Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù thể hiện chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta vừa thể hiện tính nhân văn, nhân đạo trong việc áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn, mong muố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MỸ TRANG
HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Hoàng Thị Tuệ Phương
Các số liệu, trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Trang
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ TRONG “TRƯỜNG HỢP BỊ BỆNH NẶNG” 6
1.1 Quy định pháp luật hình sự hiện hành 6
1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật 10
1.3 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
CHƯƠNG 2 HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ TRONG TRƯỜNG HỢP “PHỤ NỮ CÓ THAI HOẶC ĐANG NUÔI CON DƯỚI 36 THÁNG TUỔI” 22
2.1 Quy định pháp luật hình sự hiện hành 22
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật 26
2.3 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34
KẾT LUẬN 35 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS : Bộ luật hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra CSĐT : Cảnh sát điều tra TAND : Tòa án nhân dân THAHS : Thi hành án hình sự VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoãn chấp hành hình phạt tù là chế định quan trọng của Luật Hình sự Việt Nam Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù thể hiện chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta vừa thể hiện tính nhân văn, nhân đạo trong việc áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn, mong muốn bảo vệ quyền con người một cách tối đa, toàn diện nhất đối với người bị kết án cũng như đối với gia đình, người thân của họ khi họ có các điều kiện về nhân thân cần phải được chuyển thời điểm chấp hành hình phạt tù sang một thời điểm muộn hơn Tuy nhiên, thực tiễn
áp dụng các quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù của các cơ quan tiến hành
tố tụng đã gặp phải một số vướng mắc, hạn chế nhất định như: Áp dụng pháp luật không đồng bộ, thống nhất giữa các địa phương khác nhau; áp dụng không đúng các quy định của chế định này, vi phạm về nội dung, điều kiện, phạm vi áp dụng dẫn đến giảm hiệu quả trong công tác thi hành án hình sự; một số người bị kết án lợi dụng quy định để được hoãn chấp hành hình phạt tù nhiều lần Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên là do quy định pháp luật hiện hành về hoãn chấp hành hình phạt tù vẫn còn tồn tại một số bất cập Bên cạnh đó, nhiều vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật cần phải được làm sáng
tỏ để có quan điểm thống nhất, đầy đủ như: căn cứ áp dụng chế định hoãn chấp hành hình phạt tù; tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng chế định hoãn chấp hành hình phạt tù Tuy nhiên, nội dung hoãn chấp hành hình phạt tù vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện
Chính vì vậy, việc nghiên cứu hạn chế trong quy định pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù từ thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này là nhu cầu mang tính cấp thiết hiện nay Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài
“Hoãn chấp hành hình phạt tù theo luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận
văn thạc sĩ luật học theo định hướng ứng dụng
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, chế định hoãn thời hạn chấp hành hình phạt tù có quan hệ chặt chẽ mật thiết với chế
Trang 7định chấp hành hình phạt tù và một số chế định khác của luật tố tụng hình sự và luật thi hành án hình sự Vì vậy, chế định này ở các mức độ khác nhau đã được một số nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
- Hà Thanh Loan (2014), “Hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Phú Thọ)”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật đại học quốc gia Hà Nội Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu một số vấn
đề như sau:
+ Tác giả đã phân tích khái niệm, các đặc điểm cơ bản của chế định hoãn chấp hành hình phạt tù, mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức thi hành hoãn chấp hành hình phạt tù với các cơ quan khác trong tố tụng hình sự Tiếp đến, tác giả phân tích nội dung điều kiện, trình tự thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù, làm sáng tỏ bản chất pháp lý và nội dung cơ bản của chế định hoãn chấp hành hình phạt tù;
+ Trên cơ sở số liệu của địa bàn tỉnh Phú Thọ, tác giả đánh giá thực trạng
áp dụng biện pháp hoãn chấp hành hình phạt tù tại địa phương, nêu ra những hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật để từ đó nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp luật trong chế định này Đồng thời, tác giả phân tích những bất cập trong quy định pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục, điều kiện về cơ quan, tổ chức tiến hành thi hành hoãn chấp hành hình phạt tù nhằm đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù
- Lê Cảm (2005), Chương thứ tám – “Các biện pháp tha miễn trong luật hình sự”, Sách chuyên khảo sau đại học: “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung)”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Tại
Chương này, tác giả đã phân tích các vấn đề lý luận về các biện pháp miễn giảm trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, trong đó có biện pháp hoãn chấp hành hình phạt tù Cụ thể, tác giả đã đưa ra khái niệm, đặc điểm và điều kiện áp dụng biện pháp hoãn chấp hành tù theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999
Trang 8- Vũ Trọng Hách (2006), “Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự ở Việt Nam”, Nxb Tư pháp, Hà Nội Trong công trình này,
tác giả đã phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực thi hành án hình sự, trong đó có phân tích nội dung liên quan đến việc thi hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù Trên cơ sở phân tích những bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành án hình sự, tác giả tập trung phân tích nguyên nhân xuất phát từ yếu kém trong hoạt động quản lý nhà nước, từ đó tác giả đã đưa ra các kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự, trong đó có hoạt động quản lý công tác hoãn chấp hành
hình phạt tù
- Trịnh Tiến Việt (2013), “Tội phạm và trách nhiệm hình sự”, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích các vấn đề lý luận
về chế định tội phạm và việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, trong đó có phân tích về việc áp dụng chế định hoãn chấp hành hình phạt tù
khi đáp ứng điều kiện luật định
Ngoài ra, còn một số bài đăng của các tác giả khác trên các tạp, báo
chuyên ngành như: GS.TSKH Lê Cảm, "Khái niệm, các đặc điểm, phân loại và
bản chất pháp lý của các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam", tạp
chí Khoa học pháp lý, số 3/2001; Đỗ Văn Chỉnh và Phạm Thị Thanh Mai
(2011), "Việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo Luật thi hành án hình sự", Tòa
án nhân dân, (7)
Những công trình nghiên cứu của các tác giả về hoãn chấp hành hình phạt tù đã giải quyết được một phần nội dung tương ứng hoặc xem xét chế định này như khối kiến thức cơ bản của một chương, mục trong các nội dung lớn khác; tuy nhiên không nghiên cứu trên cơ sở đánh giá vướng mắc, bất cập từ thực tiễn áp dụng Như đã phân tích ở trên, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự về hoãn chấp hành hình phạt tù vẫn còn một số vướng mắc, hạn chế nhất định như những vi phạm về nội dung, điều kiện, phạm vi áp dụng trong thực tiễn dẫn đến giảm hiệu quả trong công tác thi hành án hình sự; một
số người bị kết án lợi dụng quy định để được hoãn chấp hành hình phạt tù
nhiều lần Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Hoãn chấp hành hình phạt tù theo
Trang 9luật hình sự Việt Nam” nhằm để khắc phục các hạn chế phát sinh từ thực tiễn
áp dụng pháp luật và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với việc áp dụng pháp luật hình sự hiện nay
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu quy định của
pháp luật và nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù, tác giả đánh giá thực trạng cũng như những vướng mắc, bất cập của
pháp luật hiện hành gồm: Căn cứ xác định tình trạng “bệnh nặng” đối với người
được hoãn chấp hành hình phạt tù chưa rõ ràng; việc đánh giá “sức khỏe được hồi phục” và cơ quan nào có trách nhiệm kết luận đánh giá cũng chưa được quy định cụ thể; người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi lợi dụng chính sách hoãn chấp hành hình phạt tù để liên tục trốn tránh việc chấp hành hình phạt tù dù họ phạm tội mới trong thời gian được tạm hoãn Từ
đó, tác giả đưa ra giải pháp hoàn thiện các quy định về hoãn chấp hành hình phạt
tù trong luật hình sự Việt Nam đồng thời đề xuất những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trong thực tiễn
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật và thực
tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù trong giai đoạn
từ năm 2012 đến nay trên phạm vi cả nước
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm, hình phạt và về phòng ngừa tội phạm
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự, cụ thể như sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng xuyên suốt trong Luận văn để thực hiện tất cả các nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 10+ Phương pháp nghiên cứu các vụ án điển hình để sử dụng phân tích thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù cũng như việc thi hành chế định này Đồng thời, đây là phương pháp được sử dụng để làm rõ những vướng mắc, hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật
Trang 11CHƯƠNG 1
HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ TRONG “TRƯỜNG HỢP BỊ BỆNH NẶNG”
1.1 Quy định pháp luật hình sự hiện hành
Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Toà án cho phép người bị kết án phạt
tù chuyển việc thi hành án sang thời điểm muộn hơn Hoãn chấp hành hình phạt
tù thực chất là việc cho phép người bị kết án tiếp tục sống và làm việc ngoài xã hội, chưa buộc họ phải vào trại giam chấp hành hình phạt trong một thời gian nhất định Các điều kiện, thời hạn hoãn chấp hành hình phạt do pháp luật về hình
sự quy định Trình tự, thủ tục thi hành biện pháp hoãn chấp hành hình phạt tù do Pháp luật về thi hành án hình sự quy định
Tại Điều 67 BLHS năm 2015, việc hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định như sau:
“1 Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
a) Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác
là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
d) Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm
2 Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.”
