mới, xem xét kỹ mọi góc độ, khía cạnh, biết lắng nghe và tôn trọng người khác trong lúc tranh luận, có tâm lý sẵn sàng đón nhận sự thật dù sự thật đó không phải là điều mình mong đợi qua đó, tạo nên thái độ nghiên cứu, vận dụng các kỹ năng cứng của ngành Luật một cách khách quan, đa chiều, dựa trên những chứng
cứ, lập luận chặt chẽ, tránh được những phán đoán, quyết định sai lầm, đặc biệt những quyết định có liên quan đến tính mạng hay cuộc sống của con người
Đặc điểm năng lực tư duy phản biện của sinh viên đại học Luật (góc nhìn từ sinh viên năm nhất và năm 2 tại thời điểm học môn Logic học)
Trong thời gian vừa qua, mặc dù phương pháp dạy học tích cực – nền tảng của việc rèn luyện tư duy phản biện – là vấn đề nóng hổi và đang được khuyến khích thực hiện ở các trường phổ thông Tuy nhiên, sự cải cách này có lẽ chưa thực
sự mạnh mẽ và phát huy hiệu quả khi lên tới giảng đường đại học, phần đông sinh viên vẫn đang đóng vai trò “người học trò trầm lặng” trên lớp, mà chúng tôi hay gọi vui là thể loại trứng gà, chỉ biết lẳng lặng đến lớp rồi ngồi hết giờ đi về, không có bất kỳ hoạt động tương tác nào trên lớp với giáo viên, cũng không chủ động phát biểu ý kiến khi gió viên yêu cầu Hoạt động nổi bật (nếu có) của nhóm này là trả lời câu hỏi trong thế bị động khi bị giáo viên gọi tên Cách đây mấy ngày, một đồng nghiệp nữ đã bày tỏ sự ngao ngán về cái thái độ quá đỗi “ngoan hiền” của một lớp khi trong tiết thảo luận, giáo viên nhầm tưởng lớp này còn một phần lý thuyết chưa học (thực tế sinh viên đã học và thảo luận đến nội dung thứ 2) nên đã giảng lại phần
lý thuyết ấy trong hơn một tiết mà sinh viên không có ý kiến gì Thời gian còn lại dành cho hoạt động thảo luận, khi yêu cầu nhóm được phân công thảo luận về nội dung thứ nhất thì nhóm sinh viên mới nói câu này hôm trước nhóm đã thảo luận rồi
và phần lý thuyết đã học rồi Như vậy cho thấy, sự rụt rè, nhút nhát ăn sâu thành thói quen cố hữu, đến mức sinh viên không dám đính chính cả những thông tin cơ
Trang 33bản, thiết thân của mình, nói gì việc trình bày ý kiến, quan điểm riêng nói gì đến việc phản biện lại các quan điểm của giảng viên
Thứ hai, cái tư tưởng Trứng không khôn hơn vịt hay áo mặc không qua khỏi
đầu đã cố hữu vào trong đầu óc không chỉ của người học mà còn của một số người
dạy Mà rõ ràng vào thời buổi hiện đại này, rất nhiều lĩnh vực “vịt” còn ù ù cạc cạc
mà trứng thì rất tinh thông Ví dụ, bây giờ hỏi về các đội bóng đá, hỏi về kỹ thuật
số, về công nghệ, trứng và vịt ai khôn hơn ai thì đó là điều hiển nhiên ai cũng biết
2 Cách thức rèn luyện
Một khi tư duy phản biện còn là điều mới mẻ và ngại ngần đối với sinh viên thì chính giảng viên chứ không ai khác sẽ là người đồng hành dẫn dắt sinh viên trong quá trình xây dựng kỹ năng này, theo đúng quy trình nhận thức đúng đắn vai trò của tư duy phản biện từ trong suy nghĩ, từ suy nghĩ thành hành động, từ hành động thành thói quen, từ thói quen thành tính cách và trở thành vốn quý thay đổi số phận của một con người Với đặc thù là môn khoa học về những vấn đề liên quan chặt chẽ đến hoạt động tư duy nhằm giúp tư duy đúng đắn, tránh mắc sai lầm, Logic học gắn bó chặt chẽ và cung cấp nhiều công cụ, phương tiện đắc lực cho quá trình hình thành, phát triển, rèn luyện tư duy phản biện Trong khuôn khổ bài tọa đàm, chúng tôi chỉ trình bày ngắn gọn một số hoạt động thúc đẩy tư duy phản biện của sinh viên bước đầu có hiệu quả
