Không đồng ý với hướng giải quyết trong câu thứ hai của Điều 77 Bản thảo CISG, đại diện của phái đoàn Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - học giả Honnold đã đề trình một sửa đổi, trong đó, đề xuất c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
PHAN TRUNG PHÁP MSSV: 1653801015175
CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TỔN THẤT CỦA BÊN BỊ VI PHẠM THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 VỀ
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Trang 2LỜI TRI ÂN
Trải qua bốn năm học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, điều mà em cảm thấy tự hào nhất về bản thân mình là em đã trưởng thành và mạnh mẽ hơn rất nhiều Quả thực, kiến thức pháp luật đã khiến em cứng cáp và bản lĩnh hơn khi đối diện và giải quyết các vấn đề xảy ra trong cuộc sống
Qua đề tài khóa luận này, mong muốn lớn nhất của em là được một lần cuối dưới mái trường này, bằng cách chỉnh chu nhất, đóng góp một công trình khoa học nhỏ cho kho tàng pháp luật to lớn của trường Luật, để ghi nhớ rằng em đã từng là một sinh viên Luật chăm chỉ và ham học hỏi
Một lời cuối, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và ý nghĩa nhất đến tập thể Thầy, Cô giáo của trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, đã vun đắp và xây cho
em những hoài bão trên con đường hành nghề Luật trong tương lai Những kiến thức em được Thầy, Cô truyền dạy là điều quý báu và giá trị nhất trong bốn năm học vừa qua Đặc biệt, em xin dành vài dòng cuối để gửi lời cảm ơn đến những người Thầy, người Cô có ảnh hướng rất lớn đến em trong bốn năm ngắn ngủi tại trường Em cảm ơn Cô Nguyễn Lê Hoài, cố vấn học tập của lớp QT41.3, vì đã yêu thương và chỉ bảo tập thể lớp nói chung và bản em nói riêng trong ngần ấy thời gian của thời sinh viên Em cảm ơn Trần Thị Thu Hà (B), Cô giáo dạy môn Luật Hiến Pháp, “người thầy” đầu tiên của em trong trường Luật, đã truyền cảm hứng cho em rất nhiều trong môi trường học thuật pháp lý này Và, em xin cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn, Nguyễn Hoàng Thái Hy, vì đã là người thầy đồng hành cùng em trong những ngày tháng cuối cùng tại trường Luật, Thầy đã truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm thực tế để em có thể hoàn thành tốt nhất khóa luận này
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Trân trọng,
PHAN TRUNG PHÁP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi, tác giả của đề tài khóa luận này, xin cam đoan rằng đây là công trình do bản thân tôi nghiên cứu, xây dựng và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Hoàng Thái Hy Toàn bộ tài liệu tham khảo sử dụng trong đề tài này đã được trích dẫn theo đúng quy định
Người cam đoan
PHAN TRUNG PHÁP
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CISG
Công ước viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
(“United Nations Convention on Contracts for the International
Sale of Goods”)
PICC Bộ quy tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế (“Principles of
International Commercial Contracts”)
UNCITRAL Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (“United
Nations Commission on International Trade Law”)
UNIDROIT Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế (“International Institute for the
Unification of Private Law”)
PECL Bộ Nguyên tắc Luật Hợp đồng châu Âu (“Principles of European
Contract Law”)
Trang 5MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
KHÁI QUÁT 1
CHƯƠNG I: CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TỔN THẤT CẦN THỰC HIỆN CỦA BÊN MUA 5
1.1 Sử dụng hàng hóa có sẵn để thay thế 5
1.1.1 Cơ sở áp dụng 5
1.1.2 Tính hợp lý của biện pháp 7
1.2 Chấp nhận sử dụng hàng hóa bị khiếm khuyết 10
1.2.1 Cơ sở áp dụng 10
1.2.2 Tính hợp lý của biện pháp 11
1.3 Khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa 14
1.3.1 Cơ sở áp dụng 14
1.3.2 Tính hợp lý của biện pháp 17
1.4 Bán lại hàng hóa với mức giảm giá có thể thực hiện được 20
1.4.1 Cơ sở áp dụng 20
1.4.2 Tính hợp lý của biện pháp 23
1.5 Biện pháp giao kết hợp đồng thay thế 27
1.5.1 Cơ sở áp dụng 27
1.5.2 Tính hợp lý của biện pháp 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 39
CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TỔN THẤT CẦN THỰC HIỆN CỦA BÊN BÁN 40
2.1 Lưu giữ và bảo quản hàng hóa 40
2.1.1 Cơ sở áp dụng 40
2.1.2 Tính hợp lý của biện pháp 41
2.2 Chấp nhận giảm giá bán cho bên mua 44
2.2.1 Cơ sở áp dụng 44
Trang 62.2.2 Tính hợp lý của biện pháp 45
2.3 Ngừng việc mua hàng hóa từ nhà cung cấp để bán lại cho bên mua 48
2.3.1 Cơ sở áp dụng 48
2.3.2 Tính hợp lý của hàng hóa 49
2.4 Ký kết hợp đồng mua bán khác để thay thế hợp đồng ban đầu 52
2.4.1 Cơ sở áp dụng 52
2.4.2 Tính hợp lý của biện pháp 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 60
KẾT LUẬN CHUNG 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong vòng hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, nhân loại đã trải qua những mốc sự kiện đầy tính biến động, kéo theo những hậu quả khôn lường về kinh tế, chính trị - xã hội như: giai đoạn khủng hoảng tài chính 2007 - 2009, sự trỗi dậy của thế lực khủng bố Hồi giáo, biến đổi khí hậu, động đất, sóng thần,… và gần đây nhất
là đại dịch toàn cầu “Coronavirus disease (COVID-19) Pandemic1” (sau đây gọi tắt
là dịch COVID-19) Theo đó, sáng ngày 31/01/2020 theo giờ Việt Nam, tại Geneva,
Thụy Sỹ, Chủ tịch của Tổ chức Y tế Thế giới (“World Heath Organization” -
WHO) đã tuyên bố dịch bệnh do vi rút COVID-19 đang xảy ra tại Trung Quốc và các trường hợp mắc vi rút này tại các quốc gia khác là tình trạng y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế.2 Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (“World
Bank” - WB), dịch COVID-19 đã tác động đến cả nhu cầu và nguồn cung ứng hàng
hóa, dẫn đến việc ngừng các hoạt động liên quan và làm gián đoạn chuỗi cung ứng Việc đình chỉ hầu hết mọi hoạt động đã ngay lập tức tác động đến thị trường hàng hóa thế giới.3 Trước diễn biến ngày càng phức tạp của dịch COVID-19, khi được các công ty Trung Quốc yêu cầu, Hội đồng xúc tiến thương mại quốc tế Trung
Quốc (“China Council for the Promotion of International Trade” - CCPIT), một cơ
quan chính phủ, đã hỗ trợ cấp hơn 3.000 giấy chứng nhận cho các công ty này trong
ba tuần đầu tiên của tháng 2, xác nhận rằng họ là nạn nhân của các sự kiện bất ngờ bên ngoài khiến họ không thể thực hiện được hợp đồng đã ký trước khi sự bùng phát của vi-rút corona Các chứng chỉ cung cấp một hình thức tài liệu pháp lý cho các công ty để giúp họ đàm phán lại các điều khoản với khách hàng ở nước ngoài
(2019-3 The World Bank, A Shock Like No Other: Coronavirus Rattles Commodity Markets, https://www.worldbank.org/en/news/feature/2020/04/23/coronavirus-shakes-commodity-markets, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 8Tuy nhiên, các luật sư và chuyên gia cho biết chứng chỉ này không đảm bảo rằng những cam kết hợp đồng có thể được miễn trách.4 Điều này rõ ràng đã cho thấy nguy cơ vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của các doanh nghiệp Trung Quốc nói riêng cũng như những doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của dịch bệnh trên toàn thế giới nói chung đang ở mức rất cao Đứng trước trường hợp hợp đồng không thể thực hiện được, trên tinh thần của nguyên tắc thiện chí (good-faith), bên bị vi phạm cần đồng hành cùng bên vi phạm để giảm thiểu các thiệt hại đã hoặc có thể xảy ra bằng cách
áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất Những biện pháp này sẽ được bên
bị vi phạm quyết định một cách phù hợp, dựa vào từng hoàn cảnh cụ thể nhằm chung tay cùng bên vi phạm giảm thiểu thiệt hại vì trên hết, khi giao kết và thực hiện hợp đồng, cả hai bên đều mong muốn hợp đồng sẽ hoàn thành như dự định ban đầu và thu được lợi nhuận
Với 92 quốc gia thành viên và đang điều chỉnh ¾ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trên toàn thế giới, Công ước viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế (“United Nations Convention on Contracts for the International Sale of
Goods” - sau đây viết tắt là CISG) có một hệ thống các điều khoản quy định về
trách nhiệm của bên vi phạm khi có hành vi vi phạm và gây ra thiệt hại Đồng thời, CISG cũng điều chỉnh trách nhiệm của bên bị vi phạm trong việc thực hiện các biện
pháp hợp lý để hạn chế tổn thất Cụ thể Điều 77 CISG quy định rằng: “Bên nào viện
dẫn sự vi phạm của bên kia thì phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra Nếu họ không làm điều đó, bên vi phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được” Quy định này là thước đo để đánh giá mức độ thiện chí và hợp tác trong
việc thực hiện hợp đồng cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến việc thực hiện hợp đồng của bên bị vi phạm Tuy nhiên, từ việc nghiên cứu quy định trong CISG cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp trong các vụ kiện thực tế, có
4 South China Morning Post, Coronavirus: doubts raised over whether Chinese companies can use force majeure to counter risks, https://www.scmp.com/economy/china-economy/article/3052277/coronavirus- doubts-raised-over-whether-chinese-companies-can, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 9thể thấy, việc vận dụng Điều 77 CISG trong từng trường hợp cụ thể còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau Nguyên nhân cho thực trạng này xuất phát từ cách quy định mang tính khái quát để phù hợp cho đa số các hoàn cảnh của CISG, vô hình trung lại tạo ra sự thiếu thống nhất trong việc giải thích và áp dụng quy định trên Mặt khác, ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về vấn đề này còn khá khiếm tốn và chưa được đào sâu Cho nên, nhu cầu cần một tài liệu tham khảo để chi tiết hóa các biện pháp hạn chế tổn thất do Bên vi phạm gây ra là rất thiết thực
Vì những lý do trên, tác giả quyết định thực hiện khóa luận này với đề tài:
“CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TỔN THẤT CỦA BÊN BỊ VI PHẠM THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ” nhằm cung cấp những thông tin và cách hiểu một cách đầy đủ và chính xác nhất
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
* Sách, giáo trình:
- Giáo trình “Luật Thương mại quốc tế - Phần II”, Đại học Luật TP Hồ Chí
Minh, 2017: Mặc dù giáo trình dành trọn một chương (chương III) để trình bày về hợp đồng mua bán hàng hóa và các vấn đề liên quan, trong đó có bình luận về trách nhiệm pháp lý của bên bán và bên mua nhưng không đề cập đến trách nhiệm hạn chế tổn thất theo Điều 77 CISG
- Giáo trình “Luật Thương mại quốc tế”, Đại học Luật Hà Nội, 2016: Giáo
trình tiến hành phân tích các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa theo
quy định của CISG, Bộ quy tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế (“Principles of
International Commercial Contracts” - PICC) do Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế
(“International Institute for the Unification of Private Law” - UNIDROIT) và Bộ
Nguyên tắc Luật Hợp đồng châu Âu (“Principles of European Contract Law” -
