1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn cứ hủy phán quyết trọng tài thương mại quốc tế góc nhìn từ pháp luật thụy sĩ và kinh nghiệm cho việt nam

89 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căn Cứ Hủy Phán Quyết Trọng Tài Thương Mại Quốc Tế - Góc Nhìn Từ Pháp Luật Thụy Sĩ Và Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
Tác giả Nguyễn Mỹ Anh
Người hướng dẫn ThS. Lê Trần Quốc Công
Trường học Trường Đại Học Luật TP.HCM
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: tác giả sẽ phân tích các căn cứ hủy phán quyết trọng tài dựa trên sự so sánh giữa quy định của pháp luật Thụy Sĩ và pháp luật Việt Nam, cùng với đó bình luận một số bản án, qu

Trang 1

NGUYỄN MỸ ANH MSSV: 1653801015009

CĂN CỨ HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ - GÓC NHÌN

TỪ PHÁP LUẬT THỤY SĨ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật Niên khóa: 2016 - 2020

Người hướng dẫn:

ThS LÊ TRẦN QUỐC CÔNG

TP.HỒ CHÍ MINH – Năm 2020

Trang 3

luật Thụy Sĩ và kinh nghiệm cho Việt Nam” hoàn toàn là thành quả từ quá trình nghiên cứu độc lập và cố gắng không ngừng của bản thân, dưới dự hướng dẫn của ThS Lê Trần Quốc Công Các thông tin, tài liệu được tác giả sử dụng đều đảm bảo tính trung thực, công khai và minh bạch

Nếu có bất kỳ sự gian dối hay sao chép bất hợp pháp nào thể hiện tại khóa luận này, tôi xin chịu mọi trách nhiệm về hành vi của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Nguyễn Mỹ Anh

Trang 4

TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 7

1.1 Bản chất của chế định hủy phán quyết trọng tài 7

1.2 Cơ sở pháp lý để hủy phán quyết trọng tài 8

1.3 Đặc điểm yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 10

1.3.1 Đặc điểm về quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 10

1.3.2 Đặc điểm về thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài 13

1.3.3 Đặc điểm về phán quyết trọng tài bị hủy 14

1.3.4 Đặc điểm về điều kiện hủy phán quyết 18

1.4 Hệ quả pháp lý của việc hủy phán quyết trọng tài 20

Kết luận chương 1 24

CHƯƠNG 2 CĂN CỨ HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT THỤY SĨ 25

2.1 Hủy phán quyết trọng tài quốc tế trong pháp luật Thụy Sĩ 25

2.1.1 Hệ thống pháp luật Thụy Sĩ về hủy phán quyết trọng tài 25

2.1.2 Phán quyết trọng tài quốc tế theo pháp luật trọng tài Thụy Sĩ 25

2.1.3 Thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài quốc tế 28

2.1.4 Thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quốc tế 28

2.2 Căn cứ hủy phán quyết trọng tài quốc tế 29

2.2.1 HĐTT được thành lập không phù hợp theo yêu cầu của các bên hoặc quy định của Luật 31

2.2.2 Trọng tài không có thẩm quyền 38

2.2.3 Quyết định của trọng tài vượt quá thẩm quyền hoặc thất bại trong việc quyết định một trong những vấn đề yêu cầu giải quyết 51

2.2.4 HĐTT vi phạm nguyên tắc công bằng hoặc quyền được lắng nghe của các bên 55

2.2.5 Phán quyết trọng tài trái với chính sách công 62

Trang 5

3.1 Hủy phán quyết trọng tài do không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu 70

3.2 Hủy phán quyết trọng tài do vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài 71

3.3 Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam 73

KẾT LUẬN 75

Trang 6

BLTTDS 2015 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài

of Commerce)

(International Council for Commercial Arbitration)

UNCITRAL năm 1985, được sửa đổi năm 2006

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế giới ngày càng phát triển và hội nhập, đặc biệt là trong lĩnh vực giao thương hàng hóa Các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế được kết nối bởi các thương nhân từ khắp các quốc gia ngày càng phổ biến, từ đó những rủi ro phát sinh trong tranh chấp thương mại cũng tăng lên Để giải quyết các tranh chấp này, bên cạnh Tòa án, các bên có thể lựa chọn Trọng tài thương mại quốc tế Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, không chỉ giải quyết được những lo ngại đến từ các bất cập cố hữu của Tòa án quốc gia, mà còn có nhiều tính ưu việt như: tính bảo mật, các bên đương sự có thể lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, trọng tài viên hay thậm chí là ngôn ngữ cho việc giải quyết tranh chấp của họ, Theo một báo cáo khảo sát năm 2018, có đến 97% số người được hỏi cho biết trọng tài quốc tế là phương pháp giải quyết tranh chấp ưa thích của họ và 99% số người được hỏi sẽ đề nghị trọng tài quốc tế giải quyết tranh chấp xuyên biên giới trong tương lai1 Tại Việt Nam, theo báo cáo thường niên của VIAC, trong năm 2019 đã

có 274 đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp, tăng 52,2% so với năm ngoái Trong đó, các vụ tranh chấp quốc tế được giải quyết chiếm 40% bao gồm tranh chấp về đầu tư quốc tế (FDI) chiếm 24% và 16% tranh chấp còn lại liên quan đến yếu tố nước ngoài2 Đây là một dấu hiệu tích cực khi các trung tâm trọng tài Việt Nam ngày càng tạo được lòng tin đối với các thương nhân quốc tế Tuy nhiên, vẫn mới chỉ là bước đi đầu, để thật sự khẳng định vị thế trên trường quốc tế trong lĩnh vực trọng tài, Việt Nam còn cần không ngừng tiếp thu và phát triển các quy định pháp luật có liên quan, đặc biệt là vấn đề về hủy phán quyết trọng tài thương mại, chế định quyết định hiệu lực của một phán quyết trọng tài Bởi lẽ, để đạt được mong muốn thực thi một phán quyết, phán quyết trọng tài phải vượt qua được “cánh cửa kiểm soát” của Tòa án khi yêu cầu hủy đối với phán quyết từ một bên đương sự

Hiện nay tại Việt Nam, pháp luật trọng tài nói chung và trọng tài quốc tế nói riêng được điều chỉnh bởi Luật TTTM 2010, Nghị quyết số 01/2014/HĐTP, Nghị

1 http://www.arbitration.qmul.ac.uk/research/2018/, truy cập lần cuối ngày 10/3/2020

2 http://www.viac.vn/en/statistics/2019-statistics-s30.html, truy cập lần cuối ngày 10/03/2020

Trang 8

định 63/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 07 năm 2011 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật TTTM Tuy nhiên, trái với mong muốn ban đầu của nhà làm luật là tạo ra một sân chơi hấp dẫn cho các bên và thúc đẩy phát triển trọng tài Thực trạng các phán quyết bị yêu cầu hủy vẫn còn nhiều3 Bên cạnh các nguyên nhân như kiến thức chuyên môn của Thẩm phán Tòa án về trọng tài còn hạn chế dẫn đến những quyết định tùy tiện, không đúng với tinh thần của pháp luật Tình trạng hủy này còn bắt nguồn từ một số bất cập tồn động trong Luật TTTM 2010 cũng như Nghị quyết hướng dẫn Điều này tạo ra nhiều rào cản và thách thức hơn đối với lĩnh vực trọng tài Việt Nam, phần nào làm ảnh hưởng đến uy tín của trọng tài hoặc trung tâm trọng tài, đồng thời, kéo theo sự e ngại của các bên thương nhân khi lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp tại Việt Nam

Chính vì vậy, tác giả muốn thông qua việc nghiên cứu, phân tích pháp luật trọng tài thương mại quốc tế Thụy Sĩ, nhằm so sánh và học tập kinh nghiệm, hoàn thiện

cơ chế hủy phán quyết trọng tài nói riêng và pháp luật trọng tài Việt Nam nói chung Lý do tác giả chọn pháp luật Thụy Sĩ để phục vụ cho công trình nghiên cứu, bởi vì Thụy Sĩ được biết như là điểm đến thân thiện và lâu đời đối với các hoạt động trọng tài thương mại quốc tế Điều này được phản ánh trong Đạo luật quốc tế

tư nhân của quốc gia này, cũng như trong những báo cáo của các tổ chức trọng tài

Cụ thể trong thống kê của Trung tâm trọng tài ICC năm 2017: Geneva và Zurich là hai địa điểm phổ biến được chọn làm nơi diễn ra trọng tài chỉ đứng sau Paris Ngoài

ra, các trọng tài viên quốc tịch Thụy Sĩ nằm ở vị trí thứ ba (sau Anh và Pháp) trong việc được lựa chọn hoặc chỉ định làm trọng tài viên giải quyết tranh chấp4 Một lý

do chủ chốt khác khi lựa chọn pháp luật trọng tài Thụy Sĩ để nghiên cứu chính là, cho đến nay, kể từ khi có hiệu lực vào năm 1989, Đạo luật quốc tế tư nhân Thụy Sĩ

đã trải qua được 31 năm áp dụng vào thực tiễn, nhưng có rất ít phán quyết trọng tài

Trang 9

thương mại quốc tế bị hủy bỏ5 Như vậy, có thể thấy rằng, những thành tựu về trọng tài thương mại quốc tế của Thụy Sĩ rất đáng để cho chúng ta học tập kinh nghiệm

Do đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “Căn cứ hủy phán quyết trọng tài

thương mại quốc tế - Góc nhìn từ pháp luật Thụy Sĩ và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu trọng tâm của khóa luận này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã đọc và tham khảo một số công trình nghiên cứu về căn cứ hủy phán quyết trọng tài hoặc có liên quan đến chế định này Tác giả sẽ phân chia thành các mục sau đây:

2.1 Khóa luận, luận án

Đối với đề tài trên đã có các công trình nghiên cứu như sau được thực hiện:

- Ngô Quốc Lâm (2019), Căn cứ hủy phán quyết trọng tài thương mại – so

sánh pháp luật Singapore và đề xuất hướng hoàn thiện, khóa luận tốt nghiệp cử

nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Trong khóa luận này, tác giả đã so sánh một số căn cứ hủy giữa pháp luật trọng tài Việt Nam và Singapore, đưa ra một số kiến nghị và hướng hoàn thiện Đây là một trong những khóa luận đầu tiên có sự so sánh cụ thể một hệ thống pháp luật trọng tài nước ngoài và Việt Nam

- Nguyễn Thái Hồng Nhung (2011), Căn cứ hủy phán quyết trọng tài, khóa

luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;

Nguyễn Thị Thảo Vy (2018), Hủy phán quyết trọng tài, khóa luận tốt nghiệp cử

nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Cả hai công trình nghiên cứu này, cũng phân tích, làm rõ quy định về căn cứ hủy trong pháp luật TTTM

2010 Tuy nhiên, đối với khóa luận năm 2011, được thực hiện sau khi TTTM 2010

ra đời một năm do đó không thể chỉ ra được nhiều bất cập hay những vấn đề liên quan được chứa đựng trong Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP

- Phan Thông Anh (2016), Hủy phán quyết trọng tài, Luận án tiến sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Luận án nghiên cứu chuyên sâu về

5 https://www.arbitration-ch.org/en/service/asa/switzerland-is-arbitration-friendly/index.html, truy cập lần cuối ngày 14/03/2020

Trang 10

chế định hủy phán quyết trọng tài, trong đó có các căn cứ hủy và đưa ra kiến nghị Tuy nhiên, luận án chỉ đề cập hoặc so sánh một số vấn đề trong pháp luật của các nước mà vẫn chưa đi sâu vào phân tích cụ thể pháp luật trọng tài Việt Nam với một

hệ thống pháp luật trọng tài riêng biệt

2.2 Tạp chí khoa học

Một số bài báo nghiên cứu khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài trên như:

- Tưởng Duy Lượng (2017), Một số vấn đề về việc áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 68 và Điều 13 Luật trọng tài thương mại khi xem xét hủy phán quyết trọng tài,