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 67 BLHS năm 2015 thì: “Người bị
xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong trường hợp bị bệnh
Trang 12nặng” Và họ được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi sức khỏe của họ được hồi phục Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 67 BLHS năm 2015 thì trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp
hành hình phạt tù lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS năm 2015
Việc áp dụng quy định này được hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02-10-2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Căn cứ theo quy định tại Mục 7 Nghị quyết này thì người bị bệnh nặng được hoãn chấp hành hình tù nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây:
- Người bị xử phạt tù nếu có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú
cụ thể, rõ ràng;
- Sau khi bị xử phạt tù không có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng;
- Không có căn cứ cho rằng họ bỏ trốn;
- Là người bị bệnh nặng, tức là bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ; do đó, cần thiết cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù để họ có điều kiện chữa bệnh; Ví dụ: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng
độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu
- Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị xử phạt
tù bị bệnh nặng và nếu bắt họ đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ
Khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện này thì họ có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù đến khi được bình phục
Tiểu mục 7.7 mục 7 Nghị quyết cũng hướng dẫn: “Người bị xử phạt tù bị bệnh nặng được hoãn chấp hành hình phạt tù một lần hoặc nhiều lần cho đến khi sức khỏe hồi phục” Khi xác minh điều kiện thi hành án đối với người được
hoãn chấp hành hình phạt tù, việc hiểu "sức khỏe hồi phục" như thế nào là chưa thống nhất Có những trường hợp, tại thời điểm xin hoãn chấp hành hình phạt tù,
Trang 13người kết án đang điều trị bệnh và có kết luận của bệnh viện tỉnh về việc người đang bị bệnh nặng nếu đi chấp hành án ngay sẽ nguy hiểm đến tính mạng Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn được áp dụng biện pháp hoãn chấp hành hình phạt
tù, người bị kết án phạt tù được ra viện, không còn điều trị tại bất cứ cơ sở y tế nào và điều quan trọng là họ vẫn sinh hoạt, đi lại bình thường, từ đó gây dư luận không tốt về sự nghiêm minh của pháp luật trong quần chúng nhân dân
Trình tự, thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng theo quy định tại Điều 23 Luật THAHS năm 2010 và Điểm 1, Mục 3 Nghị quyết
số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được thực hiện như sau:
- Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án xem xét, quyết định cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù khi có đề nghị bằng văn bản của Viện Kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp hoặc người bị kết án Trường hợp không có đề nghị bằng văn bản của Viện Kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp hoặc người bị kết án, thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án chỉ tự mình xem xét, quyết định cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp người thân thích của người bị kết án (cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em của người bị kết án) hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú đề nghị bằng văn bản cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù, thì
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự;
b) Văn bản đề nghị của Viện Kiểm sát (trường hợp Viện kiểm sát đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù);
c) Văn bản đề nghị của cơ quan Công an (trường hợp cơ quan Công an
đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù);
d) Đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù của người bị kết án (trường hợp người bị kết án xin hoãn chấp hành hình phạt tù);
Trang 14đ) Đơn của người thân thích của người bị kết án hoặc văn bản đề nghị của
cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc, của chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú (trường hợp không có đề nghị của Viện Kiểm sát, cơ quan Công an và người bị kết án);
e) Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người
bị kết án Đối với người bị nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS thì chỉ cần kết quả xét nghiệm bị nhiễm HIV theo quy định của Bộ Y tế và trong hồ sơ bệnh án phải xác định rõ là đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu
Hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù phải được gửi cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành hình phạt phạt tù, Chánh án Tòa
án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định Trường hợp không chấp nhận đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị biết, trong đó nêu rõ lý do về việc không chấp nhận cho người bị kết án hoãn chấp hành hình phạt tù
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt phạt tù, Tòa án đã ra quyết định hoãn phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau: a) Người chấp hành án; b) Viện kiểm sát cùng cấp; c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp Quân khu; d) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hoãn thi hành án đang cư trú; đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở Khi nhận được quyết định hoãn chấp hành án của Tòa án,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp Quân khu phải ngừng việc làm thủ tục đưa người chấp hành án phạt tù đi chấp hành án
Người được hoãn chấp hành hình phạt tù được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc quản lý Họ không được đi khỏi nơi cư trú nếu không được sự đồng ý của chính quyền hoặc
cơ quan quản lý Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật THAHS thì
cứ 03 tháng một lần, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý phải báo cáo
Trang 15việc quản lý người được hoãn chấp hành án với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án
Đồng thời, trong thời gian được hoãn chấp hành án mà người bị kết án có
hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành án báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Chánh án Toà án đã ra quyết định hoãn hủy bỏ quyết định đó Ngay sau khi có quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc Cảnh vệ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án để thi hành án Trong trường hợp người được hoãn chấp hành án bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức truy bắt Bên cạnh đó, trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước
và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS
1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật
Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng trong thời gian qua đã phát huy được hiệu quả tích cực, thể hiện rõ tính chất nhân đạo, chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phải thi hành hình phạt tù đang trong hoàn cảnh đặc biệt, chưa thể chấp hành án phạt tù Các quy định này đã tạo điều kiện cho họ có thời gian và cơ hội chữa lành bệnh, hồi phục sức khỏe, góp phần giáo dục, cảm hóa người phạm tội Tuy nhiên, quá trình thực hiện quy định về hoãn chấp hành hình phạt
