1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo luật hình sự việt nam

130 44 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo luật hình sự việt nam
Tác giả Ngô Trung Tây
Người hướng dẫn Ts. Vũ Thị Thúy
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 29,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hoạt động tội phạm như: Làm giả, mua bán, sử dụng các tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức được thực hiện dễ dàng hơn và thuận lợi hơn, từ đó đã làm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình

Trang 1

NGÔ TRUNG TÂY

TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự

hướng dẫn của Tiến sĩ Vũ Thị Thúy

Các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được nêu rõ nguồn trích dẫn Các kết quả trình bày trong Luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào trước đây./

Tác Giả Luận Văn

Ngô Trung Tây

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 DẤU HIỆU HÀNH VI KHÁCH QUAN CỦA TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆUCỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC 7

1.1 Quy định của pháp luật về dấu hiệu hành vi khách quan của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 7

1.2 Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hành vi khách quan của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 12

1.3 Kiến nghị hướng dẫn áp dụng dấu hiệu hành vi khách quan của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 24

Kết luận Chương 1 26

CHƯƠNG 2 DẤU HIỆU CHỦ THỂ CỦA TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC 27

2.1 Quy định của pháp luật về dấu hiệu chủ thể của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 27

2.2 Thực tiễn áp dụng dấu hiệu chủ thể của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 28

2.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 40

2.3.1 Kiến nghị sửa đổi Bộ luật hình sự 40

2.3.2 Kiến nghị hướng dẫn áp dụng Bộ luật hình sự 42

Kết luận Chương 2 44

KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, tình hình tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực quản lý con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức nói riêng diễn biến ngày càng đa dạng, phức tạp và có chiều hướng gia tăng cùng với sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sự bùng

nổ của khoa học công nghệ, internet, công nghệ in ấn… đã làm cho loại tội phạm này

có cơ hội thực hiện với nhiều hình thức đa dạng hơn, tinh vi hơn và phức tạp hơn Các hoạt động tội phạm như: Làm giả, mua bán, sử dụng các tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức được thực hiện dễ dàng hơn và thuận lợi hơn, từ đó đã làm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình hoạt động bình thường của các cơ quan, các tổ chức, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước, gây thiệt hại lớn không chỉ về tiền bạc, thời gian

mà cả uy tín, danh dự, niềm tin của công dân đối với các cơ quan, tổ chức và xã hội,

nó đã tác động và ảnh hưởng xấu đến hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm của

cơ quan bảo vệ pháp luật, sự thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước, sự tăng trưởng

và phát triển của nền kinh tế nước nhà trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Dự liệu được loại tội phạm này, từ Bộ luật hình sự năm 1985 các nhà lập pháp

đã có Điều luật quy định liên quan đến loại tội phạm này cụ thể: “Điều 211 - Tội giả

mạo giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan Nhà nước, của tổ chức xã hội” Tiếp tục

kế thừa, tiếp thu và có sửa đổi, bổ sung quy định từ Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 cũng có điều luật quy định cụ thể đối với loại tội phạm này:

Tại Điều 267: “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, nhằm đảm bảo

pháp luật phải được tôn trọng thực hiện nghiêm, mọi người phải sống, làm việc, học tập theo pháp luật Mọi hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội nói chung, hành vi làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi trái pháp luật sẽ bị xem là tội phạm và phải bị xử lý theo Bộ Luật hình sự Việt Nam

Trên cơ sở quy định tại Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm

1999, tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tiếp tục kế thừa các quy định về tội danh này và quy định cụ thể tội danh tại Điều 341: “tội làm giả

con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu các quy định của pháp luật

hình sự hiện hành tại “Điều 341, cũng như việc định tội danh đối với các hành vi tội phạm có liên quan vẫn còn một số bất cập nhất định cụ thể như:

Trang 7

Việc xác định hành vi khách quan của tội “tội làm giả con dấu, tài liệu của

cơ quan, tổ chức” còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa có sự thống nhất của các

cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cụ thể Đối với một hành vi thực hiện tội phạm giống nhaunhưng tại các bản án cụ thể đã có sự khác nhau trong việc xác định về khách thể tội phạm, khung hình phạt hoặc đối với các bản án có xác định giống nhau về khách thể tội phạm nhưng lại có sự khác nhau

về “từ ngữ” tên gọi đối với hành vi phạm tội như: “Tội làm giả con dấu, tài liệu

của cơ quan, tổ chức”; “tội làm giả tài liệu của cơ quan”…hoặc với cùng một

hành vi tội phạm có bản án xử về một khách thể tội phạm có bản án xử về hai khách thể tội phạm…

Từ những lý do nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Tội làm giả con dấu,

tài liệu của cơ quan tổ chức theo luật hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận

văn thạc sĩ của mình, nhằm phân tích, làm rõ các nội dung có liên quan, đồng thời

có ý kiến, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự nói riêng, pháp luật Việt Nam nói chung bằng một công trình khoa học cụ thể, mang tính khách quan, toàn diện, qua đó làm cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học về sau