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2017 Tưởng Duy Lượng (2017), Thỏa thuận trọng

tài vô hiệu, một căn cứ hủy phán quyết trọng tài, Tạp chí Tòa án nhân dân, số

1/2017 Trong hai bài báo này, tác giả đã phân tích cụ thể hai căn cứ hủy phán quyết trọng tài Đồng thời nêu ra các bất cập trong thực tế xét xử liên quan đến các căn cứ trên và kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa so sánh với pháp luật nước ngoài và các vụ việc được xét xử bởi Tòa án nước ngoài về vấn đề trên

- Nguyễn Minh Hằng (2017), Hủy phán quyết trọng tài – Bình luận từ góc

nhìn của một vụ án, Tạp chí Nghề luật, số 04/2017 Bài nghiên cứu bình luận và

phân tích một số căn cứ hủy phán quyết từ một vụ án thực tế Qua những vấn đề phát sinh, tác giả đã đưa ra các bình luận và phân tích các quy định pháp luật để chứng minh Tuy nhiên, do giới hạn của việc lựa chọn vụ án, Tòa chỉ giải quyết những căn cứ hủy được các bên yêu cầu Nên nội dung của bài báo không đề cập được hết tất cả các cứ hủy phán quyết trọng tài hiện hành trong pháp luật trọng tài Việt Nam

2.3 Sách

Một số đầu sách có đề cập đến chủ đề hủy phán quyết trọng tài có thể nhắc đến

như: Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại,

Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, cuốn sách đã giới thiệu toàn diện về hoạt động trọng tài thương mại tại Việt Nam Đồng thời, không thể không nhắc đến cuốn sách:

Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, do tác giả

Đỗ Văn Đại chủ biên, được xuất bản bởi Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam

Trang 11

Đây đều là các công trình nghiên cứu quan trọng, cung cấp không chỉ thông tin, các phân tích, quan điểm hữu ích của tác giả về văn bản luật, mà còn là các vấn đề bất cập trong thực tiễn liên quan đến trọng tài thương mại, trong đó có chế định hủy phán quyết trọng tài Tuy nhiên, do nội dung của hai cuốn sách đều bao quát hết các khía cạnh liên quan đến trọng tài, nên không đủ thời lượng để phân tích, so sánh một hệ thống pháp luật cụ thể đối với việc hủy phán quyết trọng tài Song, không thể phủ nhận được giá trị to lớn mà các tác giả mang lại, đã hỗ trợ rất nhiều cho người nghiên cứu trong khóa luận của mình

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu các căn cứ hủy phán quyết trọng tài thương mại quốc tế trong hệ thống pháp luật Thụy Sĩ với những mục đích sau:

Thứ nhất, tiến hành phân tích các căn cứ hủy phán quyết trọng tài quốc tế Thụy

Sĩ trong sự đối chiếu, so sánh với pháp luật trọng tài Việt Nam

Thứ hai, đánh giá và bình luận từ góc độ quy định pháp luật và thực tiễn xét xử

của cả hai hệ thống pháp luật về các căn cứ hủy phán quyết, từ đó rút ra những bất cập của pháp luật Việt Nam và điểm tiến bộ trong pháp luật Thụy Sĩ có thể tiếp thu

Thứ ba, từ kinh nghiệm của pháp luật Thụy Sĩ, đưa ra một số giải pháp nhằm

khắc phục những bất cập, cũng như đề xuất hướng hoàn thiện trong việc xây dựng

và áp dụng một số căn cứ hủy phán quyết trọng tài tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các vấn đề cơ bản liên quan đến hoạt động hủy phán quyết trọng tài thương mại quốc tế Cụ thể: (i) đối với việc phân tích các đặc điểm, bản chất của việc hủy phán quyết trọng tài thương mại quốc tế, tác giả sẽ nghiên cứu trong phạm vi các văn bản quốc tế là Luật mẫu UNCITRAL, Công ước New York 1958 Ngoài ra, còn kết hợp văn bản pháp luật trọng tài của một số quốc gia và các quy tắc của Trung tâm trọng tài tiêu biểu như ICC

Đối với phần trọng tâm của khóa luận (ii) Căn cứ hủy phán quyết trọng tài thương mại quốc tế sẽ được nghiên cứu trong phạm vi pháp luật trọng tài Thụy Sĩ gồm Đạo luật quốc tế tư nhân Thụy Sĩ năm 1987 tại Chương 12 và các án lệ có liên

Trang 12

quan đến từng căn cứ hủy trong thực tiễn xét xử của Tòa án Tối cao liên bang Thụy

Sĩ Cùng với đó, tác giả sẽ có sự so sánh với Luật TTTM Việt Nam về các căn cứ hủy phán quyết liên quan

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Khóa luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như phân tích, so sánh tổng hợp cùng với thống kê các số liệu có liên quan Các phương pháp nêu trên

sẽ được kết hợp, đan xen với nhau và phân bổ xuyên suốt nội dung của khóa luận

Cụ thể:

Chương 1: tác giả sẽ tiến hành phân tích những kiến thức lý luận chung về bản

chất, đặc điểm và ý nghĩa của chế định hủy phán quyết trọng tài dựa trên các học thuyết và các nguồn luật có tính phổ quát cao như Luật mẫu UNCITRAL, Công ước New York, pháp luật quốc gia Ngoài ra còn có quy tắc của các trung tâm trọng tài

Từ đó tác giả sẽ tổng hợp và rút ra ý chính cho mỗi vấn đề

Chương 2: tác giả sẽ phân tích các căn cứ hủy phán quyết trọng tài dựa trên sự

so sánh giữa quy định của pháp luật Thụy Sĩ và pháp luật Việt Nam, cùng với đó bình luận một số bản án, quyết định của hai Tòa án quốc gia, chủ yếu là thực tiễn xét xử của Thụy Sĩ khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, nhằm rút ra các các vấn đề bất cập còn tồn động của Việt Nam và những điểm tiến bộ của Thụy Sĩ

mà ta có thể học tập kinh nghiệm

Chương 3: Từ những phân tích trên và rút ra những vướng mắc còn tồn đọng ở

Chương 2, tác giả sẽ đề xuất hướng hoàn thiện cho một số căn cứ hủy phán quyết trọng tài trong pháp luật Việt Nam

6 Bố cục khóa luận

Khóa luận sẽ được trình bày qua 03 chương

Chương 1: Tổng quan về chế định hủy phán quyết trọng tài thương mại quốc tế Chương 2: Căn cứ hủy phán quyết trọng tài quốc tế theo pháp luật Thụy Sĩ Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam về căn cứ hủy phán

quyết trọng tài

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỊNH HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG

TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Bản chất của chế định hủy phán quyết trọng tài

Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm, ràng buộc các bên và không thể kháng cáo, kháng nghị Điều này được ghi nhận trong pháp luật của các quốc gia và quy tắc của hầu hết các trung tâm trọng tài Đây được coi là một điểm tiến bộ của trọng tài chính là hướng đến việc đưa ra một phán quyết cuối cùng đối với tranh chấp giữa các bên6 Về nguyên tắc, khi các bên lựa chọn trọng tài thì xem như đã chọn một quyết định cuối cùng và phán quyết sau khi tuyên sẽ được thi hành ngay Tuy nhiên, tính chung thẩm không đồng nghĩa với việc phán quyết sẽ có hiệu lực mang tính tuyệt đối Trong các văn bản pháp lý quốc tế7 hay pháp luật quốc gia hầu như đều cho phép một thủ tục duy nhất có thể xem xét lại hiệu lực của phán quyết trọng tài, đó là yêu cầu hủy phán quyết Thông thường các bên sẽ thực hiện việc yêu cầu hủy tại Tòa án nơi diễn ra trọng tài để làm vô hiệu hóa phán quyết dựa trên các căn cứ được quy định trong pháp luật của quốc gia nơi tiến hành trọng tài Với mục đích đảm bảo rằng quá trình tố tụng trọng tài được tiến hành theo các nguyên tắc cơ bản của quá trình tố tụng, tôn trọng quyền được một HĐTT độc lập và khách quan lắng nghe một cách bình đẳng của các bên trong phạm vi thỏa thuận trọng tài của mình8 Ngoài ra, chế định hủy phán quyết trọng tài sẽ không bao gồm việc xem xét lại nội dung của phán quyết Nếu chấp nhận để Tòa án nơi diễn ra trọng tài xem xét lại nội dung phán quyết, thì coi như Tòa án lại một lần nữa giải quyết vụ tranh chấp Điều này hoàn toàn không được chấp nhận, bởi nó đi trái lại ý chí ban đầu của các bên đương sự khi lựa chọn trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp để loại trừ thẩm quyền của Tòa án Như vậy, quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài về nguyên tắc chỉ liên quan đến các vấn đề thủ tục trong quá trình tố tụng

8 Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, tlđd (6), tr.770

Trang 14

1.2 Cơ sở pháp lý để hủy phán quyết trọng tài

Theo nguyên tắc, luật nơi diễn ra trọng tài sẽ là luật điều chỉnh cho quá trình tố tụng trọng tài, trong đó bao gồm cả các vấn đề về hủy phán quyết Do đó, để làm rõ pháp luật nào điều chỉnh cho việc hủy phán quyết, trước hết cần xác định nơi diễn

ra trọng tài và mối liên hệ của nó đến luật điều chỉnh cho quá trình tố tụng trọng tài

Nơi diễn ra trọng tài (seat of arbitration) là một thuật ngữ pháp lý do các bên thỏa

thuận lựa chọn hoặc do HĐTT quyết định khi không có thỏa thuận9 Nơi diễn ra trọng tài không đơn thuần chỉ để xác định một địa điểm về mặt địa lý, mà còn có ý nghĩa quan trọng để xác định pháp luật áp dụng cho quá trình giải quyết tranh chấp

bằng trọng tài (lex arbitri)10 Ví như, khi nói rằng nơi diễn ra trọng tài tại Geneva,

về nguyên tắc, điều này sẽ được hiểu là quá trình tố tụng trọng tài sẽ diễn ra tuân theo pháp luật Thụy Sĩ Tuy nhiên, không phải tất cả các thủ tục trọng tài đều phải diễn ra tại nơi diễn ra trọng tài mà có thể là các nơi khác, ví dụ như là nơi diễn ra

phiên họp giải quyết tranh chấp (place of hearing) Đối với trọng tài, đặt biệt là

trọng tài quốc tế, việc các luật sư hay các trọng tài viên giải quyết trong vụ tranh chấp có thể đến từ nhiều nước khác nhau là trường hợp không hiếm, do đó sẽ rất bất tiện khi họ phải di chuyển đến quốc gia nơi tiến hành trọng tài để dự phiên họp giải quyết tranh chấp hay thậm chí là nhiều phiên họp khác Vì vậy, để dễ dàng và đỡ tốn kém, trọng tài có thể họp ở các địa điểm khác nhau không nhất thiết phải là nơi diễn ra trọng tài Điều này đã được ghi nhận trong văn bản quốc tế11, quy tắc trọng tài12 và pháp luật quốc gia13 Mặt khác, trừ khi các bên có thỏa thuận thay đổi nơi diễn ra trọng tài, việc thay đổi các địa điểm phiên họp khác nhau sẽ không làm thay đổi địa điểm pháp lý của quá trình tố tụng, tức là dù các phiên họp có diễn ra ở bao nhiêu nước thì pháp luật điều chỉnh cho quá trình tố tụng trọng tài vẫn là luật nơi diễn ra trọng tài

9 ICCA (2010), ICCA’s guide to the interpretation 1958 New York Convention: A handbook for judges, Nxb

ICCA, tr.21 Nguyên văn: “The seat of the arbitration is chosen by the parties or alternatively, by the arbitral institution or the arbitral tribunal It is a legal, not a physical, geographical concept”