tù đối với người bị bệnh nặng cũng nảy sinh một số vướng mắc, bất cập, cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo hướng dẫn tại Điểm a, Mục 7.1 Nghị quyết số HĐTP thì “bệnh nặng” được hiểu là “ bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ; do đó, cần thiết phải cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù để
01/2007/NQ-họ có điều kiện chữa bệnh; ví dụ: Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao
Trang 16nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu ”
Để có cơ sở pháp lý chứng minh là “bệnh nặng”, người bị xử phạt tù phải có “kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên”, trong đó xác định về việc “người bị xử phạt
tù bị bệnh nặng” Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn hiện hành lại không quy định
rõ về kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên là bệnh án hay kết quả siêu âm, xét nghiệm hoặc cần có một văn bản riêng do bệnh viện cấp tỉnh hoặc người có thẩm quyền trong bệnh viện cấp tỉnh cấp Điều này sẽ làm cho việc áp dụng quy định này trở lên khó khăn và không thống nhất trên thực tế
Thứ hai, tại mục 7.3 của Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP thì “người bị
xử phạt tù bị bệnh nặng được hoãn chấp hành hình phạt tù một lần hoặc nhiều lần cho đến khi sức khỏe hồi phục” Thế nào là “sức khỏe [được] hồi phục”, cơ
quan nào có trách nhiệm kết luận đánh giá cũng chưa được quy định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn Có nhiều trường hợp người được hoãn chấp hành hình phạt tù vì lý do sức khỏe, sau đó sức khỏe hồi phục và người đó trốn khỏi địa phương hoặc mặc dù sức khỏe thực tế đã được hồi phục nhưng người đó cố tình chây ỳ không đi chấp hành án, tiếp tục điều trị nội trú tại bệnh viện, làm ảnh hưởng đến việc thực thi bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Các vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng trong thời gian qua được thể hiện qua bởi một số trường hợp thực tế như sau:
Vụ việc thứ nhất: Bị án Đoàn Văn Thế bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố
ý gây thương tích” Tuy nhiên, ngày 18/8/2017, Tòa án nhân dân thành phố
Quy Nhơn đã ban hành Quyết định số 14/2017/QĐ-CA về việc hoãn chấp hành hình phạt tù trong thời hạn 06 tháng đối với Đoàn Văn Thế với lý do đang điều trị bệnh lao phổi AFB3+ tại Bệnh viện Lao và Phổi tỉnh Bình Định, liệu trình điều trị 06 tháng, tình trạng bệnh lý cần phải cách ly do lây nhiễm, cần hạn chế lao động và đề nghị nghỉ ngơi trong thời gian điều trị của liệu trình Nhưng, qua kết quả xác minh của Viện KSND tỉnh Bình Định tại Bệnh viện nêu trên thể hiện, bị án Đoàn Văn Thế đến khám, điều trị ngoại trú tại Bệnh viện từ ngày 09/5/2017, chẩn đoán lao phổi AFB dương tính (có kết quả
Trang 17xét nghiệm), đến ngày 11/7/2017, được Bệnh viện cho xét nghiệm lại với kết quả âm tính (không còn bệnh)1
Như vậy, việc Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn ra Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù đối với bị án Đoàn Văn Thế với lý do bị bệnh nặng là không có căn cứ, trái với quy định tại Điều 61 Bộ luật Hình sự và Điểm a, Khoản 7.1, Mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật THAHS thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị của người bị kết án hoặc văn bản đề nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người phải chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người phải chấp hành án làm việc về việc hoãn chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án phải xem xét và quyết định Trong trường hợp này, người bị kết án đã thể hiện sự không thành khẩn, cố tình che giấu thông tin về việc đã không còn bệnh nhưng Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn lại dựa vào kết quả xét nghiệm từ ngày 09/5/2017 để ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án vào ngày 18/8/2017 Việc căn cứ vào kết quả xét nghiệm được thực hiện từ khá lâu (hơn
03 tháng) trong khi bệnh tình của người bị kết án có thể thuyên giảm hoặc hồi phục đã dẫn đến việc ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt không phù hợp với thực tế Quy định pháp luật hiện hành về thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù chỉ
yêu cầu phải có “kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị xử phạt
hiện trong thời gian nào cũng như từ thời điểm kết luận đến thời điểm ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù có khoảng cách bao lâu nên dẫn đến thực tế là người bị kết án sử dụng bản kết luận cũ để trì hoãn việc chấp hành án phạt tù Để khắc phục tình trạng nêu trên, đòi hỏi phải bổ sung quy định về thời hạn của bản kết luận bệnh nặng làm căn cứ để hoãn chấp hành hình phạt tù, đảm bảo từ thời điểm có kết luận bệnh nặng đến thời điểm quyết định hoãn chấp hành hình phạt
tù không có khoảng cách quá xa về mặt thời gian
1
Thái Văn Mừng, Kháng nghị bãi bỏ quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù trái pháp luật, http://vksbinhdinh
gov.vn/newsdetail.asp?newsID=71483&cat1id=3&Cat2id=9, truy cập ngày 09/07/2019
2
Điểm a, Mục 7.1 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định của
Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Trang 18Vụ việc thứ hai: Bị án Lê Quốc Hội bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ
tuyên phạt bị báo 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" Ngày 11/10/2011, bản án có hiệu lực pháp luật, Lê Quốc Hội có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù với lý do bị bệnh nặng Bản thân Lê Quốc Hội bị nhiễm HIV/AIDS giai đoạn cuối Sau khi xác minh Lê Quốc Hội bị nhiễm trùng cơ hội, tiên lượng xấu, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ quyết định cho Hội được hoãn chấp hành hình phạt tù với thời hạn là 01 năm Ngày 11/10/2012, sau khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, Lê Quốc Hội lại tiếp tục có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù Lần này qua xác minh thì Lê Quốc Hội có đang điều trị các bệnh về hô hấp tại bệnh viện tuyến huyện (Bệnh viện đa khoa Sơn Tây), trong bệnh án tại bệnh viện không xác định người bị kết án điều trị HIV/AIDS có nhiễm trùng cơ hội và không xác định có tiên lượng xấu Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ không chấp nhận đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù của người bị kết
án, buộc Lê Quốc Hội phải chấp hành quyết định thi hành án phạt tù
Tuy nhiên việc áp giải thi hành án đối với Lê Quốc Hội gặp khó khăn do: trong các văn bản hướng dẫn không quy định cụ thể về trường hợp người bị kết
án đang điều trị trong bệnh viện mà không phải các bệnh được hoãn chấp hành hình phạt tù thì việc áp giải được thực hiện như thế nào? Cơ quan thi hành án hình sự phải có nghĩa vụ áp giải người bị kết án tối đa trong thời hạn là bao lâu? Theo quy định tại khoản 4 Điều 22 Luật THAHS thì trong trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, họ phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án; quá thời hạn này mà người đó không có mặt