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay trên thực tiễn, các công trình nghiên cứu về “tội làm giả con dấu,

tài liệu của cơ quan, tổ chức” là rất hạn chế và chưa có công trình nào nghiên cứu

một cách tập trung, đầy đủ và thống nhất Tác giả đã tiến hành nghiên cứu các nhóm công trình nghiên cứu sau:

* Các giáo trình luật hình sự:

- Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam Quyển 2 Phần các tội phạm, Trần

Thị Quang Vinh (chủ biên), Tp Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức, Hội luật gia Việt

Nam (2013)

- Giáo trình Bình luận khoa học BLHS năm (2015), (được sửa đổi, bổ sung

năm 2017); Nguyễn Ngọc Hòa – Chủ biên – NXB Tư pháp;

- Giáo trình Bình luận khoa học BLHS hiện hành; Nguyễn Đức Mai – Chủ

biên – NXB Chính trị Quốc gia sự thật;

- Giáo trình Bình luận khoa học BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng – Chủ biên – NXB Thế Giới;

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm – Trường Đại học

Luật Hà Nội – NXB Công an nhân dân,…

Trang 8

Những giáo trình nêu trên có nội dung chủ yếu chỉ dừng lại ở việc phân tích 04

dấu hiệu cấu thành tội phạm của “tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”

nói riêng, những nội dung phân tích đánh giá đối với các tội danh khác nói chung, chưa phải là một công trình khoa học đi sâu vào việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện các quy định và thực tiễn xét xử, áp dụng pháp luật

về “tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” Tuy nhiên, cần khẳng định

rằng đây là những tài liệu quan trọng sử dụng cho việc tham khảo khi nghiên cứu các

dấu hiệu pháp lý, lý luận về định tội danh đối với “tội làm giả con dấu, tài liệu của

cơ quan, tổ chức” cho tác giả khi thực hiện luận văn của mình

* Luận văn thạc sĩ:

Luận văn Thạc sỹ Luật học của sinh viên Hoàng Văn Bắc năm 2015 –

Trường Đại học Luật Quốc gia Hà Nội với đề tài: “tội làm giả con dấu, tài liệu của

cơ quan, tổ chức trong Luật hình sự Việt Nam” (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa

bàn tỉnh Phú Thọ)

Luận văn này là một công trình nghiên cứu khoa học, tuy nhiên đối tượng và phạm vi nghiên cứu được quy định tại Điều 267 BLHS năm 1999 (hiện nay đã hết hiệu lực) Mặt khác, phạm vi mà đề tài nghiên cứu chỉ gói gọn trong phạm vi đìa bàn một tỉnh cụ thể là Phú Thọ, nên hiện nay chỉ có giá trị tham khảo không còn giá trị áp dụng trên thực tế

* Các bài viết:

Hoàng Đình Duyên (2019) “Vướng mắc về tội làm giả tài liệu của cơ quan,

tổ chức và tội sử dụng con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức”, nguồn: http://

tapchitoaan.vn

Bài viết này nêu được một số vướng mắc trong việc xét xử của Tòa án về

“tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “tội sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và vấn đề áp dụng tình tiết cụ thể để định khung hình

phạt giữa một số bản án cụ thể Qua đó, tác giả có nêu quan điểm cá nhân về việc định tội danh và áp dụng hình phạt Tuy nhiên, vẫn chỉ dừng lại ở mức độ phân tích

của bài viết cá nhân về một khía cạnh tương đối nhỏ về “tội làm giả con dấu, tài

liệu của cơ quan, tổ chức”, chưa phải là một công trình nghiên cứu khoa học, chưa

nhận xét, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về một vấnđề đang vướng mắc, bất

cập theo quy định của pháp luật cũng như việc áp dụng pháp luật trên thực tiễn

- Vũ Thị Thúy, (2017), “một số vấn đề về các tội phạm được quy định tại các

Điều 339, 340,341 Bộ luật hình sự năm 2015”, Hội thảo cấp trường về “góp ý dự

Trang 9

thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015”, do Khoa

Luật - Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày / /năm 2017 tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Ở bài viết này, tác giả Vũ Thị Thúy đã nêu lên quy định về dấu hiệu pháp lý của các tội phạm được quy định tại các điều 339, 340 và 341 của BLHS năm 2015; một số điểm bất hợp lý về dấu hiệu định tội tại các Luật nầy, qua đó tác giả kiến nghị sửa đổi một số nội dung cho phù hợp Tuy nhiên, đây cũng chỉ dừng lại ở mức

độ của một bài viết với quy định bất cập được tác giả phát hiện qua phân tích, giải thích ở một số khía cạnh nhất định, vẫn chưa phải là một công trình nghiên cứu khoa học mang tính tổng quát và đi sâu vào thực tiễn phân tích những vướng mắc, bất cập giữa quy định của pháp luật hình sự hiện hành và quá trình áp dụng pháp luật trên thực tiễn

Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài về “tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan

tổ chức theo luật hình sự Việt Nam” để nghiên cứu làm Luận văn Thạc sỹ của

mình, qua đóphân tích, làm rõ thêm các vấn đề có liên quan mà các công trình khoa học, sách, báo, bài viết…trước đây còn bỏ ngỏ, chưa đề cập hoặc có đề cập nhưng còn mang tính khái quát, chưa cụ thể, nhằm làm cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học cho bản thân và xã hội hiện nay cũng như trong thời gian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là thông qua việc xác định những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS về xác định dấu hiệu hành vi

khách quan của tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” Từ đó, tác giả

đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS để khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án về

tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” Từ đó, tìm ra những vấn đề mà

các Cơ quan tiến hành tố tụng còn vướng phải trong việc xác định dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm này

Từ việc tìm ra những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, tác giả luận văn sẽ kiến nghị những giải pháp để hoàn thiện quy định của BLHS về xác định dấu hiệu hành vi khách quan của “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và dấu hiệu

Trang 10

định tội của tội phạm nàyđể làm căn cứ định tội danh và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật

4 Giới hạn đối tượng, phạm vi, nội dung nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy

định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tội làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm áp dụng thống nhất quy định của luật hình sự về tội phạm này

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trong lãnh

thổ đất nước Việt Nam thông qua các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, cụ thể là quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Trong đề tài, tác giả có nghiên cứu một số bản án áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về tội làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để phân tích, nhận xét, đánh giá Thời gian nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2019

4.3 Nội dung nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hình sự hiện hành

(BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về “tội làm giả, con dấu, tài liệu

của cơ quan, tổ chức”, qua đó tác giả phân tích đánh giá và nêu ra những vướng mắc bất cập từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện; việc áp dụng quy định của pháp luật đối với quá trình xét xử thực tế thông qua các bản án cụ thể liên quan đến “tội làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, qua đó tác giả nêu, phân tích những vướng mắc, bất cập từ đó kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm

Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích, đánh giá các vụ

án xét xử trong thực tiễn và đánh giá các quy định của pháp luật Qua đó, phân tích quy định của pháp luật hình sự hiện hành về các vấn đề liên quan đến hoạt động định tội của tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” Phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp và khái quát kết quả nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu án điển hình được sử dụng để bình luận các bản án trong thực tiễn xét xử vào nội dung đề tài nghiên cứu

Trang 11

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu, đề tài góp phần làm rõ các dấu hiệu pháp lý và đánh giá thực tiễn áp dụng tội làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài này là một nguồn tài liệu tham khảo giúp các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất quy định của BLHS về tội làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và người nghiên cứu pháp luật hình sự biết thêm

về thực tiễn áp dụng tội làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

7 Bố cục của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm

Trang 12

CHƯƠNG 1 DẤU HIỆU HÀNH VI KHÁCH QUAN CỦA TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆUCỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC

1.1 Quy định của pháp luật về dấu hiệu hành vi khách quan của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

Mặt khách quan của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, thể hiện qua việc người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi khách quan, đó

là hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức Trong quá trình định tội danh đối với tội phạm này, nếu người phạm tội chỉ làm giả con dấu thì

chỉ định tội là "làm giả con dấu của cơ quan, tổ chức" hoặc người phạm tội chỉ làm giả tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức thì chỉ định tội là "làm giả tài liệu,

giấy tờ của cơ quan tổ chức" Bên cạnh đó, nếu người phạm tội bằng tài năng của

mình mà thực hiện hành vi vẽ, đóng dấu hình con dấu giả lên tài liệu, giấy tờ, thì hành vi này vừa là hành vi làm giả con dấu, vừa là hành vi làm giả tài liệu và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh đầy đủ như điều luật quy định (chỉ phạm 1 tội)

Hành vi thứ hai thuộc mặt khách quan của tội phạm theo quy định tại Điều

341 BLHS năm 2015 là hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân như: Dùng bằng tốt nghiệp giả để xin việc, xin

đi học, để được xem xét bổ nhiệm, tăng lương; dùng giấy phép lái xe giả để được nhận lái xe cho cơ quan, tổ chức, cá nhân…

Cả hai tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đều có cấu thành tội phạm hình thức Đối với tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, trong mặt khách quan nhà làm luật quy định hành vi phạm tội kép, người phạm tội phải thực hiện hai hành vi khách quan là: hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả đó và thực hiện hành vi trái pháp luật thì mới bị xem là tội phạm

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 thì “tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” có hai cách hiểu khác nhau về dấu hiệu khách quan của tội phạm này, thông qua nội dung phân tích sau:

Cách hiểu thứ nhất: “Người phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi làm giả con

dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức đã bị coi là phạm tội và tội phạm

đã hoàn thành Dấu hiệu “thực hiện hành vi trái pháp luật ” chỉ là dấu hiệu khách quan của tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; trong tội làm giả con

Trang 13

dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức không cần người phạm tội phải có dấu hiệu này Ví dụ: A thực hiện hành vi làm giả con dấu của Ngân hàng X chi nhánh Y, A khoe với B

về việc này và A chưa thực hiện bất kỳ hành vi trái pháp luật nào thì đã thỏa mãn các

