Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện theo Bộ luật Dân sự 2015” để nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý
Trang 1CAO HỒNG QUÂN
GIAO DỊCH DÂN SỰ DO NGƯỜI
KHÔNG CÓ QUYỀN ĐẠI DIỆN XÁC LẬP, THỰC HIỆN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 – NĂM 2020
Trang 2CAO HỒNG QUÂN
GIAO DỊCH DÂN SỰ DO NGƯỜI
KHÔNG CÓ QUYỀN ĐẠI DIỆN XÁC LẬP, THỰC HIỆN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ NGUYỄN NHẬT THANH
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 – NĂM 2020
Trang 3nghiên cứu của cá nhân tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học rất tận tình của Thạc
sĩ Nguyễn Nhật Thanh Các thông tin, dữ liệu, bản án được trích dẫn đảm bảo tính
trung thực và tuân thủ các quy định về chú thích tài liệu tham khảo Những phân tích,
so sánh, bình luận và kiến nghị trong công trình là kết quả của quá trình tiếp cận, học hỏi, đầu tư nghiên cứu một cách nghiêm túc của tác giả Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Cao Hồng Quân
Trang 5CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ DO NGƯỜI
KHÔNG CÓ QUYỀN ĐẠI DIỆN XÁC LẬP, THỰC HIỆN 6
1.1 Khái quát chung về giao dịch dân sự 6
1.1.1 Khái niệm giao dịch dân sự 6
1.1.2 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự 7
1.2 Những vấn đề chung về đại diện 12
1.2.1 Khái niệm đại diện 12
1.2.2 Bản chất của chế định đại diện 16
1.2.3 Các căn cứ xác lập quyền đại diện và phân loại đại diện 16
1.2.4 Hậu quả pháp lý và phạm vi đại diện 20
1.3 Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện 23
1.3.1 Khái niệm và nội dung của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện 23
1.3.2 Phân biệt trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện với trường hợp giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện 27
1.3.3 Khái quát hệ quả của giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện đối với người được đại diện 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2: GIAO DỊCH DÂN SỰ DO NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN ĐẠI DIỆN XÁC LẬP, THỰC HIỆN – THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 34
2.1 Thực trạng giải quyết trong trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện phát sinh trách nhiệm cho người được đại diện 34
2.1.1 Căn cứ áp dụng 34
2.1.2 Trường hợp người được đại diện đã công nhận giao dịch 35
2.1.3 Trường hợp người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý 36
2.1.4 Trường hợp người được đại diện có lỗi dẫn đến người thứ ba không thể biết người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện 39
2.2 Trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện phát sinh trách nhiệm cho người không có quyền đại diện 45
2.2.1 Thực tiễn xét xử quyết của Tòa 45
2.2.2 Quy định pháp luật trong trường hợp giao dịch phát sinh trách nhiệm cho người đại diện 47
2.3 Thực trạng giải quyết khi người thứ ba phản đối giao dịch 48
Trang 6quyền đại diện xác lập, thực hiện 52
2.4.1 Quy định về “biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý” 52 2.4.2 Hoàn thiện quy định về người được đại diện có lỗi làm cho người thứ ba không thể biết người đã xác lập, thực hiện giao dịch với mình không có quyền đại diện 53 2.4.3 Định hướng sửa đổi, bổ sung liên quan đến quy định về việc phát sinh trách nhiệm cho người không có quyền đại diện 59 2.4.4 Bất cập và kiến nghị trong quy định về việc người thứ ba đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70 KẾT LUẬN CHUNG 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC CÁC BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xu hướng chung của thế giới hiện nay là xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa đời sống kinh tế quốc tế Dưới sự tác động này, các quốc gia đều đặt ra nhu cầu hội nhập hoá toàn cầu, tiếp cận với sự phát triển chung nền kinh tế thế giới
Từ lâu, giao dịch dân sự đã trở thành một công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể trong xã hội có nhu cầu giao lưu được tiếp cận với nhau Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu giao lưu dân sự giữa các chủ thể ngày càng đa dạng Vì nhiều lý do khác nhau mà các chủ thể không thể tự mình thực hiện các công việc mong muốn, thay vào đó là tiến hành thông qua chủ thể khác Chế định đại diện được đưa ra như một giải pháp hiệu quả cho những vấn đề này
Đại diện là một chế định quan trọng trong đời sống pháp lý xã hội, bất kỳ hệ thống pháp luật nào cũng đều xem đây là chế định trung tâm của luật dân sự hiện đại1 Việc tiếp nhận các học thuyết pháp lý điển hình vào xây dựng và ban hành văn bản pháp luật là một nhu cầu tiến bộ, nhất là trong lĩnh vực dân sự Theo đó, các học thuyết về cơ chế đại diện đã được pháp luật dân sự nhiều nước tiếp thu và phát triển thành chế định quan trọng và tại Bộ luật Dân sự 2015 các nhà làm luật cũng thể hiện một cách khoa học các học thuyết đại diện vào pháp luật dân sự
Bộ luật Dân sự 2015 quy định đại diện là việc một người thực hiện công việc nhân danh người khác và vì lợi ích của người khác Để quyền và nghĩa vụ phát sinh thì người xác lập giao dịch phải có quyền đại diện và phải hành động trong phạm vi đại diện Trong thực tế có rất nhiều trường hợp một người không có quyền đại diện lại xác lập, thực hiện giao dịch nhân danh người khác dẫn đến nhiều tranh chấp Để giải quyết những tranh chấp này một cách kịp thời, nhanh chóng và thoả đáng thì công cụ hữu hiệu để điều chỉnh - chính là những quy định pháp luật cụ thể Điều 142
Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hậu quả giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện Tuy nhiên quy định này lại bộc lộ nhiều hạn chế trong quá trình áp dụng vào thực tiễn và ngoài ra cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể
về loại giao dịch dân sự này trong từng trường hợp
1 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.283
Trang 8Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện theo Bộ luật Dân sự 2015” để
nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện tiến hành, xem xét cụ thể các quy định pháp luật Việt Nam
về vấn đề này, từ đó có thể chỉ ra những bất cập của pháp luật và đề xuất kiến nghị mang tính hoàn thiện cho quá trình sửa đổi và bổ sung pháp luật hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, liên quan đến giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Dựa vào góc độ tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau thì mỗi tác giả lại có những góc nhìn khác nhau
về đề tài Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam Trong sách chuyên khảo này tác
giả đã bình luận, phân tích về hợp đồng do người không có quyền đại điện, vượt quá phạm vi đại diện xác lập trên cơ sở lý luận và thực tiễn theo quy định Bộ luật Dân sự
2015 Tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quan về vấn đề, cũng như là những kiến nghị quan trọng hoàn thiện pháp luật trong tương lai
- Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp – Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Dân trí Trong quyển sách này, tác giả Trương Nhật Quang đã
đặt vấn đề dưới góc độ của các tranh chấp thương mại, xuất phát từ thực tiễn rất phổ biến là người không có quyền đại diện của doanh nghiệp đứng ra ký kết các hợp đồng với đối tác dẫn đến tranh chấp giữa các bên Tuy nhiên dựa trên mục đích ban đầu của tác giả là nghiên cứu các quy định trong lĩnh vực doanh nghiệp thế nên giao dịch không có quyền đại diện chỉ được tiếp cận ở một góc độ nhất định
- Đỗ Hoàng Yến (2012), Pháp luật Việt Nam về đại diện trong quan hệ hợp đồng, Luận văn Thạc sỹ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên
cứu về chế định đại diện nói chung, thông qua phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về đại diện trong quan hệ hợp đồng và những tranh chấp thực tế liên quan
- Võ Hồng Thiên Ân (2018), Giao dịch do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện nhân danh người khác, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại
học Luật Tp Hồ Chí Minh Đây là công trình nghiên cứu bao quát về giao dịch dân
Trang 9sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện Tác giả đã phân tích, đánh giá và bình luận vấn đề dưới góc độ giao dịch do người không có quyền đại diện và
cả giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu
các quy định pháp luật với thực tiễn xét xử
- Ngoài các công trình tiêu biểu trên, còn tồn tại những luận văn, khoá luận đề cập liên quan đến giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực
2005 tác giả đưa ra nhận định về giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện
và kiến nghị hoàn thiện Đây cũng là công trình có ý nghĩa đặc biệt trong việc nghiên cứu so sánh quy định về giao dịch không có quyền đại diện giữa Bộ luật Dân sự 2005
và 2015
- Hồ Ngọc Hiển (2007), “Nghĩa vụ của người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hoa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật
tương ứng của Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 03 Bài viết phân tích
pháp luật Hoa Kỳ về vấn đề vượt quá phạm vi đại diện ủy quyền, bên cạnh đó bài viết
đề cập về phân loại người ủy quyền ở Hoa Kỳ thành ba loại: người ủy quyền công khai, người ủy quyền bán công khai và người ủy quyền không công khai và hệ quả giao dịch
đó
- Phan Thị Hồng (2014), Hoàn thiện chế định đại diện trong hợp đồng
thương mại, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6 Qua bài viết này tác giả nghiên cứu
về hoạt động đại diện trong lĩnh vực thương mại, cụ thể nếu người được đại diện “công nhận” hoặc “biết mà không phản đối” các giao dịch này sẽ làm phát sinh trách nhiệm cho người được đại diện, qua đó tác giả kiến nghị quy định về trường hợp ngoại lệ