PECL) tại chương VII Khi đề cập đến nghĩa vụ của bên bán trong việc bồi thường thiệt hại, giáo trình có nhắc đến vấn đề giảm khoản bồi thường do bên mua vi phạm
Trang 10trách nhiệm hạn chế tổn thất Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được giáo trình đào sâu và bình luận
- Sách “Luật hợp đồng Việt Nam, Bản án và bình luận bản án”, PGS.TS Đỗ
Văn Đại: Sách chuyên khảo này có phân tích chế định bồi thường thiệt hại và đề cập đến một số quy định liên quan trong CISG nhưng không đào sâu và bàn luận về trách nhiệm hạn chế tổn thất theo Điều 77 CISG
* Luận án/ Luận văn/ Khóa luận:
- Luận văn thạc sỹ (2016) “Xác định thiệt hại trong chế định bồi thường thiệt
hại của Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Phạm Thị
Hiền, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh: Ðề tài phân tích những điểm chưa rõ ràng trong quy định của CISG về xác định thiệt hại trong chế định bồi thường thiệt hại, vấn đề giải thích và áp dụng quy định này trên thực tế Trong đó, đề tài đã phân tích một cách rõ ràng quy định tại Điều 75 CISG về việc giao kết hợp đồng thay thế bằng cách hợp lý và trong một thời gian hợp lý Đây là một trong những khía cạnh tiếp cận của trách nhiệm hạn chế tổn thất Ngoài ra, đề tài chưa bàn sâu về quy định tại Điều 77 CISG
- Khoá luận tốt nghiệp (2018) “Vấn đề hạn chế tổn thất của bên yêu cầu bồi
thường thiệt hại theo công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)”, Phan Phương Anh, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh: Đề tài đã đề cập trực
tiếp đến vấn đề hạn chế tổn thất theo quy định của CISG bao gồm điều kiện áp dụng
và tính hợp lý của các biện pháp giảm thiểu thiệt hại nói chung Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng, đề tài chỉ mới dừng lại ở mức độ khái quát vấn đề, chưa đi sâu vào phân tích tính hợp lý trong từng biện pháp hạn chế tổn thất đã được áp dụng trên thực tiễn, dẫn đến chưa có cách nhìn thực tế về vấn đề này Thậm chí, có những phần đề tài chỉ nêu được tranh chấp mà chưa đánh giá, phân tích, tổng hợp và kết luận vấn đề
* Bài báo khoa học/ Công trình nghiên cứu:
Trang 11- Bài báo “Nghĩa vụ hạn chế tổn thất và vấn đề xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong pháp luật thương mại”, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Khoa học
pháp lý, 2018, số 06(118), tr 30 – 41: Trong phạm vi bài viết này, tác giả nghiên cứu các quy định của Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế (CISG) và của pháp luật thương mại Việt Nam về nghĩa vụ hạn chế tổn thất, nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý sau: (i) biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất được xác định như thế nào; và (ii) nghĩa vụ hạn chế tổn thất có mối liên hệ như thế nào với cách thức xác định thiệt hại Theo đó, những tổn thất đáng lẽ có thể khắc phục được một cách hợp lý và những tổn thất đã khắc phục được đều cần được tính đến khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Điều này nhằm tránh trường hợp (a) bên bị vi phạm được bồi thường vượt quá mức thiệt hại hoặc (b) bằng chi phí của bên vi phạm, bên bị vi phạm được đặt vào vị trí tốt hơn vị trí mà lẽ ra bên này đạt được nếu không có hành vi vi phạm
* Tài liệu nước ngoài
- Djakhongir Saidov, “The Law of Damages in The International Sale The
CISG and Other International Instruments”, 2008: Cuốn sách dành một phần trong
chương II để phân tích về trách nhiệm hạn chế tổn thất theo Điều 77 CISG Trong
đó, nó khái quát được các vấn đề có liên quan như: phạm vi áp dụng, tính hợp lý của biện pháp, cách tính toán thiệt hại và gánh nặng chứng minh Tuy nhiên, cuốn sách này vẫn chưa phân tích cụ thể tính hợp lý của từng biện pháp hạn chế tổn thất,
có lẽ vì phạm vi nội dung rất rộng của nó dẫn đến khả năng chi tiết vấn đề này là không thể
- Helmut Koziol, “Reduction in damages according to Article 77 CISG”: Bài
viết chỉ trình bày 2 tranh chấp có liên quan đến trách nhiệm hạn chế tổn thất theo Điều 77 CISG Đồng thời, bài viết này tập trung giải thích quy định tại Câu 2 của Điều 77 CISG Tính hợp lý của các biện pháp thực tế chưa được tác giả phân tích
- Jorge Oviedo-Albán, “Mitigation of Damages for Breach of Contract for
the International Sale of Goods”, 2018: Bài báo này đề cập đến trách nhiệm giảm
Trang 12thiểu thiệt hại trong các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế được điều chỉnh bởi CISG, được thực hiện bởi bên bị vi phạm trong trường hợp bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng Dựa trên sự hiểu biết về Điều 77 của CISG, tác giả đã xem xét các lý thuyết có liên quan để thiết lập khái niệm và tính chất pháp lý của giảm thiểu thiệt hại để thông qua đó trình bày được phạm vi áp dụng của trách nhiệm này Các quyết định của tòa án và phán quyết trọng tài cũng đã được nghiên cứu để xác định biện pháp giảm nhẹ nào nên được thực hiện bởi bên bị vi phạm nếu bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng
- Katy Barnett, “Sustitutive Damages and Mitigation in Contract Law”,
2016: Bài viết đã đi sâu phân tích bản chất của trách nhiệm hạn chế tổn thất, cách tính chi phí được giảm nhẹ và xác định hàng hóa khiếm khuyết trong trường hợp thực hiện các biện pháp để giảm thiểu thiệt hại mà chưa phân tích được tính hợp lý của các biện pháp này trong từng hoàn cảnh cụ thể
- Peter Riznik, “Article 77 CISG: Reasonableness of the Measures
Undertaken to Mitigate the Loss”, 2009: Bài viết đã làm rõ được các vấn đề có liên
quan đến trách nhiệm hạn chế tổn thất bao gồm: phạm vi áp dụng, nghĩa vụ chứng minh, cách tính toán thiệt hại khi giảm thiểu và tính hợp lý của một số biện pháp đã được áp dụng trên thực tế Tuy nhiên, việc làm rõ các biện pháp này chỉ mới dừng lại ở mức độ trình bày, liệt kệ mà chưa có sự phân tích chuyên sâu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Điều 77 CISG có vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ thiện chí cũng như cách hành xử phù hợp của bên bị vi phạm khi có hành vi vi phạm từ bên còn lại trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, với tình hình nghiên cứu còn hạn chế như trên, trong từng hoàn cảnh nhất định, rất khó để bên bị vi phạm có cơ sở tiến hành áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất một cách hợp lý, bảo vệ được quyền và lợi ích của chính họ, và cũng đồng thời giảm thiểu khoản bồi thường thiệt hại cho bên vi phạm
Trang 13Do đó, đề tài tập trung làm rõ các biện pháp hạn chế tổn thất mà bên bị vi phạm cần thực hiện trong từng giao dịch cụ thể Trước tiên, trong từng vụ việc, tác giả sẽ nhận diện loại biện pháp được áp dụng trên cơ sở loại hành vi vi phạm của bên kia Sau đó, tiến hành phân tích tính hợp lý của biện pháp đó Dựa vào quan điểm của các học giả pháp lý, ý kiến của Ban thư ký5 và Hội đồng tư vấn CISG, tác giả sẽ đánh giá, tổng hợp vấn đề và đưa ra kết luận khách quan nhất Từ đó, tác giả mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng của CISG trong thực tiễn xét xử
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp hạn chế tổn thất
mà bên bị vi phạm cần thực hiện và tính hợp lý của các biện pháp đó khi bên vi phạm có hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa hai bên; không phân tích các hành vi và trách nhiệm khác của bên bị vi phạm như hủy hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại, Mạch logic của đề tài sẽ được triển khai theo hướng trình bày vụ việc thực tiễn đã được giải quyết, xác định lỗi vi phạm của bên vi phạm, nhận diện biện pháp hạn chế tổn thất cần thực hiện và tiến hành phân tích tính hợp lý của biện pháp đó
- Về thời gian: Đề tài sử dụng tình tiết và phán quyết của các vụ việc đã được xét xử từ khi CISG có hiệu lực (năm 1988) Bên cạnh đó, các ý kiến của học giả pháp lý và Ban thư ký đã trích dẫn trong đề tài có thể được phát biểu trước khi CISG có hiệu lực
- Về không gian: Đề tài phân tích thực tiễn xét xử ở Tòa án và trọng tài của các quốc gia là thành viên của CISG như: Hoa Kỳ, Đức, Tây Ban Nha, Trung Quốc,
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 14Xoay quanh toàn bộ nội dung của đề tài, tác giả sử dụng kết hợp, đan xen các phương pháp nghiên cứu khác nhau để củng cố tính đúng đắn cho các lập luận nhằm nâng cao hiệu quả truyền đạt và tính khách quan của đề tài Cụ thể là, tác giả
sử dụng phương pháp phân tích, bình luận khi nghiên cứu các quy định có liên quan đến trách nhiệm hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm trong CISG; phương pháp so sánh khi đối chiếu các quy định về các vấn đề liên quan trong CISG; phương pháp tổng hợp để đưa ra kết luận mang tính đúng đắn nhất cho biện pháp đang được bàn luận và các vấn đề liên quan
6 Dự kiến các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận
Đề tài cung cấp những thông tin cụ thể và thiết thực để các cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như doanh nghiệp Việt Nam có cơ sở đưa ra quyết định và hành xử phù hợp trong việc tuân thủ trách nhiệm hạn chế tổn thất theo quy định của CISG Tác giả hy vọng rằng khóa luận này là một tài liệu hữu ích cho việc xét xử của cơ quan tài phán và việc tìm hiểu và vận dụng CISG trong hoạt động thương mại của các thương nhân Việt Nam
Trang 15KHÁI QUÁT
Điều 77 CISG quy định rằng: “Bên nào viện dẫn sự vi phạm của bên kia thì
phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra Nếu họ không làm điều
đó, bên vi phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được” Theo đó, trách nhiệm hạn
chế tổn thất được kích hoạt khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: bên có nghĩa vụ có hành vi vi phạm; hành vi vi phạm đó gây ra hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại cho bên còn lại và bên bị vi phạm có yêu cầu bồi thường thiệt hại Khi trách nhiệm này phát sinh, bên bị vi phạm cần xem xét trong khả năng của mình để hành động một cách hợp lý nhằm hạn chế tổn thất xảy ra do hành vi vi phạm của bên vi phạm Tính hợp lý của các biện pháp được bên bị vi phạm thực hiện là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến trách nhiệm bồi thường đầy đủ của bên vi phạm Về nguyên tắc, tính hợp
lý khi bên bị vi phạm thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất dựa trên nền tảng của nguyên tắc thiện chí6 khi thực hiện hợp đồng và được đánh giá tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của giao dịch, mục đích của hợp đồng, thói quen và tập quán hình thành trong giao dịch giữa các bên, có tính đến sự cân bằng lợi ích của các bên trong giao dịch.7 Nội dung của Điều 77 CISG trong Bản thảo năm 1978 của Ủy ban Liên Hiệp
Quốc về Luật Thương mại quốc tế (“United Nations Commission on International
6 Trong CISG, nguyên tắc thiện chí được trình bày thông qua nhiều quy định khác nhau nhưng điều khoản
mang tính nền tảng cho nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 7.1 CISG: “Khi giải thích Công ước này, cần
chú trọng đến tính chất quốc tế của nó, đến sự cần thiết phải hỗ trợ cho việc áp dụng thống nhất Công ước
và tuân thủ trong thương mại quốc tế” Đây là nguyên tắc quan trọng tồn tại trong lý luận chính thống trong