thì Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp
thực hiện áp giải thi hành án Nếu họ bỏ trốn thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt Trong trường hợp này, người bị kết án không bỏ trốn nhưng lại điều trị nội trú tại bệnh viện nên gây khó khăn trong việc thực hiện biện pháp áp giải do chưa có quy định về thủ tục cụ thể
Thực tế tại vụ việc trên, người bị kết án sau khi điều trị tại bệnh viện đa khoa Sơn Tây, để trốn tránh việc thi hành án, người bị kết án lại vào điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ với bệnh ngoài da Cơ quan thi hành án
Trang 19hình sự Công an thị xã Phú Thọ đã không thực hiện được việc áp giải bởi lo ngại việc sẽ có sự phát sinh về sức khỏe của người bị kết án sẽ dẫn đến những khó khăn trong quá trình áp giải3
Vụ việc thứ ba: Bị cáo Phan Tấn Đạt, sinh năm 1993, trú tại: Thôn Long
Hòa, xã An Hòa, huyện An Lão, tỉnh Bình Định bị phạt 3 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích” theo bản án Hình sự sơ thẩm số 01/2016/HSST ngày 04/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định Vào ngày 06/01/2016, Tòa án nhân dân huyện An Lão ra Quyết định thi hành án phạt tù nhưng bị án có đơn xin hoãn chấp hành án Ngày 13/01/2016, Tòa án nhân dân huyện An Lão có Quyết định số 01/2016/QĐ-CA cho bị án Phan Tấn Đạt được hoãn chấp hành án 9 tháng, với lý do người bị kết án bị đứt dây chằng chéo trước gối, đang phẫu thuật, điều trị và không đi lại được
Tuy nhiên, việc Phan Tấn Đạt bị đứt dây chằng rách sụn chéo gối trước
đã được Bệnh viện Phong - Da Liễu TW Quy Hòa mổ nội soi tái tạo dây chằng chéo trước và sụn khớp và xuất viện vào ngày 19/12/2015 (trước khi có quyết định hoãn vào ngày 13/01/2016) Theo quy định pháp luật thì trường hợp của Phan Tấn Đạt không thuộc trường hợp bệnh nặng Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện An Lão căn cứ vào giấy ra viện, chứng nhận có phẫu thuật và bản hướng dẫn luyện tập, hồi phục thể lực sau phẫu thuật để quyết định thời hạn cho bị án hoãn 9 tháng với lý do bị án đang phẫu thuật, đang điều trị vì mới phẫu thuật, bệnh nhân còn khó khăn trong đi lại nên cho hoãn chấp hành hình phạt tù4
Việc Tòa án nhân dân huyện An Lão căn cứ vào những giấy tờ này để ra quyết định cho bị án Phan Tấn Đạt được hoãn chấp hành án 9 tháng là chưa thật chặt chẽ theo hướng dẫn tại tiểu mục 7.2 Nghị quyết 01/2007/HĐTP của
Tòa án nhân dân Tối cao: “Toà án cũng có thể cho người bị xử phạt tù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 của BLHS (1999) mà không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 7.1 mục 7, được hoãn chấp hành hình phạt tù, nhưng phải xem xét rất chặt chẽ” Theo
quy định điểm a tiểu mục 7.1 Nghị quyết 01/2007/HĐTP, bị án cần phải có kết
3
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ (2013), Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án tỉnh Phú Thọ năm 2013 4
Nguyễn Thị Phương Thảo, Thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc hoãn chấp hành hình
phạt tù, http://vksbinhdinh.gov.vn/newsdetail.asp?newsID=10829&cat1id=3&Cat2id=9, truy cập ngày
29/12/2018
Trang 20quả khám bệnh của Bệnh viện cấp tỉnh về sức khỏe của bị án tại thời điểm xin hoãn; xác minh y khoa đối với tình hình diễn biến bệnh, thời gian hồi phục sau phẫu thuật và thực tế sức khỏe của bệnh nhân để làm cơ sở cho việc hoãn và quyết định thời hạn hoãn
Vụ việc thứ tư: Phạm Văn T, sinh năm 1953, trú tại thôn XC, xã H.T,
huyện KX, tỉnh TB phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 280 Bộ luật hình sự, bị Tòa án nhân dân tỉnh TB xét xử phúc thẩm xử phạt 15 tháng tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ đi thời gian
Viện kiểm sát nhân dân huyện KX xác minh điều kiện thi hành án ngày 01/8/2013 tại gia đình bị án: bị án xác nhận kể từ ngày 26/6/2013 đến ngày 01/8/2013 không điều trị ở bệnh viện hay cơ sở y tế nào nên không có bệnh án
để cung cấp cho Viện kiểm sát, hiện tại bị án điều trị bệnh ở nhà và vẫn sinh hoạt, đi lại bình thường Viện kiểm sát nhân dân huyện KX thấy không đủ điều kiện hoãn thi hành án và đã ban hành kháng nghị số 03/KN-VKS: Kháng nghị Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù số 05/2013/QĐ-CA ngày 28/6/2013 của TAND huyện KX, yêu cầu bãi bỏ quyết định và ra thông báo cho bị án tiếp tục thi hành án
5
Xơ gan còn bù là xơ gan ở giai đoạn đầu, khi mà các tế bào gan chưa bị tổn thương nhiều vẫn có khả năng chữa khỏi bệnh và phục hồi được chức năng gan Tuy nhiên, nếu bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ chuyển sang xơ gan giai đoạn cuối với rất nhiều biến chứng nguy hiểm, nguy cơ tử vong cao (BS
Hoàng Thị Năng, Xơ gan giai đoạn đầu sống được bao lâu và dấu hiệu của bệnh,
https://medlatec.vn/tin-tuc/xo-gan-giai-doan-dau-song-duoc-bao-lau-va-dau-hieu-cua-benh-s94-n14576, truy cập ngày 09/04/2020)
Trang 21Ngày 23/8/2013, Tòa án nhân dân huyện KX đã ra Quyết định thi hành án phạt tù số 60/2013/QĐ-CA, buộc Phạm Văn T phải chấp hành hình phạt6
Trong trường hợp này có thể thấy tiêu chí xác định bệnh nặng không thật
sự rõ ràng Tòa án cho rằng bệnh xơ gan giai đoạn còn bù – giãn tĩnh mạch thực quản độ 2 và viêm niêm mạc dạ dày- loét hành tá tràng thuộc trường hợp bệnh nặng, cần phải hoãn chấp hành hình phạt để điều trị Trong khi thực tế thì Phạm Văn T lại không cần điều trị ở bệnh viện hay cơ sở y tế nào mà chỉ cần điều trị bệnh ở nhà và vẫn sinh hoạt, đi lại bình thường Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện KX cho rằng việc hoãn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp này là không cần thiết vì việc chấp hành hình phạt tù trong trại giam không ảnh hưởng đến sức khỏe của Phạm Văn T Có thể nhận thấy trong trường hợp này Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân huyện KX đã tự đánh giá về tình trạng bệnh của bị án để từ đó quyết định về việc bị án được hoãn hay buộc phải chấp hành hình phạt Theo tác giả, việc đánh giá tình trạng bệnh của bị án cũng như xác định việc chấp hành hình phạt tù có ảnh hưởng đến tính mạng của bị án hay không bắt buộc phải do cơ quan y tế có chuyên môn là Bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên quyết định Việc Tòa án hoặc Viện kiểm sát tự kết luận như trên có thể không phản ánh đúng tình trạng bệnh của bị án, từ đó ra các quyết định không chính xác
Vụ việc thứ năm: Ngô Thanh Tuấn, sinh năm 2000, trú tại thôn Hà Thủy
02, xã Chí Công, huyện Tuy Phong, bị phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/2017/HSST ngày 16/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong Ngày 20/9/2017, Ngô Thanh Tuấn có đơn xin hoãn chấp hành án phạt tù, lý do bị bệnh
Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã trưng cầu giám định sức khỏe của bị
án Ngô Thanh Tuấn Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận sức khỏe Ngô Thanh Tuấn: “Chấn thương não do di chứng của Hội chứng thợ lặn Hiện tại yếu liệt ½ người bên phải mức độ nhẹ Tổn thương gan, thận đã được điều trị nội khoa hiện không để lại di chứng Tình trạng sức khỏe của Ngô Thanh Tuấn bị suy giảm do bệnh tật là 40% (bốn mươi phần trăm).”