10

Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, tlđd (6), tr.232

11 Điều 20.2 Luật mẫu UNCITRAL

12 Điều 18 Quy tắc ICC

13 Khoản 2 Điều 11 Luật TTTM 2010

Trang 15

Như đã đề cập ở trên, việc xác định chính xác luật nơi diễn ra trọng tài góp phần rất quan trọng để biết rõ pháp luật nào sẽ điều chỉnh cho việc hủy phán quyết trọng tài Như vậy, một bên khi có mong muốn hủy phán quyết trọng tài, cần phải xác định xem nơi diễn ra trọng tài trong vụ tranh chấp của mình là ở đâu Từ đó xem xét những yêu cầu pháp luật tại quốc gia nơi diễn ra trọng tài về vấn đề hủy phán quyết

để dự đoán yêu cầu hủy phán quyết của mình có được chấp nhận hay không

Khi các bên lựa chọn nơi diễn ra trọng tài tại đâu sẽ kéo theo luật áp dụng cho

quá trình trọng tài của nơi đó “Nếu luật đó bao gồm những quy định bắt buộc liên

quan đến quá trình tố tụng trọng tài, những quy định này phải được tuân thủ”14 Tuy nhiên, tại một số quốc gia, cho phép các bên được lựa chọn một luật tố tụng trọng tài khác với luật nơi diễn ra trọng tài Tiêu biểu là Thụy Sĩ, theo đó luật Thụy

Sĩ cho phép các bên trong một vụ kiện trọng tài có thể quy định thủ tục tố tụng trọng tài tuân thủ theo luật tố tụng mà họ lựa chọn15 Thực ra việc lựa chọn một pháp luật tố tụng cho quá trình trọng tài khác với luật nơi diễn ra trọng tài sẽ kiến cho vấn đề phức tạp hơn Các bên trong trường hợp này, ngoài việc phải tuân thủ các quy định luật tố tụng trọng tài mà mình đã lựa chọn, còn phải đáp ứng được các tiêu chuẩn trong luật nơi diễn ra trọng tài Đơn cử như pháp luật Thụy Sĩ, dù cho phép các bên lựa chọn luật tố tụng trọng tài khác, song nguyên tắc công bằng và quyền được HĐTT lắng nghe vẫn là yêu cầu bắt buộc dù cho các bên thỏa thuận luật nào đi nữa16 Ngoài ra, “nếu trong quá trình tố tụng trọng tài cần thiết phải nhờ

đến sự tham gia của tòa án - ví dụ như việc phản đối một trong số các trọng tài viên

- vậy bên khiếu nại sẽ đến tòa án nào?”17 Thông thường một quốc gia sẽ không muốn đưa ra quyết định của mình dựa trên luật tố tụng của một quốc gia khác Do

đó, khi các bên thỏa thuận lựa chọn nơi diễn ra trọng tài, nên ưu tiên để cho luật nơi này điều chỉnh quá trình tố tụng trọng tài giải quyết, hơn là lựa chọn một luật tố tụng khác với luật điều chỉnh cho quá trình tố tụng (luật nơi diễn ra trọng tài)

Trang 16

1.3 Đặc điểm yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

1.3.1 Đặc điểm về quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Theo quy định tại Điều 34.1 của Luật mẫu UNCITRAL thì việc yêu cầu Tòa án xem xét hủy phán quyết trọng tài chỉ được tiến hành khi có đơn yêu cầu của một trong các bên đương sự Điều này đã được tiếp nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia như Đức18, Thụy Điển19 hay Trung Quốc20 Tương tự đó, trong Luật TTTM

2010 Việt Nam tại Điều 69 khẳng định: quyền yêu cầu Tòa án xem xét hủy một phán quyết thuộc về các bên trong tranh chấp và khi một bên đưa ra yêu cầu thì bên

đó cũng phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ

và hợp pháp21 Quy định này đã khắc phục được lỗ hổng của Pháp lệnh TTTM

2003, bởi theo Pháp lệnh chỉ cần các bên “không đồng ý với quyết định trọng tài”

đã đủ điều kiện để làm đơn yêu cầu Tòa án hủy phán quyết Điều này vô hình trung

đã khuyến khích các bên làm đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là để kéo dài thời hạn thi hành quyết định, để kịp thời tẩu tán tài sản22 Ngoài ra, về nguyên tắc HĐTT chỉ có thẩm quyền với các bên trong thỏa thuận trọng tài, tức là các bên có thỏa thuận lựa chọn trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thì HĐTT mới có thẩm quyền xem xét và ra phán quyết Lúc này chính các bên trong thỏa thuận đó mới có quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài liên quan

Tuy nhiên, có một số quan điểm cho rằng pháp luật trọng tài cần cho phép người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng được hưởng quyền yêu cầu hủy23 Tác giả không ủng hộ quan điểm này Bởi vì thủ tục trọng tài chỉ đặt ra khi các bên trong tranh chấp có thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài, việc người có quyền lợi và nghĩa vụ là bên thứ ba, không tham gia thỏa thuận trọng tài nhưng lại có quyền yêu

18

Điều 1059.1 Bộ luật Tố tụng dân sự Đức

19 Điều 34 Luật Trọng tài Thụy Điển 1999

20 Điều 58 Luật Trọng tài quốc tế Trung Quốc 1994

21 Điểm a khoản 3 Điều 68 Luật TTTM 2010

Trang 17

cầu xem xét lại các vấn đề liên quan đến tố tụng trọng tài là không phù hợp, bởi dù cho lợi ích của họ bị xâm phạm nhưng họ không trao cho trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng cách thông qua một thỏa thuận trọng tài Mặc khác, theo cơ chế giải quyết của các tổ chức trọng tài thì về nguyên tắc, bên thua sẽ phải trả chi phí trọng tài24

và thường chi phí này không hề nhỏ Do đó, sẽ không công bằng nếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được đưa vào thủ tục trọng tài khi mà một trong hai bên đương sự trong tranh chấp phải trả phí (nếu thua), để HĐTT phải tính toán thêm lợi ích của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó Do đó, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng không được hưởng quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của các bên trong vụ tranh chấp

Pháp luật trọng tài của một số quốc gia trên thế giới còn cho phép các bên được

từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán quyết hoặc hạn chế một số căn cứ hủy phán quyết trọng tài Chẳng hạn như tại Điều 192.1 PILA của Thụy Sĩ quy định: nếu cả hai bên trong vụ tranh chấp không có chỗ ở, nơi cư trú thường xuyên hoặc cơ sở kinh doanh

ở Thụy Sĩ thì có thể thỏa thuận trước trong thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận bằng văn bản sau đó từ bỏ hoàn toàn quyền yêu cầu hủy hoặc hạn chế một số căn cứ hủy phán quyết Trong pháp luật trọng tài Phần Lan25, Bỉ26, Pháp27, Nga28 cũng có những quy định tương tự Điểm chung của các nước trên khi quy định về vấn đề này chính là (i) Các bên trong tranh chấp đều phải không có quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở kinh doanh tại quốc gia nơi tiến hành trọng tài và (ii) Các bên phải thỏa thuận việc từ bỏ yêu cầu hủy hoặc hạn chế căn cứ hủy phán quyết một cách minh thị rõ ràng trong thỏa thuận trọng tài hoặc bằng văn bản nếu được thiết lập sau Quy định này có ưu điểm ở chỗ, nó cho phép xóa bỏ đi một vòng kiểm sát đối với phán quyết trọng tài tại quốc gia nơi mà các bên không có nhu cầu thi hành phán quyết Mục đích chính của việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là bên đó không muốn thi hành phán quyết Do đó, sẽ là không cần thiết khi mà các bên không có nơi cư trú

24 Khoản 3 Điều 34 Luật TTTM 2010

25

Điều 51 Luật trọng tài Phần Lan 1999, sửa đổi năm 2015

26 Điều 1718 Bộ luật Tư pháp Bỉ 2013, sửa đổi năm 2016

27 Điều 1522 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp

28 Điều 34 Luật Trọng tài thương mại quốc tế Nga năm 2015

Trang 18

hoặc tài sản tại quốc gia nơi tiến hành trọng tài, họ sẽ không có nhu cầu thi hành phán quyết tại quốc gia này nên việc hủy phán quyết hầu như không gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ Ngoài ra, pháp luật về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài của quốc gia khác với quốc gia nơi diễn ra trọng tài sẽ kiểm soát việc này nếu phán quyết đó có sai sót Có thể nói, thỏa thuận loại trừ yêu cầu hủy phán quyết là một trong những biện pháp bảo hộ pháp lý loại trừ thẩm quyền của Tòa án, mặc dù người ta không thể hoàn toàn tránh sự xuất hiện của Tòa

án quốc gia ngay cả khi có thỏa thuận trọng tài Tuy nhiên, để điều này trở nên khả thi, các bên nên xem xét cẩn thận các yêu cầu đối với các thỏa thuận loại trừ được

dự kiến bởi luật trọng tài trong nước, cũng như thực tiễn của Tòa án địa phương29 Một vấn đề khác có thể loại bỏ đi quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của các bên trong tranh chấp về mặt khách quan, chính là họ đã không đưa ra phản đối

đó trong suốt quá trình tố tụng trọng tài Trường hợp này các bên xem như từ bỏ quyền phản đối Điều 16.2 Luật mẫu UNCITRAL có quy định rằng phản đối thẩm quyền chỉ có hiệu lực khi được đưa ra trong giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng trọng tài.Sự từ bỏ quyền phản đối được quy định cả trong văn bản quốc tế liên quan đến trọng tài và luật trọng tài của quốc gia như các nước Bỉ30

, Hà Lan31, Việt Nam32 “Thật vậy, hầu hết các quốc gia có nền pháp luật về trọng tài phát triển đều

bảo vệ các phán quyết trong những trường hợp như vậy và hầu hết các quốc gia thành viên của công ước New York thì luôn sẵn sàng thi hành các phán quyết đó Nói một cách đơn giản, nếu có bất kỳ phản đối nào thì không nên trì hoãn mà nên nêu phản đối đó ra ngay”33

“While one cannot completely avoid appearing instate court even when there is an agreement to arbitration, the exclusion agreement is one of the practical safeguards against it In order to make it workable, parties should take a careful look at the requirements to exclusion agreements envisaged by the national arbitration law at the seat of arbitration, as well as thepractice of local courts”

Trang 19

1.3.2 Đặc điểm về thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài

Tính chung thẩm, không thể bị kháng cáo hay kháng nghị bằng một cấp xét xử cao hơn được xem là ưu điểm nổi bật của phán quyết trọng tài Song, chính điều này cũng gây ra hạn chế khi mà trọng tài có thể dựa vào đây để dễ dàng đưa ra những phán quyết tùy tiện Nhằm khắc phục vấn đề này, pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia đã trao thẩm quyền xem xét hủy phán quyết trọng tài khi có yêu cầu của một trong các bên tranh chấp cho Tòa án nơi diễn ra trọng tài Một câu hỏi được đặt ra là tại sao phải là Tòa án nơi diễn ra trọng tài? Như đã đề cập ở trên, bản chất của việc hủy phán quyết trọng tài là xem xét lại các vấn đề thủ tục trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, cũng đã phân tích, các vấn đề về thủ tục của quá trình tố tụng trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi luật nơi diễn ra trọng tài Do đó, khi các bên nhận thấy có các sai phạm về vấn đề thủ tục, việc nộp đơn yêu cầu hủy cho Tòa án nơi diễn ra trọng tài là điều hiển nhiên và hợp lý

Câu hỏi tiếp theo cần giải quyết là, có phải tất cả các Tòa án trong hệ thống Tòa

án quốc gia đều có thẩm quyền xem xét yêu cầu hủy phán quyết hay không? Đối với vấn đề này, Luật mẫu bỏ ngỏ để pháp luật mỗi nước tự quy định, cụ thể tại Điều