“biết mà không phản đối”
- Nguyễn Hữu Phúc (2019), Vấn đề quyền đại diện trong công ty qua
thực tiễn hoạt động của các ngân hàng thương mại, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
08 Quan điểm của tác giả trong đại án Huyền Như về mối quan hệ VietinBank và các
Trang 10khách hàng gửi tiền, xác định trách nhiệm VietinBank đối với giao dịch lừa đảo do Huyền Như thực hiện, đồng thời là những đánh giá về áp dụng “đại diện bề ngoài” ở nước ta hiện nay
- Nguyễn Thị Phương Châm (2016), Đại diện bề ngoài nhìn từ góc độ
pháp luật dân sự Nhật Bản, Tạp chí luật học, số 6 Bài viết nghiên cứu chuyên sâu về
chế định “đại diện bề ngoài” ở Nhật Bản, đây là nghiên cứu có giá trị tham khảo quan trọng khi phân tích, so sánh và đối chiếu các quy định ở Nhật với Việt Nam, đồng thời bày tỏ quan điểm kiến nghị chế định “đại diện bề ngoài” ở Việt Nam
- Nguyễn Hợp Toàn (2017) “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba trong trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty Cổ phần có nhiều
người đại diện theo pháp luật”, Tạp chí Tòa nhân dân, số 09 Trong quá trình người
thứ ba xác lập giao dịch với người đại diện, người được đại diện (doanh nghiệp) có những quy định hạn chế thẩm quyền mang tính nội bộ, khi phát sinh tranh chấp thì người được đại diện dùng những quy định nội bộ để đối kháng chống lại người thứ ba nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ Tác giả cho rằng trong trường này, cần quy định
về quyền tiếp cận thông tin của người thứ ba và nghĩa vụ công bố thông tin của người được đại diện
- Ngoài các công trình tiêu biểu trên, những nghiên cứu pháp lý được đăng tải trên các trang thông tin điện tử là nguồn tham khảo có giá trị để phân tích và nghiên cứu vấn đề, điển hình: “Hợp đồng vô hiệu do người ký không đúng thẩm quyền
- trách nhiệm thuộc về ai” của Phan Thị Sánh, Phạm Hoài Huấn với “Thẩm quyền giao kết hợp đồng”, Quách Thúy Quỳnh và Nguyễn Thị Vân Anh về “Lại chuyện hợp đồng
vô hiệu do vi phạm thẩm quyền”
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Từ đó phát hiện ra những mâu thuẫn giữa thực tiễn và quy định pháp luật để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong tương lai
Để đạt được mục tiêu đó, tác giả đặt ra những nhiệm vụ sau đây khi nghiên
cứu đề tài: Một là, nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập Hai là, nghiên cứu kinh nghiệm pháp lý của
Trang 11Nhật Bản và Châu Âu Ba là, phân tích thực tiễn giải quyết các vụ việc Bốn là, đưa
ra những kiến nghị và giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bản chất và nội dung của giao dịch dân sự
do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện theo Bộ luật Dân sự 2015, xoay quanh các vấn đề như trường hợp phát sinh trách nhiệm cho người được đại diện hay trường hợp người ký kết phải có trách nhiệm với giao dịch đã ký và quyền của người thứ ba được huỷ bỏ giao dịch cũng như yêu cầu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu đối tượng theo các quy định pháp luật hiện hành, cụ thể là Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản pháp luật liên quan như Luật Doanh nghiệp 2014 và phân tích, so sánh đối chiếu với các quy định pháp luật trên thế giới như Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Luật Công ty Nhật Bản, Luật Công ty Anh, các án lệ trong pháp luật dân sự Pháp
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp luận duy vật biện chứng triết học Marx-Lenin là phương pháp nền tảng để phân tích thực trạng của vấn đề ở Việt Nam, đối chiếu trong mối quan hệ với thực tiễn và những bài học từ pháp luật nước ngoài Tác giả còn kết hợp khoa học các phương pháp phân tích, so sánh, liệt kê, hệ thống hóa lý thuyết và tổng hợp để nghiên cứu hoàn thiện đề tài
6 Bố cục tổng quát của đề tài
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục thì nội dung nghiên cứu khoá luận chia làm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện
Chương 2: Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện – Phương hướng giải quyết và kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ DO NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN ĐẠI DIỆN XÁC LẬP, THỰC HIỆN
1.1 Khái quát chung về giao dịch dân sự
1.1.1 Khái niệm giao dịch dân sự
Pháp luật dân sự là công cụ pháp lý hữu hiệu nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trong xã hội Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến nay, những vấn đề về dân sự luôn ảnh hưởng, chi phối ít hoặc nhiều đến hành vi, đời sống của con người, sự ổn định và phát triển của xã hội Pháp luật dân sự tập hợp một cách hệ thống những quy định điều chỉnh ứng xử của các chủ thể, quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong
xã hội Giao dịch dân sự là một trong những chế định quan trọng trong Bộ luật Dân
sự (BLDS) Thông qua các giao dịch dân sự thì ý chí của các bên được thể hiện, quyền
và nghĩa vụ của các bên được xác lập và thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu của nhau2
Trong guồng quay phát triển của công nghiệp, dưới sự chi phối thời đại 4.0, cùng rất nhiều điều kiện từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức đã ảnh hưởng đến các chế định của BLDS 2015, tuy nhiên khái niệm về giao dịch dân sự được quy
định tại Điều 116 BLDS là không khác so với BLDS 2005, theo đó: Giao dịch dân
sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Như vậy, giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật
Việt Nam được biểu hiện dưới hai hình thức: hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương
Nói về vấn đề này, có quan điểm cho rằng giao dịch dân sự là “hành vi pháp
lý có mục đích, thể hiện ý chí của các chủ thể nhằm xác lập quan hệ pháp luật dân
sự, qua đó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”3 Tác giả đồng tình cách hiểu chủ quan này bởi nó khái quát hơn hết bản chất của giao dịch dân
sự
Xét thấy, giao dịch dân sự là hành vi giao kết của các bên trên cơ sở thỏa thuận
để hình thành hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương cũng được coi là giao dịch
2 Trường Đại học Luật TP HCM (2017), Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự, Nxb Hồng Đức -
Hội Luật gia Việt Nam, tr.275
3 Trần Thị Huệ (2015), “Kiến nghị hoàn thiện các quy định về giao dịch dân sự trong dự thảo Bộ luật Dân sự
(sửa đổi)”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15
Trang 13dân sự khi nó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Tất nhiên,
cả hai loại hình của giao dịch dân sự đều là những sự kiện pháp lý hình thành những quan hệ dân sự Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà nó phát sinh hay thay đổi quyền hoặc nghĩa vụ
Dù thể hiện dưới hình thức hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương thì giao
dịch dân sự đều là “hành vi có ý thức” của chủ thể khi tham gia xác lập giao dịch
nhằm đạt mục đích cụ thể4, vì vậy “giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch” 5
1.1.2 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Để phát sinh hiệu lực pháp luật, ràng buộc các bên trong giao dịch, thì cần phải đảm bảo các điều kiện được quy định tại Điều 117 BLDS 2015 Về cơ bản thì quy định này kế thừa Điều 122 BLDS 2005, khi đặt ra bốn điều kiện để giao dịch phải tuân thủ:
(i) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
(ii) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
(iii) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
(iv) Hình thức của giao dịch dân sự
Điều này có nghĩa, một giao dịch có hiệu lực khi và chỉ khi đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện nêu trên, nếu thiếu một trong các điều kiện thì giao dịch đó được xem như không có giá trị pháp lý, hay nói cách khác là hoàn toàn có khả năng dẫn đến việc vô hiệu giao dịch dân sự
1.1.2.1 Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập
Điều kiện tiên quyết đầu tiên được đặt ra chính là năng lực pháp luật dân sự
và năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia giao dịch
4 Trường Đại học Luật TP HCM, tlđd (2), tr.277
5 Hoàng Thế Liên (2008), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập I,
tr.282
Trang 14Theo Điều 16 BLDS thì “năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”, bên cạnh đó thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được hiểu là “khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp
Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Năng lực hành vi dân sự “là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” được quy định tại Điều 22 BLDS
Nếu như tại khoản 1 Điều 131 BLDS 1995 và tại điểm a khoản 1 Điều 122
BLDS 2005 quy định “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” thì
BLDS 2015 đã có bổ sung “chủ thể” có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành
vi dân sự “phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” Về lý thuyết việc sửa đổi, bổ sung hai cụm từ trên không có ý nghĩa quá nhiều, đơn thuần là kỹ thuật Song, cụm
từ “phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” lại có ý nghĩa, thực tế thì nội dung mỗi loại giao dịch đối với mỗi chủ thể là khác nhau, nên mức độ năng lực hành vi cũng khác nhau6 Nói đến năng lực hành vi là nói đến những chủ thể cụ thể không giống nhau Điển hình như điểm a khoản 2 Điều 125 BLDS 2015 đã sửa đổi liên quan
độ tuổi có thể thực hiện giao dịch dân sự
Có thể thấy năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự là hai yếu tố quan trọng, là điều kiện không thể thiếu để giao dịch có hiệu lực Nếu không tuân thủ thì giao dịch dễ bị tuyên bố vô hiệu
