Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong trường hợp có căn cứ Xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn
và số liệu sử dụng trong luận văn này là trung thực
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các quý Thầy, Cô của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin bày tỏ lời cám ơn sâu sắc tới TS Lê Nguyên Thanh đã tận tình, chỉ dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tôi gửi lời tri ân sâu sắc đến Quý lãnh đạo và các đồng nghiệp công tác tại: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, đặc biệt là Lãnh đạo và đồng nghiệp Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thiện luận văn này
Do hiểu biết hạn chế, thời gian nghiên cứu có giới hạn, nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, người viết mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Nhà khoa học, Thầy giáo, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS năm 2003 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003
BLTTHS năm 2015 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015
Cơ quan CSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra
TAND Tòa án nhân dân
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
Thông tư liên tịch 01/2011
Thông tư liên tịch số TANDTC- BCA-BTP-BLĐTBXH, ngày 12 tháng
01/2011/TTLT-VKSTC-7 năm 2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia
tố tụng là người chưa thành niên
Thông tư liên tịch 06/2018
Thông tư liên tịch số TANDTC- BCA-BTP-BLĐTBXH, ngày 21 tháng
06/2018/TTLT-VKSNDTC-12 năm 2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CĂN CỨ VÀ TRƯỜNG HỢP CẦN BỔ SUNG TÀI LIỆU ĐỂ CHỨNG MINH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 10 1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh 10
1.1.1 Khái niệm người bị buộc tội, bị hại và cách xác định tuổi 10
1.1.2 Quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký, thủ tục cấp các giấy tờ hộ tịch dùng làm căn cứ xác định tuổi 11
1.1.3 Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong trường hợp có căn cứ 13
1.1.4 Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 14
1.2 Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; nguyên nhân của thực trạng 17
1.2.1 Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh 17
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng xác định tuổi người bị buộc tội, người bị hại dưới
18 tuổi trong trường hợp có căn cứ xác định tuổi và trường hợp cần bổ sung tài liệu
để chứng minh 24
1.3 Các giải pháp hoàn thiện quy định xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh 27 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
Trang 7CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI, TRONG TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 31 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc xác định tuổi của người
bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ để xác định 31
2.1.1 Các trường hợp không có căn cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người
bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 31
2.1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trưng cầu giám định tuổi 34
2.2 Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ xác định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và giải pháp 35
2.2.1 Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ xác định 35
2.2.2 Giải pháp hoàn thiện quy định xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi khi không có căn cứ xác định 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 42 KẾT LUẬN 43 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 818 tuổi thực hiện2 Do đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi, việc xử lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người dưới 18 tuổi thực hiện, nhằm mục đích giáo dục, cải tạo để họ có điều kiện trở lại hòa nhập với cuộc sống mà không nhằm mục đích trừng phạt
Theo báo cáo của các ngành tư pháp như: Công an, Viện Kiểm Sát, Tòa án trong những năm gần đây đều thể hiện tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện có chiều hướng gia tăng và có tính chất nguy hiểm, phức tạp, mới đây ngày 18/9/2017, tại thành phố Hồ Chí Minh, hội thảo “nâng cao công tác của lực lượng quản lý hành chính về trật tự xã hội trong phòng ngừa trẻ em và người chưa thành niên làm trái pháp luật tại cộng đồng dân cư” đã công bố số liệu về trẻ em
và người chưa thành niên làm trái pháp luật như sau: “ ghi nhận nửa đầu năm
2017, cả nước xảy ra 2.258 vụ vi phạm pháp luật do 3.340 trẻ em và người chưa thành niên gây ra Về tội danh nổi lên như giết người 36 vụ, 63 đối tượng; cướp tài sản 59 vụ, 103 đối tượng; cố ý gây thương tích 302 vụ, 574 đối tượng; trộm cắp tài sản 896 vụ, 1.200 đối tượng…”3; Riêng tại địa bàn tỉnh Hậu Giang, theo thống kê của Phòng cảnh sát hình sự, công an tỉnh Hậu Giang về tình hình trẻ em bị xâm hại năm 2016: 28 vụ; năm 2017: 28 vụ; năm 2018: 23 vụ, trong đó nhóm tội về
Trang 92
xâm hại tình dục trẻ em chiếm tỷ lệ trên 92% bao gồm các tội Hiếp dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em, dâm ô với trẻ em Đối với tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật, theo thống kê của Phòng cảnh sát hình sự, công an tỉnh Hậu Giang thì năm 2016 có 45 đối tượng (nam 39, nữ 6), năm 2017 có 16 đối tượng (nam), năm 2018 có 25 đối tượng (nam 23, nữ 02), tập trung ở nhóm độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi4
Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, số người dưới 18 tuổi phạm tội bị khởi tố năm 2016: 42 (nam 38, nữ 04), năm 2017: 21 (nam 20, nữ 01); năm 2018: 26 (nam 26, nữ 00); Tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng, theo
số liệu thống kê của VKSND tỉnh, số người dưới 18 tuổi phạm tội bị khởi tố năm 2016: 31 (nam: 31, nữ: 00); năm 2017: 38 (nam: 37, nữ: 01); năm 2018: 23 (nam:
22, nữ: 01); Tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu, theo số liệu thống kê của VKSND tỉnh, số người dưới 18 tuổi phạm tội bị khởi tố năm 2016: 26 (nam: 26, nữ: 00); năm 2017:
32 (nam: 31, nữ: 01); năm 2018: 26 (nam: 25, nữ: 01); cũng theo số liệu thống kê của VKSND các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu từ năm 2016 đến 2018, độ tuổi của người dưới 18 tuổi phạm tội bị khởi tố tập trung chủ yếu ở độ tuổi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi5
Bên cạnh thực trạng người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật như trên, hiện nay người dưới 18 tuổi cũng là đối tượng xâm hại của nhiều loại tội phạm Trong
6 tháng đầu năm 2017, theo số liệu của Bộ Công an, trên phạm vi toàn quốc xảy
ra hơn 800 vụ xâm hại trẻ em và trong số 1.000 vụ xâm hại tình dục, thì số trẻ
em gái ở độ tuổi 12-15 chiếm tới 57,46%, số trẻ em dưới 6 tuổi bị xâm hại chiếm tới 13,2%6
Trước tình hình tội phạm liên quan đến người dưới 18 tuổi như hiện nay, ngoài các giải pháp được các cơ quan chức năng triển khai thực hiện nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo môi trường lành mạnh để trẻ em và người dưới 18 tuổi được chăm sóc, giáo dục và bảo vệ tốt hơn, thì cũng cần phải đặt vấn đề xử lý đối với những vụ án mà người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng với tư cách là người bị buộc tội, người bị hại Qua thực tiễn công tác tại địa phương trong thời gian qua,
Trang 103
khi giải quyết các vụ án có liên quan đến người dưới 18 tuổi, thì vấn đề xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là một trong những nội dung thường gặp khó khăn, vướng mắc cụ thể như: xác định tội phạm và người phạm tội; mức hình phạt, cũng như chính sách hình sự được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên tắc tố tụng hình sự nào được lựa chọn ưu tiên hàng đầu khi trong vụ án mà
cả người bị buộc tội và người bị hại đều là người dưới 18 tuổi mà tuổi của cả hai đều thiếu căn cứ để xác định
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, cũng như qua ba lần sửa đổi bổ sung đều không quy định cụ thể về cách xác định tuổi của người dưới 18 tuổi, cho đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, vấn đề này vẫn chưa được nhà làm luật đề cập, trong khi thực tiễn tố tụng gặp phải nhiều khó khăn, để giải quyết vấn đề này, Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, trong đó hướng dẫn nguyên tắc xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại là người chưa thành niên Hướng dẫn này mặc