pháp luật hợp đồng của hầu hết hệ thống pháp luật trên thế giới, mặc dù cách thể hiện hoặc cách trình bày có thể khác nhau Nghĩa vụ này cần được xem như một yêu cầu chung trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợp đồng; với ý nghĩa các bên phải đảm bảo nghĩa vụ này từ giai đoạn bắt đầu đàm phán hợp đồng đến giai đoạn thực hiện hợp đồng và kể cả giai đoạn sau đó Tuy nhiên, cần lưu ý rằng “thiện chí - trung thực” không đòi hỏi một bên trong hợp đồng phải từ bỏ lợi ích của họ trong quan hệ hợp đồng cụ thể Nguyên tắc này chỉ ngăn cản một bên khỏi lạm dụng các quyền hợp pháp của bên này mà thôi Xem thêm tại Đại học Luật TP
Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật Thương mại quốc tế - Phần II, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt
Nam, TP Hồ Chí Minh, tr 66, 69
7 Opie Elizabeth, Commentary on the manner in which the UNIDROIT Principles may be used to interpret or supplement Article 77 of the CISG, January 2005, Section III, tr 1; Stoll, H and Gruber, G., “Article 77” in
Schlechtriem, P and Schwenzer, I., Commentary on the UN Convention on the International Sale of Goods
(CISG), 2nd Edition, Oxford University Press, New York, 2005, tr 790, dẫn theo Peter Riznik, “Some
Aspects of Loss Mitigation in International Sale of Goods”, 14 Vindobona Journal of International
Commercial Law and Arbitration, No 2, 2010, tr 271-272
Trang 16Trade Law” - UNCITRAL) quy định như sau: “Bên nào viện dẫn một sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì phải thực hiện các biện pháp hợp lý căn cứ vào từng tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất, kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra Nếu họ không làm điều đó, bên vi phạm có thể yêu cầu giảm giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được” Xoay quanh vấn đề hạn chế tổn thất được quy định tại điều này, đại diện
phái đoàn đến từ các quốc gia khác nhau, đặc biệt là các quốc gia phát triển như
Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Canana,… đã có những ý kiến trái chiều Theo đó, đa số các bên tham gia Hội nghị Vienna 1980 đều không tranh luận nhiều về trách nhiệm hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm khi yêu cầu bồi thường thiệt hại Bởi vì trách nhiệm này mang tính tự nhiên, nó hình thành và tồn tại dựa trên một trong những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế - nguyên tắc good faith, bên bị vi phạm phải thực hiện hành động này là để chung tay cùng bên vi phạm hạn chế tổn thất vì không ai trong hai bên muốn thiệt hại xảy ra khi tham gia xác lập quan hệ giao dịch này cả
Mặt khác, vấn đề trở nên sôi nổi trong các cuộc họp của Hội nghị khi bàn về Điều 77 CISG chính là hậu quả mà bên không thực hiện các biện pháp hạn chế tổn thất phải gánh chịu Không đồng ý với hướng giải quyết trong câu thứ hai của Điều
77 Bản thảo CISG, đại diện của phái đoàn Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - học giả Honnold đã đề trình một sửa đổi, trong đó, đề xuất câu này nên được sửa như sau:
“Nếu họ không làm điều đó, bên vi phạm có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền
bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được, hoặc một sự sửa đổi, điều chỉnh tương ứng của bất kỳ biện pháp khắc phục nào khác”.8
Ông cho rằngĐiều 77 CISG không rõ ràng lắm vì nó có thể dẫn đến kết luận rằng nếu bên bị thiệt hại không thực hiện các biện pháp đó, bên vi phạm chỉ có thể yêu cầu giảm tiền bồi thường mà không thể dựa vào sự thất bại như vậy để yêu cầu các biện pháp khắc phục khác có thể mở ra cho anh ta, chẳng hạn như quyền giảm giá Quan điểm hạn chế này về nghĩa vụ giảm thiểu tổn thất có thể dẫn đến hậu quả rất
8 Tham khảo tại https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/1978draft.html , truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 17đáng nghi ngờ và không thỏa đáng.9 Quan điểm này nhận được sự tán thành từ phái đoàn Anh, cụ thể đại diện của phái đoàn này - học giả Nicholas lập luận rằng, trong
từ ngữ hiện giờ của nó, điều khoản này trên thực tế có thể được sử dụng bởi một bên vô đạo đức để thoát khỏi nghĩa vụ của mình.10
Nghĩa là với chế tài hiện tại - chỉ
là giảm khoản bồi thường tương đương với thiệt hại đáng lẽ có thể hạn chế được, không đủ sức răn đe để bên bị vi phạm thực hiện trách nhiệm này Đề xuất của phái đoàn Hoa Kỳ đối với câu thứ hai Điều 77 CISG sẽ tạo ra hướng giải quyết đa dạng hơn cho bên vi phạm, không bị bó hẹp trong việc chỉ được yêu cầu giảm tiền bồi thường, đặc biệt là trong trường hợp tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được là phần lớn thiệt hại mà bên vi phạm đã gây ra Trên tinh thần của nguyên tắc good faith, việc bên bị thiệt hại không nỗ lực để thực hiện các biện pháp hợp lý để giảm thiểu tổn thất trong trường hợp đặc biệt trên quả thực cần một chế tài tương xứng hơn Đồng thời, điều chỉnh của Hoa Kỳ còn giúp các bên (cả bên vi phạm và bên bị thiệt hại) có cơ sở pháp lý rõ ràng trong việc lựa chọn cách giải quyết cũng như những hành xử phù hợp có lợi cho cả hai bên
Tuy nhiên, việc sử dụng cụm từ “bất kỳ biện pháp khắc phục nào khác” có
vẻ mang nghĩa khá rộng và bao quát, thậm chí bao gồm cả việc hủy hợp đồng hoặc những biện pháp khác không thể lường trước được Điều này có khả năng làm thay
đổi mục đích ban đầu của Điều 77 CISG Theo quan điểm của Ban thư ký: “Việc xử
phạt được cung cấp bởi Điều 77 CISG đối với Bên không hạn chế tổn thất chỉ cho phép bên kia yêu cầu giảm thiệt hại” Quy định này tuy có phần hạn chế nhưng sẽ
làm cho bên vi phạm không thể quy kết việc bên bị thiệt hại đã không thực hiện trách nhiệm này để được thoát khỏi nghĩa vụ bồi thường hoặc các nghĩa vụ khác Nghĩa là nếu chấp nhận đề xuất của Hoa Kỳ thì đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ lợi dụng điều khoản này của bên vi phạm để trốn tránh trách nhiệm bồi thường cho Bên bị thiệt hại Cũng trong cuộc họp lần thứ 30 của Hội nghi Vienna, đã có rất nhiều ý kiến không đồng ý với sửa đổi của Hoa Kỳ Trong đó, học giả Herber - đại
9 Tham khảo tại https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/firstcommittee/Meeting30.html , truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
10 Xem chú thích số 8
Trang 18diện của phái đoàn Cộng hòa Liên bang Đức cho rằng đề xuất của Hoa Kỳ là hữu
ích trên lý thuyết, nhưng có thể gây nhầm lẫn Khi sử dụng cụm từ “bất kỳ biện
pháp khắc phục nào khác”, đề xuất của Hoa Kỳ có thể đang tìm cách bao quát một
lĩnh vực rộng lớn hơn như quyền tuyên bố hủy hợp đồng.11
Đồng tình với quan điểm của Đức, đại diện phái đoàn Argentina - học giả Boggiano nói rằng ông không thể hỗ trợ đề xuất của Hoa Kỳ Theo cách diễn đạt hiện tại của Điều 77 CISG, bên dựa vào việc vi phạm hợp đồng yêu cầu bồi thường thiệt hại thì phải có biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất Phạm vi của điều này được giới hạn cho bên này mà thôi Đồng thời, Điều 77 CISG chỉ áp dụng cho việc giảm thiệt hại Nhưng đề xuất
của Hoa Kỳ lại đề cập đến “bất kỳ biện pháp khắc phục nào khác”, biện pháp khắc
phục như vậy có thể bao gồm các tuyên bố hoặc biện pháp khác nhau mà không thể lường trước được Do đó, Hội nghị không thể đưa ra quyết định chấp nhận đối với một đề xuất mơ hồ và thiếu chính xác như vậy.12 Cuối cùng, Bản sửa đổi của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (A / CONF.97 / C.1 / L.228) đã nhận được 8 phiếu ủng hộ và
24 phiếu chống, Điều 77 CISG được thông qua với nội dung giống như bản thảo ban đầu của UNCITRAL.13
Trên cơ sở các vụ việc có áp dụng Điều 77 CISG được tổng hợp trong
“Edition 2016 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on
the International Sale of Goods” (Tuyển tập các vụ việc về Công ước của Liên hợp
quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1980 - Phiên bản 2016 - sau đây gọi tắt là tuyển tập) do UNCITRAL ban hành, tác giả sẽ tiến hành phân tích, đánh giá tính hợp lý của các biện pháp được bên bị vi phạm thực hiện cũng như các vấn đề pháp lý có liên quan đến trách nhiệm hạn chế tổn thất trong từng giao dịch cụ thể
đó Như vậy, nội dung trong 2 chương dưới đây sẽ làm rõ vấn đề này
11 Xem chú thích số 8
12 Xem chú thích số 8
13 Xem chú thích số 8
Trang 19CHƯƠNG I: CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TỔN THẤT CẦN THỰC HIỆN CỦA BÊN MUA
Trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng, hành động kịp thời và phù hợp của bên mua trong việc khắc phục vi phạm của bên bán là điều sẽ xảy ra trong các giao dịch xuyên biên giới này Một số biện pháp hạn chế tổn thất mà bên mua đã thực hiện trên thực tế trong khuôn khổ CISG được liệt kê trong tuyển tập bao gồm:
sử dụng hàng hóa có sẵn để thay thế, chấp nhận hàng hóa bị khiếm khuyết, khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa, bán lại hàng hóa với mức giảm giá có thể thực hiện được và giao kết hợp đồng thay thế.14 Do đó, căn cứ vào từng giao dịch cụ thể
mà yêu cầu về tính hợp lý của các biện pháp hạn chế tổn thất cũng không giống nhau Sau đây, tác giả sẽ trình này lần lượt các biện pháp này và đánh giá tính hợp
là hàng hóa trong hợp đồng bị vi phạm đáng lẽ sẽ được giao bởi bên bán đã có sẵn trong kho dự trữ của bên mua hoặc được mua từ trước đó bởi bên mua, Theo học giả Joseph Lookofsky15, nếu bên bán giao hàng trễ so với dự định mà hàng hóa đó đóng vai trò là thành phần chính hoặc công cụ trong quy trình sản xuất của bên mua
14
Xem Edition 2016 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International
Sale of Goods, tr 356-357, https://www.uncitral.org/pdf/english/clout/CISG_Digest_2016.pdf, truy cập lần
cuối vào ngày 05/6/2020
15 Giáo sư - Tiến sĩ tại Khoa Luật, Đại học Copenhagen
Trang 20và bên mua không nỗ lực hợp lý để lấy hàng ở nơi khác thì bất kỳ lợi nhuận nào bị mất do vi phạm của người bán sẽ không bị ảnh hưởng.16 Vụ việc thực tế dưới đây sẽ
là minh chứng rõ ràng hoàn cảnh áp dụng biện pháp này, có bao gồm hành vi vi phạm của bên bán
Tranh chấp Russian coal 17 :
Trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế - ICC
Tháng 10 năm 1996 Quốc gia của bên bán: Na Uy (Nguyên đơn)
Quốc gia của bên mua: Na Uy (Bị đơn)
Tóm tắt vụ việc: Bên bán và bên mua đã ký kết hợp đồng mua bán than Một tranh
chấp nảy sinh giữa các bên liên quan đến việc thanh toán cho lô hàng cuối cùng Bên mua lập luận rằng vì than giao có tỷ lệ phần trăm chất bay hơi chỉ 20,4% thay
vì 32% như được dự kiến trong hợp đồng, nên họ có quyền từ chối lô hàng này Đồng thời, bên mua đã sử dụng than trong kho dự trữ để thay thế cho lô hàng mà đáng lẽ bên bán sẽ giao Mặt khác, bên bán lập luận rằng, về mặt kỹ thuật có thể sử dụng than đó và hợp đồng cũng không bao gồm bất kỳ điều khoản phạt nào vì thiếu chất dễ bay hơi, bên mua không được quyền đặt ra hoặc phản tố đối với bất kỳ khoản tiền nào Bên bán khởi kiện yêu cầu bên mua thực hiện nghĩa vụ thanh toán, đồng thời, bên mua đưa ra yêu cầu phản tố bên bán để được bồi thường thiệt hại Các bên đồng ý áp dụng CISG
Vấn đề pháp lý liên quan: Việc sử dụng than trong kho dự trữ của bên mua có
được xem là biện pháp hợp lý để giảm thiểu tổn thất hay không?
