Mục đích nghiên cứu đề tài Thứ nhất, phân tích những hoạt động của công ty công nghệ tài chính, công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng và những quy định của ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
TĂNG BẢO CHÂU
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TĂNG BẢO CHÂU
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN THỊ HOÀI THU
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hoài Thu, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
Tác giả
TĂNG BẢO CHÂU
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Banked Những người tiếp cận hoàn toàn các dịch vụ tài
chính
HKMA Cơ quan quản lý tiền tệ Hong Kong
IA Cơ quan quản lý bảo hiểm Hong Kong
LDN 2014 Luật doanh nghiệp (Luật số 68/2014/QH13) ngày
vụ trung gian thanh toán
TT 39 Thông tư số 39/2014/TT-NHNN của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 11/12/2014
Trang 5hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán
TT 47 Thông tư số 47/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương
ngày 05/12/2014 quy định về quản lý website thương
mại điện tử Unbanked Những người không có tài khoản ngân hàng
Underbanked Những người có tài khoản ngân hàng nhưng tiếp cận
hạn chế các dịch vụ tín dụng, đầu tư, bảo hiểm
VB 10
Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 22/02/2019 hợp nhất nghị định
về thanh toán không dùng tiền mặt
VB 47 Văn bản hợp nhất số 47/VBHN-NHNN của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam ngày 09/12/2019 hợp nhất thông tư hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH 5
1.1 Khái niệm công ty công nghệ tài chính 5
1.2 Hoạt động của các công ty công nghệ tài chính 6
1.3 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính 9
1.3.1 Đặc điểm chung của công ty công nghệ tài chính 9
1.3.2 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán 12
1.3.3 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính gọi vốn cộng đồng 16
1.4 Nhu cầu xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh công ty công nghệ tài chính 18
1.4.1 Tác động của công ty công nghệ tài chính đến nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng 18
1.4.2 Tiềm năng và thực trạng thị trường công nghệ tài chính 21
1.1.3 Đặc thù trong hoạt động của công ty công nghệ tài chính 24
1.5 Kinh nghiệm xây dựng khung điều chỉnh pháp lý thử nghiệm cho Việt Nam 25 CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRUNG GIAN THANH TOÁN VÀ GỌI VỐN CỘNG ĐỒNG, KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GỌI VỐN CỘNG ĐỒNG 29
2.1 Pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán của công ty công nghệ tài chính 29
2.1.1 Điều kiện cung ứng và duy trì dịch vụ trung gian thanh toán 30
2.1.2 Các dịch vụ trung gian thanh toán được phép cung ứng 35
2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của công ty công nghệ tài chính khi tham gia vào hoạt động trung gian thanh toán 36
2.1.4 Xử lý vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán37 2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính và kiến nghị 37
Trang 72.2.1 Thực trạng pháp luật về hoạt động gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính 37 2.2.2 Kiến nghị 41
KẾT LUẬN 44
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tại Việt Nam, công nghệ tài chính hiện đang là đề tài thu hút sự quan tâm của giới tài chính nói chung, cũng như các nhà quản lý cộng, đồng khởi nghiệp nói riêng Công nghệ tài chính dường như cũng là chủ đề được quan tâm nhiều nhất trong các hội thảo về tài chính cũng như các xu hướng khởi nghiệp Trong xu thế công nghệ bùng nổ như hiện nay, những ứng dụng công nghệ vào một lĩnh vực có thể xóa sổ cả một ngành dịch vụ truyền thống Một ví dụ quen thuộc là sự cạnh tranh khốc liệt của các các ứng dụng công nghệ đặt xe như Grab đang khiến cho hàng loạt công ty dịch vụ taxi truyền thống đứng bên bờ vực phá sản Điều này càng dấy lên sự quan tâm của cộng đồng khi mà các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính đang ngày càng đa dạng, sự thâm nhập xã hội của các sản phẩm, dịch vụ này ngày càng lớn Những sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính đang hiện hữu ngay trong những hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân Từ dịch vụ thanh toán bằng các ví điện tử nhanh chóng, an toàn chỉ bằng vài lần chạm cho đến những trang web so sánh sản phẩm tài chính cung cấp thông tin giúp người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm tài chính phù hợp Vậy, công ty công nghệ tài chính là gì? Nó tác động như thế nào đến ngành tài chính? Pháp luật hiện hành điều chỉnh công ty công nghệ tài chính như thế nào? Để trả lời cho những câu hỏi này, một cái nhìn tổng quát về các công ty công nghệ tài chính là rất cần thiết
Thị trường công nghệ tài chính Việt Nam đang thu hút lượng vốn đầu tư khổng lồ từ các nhà đầu tư nước ngoài, quy mô của thị trường đang được mở rộng đáng kể so với những năm trước Tuy nhiên, hành lang pháp lý điều chỉnh các công
ty công nghệ tài chính vẫn còn hạn chế, chưa điều chỉnh nhiều sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính Thiếu rào cản pháp lý đang là rào cản cho các công ty công nghệ tài chính thu hút vốn đầu tư cũng như không dám ứng dụng công nghệ để phát triển các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính mới và đưa chúng đến tay người tiêu dùng Vì vậy, vấn đề hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh các công ty công nghệ tài chính
Từ những lý do trên, tác giả nhận thấy cần nghiên cứu, phân tích các đặc điểm của công ty công nghệ tài chính để đưa ra một cái nhìn tổng quát Bên cạnh
đó, việc nghiên cứu, lý giải các quy định của pháp luật hiện hành về hai lĩnh vực đang tập trung nhiều công ty công nghệ tài chính nhất của Việt Nam là trung gian
Trang 9thanh toán và gọi vốn cộng đồng (bao gồm cho vay ngang hàng) để có một cái nhìn sâu sắc hơn để có một cái nhìn sâu sắc hơn là điều cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Có tương đối các tài liệu
nghiên cứu nước ngoài về các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính nhưng các tài liệu đánh giá những đặc điểm, đặc thù của công ty công nghệ tài chính thì không nhiều:
Bài nghiên cứu “Defining a EU-framework for financial technology (fintech): economic perspectives and regulatory challenge” của hai tác giả Cemal Karakas and Carla Stamegna đăng trên tạp chí Law And Economic Review đưa ra khái niệm về công nghệ tài chính và phân tích tác động của công nghệ tài chính từ những khía cạnh về kinh tế và đưa ra những thách thức về mặt xây dựng khung pháp lý điều chỉnh công nghệ tài chính ở Liên minh Châu Âu