Theo quan điểm của tác giả không đồng tình với cách hiểu này, bởi với một chủ thể nào đó chỉ thực hiện hành vi tạo ra mẫu tài liệu, con dấu “giả” của cơ quan, tổ chức vì muốn chứng minh tài năng, năng khiếu đặc biệt của mình nhưng không thực hiện bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào mà bị xem là phạm pháp hình sự là chưa phù hợp Rõ ràng hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa “đáng kể” để quy kết là tội phạm, về động cơ, mục đích và mặt khách quan của tội phạm là không thỏa mãn, mối liên hệ về nguyên nhân và hậu quả của hành vi thực hiện tội phạm cũng không xảy ra Mặt khác, mục đích của hình phạt trong hình sự không chỉ hướng đến trừng trị mà còn mang tính giáo dục, răn đe người phạm tội, dẫn dắt họ sửa chữa sai lầm và hướng họ đến những mặt tích cực giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội Đối với những hành vi tuy nguy hiểm nhưng chưa “đáng kể” cho xã hội nếu chúng ta xem là tội phạm thông qua áp dụng chế tài hình sự thì một mặt vô tình tự tạo áp lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng thông qua việc phải điều tra, xét xử nhiều bản án hơn, tạo gánh nặng cho xã hội bởi có nhiều tội phạm hơn, một mặt gây nên suy nghĩ tiêu cực đối với người bị kết án là tội phạm hình sự trong khi hành vi của họ chỉ dừng lại ở mức độ chỉ cần giáo dục, răn đe nhắc nhở hoặc chỉ xem xét ở mức độ xử phạt vi

phạm hành chính Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 8 BLHS năm 2015 đã quy định:

“Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”

Cách hiểu thứ hai: Mặt khách quan của tội phạm này đòi hỏi người phạm tội

phải thực hiện 2 hành vi là: hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của

cơ quan, tổ chức và thực hiện hành vi trái pháp luật Như vậy, “thực hiện hành vi trái pháp luật” là dấu hiệu khách quan chung của cả hai tội làm giả con dấu, tài liệu của

cơ quan, tổ chức và tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức Với cách hiểu này, nếu A thực hiện hành vi làm giả con dấu của Ngân hàng X chi nhánh Y, A khoe với B về việc này và A chưa thực hiện bất kỳ hành vi trái pháp luật nào thì A

1

Vũ Thị Thúy (2017), “một số vấn đề về các tội phạm được quy định tại các Điều 339, 340,341 Bộ luật hình

sự năm 2015”, Hội thảo cấp trường về “góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự

năm 2015”, do Khoa Luật - Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày / /năm 2017 tại Trường

Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang 14

không phạm tội Nếu A thực hiện hành vi làm giả con dấu của X chi nhánh Y, A đã sử

Tác giả bài viết cho rằng cách hiểu thứ hai hợp lý hơn Có nghĩa là người làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức chỉ bị coi là phạm tội nếu họ thực hiện hành vi trái pháp luật Nếu làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức nhưng không thực hiện bất kỳ hành vi trái pháp luật nào thì chưa nguy hiểm đáng kể cho

xã hội nên không cần quy định là tội phạm mà chỉ cần xử phạt vi phạm hành chính

Tác giả đồng ý theo cách hiểu này, rõ ràng đây là hình vi nguy hiểm “đáng kể” cho xã hội, các yếu tố về tội phạm đã thỏa mãn cần phải được xử lý chế tài theo quy định của pháp luật hình sự

Có một vấn đề đặt ra nữa là trường hợp người phạm tội thực hiện hành “làm

giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”, đồng thời thực hiện hành vi dùng con

dấu, tài liệu giả đó để “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thì xử mấy tội danh, một tội là tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” hoặc tội “lừa đảo chiếm đoạt

tài sản” hay đồng thời xét xử cả hai tội danh là “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Hiện nay trên thực tế xét xử (thông qua các bản án sẽ được tác giả nêu ở

phần sau) cũng như nhận định của các chuyên gia, diễn giả làm việc, công tác trong

ngành pháp luật vẫn có hai luồng ý kiến trái ngược nhau cụ thể:

* Quan điểm thứ nhất: Chỉ xử một tội là tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,

tác giả xin trích tóm tắt nội dung vụ án và phân tích như sau:

- Quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng:

Vụ thứ nhất: Theo hồ sơ, tháng 7/2013, Tuyết đến thuê ở phòng trọ của bà

NTH tại một con hẻm trên đường Lương Định Của (phường An Khánh, quận 2) Thời gian ở trọ, Tuyết nhiều lần mượn tổng cộng hơn 88 triệu đồng của bà H

Tháng 9/2013, Tuyết nghe lời một người quen làm giả giấy đỏ của dì Tuyết

để đưa cho bà H làm tin Người này giới thiệu cho Tuyết một người chưa rõ lai lịch nhận làm giả giấy đỏ với giá 10 triệu đồng

Có giấy đỏ giả, Tuyết đưa cho bà H để mượn thêm tiền nhưng bà H yêu cầu giấy đỏ phải được sang tên cho Tuyết thì mới nhận thế chấp Tuyết lại nhờ người

làm giấy đỏ giả mang tên Tuyết với giá 24 triệu đồng (Tuyết nói dối bà H là tốn

thêm 24 triệu đồng phí sang tên nên mượn số tiền này)