Trong thực tiễn thì điều kiện chủ thể tham gia giao dịch có năng lực hành vi
là yếu tố phát sinh nhiều, do những khiếm khuyết, hạn chế trong nhận thức, hiểu biết làm cho chủ thể tham gia giao dịch dân sự cần được bảo vệ Trong vụ việc liên quan, Tòa án đưa ra nhận định: “Căn cứ vào các tài liệu tại hồ sơ vụ án xét thấy tại thời điểm ông Hội giao kết hợp đồng thì ông chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành
vi dân sự nhưng các đương sự thống nhất trình bày là ông Hội bị tai biến mạch máu não và bị bại liệt từ cuối năm 2008” bằng những lý lẽ trên thì Tòa án đi đến kết luận
là “hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực đối với phần ông Hội, trong trường hợp này cần xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 08/02/2010 giữa vợ chồng ông Hội, bà Hương với vợ chồng ông Hùng, bà Trinh bị vô hiệu một phần, đối với phần của ông Hội”7 Một vụ việc tương tự, Tòa án cũng nhận định “Hợp đồng
6 Tưởng Duy Lượng (2017), Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, tr.22
7 Bản án số 42/2016/DS-PT ngày 08/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên
Trang 15chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 6988/2011/HĐCC, giữa ông Nguyễn Tuấn V, bà Trương Thị T với anh Trần Thọ Đ Theo kết luận tại biên bản giám định sức khỏe tâm thần số 68/PYTT ngày 10/8/2012…xác định: Ông Nguyễn Tuấn V không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cần người giám hộ Ông Nguyễn Tuấn V bị câm, điếc bẩm sinh, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi từ trước tuổi thành niên đến thời điểm thực hiện giám định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V, bà T với anh Đ là giao dịch dân sự vô hiệu,
do ông Nguyễn Tuấn V được xác định không có năng lực hành vi dân sự”8
Như vậy trong thực tiễn xét xử, nếu thuộc vào hoàn cảnh nêu trên thì Tòa án đều theo hướng vô hiệu, bởi trong trạng thái hành vi không nhận thức được hoặc không có khả năng nhận thức thì việc xác lập, thực hiện một giao dịch là không đảm bảo quyền lợi cho những người không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
1.1.2.2 Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện
Tự nguyện theo Từ điển Tiếng Việt là tự mình muốn làm, không bị thúc giục,
bắt buộc, thậm chí đe dọa9 Dưới góc độ khoa học dân sự thì tính tự nguyện được xem xét ở đây là là tự do ý chí và bày tỏ ý chí10 Suy cho cùng thì bản chất giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa bày tỏ ý chí một cách tự do các bên trong giao dịch với nhau Không có tự do ý chí thì không thể có tự nguyện
Nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2015 đã quy định: “cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” Ý chí của chủ thể tự do, tự nguyện có ý nghĩa lớn trong
quan hệ dân sự, nó vừa là quyền con người, vừa là quyền công dân – một điều kiện quan trọng để giao dịch dân sự hợp pháp Giao dịch dân sự thiếu tính tự nguyện sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý trong giao dịch Trong một vụ việc, Tòa án đã xét rằng: “Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc bà Mỳ và anh Khoa cho Anh Cửu phần đất ngang 3m bị vô hiệu là có căn cứ pháp lý, vì bà Mỳ và anh Khao không tự nguyện cho đất mà do anh Cửu đe dọa, ép buộc phải viết giấy cho diện tích đất trên”11
8 Bản án số 150/2017/LH-PT ngày 08/9/2017 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội
9 Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ Điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, tr.1111
10 Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội (2016), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật,
Vũ Thị Hồng Vân (Chủ biên), tr.176
11 Quyết định số 162/2010/DS-GĐT ngày 24/4/2010 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Trang 16Giao dịch dân sự nói chung hay hợp đồng nói riêng là sự thống nhất ý chí của các bên, trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng, ý chí của từng chủ thể tham gia phải hoàn toàn tự nguyện Trong tình huống trên thì việc giao dịch của bà Mỳ, anh Khoa
đã không đảm bảo được tính tự nguyện, vì vậy có cơ sở để không công nhận giá trị giao dịch này
1.1.2.3 Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Về nguyên tắc các bên được tự do định đoạt về nội dung, hình thức cũng như chủ thể tham gia giao dịch dân sự Tuy nhiên không một xã hội nào là không đưa ra những hạn chế đối với tự do giao dịch12 Một trong những nguyên tắc cơ bản của
BLDS 2015 được nêu tại Khoản 2 Điều 3 là: “Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên
và phải được chủ thể khác tôn trọng” Điều đó có nghĩa là ngay tại nguyên tắc tiên
quyết của BLDS đã cho thấy điều cấm và đạo đức xã hội là một giới hạn cho sự tự
do hợp đồng13 Vì vậy một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực
chính là “mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó14, mục đích ở đây chính là hậu quả pháp lý sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó Trong khi đó, nội dung của giao dịch dân sự là toàn bộ các thỏa thuận mà các bên đã thống nhất nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ việc thực hiện giao dịch15 Nói một cách dễ hiểu thì mục đích là động cơ thúc giục các bên xác lập giao dịch, còn nội dung của giao dịch có thể được xem như là đối tượng của giao dịch đó
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng16 Hay nói một cách
12 Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, tập 1, Nxb Hồng Đức - Hội
Luật gia Việt Nam, tr.578
13 Đỗ Văn Đại, tlđd (12), tr.578
14 Điều 118 BLDS 2015
15 Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội, Vũ Thị Hồng Vân (Chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Nxb
Chính trị Quốc gia sự thật, năm 2016, tr.176
16 Điều 123 BLDS 2015
Trang 17khác điều cấm và đạo đức xã hội là tập hợp những quy tắc pháp lý, quy tắc đạo đức (được hoặc không được ghi nhận trong các đạo luật) phải được tuyệt đối tôn trọng
và Nghị định 71/2010 về vấn đề hoạt động đầu tư góp vốn xây dựng bắt buộc hoàn thành việc xây dựng móng, hợp đồng các bên đã vi phạm điều cấm của luật nên sẽ bị tuyên bố vô hiệu, không phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên
1.1.2.4 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định
Hình thức của giao dịch dân sự chính là cách thức thể hiện ra bên ngoài ý chí của các chủ thể tham gia xác lập giao dịch dân sự, nói cách khác thì hình thức ở đây
là sự thể hiện ra bên ngoài quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự18
Có thể hiểu hình thức của giao dịch dân sự là chứng cứ xác nhận các giao dịch đã, đang tồn tại giữa các bên
Điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự không phải là điều kiện bắt buộc đối với mọi giao dịch mà chỉ khi nào trong trường hợp luật có quy định hình thức là yêu cầu cần có
Ở đây giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, đồng thời một giao dịch còn có thể thuộc trường hợp là văn bản cần được công chứng, chứng thực hay đăng ký Lúc này cần tuân thủ những yêu cầu công chứng, chứng thực, đăng ký thì văn bản đó mới có giá trị pháp lý
Điển hình như trường hợp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì theo khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất phải được công chứng hoặc chứng thực, công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc
17 Bản án số 254/2014/DS-PT ngày 27/2/2014 của Tòa án nhân dân TP HCM
18 Trường Đại học Luật TP HCM, tlđd (2), tr.320
Trang 18chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã Hay thậm chí là việc giao dịch cần đăng ký để phát sinh hiệu lực như đăng ký giao dịch bảo đảm như thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng, cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay19
Chẳng hạn, trong một tranh chấp có liên quan vấn đề hợp đồng thuê nhà xưởng thì Tòa án đã nhận định “Hợp đồng thuê nhà xưởng được ký kết ngày 8/6/2006 giữa Công ty Tân Thiên Phát với ông Lâm có hạn thuê là 3 năm, nhưng không có công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại Điều 492 và 500 BLDS 2005 nên xem như
vô hiệu là có căn cứ”20 Xét thấy, hướng giải quyết của Tòa án trong vụ việc trên là hoàn toàn có căn cứ, bởi Điều 500 BLDS 2005 đã quy định việc thuê nhà nhằm mục đích khác với thuê để ở thì phải công chứng hoặc chứng thực Luật kinh doanh bất động sản năm 2014 cũng có quy định việc thuê mua nhà mà các bên là hộ gia đình,
cá nhân cần phải công chứng, chứng thực nên hợp đồng trên vô hiệu là hợp pháp21
1.2 Những vấn đề chung về đại diện
1.2.1 Khái niệm đại diện
Trong quá trình giao lưu dân sự giữa các chủ thể trong xã hội với nhau thì việc các chủ thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch là thường xuyên và mang tính tất yếu
để đạt được mục đích cũng như những lợi ích mà bản thân mình mong muốn Tuy nhiên không phải lúc nào trong những giao dịch này, các chủ thể cũng tự mình đứng
ra, vì nhiều lý do việc xác lập, thực hiện giao dịch có thể được giao cho một đối tượng khác gọi là người đại diện Có thể thấy như trường hợp pháp nhân không tự mình giao kết hợp đồng mà phải thông qua người đại diện, bởi không như cá nhân pháp nhân bắt buộc phải có đại diện, vì nó không thể tự mình thể hiện bản thân nên phải thông qua trung gian22 Hay trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự khi muốn
ký kết một hợp đồng phải thông qua người đại diện bởi họ không có nhận thức, ý chí
đủ để bảo vệ cho quyền và lợi ích chính đáng của mình23
Chế định đại diện thể hiện vai trò pháp lý vô cùng quan trọng trong xã hội, thông qua việc nhờ vào nó mà một người có thể sử dụng những kinh nghiệm, quan