- Đầu tiên, giảng viên cần tạo cơ chế trao quyền đi tìm chân lý cho sinh viên Thay vì đưa ra kết luận, khuyến khích sinh viên tự đi tìm kết luận, tự phát hiện ra các quy luật, các mối liên quan logic giữa các nội dung trong môn học Việc tự mình tìm ra các quy luật, các mối liên hệ nếu có giữa các nội dung kiến thức cũng là cách giúp rèn luyện tư duy phản biện
- Khuyến khích sinh viên nêu quan điểm và đưa ra các lý lẽ thuyết phục để bảo
vệ quan điểm của mình Ví dụ: khi dạy về phán đoán giả định (hay còn gọi là phán đoán điều kiện), sinh viên sau khi học định nghĩa “Phán đoán điều kiện là phán đoán được tạo thành bởi hai phán đoán đơn nhờ liên từ logic “Nếu…thì…” Tôi thường yêu cầu sinh viên kiểm tra những câu sau có là phán đoán điều kiện không?
Mèo có bốn chân thì lớp trưởng lớp này mặc áo đỏ hay Nếu Bưởi là cô gái xinh đẹp thì Chanh lại là cô gái thông minh Sinh viên chia ra hai ý kiến: một ý kiến cho là
Trang 34phải, một nhóm cho là không Lý lẽ nhóm không cho là phán đoán điều kiện đưa ra là: những câu này là những câu có nội dung không liên quan gì đến điều kiện, kết quả Tôi hỏi lại: định nghĩa về phán đoán điều kiện nêu đặc trưng về mặt hình thức hay nội dung -> qua đó sinh viên bên cạnh việc hiểu đúng về phán đoán điều kiện đồng thời hiểu rõ hơn về đặc trưng của logic hình thức: tức xem xét hình thức của
tư tưởng, lập luận và sử dụng hình thức để giải quyết vấn đề nội dung chứ không dùng nội dung để giải quyết câu chuyện hình thức
- Khi dạy về các quy tắc của tam đoạn luận lựa chọn hình thức khẳng định, phủ định, thay vì áp đặt sinh viên về các quy tắc 1 (dành cho tam đoạn luật hình thức khẳng định) và quy tắc 2 (dành cho tam đoạn luận hình thức phủ định), có thể đặt cho sinh viên một loạt các câu hỏi để xem xét kiến thức một cách sâu sắc hơn? Tại sao ở hình thức phủ định, tam đoạn luận lựa chọn phải có đại tiền đề là phán đoán lựa chọn tuyệt đối? Còn ở hình thức khẳng định thì lại không đỏi hòi điều đó?
- Cổ vũ việc đặt câu hỏi, đưa ra quan điểm riêng Một khi tư duy phản biện chưa là cách thức tư duy tự nhiên thì cần khuyến khích sinh viên thực hành bằng cách tạo cho sinh viên tâm lý giảng viên là người đồng hành trong hoạt động tư duy chứ không phải là người chỉ toàn nói lời chân lý Khi sinh viên đưa ra các câu hỏi mang tính “phản biện”, tức thể hiện sự phân tích, mổ xẻ, lật lên lật xuống vấn đề của người học, ngoài việc hướng dẫn sinh viên câu trả lời, người dạy còn có cơ chế khuyến khích điểm cộng vào bài kiểm tra bộ phận, để sinh viên thấy hỏi là quyền lợi, là nhu cầu thiết thân cần thực hiện và nên thực hiện Rất nhiều vấn đề sinh viên băn khoăn lại có thể ngược trở lại thành những vấn đề được đưa ra cho sinh viên giải quyết Ví dụ: Sinh viên hỏi: “Bao giờ chạch đẻ ngọn đa Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình” nên được viết dưới dạng câu logic như thế nào?