2

Vũ Thị Thúy (2017), tlđd (1)

Trang 15

Đến ngày 10/10/2013, Tuyết đưa giấy đỏ giả mang tên mình cho bà H để vay

200 triệu đồng Cấn trừ tiền nợ trước đó, bà H đưa cho Tuyết 88 triệu đồng Hai bên làm giấy vay tiền, hẹn 60 ngày sau Tuyết sẽ trả cả vốn lẫn lãi

Đến hạn, Tuyết không trả tiền, bà H nghi ngờ đem giấy đỏ đi hỏi thì phát hiện giấy giả nên báo công an Các cơ quan tố tụng quận 2 đã khởi tố, truy tố, xét

xử, kết án Tuyết hai năm sáu tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều

139 BLHS3

Hoặc tại một vụ án khác cơ quan tố tụng cũng xử về một tội danh là “lừa đảo

chiếm đoạt tài sản” tác giả xin trích dẫn như sau:

Vụ thứ hai: Theo hồ sơ, ngày 30/12/2013, ông Nguyễn Trọng Nghĩa đã lập

hợp đồng ủy quyền có công chứng cho Trần Tiến Dũng để bán một chiếc xe máy Honda@, đồng thời giao cho Dũng giấy chứng nhận đăng ký xe Đến tháng 8/2014,

do muốn bán lại xe với giá cao hơn, Dũng đã nhờ người không rõ lai lịch làm giấy chứng nhận đăng ký xe giả với giá 5 triệu đồng (trong giấy giả, xe được biến thành Honda SH) Hai tháng sau, Dũng bán xe cho một người với giá 58 triệu đồng (hợp đồng bán xe có công chứng) Sau đó, người mua xe đem xe đến Đội CSGT quận Gò Vấp (TP.HCM) làm thủ tục sang tên thì bị tạm giữ xe4

- Quan điểm của diễn giả chuyên ngành pháp luật:

Trong các trường hợp trên chỉ nên xử nghi can về một tội là lừa đảo chiếm đoạt tài sản bởi tội này thể hiện mục đích mà nghi can hướng tới Hành vi làm giả giấy tờ chỉ là một thủ đoạn gian dối của hành vi lừa đảo nên xét xử các bị cáo về hai tội độc lập là không hợp lý5

Hành vi làm giấy tờ giả của các nghi can đã bị thu hút vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên chỉ cần xét xử một tội này là phù hợp với nguyên tắc suy đoán có lợi cho nghi can Dấu hiệu đặc trưng của tội lừa đảo là dùng thủ đoạn gian dối Các nghi can làm giấy tờ giả nhằm mục đích đưa cho người bị hại làm tin Việc lừa đảo là một chuỗi hành vi làm giả giấy tờ, dụ dỗ và kết thúc là chiếm đoạt được tiền của nạn nhân6

Trang 16

Tác giả không đồng tình với hướng xét xử và nhận định chỉ xử về một tội

danh là “lừa đảo, chiếm đoạt tài sản” bởi các lý do sau:

Hành vi thực hiện tội phạm đã xâm phạm đến 02 khách thể độc lập với nhau

đã được quy định theo pháp luật hình sự

Tội phạm thứ nhất đã hoàn thành kể từ khi hành vi “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” được thực hiện xong và tội phạm thứ hai được hình thành kể

từ khi người phạm tội sử dụng con dấu, tài liệu giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của

bị hại và tội phạm hoàn thành khi hành vi lừa đảo được thực hiện xong

* Quan điểm thứ hai: Phải xử cả hai tội danh là tội “lừa đảo chiếm đoạt tài

sản” và tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tác giả xin trích tóm

tắt nội dung vụ án và phân tích như sau:

- Quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng:

Vụ thứ nhất: (Nêu trên)

Bản án sơ thẩm đã bị kháng nghị phúc thẩm Theo Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thành phố Hồ Chí Minh, hành vi làm giả giấy đỏ mang tên mình của Tuyết nhằm mục đích vay và đã lừa dối vay được tiền chưa bị cấp sơ thẩm xử lý Trong trường hợp này, Tuyết có dấu hiệu phạm thêm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 267 BLHS năm 1999 Cấp sơ thẩm không xử lý Tuyết về tội này là bỏ lọt tội phạm7

Vụ thứ hai: (Nêu trên)

Bản án sơ thẩm cũng bị VKSND thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Nhận thấy hành vi của Dũng làm giả giấy tờ xe nhằm mục đích gian dối, bán lại cho người khác để thu lợi bất chính Tại các biên bản hỏi cung, Dũng thừa nhận mục đích làm giấy đăng ký xe giả là để bán được xe với giá cao hơn Trên thực

tế, Dũng đã thực hiện hoàn thành hành vi gian dối này Người bị hại đã tưởng giả là thật nên đã mua xe Như vậy, hành vi của Dũng đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Hành vi làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe là thủ đoạn bị cáo dùng để thực hiện hành vi lừa đảo, đồng thời đã cấu thành một tội độc lập là tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” Việc cấp sơ thẩm chỉ truy tố, xét xử bị cáo về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức là bỏ lọt tội phạm