Bài nghiên cứu “Crowdfunding: An Industry Growing Fast” của hai tác giả Eleanor Kirby and Shane Worner (2014) đưa ra một cái nhìn tổng quát về các hình thức gọi vốn cộng đồng, sau đó đi sâu phân tích các mô hình của hai loại hình gọi vốn cộng đồng là cho vay ngang hàng và gọi vốn cộng đồng lấy cổ phần Hai tác giả cũng đưa ra những lợi ích, rủi ro, xu hướng pháp luật điều chỉnh hoạt động của hai loại hình gọi vốn cộng đồng này trên thế giới
Báo cáo “Fintech in Asean: From Start-up to Scale-up” của UOB, PWC and SFA năm 2019, đã cho thấy sự phát triển của thị trường công nghệ tài chính ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng
Báo cáo “e-Conomy SEA 2019” của Google, TEMASEK và BAIN&COMPANY tổng hợp những bước phát triển của thị trường công nghệ tài chính Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Báo cáo này phân tích những lợi thế về điều kiện phát triển tài chính toàn diện ở các quốc gia Đông Nam Á, cũng như những ưu thế của mỗi nhà cung cấp trên thị trường tài chính những năm tới
Thứ hai, tình hình nghiên cứu trong nước: Cũng tương tự như tình hình
nghiên cứu trên thế giới, hầu như không có nghiên cứu về những đặc điểm, đặc thù của công ty công nghệ tài chính để xác định công ty công nghệ tài chính là gì Các tài liệu về trung gian thanh toán thường là một bộ phận của thanh toán không dùng tiền mặt, và cũng chỉ dừng lại ở mức nêu quy định mà không đưa ra những đặc trưng của hoạt động trung gian thanh toán, cũng như không phân tích, lý giải các quy định này:
Trang 10Bài nghiên cứu “Hệ sinh thái công ty công nghệ tài chính ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Trung Anh phân tích, đánh giá sự phát triển của hệ sinh thái công nghệ tài chính ở Việt Nam
Bài nghiên cứu “Fintech - Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của ngành tài chính ngân hàng” của tác giả Nghiêm Thanh Sơn đưa ra những cơ hội và thách thức đối với ngành ngân hàng, tác giả đánh giá sự phát triển của thị trường công nghệ tài chính, định hướng giải pháp điều chỉnh công nghệ tài chính bằng khung pháp lý thử nghiệm
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, phân tích những hoạt động của công ty công nghệ tài chính, công
ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng và những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động của cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán của công ty công nghệ tài chính để đưa ra những đặc điểm của các đối tượng này
Thứ hai, phân tích những tác động của công ty công nghệ tài chính, tiềm
năng thị trường công nghệ tài chính và đặc thù trong hoạt động của công ty công nghệ tài chính để khẳng định nhu cầu xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh các công ty công nghệ tài chính và đưa ra một số kinh nghiệm xây dựng giải pháp điều chỉnh công ty công nghệ tài chính bằng khung pháp lý thử nghiệm
Thứ ba, phân tích, lý giải những quy định hiện hành về hoạt động cung ứng
dịch vụ trung gian thanh toán của công ty công nghệ tài chính để có một cái nhìn sâu sắc hơn về đối tượng này Và phân tích những quy định hiện hành về hoạt động vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính, kết hợp với những đặc điểm nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị xây dựng quy định điều chỉnh
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài 4.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, hoạt động của các công ty công nghệ tài chính, hoạt động vận
hành nền tảng gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính trên thực tế
Thứ hai, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về hoạt động cung
ứng dịch vụ trung gian thanh toán và hoạt động vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trang 11Thứ nhất, về pháp luật Việt Nam: Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung
vào các quy định về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trong LDN 2014; hoạt động ngân hàng trong Luật CTCTD 2010 (sđ, bs 2017); các quy định về trung gian thanh toán trong Luật NHNNVN, nghị định của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt và các quy định hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán Ngân hàng Nhà nước; các quy định về thương mại điện tử trong các Nghị định của Chính Phủ, các văn bản hướng dẫn của Bộ công thương; các quy định về môi giới thương mại trong Luật thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14/6/2005
Thứ hai, về pháp luật nước ngoài: Phạm vi nghiên cứu là các quy định về
khung điều chỉnh pháp lý thử nghiệm của các quốc gia Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Hong Kong theo trên báo cáo tổng hợp của Baker&Mckenzie
về hướng dẫn xây dựng khung pháp lý thử nghiệm
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Khoá này được nghiên cứu theo các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, quy nạp và diễn dịch được thể hiện xuyên suốt qua các chương:
Chương 1: Tác giả đưa ra các đặc điểm của công ty công nghệ tài chính, công
ty công nghệ tài chính hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng sau đó phân tích, diễn giải những đặc điểm đó Tiếp đến, tác giả phân tích, diễn giải các tác động, thực trạng thị trường, đặc thù hoạt động của công ty công nghệ tài chính sau đó tổng hợp đặt ra vấn đề xây dựng khung pháp lý điều chỉnh công ty công nghệ tài chính Cuối cùng, tác giả đưa ra các kinh nghiệm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm rồi diễn giải những kinh nghiệm đó
Chương 2: Tác giả phân tích các quy định về trung gian thanh toán; phân tích các quy định có thể liên quan đến hoạt động gọi vốn cộng đồng để tổng hợp rút ra kết luận
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Khóa luận bao gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát về công ty công nghệ tài chính
Chương 2: Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thanh toán và hoạt động gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính, kiến nghị đối với hoạt động gọi vốn cộng đồng
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm công ty công nghệ tài chính
Công ty công nghệ tài chính là thuật ngữ được dịch ra từ tiếng Anh Trong tiếng Anh, có nhiều thuật ngữ tương ứng, trong đó phổ biến là “công ty công nghệ tài chính” hoặc “công ty công nghệ tài chính firm”
Thuật ngữ công ty công nghệ tài chính được sử dụng rất phổ biến nhưng chưa được định nghĩa trong bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào Điều này có thể lý giải bởi thành tố “công nghệ tài chính” cũng chưa được định nghĩa một cách chính thống
Theo Hội đồng vì sự ổn định tài chính (FSB), “công ty công nghệ tài chính là các công ty có mô hình kinh doanh tập trung vào công nghệ tài chính”1 Trong đó,
“công nghệ tài chính là các sáng tạo trong lĩnh vực tài chính dựa trên nền tảng công nghệ có thể tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình hay các sản phẩm mới có ảnh hưởng cụ thể đến việc cung cấp các dịch vụ tài chính”2