Phán quyết của Trọng tài: Hội đồng trọng tài (sau đây viết tắt là HĐTT) căn cứ
theo Điều 35 CISG, tuyên bố rằng hợp đồng cung cấp khoảng 32% chất dễ bay hơi
và than được giao chỉ chứa 20,4% chất đó, nên nó tạo thành sự khác biệt về chất
16 LOOKOFSKY IN UNDERSTANDING, trang 136, dẫn theo Peter Riznik (2009), “Article 77 CISG: Reasonableness of the Measures Undertaken to Mitigate the Loss”, https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/riznik.html, truy cập lần cuối vào ngày 05/06/2020
17 Phán quyết của Trọng tại ICC số 8740 tháng 10 năm 1996 (Russian coal case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/968740i1.html, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 21lượng, do đó bên mua có quyền được bồi thường thiệt hại Ngoài ra, bên mua cũng được bồi thường thiệt hại với lãi suất giao hàng trễ (Điều 74 CISG), vì không có việc giao hàng nào được thực hiện trong thời gian giao hàng và điều này cho thấy hành vi vi phạm hợp đồng của bên bán Mặt khác, HĐTT cũng đã giải quyết vấn đề hạn chế tổn thất (Điều 77 CISG) Theo HĐTT, việc bên mua sử dụng than từ kho
dự trữ bảo đảm của mình là cách hiệu quả nhất về mặt chi phí mà nó có thể sử dụng
để giảm thiểu thiệt hại do vi phạm về giao hàng của bên bán
1.1.2 Tính hợp lý của biện pháp
Qua tranh chấp trên, tính hợp lý của biện pháp sử dụng hàng hóa có sẵn để thay thế phụ thuộc vào việc hàng hóa có sẵn đó có đang phục vụ cho một giao dịch khác hay không; việc sử dụng biện pháp này có tối ưu hơn trong việc giảm thiệt hại khi áp dụng biện pháp giao kết hợp đồng thay thế hay không; hàng hóa có sẵn để thay thế có tương đồng về chất lượng và giá cả với hàng hóa đáng lẽ ra sẽ nhận được từ bên bán hay không
Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp sử dụng hàng hóa có sẵn thay thế có những
điểm lưu ý đặc biệt xuất phát từ đặc thù trong hoạt động kinh doanh của bên mua Bởi vì hàng hóa có sẵn đó có thể đã được ấn định để thực hiện một giao dịch khác
so với giao dịch sẽ được thực hiện khi bên mua nhận được hàng hóa từ bên bán, đặc biệt là trong trường hợp bên mua thực hiện các giao dịch liên tục cho nhiều bên thứ
ba với cùng một hàng hóa tương tự Do đó, cần làm rõ việc sử dụng hàng hóa đã có sẵn của bên mua để thay thế cho hàng hóa lẽ ra sẽ được giao bởi bên bán trong trường hợp nào mới được xem là biện pháp hạn chế tổn thất Nếu hàng hóa được mua trước đó là nhằm để thực hiện một đơn hàng tách biệt với đơn hàng lẽ ra được thực hiện từ hàng hóa do bên bán giao thì việc sử dụng hàng hóa có sẵn hoặc đã được mua trước khi giao kết hợp đồng với bên bán cho hoạt động sản xuất của bên mua không mang tính chất thay thế, do vậy cũng không xem là một biện pháp hạn
Trang 22chế tổn thất.18Từ đó, khi xem xét tính hợp lý của biện pháp mà bên mua thực hiện sau khi bên bán vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì phải xác định được đó có phải là biện pháp hạn chế tổn thất hay không Điều này rất quan trọng vì bên bán có thể lợi dụng việc có sẵn hàng hóa tương tự của bên mua để nhận định rằng bên mua đã không thực hiện biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất khi bên bán không thể giao hàng nhằm mục đích giảm khoản bồi thường thiệt hại mà bên bán phải chi trả Trong giao dịch được mô tả ở tranh chấp Russian coal, với vi phạm của việc giao hàng không phù hợp của bên bán, hàng hóa được giao không sử dụng được, bên mua đã sử dụng hàng hóa có sẵn để tiếp tục phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình Số lượng hàng hóa có sẵn của bên mua được lấy từ kho dự trữ của chính bên mua, không dùng cho mục đích phục vụ một đơn hàng tách biệt khác Do đó, tính chất thay thế của biện pháp này được đáp ứng và đây được xem là một biện pháp hạn chế tổn thất được bên mua áp dụng theo Điều 77 CISG
Thứ hai, nếu muốn khẳng định bên mua có tuân thủ trách nhiệm được đặt ra
tại Điều 77 CISG hay không thì cần tiếp tục chứng minh một yếu tố nữa trong tính hợp lý của việc sử dụng hàng hóa có sẵn thay thế Đó là vấn đề cân nhắc, tính toán hiệu quả trong việc giảm thiểu thiệt hại do bên bán gây ra Trong đó, không thể không xem xét mối liên hệ chặt chẽ với biện pháp giao kết hợp đồng thay thế Trên tinh thần chung của Điều 77 CISG, mục đích cuối cùng của các biện pháp này là để hạn chế được các tổn thất có thể hạn chế được Do vậy, tùy từng trường hợp, biện pháp nào đem lại hiệu quả tối ưu trong việc hạn chế tổn thất sẽ được ưu tiên áp
dụng Xem xét lại tranh chấp Russian coal, HĐTT nhận định rằng, việc sử dụng
than của bên mua từ kho dự trữ bảo mật của mình là cách thức hiệu quả nhất về mặt chi phí mà nó có thể sử dụng để giảm thiểu thiệt hại do vi phạm, bởi vì: (i) các khả năng khác, chẳng hạn thay đổi sang việc dùng lô than được dự định cho các nơi khác, sẽ gây gián đoạn hơn và gần như chắc chắn sẽ tốn kém hơn cho bên mua; (ii) than là loại hàng hóa cồng kềnh và do đó chi phí vận chuyển để giao hàng ở nhiều
18 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2018), “Nghĩa vụ hạn chế tổn thất và vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật thương mại”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06(118), tr 33
Trang 23nơi là một yếu tố quan trọng trong giá cả; (iii) giá than tăng đáng kể trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1994.19 Phán quyết cho thấy việc giao kết một hợp đồng thay thế trong giao dịch này là không cần thiết và nếu được tiến hành
sẽ gây ra lãng phí cho cả bên bán và bên mua Do đó, với địa vị của bên mua, nhất
là các công ty lớn, nhận nguồn hàng đầu vào từ nhiều nhà cung cấp khác nhau để tiến hành giao dịch với nhiều bên thứ ba về cùng một hàng hóa tương tự, họ cần nắm rõ các lưu ý liên quan đến việc áp dụng biện pháp này để tránh rơi vào trường hợp bị động, dễ bị bên bán quy trách nhiệm không thiện chí trong việc giảm thiểu thiệt hại
Thứ ba, trong việc xem xét tính hợp lý của việc sử dụng hàng hóa có sẵn
thay thế, yếu tố mà bên mua cần quan tâm chính là hàng hóa có sẵn của bên mua đã đáp ứng được mức độ phù hợp để thay thế cho hàng hóa đáng lẽ sẽ nhận được từ bên bán hay không, nghĩa là khi sử dụng hàng hóa có sẵn thay thế để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hoặc bán lại cho bên thứ ba, mục đích khi giao dịch ban đầu
mà bên mua tiến hành sẽ được hoàn thành đúng và đầy đủ hay không Trở lại với tranh chấp Russian coal, số lượng than mà bên mua mong muốn nhận được từ bên bán là loại than có tỷ lệ phần trăm chất bay hơi đạt khoảng 32% Vì lô hàng bên bán giao đã không đạt được chất lượng theo yêu cầu mà 2 bên đã thỏa thuận, giả sử kho
dự trữ của bên mua có số lượng than có thể sử dụng thay cho lô hàng của bên bán nhưng chất lượng của lượng than này không đáp ứng được tỷ lệ phần trăm chất bay hơi thì vẫn không phát sinh tính bắt buộc để yêu cầu bên mua phải sử dụng than có sẵn thay thế Thêm vào đó, nếu chất lượng than đáp ứng được nhưng giá cả được bên mua khi mua chúng là đắt hơn so với giá trong giao dịch với bên bán thì điều này cũng không phù hợp khi áp dụng vì nó liên quan trực tiếp đến trách nhiệm bồi thường của bên bán Do đó, nếu ép buộc bên mua áp dụng biện pháp này thì sẽ trở nên không cần thiết, nói cách khác là bên mua không bị xem là vi phạm trách nhiệm hạn chế tổn thất khi không sử dụng hàng hóa có sẵn thay thế
19 Xem chú thích số 17
Trang 24Tóm lại, qua những phân tích trên, tính hợp lý của biện pháp sử dụng hàng hóa có sẵn thay thế phụ thuộc (bao gồm những không giới hạn tùy theo từng giao dịch cụ thể) vào các yếu tố: (i) sự tương đồng về chất lượng và giá cả của hàng hóa
có sẵn từ bên mua; (ii) tính có sẵn của hàng hóa đáp ứng được một giao dịch tách biệt và (iii) tính ưu tiên về thiệt hại so với áp dụng biện pháp giao kết hợp đồng thay thế