dù chỉ là văn bản dưới luật nhưng đã kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tuổi của người chưa thành niên Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã dành riêng Chương XXVIII quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên, trong đó Điều 417 quy định về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi, đồng thời quy định việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi do Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật Vấn đề thực tiễn đặt ra là với quy định tại Điều 417 BLTTHS năm 2015 và hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH thì việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi vẫn còn vấn đề vướng mắc cần được nghiên cứu, tìm ra giải pháp để việc giải quyết vụ án hình sự liên quan đến người dưới 18 tuổi đảm bảo tính công bằng, pháp chế và bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài: “Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo luật Tố tụng hình sự Việt
Nam” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các đề tài nghiên cứu xoay quanh phương pháp mà các Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18
Trang 114
tuổi, có giá trị tham khảo về lý luận và thực tiễn như:
- Bài viết: Người bị hại trong tố tụng hình sự, của tác giả Lê Tiến Châu – ths Luật học, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh7 Trong bài viết này tác giả đề cập đến việc xác định người bị hại trong tố tụng hình sự gồm những đối tượng nào qua đó kiến nghị các giải pháp nhằm góp phần đảm bảo quyền của người bị hại
- Bài viết: Xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới
18 tuổi, tác giả Thu Hiền8, bài viết giới thiệu những quy định của Điều 417 Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời phân tích, đánh giá so sánh và đưa ra quan điểm của tác giả về những điểm phù hợp cũng như những điểm chưa phù hợp của quy định này so với quy định về xác định tuổi người chưa thành niên tại Thông tư liên tịch số 01/2011
- Bài viết: Tìm hiểu về việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại
là người dưới 18 tuổi theo quy định của BLTTHS năm 2015, tác giả Trần Xuân Thiên An9, bài viết giới thiệu quy định của Điều 417 BLTTHS năm 2015, đồng thời
so sánh với quy định về cách xác định tuổi theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2011, qua đó tác giả nêu lên những bất cập trong việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại theo quy định của BLTTHS năm 2015 và đề xuất sửa đổi quy định tại Điều 417 BLTTHS năm 2015
- Bài viết: Vấn đề xác định tuổi của người bị hại là người dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tác giả Nguyễn Thị Lộc10 Bài viết ngoài việc phân tích quy định tại Điều 417 BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 01/2011 về việc xác định tuổi, tác giả đưa ra một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn thu thập các giấy tờ hộ tịch nhằm làm căn cứ xác định độ tuổi của người dưới 18 tuổi, từ đó tác giả đưa ra quan điểm cá nhân đồng thuận với quy định của Điều 417 BLTTHS năm 2015 vì các quy định này phù hợp với nguyên tắc “bảo
Nguyễn Thị Lộc (2017), “Vấn đề xác định tuổi của người bị hại là người dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015”, Khoa học kiểm sát, Trường đại học kiểm sát Hà Nội, số 01 (15), tr.29-33
Trang 12để xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, … qua đó tác giả khẳng định việc xác định tuổi của bị hại có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, đồng thời tác giả kiến nghị cần có hướng dẫn cụ thể đối với cách xác định tuổi của bị hại trong trường hợp không có căn cứ về hộ tịch
- Bài viết: Xác định tuổi của Người chưa thành niên thế nào cho đúng?, tác giả Lưu Đình Nghĩa (2001)– TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng12, bài viết đưa
ra những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn tố tụng khi Cơ quan tố tụng xác định tuổi của người chưa thành niên mà tuổi của người này thể hiện trong các giấy tờ hộ tịch không đúng với độ tuổi thật của họ, việc xác định đúng độ tuổi của người chưa thành niên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chống oan sai và bỏ lọt tội phạm Qua bài viết, tác giả kiến nghị khi không có sự thống nhất về tuổi theo thực tế và giấy khai sinh thì cần phái xác định độ tuổi bằng sinh học hoặc cải sửa giấy khai sinh, hộ tịch để xác định chính xác độ tuổi của người chưa thành niên
- Bài viết: Một số kinh nghiệm trong việc xác định tuổi, tái phạm, tái phạm nguy hiểm của người chưa thành niên phạm tội, tác giả Hoàng Thị Liên – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An13 Thông qua kinh nghiệm thực tiễn giải quyết các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, tác giả nêu và phân tích kinh nghiệm trong việc xác định tuổi, tái phạm, tái phạm nguy hiểm của người chưa thành niên phạm tội Tác giả từ kinh nghiệm trong việc xác định tuổi của người chưa thành niên, tại thời điểm tác giả nghiên cứu (năm 2006), khi chưa có các quy định chặt chẽ về cách xác định tuổi của người chưa thành niên, muốn xác định chính xác độ tuổi cần phải lưu ý thu thập, đối chiếu các tài liệu hộ tịch như giấy
Hoàng Thị Liên (2006), “Một số kinh nghiệm trong việc xác định tuổi, tái phạm, tái phạm nguy hiểm của
người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí kiểm sát, số 21, (11-2006), tr.38-44
Trang 136
khai sinh bản gốc, sổ hộ khẩu, kết hợp với các thông tin có liên quan khác như học
bạ, lời khai của cha mẹ, … để đánh giá và kết luận chính xác độ tuổi của người chưa thành niên
- Bài viết: Vài suy nghĩ về cách tính tuổi trong vụ án hình sự, tác giả Phạm Văn Beo – giảng viên khoa Luật, trường đại học Cần Thơ14
Nội dung bài viết thể hiện ý nghĩa của việc xác định đúng tuổi của người bị hại vì theo tác giả vấn đề này
có ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, có ý nghĩa quyết định việc xác định tội danh, khung hình phạt đối với người bị buộc tội, bên cạnh đó, qua nội dung bài viết, tác giả kiến nghị cần có quy định cụ thể về cách xác định tuổi của người bị hại là người chưa thành niên
- Luận văn thạc sĩ đề tài: xác định tuổi của bị hại là người dưới 18 tuổi theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nguyễn Huy Việt, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017 Nội dung luận văn nghiên cứu về việc xác định tuổi của người bị hại là người dưới 18 trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời so sánh với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Qua nghiên cứu, tác giả luận văn dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc công bằng trong tố tụng hình sự, đề xuất giải pháp “chọn 1/2 mốc thời gian” để xác định tuổi đối với bị hại là người dưới 18 tuổi thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 417 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015 như chọn ngày 15 của tháng, trong trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày; chọn ngày 15 của tháng giữa quý, trong trường hợp xác định được quý; chọn ngày cuối cùng của tháng 3 hoặc ngày cuối cùng của tháng 9, trong trường hợp xác định được nửa đầu năm hoặc nữa cuối năm; chọn ngày cuối cùng của tháng 6, trong trường hợp chỉ xác định được năm sinh Giải pháp mà tác giả luận văn đã đề xuất trong một số trường hợp cụ thể có thể giải quyết được khó khăn trong việc xác định tuổi, tuy nhiên giải pháp này vẫn chưa giải quyết hết các vướng mắc của thực tiễn xác định tuổi của người dưới 18 tuổi
Qua tham khảo nội dung các bài viết và luận văn nêu trên, tác giả luận văn
sẽ nghiên cứu những vướng mắc trong thực tiễn xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi, đồng thời phân tích các quy định của pháp
14
Phạm Văn Beo, Vài suy nghĩ về cách tính tuổi trong vụ án hình sự, cuu-trao-doi/hinh-su-to-tung-hinh-su/2009/8217/Vai-suy-nghi-ve-cach-tinh-tuoi-trong-vu-an-hinh-su.aspx, ngày 21/02/2019
Trang 14http://www.luatviet.org/Home/nghien-7
luật tố tụng hình sự hiện hành có liên quan đến vấn đề xác định tuổi của người dưới 18 tuổi, kiến nghị các giải pháp xác định tuổi của người dưới 18 tuổi sao cho vừa đảm đảo quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi khi họ là người bị buộc tội, người bị hại nhưng vẫn tuân thủ các nguyên tắc tố tụng theo quy định của pháp luật, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội đồng thời không bỏ lọt tội phạm
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn trên cơ sở phân tích quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các văn bản hướng dẫn có liên quan, kết hợp với thực tiễn xác định tuổi của người dưới 18 tuổi, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong việc xác định tuổi, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng với tư cách là người bị buộc tội, người bị hại, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu và hệ thống các quy định pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành có liên quan đến việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại
là người dưới 18 tuổi, qua đó đưa ra quan điểm về vấn đề này, cụ thể như sau:
- Phân tích các quy định về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại
là người dưới 18 tuổi