- Lấy chính những tư tưởng của sinh viên làm vấn đề để mổ xẻ nhằm tạo cho sinh viên thói quen tự phân tích, mổ xẻ, kiểm tra tư tưởng của chính mình Ví dụ: Khi giảng về phán đoán khẳng định, giảng viên yêu cầu sinh viên đưa ra ví dụ về
phủ định của phủ định tư tưởng A là khẳng định tư tưởng A Một em sinh viên cho
ví dụ “không bao giờ nói không bao giờ” Từ ví dụ này, giảng viên đặt ra hai câu hỏi: thứ nhất, đây có phải là phán đoán không, nếu thiếu thì cần bổ sung bộ phận
Trang 35nào để tạo thành một phán đoán đơn hoàn chỉnh, thứ hai: đây có sự xuất hiện của từ không đến hai lần những có được coi là phủ định của phủ định không
- Gợi mở thêm các trò chơi tư duy, các câu đó tư duy có gắn bó mật thiết với việc rèn luyện kỹ năng tư duy logic Thông qua đó, ngoài việc sinh viên nhận thức sâu sắc hơn vai trò của môn học đang học, mà còn biết vận dụng những gì đã học để giải quyết các nhu cầu thực tiễn Ví dụ: Ô chữ Sudoku, Trò chơi đoán màu, câu đố
Ai là người nuôi cá Thông qua những trò chơi này, sinh viên được rèn luyện đi tìm cái mới phải dựa trên những cơ sở chắc chắn đã có trước đó, chứ không phải là sự suy đoán mập mờ Ví dụ: với câu hỏi ai là người nuôi cá 15 dữ kiện1 được khai thác, mổ xẻ dưới rất nhiều góc độ khác nhau, tôi tạm chia làm 3 nhóm ý kiến: nhóm 1: sử dụng các ô bảng để điền dữ liệu, tiến hành các thao tác tư duy suy đoán, lựa chọn, kiểm tra lựa chọn, loại trừ, và thông tin cuối cùng còn trống đó là thông tin về người nuôi cá; với cách thức này, lý lẽ được xây dựng trên những căn cứ xác đáng nên không ai cãi được; nhóm 2: cho rằng người nuôi cá sống cạnh người nuôi mèo
vì mèo thích ăn cá; ý kiến nhóm này bị nhóm thứ 3 phản biện; nhóm 3 cho rằng nhà người nuôi cá là ngồi nhà ở vị trí xa nhất so với nhà nuôi mèo vì sự an toàn của con mèo Hai ý kiến cuối này dù trái chiều nhau những đều không có căn cứ vững chắc để thuyết phục vì sinh viên thuộc hai nhóm này bỏ qua mất thao tác kiểm tra giả định xem có chắc chắn hay không trước khi đi đến kết luận Không có căn cứ vững chắc cho nên đây là giả thuyết không đáng tin cậy Những dạng câu hỏi này cũng khuyến khích sinh viên đi tìm bằng chứng, xây dựng cơ sở lý lẽ trước khi
1
1 Người Anh sống trong nhà màu đỏ
2 Người Thụy Điển nuôi chó
3 Người Đan Mạch thích uống trà
4 Ngôi nhà màu xanh lá nằm bên trái nhà màu trắng
5 Người sống trong nhà xanh lá thích uống cafe
6 Người hút thuốc lá Pall Mall nuôi chim
7 Người sống trong nhà vàng hút thuốc lá Dunhill
8 Người sống trong ngôi nhà chính giữa thích uống sữa
9 Người Nauy sống trong ngôi nhà đầu tiên
10 Người hút thuốc lá Blend có hàng xóm thích nước khóang
11 Người hút thuốc Dunhill sống bên cạnh người nuôi ngựa
12 Người hút thuốc lá Blue master thích uống bia
13 Người Đưc hút thuốc lá Prince
14 Ngôi nhà của người Nauy nằm bên cạnh ngôi nhà xanh lơ
15 Người hút thuốc lá Blend sống cạnh người nuôi mèo
Trang 36quyết định tin hay không tin vào cái nào Đó là tinh thần luôn ghi nhớ và tuân thủ luật Lý do đầy đủ của Lebniz ở mọi nơi, mọi lúc trong mọi tiến trình tư duy
3 Kết luận