1.2 Chấp nhận sử dụng hàng hóa bị khiếm khuyết
1.2.1 Cơ sở áp dụng
Vi phạm của bên bán trong trường hợp áp dụng biện pháp này chỉ phát sinh ở dạng không thực hiện chính xác nghĩa vụ trong hợp đồng, cụ thể là bên bán đã tiến hành giao hàng nhưng hàng hóa bên mua nhận được bị khiếm khuyết Và hàng hóa được bên bán giao không cần phải tồn tại sự không phù hợp nhiều đến mức phải có hàng hóa thay thế (hàng hóa trở nên vô dụng) mà khi thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất này, sự không phù hợp của hàng hóa được giao bởi bên bán chỉ cần nằm trong phạm vi có thể chấp nhận được Đồng thời, một số yếu tố quan trọng mang tính chi phối phải xem xét đến như: thiệt hại sẽ phải gánh chịu khi muốn thay thế hàng hóa tương tự khác cũng như yêu cầu cấp bách trong hoạt động sản xuất của bên mua Việc chấp nhận hàng hóa mặc dù có tồn tại khiếm khuyết là cách hợp lý nhất để đặt cả 2 bên vào hoàn cảnh an toàn về lợi nhuận và tránh được tổn thất Tranh chấp dưới đây sẽ làm sáng tỏ cách áp dụng của biện pháp chấp nhận sử dụng hàng hóa bị khiếm khuyết
Tranh chấp Schmitz-Werke v Rockland 20 :
Tòa phúc thẩm Mỹ Circuit (Circuit 4) Ngày 21 tháng 6 năm 2002 Quốc gia của bên bán: Mỹ (Bị đơn)
20 Phán quyết của Tòa phúc thẩm Mỹ Circuit 4 ngày 21 tháng 6 năm 2002 (Schmitz-Werke v Rockland),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/020621u1.html, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 25Quốc gia của bên mua: Đức (Nguyên đơn)
Tóm tắt vụ việc: Bên mua có địa điểm kinh doanh tại Đức, đã ký kết nhiều hợp đồng
với bên bán, một công ty Maryland có địa điểm kinh doanh tại Hoa Kỳ, để mua vải màn Trong các cuộc đàm phán ban đầu, đại diện của bên bán đã tuyên bố rằng loại vải này phù hợp để in chuyển.21 Do đó, bên mua đã mua số lượng vải ngày càng lớn hơn mặc dù có vấn đề với in chuyển Tuy nhiên, bên mua đã khởi kiện bên bán vì họ vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp Theo bên mua, mặc dù có một số vấn đề với vải nhưng bên bán đã thúc giục bên mua tiếp tục in vải và tuyên bố rằng các phần chất lượng thấp hơn của vải có thể được in chuyển thành công
Vấn đề pháp lý liên quan: Bên mua có thực hiện trách nhiệm hạn chế tổn thất hay
không? Biện pháp đó đã hợp lý hay chưa?
Phán quyết của Tòa án: Tòa án chỉ ra rằng vải được bán bởi bên bán có những khiếm
khuyết tiềm ẩn không thể phát hiện được trước khi vải được in chuyển và bên mua tiếp tục in vải ngay cả khi nó bắt đầu phát hiện ra vấn đề là hợp lý vì bên mua nhận được sự thúc giục, cam kết của bên bán và trong mọi trường hợp là cách tốt nhất để hạn chế tổn thất Mặt khác, Tòa án đặc biệt cho rằng hàng hóa không phù hợp với bảo đảm bên bán
đã trao cho bên mua và bên mua đã phải chịu gánh nặng khi chứng minh rằng khiếm khuyết của vải đã tồn tại vào thời điểm vải rời khỏi nhà máy
1.2.2 Tính hợp lý của biện pháp
Trong tranh chấp Schmitz-Werke v Rockland, biện pháp này của bên mua
được thể hiện rất rõ ràng thông qua việc chấp nhận sử dụng khối lượng vải ngày càng nhiều qua từng đơn đặt hàng dựa trên sự tin tưởng về việc bảo đảm chất lượng của bên bán cho sản phẩm đầu ra là vải in chuyển Qua tranh chấp này, những hành
vi của bên mua đã thể hiện hết khả năng và mong muốn của bên này trong việc tránh gây ra thêm các chi phí không mong muốn cho bên bán, tức là có tính đến lợi ích của bên bán Như vậy, khi bàn về tính hợp lý của biện pháp này, yếu tố quan
21 In chuyển là một quá trình in dấu vải cơ sở với thuốc nhuộm có màu sắc hoặc hoa văn cụ thể
Trang 26trọng để xem xét toàn bộ sự thiện chí của bên mua có thể bao gồm: bên mua có tính đến khoản tổn thất mà bên bán phải gánh chịu khi họ từ chối và trả lại hàng hóa bị khiếm khuyết hay không; bên mua có ghi nhận và hành xử phù hợp với những nỗ lực khắc phục khiếm khuyết hàng hóa của bên bán hay không,
Thứ nhất, sau khi tiến hành sử dụng vải đợt đầu tiền nhận từ bên bán để in
chuyển, vấn đề khiếm khuyết của hàng hóa trở nên rõ ràng hơn Tuy nhiên, do sự thúc giục và đảm bảo từ bên bán rằng các phần chất lượng thấp hơn của vải có thể được cải thiện khi in với các mẫu, bên mua đã đặt thêm một đơn hàng nữa để phục
vụ cho hoạt động kinh doanh với năng suất lớn Thiện chí từ việc chấp nhận khiếm khuyết của hàng hóa thể hiện qua: (i) mong muốn giữ vững mối quan hệ hợp đồng với bên bán; (ii) việc ngừng nhận hàng hóa bị khiếm khuyết của bên bán có thể gây cản trở đến tiến độ công việc in chuyển đã được bên mua vạch ra trước đó; và (ii) các phương án khác như mua hàng hóa từ bên thứ ba, đàm phán lại với khách hàng của bên mua, đều tỏ ra vô dụng.22 Theo đó, thiệt hại từ việc ngưng nhận hàng hóa
bị khiếm khuyết từ bên bán là lớn hơn so với việc chấp nhận hàng hóa mặc dù có tồn tại khiếm khuyết Hay nói cách khác là nếu bên mua từ chối nhận hàng từ bên bán thì thiệt hại sẽ phát sinh rất nặng nề Đồng thời, một khi vi phạm xảy ra, bên cạnh việc đánh giá các hành vi nỗ lực chấp nhận khiếm khuyết hàng hóa của bên bán, thì còn phải xem xét hành xử của bên mua, họ có ghi nhận và tiếp thu những góp ý của bên vi phạm để cùng nhau giảm thiểu thiệt hại xảy ra hay không Trong
tranh chấp Schmitz-Werke v Rockland, khi giá trị của các đơn hàng ngày càng tăng
lên (đợt thử nghiệm: 200 mét, đợt chính thức lần đầu: 15.000 mét, đợt chính thức sau: 60.000 mét), với việc bên mua dựa trên tuyên bố đảm bảo chất lượng vải của bên bán để tiếp tục sử dụng vải do bên bán giao mặc dù tồn tại khiếm khuyết mà không tiến hành áp dụng các chế tài như: yêu cầu bên bán giao lại hàng hóa đúng như mục đích mà bên mua đã cho bên bán biết khi giao kết hợp đồng; hoặc hủy hợp đồng, thì cho thấy họ đang rất nỗ lực để cùng với bên bán tiếp tục thực hiện hợp đồng cho tới khi hoàn thành và hạn chế gây ra thêm chi phí ngoài dự định cho cả 2
22 Xem chú thích số 20
Trang 27bên Từ đó, hành động tiếp tục in vải này của bên mua ngay cả khi họ bắt đầu phát hiện ra vấn đề trục trặc là hợp lý
Thứ hai, điều đáng lo ngại khi công nhận biện pháp này chính là vấn đề rủi
ro khi áp dụng nó Cụ thể là việc chấp nhận sử dụng hàng hóa bị khiếm khuyết dễ tăng thêm bất lợi cho bên mua, vì rất có thể khiếm khuyết của hàng hóa được chấp nhận ở thời điểm trước đó nhưng sau khi được mang đi sử dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất sản phẩm của bên mua thì lại phát sinh nhiều khó khăn ngoài dự định Do đó, giới hạn tổn thất để thực hiện biện pháp này nên được đặt ở mức thấp nhất có thể để tránh trường hợp bên mua đang bị thiệt hại lại phải gánh chịu thêm
các rủi ro khác Trở lại với tranh chấp Schmitz-Werke v Rockland, sau khi lô hàng
60.000 mét vải được giao và đem vào sử dụng, phía nhà sản xuất của bên mua đã nói với bên này về một số vấn đề mà họ quan sát được với vải Bên mua đã nhờ đến
sự tham vấn của một công ty Đức để kiểm tra vải và báo cáo thu được là tỷ lệ phần trăm sau in của vải được phân loại là vật liệu cấp thấp (chỉ từ 15% đến 20%) Ngay sau đó, bên mua đã liên lạc với bên bán và cho biết họ muốn trả lại khoảng 8.000 mét vải và cuối cùng bên mua đã chuyển lại số lượng vải đó cho bên bán Đây là minh chứng cho giới hạn của việc chấp nhận hàng hóa bị khiếm khuyết Việc trả lại 8.000 mét vải không chỉ thể hiện mức độ về chất lượng của hàng hóa (mức độ khiếm khuyết) mà còn phản ánh cho số lượng/khối lượng hàng hóa có thể được bên
bị vi phạm chấp nhận Nghĩa là bên mua có thể chỉ chấp nhận một phần trong tổng
số hàng hóa bị khiếm khuyết với mức độ khiếm khuyết về chất lượng đã được chấp nhận, mà không cần phải đồng ý nhận toàn bộ hàng hóa đó tùy theo đánh giá của bên mua Cụ thể là trong tranh chấp này, bên mua chỉ chấp nhận một phần số lượng vải bị khiếm khuyết (chấp nhận 67.000 mét vải của cả 2 đợt) Khi mong muốn hạn chế tổn thất của bên mua đẩy họ rơi vào tình thế gánh chịu thiệt hại nặng hơn thì việc dừng lại của họ không bị xem là vi phạm tính hợp lý theo Điều 77 CISG Tòa