Theo Price Water House, thuật ngữ công ty công nghệ tài chính thường ám chỉ các công ty khởi nghiệp, công ty công nghệ, hay thậm chí là các nhà cung cấp nền tảng công nghệ3
Về định nghĩa công ty công nghệ tài chính, hai tác giả Cemal Karakas Carla Stamegna cho rằng thuật ngữ công ty công nghệ tài chính đề cập đến các công ty sử dụng hệ thống nền tảng công nghệ để cung cấp các dịch vụ tài chính và các sản phẩm một cách trực tiếp hoặc làm cho hệ thống tài chính hiệu quả hơn4
Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về công ty công nghệ tài chính Nhìn chung các khái niệm này đều đề cập đến các công ty không phải là các tổ chức tín
1
FSB (2019), Fintech and market structure in financial services: Market developments and potential
https://www.fsb.org/wp-content/uploads/P140219.pdf
2
FSB (2017), Financial Stability Implications from fintech: Supervisory and Regulatory Issues that Merit
Authorities’ Attention, 27 June 2017, page No.7, https://www.fsb.org/wp-content/uploads/R270617.pdf
3
PWC (2016), Q&A What is Fintech, April 2016, page No 1,
https://www.pwc.com/us/en/financial-services/publications/viewpoints/assets/pwc-fsi-what-is-công ty công nghệ tài chính.pdf
4
Cemal Karakas and Carla Stamegna (2018), “Defining a EU-framework for financial technology (fintech):
economic perspectives and regulatory challenge”, Law And Economic Review, Volume 7 - Part 1 - 2018,
page No.106 and page No 107,
http://www.laweconomicsyearlyreview.org.uk/Law_and_Economics_Yearly_Review_LEYR_Journal_vol_7 _part_1_2018.pdf
Trang 13dụng truyền thống ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực tài chính để cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tài chính một cách hiệu quả hơn
Công ty công nghệ tài chính là một khái niệm rất rộng, công ty công nghệ tài chính cung cấp các sản phẩm như gọi vốn cộng đồng (crowdfunding), ví điện tử (e-wallet), xếp hạng và đánh giá tín dụng (credit score), tiền tệ số (cryptocurrency), công nghệ bảo hiểm (insurtech), …Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu hai hoạt động là cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính
1.2 Hoạt động của các công ty công nghệ tài chính
Hoạt động của các công ty công nghệ tài chính gắn liền hoạt động cung ứng các sản phẩm công nghệ tài chính Các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính do công ty công nghệ tài chính cung cấp5:
Thứ nhất, lĩnh vực giải pháp thanh toán (payment solutions):
Ví điện tử (e-wallet): Là một loại tài khoản điện tử liên kết với tài khoản ngân hàng được sử dụng để thanh toán các giao dịch trực tuyến, gửi tiền và nhận tiền từ các ví điện tử khác Các tiện ích của ví điện tử khá giống với thẻ ghi nợ (debit card), thẻ tín dụng (credit card) như: thanh toán, chuyển tiền, nhận tiền
POS/mPOS (Point of sale, mobile Point of sale) là các thiết bị, máy chấp nhận thẻ tại điểm bán hàng cho phép khách hàng thanh toán bằng thẻ ngân hàng một cách đơn giản, nhanh chóng
QR code (Quick Response code) là loại mã vạch hai chiều được sử dụng để lưu trữ một địa chỉ web (URL) hoặc thông tin về một sản phẩm có thể đọc được bằng máy quét mã hoặc máy ảnh của điện thoại thông minh
Thứ hai, lĩnh vực cho vay và huy động vốn (Lending and fundraising):
Gọi vốn cộng đồng: Là việc sử dụng những khoản tiền nhỏ thu được từ một
số lượng lớn các cá nhân, tổ chức để tài trợ cho một dự án, cho vay kinh doanh/ cá nhân, hoặc các nhu cầu tài chính khác thông qua một nền tảng dựa trên web trực tuyến6
Trang 14Cho vay ngang hàng (Peer to peer lending): Là một phương thức tài trợ cho phép nhà đầu tư trực tiếp liên lạc, thỏa thuận cho vay với bên đi vay thông qua sự kết nối của công ty vận hành nền tảng gọi vốn mà không cần sự tham gia của một tổ chức tài chính làm trung gian Cho vay ngang hàng cũng là một hình thức gọi vốn cộng đồng Trong đó, công ty vận hành nền tảng cho vay ngang hàng đóng vai trò trung gian kết nối bên vay và bên cho vay, đồng thời kiêm luôn nhiệm vụ chấm điểm tín dụng của bên vay
Thứ ba, lĩnh vực công nghệ chuỗi khối và tiền mã hoá:
Công nghệ chuỗi khối (Blockchain): Công nghệ chuỗi khối được hiểu như một cuốn sổ cái kế toán công cộng được số hoá lưu trữ các thông tin giao dịch vào các khối thông tin (block) liên kết với nhau bằng mã hoá7 tạo thành một chuỗi (chain) Chính vì các khối thông tin này liên kết với nhau nên khi muốn thay đổi thông tin trong một khối thông tin thì phải thay đổi thông tin trong toàn bộ các khối thông tin còn lại đồng nghĩa với việc tất cả các thành viên trong mạng phải đồng thuận thay đổi thông tin trong các khối đó Điều này hầu như là không thể cho nên khi một khối thông tin được thêm vào mạng nó không thể sửa đổi, bị làm giả hay gian lận Thực chất các khối thông tin này có thể lưu trữ mọi loại dữ liệu chứ không chỉ các giao dịch tài chính, chính vì vậy mà công nghệ chuỗi khối đang được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực chứ không chỉ lĩnh vực tài chính Ứng dụng đầu tiên của công nghệ chuỗi khối là tiền mã hoá (Blockchain 1.0), tiếp theo đó là hợp đồng thông minh (Smart contract - Blockchain 2.0) cho phép thực hiện giao dịch tự động giữa các bên tham gia hợp đồng Với tính năng của công nghệ chuỗi khối, việc ứng dụng công nghệ này vào hoạt động ngân hàng cho phép lưu trữ và đảm bảo an toàn đối với dữ liệu của khách hàng, chống gian lận, các ngân hàng sẽ không cần đến số lượng lớn nhân sự để vận hành hoạt động của mình, giảm được chi phí cố định
Tiền mã hoá (Cryptocurrency): Tiền mã hoá được tạo ra bằng các thuật toán phức tạp trên nền tảng phần mềm mã nguồn mở Những tính chất đặc trưng của tiền
mã hoá là: (i) Tính kỹ thuật số: Tiền mã hóa chỉ tồn tại trên máy tính, không có các đồng xu (coins) hay giấy ghi nợ (notes) nào (ii) Phi tập trung: Tiền mã hoá được phân bố trên một mạng lưới phi tập trung, mạng lưới với (thường là) hàng ngàn máy tính mà không có máy chủ trung tâm, điều này đồng nghĩa với việc không một chủ thể nào có quyền kiểm soát tiền mã hoá Điều này lý giải tại sao tiền mã hoá không
7
Mã hoá của một khối thông tin bao gồm cả địa chỉ của khối thông tin đó và các khối thông tin trước đó
“Blockchain là gì? Các ứng dụng liên quan đến blockchain”, gi/#blockchain-la-gi, truy cập 06/6/2020
Trang 15https://topdev.vn/blog/blockchain-la-chịu sự quản lý của bất kỳ ngân hàng trung ương nào (iii) Tính ngang hàng: Tính ngang hàng ở đây dùng để miêu tả mối quan hệ giữa những người sử dụng một loại tiền mã hoá (các thành viên) Khi một giao dịch được gửi đến mạng của đồng tiền