6
Minh Hải – Như Hoa, Cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể về hoãn thi hành án phạt tù, https://
tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/310, truy cập ngày 03/05/2019
Trang 22Mặc dù, kết luận pháp y xác định bệnh lý của Ngô Thanh Tuấn không thuộc trường hợp bệnh nặng, tức không thuộc trường hợp bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ nhưng Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong căn
cứ theo quy định tại tiểu mục 7.2 Nghị quyết 01/2007/HĐTP của Tòa án nhân dân Tối cao và cho bị án Ngô Thanh Tuấn được hoãn chấp hành án phạt tù 12 tháng Tiểu mục 7.2 Nghị quyết 01/2007/HĐTP của Tòa án nhân dân Tối cao
hướng dẫn: “Toà án cũng có thể cho người bị xử phạt tù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 của BLHS (1999) mà không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 7.1 mục 7, được hoãn chấp hành hình phạt tù, nhưng phải xem xét rất chặt chẽ” nhưng không lý giải cụ thể
quy định “xem xét rất chặt chẽ” là như thế nào và phải căn cứ vào những tiêu chí nào để ra quyết định Vì vậy, tuy việc quy định như trên cho phép Tòa án được tùy nghi quyết định nhưng lại dẫn đến thực trạng là Tòa án lại không xem xét chặt chẽ trường hợp của người bị kết án có cần thiết phải hoãn chấp hành hình phạt tù hay không mà lại ra quyết định hoãn cho họ
1.3 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Trên cơ sở xác định nguyên nhân dẫn đến bất cập từ thực tiễn áp dụng pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù tại điểm a khoản 1 Điều 67 BLHS năm
2015, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, căn cứ xác định tình trạng “bệnh nặng” đối với người được
hoãn chấp hành hình phạt tù của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên phải bằng văn bản kết luận riêng Theo đó, người yêu cầu được cấp văn bản này là người bị bệnh nặng và có yêu cầu để được thực hiện thủ tục hoãn chấp hành hình phạt
tù Nội dung văn bản phải xác định cụ thể loại bệnh, tình trạng bệnh, thời gian điều trị, thời gian tái khám, kết luận về việc tình trạng bệnh có khả năng ảnh hưởng đến tính mạng của bệnh nhân cũng như việc buộc họ phải chấp hành hình phạt tù có gây nguy hiểm đến tính mạng của họ hay không Đồng thời, những người có thẩm quyền xác nhận tình trạng bệnh của bị án bao gồm: bác sĩ trực tiếp khám bệnh, người đứng đầu của Khoa điều trị (Trưởng khoa) và người đứng đầu của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên (Giám đốc/Phó giám đốc) Như vậy
Trang 23mới thể hiện tính có căn cứ, xác thực cũng như trách nhiệm của những người đứng đầu cơ quan y tế đối với kết luận nhân danh cơ sở của mình trước pháp luật chứ không phải của riêng bác sĩ trực tiếp điều trị Trong trường hợp nếu văn bản kết luận tình trạng bệnh của bệnh viện cấp tỉnh trở lên không chính xác thì những người nêu trên sẽ chịu trách nhiệm kỷ luật hoặc trách nhiệm hình sự tùy mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra trên thực tế Chẳng hạn: Trong trường hợp những người nêu trên có hành vi nhận hối lộ từ 2 triệu đồng trở lên để xác nhận kết quả không chính xác thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự họ về Tội nhận hối lộ
Bên cạnh đó, nhằm tránh tình trạng người bị kết án tuy đã hồi phục nhưng
cố tình đưa ra văn bản kết luận tình trạng bệnh đã có từ trước đó nhằm trì hoãn việc chấp hành án phạt tù, cần bổ sung quy định về thời hạn của văn bản kết luận tình trạng bệnh của người bị kết án Theo quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật THAHS, người bị kết án phạt tù đang tại ngoại phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để thực hiện việc chấp hành án Do đó, văn bản kết luận tình trạng bệnh của người bị kết án chỉ được coi là căn cứ để Tòa án ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù khi được cấp tối đa không quá
07 ngày tại thời điểm gửi hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định việc hoãn chấp hành hình phạt tù Nếu quá thời hạn đó thì người bị kết án phải thực hiện việc giám định y khoa tại bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên để xác định tình trạng bệnh
Thứ hai, để tránh thời hạn hoãn kéo dài không có giới hạn, cần quy định
người được hoãn chấp hành hình phạt tù do bị bệnh nặng phải đi khám tại bệnh viện cấp tỉnh trở lên theo đúng lịch tái khám mà bác sĩ điều trị đã đề xuất hoặc theo định kỳ ít nhất 3 tháng một lần để cơ quan, đơn vị quân đội được giao nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành án báo cáo với cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nhằm thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án Việc khám bệnh trong trường hợp này là bắt buộc nhằm kiểm tra, xác định lại tình trạng sức khoẻ của người được hoãn chấp hành hình phạt tù, làm căn cứ để tiếp tục hoặc
Trang 24chấm dứt việc hoãn chấp hành hình phạt tù đối với họ Trách nhiệm kiểm tra, giám sát thuộc về người được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý người được hoãn chấp hành hình phạt tù Nếu người được hoãn chấp hành hình phạt tù được giao cho UBND cấp xã nơi cư trú quản lý thì người chịu trách nhiệm sẽ là cán bộ, công chức của UBND cấp xã được phân công trách nhiệm quản lý, giám sát người được hoãn chấp hành hình phạt tù người được hoãn chấp hành hình phạt
tù được giao cho đơn vị quân đội quản lý thì người chịu trách nhiệm sẽ là người được đơn vị quân đội phân công trực tiếp quản lý, giám sát người được hoãn chấp hành hình phạt tù Trong trường hợp họ không thực hiện việc kiểm tra, giám sát thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà họ sẽ bị xử lý kỷ luật
ở các mức độ khác nhau: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức hoặc buộc thôi việc
Thứ ba, hướng dẫn cụ thể quy định tại tiểu mục 7.2 Nghị quyết 01/2007/HĐTP của Tòa án nhân dân Tối cao: “Toà án cũng có thể cho người bị
xử phạt tù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 của BLHS (1999) mà không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 7.1 mục 7, được hoãn chấp hành hình phạt tù, nhưng phải xem xét rất chặt chẽ” Theo đó, đối với trường hợp người chấp hành án bị bệnh, dù không phải là
bệnh nặng đến mức nguy hiểm đến tính mạng, nếu có văn bản kết luận riêng của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên xác nhận tình trạng của người bệnh cần phải được điều trị, chăm sóc lâu dài tại bệnh viện mới có thể chữa khỏi bệnh thì Tòa án có thể áp dụng biện pháp hoãn chấp hành hình phạt tù Trong trường hợp văn bản kết luận riêng của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên xác định loại bệnh và tình trạng bệnh của người chấp hành án không cần phải điều trị, chăm sóc lâu dài tại bệnh viện thì phải buộc họ chấp hành hình phạt tù Trong trường hợp họ không tự giác chấp hành hình phạt thì Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc Cảnh vệ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án để thi hành án Trường hợp người được hoãn chấp hành án bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức truy bắt theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Luật THAHS
Thứ tư, thực hiện công tác kiểm tra các điều kiện để ra quyết định hoãn
chấp hành hình phạt tù của Tòa án một cách chặt chẽ, tránh tình trạng người bị kết án lợi dụng chính sách nhân đạo của Nhà nước để trốn tránh việc thi hành án
Trang 25phạt tù, ảnh hưởng đến việc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Theo quy định tại khoản 3 Điều 23 Luật Thi hành án hình sự thì trong thời hạn
03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án đã
ra quyết định hoãn phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp Viện kiểm sát cùng cấp phải kiểm tra hồ sơ cũng như các căn cứ mà Tòa án dựa vào
đó để ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù Đồng thời, trong quá trình thi hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù, khi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho Tòa án theo định kỳ 03 tháng một lần về việc quản lý người được hoãn chấp hành hình phạt tù thì Viện kiểm sát cũng xem xét, kiểm tra việc quản lý này nhằm đảm bảo việc thi hành quyết định luôn được thực hiện chặt chẽ và đúng pháp luật
Trang 26KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Toà án cho phép người bị kết án chuyển việc thi hành án phạt tù sang thời điểm muộn hơn Hoãn chấp hành hình phạt tù thực chất là việc cho phép người bị kết án tiếp tục sống và làm việc ngoài
xã hội, chưa buộc họ phải vào trại giam chấp hành hình phạt trong một thời gian nhất định Đối với người bị bệnh nặng, tức là bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ; do đó, cần thiết cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù để
họ có điều kiện chữa bệnh
Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng trong thời gian qua đã phát huy được hiệu quả tích cực, thể hiện rõ tính chất nhân đạo, chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phải thi hành hình phạt tù đang trong hoàn cảnh đặc biệt, chưa thể chấp hành án phạt tù Tuy nhiên, quá trình thực hiện quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng cũng nảy sinh một số vướng mắc, bất cập như: Không quy định rõ về kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên là bệnh án hay kết quả siêu
âm, xét nghiệm hoặc cần có một văn bản riêng do bệnh viện cấp tỉnh hoặc người
có thẩm quyền trong bệnh viện cấp tỉnh cấp; Chưa quy định rõ thế nào là sức khỏe được hồi phục, cơ quan nào có trách nhiệm kết luận đánh giá; Thủ tục quản lý cũng như thủ tục chấm dứt việc hoãn chấp hành hình phạt tù chưa thật chặt chẽ…
Trên cơ sở xác định nguyên nhân dẫn đến bất cập từ thực tiễn áp dụng pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù tại điểm a khoản 1 Điều 67 BLHS năm 2015, tác giả đề xuất các giải pháp sau: Hướng dẫn nội dung văn bản kết luận riêng về
xác định tình trạng “bệnh nặng” đối với người được hoãn chấp hành hình phạt tù
của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên; Bổ sung quy định về thời hạn của văn bản kết luận tình trạng bệnh của người bị kết án; Bổ sung quy định người được hoãn chấp hành hình phạt tù do bị bệnh nặng phải đi khám tại bệnh viện cấp tỉnh trở lên theo đúng lịch tái khám mà bác sĩ điều trị đã đề xuất hoặc theo định kỳ ít nhất 3 tháng một lần; Hướng dẫn cụ thể quy định tại tiểu mục 7.2 Nghị quyết 01/2007/HĐTP của Tòa án nhân dân Tối cao; Thực hiện công tác kiểm tra các điều kiện để ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù của Tòa án một cách chặt chẽ…
Trang 27CHƯƠNG 2 HOÃN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ TRONG TRƯỜNG HỢP
“PHỤ NỮ CÓ THAI HOẶC ĐANG NUÔI CON DƯỚI 36 THÁNG TUỔI”
2.1 Quy định pháp luật hình sự hiện hành
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 67 BLHS năm 2015 thì: “Người bị
xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
…
b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi”
Như vậy, trường hợp này được áp dụng đối với người bị kết án là phụ nữ
có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nếu họ bị xử phạt tù lần đầu Đứa con đang được nuôi đó có thể là con đẻ hoặc con nuôi Trong trường hợp nếu như đứa con đó là con nuôi thì phải đảm bảo yêu cầu được quy định trong Mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 12/6/2000 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư
pháp, Bộ Công an, đó là: “việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về hộ tịch quy định”
Để ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt đối với trường hợp này thì Tòa
án phải căn cứ vào Kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên về việc người bị kết
án là phụ nữ đang có thai hoặc bản sao giấy khai sinh, giấy chứng sinh và xác nhận của chính quyền địa phương nơi họ thường trú về việc đang nuôi con dưới
36 tháng tuổi
Về thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù đối với trường hợp nêu trên, theo quy định tại tiểu mục 7.3 Mục 7 Nghị quyết 01/2007/NQ HĐTP ngày 02/7/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù là: Người bị xử phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi Nếu người phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang được hoãn chấp hành hình phạt tù mà lại có thai hoặc phải tiếp tục nuôi con dưới 36 tháng
Trang 28tuổi thì Toà án vẫn cho hoãn tiếp đến khi con đủ 36 tháng tuổi; Điều này có nghĩa là trường hợp này có thể cho hoãn nhiều lần
Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 67 BLHS năm 2015 thì:
“Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt tù lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này”
Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại tiểu mục 7.2 Mục 7 Nghị quyết 01/2007/NQ
HĐTP ngày 02/7/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: “Toà
án cũng có thể cho người bị xử phạt tù thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 của BLHS mà không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 7.1 mục 7 này được hoãn chấp hành hình phạt tù, nhưng phải xem xét rất chặt chẽ” Do đó, Tòa án cũng có thể cho người bị kết án là phụ
nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi không thuộc trường hợp “bị xử phạt tù lần đầu” được hoãn chấp hành hình phạt tù Đồng thời, Nghị quyết 01/2007/NQ HĐTP ngày 02/7/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng cho ví dụ cụ thể về trường hợp này như sau:
“Nguyễn Thị B bị xử phạt ba năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy,
B bị xử phạt tù lần này là lần đầu, đang nuôi con nhỏ mới 12 tháng tuổi và đang tại ngoại Theo đề nghị của B, Chánh án đã ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù với B cho đến khi con của B đủ 36 tháng tuổi Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, B lại phạm tội trộm cắp tài sản và bị xử phạt hai năm tù; Tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc B phải chấp hành hình phạt chung
là năm năm tù Chánh án Tòa án có thẩm quyền đã ra quyết định thi hành án B
có đơn đề nghị xin được hoãn thi hành án Trường hợp này phải xem xét rất chặt chẽ Giả sử con của B đã được 24 tháng tuổi, B có chồng chăm sóc con thì không cho B hoãn chấp hành hình phạt tù Giả sử con của B đã được 24 tháng tuổi, nhưng hay ốm đau, nay B lại đang có thai, thì tuy B có chồng, nhưng vẫn
có thể cho B hoãn chấp hành hình phạt tù.”
Như vậy, căn cứ vào ví dụ này thì có thể hiểu: Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con
Trang 29dưới 36 tháng tuổi được hoãn chấp hành hình phạt tù lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án vẫn có thể cho họ tiếp tục hoãn chấp hành hình phạt tù nhưng phải xem xét rất chặt chẽ Tuy nhiên, việc xem xét như thế nào được coi là “rất chặt chẽ” thì không có hướng dẫn cụ thể nên việc áp dụng tùy thuộc vào nhận định của Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền
Trình tự, thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được quy định tại Điều 23 Luật THAHS năm 2010 và Điểm 1, Mục 3 Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được thực hiện như sau:
- Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án xem xét, quyết định cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù khi có đề nghị bằng văn bản của Viện Kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp hoặc người bị kết án Trường hợp không có đề nghị bằng văn bản của Viện Kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp hoặc người bị kết án, thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án chỉ tự mình xem xét, quyết định cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp người thân thích của người bị kết án (cha, mẹ, chồng, anh, chị, em của người bị kết án) hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú đề nghị bằng văn bản cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù, thì
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù Hồ sơ bao gồm:
- Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự;
- Văn bản đề nghị của Viện Kiểm sát (trường hợp Viện kiểm sát đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù);
- Văn bản đề nghị của cơ quan Công an (trường hợp cơ quan Công an đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù);
- Đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù của người bị kết án (trường hợp người bị kết án xin hoãn chấp hành hình phạt tù);
Trang 30- Đơn của người thân thích của người bị kết án hoặc văn bản đề nghị của
cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc, của chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú (trường hợp không có đề nghị của Viện Kiểm sát, cơ quan Công an và người bị kết án);
- Kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên về việc người bị kết án phạt tù
là phụ nữ có thai hoặc bản sao giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh của con người bị kết án và xác nhận của chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú về việc họ đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi
Hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù phải được gửi cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành hình phạt phạt tù, Chánh án Tòa
án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định Trường hợp không chấp nhận đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị biết, trong đó nêu rõ lý do về việc không chấp nhận cho người bị kết án hoãn chấp hành hình phạt tù như: Người đang được hoãn chấp hành hình phạt tù lại phạm tội mới và con dưới 36 tháng tuổi có chồng chăm sóc, con dưới 36 tháng tuổi không sống chung với mẹ; trước đó người bị kết án có thai nhưng tại thời điểm đề nghị hoãn lại hư thai…