án cũng cho rằng bên mua không cần phải chứng minh chính xác cơ chế của khuyết điểm, vì rõ ràng rằng quy trình in chuyển mà nhà sản xuất của bên mua đã sử dụng trên vải là bình thường và đủ cơ sở để chứng minh rằng nguyên nhân là do vải
Trang 28không phù hợp cho mục đích in chuyển mà bên mua đã trình bày với bên bán.23 Cho nên, mức độ khiếm khuyết và số lượng/khối lượng hành hóa bị khiếm khuyết có thể chấp nhận được của hàng hóa là cơ chế đảm bảo cho việc được giải thoát một cách hợp pháp cho bên mua khỏi trách nhiệm áp dụng biện pháp hạn chế tổn thất không còn hợp lý nữa
Ngoài ra, thông qua tranh chấp này, khi áp dụng Điều 77 CISG cần lưu ý dạng thiệt hại cho phép bên mua được quyền áp dụng biện pháp hạn chế tổn thất
Nó bao gồm thiệt hại đã xảy ra, thiệt hại có nguy cơ xảy ra (như tranh chấp
Schmitz-Werke v Rockland) và thiệt hại khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ Ở đây, cần lưu ý đối với
dạng thiệt hại có nguy cơ xảy ra vì nó được minh chứng rõ ràng và liên quan trực tiếp đến biện pháp đang phân tích Xét về tính hợp lý, trong mua bán hàng hóa quốc
tế, việc thực hiện hợp đồng thường diễn ra trong một thời gian dài, vì các bên trong hợp đồng đến từ các quốc gia khác nhau Do đó, khi một bên có hành vi vi phạm (bên bán tuyên bố không giao hàng hoặc bên mua không nhận hàng, ) đa phần các thiệt hại sẽ không ngay lập tức phát sinh, sự tồn tại một khoảng thời gian dư thừa từ
đó cho đến hạn chót của thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng là một phần nguyên nhân cho điều này Cũng có thể nhận định rằng, trách nhiệm hạn chế tổn thất không chỉ là một vấn đề được đặt ra trên cơ sở nguyên tắc thiện chí thì còn là yêu cầu đến từ thực trạng chung của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế như trên
Vì vậy, thông qua tranh chấp Schmitz-Werke v Rockland và hướng giải quyết
của Tòa án, tính hợp lý của biện pháp chấp nhận khiếm khuyết của hàng hóa được thể hiện bằng những yếu tố như: (i) mức độ và số lượng/khối lượng có thể chấp nhận được của khiếm khuyết trong hàng hóa, hay nói cách khác là giới hạn hợp lý trong hạn chế tổn thất; và (ii) sự ghi nhận và tiếp thu nỗ lực khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa của bên mua dành cho bên bán
1.3 Khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa
1.3.1 Cơ sở áp dụng
23 Xem chú thích số 20
Trang 29Trong trường hợp giao hàng không phù hợp, bên mua có thể phải tự khắc phục hàng hóa để ngăn không cho chúng xấu đi hoặc để tránh tổn thất do hậu quả của hành vi vi phạm từ bên bán.24 Thế nhưng, với tôn chỉ hoạt động và hiệu lực điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế theo hướng hỗ trợ tối đa cho cả bên bán và bên mua thông qua các quy định thiện chí, CISG không thể không có quy định quyền được khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa cho bên bán Đối với các vi phạm xảy ra trước thời điểm giao hàng, CISG đã quy định rõ quyền khắc phục vi phạm của bên bán với điều kiện đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại cho bên mua Tuy nhiên, ngay cả khi xảy ra vi phạm sau thời điểm giao hàng, CISG cũng cho phép bên bán có quyền khắc phục vi phạm theo Điều 48.1 CISG.25 Vậy quyền khắc phục của bên mua đối với vi phạm do bên bán gây ra, mà cụ thể ở đây là khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa được thực hiện như thế nào để không mâu thuẫn với quyền khắc phục của bên bán? Hay nói cách khác là cần làm rõ mối quan hệ giữa quyền khắc phục khiếm khuyết hàng hóa của bên bán theo Điều 48.1 CISG và việc thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất thông qua việc khắc phục khiếm khuyết của Bên mua theo Điều 77 CISG Bởi vì nếu bên bán cung cấp hàng hóa không phù hợp, bên mua sau khi thông báo cho bên bán về khiếm khuyết của hàng hóa, ngay lập tức sửa khắc phục khiếm khuyết đó và yêu cầu chi phí từ người bán thì phần lớn các học giả và Tòa án ở các khu vực nói tiếng Đức dường như ưu tiên quyền khắc phục của bên bán theo Điều 48.1 CISG Họ từ chối yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên mua, nếu bên bán vẫn có thể chữa khỏi khiếm khuyết theo quy định này.26 Sau đây là một số vụ việc cụ thể:
24 Xem STOLL/GRUBER, tr 790; KNAPP, tr 560; HONSELL/MAGNUS, tr 976, dẫn theo Peter Riznik (2009), “Article 77 CISG: Reasonableness of the Measures Undertaken to Mitigate the Loss”, https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/riznik.html#124 , truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
25 Hồ Thụy Ngọc Trâm, Trần Việt Dũng (2017), “Quyền khắc phục vi phạm của bên bán khi xảy ra khiếm khuyết hàng hóa theo quy định của Công ước viên 1980”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10 (354), tr 57 26
Till Maier-Lohmann (2019), “Buyer’s self-repair of non-conforming goods versus seller’s right to cure under Article 48 of the CISG”, Uniform Law Review”, Tập 24 Số 1, tr 58, https://academic.oup.com/ulr/article-abstract/24/1/58/5476113?redirectedFrom=fulltext, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 30Tranh chấp Acrylic blankets 27 :
Tòa án Oberlandesgericht Koblenz - Đức
Ngày 31 tháng 01 năm 1997 Quốc gia của bên bán: Hà Lan (Nguyên đơn)
Quốc gia của bên mua: Đức (Bị đơn)
Tóm tắt vụ việc: Bên bán và bên mua đã ký kết hợp đồng bán các loại hàng dệt
khác nhau (chăn acrylic) Bốn ngày sau khi giao hàng bên mua phàn nàn về việc thiếu số lượng và không phù hợp của hàng hóa Bên mua từ chối thanh toán và cũng cho rằng bên bán đã vi phạm thỏa thuận phân phối đã ký kết trước đó giữa các bên cấp cho bên mua quyền độc quyền phân phối hàng dệt may ở Đức Người bán đã bắt đầu một hành động để thu hồi toàn bộ khoản thanh toán và người mua đã phản
đối việc hoãn lại với các thiệt hại do không tuân thủ
Vấn đề pháp lý liên quan: Việc bên mua tuyên bố hủy hợp đồng và thực hiện
những hành động liên quan sau đó (bao gồm việc sửa chữa khiếm khuyết, ) mà không cho bên bán cơ hội khắc phục hàng hóa bị khiếm khuyết có phù hợp hay không?
Phán quyết của Tòa án: Tòa án cho rằng dù có khiếm khuyết về chất lượng hàng
hóa thì vẫn chưa thể xem xét khiếm khuyết này có cấu thành vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG hay không khi chưa xác định được khả năng và thiện chí khắc phục
vi phạm của bên bán Tòa án còn khẳng định rằng, Điều 49 CISG (quyền hủy hợp đồng của bên mua) chỉ nên áp dụng sau khi đã xem xét đến tính nghiêm trọng của vi phạm (có đủ để cấu thành vi phạm cơ bản hay không) và khả năng khắc phục vi phạm của bên bán (theo Điều 48.1 CISG)
Tranh chấp Scaffold fittings 28 :
27
Phán quyết của Tòa án Oberlandesgericht Koblenz - Đức ngày 31 tháng 01 năm 1997 (Scaffold fittings
case), http://cisgw3.law.pace.edu/cases/970131g1.html, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
28 Phán quyết của Trọng tại ICC số 7531 năm 1994 (Acrylic blankets case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/947531i1.html, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 31Trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế - ICC
Năm 1994 Quốc gia của bên bán: Trung Quốc (Bị đơn)
Quốc gia của bên mua: Áo (Nguyên đơn)
Tóm tắt vụ việc: Bên mua và bên bán đã ký hợp đồng mua phụ kiện giàn giáo Sau
khi giao hàng bên mua phát hiện ra những khiếm khuyết nghiêm trọng và tuyên bố hủy hợp đồng Bên mua đã yêu cầu bồi thường thiệt hại vì nó chỉ có thể bán lại một phần của hàng hóa với giá thấp hơn
Vấn đề pháp lý liên quan: Việc bên mua tuyên bố hủy hợp đồng và thực hiện
những hành động liên quan sau đó (bao gồm việc sửa chữa khiếm khuyết, bán lại hàng hóa ) mà không cho bên bán cơ hội khắc phục hàng hóa bị khiếm khuyết có phù hợp hay không?