6 Luật mẫu UNCITRAL cho phép mỗi quốc gia thông qua luật này ghi rõ Tòa án, các Tòa án hoặc, trong trường hợp được tham chiếu đến trong luật, những cơ quan khác có thẩm quyền thực hiện những chức năng này Ở các nước, Tòa án có thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài không giống nhau Như đối với Phần Lan thẩm quyền lại thuộc về Tòa án sơ thẩm nơi phán quyết được tuyên34 và Nhật Bản là các Tòa án địa phương nơi tiến hành trọng tài35

hay Thụy Sĩ là Tòa án Tối cao liên bang Phân tích thẩm quyền này trong pháp luật trọng tài Việt Nam, Luật TTTM

2010 tại khoản 1 Điều 7 cho phép các bên được thỏa thuận lựa chọn Tòa án, nếu không có thỏa thuận thì thẩm quyền sẽ thuộc về Tòa án nơi HĐTT đã tuyên phán quyết36 Đồng thời, cũng tại Điều 7, tinh thần luật đã thể hiện rõ sự lựa chọn Tòa án

34 Điều 50.1 Luật Trọng tài Phần Lan 1992, sửa đổi năm 2015

35 Điều 5.1 Luật Trọng tài Nhật Bản 2001

36 Khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 7 Luật TTTM 2010

Trang 20

của các bên sẽ nằm trong khuôn khổ các Tòa án tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương37

Từ những phân tích trên có thể kết luận rằng, Tòa án nơi diễn ra trọng tài có thẩm quyền xem xét yêu cầu hủy phán quyết của các bên Và cụ thể là Tòa án nào

có thẩm quyền trong hệ thống Tòa quốc gia thì do nước đó toàn quyền quyết định

1.3.3 Đặc điểm về phán quyết trọng tài bị hủy

Trong quá trình thực hiện thủ tục trọng tài, HĐTT có thể ra nhiều quyết định, lệnh về thủ tục, văn bản hướng dẫn và các phán quyết, nhưng cùng được gắn nhãn

“award” như quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên (Consent award), phán quyết một phần (Partial award) hay quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời (interim measures award) Việc xác định được quyết định nào của

HĐTT là phán quyết trọng tài mang ý nghĩa quan trọng, bởi vì chỉ có phán quyết trọng tài mới mà đối tượng để các bên yêu cầu Tòa án xem xét hủy bỏ

Đối với hai văn bản mang tính quốc tế về trọng tài là Công ước New York và Luật mẫu UNCITRAL, đều không định nghĩa như thế nào là phán quyết trọng tài Tuy nhiên, theo sự hướng dẫn của Ban thư ký UNCITRAL thì Tòa án có thể dựa vào các tiêu chí như: quyết định phải được đưa ra bởi HĐTT, có giá trị chung thẩm

và mang tính ràng buộc giữa các bên để xác định một phán quyết trọng tài 38 Tại Điều 32.1 Luật mẫu UNCITRAL cũng đề cập đến tính chung thẩm của phán quyết khiến cho thủ tục tố tụng trọng tài bị chấm dứt Ý nghĩa của tính chung thẩm này khiến cho phán quyết trọng tài là cuối cùng không bị xét xử lại hay chỉnh sửa nội dung bởi một cấp xét xử cao hơn như phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm Ngoài ra, theo ICCA, khi xác định một phán quyết trọng tài, việc các HĐTT đặt tên cho các quyết định của họ là gì không quan trọng Để xác định một quyết định có thể là một phán quyết hay không, Tòa án cần xem xét đến nội dung và liệu quyết định đó có

Trang 21

giải quyết chung thẩm vấn đề39 Theo lập luận này, ICCA cho rằng phán quyết là quyết định kết thúc toàn bộ hoặc một phần thủ tục trọng tài hoặc quyết định về vấn

đề sơ bộ và việc giải quyết đó là cần thiết để đi đến quyết định cuối cùng40

Trong

đó quan điểm cho rằng quyết định sơ bộ là phán quyết trọng tài cũng được Tòa án của một số quốc gia đồng thuận, bởi vì theo họ quyết định này cuối cùng vẫn giải quyết được chung cuộc một phần của tranh chấp41 Mặc khác, lại có quốc gia chỉ cho phép những phán quyết chấm dứt quá trình tố tụng trọng tài mới được yêu cầu hủy Đơn cử như trong Luật trọng tài Việt Nam, một phán quyết để được xem là phán quyết trọng tài, ngoài việc được tuyên bởi HĐTT, thì còn phải giải quyết được toàn bộ nội dung của vụ tranh chấp và làm chấm dứt thủ tục tố tụng42 Như vậy, có thể hiểu rằng, những quyết định tạm thời hay một phần không phải là phán quyết trong pháp luật trọng tài Việt Nam mà chỉ được xem là “quyết định trọng tài”43 Yếu tố “giải quyết toàn bộ nội dung của vụ tranh chấp” khiến cho phạm vi xác định phán quyết trọng tài của Việt Nam hẹp hơn so với Công ước New York hay Luật mẫu Ngoài ra, theo Luật mẫu UNCITRAL, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên là một phán quyết trọng tài44, điều này cũng được quy định tương tự tại Điều 58 Luật TTTM 2010

Để được xem là một phán quyết trọng tài, phán quyết đó còn cần phải đảm bảo

về mặt hình thức Thông thường, những yêu cầu về hình thức được biểu thị bởi thỏa thuận trọng tài (bao gồm quy tắc của trung tâm trọng tài được các bên lựa chọn) và luật áp dụng cho quá trình tố tụng trọng tài45 Đối với thỏa thuận của các bên khi lựa

39 ICCA, tlđd (9), tr.18 Nguyên văn: “Finally, the name given by the arbitrators to their decision is not determinative Courts must consider the subject matter of the decision and whether it finally settles an issue

in order to decide whether it is an award”

40 ICCA, tlđd (9), tr.17 Nguyên văn: “An award is a decision putting an end to the arbitration in whole or in part or ruling on a preliminary issue the resolution of which is necessary to reach a final decision”

41

UNCITRAL Secretariat, tlđd (38), tr.16 Nguyên văn: “Other courts have held that an interim or partial award amounts to an “award” within the meaning of the Convention, if it finally determines at least part of the dispute referred to arbitration”

42 Khoản 10 Điều 3 Luật TTTM 2010

43 Khoản 9 Điều 3 Luật TTTM 2010

44

Điều 30.2 Luật mẫu UNCITRAL: “Phán quyết xác nhận thỏa thuận của các bên được tuyên theo quy định tại Điều 31 và ghi rõ là phán quyết trọng tài Phán quyết này có cùng quy chế và hệ quả như mọi phán quyết khác được tuyên về nội dung tranh chấp”

45 Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, tlđd (6), tr.744

Trang 22

chọn các quy tắc trung tâm trọng tài, thì phán quyết sẽ tuân theo các quy định hình thức của trung tâm đó Ví dụ, trong Bộ quy tắc của UNCITRAL tại Điều 34 đặt ra các yêu cầu: (i) phán quyết trọng tài phải được lập thành văn bản; (ii) căn cứ mà phán quyết trọng tài dựa vào để trình bày; (iii) phán quyết trọng tài sẽ được ký bởi các bên trọng tài viên và sẽ đề ngày tháng nơi phán quyết được lập; (iv) khi có ba trọng tài viên và một trọng tài viên không ký, phán quyết phải tuyên bố lý do của việc không có chữ ký Ngoài ra, cần phải xem xét đến hình thức phán quyết được yêu cầu bởi luật quốc gia áp dụng cho quá trình trọng tài Như trong pháp luật trọng tài Thụy Sĩ, nếu PILA điều chỉnh phán quyết trọng tài quốc tế chỉ yêu cầu hình thức phán quyết bằng văn bản, có căn cứ, có ngày tháng và được ký46 thì Phần 3 CCP điều chỉnh trọng tài trong nước lại yêu cầu hình thức phán quyết cụ thể và chi tiết hơn47

Mặc dù, pháp luật mỗi quốc gia không hoàn toàn giống nhau về việc xác định như thế nào là phán quyết trọng tài, song những vấn đề cơ bản để xác định một phán quyết trọng tài bao gồm các yếu tố (i) được tuyên bởi HĐTT, (iii) có giá trị chung thẩm, (iv) ràng buộc giữa các bên và (iv) quyết định chung cuộc một phần hoặc toàn bộ vấn đề trong vụ tranh chấp Đồng thời đảm bảo về hình thức của phán quyết trọng tài theo thỏa thuận của các bên và luật áp dụng cho tố tụng trọng tài Bên cạnh đó, cần phân biệt giữa phán quyết trọng tài trong nước và phán quyết trọng tài nước ngoài Bởi vì chỉ có phán quyết trọng tài trong nước các bên mới được yêu cầu Tòa án xem xét huỷ Theo Công ước New York 1958 một phán quyết được xem là phán quyết nước ngoài khi (i) yếu tố chính yếu: nếu phán quyết này được tuyên tại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi mà việc yêu cầu công nhận và cho thi hành phán được tiến hành hoặc (ii) yếu tố thứ yếu: một phán quyết được tuyên trong lãnh thổ của quốc gia nơi tiến hành việc công nhận và cho thi hành nhưng không được coi là phán quyết trọng tài trong nước thì cũng được xem là phán quyết trọng tài nước ngoài48 Như vậy, dựa trên quy định của Công

Trang 23

ước, lãnh thổ chính là tiêu chí xác định phán quyết trong nước hay nước ngoài Luật mẫu quy định trực tiếp phán quyết được tuyên tại nơi diễn ra trọng tài49 Điều này tương tự trong một số quy tắc trung tâm trọng tài và pháp luật quốc gia Ví như Quy tắc trọng tài ICC quy định rằng một phán quyết được cho là được lập tại địa điểm (hoặc nơi) giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và vào ngày nêu trong phán quyết50 Như vậy, một phán quyết không được tuyên trong lãnh thổ của quốc gia nơi diễn ra trọng tài hoặc tuyên trong lãnh thổ của quốc gia nhưng không đáp ứng được điều kiện của phán quyết trong nước, thì được xem là phán quyết nước ngoài Các quốc gia sẽ không cho phép Tòa án hủy phán quyết trọng tài nước ngoài, bởi nơi diễn ra trọng tài của phán quyết không phải quốc gia đó, vì vậy luật quốc gia đó sẽ không điều chỉnh quá trình tố tụng trọng tài, mà như đã đề cập, việc hủy phán quyết chỉ áp dụng cho các vấn đề thủ tục tố tụng

Ngược lại, những phán quyết trọng tài được tuyên trong lãnh thổ của quốc gia được gọi là phán quyết trọng tài trong nước Trong pháp luật trọng tài của một số quốc gia có sự phân chia phán quyết trọng tài trong quốc gia thành trọng tài trong nước và quốc tế Điển hình như pháp luật trọng tài Thuỵ Sĩ Mặc khác có một số quốc gia không phân chia phán quyết trọng tài thành trong nước và quốc tế Thay vào đó, quốc gia chỉ sử dụng một đạo luật để điều chỉnh chung các phán quyết trọng tài trong nước Pháp luật trọng tài Việt Nam đã quy định theo hướng này, theo đó, Luật TTTM 2010 là văn bản chung điều chỉnh cho cả phán quyết trọng tài trong

nước và quốc tế “Mỗi quốc gia đều có quan điểm riêng về mức độ giám sát của

mình đối với những vụ kiện trọng tài được thực hiện trong lãnh thổ quốc gia của mình, và cụ thể một quốc gia đó có muốn phân biệt giữa trọng tài “trong nước” hay

trọng tài trong nước hay quốc tế thì vẫn được xem là phán quyết trong nước của quốc gia đó và các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét hủy phán quyết này Vấn

49 Điều 31.3 Luật mẫu UNCITRAL

50 Dẫn theo Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, tlđd (6), tr.241

51 Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, tlđd (6), tr.785

Trang 24

đề này sẽ được phân tích sâu hơn đối với pháp luật trọng tài Thụy Sĩ tại Chương sau