- So sánh quy định của pháp luật tố tụng hiện hành với các quy định được áp dụng trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực, đồng thời đối chiếu việc vận dụng các quy định này trong thực tiễn tố tụng Việt Nam qua đó nêu ra các bất cập, hạn chế của quy định hiện hành về xác định tuổi người dưới 18 tuổi là người bị buộc tội, người bị hại
- Đánh giá thực tiễn xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới
18 tuổi
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật để xác định đúng tuổi của người dưới 18 tuổi là người bị buộc tội, người bị hại
Trang 158
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là khía cạnh pháp lý và thực tiễn về việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi qua đó đưa ra quan điểm hoàn thiện quy định hiện hành về việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu việc xác định tuổi của người bị buộc tội,
người bị hại là người dưới 18 tuổi ở giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Phạm vi không gian: trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng các căn cứ
xác định tuổi của người dưới 18 tuổi trên địa bàn các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang
Phạm vi thời gian: từ năm 2013 đến năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước liên quan đến người dưới 18 tuổi trong các vụ
án hình sự
Phương pháp nghiên cứu: để thu thập, phân tích thông tin về những vấn đề
cần nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, gồm: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp thống kê, nghiên cứu vụ án điển hình
6 Dự kiến các kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa trong việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi, nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ án hình sự
có liên quan đến người dưới 18 tuổi là người tham gia tố tụng với tư cách bị buộc tội hoặc bị hại, được đúng quy định của pháp luật tố tụng, đảm bảo nguyên tắc pháp chế, bình đẳng trước pháp luật, suy đoán vô tội, xác định sự thật của vụ án, ngoài
Trang 167 Kết cấu của Luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phần kết luận, nội dung chính của luận văn được chia thành 2 chương, như sau:
Chương 1 Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Chương 2 Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi, trong trường hợp không có căn cứ xác định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 1710
CHƯƠNG 1 XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CĂN CỨ VÀ TRƯỜNG HỢP CẦN BỔ
SUNG TÀI LIỆU ĐỂ CHỨNG MINH THEO QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh
1.1.1 Khái niệm người bị buộc tội, bị hại và cách xác định tuổi
Người bị buộc tội là người bị các cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp nghi ngờ họ thực hiện hành vi phạm tội
và họ đang trong tình trạng bị bắt, tạm giữ, khởi tố bị can hoặc bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, liệt kê những người tham gia tố tụng thuộc “nhóm” người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo15
Người bị hại là thuật ngữ pháp lý sử dụng đối với cá nhân bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc về tài sản gây ra bởi một tội phạm Từ điển tiếng Việt giải thích thuật ngữ Người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, vật chất hoặc tinh thần do tội phạm gây ra”16, còn theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học pháp lý người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra Người bị hại chỉ có thể là thể nhân, bị người phạm tội làm thiệt hại
về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân”17 Theo quy định tại khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” Như vậy, người bị hại trong trường hợp cần xác định tuổi theo quy định tại Điều 417 BLTTHS là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra, không xem xét đến đối tượng bị hại là cơ quan, tổ chức Như vậy, Bị hại có một số đặc điểm sau:
Trang 18Tuổi của người bị buộc tội và bị hại theo quy định Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi năm 2017 được xác định bởi thuật ngữ pháp lý “từ đủ” ví dụ như tại khoản 1 Điều 12 quy định người nào từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm, hoặc Điều 90; điểm a, b khoản 2 Điều 91 hoặc Điều
144 tội cưỡng dâm người “từ đủ” 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Xác định người từ đủ
16 tuổi, từ đủ 18 tuổi, từ đủ 13 tuổi nghĩa là tuổi của người này phải là phải đủ ngày, đủ tháng, đủ năm, ví dụ: A sinh ngày 01/01/2000 thì đến ngày 01/01/2018,
và được xác định dựa vào thông tin của một trong các giấy tờ, tài liệu sau: Giấy chứng sinh; Giấy khai sinh; Chứng minh nhân dân; Thẻ căn cước công dân; Sổ hộ khẩu; Hộ chiếu20 Theo quy định của Luật hộ tịch ngày tháng năm sinh được xác định theo dương lịch
Trang 19, … Việc đăng ký khai sinh được cha, mẹ hoặc người thân của trẻ thực hiện trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh27, trường hợp đăng ký khai sinh sau thời hạn này thì được xác định là đăng ký khai sinh trễ hạn
Về thủ tục đăng ký khai sinh: người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp bản chính Giấy chứng sinh, trường hợp không có giấy chứng sinh thì phải nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải
có giấy cam đoan về việc sinh28 trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai
hộ theo quy định pháp luật Như vậy, thông tin về ngày tháng năm sinh của trẻ em
được xác định bởi các văn bản sau: giấy chứng sinh; văn bản xác nhận của người làm chứng; giấy cam đoan về việc sinh; biên bản xác nhận trẻ bị bỏ rơi
Chứng minh nhân dân/ Thẻ căn cước công dân: là giấy tờ tùy thân của công
dân Việt Nam, trong đó có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đặc
điểm căn cước, lai lịch của người được cấp
Trang 2013
Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị
chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam29 Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân30
Nội dung trên thẻ căn cước công dân thể hiện họ, chữ đệm và tên khai sinh, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán, nơi thường trú31
Sổ hộ khẩu: theo quy định của Luật cư trú, công dân đăng ký nơi thường trú
của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu32
Sổ hộ khẩu có giá trị xác định nơi thường trú của công dân Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha mẹ33, khi đăng ký thường trú cho trẻ em phải có giấy khai sinh34
Như vậy, thông tin về ngày tháng năm sinh của trẻ em trong sổ hộ khẩu được căn cứ vào giấy khai sinh
Hộ chiếu: là giấy tờ tùy nhân sử dụng khi Công dân Việt Nam xuất cảnh,
nhập cảnh qua các cửa khẩu của Việt Nam Trẻ em dưới 14 tuổi được cấp chung vào hộ chiếu quốc gia của cha hoặc mẹ, hộ chiếu có giá trị không quá 5 năm tính từ ngày cấp và không được gia hạn35 Hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu cho người dưới 14 tuổi ngoài những thủ tục chung còn phải có bản sao giấy khai sinh36
1.1.3 Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong trường hợp có căn cứ
Xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 417 BLTTHS và khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số
06/2018 là việc Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng thông tin về ngày tháng năm
sinh của cá nhân mà thông tin này được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận trong các giấy tờ hộ tịch gồm Giấy chứng sinh; Giấy khai sinh; Chứng minh nhân dân; Thẻ căn cước công dân; Sổ hộ khẩu; Hộ chiếu theo đúng trình tự thủ tục luật định, để làm căn cứ xác định tuổi của người dưới 18 tuổi
Trang 2114
Đối chiếu với quy định về thủ tục cấp các loại giấy tờ hộ tịch dùng để sử dụng làm căn cứ xác định tuổi đã trình bày tại tiểu mục 1.1.2 mục 1.1 Chương 1 của Luận văn này và khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018, điều kiện để thông tin về ngày, tháng, năm sinh ghi nhận trong các giấy tờ hộ tịch: Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Sổ hộ khẩu, Hộ chiếu, được Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng làm căn cứ xác định tuổi của người dưới 18 tuổi bao gồm:
- Thông tin về ngày tháng năm sinh của cá nhân được ghi nhận trong các giấy
tờ hộ tịch đồng nhất (không mâu thuẫn) với nhau
- Đúng trình tự thủ tục luật định: là các giấy tờ hộ tịch này phải được cá nhân
có liên quan thực hiện đầy đủ thủ tục đăng ký theo quy định của pháp luật và việc thực hiện đăng ký được tiến hành trong thời hạn luật định Ví dụ: Đăng ký giấy khai sinh cho trẻ em phải do cha, mẹ hoặc người thân của trẻ thực hiện trong thời gian 60 ngày, kể từ ngày sinh, đồng thời người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp bản chính giấy chứng sinh
Như vậy người dưới 18 tuổi được xem là có căn cứ xác định tuổi khi người này có một trong các loại giấy tờ hộ tịch sau:
* Giấy chứng sinh được cấp bởi cơ sở y tế có thẩm quyền đối với trường hợp trẻ em được sinh tại cơ sở y tế;
* Giấy khai sinh được đăng ký đúng hạn do Cơ quan có thẩm quyền cấp theo thủ tục có kèm giấy chứng sinh và được người thân của trẻ thực hiện đăng ký trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh
Khi người dưới 18 tuổi có Giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh thỏa 02 điều kiện nêu trên thì các tài liệu hộ tịch còn lại của Người dưới 18 tuổi này gồm: giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu, hộ chiếu có nội dụng về ngày tháng năm sinh đồng nhất với giấy khai sinh sẽ được sử dụng làm căn cứ xác định tuổi
1.1.4 Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Trường hợp có căn cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại nhưng cần bổ sung tài liệu để chứng minh là trường hợp đối tượng cần xác định tuổi
Trang 2215
có một trong các loại giấy tờ hộ tịch theo quy định của khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 nhưng giấy tờ hộ tịch không đảm bảo 02 điều kiện tại tiểu mục 1.1.3 và trường hợp thông tin của các giấy tờ hộ tịch của người cần xác định tuổi có
sự mâu thuẫn nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018
Cụ thể bao gồm các trường sau:
* Các trường hợp trẻ em sinh tại nhà hoặc nơi khác không là cơ sở y tế; trẻ bị
bỏ rơi: trong các trường hợp này, trẻ em không có giấy chứng sinh mà được đăng ký khai sinh dựa trên thông tin về ngày, tháng, năm sinh thể hiện trên “văn bản xác nhận việc sinh”, “giấy cam đoan về việc sinh”, “biên bản xác nhận trẻ bị bỏ rơi” Đối với trường hợp này, thông tin về ngày, tháng, năm sinh của trẻ được ghi nhận
có khả năng thiếu chính xác và không đảm bảo tính khách quan do việc lập văn bản không được quy định chặt chẽ, khó kiểm tra vì dễ bị chi phối bởi ý chí chủ quan của người lập mà khó có sự kiểm chứng Đối với trường hợp này, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng thông tin trên các văn bản này làm căn cứ để cấp giấy khai sinh cho trẻ em, nên cần phải thực hiện việc thu thập tài liệu để chứng minh
* Các trường hợp Giấy khai sinh được đăng ký trễ hạn, đồng thời thủ tục đăng ký không có giấy chứng sinh, thì trường hợp này mặc dù thông tin về ngày tháng năm sinh trong tất cả các giấy tờ hộ tịch là đồng nhất thì Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn xem xét đến thời gian đăng ký quá hạn so với luật định là bao lâu và đây là trường hợp có căn cứ để nghi ngờ về độ tuổi, cần phải thực hiện việc xác minh, thu thập tài liệu giống như trường hợp có mâu thuẫn giữa các tài liệu hộ tịch
Ví dụ 1: Vào khoảng đầu tháng 02 năm 2020, trên các Báo Thanh Niên, Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, Zing.vn đã đưa tin vụ bé Nguyễn Thị B, ở xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh bị xâm hại tình dục, kết quả giám định về độ tuổi và độ tuổi theo giấy khai sinh thể hiện có sự chênh lệch lớn dẫn đến khả năng người bị tố giác đã thực hiện hành vi xâm hại tình dục bé B sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nội dung như sau:
Theo thông tin được đăng trên Zing.vn37 ngày 05/02/2020, Giấy khai sinh số
331 cấp ngày 01/11/2007, của UBND xã Tân Hội, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp: Nguyễn Thị B sinh ngày 02/01/2005, tính đến ngày bị xâm hại tình dục 17/11/2019, thì B có độ tuổi là 14 năm 10 tháng
37
Lê Trai, công an nói lý do giám định tuổi bé gái nghi bị hiếp dâm ở thành phố Hồ Chí Minh, https://news zing.vn/cong-an-noi-ly-do-giam-dinh-tuoi-be-gai-nghi-bi-hiep-dam-o-tphcm-post1043340.html, 22/4/2019
Trang 2316
Do Giấy khai sinh của B đăng ký năm 2007 (đăng ký khai sinh trễ hạn 02 năm) nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xác minh, kết quả xác định: gia đình B có 03 anh chị em đều được đăng ký khai sinh năm 2007 đồng thời xác minh tại Bệnh viện đa khoa huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, giấy nhập viện vào tháng 2 năm 200538 Từ kết quả xác minh, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh nhận định không có căn cứ xác định năm sinh của B nên tiến hành trưng cầu giám định tuổi Kết luận giám định của Trung tâm pháp y thành phố Hồ Chí Minh xác định B có độ tuổi từ 17 năm đến 17 năm 6 tháng
Việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bình Chánh nghi ngờ độ tuổi của
bé B là hoàn toàn có căn cứ, bởi cả 03 anh chị em của bé B đều được thực hiện đăng ký khai sinh vào năm 2007, không loại trừ tình huống bé B được người thân đăng ký khai sinh bằng ngày sinh của những người anh/chị ruột của B vì một lý do nào đó Trên thực
tế có nhiều trường hợp anh, em trong cùng gia đình sử dụng giấy tờ hộ tịch của nhau (nhất là ở khu vực nông thôn) để làm việc, học tập Bên cạnh đó, ngày nhập viện của
mẹ bé B tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp là tháng 2 năm
2005, không trùng khớp với thông tin tháng sinh của giấy khai sinh
Ví dụ 2: Nguyễn Thanh Nhí thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 09/10/2017 tại ấp Thuận Hưng, thị trấn Ngã Sáu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang39 Quá trình điều tra thu thập được giấy khai sinh và các giấy tờ hộ tịch xác định Nguyễn Thanh Nhí sinh ngày 16/12/2001, tuy nhiên Giấy khai sinh đăng ký trễ hạn (số ngày đăng ký) Cơ quan điều tra nghi ngờ thông tin về ngày tháng năm sinh
đã tiến hành xác minh lời khai của người thực hiện đăng ký khai sinh, xác định Nguyễn Thanh Nhí sinh ngày 16/12/2001 âm lịch, do người đăng ký khai sinh (dì ruột) có thói quen sử dụng ngày âm lịch Ngoài lời khai của người đi khai sinh không còn tài liệu nào khác để xác định tuổi thật của Nhí do cha và mẹ ruột đều không nhớ ngày sinh, cả hai không biết chữ nên không biết giấy khai sinh của Nhí ghi ngày sinh
là ngày tháng năm nào, đồng thời cả hai đều xác định được người đi khai sinh là dì ruột Cơ quan cảnh sát điều tra thực hiện việc đối chiếu từ ngày âm lịch sang ngày dương lịch thì ngày 16/12/2001 âm lịch là ngày 28/01/2002 Từ căn cứ này, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định Nguyễn Thanh Nhí, sinh ngày 28/01/2002, tính đến ngày
Trang 24Cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội
* Các trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh gồm: xác định được tháng, năm nhưng không xác định được ngày; xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng; xác định được nửa năm nhưng không xác định được ngày, tháng; xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng40
Trường hợp này việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
417 BLTTHS năm 2015
1.2 Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới
18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; nguyên nhân của thực trạng
1.2.1 Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh
Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi có ý nghĩa rất quan trọng, đây không chỉ là việc xác định một trong các yếu tố nhân thân để Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng hình sự, bên cạnh đó đối với người bị buộc tội, việc xác định tuổi là một trong những nội dụng bắt buộc theo quy định của khoản 1 Điều 416 Bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời việc xác định chính xác tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi còn nhằm đảm bảo việc xác định người bị buộc tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, tội danh và khung hình phạt được áp dụng đối với người bị buộc tội
40
Khoản 2 Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Trang 2518
Hiện nay tuy không có số liệu thống kê chính thức những vụ án có liên quan đến người dưới 18 tuổi, phải thực hiện việc trưng cầu giám định tuổi thật, nhưng qua thực tiễn công tác cũng như nghiên cứu những vụ án có liên quan đến người dưới 18 tuổi, thì vấn đề xác định độ tuổi của người bị buộc tội, bị hại là một trong những nội dung thường gặp khó khăn, vướng mắc vì việc xác định đúng tuổi thật ảnh hưởng đến việc xác định tội phạm và người phạm tội Đặc biệt, tại tỉnh Hậu Giang nói riêng và tại các tỉnh Tây nam bộ nói chung, do tập quán cũng như nhận thức của người dân nên việc đăng ký khai sinh thường rơi vào tình trạng khai sinh trễ hạn, thông thường thì trễ hạn ít nhất một năm Trong trường hợp cần xác định tuổi thật của người bị buộc tội hoặc của bị hại, nhưng đối tượng cần xác định tuổi không có giấy chứng sinh, đồng thời giấy khai sinh thực hiện đăng ký trễ hạn thì Cơ quan tiến hành tố tụng đều thực hiện trưng cầu giám định tuổi thật Trung bình mỗi năm, cơ quan Pháp y Phân viện Khoa học Hình sự Bộ Công an khu vực phía Nam tại thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận hơn 500 hồ sơ trưng cầu giám định tuổi thật, trung bình mỗi tháng đơn vị này phải xử lý từ 30 vụ đến 70 vụ41
Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 đã quy định và hướng dẫn đầy đủ cách thức để xác định tuổi của người dưới 18 tuổi như: các văn bản hộ tịch sử dụng làm căn cứ xác định tuổi, các trường hợp cần xác minh, thu thập tài liệu chứng minh độ tuổi, bên cạnh đó còn quy định
rõ chỉ trong trường hợp đã áp dụng đầy đủ các biện pháp nhưng vẫn không xác định được tuổi của người dưới 18 tuổi thì thực hiện việc trưng cầu giám định độ tuổi Tuy nhiên thực tiễn giải quyết các vụ án mà người bị buộc tội, bị hại là người dưới
18 tuổi, các cơ quan tiến hành tố tụng thường áp dụng biện pháp giám định tuổi trong trường hợp người cần xác định tuổi không có giấy chứng sinh hoặc đăng ký khai sinh trễ hạn mà tàng thư không lưu giấy chứng sinh (thực hiện giám định tuổi đối với các trường hợp có căn cứ nhưng cần có tài liệu bổ sung), lúc này Kết luận giám định tuổi có giá trị như là một loại chứng cứ có tính khách quan, khoa học, ví
dụ như hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Bị can Đào Thanh Tài bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu
Thành, tỉnh Hậu Giang truy tố tội Trộm cắp tài sản đối với hành vi thực hiện vào ngày 25/7/201642 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang trả hồ sơ để
41
Huyền Sơn - Văn Đức, Xác định tuổi qua giám định xương: Nút thắt những vụ án, http://antg.cand.com.vn/ Khoa-hoc-Ky-thuat-hinh-su/Xac-dinh-tuoi-qua-giam-dinh-xuong-Nut-that-nhung-vu-an-416482/, 22/4/2019 42
Vụ án số 31/VKS-HCT/HS/2016 do Viện kiểm sát nhân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thụ lý
Trang 2619
điều tra bổ sung do cần phải giám định tuổi của bị can, để xác định năng lực chịu trách nhiệm hình sự Nội dung cụ thể như sau:
- Ngày 09 tháng 11 năm 2015 Đào Thanh Tài thực hiện hành vi trộm cắp xe
mô tô Quá trình giải quyết tố giác về tội phạm, Cơ quan CSĐT thu thập được tài liệu là Giấy khai sinh số 589/02 do UBND xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 04/12/2012 thể hiện Đào Thanh Tài sinh ngày 28/01/2002 Giấy khai sinh thuộc trường hợp đăng ký quá hạn và tàng thư hộ tịch thể hiện không có giấy chứng sinh Theo giấy khai sinh số 589/02, tính đến ngày 09/11/2015, Tài có
độ tuổi là 13 năm 09 tháng 12 ngày Cơ quan CSĐT đã tiến hành trưng cầu giám định độ tuổi của Tài Kết luận giám định số 3558/C54B của Phân viện khoa học tại
TP Hồ Chí Minh kết luận độ tuổi của Đào Thanh Tài tại thời điểm giám định (tháng
11 năm 2015) vào khoảng 15 năm 09 tháng đến 16 năm 03 tháng
Căn cứ vào các chứng cứ trên, Cơ quan CSĐT đã không khởi tố vụ án, do Đào Thanh Tài không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội Trộm cắp tài sản (theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009)
- Ngày 27 tháng 5 năm 2016, Đào Thanh Tài lấy trộm điện thoại di động trị
giá 620.000 đồng của Lê Quốc Hải, đồng thời khi bị phát hiện Tài dùng ống kim tiêm đã sử dụng đâm vào tay ông Hải để tẩu thoát
- Ngày 11 tháng 6 năm 2016, Đào Thanh Tài trộm ghe và máy chạy xăng
hiệu Honda của ông Đinh Công Lợi có tổng giá trị 4.990.000 đồng
Cơ quan CSĐT tiến hành xác minh tài liệu để chứng minh độ tuổi của Tài như lấy lời khai của cha ruột, bà nội không xác định được ngày tháng năm sinh của Tài, chỉ xác định Tài sinh ngày 16/11/2002 âm lịch, sau khi sinh được 10 ngày thì cha ruột đến UBND xã Phú Hữu đăng ký khai sinh;
+ Xác minh tại trạm y tế xã Phú Hữu và UBND xã Phú Hữu không trích lục được giấy chứng sinh và sổ hộ tịch gì thời gian đã lâu nên bị tiêu hủy và thất lạc
+ Phòng Tư pháp huyện Châu Thành sau khi trích lục sổ đăng ký khai sinh hiện đang lưu trữ, xác định không có tên ông (bà) Đào Thanh Tài trong sổ bộ đăng
ký khai sinh năm 2002 của UBND xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ
+ Người sinh cùng thời điểm là Lê Khương Duy, sinh ngày 15/5/2001 (khai sinh đúng hạn)
Trang 2710 năm 2016) Đào Thanh Tài có độ tuổi 16 năm 08 tháng đến 17 năm 02 tháng Đào Thanh Tài đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự VKSND huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang truy tố Tài về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS năm
1999, sửa đổi bổ sung 2009 Tuy nhiên sau đó Viện kiểm sát đã rút quyết định truy
tố, lý do căn cứ vào kết quả xác minh có đủ căn cứ xác định năm sinh của Tài là năm 2002 Áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2011 thì ngày tháng năm sinh của Đào Thanh Tài là 31/12/2002 và bị can Tài không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Qua trường hợp thứ nhất cho thấy có sự chênh lệch lớn về độ tuổi của Đào Thanh Tài giữa kết luận giám định (căn cứ khoa học) với thông tin hộ tịch là giấy khai sinh và kết quả xác minh Tuy nhiên theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch
số 01/2011 thì việc xác định tuổi của Đào Thanh Tài không thuộc trường hợp Trưng cầu giám định tuổi vì kết quả xác minh xác định được năm sinh của Tài là 2002
đó cả hai đi thành phố Hồ Chí Minh làm thuê Ngày 26/5/2017, bà Phan Thị Bích Hạnh (mẹ ruột Dung) đến công an thị trấn Ngã Sáu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang trình báo con gái bị mất tích43
Khi đến thành phố Hồ Chí Minh, Thứ và Dung làm thuê ở nhiều nơi, trong thời gian này cả hai quan hệ tình dục với nhau 2 lần Ngày 22/6/2017, Thứ đưa Dung trở về nhà, ngày 23/6/2017, Thứ đến Công an thị trấn Ngã Sáu tự thú Quá trình điều
43
Vụ án số 36/VKS-HCT/HS/2017 do Viện kiểm sát nhân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thụ lý
Trang 28án hình sự; khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với Lê Xuân Thứ, về tội Hiếp dâm trẻ
em theo quy định tại khoản 4 Điều 112 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm
2009 Các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hậu Giang được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phê chuẩn theo quy định
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành xác định các căn cứ xác định tuổi thật của Nguyễn Thị Ngọc Dung, qua đó đã thu thập được bản chính giấy đăng ký khai sinh của Nguyễn Thị Ngọc Dung; Đơn xin đăng ký khai sinh quá hạn của
bà Phan Thị Bích Hạnh, mẹ ruột và là người đăng ký khai sinh cho Dung vào ngày 28/8/2007 và Tờ cam kết của bà Hạnh gửi UBND xã Tà Đảnh, nội dung “tôi Phan Thị Bích Hạnh, sinh năm 1977, ấp Tân Trang, Tà Đảnh, Tri Tôn, An Giang, vào năm 2004, tôi có sinh một cháu gái tên Nguyễn Thị Ngọc Dung, sinh ngày 10/10/2004, nhưng không đến cơ sở y tế nên không có giấy chứng sinh và từ trước đến nay chưa đăng ký khai sinh” Ngoài ra, lời khai của bà Hạnh tại Cơ quan điều tra về ngày tháng năm sinh của Dung như sau: “Tôi sinh cháu Dung vào ngày 14/3/2004 âm lịch, tôi nhớ khoảng tháng 3 chứ không nhớ cụ thể là chính xác hay không, nhưng chính xác là vào năm
2004 Khi sinh cháu Dung thì tôi sinh tại nhà bà mụ tên Tư, ở cầu 13, xã Tân Lập Khi sinh cháu, tôi được bà mụ Tư đưa giấy chứng sinh, nhưng khi làm giấy khai sinh cho cháu ở UBND xã Tà Lãnh thì cán bộ đã giữ giấy chứng sinh lại Tôi đăng ký khai sinh cho cháu trễ 3 năm, tức là năm 2007”; … “Tôi nhớ tôi sinh cháu Dung vào mùa khô, tôi nhớ là ngày 14/3/2004 âm lịch”; … “Tôi có 3 người con gái, đứa thứ nhất Nguyễn Thị Ngọc Nhiều, sinh tại Đồng Tháp, không nhớ ngày tháng năm sinh, … Nguyễn Thị Ngọc Dung, sinh ngày 14/3/2004 âm lịch, …Phan Thị Bích Ngọc, sinh ngày 17 không nhớ tháng, năm con ngựa”; … “cha của Dung tên Nguyễn Văn Hiền, không biết sinh năm mấy, hiện tại Tôi và Hiền đã ly hôn năm 2004”
Do giấy khai sinh của Dung được đăng ký quá hạn, không có giấy chứng sinh, đồng thời lời khai của người thân, người biết về ngày tháng năm sinh của Dung chỉ có bà Phan Thị Bích Hạnh, nhưng lời khai của bà Hạnh về ngày tháng năm sinh của Dung có nhiều điểm chưa có căn cứ, mâu thuẫn với các tài liệu thu
Trang 29“giao cấu với trẻ em”, theo quy định tại khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự năm
1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Như vậy, quá trình tố tụng của các vụ án nêu trên được thực hiện theo quy định của BLTTHS năm 2003 và Thông tư liên tịch số 01/2011, mặc dù quy định của pháp luật tố tụng thời điểm này không quy định cụ thể Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền căn cứ vào giấy tờ hộ tịch để xác định tuổi của người dưới 18 tuổi cũng như không hướng dẫn các trường hợp cần thực hiện việc xác minh, thu thập tài liệu
để xác định tuổi, nhưng do người cần xác định tuổi đăng ký khai sinh trễ hạn, Cơ quan tiến hành tố tụng nghi ngờ thông tin về ngày tháng năm sinh trên tài liệu hộ tịch nên xác định đây là trường hợp có căn cứ xác định tuổi nhưng cần bổ sung tài liệu để chứng minh và đã tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng minh độ tuổi, theo cách thức mà BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018 quy định Quá trình xác minh, Cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá tài liệu thu thập được không có cơ sở xác định tuổi nên thực hiện trưng cầu giám định, đồng thời sử dụng kết luận giám định làm căn cứ để xác định năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và làm căn cứ xác định tội danh của người bị buộc tội