Phán quyết của Trọng tài:
- Lỗi kỹ thuật của sản phẩm (các bu lông được giao không khớp với nhau) làm cho bên mua hoàn toàn không đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng, do đó đã đủ cấu thành vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG; và
- Do bên vi phạm bên bán không được quyền khắc phục vi phạm và thay thế sản phẩm lỗi khi chưa được bên mua đồng ý, bên mua hoàn toàn có quyền hủy hợp đồng theo Điều 49 và Điều 52.2 CISG ngay khi xảy ra vi phạm cơ bản, mà không cần xét đến khả năng khắc phục vi phạm của bên bán
1.3.2 Tính hợp lý của biện pháp
Có thể thấy, hiện nay, việc ưu tiên áp dụng Điều 48 hay Điều 49 CISG khi
được bàn luận vẫn còn tồn tại nhiều tranh cãi Theo Điều 48.1 CISG, “với điều kiện
tuân thủ quy định của Điều 49 CISG bên bán có thể, ngay cả sau khi hết thời hạn giao hàng, khắc phục mọi vi phạm trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, phí tổn
do bên bán chịu, với điều kiện là điều đó không kéo theo một sự chậm trễ vô lý mà không gây ra cho bên mua những trở ngại phi lý hay tình hình bất định về việc bên
Trang 32bán phải hoàn trả các phí tổn mà bên mua gánh chịu Tuy nhiên, bên mua duy trì quyền đòi bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này”
Có 2 quan điểm rõ ràng như sau: Quan điểm thứ nhất, việc tuyên bố hủy hợp
đồng và thực hiện những hành động về sau của bên mua (bao gồm việc bên mua tự khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa) chỉ được xem là hợp lý sau khi đã tạo điều
kiện cho bên bán khắc phục vi phạm Trong tranh chấp Acrylic blankets, bên mua
đã yêu cầu tuyên bố hủy hợp đồng khi phát hiện hàng hóa bị khiếm khuyết mặc dù bên bán đã đề xuất được khắc phục khiếm khuyết đó HĐTT đã không chấp nhận hành vi của bên mua.29 Do đó, nếu bên mua muốn tự mình khắc phục khiếm khuyết hàng hóa thì nó chỉ nên hành động như vậy nếu đã thông báo cho bên bán nhưng bên bán không tiến hành khắc phục khiếm khuyết, khi đó mới là thời điểm chính xác để thể hiện thiện chí trong việc áp dụng biện pháp hạn chế tổn thất Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bên mua vẫn được xem là không vi phạm Điều 48.1 CISG, đó là: (i) nếu bên bán đã vi phạm hợp đồng trước đó với bên mua, hoặc việc
vi phạm hợp đồng mới này dẫn đến việc mất tín nhiệm của bên bán30; (ii) việc thực hiện quyền khắc phục vi phạm của bên bán không được gây thêm gánh nặng hay trở ngại đáng kể cho bên mua.31 Với 2 trường hợp ngoại lệ này, kết hợp với quy định thiện chí áp dụng cho bên mua trong việc thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất theo Điều 77 CISG, bên mua được quyền tự mình khắc phục hàng hóa bị khiếm khuyết được giao bởi bên bán mà không cần chờ việc khắc phục của họ
Quan điểm thứ hai, với phán quyết được nêu ra trong tranh chấp Scaffold fittings, tức là khi có vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG, bên mua hoàn toàn có
quyền hủy hợp đồng mà không cần xem xét đến khả năng khắc phục hàng hóa của bên bán Cũng theo cách giải thích này, quyền khắc phục vi phạm của bên bán chỉ được giới hạn thực hiện trong hai trường hợp, đó là: Vi phạm đó chưa cấu thành vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG, hoặc đã cấu thành vi phạm cơ bản nhưng bên mua
29 Xem chú thích số 27
30 Hồ Thụy Ngọc Trâm, Trần Việt Dũng (2017), chú thích số 25, tr 60
31 Hồ Thụy Ngọc Trâm, Trần Việt Dũng (2017), chú thích số 25, tr 60
Trang 33vẫn chưa thực hiện quyền hủy hợp đồng của mình.32 Quan điểm này mở rộng các hành vi có thể được thực hiện của bên mua khi phát hiện vi phạm cơ bản của bên bán, cụ thể ở đây là việc khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa với tư cách là một biện pháp giảm thiểu thiệt hại Và việc thực hiện biện pháp này chỉ bị giới hạn khi rơi vào 2 trường hợp nêu trên
Tóm lại, về nguyên tắc, việc khắc phục khiếm khuyết của bên mua chỉ nên thực hiện sau khi đã xem xét đến khả năng khắc phục vi phạm của bên bán Tuy nhiên, để việc khắc phục hàng hóa bị khiếm khuyết của bên mua mang tính hợp lý trong việc hạn chế tổn thất do hành vi vi phạm của bên bán gây ra, họ cần lưu ý và xem xét một trong trường hợp ngoại lệ sau đây để áp dụng và đảm bảo tốt nhất tính hợp lý của biện pháp giảm thiểu thiệt hại và không xâm phạm đến quyền khắc phục của bên bán: (i) bên bán vi phạm cơ bản dẫn đến có căn cứ để bên mua cho rằng, bên bán không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; (ii) bên bán đã được trao cơ hội khắc phục vi phạm nhưng không thể thực hiện được; và (iii) Việc khắc phục vi phạm gây nhiều tổn thất và trở ngại cho bên mua một các bất hợp lý.33
Vấn đề đáng quan tâm tiếp theo là chi phí khắc phục khiếm khuyết của bên mua nói riêng cũng như chi phí thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất nói chung sẽ được giải quyết như thế nào Theo đó, nếu việc khắc phục khiếm khuyết được thực hiện bởi bên bán theo Điều 48.1 CISG thì chi phí này hoàn toàn do bên bán chịu trách nhiệm Tuy nhiên, theo tinh thần chung từ Điều 74 đến điều 77 CISG, nếu bên mua thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất bằng việc khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa và việc thực hiện này mang tính hợp lý như đã phân tích ở trên thì chi phí phát sinh sẽ được tính vào khoản thiệt hại được bồi thường theo Điều 74 CISG, hay nói một cách rộng hơn, chi phí thực hiện các bước hợp lý để giảm thiểu thiệt hại có thể được xem như là một phần của yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bị vi phạm theo Điều 74 CISG (một Tòa án đã trao chi phí tháo rời máy để bán lại các bộ phận
32 Hồ Thụy Ngọc Trâm, Trần Việt Dũng (2017), chú thích số 25, tr 61
33 Hồ Thụy Ngọc Trâm, Trần Việt Dũng (2017), chú thích số 25, tr 62
Trang 34là thiệt hại cho bên mua).34 Điều này được lý giải rằng chi phí phát sinh khi hạn chế tổn thất về cơ bản vẫn là do lỗi gián tiếp từ hành vi vi phạm của bên bán, nếu như ngay từ ban đầu không có vi phạm xảy ra thì đã không phát sinh thiệt hại, nếu như không phát sinh thiệt hại thì đã không yêu cầu thực hiện trách nhiệm hạn chế tổn thất Mặt khác, loại chi phí này hiện hữu là do hành động thiện chí của bên mua, nó phát sinh là để giảm bớt thiệt hại có thể xảy ra, và không thể nào bên mua đang là bên bị thiệt hại lại còn phải gánh chịu loại chi phí này
1.4 Bán lại hàng hóa với mức giảm giá có thể thực hiện được
1.4.1 Cơ sở áp dụng
Khi bên mua đã chấp nhận việc giao hàng của bên bán nhưng việc sử dụng hàng hóa sau đó trở nên không như mong đợi, khiếm khuyết của hàng hóa trong trường hợp này có thể xuất phát từ việc tính toán sử dụng hàng hóa từ lúc ban đầu của bên mua đã có sai lầm (không do lỗi của bên bán); hoặc do có tồn tại lỗi sản xuất hàng hóa của bên bán nhưng khi được yêu cầu khắc phục, bên bán đã từ chối
và hàng hóa trở nên vô dụng, buộc bên mua phải dừng hoạt động sử dụng hàng hóa
và bán lại; hoặc với những giao dịch mà bên mua mua hàng hóa từ bên bán để bán lại cho bên thứ ba thì việc hàng hóa có những khiếm khuyết nhất định sẽ làm giảm giá trị của nó nên bên mua phải tiến hành bán lại với mức giảm giá nhất định để thực hiện trách nhiệm hạn chế tổn thất Dưới đây là 2 vụ việc cụ thể:
Tranh chấp Old boxboard corrugated cartons 35 :
Trọng tài Kinh tế & Thương mại Quốc tế Trung Quốc - CIETAC
Ngày 08 tháng 3 năm 1996 Quốc gia của bên bán: Hà Lan (Bị đơn)
Quốc gia của bên mua: Trung Quốc (Nguyên đơn)
34 Xem Edition 2016 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International
Sale of Goods, tr 358, https://www.uncitral.org/pdf/english/clout/CISG_Digest_2016.pdf, truy cập lần cuối
vào ngày 05/6/2020
35 Phán quyết của Trọng tài CIETAC ngày 08 tháng 3 năm 1996 (Old boxboard corrugated cartons case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960308c1.html, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 35Tóm tắt vụ việc: Vào ngày 30 tháng 3 năm 1994, bên mua và bên bán đã thực hiện
Hợp đồng mua bán số CPBJ861.C003 (“Hợp đồng”) Hợp đồng quy định rằng bên bán sẽ cung cấp 500 tấn thùng tôn cũ của Châu Âu - EURO OCC Ngoài ra, hợp đồng quy định, theo luật pháp của quốc gia bên bán, bên mua sẽ thông báo cho bên bán địa chỉ của người dùng cuối Đồng thời, bên mua đã ký hợp đồng bán lại hàng hóa với mức giá 1.500 RMB cho người dùng cuối - Tập đoàn sản phẩm giấy XX Jie Shou thuộc Bộ Tài nguyên nước Sau đó, bên bán đã chuyển hàng vào ngày 10 tháng 6 năm 1994, hàng đã đến cảng Thượng Hải Vào ngày 13 tháng 6 năm 1994, bên mua đã nhận được thông báo đến và nộp đơn cho Cục Kiểm tra Hàng hóa Xuất nhập khẩu An Huy để kiểm tra hàng hóa Báo cáo kiểm tra cho thấy chất lượng của hàng hóa không tuân thủ các yêu cầu của hợp đồng và L/C Vào ngày 5 tháng 7 năm
1994, bên mua đã gửi thư yêu cầu bồi thường từ bên bán và khẳng định rằng hàng hóa có những khiếm khuyết Vào ngày 26 tháng 8 năm 1994, bên mua và khách hàng ban đầu của họ đã thực hiện một hợp đồng mới để bán hàng hóa với giá 600 RMB mỗi tấn Bên mua xác nhận rằng họ đã thông báo cho bên bán về tên và địa chỉ của người dùng cuối, do đó bên bán biết rằng hàng hóa được mua để bán lại và bên bán có thể thấy trước rằng hàng hóa không phù hợp có thể dẫn đến việc người dùng cuối từ chối giao hàng và mất kết nối với bán lại với giá giảm Bên bán phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho những hậu quả này Bên mua đã liên hệ với bên bán một số lần để yêu cầu bồi thường thiệt hại, nhưng tất cả đều bị từ chối Theo Điều
45 CISG, nếu một bên vi phạm hợp đồng, bên kia có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại bao gồm tổn thất lợi nhuận và các thiệt hại đó không được vượt quá tổn thất mà bên đó đã thấy trước hoặc phải thấy trước tại thời điểm ký kết hợp đồng, xét về các
sự kiện và vấn đề mà sau đó anh ta biết hoặc phải thấy trước là hậu quả có thể xảy
ra do vi phạm hợp đồng
Vấn đề pháp lý liên quan: Việc bán lại cho bên thứ ba (đã được bên mua thông
báo cho bên bán từ khi giao kết hợp đồng) với mức giá giảm thay vì bán lại cho một bên mới khác có phù hợp hay không? Mức giảm giá như vậy đã hợp lý hay chưa?
Phán quyết của Trọng tài:
Trang 36- HĐTT lưu ý rằng bên mua đã thông báo cho bên bán tên và địa chỉ của người dùng cuối, vì vậy bên bán biết hoặc phải biết rằng mục đích mà bên mua mua hàng hóa là bán lại cho khách hàng của mình để kiếm lợi nhuận
- HĐTT lưu ý thêm rằng khi bên bán nhận được yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên mua, bên bán đã fax một bức thư kêu gọi bên mua tìm một người dùng cuối khác để giảm thiểu thiệt hại Về vấn đề liệu bên mua có bán lại hàng hóa với giá giảm là hợp lý hay không, HĐTT cho rằng vì bên bán có không chứng minh khác, các lập luận sau đây của bên mua sẽ được coi là đủ để hỗ trợ cho vị trí của bên này:
500 tấn giấy thải có kích thước khổng lồ, việc vận chuyển cần hai mươi xe tải; khu vực núi làm cho việc vận chuyển thậm chí còn bất tiện hơn; và chi phí sẽ rất cao nếu hàng hóa được vận chuyển đến nơi khác, chẳng hạn như Thượng Hải, hoặc trở
về Hà Lan
- Bởi vì bên bán không cung cấp bằng chứng cho thấy giá thị trường của Trung Quốc đối với hàng hóa bị lỗi tại thời điểm giao hàng, HĐTT quyết định rằng các biện pháp mà bên mua thực hiện để bán lại hàng hóa với giá giảm là hợp lý theo Điều 77 CISG Bên mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Tranh chấp Clothing 36 :
Trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế - ICC
Tháng 01 năm 1997 Quốc gia của bên bán: Nguyên đơn
Quốc gia của bên mua: Bị đơn
Tóm tắt vụ việc: Bên mua (nhà bán lẻ quần áo) đã đặt một số đơn đặt hàng với nhà
sản xuất quần áo - bên bán Một tháng trước khi giao hàng, bên bán đã gửi một số mẫu cho bên mua Bên mua đã đưa ra những phàn nàn về chất lượng hàng hóa (trừ hai trong số các mẫu) trong mười hai ngày sau đó Đáp lại những lời chỉ trích, bên
36 Phán quyết của Trọng tài ICC số 8786 tháng 01 năm 1997 (Clothing case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/978786i1.html, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020
Trang 37bán đã gửi các mẫu mới cho bên mua và các mẫu này có thể chấp nhận được Mười ngày trước khi giao hàng, đơn đặt hàng đã bị hủy bởi bên mua Bên bán đã khởi kiện ra trọng tài để yêu cầu bồi thường thiệt hại cho các phụ kiện mà nó không thể
sử dụng cũng như mất lợi nhuận và chi phí Bên mua trả lời rằng các đơn đặt hàng
là theo mùa và do đó, việc cung cấp kịp thời các mẫu chấp nhận được và thành phẩm là bắt buộc Khi được bên bán không thể giao hàng đúng hẹn, bên mua đã yêu cầu giảm giá, bên bán đồng ý giao đúng hạn Khi không có gì sắp diễn ra, bên mua
đã thông báo cho bên bán rằng bên mua sẽ hủy đơn hàng do vi phạm cơ bản của bên bán
Vấn đề pháp lý liên quan: Mức giảm giá cho bên đại lý của bên mua có hợp lý hay
không?