Những kiến thức các bạn sinh viên tích lũy được trên ghế giảng đường chỉ là phần cứng, còn môi trường bên ngoài sau khi tốt nghiệp đòi hỏi nhiều hơn cái phần cứng ấy để thích nghi, để hòa nhập và xử lý công việc tư duy phản biện trước hết đòi hỏi sự nỗ lực của cá nhân, nhưng sau đó phải là sự khuyến khích, cổ vũ và rèn giũa của những người thầy, để tư duy ấy sẽ trở thành một kỹ năng tự nhiên và bền vững trong hành trang hành nghề sau này của sinh viên đúng như mục tiêu học tập hiện đại mà UNESCO đã đề ra là learning to know, learning to do, learning to live together to be (tạm dịch: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định bản thân)
Trang 37LỒNG GHÉP DẠY KỸ NĂNG TỰ HỌC TRONG GIẢNG DẠY MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
Ths Trần Ngọc Anh
GV Khoa KHCB, Trường ĐH Luật TP HCM
Hiện nay liên quan đến kỹ năng mềm có khá nhiều bài viết được đăng tải trên mạng Điểm chung của các bài viết đều chỉ ra được những kỹ năng quan trọng thuộc kỹ năng mềm và đều cho rằng hiện nay kỹ năng mềm là một trong những yếu
tố quyết định chất lượng học tập của sinh viên, chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục
Vậy kỹ năng mềm là gì?“Kỹ năng mềm” chủ yếu là những kỹ năng thuộc về tính cách con người, không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải
là kỹ năng cá tính đặc biệt, chúng quyết định khả năng bạn có thể trở thành nhà lãnh đạo, thính giả, nhà thương thuyết hay người hòa giải xung đột”1 Cụ thể hơn, kỹ năng mềm bao gồm nhiều kỹ năng khác nhau như: kỹ năng học và tự học, kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giải quyết vấn đề,
kỹ năng làm việc nhóm… Bản thân mỗi chúng ta có thể biết tới các kỹ năng mềm, nhưng thực tế để thực hành tốt kỹ năng mềm đã thấy khó, thì việc lồng ghép dạy kỹ năng mềm trong môn học của mình cho sinh viên lại càng khó hơn Tuy nhiên,
trong bài viết này, chúng tôi mạn phép chỉ bàn sơ qua đến việc lồng ghép dạy kỹ
năng tự học cho sinh viên trong môn học mà tôi phụ trách (áp dụng với sinh viên
chính quy Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh)
1 Kỹ năng tự học
Kỹ năng tự học là một trong những kỹ năng rất quan trọng với mỗi sinh viên Tuy nhiên, thực tế không phải sinh viên nào cũng thực hiện nghiêm túc kỹ năng này Vì vậy trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần có sự nhắc nhở khéo léo cho sinh viên của mình biết, để thực hành cho hiệu quả Dưới đây chúng tôi xin liệt kê một số kỹ năng tự học mà giảng viên cần rèn luyện cho sinh viên trong quá trình giảng dạy:
Thứ nhất, kỹ năng xây dựng kế hoạch và mục tiêu tự học
1
Dẫn theo bài viết của Mai Thị Linh, Đại học Nha Trang, 2010
Trang 38Với mỗi môn học (dù đó là môn chuyên ngành hay môn cơ bản), để quá trình
tự học mang lại kết quả tốt nhất thì điều đầu tiên sinh viên cần làm là xây dựng kế hoạch học tập Nhưng thực tế việc làm này với số đông sinh viên giống như một điều “xa lạ” và thường bị bỏ qua Vì vậy, vào buổi đầu tiên của mỗi lớp dạy, giảng viên cần nhắc nhở sinh viên phải chủ động xây dựng kế hoạch và mục tiêu tự học (cho dù có thể sinh viên đã biết, hoặc đã được các giảng viên những môn trước nói)
Có được một kế hoạch rõ ràng không những giúp sinh viên tiết kiệm được thời gian