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt phạt tù, Tòa án đã ra quyết định hoãn phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau: a) Người chấp hành án; b) Viện kiểm sát cùng cấp; c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp Quân khu; d) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hoãn thi hành án đang cư trú; đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành
án có trụ sở Khi nhận được quyết định hoãn chấp hành án của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp Quân khu phải ngừng việc làm thủ tục đưa người chấp hành án phạt tù đi chấp hành
án Người được hoãn chấp hành hình phạt tù được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc quản lý Họ không được đi khỏi nơi cư trú nếu không được sự đồng ý của chính quyền hoặc
cơ quan quản lý
Trang 312.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật
Quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án là phụ nữ
có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta đối với phụ nữ có thai và phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Trong bốn trường hợp được hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định tại khoản 1 Điều 67 BLHS thì đây chính là trường hợp được áp dụng nhiều nhất Tại tỉnh Bình Thuận, năm 2016, trong tổng số hoãn chấp hành
án phạt tù là 47 bị án thì việc hoãn trong trường hợp phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi là 38 bị án7
Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc áp dụng căn cứ này để cho hoãn chấp hành hình phạt tù còn chưa thống nhất giữa các địa phương Chẳng hạn, tại TPHCM, Bình Thuận, Bình Định , người bị kết án hoãn chấp hành hình phạt tù
từ thời điểm người bị kết án bắt đầu có thai đến khi con họ tròn 36 tháng tuổi Tại các địa phương như Quảng Bình, Đà Nẵng , việc hoãn chấp hành hình phạt
tù lại tách ra thành hai giai đoạn, trong đó, giai đoạn 1 cho hoãn chấp hành hình phạt tù trong thời gian mang thai; giai đoạn hai cho hoãn từ thời điểm người bị kết án sinh con cho đến khi con họ tròn 36 tháng tuổi8
Việc cho hoãn chấp hành
án như trên mặc dù không ảnh hưởng đến quyền lợi của đối tượng là phụ nữ có thai và đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, song sẽ rất khó khăn trong công tác theo dõi thi hành án hình sự Mặc dù pháp luật quy định người bị xử phạt là phụ
nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hoãn chấp hành hình phạt
tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi Tuy nhiên, khi thời hạn cho hoãn một lần kéo dài đến hơn 3 năm (từ thời điểm mang thai đến khi con đủ 36 tháng tuổi) sẽ khó theo dõi sự thay đổi trong suốt quá trình hoãn của bị án khi họ bị sảy thai hoặc con đã chết hay giao cho người khác nuôi dưỡng
Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp người bị kết án lợi dụng chính sách nhân đạo này để trốn tránh việc chấp hành hình phạt tù Điều này ngoài việc gây khó khăn trong hoạt động thi hành án thì ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của pháp luật khi người thực hiện hành vi phạm tội nhưng lại không phải chịu
7
Công văn số 231/BC-VKS-P8 ngày 24/5/2016 về việc báo cáo kết quả xác minh điều kiện hoãn chấp hành
án phạt tù của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận báo cho Vụ 8 Viện Kiểm sát nhân dân tối cao 8
Báo cáo số 62/BC-TA ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về tổng kết tình hình thực hiện nhiệm
vụ năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019
Trang 32sự trừng trị và giáo dục thông qua việc áp dụng hình phạt Chẳng hạn trường hợp như sau:
Vụ việc thứ nhất: Bị cáo Nguyễn Thị Liễu đã bị Tòa án nhân dân huyện
Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tuyên phạt 05 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án đã ra quyết định thi hành án hình phạt tù Ngày 28/6/2006, Nguyễn Thị Liễu đã có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù Sau khi xem xét đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù của Nguyễn Thị Liễu, Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba đã ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù với lý do Liễu đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi Tại thời điểm hoãn chấp hành hình phạt tù, Liễu đang phải nuôi hai con nhỏ trong đó con nhỏ nhất mới 12 tháng tuổi, chồng của Liễu cũng đang chấp hành hình phạt tại trại giam Tuy nhiên sau khi được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con thứ 2
đã đủ 36 tháng tuổi, Liễu lại tiếp tục mang thai đứa con thứ 3 và Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba vẫn phải tiếp tục quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù cho Nguyễn Thị Liễu theo quy định Đến khi đứa con thứ 3 được gần 36 tháng tuổi thì Nguyễn Thị Liễu lại tiếp tục mang thai đứa con thứ 49
Có thể thấy trong trường hợp này, việc người bị kết án là Nguyễn Thị Liễu
cố tình có thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi liên tục là nhằm trốn tránh việc chấp hành bản án 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tuy biết mục đích của người bị kết án nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải cho Nguyễn Thị Liễu hoãn chấp hành hình phạt tù vì theo quy định pháp luật hiện hành thì khi người phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang được hoãn chấp hành hình phạt tù mà lại có thai hoặc phải tiếp tục nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì Toà án vẫn cho hoãn tiếp đến khi con đủ 36 tháng tuổi nên
có thể cho hoãn nhiều lần
Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, người được hoãn chấp hành hình phạt tù lại tiếp tục lợi dụng chính sách nhân đạo này để tiếp tục thực hiện tội phạm mới, điển hình bởi một số vụ án sau đây:
Vụ việc thứ hai: Vào ngày 10/2/2017, TAND huyện Long Hồ (Vĩnh
Long) đã tuyên phạt Nguyễn Thị Kiều (44 tuổi) hai năm ba tháng tù về tội trộm
9
Thắng Lê, Hoa khôi thôn quê biến thành trùm ma túy, bien-thanh-trum-ma-tuy-20161007093640474.htm, truy cập ngày 09/6/2020
Trang 33http://giadinh.net.vn/phap-luat/hoa-khoi-thon-que-cắp tài sản Qua kiểm tra nhân thân, từ năm 1990 đến tháng 7/2012, Kiều đã nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản Năm 1995, Kiều bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xử phạt 15 tháng tù tội trộm cắp tài sản Do đang trong thời gian nuôi con nhỏ, Kiều được hoãn thi hành án Cuối năm 2012, Kiều bị TAND huyện Long Hồ phạt một năm ba tháng tù về hai tội cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản Tuy nhiên, Kiều vẫn chưa chấp hành các bản án này vì Kiều liên tục mang thai và sinh con (Kiều đã có 10 đứa con, đứa nhỏ nhất sinh tháng 12/2015) Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt
tù, Kiều vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản Một điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ cho biết Kiều thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng vì đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cơ quan điều tra phải cho tại ngoại Mỗi lần bị triệu tập, Kiều đều dẫn theo ít nhất hai đứa con với lý do không có ai trông và khi bị Tòa án tuyên phạt thì Kiều luôn làm đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù vì mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi10
Vụ việc thứ ba: Đối tượng Hà Kim Dung cư trú tại phường Nhật Tân, quận
Tây Hồ, Hà Nội, là đối tượng nghiện ma túy, có 4 tiền án, tiền sự nên thủ đoạn bán lẻ ma túy rất tinh vi Sau khi cai nghiện ma túy trở về, Dung tính toán đến việc sinh một đứa con làm “lá chắn” cho hoạt động phạm tội Với toan tính này, mặc dù đã hơn 40 tuổi nhưng Dung cố gắng chạy chữa để có khả năng mang thai Toan tính này đã được toại nguyện khi vào đầu năm 2015, Dung mang thai
mà không có bố cho đứa trẻ
Tháng 4/2015, khi bị Công an quận Hoàn Kiếm bắt giữ về tội mua bán trái phép ma túy, tòa án tuyên phạt 30 tháng tù giam, Hà Kim Dung được hoãn thi hành án do đang mang thai Trong thời gian thai nghén, tháng 11/2015, Dung tiếp tục mua bán ma túy, bị Công an quận Cầu Giấy bắt giữ và bị tuyên phạt 9 năm tù giam nhưng lúc đó Dung mang bầu sắp đến ngày sinh nên Dung được hoãn thi hành án một lần nữa11
10
Minh Giang, Liên tục sinh 10 đứa con để né thi hành án rồi lại trộm cắp tài sản, https://dantri.com
vn/phap-luat/lien-tuc-sinh-10-dua-con-de-ne-thi-hanh-an-roi-lai-trom-cap-tai-san-20161014171648763.htm, truy cập ngày 09/02/2019
11
Duy Trần, Những bà mẹ sinh con liên tục để trốn án,
http://cand.com.vn/Cuoc-song-muon-mau-goc/Nhung-ba-me-lien-tuc-sinh-con-de-tron-an-452444/, truy cập ngày 04/02/2019
Trang 34Mặc dù đang được hoãn chấp hành hai bản án nhưng biết chắc các cơ quan pháp luật khó xử lý trong thời gian nuôi con nhỏ, Hà Kim Dung vẫn tiếp tục thực hiện hành vi mua bán ma túy Đến tháng 5/2016, Dung lại tiếp tục bị bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy12
Như vậy, có thể thấy nhiều đối tượng đã lợi dụng những quy định mang tính khoan hồng liên quan đến chính sách hoãn chấp hành hình phạt tù để phạm tội trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật cũng như tính trừng trị của hình phạt đối với người phạm tội