mã hoá, mọi thành viên đều xử lý nó giống nhau8 Ngoài ra, tính ngang hàng còn có nghĩa là tiền mã hoá có thể được chuyển trực tuyến giữa các thành viên mà không cần đến cột bên thứ ba đáng tin cậy như ngân hàng (iv) Tính ẩn danh: Người dùng không cần phải cung cấp thông tin cá nhân để sở hữu hay sử dụng tiền mã hoá (v) Được mã hoá: Mỗi người dùng có các mã đặc biệt ngăn chặn thông tin của họ bị người dùng khác truy cập được gọi là mật mã (crypto) và nó gần như không thể hack được (vi) Tính toàn cầu: Khác với tiền pháp định, tiền mã hoá có thể được chuyển đi khắp toàn cầu với thời gian nhanh chóng và chi phí thấp, nó là tiền tệ không biên giới9 Hiện này, có hơn 5500 loại tiền mã hoá đang được giao dịch trên các sàn giao dịch tiền mã hoá Trong đó, Bitcoin là đồng tiền mã hoá đầu tiên và vẫn giữ vị trí thống trị thị trường tiền mã hoá với hơn 64% giá trị vốn hoá thị trường10 Các loại tiền mã hoá khác ra đời sau sự thành công của Bitcoin được gọi
là altcoin (Alternative coin), các loại tiền này thường thể hiện rằng chúng là sự thay thế tốt hơn cho bitcoin, nhiều altcoin tập trung vào những điểm bị coi là hạn chế của bitcoin và cho ra đời những phiên bản mới hơn với các lợi thế cạnh tranh11 Một số altcoin như Ethereum, Tether, XRP, Bitcoin Cash, Bitcoin SV, Litecoin,
Thứ tư, lĩnh vực dữ liệu và hạ tầng cơ sở:
Các trang web so sánh (comparison sites): Các trang web này cung cấp những thông tin về các dịch vụ tài chính như so sánh về giá cả, tính chất, xếp hạng chất lượng, Những thông tin này góp phần giúp khách hàng đưa ra quyết định phù hợp với khả năng cũng như nhu cầu tài chính của mình
Ứng dụng dữ liệu lớn (Big data): Dữ liệu lớn có được từ việc thu thập thông tin khách hàng thông qua các lần truy cập trang web, nó cho phép phân tích những
sở thích, yêu cầu của người dùng từ đó đưa ra những gợi ý sản phẩm phù hợp với khách hàng từ đó cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng
API (Application Programming Interface): API được tạm dịch là giao diện lập trình ứng dụng, “giao diện” ở đây là cách mà các phần mềm (ứng dụng, hệ điều
Trang 16hành, ) giao tiếp với nhau và tận dụng năng lực của nhau Các phần mềm cần tận dụng năng lực của nhau bởi môi trường điện toán cần nhiều phần mềm12, để tạo ra một trải nghiệm số chẳng hạn như ứng dụng di động ngân hàng số thì các phần mềm phải giao tiếp với nhau API cho phép các bên thứ ba giúp ngân hàng tạo nên các trải nghiệm số (các ứng dụng, các tính năng định danh, ) từ dữ liệu mà ngân hàng chia sẻ
Thứ năm, các lĩnh vực công nghệ tài chính khác: Lĩnh vực bảo hiểm với
công nghệ bảo hiểm (Insurance technology - Insurtech); lĩnh vực quản lý tài chính với quản lý tài sản (wealth management), quản lý tài chính cá nhân (personal finance);…
1.3 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính
1.3.1 Đặc điểm chung của công ty công nghệ tài chính
Thứ nhất, công ty công nghệ tài chính là doanh nghiệp Theo đó, công ty
công nghệ tài chính là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở, được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Tên của công ty công nghệ tài chính do người sáng lập quyết định và phải thoả mãn một số yêu cầu nhất định về đặt tên doanh nghiệp, cụ thể: Tên công ty công nghệ tài chính phải được viết bằng tiếng Việt và không thuộc các trường hợp
bị pháp luật cấm
+ Tên tiếng Việt của công ty công nghệ tài chính phải có hai thành tố: (i) Loại hình doanh nghiệp; (ii) Tên riêng Trong đó loại hình doanh nghiệp là một trong bốn loại hình doanh nghiệp, gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Tên riêng của công ty công nghệ tài chính chỉ cần được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ F, J,
Z, W, chữ số và ký hiệu mà không cần xác định có ý nghĩa hay không
+ Có ba trường hợp bị cấm trong đặt tên doanh nghiệp mà công ty công nghệ tài chính phải tuân thủ:
(i) Tên của công ty công nghệ tài chính không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên các doanh nghiệp khác Nếu tên của công ty công nghệ tài chính đăng ký trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký trước đó thì sẽ bị từ chối Ngược lại, một doanh nghiệp đăng ký tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của
12
“Giải ngố về API: Tại sao nói API có ý nghĩa sống còn với cả thế giới điện toán”, pha/giai-ngo-ve-api-vi-sao-noi-api-co-y-nghia-song-con-voi-ca-the-gioi-dien-toan-20160403144419703.chn, truy cập 06/6/2020
Trang 17https://genk.vn/kham-công ty https://genk.vn/kham-công nghệ tài chính đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh (bất kể có kinh doanh trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh hay không) thì doanh nghiệp đang đăng ký tên vi phạm đó sẽ bị từ chối Điều này đồng nghĩa với việc tên công ty công nghệ tài chính được bảo hộ một cách tự động Tức là cơ quan đăng ký kinh doanh đã rà soát vi phạm ngay từ thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp mà không cần doanh nghiệp bị vi phạm khiếu nại Cơ chế bảo hộ tên doanh nghiệp của pháp luật doanh nghiệp xuất phát từ mục đích bảo vệ những chủ thể chân chính, tránh hành vi trục lợi “ăn theo” tên các doanh nghiệp đã thành danh
(ii) Tên của công ty công nghệ tài chính không sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc Tiêu chí này được xác định theo hướng dẫn của Bộ văn hoá, thể thao và du lịch
(iii) Công ty công nghệ tài chính không được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị - xã hội,
Công ty công nghệ tài chính có tài sản Tài sản của công ty công nghệ tài chính được hình thành dựa trên ba nguồn:
+ Tài sản do các thành viên, cổ đông đầu tư vào doanh nghiệp (gọi chung là nhà đầu tư)
+ Tài sản do doanh nghiệp huy động
+ Tài sản do doanh nghiệp tạo lập nên trong quá trình hoạt động Tại thời điểm công ty công nghệ tài chính được thành lập, chỉ có một nguồn tài sản duy nhất
là từ các nhà đầu tư nên tài sản của công ty công nghệ tài chính vào thời điểm này chính là vốn điều lệ của công ty công nghệ tài chính
Công ty công nghệ tài chính có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh Trụ sở giao dịch là địa điểm liên lạc của công ty công nghệ tài chính trên lãnh thổ Việt Nam còn mục đích kinh doanh là mục đích tìm kiếm lợi nhuận hợp pháp13
Thứ hai, công ty công nghệ tài chính không phải là tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Trong đó, nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền nhàn rỗi từ các cá
13
Phạm Hoài Huấn (chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Lê, Đặng Quốc Chương, Trần Thanh Bình (2016), Luật
doanh nghiệp Việt Nam Tình huống - Dẫn giải - Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 12 - 25
Trang 18nhân, tổ chức Thực chất, đây là một hoạt động cho vay với chủ nợ là cá nhân, tổ chức gửi tiền còn tổ chức tín dụng nhận tiền gửi là bên vay Quan hệ cho vay này dẫn đến hệ quả là tổ chức tín dụng có quyền sở hữu tiền gửi bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tiền gửi Cấp tín dụng là việc sử dụng vốn huy động được