mà còn giúp sinh viên xác định được khối kiến thức cần phải trau dồi, phân bổ thời gian cho từng loại kiến thức cụ thể; giúp sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học một cách khoa học và hiệu quả hơn Mỗi sinh viên có thể có một kế hoạch và mục tiêu khác nhau, nhưng việc lập kế hoạch sẽ giúp chúng ta biết được khối lượng kiến thức chúng ta đang có và sẽ phải có
Có kế hoạch thì phải có mục tiêu, mục tiêu sẽ là động lực học tập của sinh viên Bởi sinh viên biết mình phải học cái gì, những kiến thức sinh viên học phục
vụ cho công việc sau này thế nào Khi đó sinh viên sẽ có ý thức tự giác học và tự học để bổ sung kiến thức như mục tiêu mình đã đề ra
Thứ hai, kỹ năng nghe và ghi bài trên lớp
Kỹ năng này đòi hỏi sinh viên phải chủ động coi lại nội dung bài của buổi học trước và đọc, đưa ra những câu hỏi liên quan đến nội dung bài của buổi học chuẩn bị diễn ra Làm được điều này sinh viên sẽ nhanh chóng hiểu được những nội dung mà thầy, cô đang trình bày và đặc biệt sinh viên sẽ có được đáp án cho những câu hỏi mà mình đã đặt ra, thậm chí sinh viên có thể dễ dàng đặt câu hỏi đối với những vấn đề mà sinh viên chưa hiểu rõ Tuy nhiên, sinh viên cần lưu ý là trong quá trình nghe phải kết hợp với ghi chép Bởi thông tin kiến thức dù hay đến mấy mà sinh viên không ghi lại thì sẽ nhanh chóng bị quên
Quy trình nghe giảng gồm các khâu như ôn bài cũ, làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đối với bài mới Trong khi nghe giảng sinh viên nên tìm chỗ ngồi tốt nhất để có thể quan sát được giảng viên, màn hình, bảng viết… Sinh viên cần phải tập trung trong quá trình nghe giảng vì sự thiếu tập trung có thể khiến cho việc nắm bắt nội dung bài giảng không được liền mạch Khi nghe giảng cần tập trung theo dõi sự dẫn dắt của giảng viên, liên hệ với kiến thức đang nghe, kiến thức
Trang 39đã có với các câu hỏi đã hình dung trước Ghi chép thật ngắn gọn, cố gắng chỉ ghi chép sườn bài và những ý chính của bài Hãy diễn đạt những ý chính của bài bằng ngôn ngữ của chính mình Trong quá trình ghi chép phải luôn động não chứ đừng ghi chép một cách máy móc Bởi mục tiêu của sinh viên là cần hiểu bài chứ không phải ghi chép chính xác từng lời nói của giảng viên hay ghi chép những nội dung xuất hiện trên máy chiếu Cần ghi lại vắn tắt các dẫn chứng hoặc ví dụ của giảng viên (bởi những cái này thường không có hoặc có nhưng rất ít trong giáo trình, tài liệu tham khảo) Ở cuối mỗi buổi nghe và ghi chép, sinh viên đừng ngại hỏi giảng viên những điều chưa hiểu
Sau khi nghe giảng và ghi bài, sinh viên nên chia sẻ những ghi chép với các bạn trong lớp (có thể là một nhóm bạn) Làm việc nhóm sẽ giúp cho sinh viên có thể hiểu rõ nội dung và nhớ bài lâu hơn Cần đọc lại một lượt những nội dung mà mình đã ghi chép, thao tác này sẽ giúp sinh viên một mặt có thể ôn lại bài vừa học, mặt khác giúp cho sinh viên có thể thay đổi, thêm bớt theo ý hiểu của mình
Thứ ba, kỹ năng đọc giáo trình và tài liệu tham khảo
Mỗi sinh viên cần phải thực hành kỹ năng này, bởi bất cứ môn học nào sinh viên cũng thấy là ngoài giáo trình thì tài liệu tham khảo liên quan đến môn học đó rất nhiều Và bởi trong một thế giới biến đổi nhanh chóng như hiện nay, hàng giờ, hàng ngày biết bao nhiêu cái đổi mới, sáng tạo xuất hiện mà chúng ta không chịu đọc, không chịu cập nhật thường xuyên thì chắc chắn sẽ bị tụt lại phía sau Nhưng