19 Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm
20 Bản án số 662/2010/DSPT ngày 18/6/2010 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh
21 Khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản 2014
22 Một nghiên cứu về công ty của R Mortier Conflits d’intérêts: pourquoi et comment apploquer aux sociétés
le nouvel article 1161 du Code civil, Droet des sociétés n* 8-9, Aout 2016, estude 11
23 Điều 22 BLDS 2015
Trang 19điểm cùng sự hiểu biết của bản thân để thực hiện vai trò đại diện và người được đại diện có thể tiếp nhận được hệ quả pháp lý từ hành vi đó
Vì vậy có thể thấy đại diện là chế định có chức năng trợ giúp xã hội, là thành quả của trí tuệ pháp lý của loài người mang tính nhân văn và nhân đạo24 Đại diện thúc đẩy sự phân công lao động xã hội với một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn Thế nên mới có quan điểm cho rằng đại diện chính là chế định trung tâm của luật dân sự hiện đại25
Dưới góc độ khoa học pháp lý quốc tế thì chế định đại diện được các quốc gia theo hệ thống thông luật có các học thuyết riêng nghiên cứu toàn diện (Law of Agency)
Chế định đại diện được nhắc đến trong văn bản mang tính quốc tế như: Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của Unidroit26, Nguyên tắc luật hợp đồng châu Âu27, Công ước của Unidroit về đại diện trong mua bán hàng hoá quốc tế28…
Chính vì vậy, có thể thấy phương thức đại diện là một sự cần thiết không thể
bị vô hiệu trong bất kỳ chế độ phát triển nào mà dựa trên sự phân công lao động đối với sản xuất và phân phối hàng hóa, dịch vụ29
Góc độ thực định pháp luật quốc tế có nhiều định nghĩa khác nhau về đại diện Điều 99 BLDS Nhật Bản năm 2005 quy định về đại diện như sau: Sự biểu lộ ý chí bởi người đại diện thể hiện rằng sự biểu lộ ý chí đó được lập ra nhân danh người được đại diện trong phạm vi thẩm quyền của người đại diện ràng buộc người được đại diện; các quy định này được áp dụng với những sửa đổi thích hợp đối với bất kỳ sự biểu lộ
ý chí nào bởi người thứ ba tới người đại diện30
24 Hoàng Thế Liên (2008), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập I,
tr.313
25 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb Đại
học Quốc Hà gia Nội, tr.283
26 Mục 2 Điều 2.2.1 UNIDROIT Principles on International Commercial Contracts 2010, https://www unidroit.org/index.php, truy cập ngày 23/3/2020
27 The Principles of European Contract Law 1999, Chapter 3 (Article 3.101-Article 3.304)
28 Unidroit, Convention on Agency in the International Sale of Goods (Geneva, 17 February 1983), https://www.unidroit.org/index.php, truy cập ngày 23/3/2020
29 Konrad Zweigert and Heim Koetz (1998), An Introduction to Comparative Law, Claredon Press, Oxford,
p431
30 BLDS Nhật Bản, http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=2057&vm=2&re=02, truy cập ngày 27/03/2020
Trang 20Trong khi đó, pháp luật Anh giải thích thuật ngữ đại diện (agency) được sử dụng để chỉ mối quan hệ tồn tại khi một người có thẩm quyền hoặc năng lực để tạo lập mối quan hệ pháp lý giữa một người giữ vai trò là người được đại diện và người thứ ba Và nó được giải thích thêm là quan hệ đại diện xuất hiện bất kỳ khi nào một người, được gọi là người đại diện (agent), có thẩm quyền hành động nhân danh người khác, được gọi là người được đại diện (principal), và bằng lòng hành động như vậy31 Như vậy pháp luật Anh chỉ ra rằng người đại diện là người có quyền và đầy đủ năng lực luật định để xác lập quan hệ với bên thứ ba nhân danh cho người được đại diện
Tương tự, Luận thuyết về đại diện (lần thứ hai) của Hoa Kỳ định nghĩa: Đại diện là quan hệ ủy thác phát sinh từ việc biểu lộ sự ưng thuận bởi một người với một người khác mà người sau này hành động nhân danh và phụ thuộc vào sự kiểm soát của người trước, và sự ưng thuận bởi người sau hành động như vậy32
Mở rộng tầm nhìn ra hệ thống văn bản pháp luật của các nước khác trên thế giới, đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn khoa học pháp lý, BLDS 2015 đã xây dựng nên một chế định lớn, xuyên suốt - đại diện, với định nghĩa tại khoản 1 Điều 134
BLDS “đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”
Tức là tính chất đại diện ở đây là “nhân danh” cho người, pháp nhân khác và
“mục đích” của việc nhân danh là phải luôn đảm bảo quyền lợi cho chủ thể được
nhân danh đó Nói cách khác, đại diện là một chế định pháp lý, theo đó người đại diện độc lập thể hiện ý chí và trở thành người tiếp nhận sự thể hiện ý chí , làm phát sinh hậu quả pháp lý trực tiếp đối với người được đại diện
Định nghĩa được nêu ra tại BLDS 2015 là phù hợp và đầy đủ để có thể giúp cho các chủ thể trong xã hội có thể nhận biết và thực thi pháp luật, đồng thời quy định này cũng cho thấy sự phù hợp với các quy định quốc tế về chế định đại diện
Như vậy, đại diện là một quan hệ pháp luật mà ở đó bao gồm có người đại
diện và người được đại diện Người được đại diện (“cá nhân, pháp nhân” loại trừ đi
trường hợp tổ hợp tác, hộ gia đình) là người không trực tiếp xác lập, thực hiện các
31 Vũ Lan Phương (2018), “Bàn về chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 2015”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,
số 02 (354), tr.57
32 Vũ Lan Phương, tlđd (31), tr.57
Trang 21giao dịch, mà thông qua hành vi của người đại diện sẽ làm phát sinh quyền, lợi ích của người được đại diện Điều đó cũng có nghĩa nếu như phát sinh những hậu quả pháp lý tiêu cực thì người được đại diện phải tiếp nhận và chịu trách nhiệm
Người đại diện là người thay mặt cho người được đại diện đứng ra xác lập, thực hiện giao dịch với bên thứ ba, mang lại lợi ích cho người được đại diện Theo pháp luật hiện hành ghi nhận cả cá nhân và pháp nhân So với trước đây, thì BLDS
2015 đã thừa nhận khả năng đại diện của pháp nhân, quy định này là phù hợp bởi trước đây đã có văn bản thừa nhận khả năng đại diện của pháp nhân - Điều 56, 57 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung 2009) về vấn đề “tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện các hoạt động…theo ủy quyền của tác giả” hay
”đại diện cho tác giả…tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan theo ủy quyền”
Thực tiễn thì việc pháp nhân đại diện cho cá nhân, pháp nhân khác cũng là nhu cầu có thật, điển hình như vụ việc “doanh nghiệp nhà nước Liên Bang Nga Soujzplodoimport ủy quyền cho công ty “Phạm & Associate” làm đại diện cho doanh nghiệp trước các cơ quan và tổ chức có thẩm quyền…”33
Pháp luật nhiều quốc gia cho phép pháp nhân cũng có thể làm đại diện Ví dụ,
BLDS Albania quy định: “Trong trường hợp một pháp nhân hoặc một thể nhân hành động với tư cách đại diện…”34 hay BLDS Litva quy định: “Pháp nhân cũng như thể nhân có đủ năng lực hành vi có thể trở thành người đại diện” 35
Và tất nhiên không phải lúc nào quan hệ đại diện cũng có thể được hình thành, bởi có những trường hợp mà “cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó” Thường là vấn đề liên quan trực tiếp đến nhân thân như kết hôn, ly hôn, hoặc ủy quyền đứng tên tác giả,… những vấn đề này do chính cá nhân phải thực hiện mà không được tạo lập quan hệ đại diện thay
33 Quyết định số 07/2013/QĐST-TTTM ngày 3/4/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
34 Xem: Điều 78 Law No 7850 of July 29, 1994 on the Civil Code of The Republic of Albania, nguồn: http://www.wipo.int/wipolex/en/details.jsp?id=10451, truy cập ngày 27/3/2020
35 Xem: Điều 2.132 The Civil Code of the Republic of Lithuania July 18, 2000, nguồn: http://www.wipo int/wipolex/en/details.jsp?id=8191, truy cập ngày 27/3/2020
Trang 221.2.2 Bản chất của chế định đại diện
Từ những lý luận chung về khái niệm của đại diện, có thể thấy vấn đề đại diện gồm những đặc điểm sau:
Thứ nhất, xác lập thực hiện giao dịch dân sự Người đại diện sẽ nhân danh cho người được đại diện tiến hành một công việc, nhưng không phải công việc bất kỳ nào cũng được thừa nhận36 Đó phải là việc xác lập, thực hiện một giao dịch dân sự
Tất yếu không phải việc xác lập và thực hiện lúc nào cũng bắt buộc đi cùng nhau, có thể quan hệ đại diện phát sinh dựa trên việc xác lập hoặc đại diện hoặc cả hai công việc này Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào phạm vi đại diện
Thứ hai, giao dịch dân sự được đại diện ở đây cần được hiểu theo nghĩa đầy
đủ là hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương Hầu hết chúng ta chỉ nhận thấy vấn
đề đại diện thông qua một hợp đồng là chủ yếu, nhưng hành vi pháp lý đơn phương như việc thanh toán một khoản tiền, từ chối nhận di sản, từ bỏ quyền sở hữu hay khởi kiện vẫn có cơ sở để thực hiện ủy quyền miễn là nó không thuộc trường hợp quy luật quy định bắt buộc do cá nhân tự thực hiện như (kết hôn, ly hôn, lập di chúc)
Thứ ba, phải nhân danh và vì lợi ích người được đại diện Nhân danh ở đây được hiểu là người đại diện không lấy danh nghĩa của mình mà lấy danh nghĩa của người được đại diện
Vì lợi ích người được đại diện là đặc điểm rất quan trọng của cơ chế đại diện, xuất phát từ việc “người đại diện và người được đại diện là hai cá thể độc lập với nhau, mỗi người có tài sản riêng và những mưu cầu lợi ích riêng Vì vậy, rất có thể người đại diện vì lợi ích của mình mà bỏ quên lợi ích người được đại diện Đồng thời
là để tránh trường hợp người đại diện lạm dụng khả năng để “gây thiệt hại, bất lợi”
cho người được đại diện “Vì lợi ích” không nên hiểu theo nghĩa tuyệt đối, bởi trong giao lưu dân sự việc xảy ra những thiệt hại là không thể tránh khỏi, chỉ nên hiểu về mặt hành vi và ý chí của người đại diện chỉ ra rằng họ tận tâm cống hiến vì lợi ích bên được đại diện là đảm bảo