để cho các cá nhân, tổ chức vay Các đặc điểm của các hoạt động nhận tiền gửi và cấp tín dụng: (i) Tiền là đối tượng duy nhất của các giao dịch (ii) Người gửi tiền nhận được toàn bộ tiền gốc và tiền lãi phát sinh từ tiền gốc (iii) Tổ chức tín dụng có quyền quyết định việc sử dụng tiền của người gửi tiền (cho ai vay, cho vay với điều kiện gì,…) miễn là người gửi tiền nhận lại được cả tiền gốc và lãi phát sinh từ tiền gốc Cung ứng dịch vụ thanh toán là việc thực hiện ghi có và ghi nợ vào tài khoản thanh toán của khách hàng mở tại tổ chức tín dụng Các hoạt động của công ty công nghệ tài chính nêu trên không đáp ứng những đặc điểm của hoạt động ngân hàng, chúng không phải là hoạt động ngân hàng Do đó, công ty công nghệ tài chính không phải là tổ chức tín dụng
Trong xu thế công nghệ bùng nổ, tác động đến hầu như mọi ngóc ngách của đời sống Các tổ chức tín dụng cũng không ngừng nâng cao hoạt động của mình bằng ứng dụng công nghệ thông tin Các hoạt động của một tổ chức tín dụng gồm hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác Một tổ chức tín dụng có thể cung ứng sản phẩm công nghệ tài chính (ví dụ như ví điện tử) nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc nó là một công ty công nghệ tài chính Bởi hoạt động chính của một
tổ chức tín dụng là hoạt động ngân hàng, việc cung cấp sản phẩm công nghệ tài chính là “hoạt động khác”, mang tính phụ trợ Hoạt động cung cấp sản phẩm công nghệ tài chính của một tổ chức tín dụng đó được gọi là ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tài chính
Thứ ba, người dùng cuối mà hướng tới là các tổ chức tài chính truyền thống
và khách hàng
Nếu như ngành tài chính truyền thống chỉ có hai chủ thể là các tổ chức tài chính và khách hàng (các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ tài chính) thì nay có thêm một chủ thể khác tham gia là các công ty công nghệ tài chính Những dịch vụ
mà công ty công nghệ tài chính cung cấp hướng tới người dùng cuối là khách hàng
và các tổ chức tài chính Hai nhóm người dùng cuối mà công ty công nghệ tài chính hướng tới này làm hình thành hai nhóm công ty công nghệ tài chính:
+ Nhóm công ty công nghệ tài chính độc lập: Nhóm này gồm các công ty ứng dụng công nghệ tạo ra các dịch vụ tài chính mới, và cung cấp trực tiếp các dịch vụ
đó cho khách hàng Nhóm các công ty này cung cấp các dịch vụ ở hầu hết các lĩnh
Trang 19vực tài chính truyền thống như thanh toán, cho vay, huy động vốn, quản lý tài sản, huy động vốn, đánh giá tín dụng, bảo hiểm14
+ Nhóm các công ty công nghệ tài chính hỗ trợ công nghệ: Nhóm này gồm các công ty công nghệ tài chính đóng vai trò hỗ trợ công nghệ cho các tổ chức tài chính truyền thống Nhóm các công ty này tạo ra sự đổi mới cho các dịch vụ tài chính nhưng không cung cấp trực tiếp dịch vụ đó cho khách hàng mà thông qua định chế tài chính truyền thống Sự hợp tác này mang đến cho khách hàng những dịch vụ tài chính hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn
Thứ tư, công ty công nghệ tài chính cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghệ
tài chính tài chính: Dịch vụ công nghệ tài chính là đặc trưng của các công ty công nghệ tài chính Những dịch vụ công nghệ tài chính được nêu tại mục 1.2
1.3.2 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán
Thứ nhất, công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh
toán được thành lập theo một trong ba loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh
Một trong những điều kiện cung ứng và duy trì dịch vụ trung gian thanh toán
là vốn điều lệ tối thiểu (vốn pháp định) Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần Điều này có nghĩa là công
ty công nghệ tài chính được thành lập theo một trong ba loại hình doanh nghiệp có vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì mới có thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán
Công ty công nghệ tài chính phải được thành lập theo một trong ba loại hình doanh nghiệp trên mới có thể cung ứng dịch vụ trun gian thanh toán vì:
+ Cả ba loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh đều có tư cách pháp nhân Việc quy định doanh nghiệp có tư cách pháp nhân cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán sẽ loại bỏ những rủi ro liên quan đến nhân thân người bỏ vốn thành lập ra doanh nghiệp (chẳng hạn như cá nhân chết)
14
Fintechnews Vietnam (2019), “Fintech Vietnam Startup Map 2019”, fintech-startups/, truy cập 11/6/2019
Trang 20https://fintechnews.sg/vietnam-+ Bản thân trung gian thanh toán là một lĩnh vực “đòi hỏi trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp cao”15 Điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải đảm bảo khả năng trả nợ khi rủi ro xảy ra Trong khi đó, vốn điều lệ là một nguồn tài sản của công ty, vào thời điểm doanh nghiệp được thành lập vốn điều lệ chính là tài sản của công ty
“Bản chất của vốn điều lệ của công ty là yếu tố bảo đảm cho các bên thứ ba trong giao dịch với công ty Khi xảy ra rủi ro, công ty phải lấy tài sản của mình ra để trả nợ”16 Cho nên mục đích quy định doanh nghiệp có vốn điều lệ tối thiểu nhằm đáp ứng yêu cầu về khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân không thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán vì: + Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân Điều này đồng nghĩa với việc hoạt động của doanh nghiệp tư nhân gắn liền với nhân thân của chủ doanh nghiệp tư nhân Những biến cố gắn với cá nhân (chẳng hạn như cá nhân chết) thì không thể lường trước được Trong khi trung gian thanh toán là hoạt động có liên quan đến hoạt động ngân hàng, một ngành dịch vụ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia nên loại bỏ rủi ro ngay từ khi công ty trung gian thanh toán được thành lập bằng cách loại trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân là hợp lý
+ Tài sản của doanh nghiệp tư nhân không tách bạch với tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân không có vốn điều lệ chỉ có vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân Pháp luật rất khó để kiểm soát được tài chính của một cá nhân nên việc cho phép doanh nghiệp tư nhân cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán sẽ mang lại những rủi ro về khả năng trả nợ khi rủi ro xảy ra
Như vậy, một công ty công nghệ tài chính phải thành lập theo một trong ba hình doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì mới có thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán
Thứ hai, công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán
là doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện17
Hoạt động trung gian thanh toán chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước18