1.3.4 Đặc điểm về điều kiện hủy phán quyết

Để đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của mình được chấp nhận, bên yêu cầu cần chứng minh được một số điều kiện nhất định do pháp luật nơi Tòa án có thẩm quyền xem xét hủy phán quyết trọng tài quy định Theo đó, trong quá trình tố tụng trọng tài, khi nhận thấy có sự vi phạm thỏa thuận hoặc vi phạm pháp luật, các bên cần yêu cầu HĐTT xem xét các vấn đề này trong thời hạn luật định52 Việc buộc các bên phải đưa ra ngay các phản đối khi thấy có vi phạm trong quá trình tố tụng một phần cho phép HĐTT sửa chữa, bổ sung những sai sót hoặc xem xét lại phán quyết của mình cho phù hợp với thỏa thuận hoặc thỏa thuận giữa các bên, khiến cho trọng tài thêm hiệu quả và tránh tốn kém thời gian về lâu dài Việc sửa chữa, bổ sung các sai sót hầu như đều được quy định trong các quy tắc trọng tài hoặc pháp luật quốc gia Như Điều 35.1 quy tắc trọng tài ICC, HĐTT tự mình hoặc theo yêu cầu của một bên sửa chữa các lỗi soạn thảo, đánh máy, in ấn hoặc các lỗi có tính chất tương

tự trong phán quyết trọng tài Bên cạnh đó, sự yêu cầu xem xét lại các sai sót khi tham gia tố tụng trọng tài còn thể hiện được sự thiện chí của các bên Tố tụng trọng tài không cho phép một bên chỉ đưa những sai sót đó ra để yêu Tòa án hủy phán quyết khi họ là bên thua kiện hay phán quyết đã không theo ý muốn của mình Tòa án chỉ xem xét yêu cầu hủy phán quyết khi nó được nộp theo thời gian luật định Do đó, một bên cần phải chú ý đến khoảng thời gian mà luật đã quy định để yêu cầu hủy của mình được chấp nhận Mặc dù hầu hết các nước đều xây dựng pháp luật trọng tài dựa trên những quy định của Luật mẫu UNCITRAL, nhưng việc nội luật hóa những điều khoản của Luật mẫu lại mang bản sắc riêng của từng quốc gia Điều này được thể hiện rõ khi quy định về thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Theo Điều 34.3 Luật mẫu, đơn yêu cầu hủy bỏ phán quyết không được lập muộn quá ba tháng kể từ ngày bên nộp đơn yêu cầu nhận được phán quyết hoặc nếu

52 Trường hợp một hoặc các bên biết được những vi phạm trên, tuy nhiên vẫn giữ im lặng và tiếp tục quá trình tố tụng, đồng nghĩa với việc một hoặc các bên chấp nhận tuân theo những gì HĐTT quyết định và sẽ mất đi quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trước Tòa án

Trang 25

đơn yêu cầu được tiến hành theo Điều 33 thì tính từ ngày mà yêu cầu đó được HĐTT giải quyết Điều này được quy định tương tự trong Điều 34.3 Luật trọng tài quốc tế Úc 1974, Điều 1717.4 Bộ luật tư pháp Bỉ 2013, sửa đổi 2016 hay Điều 34.3 Luật trọng tài New Zealand 1996 Tuy nhiên, một số quốc gia lại có quy định khác biệt so với Luật mẫu Đối với Trung Quốc, thời hạn nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là 6 tháng từ ngày nhận được phán quyết53 hoặc 28 ngày từ ngày nhận phán quyết là thời hạn yêu cầu hủy của Luật trọng tài Anh54 Luật TTTM 2010 của Việt Nam cũng có quy định khác biệt với Luật mẫu, cụ thể thời hạn để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết55 Đây được xem là sự thừa kế Điều 50 Pháp lệnh TTTM 2003 Theo Pháp lệnh, các bên trong

tranh chấp chỉ cần “không đồng ý” với phán quyết của trọng tài là đủ điều kiện để

yêu cầu hủy, nên thời hạn 30 ngày là phù hợp Mặc dù, khoảng thời gian tương đối ngắn như vậy sẽ hạn chế việc yêu cầu hủy phán quyết và tạo cho việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài được giải quyết nhanh chóng56

Tuy nhiên, Luật TTTM 2010, lại bổ sung thêm một điều kiện rằng khi các bên nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài kèm theo đó phải cung cấp chứng cứ, tài liệu để chứng minh yêu cầu của mình là có cơ sở tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 2010 Như vậy, với thời hạn 30 ngày được giữa nguyên như ở Pháp lệnh cũ sẽ khiến các bên eo hẹp

về thời gian khi thu thập chứng cứ để chứng minh và ảnh hưởng đến lợi ích của họ khi thật sự bị xâm phạm Do đó, thiết nghĩ pháp luật Việt Nam nên tăng thêm thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong tương lai Bên cạnh đó, đối với những trường hợp bất khả kháng mà các bên không thể nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn, thì pháp luật trọng tài Việt Nam tại khoản 2 Điều 69 Luật TTTM 2010 cho phép không tính thời gian có sự kiện bất khả kháng đó vào yêu cầu hủy phán quyết

53 Điều 59 Luật trọng tài Trung quốc 1994

54

Điều 70.3 Luật trọng tài Anh 1996

55 Khoản 1 Điều 69 Luật TTTM 2010

56 Đỗ Văn Đại (2017), Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam-Bản án và bình luận bản án (Tập 1),

Nxb.Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.713

Trang 26

1.4 Hệ quả pháp lý của việc hủy phán quyết trọng tài

“Những hậu quả của việc hủy phán quyết là khác nhau phụ thuộc vào các căn

cứ phản đối, các luật liên quan, và quyết định của Tòa án xem xét yêu cầu hủy Bản thân quyết định này đã có thể tồn tại dưới nhiều hình thức Tòa án có thể quyết định công nhận phán quyết, đưa phán quyết trở lại cho HĐTT xem xét lại, sửa đổi phán

tài bị hủy sẽ dẫn đến hai hệ quả pháp lý: thứ nhất phán quyết đó sẽ chấm dứt hiệu lực pháp luật tại quốc gia nơi diễn ra trọng tài và thứ hai là có thể ảnh hưởng đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết tại các quốc gia khác Việc chấm dứt hiệu lực của phán quyết do bị hủy tại quốc gia nơi diễn ra trọng tài có thể khiến cho phán quyết sẽ không được thực thi Trong trường hợp này có hai giải pháp được đưa ra: (i) các bên có thể lựa chọn Tòa án hoặc (ii) bắt đầu lại bằng quá trình trọng tài mới để giải quyết tranh chấp của mình Tuy nhiên đối với trường hợp hủy phán quyết do không có thỏa thuận trọng tài hoặc trọng tài vô hiệu, thì các vi phạm này phải được khắc phục trước khi các bên đưa vụ tranh chấp ra trọng tài một lần nữa Thực chất, giải pháp (i) rằng đưa vụ tranh chấp ra Tòa án giải quyết sau khi phán quyết bị hủy về bản chất là trái ngược với mục đích của các bên khi chọn trọng tài

là phương thức giải quyết Đồng thời, nếu một phán quyết bị hủy do các vấn đề thủ tục khiến cho bên thắng kiện trọng tài sẽ nảy sinh tâm lý chán nản vì nếu muốn giải quyết lại bằng phương thức trọng tài họ phải thực hiện quá trình lại một lần nữa Do

đó, “Các trọng tài viên cũng được khuyến nghị là nên ghi chép lại thành văn bản

các tuyên bố rõ ràng của các bên về việc họ hài lòng với cách tiến hành phiên họp vào phần cuối của phiên họp cuối cùng, nhằm bảo vệ phán quyết một cách thực sự Nếu một bên sau đó thể hiện sự lo ngại của mình thì, hội đồng trọng tài vẫn sẽ còn thời gian để điều chỉnh lại vấn đề trước khi ban hành phán quyết cuối cùng”58

Về nguyên tắc khi một phán quyết trọng tài bị hủy, không có hiệu lực pháp lý,

nó đương nhiên không được thi hành tại quốc gia nơi diễn ra trọng tài Tuy nhiên,

có hay không việc thi hành một phán quyết bị hủy tại các quốc gia khác - quốc gia

57 Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, tlđd (6), tr.813

58 Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, tlđd (6), tr.814

Trang 27

nơi mà các bên trong tranh chấp có nhu cầu thi hành phán quyết, thì điều này lại tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia Theo Công ước New York, cụ thể tại Điều V.1(e) Công ước, một phán quyết bị hủy có thể (may) là căn cứ để các quốc gia xem xét việc công nhận và cho thi hành phán quyết, nhưng điều này không phải là bắt buộc (must) trong việc xem xét thi hành phán quyết trọng tài Hơn nữa, tại Điều VII.1 Công ước đã khẳng định các quốc gia ký kết sẽ không vi phạm Công ước bằng cách thi hành phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật trong nước hoặc các điều ước quốc tế có lợi hơn cho việc thi hành Công ước59 Như vậy Điều V Công ước đã để ngỏ vấn đề này, cho phép các nước chấp nhận hoặc không chấp nhận thi hành phán quyết bị hủy bởi quốc gia nơi tiến hành trọng tài của nó Nếu một quốc gia nhận thấy rằng việc một phán quyết trọng tài bị hủy là đủ căn cứ gây ảnh hưởng đến việc công nhận và cho thi hành tại quốc gia mình, Tòa án có quyền không thi hành nó trong lãnh thổ nước đó Tương tự, Công ước Châu Âu về Trọng tài thương mại quốc tế cũng có quy định tại Điều IX rằng Tòa án của các quốc gia thành viên có quyền từ chối công nhận một phán quyết đã bị hủy tại một quốc gia thành viên khác, với điều kiện căn cứ hủy phán quyết đó phải nằm trong các căn cứ tại Điều V Công ước New York, ngoại trừ căn cứ hủy về vi phạm chính sách công60 Hướng quy định này cũng có thể tìm thấy trong pháp luật trọng tài quốc gia,

ví như Việt Nam Theo đó, Việt Nam sẽ không công nhận một phán quyết trọng tài khi có hai dấu hiệu: (i) chứng cứ do bên phải thi hành phán quyết cung cấp cho Tòa

để phản đối công nhận là có căn cứ, hợp pháp và (ii) phán quyết đã bị hủy bởi cơ quan có thẩm quyền của nước tuyên phán quyết hoặc của nước có pháp luật đã được

áp dụng61 Mặc khác, theo Điều khoản 5 Điều 458 BLTTDS 2015 thì sau khi xem xét đơn yêu cầu, giấy tờ, tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Tòa án sẽ đưa ra một trong hai quyết định: (i) quyết định công

59 UNCITRAL Secretariat, tlđd (38), tr.289 Nguyên văn: “By virtue of article VII (1), Contracting States will not be in breach of the Convention by enforcing arbitral awards pursuant to provisions of domestic laws or treaties that are more favourable to enforcement [ ]”

Trang 28

nhận và cho thi hành phán quyết tại Việt Nam hoặc (ii) phán quyết không nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài Điều này đồng nghĩa với việc, một phán quyết

bị hủy sẽ không được công nhận lẫn cho thi hành trong lãnh thổ Việt Nam

Trái ngược với đó, một số Tòa án ở Pháp, Bỉ, Áo và Hoa Kỳ đã cho thi hành các phán quyết dù cho nó đã bị hủy tại nơi diễn ra trọng tài62 Tiêu biểu cho hướng giải

quyết này có thể kể đến các vụ việc như Société Hilmarton Ltd v Société Omnium

Aeroservices v Arab Republic of Egypt [1996] 94-2339 Cụ thể đây là tranh chấp

giữa Chromalloy với Ai Cập, sau khi tranh chấp được giải quyết bởi một HĐTT, chiến thắng đã thuộc về Chromalloy Tuy nhiên, Ai Cập đã nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết lên Tòa phúc thẩm Cairo và đệ đơn lên Tòa án quận Columbia của Hoa