7

http://luatsuadong.vn/chi-tiet-tin/2750-dung-giay-to-gia-lua-dao-xu-may-toi.html (truy cập lúc 12h45, ngày 12/10/2019 - chủ nhật)

Trang 17

- Quan điểm của diễn giả chuyên ngành pháp luật:

Việc xử lý một hay hai tội còn tùy thuộc vào đánh giá của cơ quan pháp luật với từng trường hợp cụ thể Nếu nghi can làm giả giấy tờ nhiều lần, giấy tờ liên quan đến nhà, đất cũng như thủ đoạn tinh vi và lừa nhiều người thì phải xử cả hai tội là lừa đảo và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Cũng cần nhấn mạnh thêm tội làm giả giấy tờ của nghi can đã hoàn thành sau khi đã làm xong bộ giấy tờ giả Tiếp

đó, nghi can dùng giấy tờ giả đi thực hiện hành vi phạm tội khác là lừa đảo8

Trong thực tiễn xét xử, có thể vì thấy hành vi làm giả giấy tờ có tính nguy hiểm không cao nên các cơ quan tố tụng chỉ xử một tội là lừa đảo Tuy nhiên, trường hợp làm giả giấy tờ rồi đem đi lừa đảo, về lý thuyết đã cấu thành hai tội độc lập Để răn đe và phòng ngừa tội phạm, trong các trường hợp việc làm giả giấy tờ mang tính nguy hiểm cao (lừa tài sản có giá trị rất lớn, làm giả nhiều giấy tờ, lừa nhiều người ) thì cần phải xử cả hai tội mới nghiêm minh9

Tác giả đồng tình với quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng và các diễn giả về việc cần xét xử theo hướng định hai tội danh độc lập bởi các lý do sau:

Trên thực tế 02 khách thể tội phạm đã bị xâm hại là trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước và quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân;

Đảm bảo tính chính xác của hành vi thực hiện tội phạm và quá trình áp dụng hình phạt của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời đảm bảo tính răn đe, nghiêm minh của pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và các nội dung phân tích đã được các diễn giả nêu ở phần trên;

Phù hợp và thỏa mãn về yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự

1.2 Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hành vi khách quan của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

Hiện nay, trong quá trình giải quyết các vụ án thực tế vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Đặc biệt, các Tòa án còn có nhiều quan điểm khác nhau khi xét xử về hành vi này

Thứ nhất, thực tiễn phân biệt hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

Tác giả xin nêu một số vụ án cụ thể như sau:

Trang 18

tô BKS 92A - 036.87 của T để ra vào sân bay không tốn phí Đến năm 2018, do chính sách của Cảng hàng không khó khăn nên Cảng hàng không quốc tế Đà Nằng không cấp thêm thẻ ưu tiên Vào đầu tháng 3/2018, T mượn xe ô tô BKS 43A - 267.35 của Hoàng Minh L để đi lại thì thấy trên xe của L có thẻ ưu tiên cấp cho xe 43A - 267.35, sử dụng trong năm 2018 Để khỏi tốn tiền phí ra vào sân bay Đà Nẵng, T đến tiệm photocoppy tại địa chỉ 123 đường C, phường G gặp nhân viên của tiệm là

Hồ Văn Tấn Đ Tại đây, T đưa cho Đ thẻ ưu tiên lấy trên xe của L và nhờ Đ làm giúp 03 thẻ ưu tiên giả để ra vào Sân bay Đà Nẵng cho 03 xe ô tô có BKS 92A - 035.73, 92A - 046.41 và 92A - 030.62 cho T và bạn T là Thái Kế M và Đ nhận lời

Đ đưa thẻ ưu tiên này vào máy Scan nhãn hiệu HP Scanjet 200 và quét hình ảnh của thẻ ưu tiên rồi đưa lên máy tính Đ sử dụng phần mềm Corel X5 trên máy tính để chỉnh sửa biển số xe 43A-267.35 thành 92A-035.73, 92A-046.41 và 92A-030.62 theo yêu cầu của T và in ra, ép plastic Chiều cùng ngày, T quay lại lấy và trả tiền công cho Đ 200.000 đồng

Sau khi có các thẻ ưu tiên giả này, T đã sử dụng để ra vào cổng soát vé của Sân bay Đà Nẵng không mất phí Từ ngày 19/3/2018 đến ngày 16/5/2018, Lê Xuân T

đã đưa vào sử dụng thẻ ưu tiên giả để ra vào Sân bay Đà Nẵng không tốn phí 10.000 đồng/lượt, cụ thể: Xe ô tô BKS 92A-046.41 là 13 lượt, xe ô tô BKS 92A- 035.73 là 14 lượt, xe ô tô biển số 92A-030.62 của ông Thái Kế M là 18 lượt Tổng cộng các xe đã

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSHA ngày 22/01/2019 của VKSND thành phố