Phán quyết của Trọng tài: HĐTT cho rằng bên bán không đưa ra bất kỳ bằng
chứng nào đủ để cho rằng bên mua không thực hiện các biện pháp cần thiết để giảm thiểu thiệt hại Bằng chứng cho thấy bên mua biết rằng bên bán sẽ gặp khó khăn trong việc giao hàng kịp thời Theo đó, bên mua đã chuyển tiếp đề xuất đến đại lý của họ để chấp nhận giao hàng trễ từ bên bán và sẽ giảm giá 10% Sự thừa nhận của chính bên bán rằng việc giảm giá bán sẽ được đảm bảo khi hàng hóa theo mùa được bán vào cuối mùa dường như ngụ ý rằng một đề xuất như vậy sẽ được chấp nhận bởi bên bán Do đó, không đủ bằng chứng cho thấy bên mua không thực hiện các biện pháp giảm thiểu thiệt hại và do đó khoản bồi thường của bên bán sẽ không bị giảm theo Điều 77 CISG
1.4.2 Tính hợp lý của biện pháp
Việc thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất theo Điều 77 CISG thể hiện thông qua 2 tranh chấp trên là hành động bán lại hàng hóa với mức giảm giá có thể thực hiện được, cụ thể là bên mua mua hàng của bên bán để bán lại cho bên thứ ba nhưng do hành vi vi phạm của bên bán trong việc thực hiện nghĩa giao hàng buộc
Trang 38bên mua phải bán lại hàng hóa đó cho bên thứ ba với mức giá giảm đi so với thỏa thuận ban đầu giữ bên mua và bên thứ ba
Thứ nhất, tính hợp lý khi áp dụng biện pháp này được quyết định dựa vào
mức giảm giá bán lại cao nhất có thể so với mức giá bán lại ban đầu giữa bên mua
và bên thứ ba Đối với tranh chấp Old boxboard corrugated cartons, vì bên bán
giao hàng có các thông số kỹ thuật không đúng như thỏa thuận giữa 2 bên trước đó, buộc bên mua không thể bán lại cho bên thứ ba với mức giá mà 2 bên này đã đồng ý
từ ban đầu, cụ thể là bên mua đã phải giảm mức giá bán lại từ 1.500 RMB xuống còn 600 RMB (giảm 60%) Mức giảm này đồng nghĩa với việc bên bán phải bồi thường khoảng chênh lệch tương ứng cho bên mua Khi giải quyết vụ việc này, HĐTT cho rằng bên mua đã đáp ứng được trách nhiệm trong việc thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất thông qua sự cân nhắc giữa việc vẫn bán lại hàng hóa cho bên thứ 3 (bên này đã được bên bán biết đến khi giao kết hợp đồng với bên mua) nhưng
sẽ bị giảm giá và việc bán lại cho một bên khác thay vì tiếp tục bán cho bên thứ ba
đã ấn định kia với những lý do: (i) 500 tấn giấy thải có kích thước khổng lồ, việc vận chuyển cần hai mươi xe tải; (ii) khu vực núi làm cho việc vận chuyển thậm chí còn bất tiện hơn; và (iii) chi phí sẽ rất cao nếu hàng hóa được vận chuyển đến nơi khác, chẳng hạn như Thượng Hải, hoặc trở về Hà Lan; nên bên mua vẫn quyết định bán lại cho bên thứ ba nhưng với mức giá giảm 60% so với thỏa thuận ban đầu.37Hành động này của bên mua mang tính thiện chí rất cao vì nó có tính đến thiệt hại
mà bên bán sẽ phải bồi thường Nếu như bên mua cố chấp bán lại cho bên khác theo
đề xuất của bên bán mặc dù biết việc bán lại này sẽ gây ra thêm tổn thất thì dù là được bên bán gợi ý, bên mua vẫn bị xem là đã không thiện chí dựa trên hiểu biết và chuyên môn của bên này Do đó, việc bán lại hàng hóa với mức giảm sẽ hợp lý khi: (i) có quan tâm đến lợi ích của bên bán; (ii) có sự tính toán thấu đáo trong việc hành động để giảm thiểu thiệt hại dựa trên tính chất hàng hóa và trở ngại khi vận chuyển ngược lại; và (iii) mức độ không phù hợp của hàng hóa nằm trong giới hạn có thể chấp nhận được (đáp ứng các thông số kỹ thuật)
37 Xem chú thích số 35
Trang 39Bên cạnh đó, đối với tranh chấp Clothing, HĐTT chỉ chấp nhận mức giảm
giá là 10% so với giá đã thỏa thuận ban đầu giữa bên mua và bên thứ ba Sở dĩ HĐTT chỉ chấp nhận mức giảm giá ít như vậy là bởi vì tuy có sự không phù hợp về chất lượng hàng hóa nhưng điều này là không đáng kể Yếu tố gây ra vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG của bên bán chính là việc giao hàng không kịp thời, vì nhu cầu mua hàng của bên mua là quần áo có xu hướng theo mùa, việc giao hàng chậm trễ sẽ khiến mục đích ban đầu của bên mua khi giao kết hợp đồng với bên bán không còn được đáp ứng.38 Theo đó, bên bán tuyên bố rằng không thực hiện được việc giao hàng trong thời hạn do thỏa thuận quy định Chính hành vi của bên bán dẫn đến việc bên mua không thể giao sản phẩm cuối cùng đúng hạn cho khách hàng của bên này Nếu các mẫu được cung cấp kịp thời cho bên mua thì họ sẽ có thời gian chấp nhận hoặc từ chối các mẫu trong thời gian đủ để sản xuất bắt đầu và việc giao hàng được hoàn thành theo thỏa thuận nhưng bên bán đã không cho bên mua
đủ thời gian để kiểm tra các mẫu và xác định sự phù hợp của chúng Thêm vào đó, hàng hóa trong trường hợp này không phải đã trở nên vô dụng mà vẫn có thể sử dụng để sản xuất sản phẩm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của bên mua Vì thế, việc thực hiện giao dịch thay thế để mua hàng hóa thay cho hàng hóa của bên bán là không cần thiết Cũng bởi vì bên bán đã thừa nhận rằng hàng hóa liên quan trên thị trường sẽ cần phải được đặt hàng trước ít nhất 03 đến 04 tháng để đáp ứng thời hạn giao hàng Như vậy, vì vi phạm của bên bán là vào ngày 29 tháng 3 và bên mua yêu cầu giao hàng vào ngày 05 tháng 4 để đáp ứng thời gian bán cao điểm cho các sản phẩm liên quan, nên dễ dàng xác định rằng bên mua sẽ không có đủ thời gian để mua hàng hóa thay thế Do đó, việc vẫn tiếp tục bán lại cho bên thứ ba nhưng với mức giảm giá trở nên phù hợp duy nhất trong trường hợp và mức giảm này là hợp
lý theo Điều 77 CISG Vì vậy, tùy vào bối cảnh cụ thể của việc bán lại mà mức giảm giá sẽ trở nên hợp lý khi thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất thông qua việc bán lại hàng hóa với mức giảm giá có thể thực hiện được
38 Xem chú thích sô 36
Trang 40Thứ hai, trở lại với tranh chấp Old boxboard corrugated cartons, bên mua
trong vụ việc này đã tính toán rất kỹ càng khi thực hiện biện pháp hạn chế tổn thất,
cụ thể là bên này đã tính đến lợi ích cho bên bán nếu áp dụng các biện pháp khác
mà không phải là việc tiếp tục bán lại cho bên thứ ba đã được bên bán biết đến khi 2 bên giao kết hợp đồng Do đó, vấn đề cần được bên mua quan tâm để việc giảm thiểu thiệt hại của họ không trở nên bất hợp lý là giới hạn hạn chế tổn thất Một trong ba nguyên tắc được học giả Harvey McGregor đưa ra khi bàn về bản chất của trách nhiệm hạn chế tổn thất là nếu bên mua thực hiện các bước để giảm thiểu tổn thất cho họ do hậu quả của bên bán và các bước này thành công thì bên bán có quyền hưởng lợi từ hành động của bên mua và chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất sau khi được giảm bớt.39 Tuy nhiên, vấn đề này phải được xem xét toàn tiện và đầy đủ, bên mua đang là bên gánh chịu các thiệt hại gây ra bởi bên bán, việc bên mua thực hiện hơn những gì các bên mong đợi, thiệt hại được giảm thiểu đáng kể là do năng lực của bên mua, nếu bên bán cũng được hưởng lợi từ việc này trong khi họ đang là bên gây ra tổn thất thì đã không còn hợp lý Một quan điểm khác có cùng thắc mắc
là trường hợp việc hạn chế tổn thất của bên mua được thực hiện nhiều hơn so với yêu cầu mà nghĩa vụ này đặt ra và do vậy thiệt hại được hạn chế ở mức nhiều hơn thì có dẫn đến việc bên bán được quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại đến mức thực tế đã hạn chế được bởi bên mua hay không.40 Nghĩa vụ hạn chế tổn thất được xác định như một biện pháp giới hạn thiệt hại Theo đó, những tổn thất đáng lẽ có thể khắc phục được một cách hợp lý và những tổn thất đã khắc phục được đều cần được tính đến khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Lợi ích đạt được do thực hiện nghĩa vụ hạn chế tổn thất hoặc do hành vi thực tế của bên mua có thể vượt mức mà nghĩa vụ hạn chế tổn thất đặt ra Tuy nhiên, nếu việc thực hiện hành vi của bên này thực sự hạn chế được tổn thất thì phần hạn chế được cần được bù trừ khi xác định thiệt hại phải bồi thường Bởi lẽ, nguyên tắc cơ bản trong
39 Katy Barnett (2016), “Sustitutive Damages and Mitigation in Contract Law”, tr 801, https://journalsonline.academypublishing.org.sg/Journals/Singapore-Academy-of-Law-Journal-Special- Issue/e-Archive/ctl/eFirstSALPDFJournalView/mid/513/ArticleId/1173/Citation/JournalsOnlinePDF, truy cập lần cuối vào ngày 05/6/2020/
40 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2018), chú thích số 18, tr 32