1.2.3 Các căn cứ xác lập quyền đại diện và phân loại đại diện
Căn cứ để xác lập quan hệ đại diện có thể được xác định theo ủy quyền giữa người đại diện với người được đại diện hoặc đại diện theo pháp luật được quy định
36 Đỗ Văn Đại, tlđd (12), tr.270
Trang 23dựa trên quyết định từ cơ quan nhà nước thẩm quyền, hoặc điều lệ pháp nhân (Điều
Căn cứ vào tính độc lập của người đại diện trong mối quan hệ với người được đại diện mà có quan hệ đại diện phụ thuộc và quan hệ đại diện độc lập Quan hệ đại diện độc lập là quan hệ đại diện giữa một chủ thể là tổ chức và một người đại diện không thuộc tổ chức đó, quan hệ đại diện giữa người được đại diện và người đại diện độc lập hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ về đại diện Trong trường hợp tổ chức
cử người của mình làm đại diện thì ta có quan hệ đại diện phụ thuộc, theo đó, người đại diện là người của tổ chức đó, thực hiện công việc đại diện theo phân công, phân cấp hoặc chỉ đạo của tổ chức37
Căn cứ vào quy định của pháp luật, đại diện được chia thành đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Ở nội dung này tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu dựa trên các quy định pháp luật (BLDS 2015) nên chỉ đi sâu và xem xét hai hình thức đại diện: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền
Đại diện theo pháp luật
Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định (văn bản pháp luật nhất định) dựa trên những tiêu chí nhất định
Nói cách đơn giản là đại diện theo pháp luật là kiểu đại diện mà văn bản pháp luật yêu cầu trường hợp này cần có người đại diện, không được quyền lựa chọn Xuất phát từ việc (phần lớn) những trường hợp này được xác định là bên yếu thế, nếu tự mình tham gia giao dịch thì không đảm bảo cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Đầu tiên là quan hệ đương nhiên phát sinh chế định đại diện giữa các chủ thể
do địa vị pháp lý của họ, đó là trường hợp cha mẹ đối với con cái chưa thành niên tại
37 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, “Khái niệm đại diện và phân loại đại diện”,
http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/117/527, truy cập ngày 28/3/2020
Trang 24khoản 1 Điều 136 BLDS hay người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật của pháp nhân tại điểm b khoản 1 Điều 137 BLDS
Tiếp theo là dựa trên một quan hệ pháp lý khác như giám hộ, lao động tập thể,…tức là thỏa thuận các bên để đặt ra người đại diện theo pháp luật hoặc đề cử như trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được chỉ định theo điều
lệ doanh nghiệp
Bên cạnh đó, có thể do cơ quan nhà nước thẩm quyền chỉ định ra mà cụ thể là Tòa án tuyên bố một người mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự thì sẽ chỉ định người đại diện cho những người này, đồng thời còn nêu phạm vi được phép đại diện
Như vậy, hiện nay đại diện theo pháp luật bao gồm đại diện theo pháp luật của
cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân
Đại diện theo pháp luật của cá nhân được hiểu là đại diện đương nhiên hoặc đại diện theo chỉ định, đây là quan hệ đại diện thường có tính ổn định về người đại diện, về thẩm quyền đại diện38 Thường vấn đề đại diện theo pháp luật của cá nhân xuất phát từ tính “yếu thế” của cá nhân đó khi tham gia một giao dịch, do khiếm khuyết về sức khỏe, tinh thần hoặc liên quan đến độ tuổi cá nhân đó
Trường hợp đại diện theo pháp luật của cá nhân được liệt kê tại Điều 136 BLDS như cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ (được Tòa án chỉ định); người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này người do Tòa
án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Đối với đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người đại diện thường xuyên của pháp nhân trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh pháp nhân với người thứ ba miễn việc nhân danh đó vì lợi ích của pháp nhân và không vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội39 Trong khi đó, Luật doanh nghiệp 2014 quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp “là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
38 Lý Vương Thảo, “Đại diện cho người yếu thế trong giao dịch dân sự”, luat/dai-dien-cho-nguoi-yeu-the-trong-giao-dich-dan-su, truy cập ngày 29/3/2020
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-39 Trường Đại học Luật TP HCM, tlđd (2), tr.251
Trang 25quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”
Xuất phát từ việc pháp nhân không thể tự mình tham giao một giao dịch nên cần có người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật bắt buộc được ghi nhận trong điều lệ của doanh nghiệp hoặc văn bản thành lập pháp nhân, tuy nhiên trường hợp điều lệ hoặc văn bản thành lập không quy định thì pháp luật chưa dự liệu
hệ quả
Đại diện theo ủy quyền
Pháp luật dân sự quy định cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
Đại diện theo ủy quyền là việc tự lựa chọn, quyết định người đại diện cho mình
để thực hiện giao dịch dân sự khi không thể hoặc không muốn tự mình thực hiện giao dịch Hay nói cách khác là việc một người trở thành người đại diện theo yêu cầu của người được đại diện (thường yêu cầu đại diện này thể hiện bằng hình thức ủy quyền)
Theo quy định tại Điều 138 BLDS thì đại diện ủy quyền xuất hiện trong những trường hợp sau: cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện
Quan hệ đại diện theo ủy quyền có thể được thể hiện bằng một trong hai loại giao dịch:
Hành vi pháp lý đơn phương của người ủy quyền đối với người được ủy quyền bằng Giấy ủy quyền (bên ủy quyền ký), giao dịch ủy quyền được xác lập bởi hành vi pháp lý đơn phương có thể được thể hiện bằng việc cá nhân thể hiện ý chí ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác làm đại diện cho mình, việc ủy quyền có hiệu lực khi người được ủy quyền chấp nhận bằng hành vi đại diện Hoặc hợp đồng ủy quyền được giao kết giữa người ủy quyền và người được ủy quyền (hai bên cùng ký) BLDS không yêu cầu các bên phải công chứng chứng thực văn bản ủy quyền và không cấm
Trang 26việc một người đã ủy quyền cho người khác thực hiện công việc nhưng vẫn ủy quyền tiếp cho người thứ ba thực hiện công việc đó40
Giống như đại diện theo pháp luật thì đại diện theo ủy quyền mặc dù phụ thuộc
ý chí các bên đại diện nhưng cũng chỉ nằm trong giới hạn nhất định, bởi có những giao dịch bắt buộc chủ thể tự thực hiện không được ủy quyền cho người khác, thường
là vấn đề gắn liền nhân thân chủ thể đó (ly hôn, lập di chúc)
Nói tóm lại, dù là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền thì đều đóng vai trò quan trọng trong quan hệ dân sự, bởi nó đều thực hiện chức năng đại diện cho “lợi ích” của một chủ thể khác , đồng thời còn là một công cụ đắc lực thúc đẩy các giao dịch trong điều kiện sự phân công lao động xã hội càng lúc càng chặt chẽ và tinh vi
1.2.4 Hậu quả pháp lý và phạm vi đại diện
Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện:
Thực định pháp luật Việt Nam ghi nhận “giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện” Có nghĩa giao dịch do người đại diện tham gia sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với người được đại diện
Để thực hiện thẩm quyền đại diện thì người đại diện có quyền “xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện”, những hành vi này
phải là hành vi hợp pháp, hợp hiến, không trái đạo đức xã hội hay vi phạm điều cấm
thì người đại diện mới có quyền thực hiện Và hành vi trên phải đảm bảo tính “cần thiết” nhưng để đánh giá tính cần thiết thì phải tùy thuộc vào từng trường hợp, hoàn
cảnh cụ thể mới có thể xem xét được
Bên cạnh đó, để bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện, BLDS cũng yêu cầu người đại diện khi nhân danh người được đại diện tham gia giao dịch hay thực hiện hành vi cần thiết phải luôn đảm bảo mục đích, ý chí người được đại diện Điều này có nghĩa là trong trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép
40 Lý Vương Thảo, “Đại diện cho người yếu thế trong giao dịch dân sự”,
https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/dai-dien-cho-nguoi-yeu-the-trong-giao-dich-dan-su, truy cập ngày 29/3/2020
Trang 27mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện
Phạm vi đại diện:
Để cơ chế đại diện được vận hành phù hợp, đồng thời bảo vệ quyền lợi của bên được đại diện, loại trừ những hành vi đại diện “lạm quyền” xâm phạm quyền và lợi ích của người được đại diện thì BLDS 2015 đã xây dựng nên quy định về vấn đề phạm vi đại diện Phạm vi đại diện là phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà người đại diện được quyền xác lập thực hiện với người thứ ba41, hiểu đơn giản là những gì mà bên đại diện được làm và không được làm
Theo đó, người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây: quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Điều
lệ của pháp nhân; Nội dung ủy quyền; Quy định khác của pháp luật42 Xuất phát từ việc có 2 loại đại diện là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền thì phạm
vi đại diện cũng khác biệt
Phạm vi ủy quyền là một khái niệm nhỏ trong phạm vi đại diện nói chung, khi nói đến phạm vi ủy quyền tức là chỉ xem xét phần phạm vi đại diện trong loại hình đại diện theo ủy quyền43
Phạm vi ủy quyền là giới hạn quyền đại diện mà người được ủy quyền được phép xác lập, thực hiện giao dịch nhân danh người ủy quyền, phạm vi ủy quyền được xác định theo nội dung ủy quyền Nó được thể hiện rõ ràng trong nội dung ủy quyền
- giới hạn mà người được ủy quyền hành động để đem lại quyền và nghĩa vụ cho bên
ủy quyền44