Hội An truy tố các bị cáo Hồ Văn Tấn Đ về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan,

tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015 và Lê Xuân T về tội

“Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341

Trang 19

Tại phần nhận định của HĐXX đã thể hiện: Hành vi làm giả 03 thẻ ưu tiên và con dấu Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng của Hồ Văn Tấn Đ đã cấu thành tội

“Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341

BLHS năm 2015 và Lê Xuân T đã sử dụng các thẻ ưu tiên này nhiều lần vào, ra Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng nhằm không thanh toán tiền phí đã cấu thành tội

“Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2

Điều 341 BLHS năm 2015 Qua đó, quyết định tuyên bố:

Bị cáo Hồ Văn Tấn Đ phạm tội “Làm giả tài liệu cúa cơ quan, tổ chức”, theo điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015 với mức phạt là 12 (Mười hai) tháng tù

nhưng cho hưởng án treo

Bị cáo Lê Xuân T phạm tội“Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015 với mức phạt là 18 (Mười tám) tháng tù

nhưng cho hưởng án treo

Đồng thời, áp dụng khoản 2, 3 Điều 35; khoản 4 Điều 341 BLHS năm 2015

phạt bổ sung mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)

Theo quan điểm của tác giả việc kết luận xét xử của TAND thành phố Hội

An, tỉnh Quảng Nam là chưa hoàn toàn phù hợp bởi lý do sau:

Qua xem xét hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo Hồ Văn Tấn Đ là “đưa

thẻ ưu tiên (thẻ thật) vào máy Scan nhãn hiệu HP Scanjet 200 và quét hình ảnh của thẻ ưu tiên rồi đưa lên máy tính Đ sử dụng phần mềm Corel X5 trên máy tính để chỉnh sửa biển số xe 43A-267.35 thành 92A-035.73, 92A-046.41 và 92A-030.62 theo yêu cầu của T và in ra, ép plastic’’ Rõ ràng Hồ Văn Tấn Đ không có hành vi

nào là làm giả con dấu như: khắc, đục, tạo mẫu dấu mà chỉ là hành vi làm giả (nhân bản) tài liệu thật của của cơ quan tổ chức và có tác động chỉnh sửa (tạo thành tài liệu giả), mặc nhiên trong tài liệu đó bao gồm cả con dấu của cơ quan có thẩm quyền, trường hợp nếu không có con dấu đóng vào tài liệu đó thì giá trị pháp lý của tài liệu đó là không đảm bảo

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An truy tố bị cáo Hồ Văn Tấn Đ về tội

“Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là phù hợp với hành vi tội phạm đã thực

hiện, tuy nhiên tại phần nhận định của Hội đồng xét xử đã thể hiện: Hành vi làm giả

03 thẻ ưu tiên và con dấu Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng của Hồ Văn Tấn Đ đã

cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”là chưa đảm bảo

chính xác đối với hành vi thực hiện tội phạm

Trang 20

Theo cáo trạng của VKSND truy tố bị cáo Hồ Văn Tấn Đ tội “Làm giả tài

liệu của cơ quan, tổ chức”; bị cáo Lê Xuân T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” Ở phần nhận định của HĐXX thì bị cáo Đ đã cấu thành tội “Làm

giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, bị cáo T cấu thành tội “Sử dụng con

dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tuy nhiên, ở phần tuyên bố bản án thì

HĐXX sử dụng là “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Sử dụng tài liệu giả

của cơ quan, tổ chức” là chưa có sự thống nhất trước sau về “từ ngữ” và giữa các

cơ tiến hành tố tụng

Đối với bị cáo Lê Xuân T, yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ

quan, tổ chức” là đã rõ tác giả không phân tích thêm, tuy nhiên vấn đề đặt ra ở

trường hợp này là T có đồng phạm với vai trò là người xúi giục Đ thực hiện hành vi

về tội “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” không? Theo quan điểm của tác giả

việc Tòa án xét xử không đồng phạm là phù hợp vì:

Hành vi phạm tội của T là nhờ Đ làm 03 thẻ ưu tiên nhằm sử dụng vào việc

ra vào Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng không phải mất tiền, hành vi nhờ Đ làm thẻ giả là tiền đề, điều kiện để thực hiện việc sử dụng thẻ giả để ra vào cảng Đây cũng là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội “sử dụng tài liệu giả” nên việc Tòa án nhân dân thành phố Hội An chỉ truy cứu T một tội là “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là phù hợp

Tương tự vụ án thứ nhất, tuy nhiên, việc định tội danh và hình thức áp dụng hình phạt trong bản án đã có một số điểm khác biệt nhất định cụ thể như sau:

Vụ án thứ hai: Bản án số 26/2018/HSST ngày 20/4/2018 của TAND thị xã

Tân Uyên (TU), tỉnh Bình Dương (BD) Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

“Nguyễn Minh Q và bà Nguyễn Thị Nh (sinh năm 1984, HKTT: xã Hương Ngãi, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội) là vợ chồng theo Quyết định chứng nhận kết hôn số 54 ngày 14/10/2004 (BL 113)