Kỳ yêu cầu hoãn thi hành phán quyết này Kết quả là phán quyết đã bị Tòa phúc thẩm Cairo hủy, nhưng Tòa quận Columbia vẫn cho phép phán quyết được thực thi Tòa án quận Columbia đã lập luận theo quy định tại Điều V.1(e) thì họ có toàn quyền trong việc công nhận hoặc không công nhận một phán quyết trọng tài đã bị hủy và theo Điều VII.1 Công ước sẽ không tước đi của bất kỳ bên nào quyền được

sử dụng phán quyết trọng tài theo cách thức và trong phạm vi được cho phép bởi pháp luật của quốc gia nơi ra phán quyết Do đó, Tòa án quận kết luận rằng họ phải xem xét các khiếu nại của Chromalloy theo luật hiện hành của Hoa Kỳ và thấy rằng phán quyết của trọng tài là đúng đắn theo luật của Hoa Kỳ 64

Như vậy, một phán quyết trọng tài bị hủy không đồng nghĩa với việc nó sẽ tự động không được thi hành ở các quốc gia khác Việc có chấp nhận nó trở thành một

62 Elina Haikola, “Arbitral tribunal and National courts – Constants battle or efficient co-operation?” https://lauda.ulapland.fi/bitstream/handle/10024/60002/Haikola.Elina.pdf?, truy cập lần cuối ngày 10/03/2020 Nguyên văn: “This ground has given rise to more controversy than any of the previously mentioned grounds, and it has in fact happened that some courts for example in France, Belgium, Austria and the United States have enforced awards that have been set aside by the courts at the seat of the arbitration”

63 Ngô Quốc Lâm (2019), Căn cứ hủy phán quyết trọng tài thương mại, so sánh với pháp luật Singapore và

đề xuất hướng hoàn thiện, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh,

tr.24

64 http://newyorkconvention1958.org/index.php?lvl=notice_display&id=1139&opac_view=6, cập nhật lần cuối ngày 13/03/2020

Trang 29

căn cứ để xem xét việc cho thi hành phán quyết trọng tài hay không tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia

Trang 30

đi sâu nghiên cứu các căn cứ hủy phán quyết trọng tài – vấn đề được xem làm phần cốt lõi của chế định hủy phán quyết Trong Chương 2 dưới đây, tác giả sẽ tiến hành phân tích, nghiên cứu các căn cứ hủy phán quyết trọng tài quốc tế Thụy Sĩ, đặc biệt

là dựa trên các án lệ của nước này Đồng thời, so sánh với một số quy định tương ứng trong pháp luật trọng tài Việt Nam

Trang 31

CHƯƠNG 2 CĂN CỨ HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI QUỐC TẾ

THEO PHÁP LUẬT THỤY SĨ

2.1 Hủy phán quyết trọng tài quốc tế trong pháp luật Thụy Sĩ

2.1.1 Hệ thống pháp luật Thụy Sĩ về hủy phán quyết trọng tài

Pháp luật Thụy Sĩ về trọng tài được phân làm hai nhánh:

Thứ nhất là hệ thống pháp luật về trọng tài quốc tế (International Arbitration)

điều chỉnh bởi Chương 12 Đạo luật quốc tế tư nhân Thụy Sĩ năm 1987 (PILA) Đây được xem là một trong những tiền thân của luật trọng tài hiện đại trên toàn thế giới

và là nguồn cảm hứng cho nhiều khu vực pháp lý Rõ ràng và hiện đại, với 19 Điều khoản ngắn gọn, Đạo luật hỗ trợ một chế độ hiệu quả và thân thiện với trọng tài, trong đó nêu bật sự ủng hộ mạnh mẽ của Thụy Sĩ đối với trọng tài quốc tế65

Thứ hai là hệ thống pháp luật về trọng tài trong nước (Domestic Arbitration),

được quy định tại Phần 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Thụy Sĩ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 (CCP)

2.1.2 Phán quyết trọng tài quốc tế theo pháp luật trọng tài Thụy Sĩ

Vậy pháp luật trọng tài Thụy Sĩ đã dựa vào yếu tố nào để phân chia đâu là phán quyết quốc tế, đâu là phán quyết trọng tài trong nước? Cả PILA và CCP đều không định nghĩa như thế nào là phán quyết trong nước và quốc tế Tuy nhiên vấn đề này

có thể được giải quyết từ phạm vi điều chỉnh của 2 đạo luật trên Theo đó, Điều 176.1 PILA quy định Chương 12 của Đạo luật này được áp dụng cho trọng tài khi: (i) địa điểm hoặc nơi diễn ra trọng tài ở Thụy Sĩ và (ii) tại thời điểm ký kết thỏa thuận trọng tài, ít nhất một trong các bên không có quốc tịch hoặc nơi cư trú tại Thụy Sĩ Hay nói cách khác, đây là pháp luật trọng tài quốc tế Ngược lại, (i) nếu cả hai bên trong thỏa thuận trọng tài có quốc tịch hoặc cư trú tại Thụy Sĩ, tại thời điểm

ký kết trọng tài và (ii) Thụy Sĩ là địa điểm diễn ra trọng tài, thì CCP về trọng tài

65 https://www.arbitration-ch.org/en/arbitration-in-switzerland/index.html, truy cập lần cuối ngày 1/3/2020 Nguyên văn: “Switzerland's international arbitration law (Chapter 12 of the 1987 Federal Private International Law Act) is one of the forerunners of modern arbitration laws worldwide, and has been an inspiration to many jurisdictions Clear and modern, with its concise 18 Articles, the Act supports an arbitration-friendly and efficient regime which highlights Switzerland's strong support for international arbitration”

Trang 32

trong nước sẽ điều chỉnh trọng tài đó66 Có thể thấy rằng, yêu cầu về địa điểm hoặc nơi diễn ra trọng tài tại Thụy Sĩ là bắt buộc để xác định pháp luật trọng tài Thụy Sĩ

sẽ được áp dụng cho trọng tài giữa các bên và yếu tố quốc tịch hay nơi cư trú chính

để phân biệt đâu là trọng tài quốc tế và trong nước Từ đó xác định được phán quyết trọng tài trong nước hay là phán quyết trọng tài quốc tế Ngoài ra, pháp luật trọng tài Thụy Sĩ còn có những quy định khá linh hoạt, cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn áp dụng các quy định của PILA cho trọng tài trong nước hoặc CCP cho trọng tài quốc tế, với điều kiện các bên phải tuyên bố rõ ràng bằng văn bản trước hoặc sau khi có tranh chấp về việc đồng ý áp dụng Chương 12 của PILA hoặc Phần 3 CCP cho trọng tài của mình Ví dụ, các bên có quốc tịch hoặc nơi cư trú tại Thụy Sĩ và địa điểm trọng tài tại Thụy Sĩ, đáng ra trường hợp này phải do CCP điều chỉnh, nhưng các bên lại thỏa thuận chọn sự điều chỉnh của Chương 12 của PILA theo đúng quy định của luật, thì các bên sẽ không bị xem là vi phạm khi không tuân thủ quy định tại CCP67

Chính vì việc phân loại trên dẫn đến chế định hủy phán quyết trọng tài của quốc gia này cũng bị ảnh hưởng và được phân chia ra Cụ thể đối với hủy phán quyết

trọng tài quốc tế nơi diễn ra trọng tài tại Thụy Sĩ (International arbitral awards)

được quy định tại Điều 190, 191 và 192 của PILA, còn các Điều từ 389 đến Điều

393 của CCP điều chỉnh cho việc hủy phán quyết trọng tài trong nước (Domestic

arbitral awards)

Khác với pháp luật trọng tài Thụy Sĩ, Việt Nam không có sự phân chia giữa phán quyết trọng tài quốc tế hay trong nước Thay vào đó, cần phải xác định được phán quyết của trọng tài nước ngoài để loại trừ và nhận định đúng trọng tài trong nước của Việt Nam Theo khoản 11 Điều 3 Luật TTTM 2010, phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết được HĐTT nước ngoài68

tuyên bên ngoài hoặc trong lãnh thổ Việt Nam Và Tòa án Việt Nam sẽ không có thẩm quyền xem xét yêu cầu

Trang 33

hủy đối với các phán quyết này69 Như vậy có thấy rằng ngoài tiêu chí lãnh thổ theo Điều I.1 công ước New York 1958 mà Việt Nam là thành viên thì phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam cần phải xác định thêm luật quốc gia nào áp dụng để thành lập HĐTT Nếu hiểu theo tinh thần và ý nghĩa của quy định này trong Luật TTTM 2010, chỉ cần phán quyết được tuyên bởi trọng tài nước ngoài (tọa lạc tại nước ngoài và thành lập theo pháp luật nước ngoài), dù cho là trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam thì đều được xem là phán quyết của trọng tài nước ngoài Từ đó, có thể suy ra phán quyết trọng tài trong nước, mặc dù khái niệm này không được quy định trong Luật TTTM, đó chính là phán quyết được tuyên bởi trọng tài Việt Nam, như là HĐTT của các trung tâm trọng tài Việt Nam, sẽ là phán quyết trọng tài trong nước và được quyền yêu cầu hủy trước Tòa án Việt Nam

Đối với vấn đề này, Thụy Sĩ áp dụng hoàn toàn Công ước New York vào việc xác định phán quyết trọng tài nước ngoài chứ không là phán quyết của trọng tài nước ngoài như Việt Nam70 Theo đó, một phán quyết được xem là một phán quyết nước ngoài khi: Phán quyết trọng tài được tuyên bởi HĐTT ở một quốc gia khác ngoài lãnh thổ của Thụy Sĩ71 hoặc (ii) tuyên trong lãnh thổ Thụy Sĩ nhưng không được xem là phán quyết trong nước Dựa theo những phân tích ở trên thì điều kiện đầu tiên để được xem là phán quyết trọng tài trong nước (bao gồm phán quyết trong nước và quốc tế) là nơi diễn ra trọng tài ở Thụy Sĩ Như vậy, nếu một phán quyết được tuyên trong lãnh thổ của Thụy Sĩ nhưng không đáp ứng được yêu cầu trên thì không được xem là phán quyết trọng tài trong nước, đồng nghĩa với việc Tòa án sẽ không xem xét đến yêu cầu hủy đối với phán quyết này Điều này lại dẫn đến một khác biệt nữa giữa pháp luật trọng tài Việt Nam và Thụy Sĩ Tại Điều 8 khoản 3 Luật TTTM 2010 cũng có quy định về việc khi các bên chọn địa điểm trọng tài tại Việt Nam, nhưng hệ quả của nó chỉ dừng ở việc phán quyết sẽ được coi như tuyên trong lãnh thổ Việt Nam Song, theo quy định của Luật TTTM, thì một phán quyết

Trang 34

được tuyên bên trong lãnh thổ Việt Nam vẫn có thể là phán quyết của trọng tài nước ngoài khi được tuyên bởi Trọng tài nước ngoài

2.1.3 Thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài quốc tế

Theo PILA, chủ thể có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quốc tế chính là Tòa án Tối cao liên bang Thụy Sĩ Đối với hoạt động hủy phán quyết trọng tài, Tòa án Tối cao liên bang Thụy Sĩ nắm giữ vao trò vô cùng quan trọng Ngoài việc xem xét và giải quyết các yêu cầu hủy được đệ trình các bên, Tòa

án Tối cao liên bang còn thực hiện việc hướng dẫn đối với các quy định về hủy phán quyết trọng tài, đặc biệt là trong việc giải thích các căn cứ hủy phán quyết trọng tài quốc tế được quy định trong PILA thông qua các án lệ