, một doanh nghiệp phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận thì mới có thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán
Trang 21Trung gian thanh toán không phải là một hoạt động ngân hàng nhưng vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng Điều này có thể lý giải bởi:
+ Một trong những nhóm quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng là các hoạt động liên quan đến hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng Hoạt động ngân hàng bao gồm: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản19
+ Trung gian thanh toán là hoạt động làm trung gian kết nối, truyền dẫn và xử
lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
và người sử dụng dịch vụ thanh toán20
Hay nói cách khác trung gian thanh toán chính đóng vai trò hỗ trợ cho dịch vụ thanh toán, dịch vụ thanh toán ở đây bao gồm dịch vụ thanh toán qua tài khoản - một hoạt động ngân hàng Như vậy, trung gian thanh toán là một hoạt động có có liên quan đến hoạt động ngân hàng Điều đó đồng nghĩa với việc hoạt động trung gian thanh toán thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật ngân hàng
Bên cạnh đó, cũng xuất phát từ vai trò hỗ trợ cho dịch vụ thanh toán, hoạt động trung gian thanh toán có khả năng ảnh hưởng đến an ninh tiền tệ quốc gia, trật
tự hoạt động ngân hàng và lợi ích của khách hàng Điều này lý giải tại sao các chủ thể phải đáp ứng những điều kiện nhất định khi thực hiện hoạt động này
Những điều kiện mà một công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phải đáp ứng như vốn pháp định, nhân sự, hạ tầng cơ sở,
Không phải doanh nghiệp nào đăng ký cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán đều được chấp thuận mà tùy từng trường hợp cụ thể (case by case), Ngân hàng Nhà nước xét cấp Giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán hay không Tính đến ngày 05/5/2020, trong tổng số khoảng 150 công ty công nghệ tài chính hoạt động ở Việt Nam có 34 tổ chức không phải là Ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước đã cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán
Thứ ba, công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán
có thể cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ trung gian thanh toán
Dịch vụ trung gian thanh toán được chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất là dịch vụ cung ứng hạ tầng thanh toán điện tử, gồm: Dịch vụ chuyển mạch tài chính; Dịch vụ bù trừ điện tử; và Dịch vụ cổng thanh toán điện tử Nhóm thứ hai là Dịch
Trang 22vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán, gồm: Dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ; Dịch vụ hỗ trợ chuyển tiền điện tử; Dịch vụ ví điện tử21 Dịch vụ thanh toán không được định nghĩa nhưng được liệt kê như sau: (i) Dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng gồm: cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ; các dịch vụ thanh toán khác (ii) Dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng gồm: Dịch vụ chuyển tiền, thu hộ, chi hộ
Công ty công nghệ tài chính có thể đăng ký một hoặc nhiều dịch vụ trung gian thanh toán trong các dịch vụ trong các dịch vụ nêu trên Tuy nhiên, như đã nêu trên việc cấp Giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với phạm vi cung ứng dịch vụ trung gian như thế nào sẽ do Ngân hàng nhà nước xét duyệt
Phạm vi cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán của công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán rộng hơn so với nhóm tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán là ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Cụ thể, công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán có thể cung ứng nhiều dịch vụ trung gian thanh toán thì ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được cung cấp duy nhất một dịch vụ trung gian thanh toán là dịch vụ ví điện tử22 Điều này cho thấy sự chuyên môn hoá trong quá trình cung ứng dịch vụ thanh toán: Công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán có hoạt động chủ yếu là cung cấp dịch vụ trung gian thanh toán còn Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp dịch vụ thanh toán
là chính Sự chuyên môn hoá này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quy trình thanh toán
Trong ba loại hình ngân hàng: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã những chỉ
có ngân hàng thương mại có thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán vì tính chất và mục tiêu hoạt động của các loại hình ngân hàng này Theo đó, ngân hàng thương mại hoạt động vì mục đích lợi nhuận, ngân hàng chính sách hoạt động vì mục tiêu thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước còn ngân hàng hợp tác xã hoạt động vì mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân
Trang 231.3.3 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính gọi vốn cộng đồng
Ngoài đặc điểm chung của các hoạt động gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính, mục này còn đề cập đến mô hình kinh doanh của công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng
Gọi vốn cộng đồng có 4 hình thức cơ bản23:
+ Gọi vốn cộng đồng quyên góp (Donation-based crowdfunding)24: Nhà tài trợ quyên góp tiền cho dự án hoặc người thụ hưởng mà không nhất thiết nhận lại hàng hóa hay dịch vụ Hình thức gọi vốn này được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực phi lợi nhuận vì nhiều mục đích khác nhau (xã hội, môi trường, chính trị, từ thiện)
+ Gọi vốn cộng đồng nhận phần thưởng (Reward-based crowdfunding)25: nhà tài trợ đóng góp cho các chiến dịch để đổi lấy phần thưởng là hàng hóa hay dịch vụ vật chất hoặc phi vật chất (chữ ký của nghệ sĩ, đề cập tên của nhà tài trợ, áo phông, phiếu giảm giá sử dụng hàng hoá, dịch vụ của chính dự án gọi vốn,…) tương ứng với mỗi cấp độ đóng góp;
+ Cho vay ngang hàng (Peer-to-peer Lending)26: nhà đầu tư trực tiếp liên lạc, thỏa thuận cho vay với bên đi vay thông qua sự kết nối của công ty vận hành nền tảng gọi vốn;
+ Gọi vốn cộng đồng lấy cổ phần (Equity-based crowdfunding)27: nhà đầu tư đầu tư một khoản tiền vào một doanh nghiệp mới để đổi lấy cổ phần/ phần vốn góp của doanh nghiệp đó, giống như mua cổ phần/ phần vốn góp
Có thể rút ra đặc điểm của hoạt động gọi vốn cộng đồng như sau:
+ Đối tượng của giao dịch là tiền, hàng hoá, dịch vụ
+ Nhà đầu tư tự đánh giá và quyết định đầu tư cho các cá nhân/ công ty khởi nghiệp/ dự án cụ thể, nhà đầu tư quản lý và kiểm soát cách sử dụng tiền của họ Các công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng chỉ là bên thứ ba cung cấp nền tảng để kết nối giữa các nhà đầu tư và khởi nghiệp
Tính đến tháng 5 năm 2019, Việt Nam có sáu nền tảng gọi vốn cộng đồng nhận phần thưởng: Firstep, Fundme.vn, Fundstart, Comicola, Betado, Funding.vn
Nguyễn Trung Anh (2019), tlđd (23).