Liên quan đến thủ tục quản lý người được hoãn chấp hành hình phạt tù, theo quy định tại Điều 25 Luật THAHS, người được hoãn chấp hành hình phạt tù được giao cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ
cư trú hoặc làm việc quản lý Họ không được đi khỏi nơi cư trú nếu không được
sự đồng ý của chính quyền hoặc cơ quan quản lý Tuy nhiên vẫn có trường hợp
cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành hình phạt tù không theo dõi, quản lý chặt chẽ trong thời gian cho hoãn dẫn đến việc
họ đi khỏi nơi cư trú không khai báo mà người được giao nhiệm vụ quản lý không hay biết Bên cạnh đó, theo quy định tại tiểu mục 7.1 Mục 7 Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao thì người bị xử phạt tù chỉ được
áp dụng biện pháp hoãn chấp hành hình phạt tù nếu “có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng” Tuy nhiên, Tòa án có thẩm quyền lại
không xác minh điều kiện này dẫn đến việc ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù không đúng quy định pháp luật
Vụ việc thứ nhất: Bị án Trần Thị Nga, trú tại ấp Phụng Quới B, thị trấn
Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ bị xử phạt 04 năm tù về tội
“Cướp tài sản”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2012/HSST ngày 30/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ Đến ngày 04/01/2013, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 08/2013/QĐ-CA thi hành án hình phạt tù đối với bị án Nga Sau nhiều lần được hoãn do là lao động duy nhất, mang thai, đến ngày 16/4/2014,
12
Ánh Nguyệt, Triệt phá boong ke ma túy do nữ quái Hà Kim Dung cầm đầu,
https://anninhthudo.vn/phap-luat/triet-pha-boong-ke-ma-tuy-do-nu-quai-ha-kim-dung-cam-dau/716424.antd, truy cập ngày 04/02/2019
Trang 35bị án Nga được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh quyết định hoãn chấp hành
án phạt tù do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Tại Biên bản xác minh số 01/BB-KSTHA ngày 26/05/2016 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, Trưởng Công an ấp Phụng Quới B cung cấp: Bị án Nga không có mặt tại địa phương do chuyển về sống bên nhà chồng nhưng không rõ địa chỉ cụ thể (đi vắng khoảng 06 tháng nay) Bị án Nga tiếp tục mang thai và sinh con, nên ngày 19/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh lại ban hành quyết định tiếp tục cho hoãn chấp hành án phạt tù do bị án Nga đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Tuy nhiên, qua xác minh của công an thị trấn Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh vào ngày 15/11/2017 và ngày 09/03/2018, trong thời gian được cho hoãn chấp hành hình phạt tù, bị án Trần Thị Nga không có mặt tại địa phương mà đi làm công nhân tại khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp B, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Bị án Nga không trình báo khi vắng mặt tại địa phương và người được giao nhiệm vụ quản lý bị án cũng không biết rõ về việc
bị án đi khỏi nơi cư trú
Vụ việc thứ hai: Bị án Nguyễn Thị Bích Thuận, trú tại khu phố 1, phường
Đức Long, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, bị xử phạt 09 tháng tù về tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do bị án đang mang thai nên ngày 29/02/2016 được Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết quyết định hoãn chấp hành án phạt
tù cho đến khi sinh con Tuy nhiên, sau khi được hoãn chấp hành án phạt tù, bị
án Thuận đi khỏi địa phương, không rõ ở đâu Đến tháng 5/2016, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết qua xác minh mới phát hiện trường hợp trên và
có báo cáo Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã hướng dẫn Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết yêu cầu Ủy ban nhân dân phường Đức Long báo cáo Cơ quan thi hành án hình
sự Công an thành phố Phan Thiết để đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết hủy bỏ quyết định hoãn chấp hành án phạt tù đối với Nguyễn Thị Bích Thuận Trong trường hợp này, Ủy ban nhân dân phường Đức Long được giao nhiệm vụ quản lý bị án Thuận nhưng khi bị án đi khỏi nơi cư trú thì người được giao nhiệm vụ quản lý lại không biết về việc này
Qua vụ việc trên cho thấy công tác theo dõi, quản lý người được hoãn chấp hành hình phạt tù của chính quyền địa phương chưa chặt chẽ, dẫn đến
Trang 36bị án đi khỏi địa phương nhưng cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản
lý không biết được bị án đang ở đâu, làm gì, điều kiện để được hoãn có còn hay không
2.3 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Trên cơ sở xác định những bất cập từ thực tiễn áp dụng pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù tại điểm b khoản 1 Điều 67 BLHS năm 2015, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, quy định cụ thể về việc cho phép hoãn chấp hành hình phạt tù
theo hướng dẫn tại tiểu mục 7.2 mục 7 Nghị quyết 01/2007/NQ HĐTP ngày 02/7/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Theo đó, việc người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hoãn chấp hành hình phạt tù lại thực hiện hành vi phạm tội mới, nhất là những tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng với lỗi cố
ý mà Tòa án vẫn có thể cho họ tiếp tục hoãn chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật cũng như tạo cơ hội cho người bị kết án gây nguy hại lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội mà không bị trừng trị Trong trường hợp này cần phải có sự cân nhắc giữa tư tưởng nhân đạo và giá trị của các lợi ích xã hội được pháp luật bảo vệ và bị người phạm tội cố tình xâm phạm Do đó, trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt tù lại thực hiện hành vi phạm tội mới là tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng với lỗi cố ý, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới, đồng thời tuyệt đối không được hoãn chấp hành hình phạt
tù đã được tổng hợp
Thứ hai, cần giới hạn số lần hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người
bị kết án là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Như đã phân tích ở trên, việc quy định pháp luật không giới hạn số lần hoãn chấp hành hình phạt tù đã dẫn đến thực trạng là người bị kết án có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi liên tục để trốn tránh việc chấp hành hình phạt tù Theo quan điểm của tác giả, trong trường hợp người được hoãn chấp hành hình phạt tù tiếp tục có thai trong thời gian được hoãn thì Tòa án vẫn cho họ
Trang 37được hoãn chấp hành hình phạt tù đến khi con họ đủ 36 tháng tuổi, nếu sau đó
họ vẫn tiếp tục có thai thì họ phải chấp hành hình phạt tù để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật
Thứ ba, ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất về trường hợp hoãn chấp
hành án phạt tù đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi theo hướng tách việc hoãn chấp hành hình phạt tù ra hai giai đoạn: hoãn chấp hành án phạt tù đối với phụ nữ có thai và hoãn trong trường hợp phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi Việc tách ra như vậy để nhằm mục đích thực hiện việc quản
lý, theo dõi người bị kết án nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của người bị kết án theo chính sách của Nhà nước Tránh tình trạng căn cứ cho hoãn không còn (người được hoãn sảy thai, con của họ chết) nhưng họ không báo cáo chính quyền địa phương nên Tòa án cũng không có căn cứ để chấm dứt việc cho hoãn chấp hành án
Thứ tư, ban hành quy định cụ thể việc kiểm tra, theo dõi, quản lý người
được hoãn chấp hành hình phạt tù giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc Theo đó, người được giao nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành hình phạt tại chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị án cư trú hoặc làm việc thực hiện việc kiểm tra định kỳ mỗi tuần một lần nhằm đảm bảo việc quản lý bị án, tránh trường hợp họ đi khỏi nơi cư trú trong một thời gian khá dài mà người quản lý không hề hay biết Đồng thời, cần quy định chế tài xử lý đối với trường hợp đi khỏi nơi cư trú nhưng không được sự đồng ý của chính quyền hoặc cơ quan quản
lý hoặc vắng mặt tại địa phương nhưng không trình báo, theo đó nếu người được hoãn chấp hành hình phạt tù cố tình đi khỏi nơi cư trú nhưng không được sự đồng ý của chính quyền hoặc cơ quan quản lý hoặc vắng mặt tại địa phương nhưng không trình báo từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người
đó phải chấp hành hình phạt tù đã được hoãn nếu xác định con dưới 36 tháng tuổi của họ có người chăm sóc
Thứ năm, thực hiện công tác kiểm tra các điều kiện để ra quyết định hoãn
chấp hành hình phạt tù của Tòa án một cách chặt chẽ, tránh tình trạng người bị kết án lợi dụng chính sách nhân đạo của Nhà nước để trốn tránh việc thi hành án