Như vậy căn cứ xác định phạm vi đại diện ủy quyền là dựa trên hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền
Có thể thấy, giới hạn của phạm vi ủy quyền có thể được xác định bởi yếu tố
số lượng công việc thời gian công việc, cũng có thể là tính chất công việc đó như thế
41 Trường Đại học Luật TP HCM, tlđd (2), tr.256
42 Khoản 1 Điều 141 BLDS 2015
43 Trần Thị Quỳnh Châu, “Đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền và hậu quả pháp lý theo pháp luật dân sự”,
phap-ly-theo-phap-luat-dan-su-4283.html, truy cập ngày 01/4/2020
http://tuphaptamky.gov.vn/2014/news/Linh-vuc-dan-su/Dai-dien-vuot-qua-pham-vi-uy-quyen-va-hau-qua-44 Trần Thị Quỳnh Châu, tlđd (43)
Trang 28nào Cái hay, cái đặc biệt ở đây là không có một quy chuẩn nào để xác định chính xác phạm vi ủy quyền mà phải dựa vào nội dung ủy quyền
Đây là quy định thể hiện cụ thể tính tự do, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự với nhau Nội dung ủy quyền chỉ cần không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm thì sẽ phát sinh hiệu lực, bên đại diện sẽ thực hiện công việc cho bên được đại diện Nội dung ủy quyền phụ thuộc vào
ý chí, sự thỏa thuận các bên, nếu các bên đã có sự thống nhất về nội dung thì việc thực hiện ủy quyền sẽ rất thuận lợi, trường hợp nội dung ủy quyền thiếu sự rõ ràng thì sẽ rất khó khăn cho việc đại diện Trường hợp nội dung ủy quyền không rõ ràng
sẽ áp dụng quy định về giải thích hợp đồng dân sự để xác định phạm vi ủy quyền45
Cũng cần phải lưu ý đến vấn đề phạm vi ủy quyền chỉ có giá trị ràng buộc các bên trong quan hệ đại diện, nó không có giá trị đối với bên thứ ba
So với đại diện theo ủy quyền thì việc xác định phạm vi đại diện theo pháp luật phức tạp hơn Về nguyên tắc, phạm vi đại diện theo pháp luật được xác định trong các văn bản pháp luật điều chỉnh loại hình đại diện đó Theo quy định tại Điều
141 BLDS 2015 thì phạm vi này dựa trên quyết định của cơ quan có thẩm quyền, điều lệ của pháp nhân, quy định khác của pháp luật
Quyết định của cơ quan có thẩm quyền tức là trong trường hợp nhất định cơ quan sẽ xác định người đại diện cũng như phạm vi đại diện theo pháp luật của người
đó Điển hình quyết định thành lập một pháp nhân của cơ quan nhà nước, sẽ luôn xác định người đứng đầu và trách nhiệm quyền hạn người đó được thực hiện nhân danh cho pháp nhân
Căn cứ vào điều lệ pháp nhân, theo khoản 1 Điều 77 BLDS thì pháp nhân phải
có điều lệ trong trường hợp pháp luật có quy định, cũng theo đó tại điểm đ khoản 1 yêu cầu điều lệ của pháp nhân bắt buộc phải luôn ghi rõ người đại diện theo pháp luật
và xác định phạm vi đại diện được quyền xác lập, thực hiện
Mặc dù có quan điểm cho rằng căn cứ này được bổ sung là một ghi nhận tích cực của BLDS 2015 vì đây là “căn cứ chính xác để xác định phạm vi đại diện của người đại diện cho pháp nhân”46 Tuy nhiên cũng có quan điểm chỉ ra rằng đây là sự
bổ sung “nguy hiểm” bởi xét thấy “điều lệ chỉ là quy định mang tính nội bộ của pháp
45 Đỗ Văn Đại, tlđd (12), tr.279
46 Trường Đại học Luật TP HCM, tlđd (2), tr.257
Trang 29nhân nhưng lại có nguy cơ để khai thác chống lại người thứ ba”47 Thật vậy, điều lệ thường mang tính chất cá biệt do doanh nghiệp, tổ chức đặt ra hoàn toàn ở mức nội
bộ nên rất khó cho một bên thứ ba khi tham gia vào giao dịch có thể nắm rõ ràng toàn
bộ nội dung điều lệ, cũng như hiểu đầy đủ quyền hạn của chủ thể đại diện cho pháp nhân đó dẫn đến giao dịch dễ bị vô hiệu hóa
Đối với quy định của pháp luật giới hạn phạm vi đại diện thì đây là một căn
cứ rất rộng, có thể được quy định trong luật hoặc văn bản dưới luật Nếu có quy định của pháp luật hạn chế quyền đại diện theo pháp luật đối với một giao dịch nào đó thì người đại diện theo pháp luật phải tuân thủ, không được thực hiện giao dịch này, điển hình như quy định tại khoản 1 Điều 59 BLDS48
Đồng thời BLDS 2015 cũng đã dự liệu đối với trường hợp xung đột lợi ích trong chế định đại diện, đó là khi “Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều
cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện
để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Đây là điều khoản có ý nghĩa đặc biệt để bảo vệ cho quyền lợi ích hợp pháp của người
được đại diện, tránh trường hợp “lạm quyền” xảy ra dẫn đến xâm phạm quyền lợi bên
được đại diện Những giao dịch như vậy trên thực tế bị Tòa án tuyên bố vô hiệu như trong vụ việc “ tại thời điểm phân chia di sản các con ông Hưng chưa thành niên nên ông Hưng là người đại diện theo pháp luật, nhưng lại thực hiện giao dịch cho chính mình…văn bản phân chia thừa kế là vô hiệu vì vi phạm Điều 144 BLDS”49
1.3 Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện
1.3.1 Khái niệm và nội dung của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện
Mặc dù pháp luật thực định quy định rất rõ ràng về vấn đề đại diện là việc người đại diện nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và việc đại diện chỉ được thực hiện trong phạm vi đại diện
47 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận điểm mới Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam,
phần 168, tr.190
48 Đoạn 3 khoản 1 Điều 59 BLDS 2015 quy định: “Người giám hộ không được đem tài sản của người được
giám hộ tặng cho người khác”
49 Quyết định số 11/2016/DS-GĐT ngày 7/3/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
Trang 30Tuy nhiên thực tế có rất nhiều trường hợp một người không có thẩm quyền đại diện lại tiến hành xác lập, thực hiện một giao dịch nhân danh cho một đối tượng khác,
đó được xem là trường hợp giao dịch do người không có quyền xác lập thực hiện
BLDS không giải thích về định nghĩa trên nhưng có thể hiểu một cách khái quát, là khi một người không có quyền đại diện xác lập thực hiện giao dịch với người thứ ba nhân danh người được đại diện Ví dụ người ký không phải là đại diện theo pháp luật của công ty và không có ủy quyền hợp pháp của người có thẩm quyền ký kết nhưng vẫn ký hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty Có thể kể đến một vài trường hợp như: Phó Giám đốc, Giám đốc chi nhánh, Trưởng các phòng, ban… ký hợp đồng nhưng không có ủy quyền hợp pháp của người có thẩm quyền
Có quan điểm cho rằng, người không có quyền đại diện bao gồm những người thực hiện công việc nhân danh người khác và vì lợi ích của người khác nhưng không
có căn cứ xác lập quyền đại diện hoặc hành động vượt quá phạm vi đại diện của mình50 Tuy nhiên, cá nhân tác giả cho rằng cần có sự phân biệt giữa hai trường hợp này, xuất pháp từ sự khác biệt khái niệm, bản chất cũng như hệ quả pháp lý của hai trường hợp, ngay cả BLDS 2005 hay BLDS 2015 cũng có hai quy phạm riêng biệt cho chúng51
Xét thấy, không có quyền đại diện có thể là ngay từ ban đầu, chủ thể này đã không có quyền để đại diện cho cá nhân, pháp nhân đó; hoặc trước đó đã có quyền đại diện nhưng quan hệ đại diện đã chấm dứt theo quy định của pháp luật, khi tiến hành việc nhân danh người được đại diện thì đã không còn quyền để đại diện nữa; kể
cả việc có quyền đại diện theo từng “giai đoạn” tức là có thể có quyền đại diện lúc xác lập giao dịch hoặc có thể có quyền đại diện lúc thực hiện giao dịch, hoặc các giai đoạn trong một hành vi pháp lý đơn phương nào đó
Nói tóm lại, để xem xét chủ thể có thuộc trường hợp “không có quyền đại diện” hay không, thì chúng ta cần xác định ngay tại thời điểm giao kết, thực hiện giao dịch dân sự thì người đó có thẩm quyền đại diện hay không Nếu tại thời điểm đó, có
50 Nguyễn Thị Lan Anh (2015), Đại diện không có ủy quyền và đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền trong pháp
luật Dân sự Việt Nam hiện hành, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật, tr.32
51 Chứng minh tại 1.2.2
Trang 31đủ chứng cứ để chỉ ra rằng người này không có thẩm quyền đại diện thì họ sẽ thuộc trường hợp “giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền xác lập, thực hiện”
Còn nếu thuộc trường hợp ủy quyền tại các thời điểm khác nhau để tiến hành giao dịch Để biết người đứng ra đại diện có thẩm quyền đại diện hay không, họ đại diện có hợp pháp hay không thì chúng ta cần xem xét giao dịch được xác lập trên cơ
sở ủy quyền nào, thời điểm ký kết thì ủy quyền có cho phép người đó đứng ra đại diện hay không52
Như đã đề cập, trường hợp “không có quyền đại diện” có thể xem xét dưới nhiều khía cạnh
Có thể nó xuất phát từ việc cơ sở pháp lý trao quyền đại diện cho một người không có giá trị pháp lý, điển hình là giao dịch ủy quyền bị vô hiệu53 Trong một vụ việc Tòa án nhận định “các đương sự thống nhất vào ngày 20/11/2018, bà N và ông
H ký hợp đồng ủy quyền cho ông Q đối với quyền sử dụng đất, có chứng thực Ông
Q phải thực hiện công việc theo nội dung ủy quyền, khi nào ông Q thực hiện giao dịch với người khác thì trao đổi cụ thể với bà N Như vậy, có chứng cứ rõ ràng là hai bên chưa thực hiện xong quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng ủy quyền; do đó, ông Q chưa có quyền đại diện xác lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất, đồng thời phải
tự chịu trách nhiệm Đồng thời, tuyên bố hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất xác lập ngày 20/11/2018 bị vô hiệu”54