Nghiên cứu 04 vụ án nêu trên xác định cả 04 trường hợp thông tin trên tài liệu
hộ tịch đều trùng khớp, không có mâu thuẫn và không thuộc trường hợp phải thực hiện việc giám định tuổi theo quy định của Thông tư liên tịch số 01/2011, cũng như không thuộc trường hợp xác minh, thu thập tài liệu để chứng minh độ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 Tuy nhiên thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự, các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều xác định các trường hợp này
là có căn cứ xác định tuổi nhưng cần phải bổ sung tài liệu chứng minh
Trang 3023
Một vấn đề Chúng ta có thể nhận thấy là các trường hợp này đều không thuộc trường hợp cần phải thực hiện việc giám định tuổi, nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng đều thực hiện việc Trưng cầu giám định (03 vụ/04 vụ) Việc tiến hành các hoạt động xác minh thu thập tài liệu để xác định tuổi trong 04 vụ án này của Cơ quan CSĐT bao gồm hoạt động Trưng cầu giám định độ tuổi là không đúng quy định tại Điều 6 và Điều 12 Thông tư liên tịch số 01/2011, cũng như quy định tại Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018, tuy nhiên khi đi sâu vào nguyên nhân thì có thể nhận thấy, Cơ quan CSĐT trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng đã áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc xác định sự thật của vụ án để giải quyết vấn đề xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi
Mặt khác trong 4 trường hợp phải xác định tuổi đã nêu, chỉ 01 trường hợp của Nguyễn Thanh Nhí là Cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào tài liệu hộ tịch và kết quả xác minh để xác định tuổi; 03 trường hợp còn lại đều tiến hành trưng cầu giám định tuổi, nhưng độ tuổi do kết quả trưng cầu giám định xác định chỉ được sử dụng trong trường hợp của bị hại Nguyễn Thị Ngọc Dung, đối với Đào Thanh Tài
và bé B (ở huyện Bình Chánh) độ tuổi do kết luận giám định xác định được sử dụng như một trong các tài liệu để làm căn cứ xác định tuổi
Qua việc nghiên cứu các vụ án trên, chúng ta có thể thấy rằng việc đánh giá như thế nào là có căn cứ để xác định tuổi hoàn toàn phụ thuộc vào Cơ quan tiến hành
tố tụng; dấu hiệu để nghi ngờ thông tin ngày tháng năm sinh trên giấy hộ tịch cũng phụ thuộc vào đánh giá của Cơ quan tiến hành tố tụng mặc dù các giấy tờ hộ tịch không mâu thuẫn nhau Qua các vụ án đã cho thấy việc đăng ký khai sinh trễ hạn và không có giấy chứng sinh là lý do để Cơ quan tiến hành tố tụng nghi ngờ ngày tháng năm sinh của người dưới 18 tuổi; Đồng thời, Cơ quan tiến hành tố tụng dùng kết luận giám định tuổi như một trong những tài liệu chứng minh độ tuổi của người dưới 18 tuổi theo quy định của thông tư liên tịch số 01/2011 và Thông tư liên tịch số 06/2018 trong trường hợp có căn cứ xác định tuổi nhưng cần bổ sung tài liệu để chứng minh Việc lựa chọn độ tuổi của người dưới 18 tuổi trong trường hợp giấy tờ hộ tịch và kết luận giám định có sự chênh lệnh nhau dẫn đến người bị buộc tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc ảnh hưởng đến tội danh của người bị buộc tội thì Cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn tài liệu để làm căn cứ xác định độ tuổi dựa trên việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để có lợi cho người bị buộc tội
Trang 3124
Việc cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được căn cứ “đáng tin cậy” để xác định tuổi thật của người bị buộc tội hoặc bị hại là người dưới 18 tuổi trong quá trình giải quyết vụ án sẽ là căn cứ quan trọng để xử lý vụ án đúng người, đúng tội, không
bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Đồng thời cũng hạn chế việc Bản án
sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị hoặc Tòa án cấp phúc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại do cần phải chứng minh tuổi thật của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng xác định tuổi người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ xác định tuổi và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 6 thông tư liên tịch số 06/201844 quy định việc xác định tuổi của người
bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các loại giấy tờ, tài liệu sau: Giấy chứng sinh; Giấy khai sinh; Chứng minh nhân dân; Thẻ căn cước công dân; sổ hộ khẩu; Hộ chiếu, nếu các tài liệu này mâu thuẫn nhau thì tiến hành xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm giấy tờ tài liệu để chứng minh về tuổi
Như đã phân tích ở mục 1.1 thì các tài liệu này có liên quan nhau trong việc xác định ngày tháng năm sinh của người dưới 18 tuổi, trong đó giấy khai sinh là căn cứ để
cơ quan có thẩm quyền cấp các giấy tờ hộ tịch còn lại, đồng thời Điều 6 Nghị định 123/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch thì Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân, các loại giấy tờ khác của cá nhân có thông tin về nhân thân như: họ tên, ngày tháng năm sinh, phải phù hợp với Giấy khai sinh Việc thông tư liên tịch số 06/2018 quy định nếu các tài liệu hộ tịch khác mâu thuẫn với nhau thì Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác minh, thu thập tài liệu chứng minh độ tuổi là mâu thuẫn với quy định tại Điều 6 Nghị định 123/NĐ-CP, gây khó khăn cho các Cơ quan tiến hành tố tụng gì mất rất nhiều thời gian trong việc thu thập tài liệu chứng minh tuổi thật
Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 06/2018 quy định “tìm giấy tờ tài liệu để chứng minh về tuổi” trong trường hợp có mâu thuẫn nhau, nhưng không xác định rõ tài liệu nào có giá trị chứng minh, tài liệu này do cơ quan nào lập, các yếu tố về giá trị pháp
lý của tài liệu để tài liệu trở thành chứng cứ được sử dụng làm căn cứ xác định tuổi
44
Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH, ngày 21 tháng 12 năm
2018, của VKSNDTC, TANDTC, Bộ công an, Bộ tư pháp, Bộ lao động thương binh và xã hội quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi
Trang 3225
của người dưới 18 tuổi; không quy định như thế nào là có căn cứ để xác định tuổi Việc không xác định cụ thể các vấn đề trên ngoài việc gây khó khăn cho Cơ quan tiến hành tố tụng như đã phân tích còn dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các địa phương, điển hình là việc xác định tuổi của người bị buộc tội Nguyễn Thanh Nhí của ví dụ 2, Cơ quan điều tra căn cứ vào lời khai của người đi khai sinh, xác định ngày tháng năm sinh trên giấy khai sinh là ngày âm lịch, tiến hành đối chiếu sang ngày dương lịch, từ kết quả đối chiếu xác định Nguyễn Thanh Nhí không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng bé B trong ví dụ 1, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh sau khi thực hiện các biện pháp xác minh xác định giấy chứng sinh của bé B không có thông tin về giới tính, đồng thời cả 3 anh, chị, em của B đều được đăng ký khai sinh vào năm 2007 nên xác định không có căn cứ xác định năm sinh của B và tiến hành trưng cầu giám định tuổi Tuy nhiên độ tuổi của B theo giấy khai sinh và độ tuổi theo kết luận giám định có sự chênh lệch nhau lớn, nếu xác định
B có độ tuổi 14 năm 10 tháng theo giấy khai sinh thì người bị tố giác phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145 Bộ luật hình sự, nhưng nếu sử dụng kết luận độ tuổi của B theo kết luận giám định thì người bị tố giác không phạm tội
Chính vấn đề thực tiễn này cho chúng ta thấy việc đánh giá như thế nào là có căn cứ xác định ngày sinh, tháng sinh hay năm sinh sau khi đã tiến hành các biện pháp xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 là một vấn đề khó khăn, bởi vấn đề này sẽ bị chi phối bởi đánh giá chủ quan của Người tiến hành tố tụng, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Việc xác định tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp có căn cứ nhưng cần bổ sung tài liệu để chứng minh thường gặp khó khăn do Cơ quan tiến hành tố tụng không thu thập được giấy chứng sinh Thông tư 53/2017/TT-BYT, ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu chuyên môn nghiệp vụ ngành y tế, thì Giấy chứng sinh thuộc nhóm “hồ sơ bệnh án nội trú, ngoại trú thông thường”, thời gian lưu trữ là 10 năm Khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình
sự quy định Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về một số loại tội phạm45, như vậy các trường hợp Người dưới 18 tuổi có độ tuổi từ 0
45
khoản 2 Điều 12 BLHS “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm
rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143,
144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303
và 304 của Bộ luật này.”