2.1.4 Thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài quốc tế

Về thời hạn hủy phán quyết trọng tài trong pháp luật Thụy Sĩ PILA không đề cập đến thời hạn để các bên tranh chấp gửi yêu cầu hủy phán quyết cho Tòa án Thay vào đó, tại Điều 100 (1) Đạo luật Liên bang Thụy Sĩ về Tòa án Liên bang ngày 17 tháng 6 năm 2005, SR 173.110 quy định khi có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, các bên phải gửi về cho Tòa án trong vòng 30 ngày kể từ khi có thông báo

về một quyết định đầy đủ72 và sẽ không được gia hạn73 Đối với vấn đề này, trong

dự thảo sửa đổi PILA có xem xét đến việc sẽ đưa thời hạn kháng cáo vào một điều khoản rõ ràng, do đó tránh việc các bên nước ngoài phải tham khảo các nguồn luật pháp trong nước khác về thông tin này74

72

Antonio Rigozzi, “Swiss Supreme Court clasifies starting point for computation of time limit to challenge ICC awards”, https://www.linkedin.com/pulse/swiss-supreme-court-clarifies-starting-point-time-limit- rigozzi/, truy cập lần cuối ngày 22/03/2020 Nguyên văn: “Art 100(1) SCA provides that the application to set aside must be filed with the Supreme Court within 30 days from the notification of the full decision” 73

Antonio Rigozzi, tlđd (73) Nguyên văn: “The Supreme Court ruled that the statutory, non-extendable day time limit to bring an application to set aside an arbitral award (Art 100(1) Supreme Court Act, hereinafter SCA) [ ]”

30-74 Urs Feler, Marcel Frey and Berhard C Lauterburg, Prager Dreifuss AG, “Arbitration procedures and practice in Switzerland: overview”,

https://uk.practicallaw.thomsonreuters.com/5-502-1047?transitionType=Default&contextData=(sc.Default)&firstPage=true&bhcp=1, truy cập lần cuối ngày 24/03/2020

Trang 35

2.2 Căn cứ hủy phán quyết trọng tài quốc tế

Căn cứ hủy phán quyết trọng tài quốc tế Thụy Sĩ được quy định tại Điều 190.2 PILA bao gồm năm căn cứ: (i) thẩm quyền của HĐTT, (ii) HĐTT được thành lập không đúng, (iii) phán quyết HĐTT vượt quá thẩm quyền hoặc không giải quyết được tranh chấp, (iv) nguyên tắc đối xử công bằng hoặc quyền được HĐTT lắng nghe của các bên bị xâm phạm và cuối cùng (v) vi phạm chính sách công Ngoài ra, theo quy định tại Điều 190.3 PILA, pháp luật trọng tài Thụy Sĩ cho phép các phán

quyết sơ bộ (Preliminary awards) được xem xét hủy theo căn cứ tại Điều 190.2 (a)

và (b) PILA Như vậy, đối với các phán quyết sơ bộ chỉ có thể dựa vào hai căn cứ hủy là sự thành lập bất thường của HĐTT và HĐTT không có thẩm quyền, và với các phán quyết một phần và cuối cùng có thể viện dẫn tất cả các căn cứ tại Điều

190.2 PILA để yêu cầu hủy

Theo nguyên tắc thì các bên trong tranh chấp chỉ được viện dẫn những căn cứ quy định trong Điều 190.2 PILA khi có yêu cầu hủy phán quyết Điều này được

khẳng định tại đoạn 2.3 Quyết định 4A_256/2009 ngày 11 tháng 01 năm 201075 Do

đó, nếu các bên viện dẫn căn cứ hủy phán quyết nhưng không thuộc bất kỳ căn cứ nào trong Điều luật nêu trên thì sẽ không được Tòa án chấp nhận Ví như đối với việc vi phạm thủ tục trọng tài Trái ngược với điểm a (iv) Điều 34.2 Luật mẫu UNCITRAL hay điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 201076

đều có quy định: thủ tục trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc quy định của Luật sẽ là một căn cứ để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Pháp luật trọng tài Thụy Sĩ lại không xem nó là một căn cứ để hủy phán quyết trọng tài và không có quy định nào trong cả PILA đề cập đến vấn đề này Song, thực tế các bên có thể viện dẫn nó như một lập luận để đưa ra yêu cầu hủy dựa trên căn cứ hủy phán quyết tại Điều 190.2 (a), (d) và (e) PILA (sẽ được phân tích kỹ hơn trong các mục của Khóa luận)

75 Quyết định 4A_256/2009, federal-tribunal-through-ref1?, truy cập lần cuối ngày 06/04/2020 Nguyên văn: “Only those grievances which are limitatively set forth in Art 190 (2) PILA are admissible [ ]”

http://www.swissarbitrationdecisions.com/invalid-waiver-of-the-appeal-to-the-76 Trong Điều luật này có quy định về hai phần: (i) thành phần HĐTT thành lập không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc quy định của luật TTTM 2010 và (ii) thủ tục trọng tài không phù hợp phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc quy định của luật TTTM 2010 Phần (i) sẽ được phân tích kỹ hơn tại mục 2.2.2

Trang 36

Thêm một sự khác biệt nữa trong quy định của pháp luật trọng tài giữa Việt Nam và Thụy Sĩ Tại điểm d khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 2010 quy định rằng chứng cứ do các bên cung cấp mà HĐTT dựa vào đó để ra phán quyết là giả mạo là một căn cứ để các bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Đồng thời Tòa án Việt Nam chỉ xem xét việc xác định chứng cứ giả mạo với điều kiện: thứ nhất, là có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó, thứ hai là chứng cứ đang được xem xét là giả mạo ảnh hưởng đến việc ra phán quyết và cuối cùng là nó phải ảnh hưởng đến sự khách quan, công bằng của phán quyết77 Còn đối với pháp luật trọng tài Thụy Sĩ, việc xem xét chứng cứ của HĐTT không được quy định là một căn cứ hủy phán quyết tại Điều 190.2 PILA Tuy nhiên, giống như sự vi phạm thủ tục trọng tài bên trên các bên có thể viện dẫn việc đánh giá chứng cứ của HĐTT này một cách gián tiếp trong việc đưa ra các lập luận khi yêu cầu hủy dựa trên căn cứ hủy phán quyết

do vi phạm chính sách công

Trong thực tiễn hủy phán quyết trọng tài, một nghiên cứu cho thấy rằng đã có tổng cộng 323 quyết định hủy phán quyết trọng tài quốc tế được đưa ra theo các căn

cứ hủy của PILA trong vòng gần mười năm từ năm 2008 đến 201778 Theo đó, các

quyết định phi thể thao (non-sport) bao gồm phán quyết trọng tài về thương mại và

đầu tư chiếm 178 quyết định và 145 quyết định còn lại thuộc về việc hủy phán

quyết trọng tài thể thao (sports arbitration award)79 Ngoài ra, tỷ lệ thành công cho các trường hợp hủy phán quyết trọng tài phi thể thao tăng nhẹ, nhưng vẫn ở mức thấp 7,37% từ năm 1989 đến 2017 (23 trong số 312 trường hợp)80 Như vậy có thể thấy rằng, việc một phán quyết trọng tài được hủy thành công ở Thụy Sĩ không phải

là điều thường xuyên hoặc phải nói là rất hạn chế Do đó, trong những phần tiếp theo đây tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu về từng căn cứ hủy phán quyết trọng tài quốc tế Thụy Sĩ – vấn đề cốt lõi của chế định hủy phán quyết trọng tài, nhằm có

77 Điểm d khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP

78 Felix Dasser, Piotr Wójtowicz, Challenges of Swiss arbitral awards updated statistical data as of 2017,

Trang 37

một cái hình sâu sắc hơn đối với các quy định hủy phán quyết của quốc gia này cũng như tìm kiếm những tiến bộ có thể tiếp thu cho pháp luật trọng tài Việt Nam

2.2.1 HĐTT được thành lập không phù hợp theo yêu cầu của các bên hoặc

quy định của Luật

Theo quy định tại Điều 190.2 (a) PILA, trong trường hợp trọng tài duy nhất giải quyết vụ tranh chấp được chỉ định không phù hợp hoặc HĐTT được thành lập không đúng, thì đây sẽ là căn cứ để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trước Tòa án Mục đích của quy định này chính là duy trì quyền công bằng cơ bản của các bên trong việc lựa chọn người sẽ đứng ra giải quyết tranh chấp cho họ PILA không có giải thích gì thêm cho quy định này, tuy nhiên căn cứ hủy tại Điều 190.2 (a) lại được Tòa án Tối cao Liên bang Thụy Sĩ giải thích trong án lệ Theo đó, trọng tài duy nhất giải quyết vụ tranh chấp được chỉ định không phù hợp hoặc HĐTT được thành lập không đúng chỉ có liên quan: (i) đến cách thức mà trọng tài viên được chỉ định hoặc thay đổi theo Điều 179 PILA và (ii) là sự công bằng của trọng tài viên theo Điều 180 PILA81

Thứ nhất, Điều 179 PILA cho phép các bên được thỏa thuận về việc chỉ định, loại bỏ hoặc thay thế trọng tài viên Trong trường hợp không có thỏa thuận, sẽ do Tòa án nơi diễn ra trọng tài quyết định theo CCP về việc bổ nhiệm, loại bỏ, thay thế trọng tài viên82 Điều này tương tự với pháp luật trọng tài Việt Nam đối với căn cứ hủy do thành phần HĐTT không phù hợp với thỏa thuận của các bên và trái với quy định của Luật TTTM83, với các điều kiện: (i) Tòa án xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng, cần phải hủy và (ii) nếu HĐTT không thể khắc phục được hoặc không thể khắc phục theo yêu cầu của Tòa án84 Việc tạo cho HĐTT cơ hội để khắc phục sửa chữa phán quyết không được PILA ghi nhận trong quy định về thẩm

81

Quyết định 4A_538/2012,

issue?, truy cập lần cuối ngày 23/03/2020 Đoạn 4.3.2 Nguyên văn: “[ ] Thus, as a matter of principle and

http://www.swissarbitrationdecisions.com/alleged-lack-authority-representatives-creates-jurisdictional-on the basis of the side note of sectihttp://www.swissarbitrationdecisions.com/alleged-lack-authority-representatives-creates-jurisdictional-on IV of chapter 12 PILA (“arbitral tribunal”), the regularity of the constitution of the arbitral tribunal means only the manner in which the arbitrators were appointed or substituted (Art 179 PILA) and the issues concerning their independence (Art 180 PILA)”

82 Điều 362 CCP

83 điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM 2010

84 Điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP

Trang 38

quyền của trọng tài tại Điều 179 PILA Tuy nhiên vấn đề này đã được bổ sung trong

án lệ của Tòa án Thụy Sĩ85 Cụ thể, Tòa án Tối cao liên bang có thẩm quyền đối với tất cả các yêu cầu sửa đổi các phán quyết của HĐTT quốc tế, bất kể là phán quyết cuối cùng, một phần hay tạm thời Các bên có quyền yêu cầu sửa đổi bởi Tòa án liên bang khi: (i) phán quyết bị ảnh hưởng bởi hành vi phạm tội86 hoặc (ii) xuất hiện các tình tiết và bằng chứng mới sau khi HĐTT đã ra phán quyết (hoặc quyết định)87 Ngoài ra, việc sửa chữa, khắc phục này chỉ được thực hiện cho các quyết định hay phán quyết còn hiệu lực, ràng buộc HĐTT88 và yêu cầu này phải được nộp trong vòng 90 ngày sau khi phát hiện căn cứ sửa đổi, khắc phục89 Sau khi các bên yêu cầu, nếu được chấp nhận, Tòa án sẽ gửi vấn đề lại cho HĐTT đó xem xét hoặc giao cho một trọng tài khác được thành lập mới Đối với vấn đề này, pháp luật trọng tài Việt Nam và Thụy Sĩ quy định theo hai hướng khác nhau Theo đó, Luật trọng tài Thụy Sĩ cho phép các bên đương sự được yêu cầu việc sửa chữa, khắc phục phán quyết độc lập với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, không giới hạn việc yêu cầu khắc phục phán quyết chỉ để phán quyết không bị hủy Ngược lại, tại khoản 7 Điều