để việc đọc sách mang lại hiệu quả thiết thực sinh viên cần nghiêm túc thực hiện những điều sau:
‐ Tạo thói quen đọc sách hàng ngày Đây là việc làm rất hữu ích đặc biệt
với sinh viên học chuyên ngành Luật Nhưng để việc hữu ích này trở thành hiện thực thì sinh viên phải chủ động, tự giác đọc (bởi nói thì dễ, còn thực hiện mới khó) phải tạo thành thói quen hàng ngày Dù bận đến đâu mỗi ngày sinh viên cố gắng sắp xếp thời gian từ 30 phút đến 1 giờ cho việc đọc sách
‐ Đọc có suy nghĩ Tại sao phải đọc có suy nghĩ? Vì để hiểu được những
điều sách viết, người đọc cần phải hết sức tập trung, nhiều khi phải đọc đi, đọc lại những đoạn, những nội dung cần thiết, chưa nắm vững, đến khi hiểu mới thôi Đọc
Trang 40có suy nghĩ còn giúp cho bản thân không những lĩnh hội được kiến thức từ sách mà còn rèn luyện được phương pháp tư duy
Khi đọc có suy nghĩ một cuốn sách, một bài viết nhưng vẫn chưa hiểu được những gì sách viết, thì phải tìm đọc những sách khác có liên quan Bởi lẽ, đôi khi cùng một vấn đề, một kiến thức nhưng với cách lý giải của tác giả trong cuốn sách này ta chưa hiểu nhưng với cách diễn giải của tác giả khác ở sách khác ta có thể hiểu được Hay thực tế trong từng môn học còn nhiều luận điểm vẫn đang tranh luận chưa có sự thống nhất, nếu ta đọc nhiều, đọc có suy nghĩ sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều, toàn diện hơn về vấn đề đang quan tâm, góp phần bổ sung thêm vốn kiến thức của ta
Thứ tư, kỹ năng đọc có chọn lọc, ghi nhớ thông tin
Mỗi môn học đương nhiên sinh viên phải đọc giáo trình, còn tài liệu tham khảo liên quan sinh viên phải biết lựa chọn và phải đọc có chọn lọc Môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng vậy, ngoài giáo trình (chưa chắc sinh viên đã đọc hết cuốn) còn có những tài liệu tham khảo “đồ sộ” chỉ nghe nhắc đến thôi sinh viên đã thấy “choáng ngợp” rồi (ví dụ: Văn kiện Đảng toàn tập) thì làm sao có thể hy vọng họ dành thời gian để vùi đầu với Văn kiện được Vì vậy, ở mỗi chương học, từ kinh nghiệm của mình giảng viên có thể nhắc sinh viên về đọc những phần, những nghị quyết, văn kiện quan trọng và ghi nhớ những thông tin cần thiết góp phần bổ sung kiến thức cho chương học Bên cạnh việc đọc có chọn lọc, sinh viên cũng cần phải biết cách chọn lọc và ghi nhớ thông tin Môn Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là môn học “đặc thù”, vì vậy khi giảng, giảng viên cần nhắc nhở sinh viên nên tham khảo, cập nhật, sử dụng tài liệu, thông tin từ những nguồn chính thống… bởi nhiều khi cùng một sự kiện nhưng lại có những số liệu khác nhau, cách nhìn khác nhau ở các tài liệu trang web khác nhau…
Từ những vấn đề trên có thể thấy rõ với mỗi sinh viên kỹ năng tự học là quan trọng, cần thiết không những khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi hành nghề sau này Tuy nhiên, để việc tự học của sinh viên đạt hiệu quả cao thì một mặt quan trọng là từ mỗi giảng viên những người đảm nhận vai trò truyền đạt kiến thức, phương pháp, kinh nghiệm cho sinh viên Mặt khác, bản thân mỗi sinh viên cần phải giải quyết tốt các mối quan hệ sau: đảm bảo thời gian tự học tương xứng với