H (bên A) có nghĩa vụ cung cấp bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…, chịu trách nhiệm do ông Q (bên B) thực hiện trong phạm vi ủy quyền; bên B thực hiện công việc theo nội dung ủy quyền bảo quản, giữ gìn tài liệu, phương tiện được giao… [2] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bà N, ông H và ông Q đều thừa nhận bà N giữ bản chính giấy chứng nhận và hợp đồng ủy quyền, khi nào ông Q thực hiện giao dịch với người khác thì trao đổi cụ thể với bà N Như vậy, có chứng cứ rõ ràng là hai bên (bà N, ông H và ông Q) chưa thực hiện xong quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng ủy quyền ngày 20/11/2018; do đó, ông Q chưa có quyền đại diện xác lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất với ông H nên hợp đồng đặt cọc giữa ông Q (đại diện cho bà N, ông H) ký với ông H ngày 22/11/2018 bị vô hiệu…Tuyên bố hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất xác lập ngày 20/11/2018 giữa bà Đỗ Thị Thanh N, ông Nguyễn Như H với ông L Văn Q được cơ quan U xã L, huyện
D, tỉnh Bình Dương chứng thực số 650 ngày 20/11/2018 bị vô hiệu
Trang 32Bên cạnh đó “không có quyền đại diện” còn có thể xuất phát từ việc hoàn toàn
không có cơ sở pháp lý nào trao cho người đại diện quyền đại diện, tức là một người
“không có” bất kỳ cơ sở đại diện nào nhưng “tự ý” nhân danh một người tiến hành giao dịch Như trường hợp tại “việc ký kết hợp đồng bốc xếp là do Giám đốc chi nhánh Công ty vật tư tổng hợp Đà Nẵng ký kết là không đúng thẩm quyền và không
có ủy quyền của giám đốc công ty, theo quy chế của công ty và theo quy định”55, điều này có nghĩa là Tòa án nhận định Giám đốc chi nhánh của pháp nhân không được công ty ủy quyền đồng thời cũng không có quy định nào trao quyền cho người này đại diện pháp nhân, nên giao dịch do họ tiến hành không ràng buộc pháp nhân, họ phải tự chịu trách nhiệm
Ngoài ra, cũng có trường hợp một chủ thể ở một thời điểm nhất định được trao quyền đại diện nhưng sau đó cơ sở pháp lý trao quyền đại diện này bị chấm dứt thì được xem là không còn quyền đại diện Đây là những tình huống phổ biến trong thực tiễn xét xử và pháp luật thực định cũng nêu ra tại Điều 140, đại diện theo ủy quyền chấm dứt theo thỏa thuận của các bên (ví dụ hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền ghi nhận ngay sau khi người đại diện X giao kết hợp đồng với bên Y thì thẩm quyền đại diện cho bên D sẽ chấm dứt, việc thực hiện hợp đồng do bên D trực tiếp thực hiện); thời hạn ủy quyền đã hết – trong một bản án, Tòa án xác định: “Giấy ủy quyền nêu trên không có nêu thời hạn ủy quyền Do đó căn cứ tại Điều 587 BLDS thì thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định, nếu không có thỏa thuận
và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền sẽ hết hiệu lực 1 năm kể từ ngày xác lập ủy quyền, nên giấy ủy quyền nêu trên hết hiệu lực vì đã quá 1 năm56”; hoặc người được đại diện, người đại diện chết57; đại diện theo pháp luật chấm dứt khi người chưa thành niên đã đủ tuổi thành niên, năng lực hành vi dân sự được phục hồi; người được đại diện là cá nhân chết, pháp nhân đã giải thể phá sản… Khi xảy ra những trường hợp pháp luật dự liệu làm chấm dứt quyền đại diện thì người đại diện không còn tư cách pháp lý để tiến hành giao dịch nhân danh bên được đại diện, nếu
55 Bản án số 22/2006/KDTM-PT ngày 22/3/2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh
56 Bản án số 367/2006/DS-PT ngày 20/4/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh , mặc dù bản án xem xét trên quy định tại Điều 587 BLDS 1995 nhưng quy định này được giữ nguyên tại Điều 582 BLDS 2005 cũng như Điều 140 BLDS 2015
57 Bản án 535/2006/DS-PT ngày 29/05/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 33có giao dịch phát sinh, người được đại diện sẽ không có trách nhiệm đối với giao dịch
đó
1.3.2 Phân biệt trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện với trường hợp giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện
1.3.2.1 Vài vấn đề chung về trường hợp giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện
Song song với trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện, trên thực tế vẫn có tình trạng người đại diện tiến hành một giao dịch nhưng vượt quá phạm vi đại diện Để phân biệt hai hành vi này, chúng ta xem xét trên góc độ lý luận về khái niệm, bản chất, nội dung của hai trường hợp
Xét thấy, trường hợp “vượt quá phạm vi đại diện” được nêu ra tại Điều 143 BLDS, dù không có định nghĩa cụ thể, có thể hiểu một cách khái quát “vượt quá phạm
vi đại diện” là việc người đại diện thực hiện hành vi pháp lý vượt quá phạm vi đại diện được cho phép tại Điều 141 BLDS
Vượt quá phạm vi đại diện có thể là phạm vi ủy quyền, điều lệ của pháp nhân, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, quy định của pháp luật giới hạn
Ví dụ: Trong Công ty Cổ phần, người đại diện theo pháp luật là Giám đốc Giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty, chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị (HĐQT), chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Theo quy định tại Điều lệ Công ty và theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 135 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông thì Đại hội đồng cổ đông có quyền
:“Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty” Giám đốc tự ý
đứng ra quyết định bán số tài sản có giá trị là 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty cho một bên thứ ba, dù Đại hội đồng cổ đông chưa thông qua là vi phạm quy định pháp luật Giám đốc trong công ty đã thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi của người đại diện theo pháp luật
Vấn đề người đại diện vượt quá phạm vi đại diện cũng được quy định rõ trong pháp luật của nhiều quốc gia, cụ thể: Pháp luật dân sự Nhật Bản thừa nhận hành vi
Trang 34đại diện vượt quá thẩm quyền nằm trong đại diện theo suy đoán bên ngoài khi và chỉ khi có căn cứ hợp lý để bên thứ ba tin rằng người đại diện thực hiện việc đại diện trong phạm vi ủy quyền của mình Căn cứ hợp lý được đánh giá dựa trên khả năng của một người bình thường với sự quan tâm đến vấn đề giao dịch, thông qua người đại diện có thể nhận thức được hành vi của người đại diện có hay không vượt ra ngoài phạm vi được cho phép58 Pháp luật của Pháp còn dựa trên thuyết phê chuẩn (ratification) và trách nhiệm của người đại diện không có thẩm quyền (the liability of the falsus procurator) để xem xét việc chấp thuận hành vi không có quyền đại diện và đại diện vượt quá phạm vi59
Cụ thể hơn là vấn đề vượt quá phạm vi đại diện ủy quyền thì pháp luật Hoa
Kỳ chia người ủy quyền thành ba loại: (i) Người ủy quyền công khai, (ii) Người ủy quyền bán công khai (tức là tại thời điểm người được ủy quyền giao dịch với bên thứ
ba nhưng bên thứ ba chỉ biết về việc người ủy quyền hành động nhân danh người khác, họ không biết người này là ai); (iii) Người ủy quyền không công khai (tức là tại thời điểm giao dịch, bên thứ ba không biết sự ủy quyền cũng như người ủy quyền)60 Dù pháp luật thực định ghi nhận phân loại như trên, tuy nhiên khi xét về việc đại diện không có ủy quyền hay đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền, pháp luật Hoa Kỳ không phân biệt các trường hợp trên61 Hậu quả pháp lý chung của hành vi đại diện không có ủy quyền, đại diện vượt quá phạm vi ủy quyền là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được ủy quyền
1.3.2.2 Phân biệt hai trường hợp
Mặc dù có quan điểm pháp lý cho rằng việc phân biệt hai hành vi trên là chưa thuyết phục, bởi về bản chất, hai trường hợp xác lập giao dịch không có thẩm quyền hay vượt quá thẩm quyền là như nhau, tuy nhiên tác giả vẫn cho rằng cần có sự phân biệt nhất định
Xét thấy, BLDS 2005 hay BLDS 2015 đều có quy định cụ thể riêng biệt cho hai trường hợp “không có quyền đại diện” với “vượt quá phạm vi đại diện”, tức là ý
58 Nguyễn Đức Giao và Lưu Tiến Dũng (1995), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nxb Chính trị
Quốc gia Hà Nội, tr.161
59 Cambridge University (2009), The Unauthorised agent Perspectives from European and Comparative Law,
Cambridge University Press, New York, USA, tr.44
60 Hồ Ngọc Hiển (2007), “Nghĩa vụ của người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hoa
Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số
3, tr.57 - 66
61 Trần Thị Quỳnh Châu, tlđd (43)
Trang 35chí của các nhà làm luật thể hiện quan điểm tách biệt hai trường hợp này trong quá trình lập pháp
Thứ nhất, dưới góc độ lý luận về khái niệm Phần trên đã nói về định nghĩa một cách khác quát trường hợp không có quyền đại diện là khi một người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba nhân danh người được đại diện Như vậy, ở đây là hoàn toàn không có quyền để đại diện nhưng chủ thể này vẫn đứng ra nhân danh người được đại diện tiến hành giao dịch
Trong khi đó “vượt quá phạm vi đại diện” là việc người đại diện thực hiện hành vi pháp lý vượt quá phạm vi đại diện được cho phép tại Điều 141 BLDS Điều
đó có nghĩa là nó mang bản chất của chế định đại diện, tức là trước hết – hành vi này
có căn cứ phát sinh quan hệ đại diện theo Điều 135 (theo pháp luật hoặc ủy quyền) Khi vấn đề hành động vượt quá phạm vi đại diện được đặt ra, thì trước đó, giữa người đại diện và người được đại diện đã tồn tại mối quan hệ pháp lý bên trong, tức là, giữa
họ đã có căn cứ phát sinh quan hệ đại diện
Còn hành vi “không có quyền đại diện” là không hề có sự tồn tại quan hệ đại diện Đặc điểm về căn cứ đại diện là yếu tố cơ bản nhất để phân biệt hai trường hợp này Nếu không có căn cứ phát sinh quan hệ đại diện, thì chủ thể tiến hành giao dịch
bị xem như người không có quyền đại diện và nếu không có quan hệ đại diện, chúng
ta cũng không biết được phạm vi đại diện để xem xét việc người đại diện có hành động vượt quá phạm vi được phép hay không
Thứ hai, “không có quyền đại diện” có thể là ngay từ ban đầu, chủ thể này đã không có quyền để đại diện cho cá nhân, pháp nhân đó; hoặc trước đó đã có quyền đại diện nhưng quan hệ đại diện đã chấm dứt theo quy định của pháp luật, khi tiến hành việc nhân danh người được đại diện thì đã không còn quyền để đại diện nữa; kể