Trang 3326
tuổi đến 10 tuổi cần phải xác định tuổi thì Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc thu thập giấy chứng sinh tại cơ sở y tế; từ 11 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu sổ hộ tịch lưu trữ tại UBND cấp xã không ghi nhận thủ tục đăng ký khai sinh kèm theo giấy chứng sinh thì Cơ quan tiến hành tố tụng không thu thập được giấy chứng sinh vì
Cơ sở y tế đã hết thời hạn bảo quản Có trường hợp này có hai hậu quả xảy ra, đó là:
- Người dưới 18 tuổi là bị hại sẽ ảnh hưởng đến việc đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng; ảnh hưởng đến việc xác định tội danh, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với người bị buộc tội
- Người dưới 18 tuổi là người bị buộc tội ngoài ảnh hưởng đến việc đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng, còn ảnh hưởng đến việc xác định người bị buộc tội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hay không; ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp tố tụng, các hình phạt đối với người dưới 18 tuổi
Thực tiễn xác định tuổi của người dưới 18 trong tố tụng hình sự còn nhiều vướng mắc chứ không chỉ có trường hợp giấy tờ hộ tịch dùng để xác định tuổi có mâu thuẫn nhau như khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 hướng dẫn, mà thực tiễn Các cơ quan tiến hành tố tụng với trách nhiệm chứng minh tội phạm, trách nhiệm xác định sự thật của vụ án, còn phải xem xét đến trình tự thủ tục cấp các giấy
tờ hộ tịch; độ tuổi được xác định có tương xứng với thể trạng, điều kiện vật chất, điều kiện sống của người dưới 18 tuổi, … Chính vì vậy, thực tiễn tố tụng xảy ra nhiều trường hợp người bị buộc tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì yếu tố tuổi của họ hoặc tuổi của bị hại có sự thay đổi do trong quá trình Cơ quan tiến hành
tố tụng áp dụng các biện pháp xác minh khi có căn cứ để nghi ngờ thông tin hộ tịch mặc dù giấy tờ hộ tịch không mâu thuẫn nhau
Ngoài ra, việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi trong thực tiễn phát sinh nhiều khó khăn còn có nguyên nhân từ công tác quản lý hành chính về tư pháp hộ tịch Hiện nay việc cấp giấy chứng sinh của Cơ sở y tế, việc cấp giấy khai sinh của UBND cấp xã, việc đăng ký hộ khẩu, việc cấp giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, chưa thực hiện liên thông giữa các cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ hộ tịch này với nhau thông qua cơ sở dữ liệu điện tử, mà được thực hiện đơn lẻ đối với từng đơn vị Chính vì đều này gây khó khăn và mất nhiều thời gian trong việc tra cứu, thu thập tài liệu chứng minh độ tuổi
Trang 3427
1.3 Các giải pháp hoàn thiện quy định xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh
Theo các quy định về trình tự thủ tục thực hiện việc đăng ký các loại giấy tờ hộ tịch làm căn cứ xác định tuổi đã phân tích ở phần trên, cũng như xem xét đến tính liên quan về thông tin ngày tháng năm sinh của cá nhân được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận trong các giấy tờ này, có thể nhận thấy rằng: Giấy chứng sinh là tài liệu được cơ sở y tế có thẩm quyền cấp cho cha, mẹ hoặc người thân thích của trẻ em
để thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ theo quy định của luật hộ tịch; là giấy tờ gốc có giá trị xác định chính xác tuyệt đối ngày sinh của người dưới 18 tuổi
Giấy khai sinh được đăng ký đúng hạn, đồng thời người đăng ký khai sinh cho trẻ khi thực hiện thủ tục đăng ký có nộp giấy chứng sinh Giấy khai sinh trong trường hợp này có giá trị chứng minh ngày tháng năm sinh của người dưới 18 Ngoài ra, theo quy định của Nghị định số 23 hướng dẫn thi hành luật hộ tịch đã xác định Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc, tất cả các tài liệu khác nếu có nội dung mâu thuẫn so với giấy khai sinh thì sử dụng thông tin trên giấy khai sinh Việc quy định thêm các tài liệu khác để xác định tuổi của người dưới 18 tuổi như Thông tư liên tịch số 06/2018 hiện hành trong áp dụng thực tiễn là chưa phù hợp bởi các tài liệu như sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công an, hộ chiếu đều được xác định trên cơ sở thông tin hộ tịch thể hiện trên giấy khai sinh; đồng thời các tài liệu này đều được lập khi người dưới 18 tuổi có độ tuổi từ 15 năm Thời điểm này, nếu thông tin hộ tịch trên giấy khai sinh không đủ cơ sở thì cũng không thể có tài liệu nào khác đủ giá trị pháp lý cũng như tính khách quan – một trong các thuộc tính của chứng cứ, để làm cơ sở xác định tuổi có độ tin cậy cao hơn giấy khai sinh
Do đó chỉ giấy chứng sinh và giấy khai sinh là 02 căn cứ xác định tuổi trực tiếp, còn chứng minh nhân dân, căn cước công dân, sổ hộ khẩu, hộ chiếu chỉ là căn cứ xác định tuổi gián tiếp bởi được thiết lập trên dữ liệu ngày tháng năm sinh của giấy khai sinh Từ những lý do trên, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định về xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi như sau:
Thứ nhất: kiến nghị sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch
số 06/2018 thành “Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại dưới 18 tuổi căn
cứ vào một trong hai loại giấy tờ sau: a) Giấy chứng sinh; b) Giấy khai sinh được đăng ký đúng hạn”
Trang 3528
Sửa đổi khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 “trong trường hợp không thu thập được Giấy chứng sinh hoặc Giấy đăng ký khai sinh trễ hạn thì tiến hành thì Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng phải lấy lời khai, xác minh những người thân thích, các cá nhân có liên quan
về thời gian, địa điểm nơi người dưới 18 tuổi được sinh, học tập, lao động, sinh hoạt
để chứng minh về tuổi của người đó”
Thứ hai: Kiến nghị Bộ y tế bổ sung Giấy chứng sinh vào danh mục hồ sơ tài liệu y tế cần lưu trữ với thời gian lưu trữ là vĩnh viễn
Thông tư số 5346 của Bộ Y tế quy định thời gian lưu trữ đối với bệnh án nội trú, ngoại trú thông thường là 10 năm, theo quy định này thì giấy chứng sinh là tài liệu trong hồ sơ bệnh án nội trú thông thường có thời gian lưu trữ tại cơ sở y tế là 10 năm Đây là giấy tờ gốc, có độ tin cậy cao nhất trong các loại giấy tờ hộ tịch có giá trị xác định tuổi của một cá nhân, đặc biệt là đối với việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi trong hoạt động tố tụng hình sự - đây là một loại chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự do đó để thuận lợi cho việc quản lý hộ tịch, nhân thân và lý lịch tư pháp, đề xuất Bộ y tế tách Giấy chứng sinh ra khỏi danh mục hồ
sơ bệnh án thông thường và quy định thành một loại tài liệu riêng có thời hạn bảo quản là vĩnh viễn
Thứ ba: triển khai thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác hộ tịch
trên cơ sở xây dựng và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Kiến nghị Bộ Y tế, Bộ Tư pháp và Bộ Công an triển khai thực hiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tiến đến việc khai thác thông tin hộ tịch trong hoạt động tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền Tiến hành liên thông việc cấp giấy chứng sinh của Cơ sở y tế nơi trẻ em sinh ra với UBND cấp xã có thẩm quyền đăng ký khai sinh, đều này sẽ tạo điều kiện cho người dân thực hiện việc đăng ký khai sinh được nhanh chóng, dễ dàng mà đặc biệt sẽ hạn chế việc đăng ký khai sinh trễ hạn Với cơ sở dữ liệu về hộ tịch này, Cơ quan công an sẽ dễ dàng quản lý dân
cư và tiện ích trong công tác quản lý hành chính của nhà nước
46
Thông tư số 53/2017/TT-BYT, ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu chuyên môn nghiệp vụ Ngành y tế
Trang 3629
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi đối với trường hợp có căn cứ để xác định và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh trong thực tiễn tố tụng hình sự từ khi áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Thông tư liên tịch số 01/2011 đến áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018 mặc dù đã được quy định và hướng dẫn ngày càng cụ thể, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số điểm vướng mắc khi Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng các quy định này vào thực tiễn bởi các lý do sau:
- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018 hiện hành quy định 06 loại tài liệu hộ tịch, có giá trị pháp lý như nhau trong việc xác định tuổi, đồng thời chỉ cần sử dụng có 1 trong 06 loại tài liệu này để làm căn cứ xác định tuổi của người dưới 18 tuổi Tuy nhiên chỉ có Giấy chứng sinh và Giấy khai sinh là tài liệu hộ tịch gốc, 04 loại tài liệu còn lại gồm Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Sổ hộ khẩu, Hộ chiếu đều được Cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp dựa trên cơ sở thông tin của Giấy khai sinh Trong hợp này nếu thông tin về ngày tháng năm sinh trên giấy khai sinh không đúng thì các tài liệu hộ tịch được cấp dựa trên cơ sở giấy khai sinh đều không có căn cứ để xác định tuổi
Do đó, việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi chỉ cần căn cứ vào 02 loại tài liệu
hộ tịch gốc là giấy chứng sinh và giấy khai sinh được đăng ký theo đúng thời hạn và trình tự luật định