Trang 24Mô hình kinh doanh của công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng: Cho vay ngang hàng được sử dụng để cho vay với nhiều mục đích khác nhau từ tiêu dùng cá nhân cho đến cho vay kinh doanh Mô hình kinh doanh của công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng rất đa dạng, tùy thuộc vào hệ thống các quy định điều chỉnh hoạt động này cũng như các nguyên tắc hoạt động của chính nền tảng cho vay ngang hàng Các công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng hoạt động theo các mô hình kinh doanh chính sau:
+ Mô hình tài khoản khách hàng tách riêng (Client segregated account model): Bên vay cá nhân sẽ được kết hợp với bên vay cá nhân thông qua nền tảng cho vay ngang hàng, một hợp đồng vay sẽ được giao kết bởi bên vay Công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng không phải là một bên của hợp đồng vay này Bên cho vay có thể cho vay một phần hoặc toàn bộ khoản vay Toàn bộ tiền từ bên vay và bên cho vay được tách biệt khỏi bảng cân đối kế toán của công ty vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng và được giữ ở một tài khoản khách hàng tách riêng hợp pháp28 Công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng sẽ thu phí từ một hoặc cả hai bên cho vay và bên vay Đối với bên cho vay, các phí này có thể là phí quản lý, phí đánh giá khả năng trả nợ của bên vay, Đối với bên vay, các phí này có thể là phí khởi tạo, phí quản lý
+ Mô hình công chứng (Notary model): Mô hình này cũng tương tự như các
mô hình cho vay ngang hàng khác, trong đó công ty vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng đóng vai trò kết nối bên vay và bên cho vay, bên cho vay lựa chọn cho vay một phần hoặc toàn bộ khoản vay Nhưng khác biệt là mô hình này ngoài bên cho vay và bên vay còn có sự tham gia của ngân hàng Trong đó, ngân hàng sẽ cho bên vay vay sau đó chính ngân hàng sẽ khởi tạo khoản vay trên nền tảng cho vay ngang hàng Công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng sẽ phát hành cho bên cho vay một phiếu ghi chú (được gọi là công chứng, phiếu ghi chú này thay cho hợp đồng vay) ghi nhận số tiền mà bên cho vay đầu tư29 Theo đó, rủi ro không hoàn trả khoản vay sẽ chuyển sang bên cho vay mà không phải là ngân hàng Các loại phí của mô hình cho vay ngang hàng này giống với phí của mô hình tài khoản khách hàng tách riêng
28
Tài khoản khách hàng tách riêng là tài khoản dùng để giữ tiền của khách hàng (bên cho vay và bên vay) tách biệt với tiền của công ty Công ty sẽ mở hai tài khoản ngân hàng, một tài khoản giữ tiền của công ty và một tài khoản giữ tiền của khách hàng Tài khoản tách riêng này sẽ bảo vệ khách hàng trước các rủi ro từ công ty vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng như sập nền tảng cho vay ngang hàng hay công ty sử dụng tiền của khách hàng vào hoạt động kinh doanh của công ty,
29
Pháp luật của nhiều nước xem đây là một loại chứng khoán
Trang 25+ Mô hình đảm bảo hoàn trả (“Guaranteed” return model)30: Mô hình này cho phép bên cho vay đầu tư vào các khoản vay ngang hàng thông qua nền tảng cho vay ngang hàng với một tỷ lệ hoàn vốn đầu tư được đảm bảo bởi công ty vận hành nền tảng cho vay ngang hàng Một biến thể của mô hình này là mô hình cho vay đảm bảo hoàn trả ngoại tuyến (Offline Guaranteed Return Model) Khía cạnh ngoại tuyến ở đây đề cập đến việc nhân sự của công ty cho vay ngang hàng mời chào và đánh giá khả năng trả nợ của người vay trực tiếp (face to face) Mô hình này rất phổ biến ở Trung Quốc cho đến khi lệnh cấm mô hình này được ban hành gần đây31
Cho vay ngang hàng là hình thức gọi vốn cộng đồng phát triển nhất trong các hình thức gọi vốn cộng đồng ở Việt Nam với khoảng 40 công ty đang hoạt động32
Mô hình cho vay ngang hàng của Việt Nam hiện nay có những điểm tương đồng cũng như những điểm riêng: Công ty cho vay ngang hàng đóng vai trò là bên trung gian kết nối bên cho vay và bên vay, bên vay có thể lựa chọn mức cho vay - toàn bộ hay một phần của khoản vay Bên vay và bên cho vay tự thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng vay, công ty cho vay ngang hàng không phải là một bên của hợp đồng cho vay và cũng không giữ bất kỳ khoản tiền nào của bên cho vay và bên vay Một
số công ty cho vay ngang hàng tính phí đối với bên cho vay, bên vay một số khác thì không
1.4 Nhu cầu xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh công ty công nghệ tài chính
1.4.1 Tác động của công ty công nghệ tài chính đến nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng
Như đã đề cập trên, thị trường tài chính thay vì chỉ có hai chủ thể là các tổ chức tài chính và khách hàng thì nay có thêm sự tham gia của các công ty công nghệ tài chính Công ty công nghệ tài chính mang lại những tác động tích cực và hàm chứa cả những rủi ro cho nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng
1.1.1.1 Những tác động tích cực
30
Công ty cho vay ngang hàng trong trường hợp này đóng vai trò như một bên bảo lãnh cho bên vay, phạm
vi bảo lãnh chỉ là một phần của khoản vay, khi bên vay không thể
Trang 26Thứ nhất, các dịch vụ công nghệ tài chính thúc đẩy xu hướng đầu tư thay vì