cả việc có quyền đại diện theo từng “giai đoạn” tức là có thể có quyền đại diện lúc xác lập giao dịch hoặc có thể có quyền đại diện lúc thực hiện giao dịch, hoặc các giai đoạn trong một hành vi pháp lý đơn phương nào đó62
Thế nhưng “vượt quá phạm vi đại diện” là người đại diện hành động vượt quá
phạm vi cho phép hay nói cách khác là giao dịch được tiến hành là ngoài phạm vi đại diện Có nghĩa là xác định cụ thể phạm vi đại diện theo Điều 141 dựa trên quyết định
62 Phần 3.1 mục 3 đã đề cập
Trang 36của cơ quan có thẩm quyền, điều lệ của pháp nhân, nội dung ủy quyền, quy định khác của pháp luật Nếu người đại diện thực hiện hành vi quá giới hạn này (thường là thỏa thuận của các bên), thì được xem là “vượt quá phạm vi đại diện” mặc dù họ là người đại diện hợp pháp, có đủ tư cách để tiến hành một giao dịch nhất định
Thứ ba, hậu quả pháp lý của hai trường hợp là không giống nhau Theo đó, trên nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của người được đại diện, giao dịch dân sự do
người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện thì giao dịch này “không” phát sinh
quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện
Giao dịch dân sự do người đại diện tiến hành vượt quá phạm vi đại diện thì
không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với “phần giao dịch” được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện Suy rộng ra, phần giao dịch trong
phạm vi được đại diện vẫn có giá trị ràng buộc các bên, chỉ có phần vượt quá phạm
vi được phép mới không phát sinh giá trị Sự khác biệt về hệ quả pháp lý là cơ sở để chúng ta cần phân biệt hai hành vi nói trên
1.3.3 Khái quát hệ quả của giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện đối với người được đại diện
Không là phát sinh quyền và nghĩa vụ:
Hiện nay, BLDS quy định giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện
Đây được xem là quy định phù hợp bởi để bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của người được đại diện thì việc xây dựng cơ chế loại trừ trách nhiệm của bên được đại diện trong quan hệ dân sự do người không có quyền xác lập, là cần thiết Khi không có bất kỳ cơ sở nào chỉ ra người được đại diện muốn thiết lập nên giao dịch này, thì nó không thể ràng buộc họ
Tất nhiên hệ quả pháp lý tại khoản 1 Điều 142 BLDS chỉ xảy ra khi người được đại diện phủ nhận giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện đối với người được đại diện Khi ý chí và hành động người được đại diện phản đối gia dịch này, thì nó sẽ không ràng buộc trách nhiệm đối với họ
Trang 37Quy định tại Điều 142 cũng được xem là phù hợp với hướng xử lý trong:
“Công ước Giơnevơ về đại diện và trong nhiều Bộ luật của các nước Châu Âu như Đức, Áo, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Hà Lan, Bồ Đào Nha63
Tương tự, thực tiễn Tòa án trong nhiều vụ việc cũng không công nhận giá trị của những giao dịch này, điển hình trong một bản án Tòa án đã nhận định: “Bà Chi
và ông Minh lập hợp đồng ủy quyền trái pháp luật, nên các hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà giữa ông Minh với ông Nhụ và ông Nhụ với ông Thuận đều bị coi
vô hiệu Bà Chi đã tặng cho tài sản chung…nhưng không đúng trình tự…Do đó Tòa
án hủy toàn bộ hợp đồng ủy quyền là đúng”64
Phát sinh quyền và nghĩa vụ cho bên được đại diện:
Quy định tại Điều 142 được xem như khuôn phép về hệ quả pháp lý của giao dịch được tiến hành bởi người không có quyền đại diện
Tuy nhiên, nếu chúng ta áp dụng nguyên tắc này một cách tuyệt đối thì trên thực tế làm cho giao dịch dân sự thông qua đại diện trở nên bất ổn Một sự “dè chừng”
sẽ luôn được đặt ra khi các bên giao dịch
Bởi xét thấy, đặc thù của quan hệ đại diện là giữa bên được đại diện với bên đại diện; người thứ ba rất khó khăn để có thể tiếp cận, dự liệu, lường trước những rủi
ro mà mình có thể bị gánh chịu Quyền lợi dễ bị xung đột dẫn đến các giao lưu dân
sự có thể bị chậm lại, kìm hãm sự phát triển chung
Vì lẽ đó, trong quá trình lập pháp, các nhà làm luật đã ghi nhận giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện đối với người được đại diện vẫn phát sinh quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện nếu thuộc các trường hợp sau đây: người được đại diện đã công nhận giao dịch; người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện
Như đã phân tích, việc đại diện là mối quan hệ pháp lý bên trong giữa người đại diện và người được đại diện Mặc dù pháp luật vẫn đặt ra yêu cầu người đại diện phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin về nội dung, phạm vi đại diện cho bên thứ ba
63 G Rouhette (chủ biên): Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng, Sđd, tr.168
64 Quyết định số 03/2013/HNGĐ-GĐT ngày 10/1/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Trang 38trước khi thực hiện giao dịch Thế nhưng có được thông báo hay không, bên thứ ba vẫn là bên tiếp nhận thụ động, tính trung thực của bên đại diện mới là yếu tố quan trọng hơn cả vì nếu họ cố ý không đưa ra thông tin thật, thông tin đúng, thông tin đủ thì hoàn toàn có thể đe dọa đến lợi ích bên thứ ba
Mặt khác quy định trên còn để cho bên được đại diện phải có trách nhiệm đối với những hành vi (thậm chí ý chí) thể hiện việc sự “chấp thuận” giao dịch do người không có quyền đại diện tiến hành Loại bỏ trường hợp trốn tránh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến bên đại diện cũng như người thứ ba Bởi khi có căn cứ chỉ ra bên được đại diện, trên cơ sở sự tự do ý chí, công nhận hoặc biết mà không phản đối thì đó được coi sự chấp thuận giao dịch không có quyền đại diện trên
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Căn cứ quy định pháp luật hiện hành, sau khi tìm hiểu về vấn đề giao địch dân
sự nói chung, cùng những vấn đề khái quát về đại diện thì tác giả tập trung đi sâu tìm hiểu khái niệm, bản chất, hệ quả của giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện Giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện là khi một người không có căn cứ phát sinh quyền đại diện nhưng lại tiến hành giao dịch đó với người thứ ba nhân danh người được đại diện
Bản chất của trường hợp “không có quyền đại diện”, thứ nhất là xuất phát từ việc cơ sở pháp lý trao quyền đại diện cho một người không có giá trị pháp lý, điển
hình là giao dịch ủy quyền bị vô hiệu Thứ hai, “không có quyền đại diện” còn có thể
xuất phát từ việc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý nào trao cho người đại diện quyền đại diện, tức là một người hoàn toàn “không có” bất kỳ cơ sở đại diện nào nhưng “tự ý” nhân danh một người tiến hành giao dịch Thứ ba, cũng có trường hợp một chủ thể
ở một thời điểm nhất định được trao quyền đại diện nhưng sau đó cơ sở pháp lý trao quyền đại diện này bị chấm dứt thì được xem là không còn quyền đại diện
Tác giả xét thấy cần có sự phân biệt giữa hai hành vi “không có quyền đại diện” và “vượt quá phạm vi đại diện” Điều này là do pháp luật thực định tại Điều
142 và 143 BLDS 2015 (Điều 145 và Điều 146 BLDS 2005) có sự tách biệt thành hai quy phạm rõ ràng Từ khái niệm, đặc điểm và hệ quả pháp lý của hai trường hợp là hoàn toàn khác nhau
Bên cạnh đó, nội dung về hệ quả pháp lý của giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện là một vấn đề then chốt được tập trung Phân tích trường hợp giao dịch không phát sinh quyền, nghĩa vụ cho bên được đại diện hoặc khi nào người được đại diện sẽ phải chịu trách nhiệm Ngoài ra tác giả còn có nghiên cứu, so sánh với pháp luật của một số quốc gia như Nhật Bản, Anh, Mỹ,…để có những đánh giá chung về ưu, nhược điểm của các quy định trong BLDS 2015
Hướng đến việc giải quyết các vấn đề thực tiễn và nhằm đi sâu nghiên cứu về những hậu quả pháp lý giao dịch do người không có quyền đại diện tiến hành dựa trên những nghiên cứu của mình, tác giả xin đưa ra một số trường hợp cụ thể và kiến nghị hoàn thiện pháp luật ở chương II
Trang 40CHƯƠNG 2: GIAO DỊCH DÂN SỰ DO NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN ĐẠI DIỆN XÁC LẬP, THỰC HIỆN – THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Điều 142 BLDS 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện nhân danh người khác Theo cách phân loại đại diện quy định trong BLDS, tác giả bóc tách quy định tại Điều 142 nhằm
đi sâu nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý phát sinh cho người được đại diện hay người không có quyền đại diện tiến hành giao dịch Xác định trách nhiệm của giao dịch dân
sự do người không có quyền đại diện tiến hành có ý nghĩa lớn trong việc xem xét ai
là người phải gánh chịu hậu quả từ giao dịch, góp phần tạo nên giá trị của chế định đại diện, có ý nghĩa bảo đảm ổn định, an toàn pháp lý cho quan hệ đại diện
2.1 Thực trạng giải quyết trong trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện phát sinh trách nhiệm cho người được đại diện
Những quy định mang tính ngoại lệ đặc thù được xây dựng trở thành một hành lang pháp lý cho các bên trong quan hệ đại diện có thể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc xây các điểm a, b, c tại khoản 1 Điều 142 dù còn hạn chế, nhưng
ít nhiều đã thể hiện tốt vai trò của mình trong việc loại bỏ trường hợp “bội ước”, yêu cầu các chủ thể phải có trách nhiệm đối với những hành vi của mình
Để áp dụng những trường hợp này, điều kiện chung cần đảm bảo:
Thứ nhất, giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện Thứ hai, có căn cứ chỉ ra người được đại diện thuộc một trong các trường hợp
tại khoản 1 Điều 142 BLDS 2015
Thứ ba, người thứ ba chấp nhận và muốn duy trì giao dịch này
65 Như đã chứng minh ở mục 1.3.3