- Thông tư liên tịch số 06/2018 quy định Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác minh, thu thập tài liệu chứng minh tuổi của người dưới 18 tuổi trong trường hợp các tài liệu hộ tịch Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Sổ hộ khẩu, Hộ Chiếu có mâu thuẫn nhau, tuy nhiên thực tiễn tố tụng ít phát sinh tình huống này do Giấy khai sinh là tài liệu gốc được
cơ quan có thẩm quyền sử dụng làm căn cứ để cấp các tài liệu hộ tịch còn lại Mặt khác, Nghị định số 123/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật hộ tịch thì Giấy khai sinh sẽ được lựa chọn để sử dụng trong trường hợp giấy tờ hộ tịch có sự mâu thuẫn nhau mà không cần phải thực hiện việc thu thập tài liệu để chứng minh độ tuổi, việc Thông tư liên tịch số 06/2018 quy định xác minh trong trường hợp tài liệu hộ tịch mâu thuẫn là chưa hợp lý và trái với quy định của Luật hộ tịch
Trang 3730
Thực tiễn xác định tuổi của người dưới 18 tuổi phát sinh việc Cơ quan tiến hành tố tụng xác định căn cứ để nghi ngờ thông tin của tài liệu hộ tịch dùng để chứng minh tuổi của người dưới 18 tuổi là “giấy khai sinh được đăng ký trễ hạn”, nhưng căn cứ này không có tính pháp lý bởi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không quy định đây là căn cứ để Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc xác minh, thu thập chứng cứ để chứng minh tuổi của người dưới 18 tuổi Mặt khác, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018 không quy định việc các
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, xác minh tính hợp pháp của Giấy tờ hộ tịch dùng làm căn cứ xác định tuổi, vì trong thực tiễn quản lý hộ tịch còn tồn tại nhiều trường hợp trẻ em được khai sinh trễ hạn, trẻ sinh bên ngoài cơ sở y tế, trẻ bị bỏ rơi; không quy định tài liệu nào cần thu thập trong quá trình xác minh để
sử dụng làm căn cứ xác định tuổi của người dưới 18 tuổi đối với các trường nêu trên, dẫn đến Cơ quan tiến hành tố tụng từng cấp, từng địa phương mặc dù đều thực hiện việc xác minh để chứng minh độ tuổi nhưng việc lựa chọn căn cứ chứng minh thì khác nhau và mang tính chủ quan Do đó, cần quy định cụ thể căn cứ để nghi ngờ thông tin về ngày tháng năm sinh ghi nhận trên tài liệu hộ tịch; xác định tài liệu
có giá trị pháp lý cần thu thâp trong quá trình xác minh, đồng thời thực hiện việc lưu trữ vĩnh viễn đối với tài liệu hộ tịch là giấy chứng sinh
- Phương pháp quản lý dân cư trong thủ tục hành chính về tư pháp hộ tịch còn thủ công, chưa có sự liên thông giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp các giấy tờ hộ tịch: giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu, hộ chiếu nên còn xảy ra trường hợp đăng ký trễ hạn, thông tin hộ tịch mâu thuẫn và công tác tra cứu, xác minh mất nhiều thời gian Để khắc phục vướng mắc này, cần thực hiện việc liên thông và số hóa thông tin về hộ tịch của công dân trên phạm vi toàn quốc, để đáp ứng nhanh chóng, kịp thời, chính xác các hoạt động quản lý nhà nước về dân cư nói chung và hoạt động tố tụng hình
sự nói riêng
Trang 3831
CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI, TRONG TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH THEO
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ
để xác định
2.1.1 Các trường hợp không có căn cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 không quy định việc xác định tuổi của người dưới
18 tuổi, tuy nhiên thực tiễn tố tụng hình sự phát sinh nhiều vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án, nhất là vướng mắc trong việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng với tư cách người bị buộc tội và bị hại Xác định tuổi của người
bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi nhằm xác định căn cứ về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, cũng như các vấn đề có liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm Để giải quyết vấn đề này, Thông tư liên tịch số 01/2011 đã hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS năm 2003 đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, trong đó hướng dẫn cách xác định tuổi của người chưa thành niên, tuy nhiên trong quá trình áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc, do quy định hướng dẫn chưa khái quát, chưa phù hợp nên việc áp dụng
còn chưa thống nhất trên phạm vi cả nước Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được
ban hành, đã pháp điển hóa Thông tư liên tịch số 01/2011 đối với nội dụng xác định tuổi người chưa thành niên tại Điều 417, quy định thống nhất cách xác định tuổi của người bị buộc tội và bị hại là người dưới 18 tuổi Việc xác định tuổi của người dưới
18 tuổi do Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện, trong trường hợp đã
áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng vẫn không xác định chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của người dưới 18 tuổi theo 04 trường hợp thiếu căn cứ xác định đó là: xác định được tháng, nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng
đó làm ngày sinh; xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày tháng sinh; xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của nửa năm đó làm ngày tháng sinh; xác định được năm nhưng không xác định được ngày tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong
Trang 3932
năm đó làm ngày tháng sinh; Và trong mọi trường hợp nếu không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi So với hướng dẫn xác định tuổi của bị can, bị cáo và người bị hại là người chưa thành niên của Thông tư liên tịch số 01/2011 thì Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thống nhất cách xác định tuổi đối với cả người bị buộc tội và bị hại là người dưới 18 tuổi, đều này đã bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi cũng như đã bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 414 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Qua nghiên cứu quy định tại Điều 6 và Điều 12 Thông tư liên tịch số 01/2011 cũng như quy định tại Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông
tư liên tịch số 06/2018 hiện hành, có thể phân việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi thành 03 trường hợp gồm: có căn cứ định tuổi; có căn cứ xác định tuổi nhưng cần bổ sung tài liệu để chứng minh và trường hợp không có căn cứ để xác định tuổi Như vậy, để phân biệt trường hợp không có căn cứ để xác định tuổi với trường hợp
có căn cứ để xác định tuổi nhưng cần bổ sung tài liệu để chứng minh, cần lưu ý các đặc điểm sau đây của trường hợp không có căn cứ xác định tuổi:
- Thứ nhất: tính có căn cứ của tài liệu hộ tịch và việc không thể xác định
năm sinh của người dưới 18 tuổi
Tài liệu hộ tịch cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền sử dụng để xác định tuổi, nếu người dưới 18 tuổi có tài liệu hộ tịch theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 nhưng tài liệu này không đủ điều kiện để được sử dụng làm căn cứ xác định ngày tháng năm sinh47 và Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền đã thực hiện các biện pháp hợp pháp nhưng vẫn không xác định được chính xác năm sinh
Trường hợp này xảy ra khi Trẻ em được nhận làm con nuôi từ nhỏ và giấy tờ
hộ tịch do người nhận nuôi thực hiện không dựa trên thông tin của giấy tờ hộ tịch gốc Thực tiễn đăng ký khai sinh ở một số địa phương đặc biệt là khu vực nông thôn, cán bộ hộ tịch chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật dẫn đến trường hợp trẻ được nhận làm con nuôi nhưng tàng thư hộ tịch không thể hiện Khi xảy ra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh thì phát hiện đối tượng cần xác định tuổi là con nuôi và thông tin về ngày tháng năm sinh do người đi khai sinh cung cấp
47
Mục 1.1.3 chương I
Trang 40và ngày tháng năm sinh là do ông Hải tự khai báo với cán bộ hộ tịch để đăng ký giấy khai sinh cho Hậu nhằm mục đích cho Hậu đi học
- Thứ hai: trường hợp xác định tuổi người dưới 18 tuổi mà người cần xác
định tuổi không có tất cả tài liệu hộ tịch, thường xảy ra khi người dưới 18 tuổi là trẻ
bị bỏ rơi, trẻ mồ côi, trẻ em sống lang thang từ nhỏ không còn người thân
Ví dụ như trường hợp ông Q ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên có cháu nội sinh năm 2009 Bố mẹ cháu không đăng ký kết hôn, sau khi sinh con mẹ bỏ đi,
bố bị bắt nên ông nội nuôi cháu Hiện tại, cháu không có giấy khai sinh để có thể
đi học Cán bộ Trung tâm Công tác xã hội (TTCTXH) tỉnh Thái Nguyên đã hướng dẫn ông đến UBND xã để làm các thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu nhưng ông không đến; hoặc như trường hợp vợ chồng anh C ở huyện Yên Dũng, Bắc Giang
do hiếm con nên vào tháng 1/ 2016 được một người tự nhận là bác sĩ ở bệnh viện sản Bắc Giang cho một bé trai 2 ngày tuổi bị bỏ rơi ở bệnh viện mà không có giấy
tờ gì Sau 2 ngày nhận đứa trẻ về nuôi anh chị C mới đến UBND xã trình báo Được UBND xã hướng dẫn trở lại bệnh viện để làm rõ sự việc, tuy nhiên anh C đến bệnh viện nhưng không có ai trong bệnh viện biết sự việc và đứa trẻ, cũng như thông tin về người cho anh C đứa trẻ, do đó anh không làm được giấy khai sinh và thẻ BHYT cho trẻ 49