71 Luật TTTM 2010 việc khắc phục sai sót chỉ sau khi có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài do yêu cầu từ một bên hoặc do Tòa án xét thầy phù hợp Tức là, sau khi xét đơn yêu cầu hủy, Tòa án nhận thấy trọng tài có sai sót và vẫn có thể tạo điều kiện để trọng tài khắc phục sửa chữa với mục đích không phải hủy phán quyết trọng tài Điều này được Việt Nam tiếp thu từ Điều 34.4 Luật mẫu UNCITRAL bằng cách gắn quy trình yêu cầu khắc phục với hủy phán quyết trọng tài, và từ đó, giới hạn phạm vi các căn cứ khắc phục chỉ trong rất ít các căn cứ để hủy phán quyết trọng

85

Quyết định 4A_42/2008, award, truy cập lần cuối ngày 23/03/2020 Đoạn 2 Nguyên văn: “PILA contains no provision with regard to requests for revision of awards of an Arbitral Tribunal within the meaning of Art 176 ff PILA According to case law of the Federal Tribunal, which supplemented the loophole, the parties to an international arbitration proceeding may avail themselves of the extraordinary legal remedy of a request for revision, which falls within the jurisdiction of the Federal Tribunal [ ]”

http://www.swissarbitrationdecisions.com/request-for-revision-of-an-arbitral-86 Điều 123.1 Đạo luật Liên bang Thụy Sĩ về Tòa án Liên bang RS 173.110

87 Điều 123.2 (a) Đạo luật Liên bang Thụy Sĩ về Tòa án Liên bang RS 173.110

88

Quyết định 4A_42/2008, tlđd (85) Đoạn 2.2 Nguyên văn: “[ ] However, the award must be binding for the Arbitral Tribunal, because only a decision in force may be subject to revision, which is not the case when

a subsequent modification is expressly reserved, albeit under special conditions [ ]”

89 Điều 124.1 (d) Đạo luật Liên bang Thụy Sĩ về Tòa án Liên bang RS 173.110

Trang 39

tài90 Ngoài ra, đối tượng có sai sót và được khắc phục để loại trừ căn cứ hủy phán quyết trọng tài theo Luật TTTM 2010 là “sai sót tố tụng trọng tài”91

Thứ hai, Điều 180.1 PILA, điểm c điều khoản này quy định các bên có quyền thách thức trọng tài nếu hoàn cảnh tồn tại làm phát sinh những nghi ngờ chính đáng

về sự độc lập của trọng tài viên Theo án lệ Thụy Sĩ92, trường hợp một HĐTT thiếu tính độc lập hoặc vô tư, thì thành phần của nó nên được coi là bất thường hoặc trọng tài viên được bổ nhiệm bất thường theo ý nghĩa của Điều 190.2 (a) PILA Tuy nhiên, cần phải tham khảo các nguyên tắc được xây dựng liên quan đến Tòa án nhà nước và có tính đến các đặc điểm nước ngoài khi xem xét trọng tài có đáp ứng yêu cầu này hay không Theo đó, bất kỳ người nào có khiếu nại pháp lý phải chịu sự phân xử trong tố tụng của Tòa án sẽ có quyền xét xử tranh chấp của họ bởi một thẩm phán không thiên vị và vô tư Điều này nhằm đảm bảo rằng không có trường hợp ngoại lệ nào nằm ngoài tố tụng có tác động không chính đáng đến phán quyết của Tòa án có lợi hoặc gây bất lợi cho một bên93 Trong thực tiễn, rất khó để xác định trọng tài có độc lập hay không, bởi bên yêu cầu hủy phán quyết dựa trên lý lẻ này (thường là bên thua kiện) và dưới quan điểm của mình họ luôn cho rằng trọng tài viên đã có phần thiên vị cho bên kia Tuy nhiên, cũng theo án lệ đang được phân tích, thì trọng tâm không nằm ở nhận thức chủ quan của một bên Thay vào đó, những nghi ngờ về sự vô tư của trọng tài viên phải xuất hiện trên một cơ sở khách quan Tức là việc nghi ngờ này không dựa trên việc suy đoán, suy diễn chủ quan của các bên khi nghi ngờ trọng tài không độc lập và vô tư Ngoài ra, vấn đề khách quan còn liên quan đặc biệt đến việc tìm cách ngăn chặn cùng một trọng tài tham gia vào một vụ án dưới nhiều chức danh khác nhau và để đảm bảo sự độc lập của một trọng tài đối với cả hai bên94 Các quan điểm này, được Tòa án Tối cao liên

bang Thụy Sĩ nên rõ tại Quyết định 4A_236/2017 ngày 24 tháng 11 năm 2017, một

90

Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, tlđd (1), tr.779

91 Đỗ Văn Đại (2017), Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam-Bản án và bình luận bản án (Tập 2),

Nxb.Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, tr.16

92 Quyết định 4A_236/2017, http://www.swissarbitrationdecisions.com/atf-4a-236-2017?, truy cập lần cuối ngày 24/03/2020

93 Quyết định 4A_236/2017, tlđd (92)

94 Quyết định 4A_236/2017, tlđd (92)

Trang 40

bên yêu cầu Tòa án Tối cao liên bang xem xét hủy một phán quyết trọng tài, trong

đó có yêu cầu dựa trên căn cứ trọng tài viên được chỉ định không phù hợp Cụ thể, đây là tranh chấp giữa hai công ty viễn thông về việc chấm dứt thỏa thuận VoIP Căn cứ vào một điều khoản hợp lệ trong thỏa thuận của họ, công ty B đã khởi xướng một trọng tài theo Quy tắc ICC với một trọng tài viên duy nhất, sau nhiều lần phản đối của công ty A Khoảng 8 tháng sau khi trọng tài viên được bổ nhiệm, công

ty A đã khiếu nại trọng tài viên vì cáo buộc thiên vị ICC từ chối khiếu nại, và trọng tài tiếp tục Cuối cùng, phán quyết được đưa ra và phần thắng nghiêng về công ty B Không chấp nhận phán quyết này công ty A kháng cáo quyết định của Tòa án Liên bang, trong đó có yêu cầu hủy theo căn cứ tại Điều 190.2 (a) PILA do trọng tài viên

vi phạm sự độc lập và vô tư Công ty A cho rằng trong phiên điều trần (bằng miệng) ngày 8 tháng 7 năm 2015, trọng tài đã chấp nhận về các chứng cứ mới Tuy nhiên, trọng tài viên đã tạm ngừng phiên điều trần, cho phép công ty A và nhân chứng xem

và kiểm tra bằng chứng trong vòng 2 tiếng Công ty A cho rằng, rõ ràng là một hoặc hai tiếng trong thời gian chuẩn bị sẽ không đủ khả năng để bác bỏ các lập luận mới được đệ trình của đối phương Và Lệnh gián đoạn phiên điều trần để cho phép công

ty A và các nhân chứng của mình nghiên cứu các bằng chứng mới nộp chỉ nhằm đưa ra ấn tượng rằng quyền được HĐTT lắng nghe của công ty A đã được bảo vệ

Do đó, theo Công ty A, các quyết định của trọng tài viên đã ủng hộ đáng kể cho Công ty B, và gây bất lợi cho nguyên đơn Trong đó tuyên bố rằng Trọng tài viên đã giúp Bị đơn đưa ra một lập luận quyết định trong quá trình tố tụng mà không cho phép nguyên đơn có đủ cơ hội để đưa ra biện pháp phòng vệ hợp lý Ngoài ra, Công

ty A còn nhấn mạnh về sự thiên vị này, cho rằng trọng tài viên đã vi phạm các quy tắc tố tụng hiện hành khi mà thực tế là trọng tài viên đã thừa nhận bằng chứng mới

mà không xem xét đến việc liệu Công ty B có cơ hội đưa ra bằng chứng vào thời điểm sớm hơn không Để giải quyết yêu cầu này, Tòa án Tối cao liên bang đã lập luận rằng, trong bản đệ trình của mình, Công ty A không chứng minh được rằng trọng tài viên thiếu sự độc lập và vô tư cần thiết Mặc dù có thể hình dung rằng hành vi của trọng tài trong quá trình phân xử trọng tài làm tăng sự nghi ngờ về tính

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Đỗ Văn Đại (2017), Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập 1), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập 1)
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2017
10. Đỗ Văn Đại (2017), Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập 2), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập 2)
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2017
11. Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải (2011), Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại
Tác giả: Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2011
12. Nigel Blackaby, Constantine Partasides QC và Alan Redfern, Martin Hunter, Redfern & Hunter - Trọng tài quốc tế, Nxb. Đại học Oxford (ấn bản lần thứ 6).Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ, Khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Redfern & Hunter - Trọng tài quốc tế
Nhà XB: Nxb. Đại học Oxford (ấn bản lần thứ 6). Luận án tiến sĩ
13. Phan Thông Anh (2016), Hủy phán quyết trọng tài, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hủy phán quyết trọng tài
Tác giả: Phan Thông Anh
Năm: 2016
14. Ngô Quốc Lâm (2019), Căn cứ hủy phán quyết trọng tài thương mại – so sánh pháp luật Singapore và đề xuất hướng hoàn thiện, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật TP.HCM.Bài viết tạp chí khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ hủy phán quyết trọng tài thương mại – so sánh pháp luật Singapore và đề xuất hướng hoàn thiện
Tác giả: Ngô Quốc Lâm
Năm: 2019
15. Tưởng Duy Lượng (2017), Một số căn cứ hủy phán quyết trọng tài và Điều 13 Luật trọng tài thương mại khi xem xét hủy phán quyết trọng tài, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2017.Bài viết trên các trang mạng điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Năm: 2017
16. Quỳnh Nhƣ, “Mối lo hủy phán quyết trọng tài”, https://plo.vn/van-hoa/ho-so- phong-su/moi-lo-huy-phan-quyet-trong-tai-526174.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối lo hủy phán quyết trọng tài
17. N.P-Hồ Hường-Bích Ngọc, “Xem xét hủy phán quyết, công nhận và thi hành phán quyết trọng tài”,https://enternews.vn/xem-xet-huy-phan-quyet-cong-nhan-va-thi-hanh-quyet-dinh-trong-tai-20968.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xem xét hủy phán quyết, công nhận và thi hành phán quyết trọng tài
18. “Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài”, http://www.viac.vn/thu-tuc-trong-tai/tinh-doc-lap-cua-thoa-thuan-trong-tai-a57.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài
20. Arbitration Act of Dutch (Luật trọng tài Hà Lan năm 2015), https://www.nai- nl.org/downloads/Book%204%20Dutch%20CCPv2.pdf Link
21. Belgian Judicial Code (Bộ luật Tƣ pháp Bỉ năm 2013, sửa đổi năm 2016), http://www.arbiter.com.sg/pdf/laws/Belgian%20Judicial%20Code%20Provisions%20(2013).pdf Link
22. Arbitration law of the People‟s Republic of China (Luật Trọng tài Trung quốc 1994 sửa đổi năm 2017),http://www.cmac.org.cn/wp-content/uploads/2018/08/Arbitration-Law-of-the-Peoples-Republic-of-China-2017-Amendment.pdf Link
1. Công ƣớc New York năm 1958 về Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (Công ước New York 1958) Khác
2. Luật mẫu về Trọng tài Thương mại quốc tế của UNCITRAL năm 1958, được sử đổi, bổ sung năm 2006 (Luật mẫu UNCITRAL).Văn bản pháp luật quốc gia 3. Bộ luật Dân sự năm 2015 Khác
6. Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 3 năm 2014 hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại Khác
7. Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003. Quyết định của Tòa án Khác
8. Quyết định 1698/2019/QĐ-PQTT ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.Sách Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w