tiết kiệm và nâng cao hiệu quả đầu tư của khách hàng33
Sự phong phú các loại sản phẩm công nghệ tài chính, sự đa dạng trong lựa chọn mức vốn đầu tư kích thích nhu cầu đầu tư sinh lời thay vì tiết kiệm của khách hàng Nguồn vốn nhàn rỗi của khách hàng dù lớn hay nhỏ vẫn có thể đem đầu tư, điều này tận dụng tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, góp phần sử dụng đồng tiền hiệu quả hơn, tạo ra nhiều giá trị hơn34
Sự xuất hiện của các sản phẩm công nghệ tài chính đơn giản, hiệu quả, tiết kiệm, nhanh chóng góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư Sự đa dạng trong lựa chọn kênh đầu tư sẽ góp phần giúp khách hàng phân tán rủi ro đầu tư Đồng thời các dịch vụ tư vấn đầu tư, các giải pháp so sánh thông tin sản phẩm tài chính, phân tích dữ liệu tài chính sẽ giúp cho khách hàng nâng cao hiểu biết về tài chính, có cái nhìn đa chiều, góp phần giúp khách hàng đưa ra những quyết định đầu
tư phù hợp35
Thứ hai, hoạt động của các công ty công nghệ tài chính đẩy nhanh quá trình
đạt được mục tiêu tài chính toàn diện36 Các dịch vụ công ty công nghệ tài chính được xây dựng và phát triển trên nền tảng công nghệ thông tin và dữ liệu mạnh mẽ không phụ thuộc vào các cơ sở phân phối vật lý như chi nhánh hay phòng giao dịch tạo nên lợi thế tiếp cận khách hàng không kể phạm vi địa lý Bất kể khách hàng sinh sống ở nông thôn hay thành thị, vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, giờ đây chỉ với chiếc điện thoại thông minh và kết nối internet, mọi khách hàng đều có thể sử dụng các dịch vụ tài chính hiệu quả, nhanh chóng Cũng chính bởi lợi thế công nghệ, công ty công nghệ tài chính cung cấp những dịch vụ tài chính với giá cả phải chăng phù hợp với túi tiền của người có thu nhập thấp
33
Phạm Văn Hiếu (2019), “Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính”, http://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-thi-truong-dich-vu-tai-chinh-viet- nam-314938.html, truy cập 05/6/2020
Trần Thị Hà (2019), “Tài chính toàn diện: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam”, https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/tttc/r/o/nctd/nctd_chitiet;jsessionid=GD2TlDCgozi1XhrUSI1KQ8 sWTCaJTTXYO_mE-V53x351TExJnKVp!-74503794!-
1162797817?dDocName=MOFUCM149088&dID=155484&_afrLoop=101700180073067827#!%40%40%3 FdID%3D155484%26_afrLoop%3D101700180073067827%26dDocName%3DMOFUCM149088%26_adf ctrl-state%3Da8jck5a09_4, truy cập 06/6/2020
Trang 27Thứ ba, sự tham gia của các công ty công nghệ tài chính vào thị trường dịch
vụ tài chính làm gia tăng cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính
Xu thế hợp tác giữa ngân hàng nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung với công ty công nghệ tài chính trở nên phổ biến nhưng cũng có rất nhiều trường hợp các công ty công nghệ tài chính cạnh tranh với các tổ chức tài chính truyền thống (các công ty cho vay ngang hàng là một ví dụ tiêu biểu) Sự cạnh tranh này đặt ra yêu cầu các tổ chức tài chính phải đổi mới, ứng dụng công nghệ để bắt kịp xu thế phát triển của thị trường, tăng tính hiệu quả của các dịch vụ tài chính, nâng cao trải nghiệm khách hàng Như đã nêu trên, có hai nhóm công ty công nghệ tài chính, trong đó các công ty công nghệ tài chính hỗ trợ công nghệ (back - office) sẽ hỗ trợ công nghệ cho các công ty công nghệ tài chính, sự hợp tác này góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các tổ chức tài chính truyền thống
Ví dụ như ngành ngân hàng, nếu như trước đây hệ thống ngân hàng bị giới hạn bởi hệ thống phân phối vật lý kém linh hoạt và không tập trung vào khách hàng thì đến nay việc ứng dụng các giải pháp công nghệ tài chính cho ra đời các ngân hàng kỹ thuật số trên cơ sở tối ưu hóa trải nghiệm của khách hàng, thuận tiện, phù hợp với điều kiện và nhu cầu của khách hàng37
1.1.1.2 Rủi ro
Thứ nhất, rủi ro an toàn thông tin mạng: Các sản phẩm của công ty công
nghệ tài chính được xây dựng trên cơ sở ứng dụng công nghệ, hoạt động trên môi trường mạng dẫn đến nguy cơ cao về việc bị tấn công mạng Trong xu thế hợp tác giữa công ty công nghệ tài chính và ngân hàng ngày càng phổ biến, tính liên kết giữa các bên tham gia sẽ ngày càng cao, việc chia sẻ dữ liệu giữa các bên là điều hiển nhiên, thông tin càng được chia sẻ thì mức độ rủi ro bảo mật càng cao kéo theo khả năng gây thiệt hại đến hệ thống ngân hàng gia tăng
Thứ hai, rủi ro bảo vệ dữ liệu riêng tư của khách hàng: Trong quá trình cung
cấp dịch vụ cho khách hàng, công ty công nghệ tài chính nắm giữ những thông tin
cá nhân của khách hàng gia tăng rủi ro không tuân thủ các quy định về dữ liệu riêng
tư của khách hàng
Thứ ba, rủi ro về gian lận, lừa đảo, rửa tiền hay các hành vi phạm tội khác:
Rủi ro này xuất phát từ tình trạng thiếu khung pháp lý điều chỉnh đối với phần lớn
37
Nghiêm Thanh Sơn (2019), “Fintech - Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của ngành tài chính ngân hàng”, http://tapchinganhang.gov.vn/fintech-co-hoi-va-thach-thuc-doi-voi-su-phat-trien-cua-he-thong-tai- chinh-ngan-hang.htm, truy cập 05/6/2020