Trong quá trình chung sống giữa Q và bà Nh xảy ra mâu thuẫn trầm trọng và

cả hai xác định hôn nhân không thể kéo dài nên cuối năm 2008 Q đã nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội giải quyết việc ly hôn giữa Q với Nh, tuy nhiên vì Nh không có mặt tại địa phương do đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nên TAND huyện Thạch Thất không thụ lý Đến khoảng đầu năm 2009, Q đến thị xã TU, tỉnh BD để sinh sống và làm việc Năm 2013, Q quen biết và sống chung với bà Lê Thị H Năm 2014, Q và bà H có một người con chung tên Nguyễn Lê Anh Tuấn Do Q và bà H chưa đăng ký giấy chứng nhận kết hôn nên

Trang 21

Q và bà H không làm giấy khai sinh cho con tên Nguyễn Lê Anh Tuấn được Khoảng tháng 10/2014, Q gặp một người bạn tên Khiêm và một người tên Long (không rõ nhân thân, lý lịch), khi nói chuyện với nhau thì Q nói cho Khiêm và Long nghe việc Q có một người con mà chưa làm giấy khai sinh được vì chưa làm thủ tục

ly hôn với bà Nh Đối tượng Long nói với Q là làm được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho Q để đăng ký kết hôn lần 2, với điều kiện Q đưa cho Long giấy chứng minh nhân dân cùng sổ hộ khẩu của Q bản photocopy và số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) Trong thời gian khoảng một tháng Long sẽ làm xong Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân cho Q thì Q đồng ý và biết Long làm Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân giả để nhằm lừa dối Cơ quan chức năng Khoảng đầu tháng 11/2014, Long đưa cho Q Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 363/UBND - XN ngày 06/11/2014 có chữ ký của ông Cấn Văn Hg và mộc dấu của UBND xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội

Ngày 12/11/2014, Q đến UBND phường UH, thị xã TU, tỉnh BD nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân giả số 363/UBND - XN ngày 06/11/2014 có chữ ký ông Cấn Văn Hg để làm thủ tục đăng ký kết hôn với bà H Ngày 12/11/2014, UBND phường UH cấp giấy chứng nhận kết hôn cho Q và bà H Qua xác minh, ngày 28/6/2017, UBND xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội phát hiện Q

đã đăng ký kết hôn lần 2 nhưng chưa làm thủ tục ly hôn với bà Nh nên đã gửi Công văn số 39/UBND-VP ngày 04/8/2017 đến UBND phường UH, thị xã TU, BD đề nghị xử lý Căn cứ, theo nội dung công văn của UBND xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội thì UBND phường UH, thị xã TU, tỉnh BD đã thẩm tra và

ra Quyết định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của Nguyễn Minh Q với bà

H Đồng thời có công văn gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã TU đề nghị

xử lý hành vi của Q Quá trình điều tra, Q đã khai nhận hành vi đưa giấy chứng minh nhân dân và hộ khẩu photocopy và 10.000.000 đồng cho Long để làm giấy

Riêng đối tượng Long (không rõ nhân thân, lý lịch) đã nhận làm Giấy xác

nhận tình trạng hôn nhân giả rồi giao lại cho Q, kết quả điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân, lý lịch Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau

11

Bản án số 26/2018/HSST ngày 20/4/2018 của TAND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, nguồn: http://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta148535t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập ngày 15/10/2019)

Trang 22

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS-TU ngày 29-3-2018 của VKSND thị xã Tân

Uyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu

giả của cơ quan ” theo khoản 1 Điều 341 của BLHS năm 2015

Tại phần nhận định của HĐXX đã thể hiện: Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh

Q đã phạm vào tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan” theo khoản 1

Điều 341 của BLHS năm 2015 Qua đó, TAND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả

của cơ quan" Qua đó, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 40.000.000 đồng (Bốn mươi

triệu đồng)

Qua nghiên cứu tình tiết của vụ án, theo quan điểm của tác giả việc VKSND

thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “sử dụng con dấu hoặc

tài liệu giả của cơ quan” và TAND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tuyên bố bị

cáo với tội “sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan” là chưa hoàn toàn phù

hợp vì:

Tương tự như hành vi phạm tội của bị cáo Lê Xuân T ở vụ án thứ nhất, ở vụ

án này bị cáo Nguyễn Minh Q thực hiện hành vi phạm tội thông qua việc nhờ Long làm giả giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm sử dụng vào việc hợp thức hóa hồ

sơ để làm giấy chứng nhận kết hôn với bà Lê Thị H, đồng thời làm giấy khai sinh cho con tên Nguyễn Lê Anh Tuấn mặc dù trước đó Q chưa làm thủ tục ly hôn với

bà Nguyễn Thị Nh Biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng Q vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra Hành vi nhờ Long làm giấy xác nhận tình trạng hôn nhân giả là tiền đề, điều kiện và hậu quả tất yếu để Q thực hiện hành vi sử dụng vào mục đích phạm pháp

Bị cáo Nguyễn Minh Q không có hành vi làm, sản xuất con dấu giả bằng các chất liệu như: kim loại, gỗ…để thực hiện hiện hành vi trái pháp luật mà Q chỉ dùng

“tài liệu giả” đó là giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (được làm giả, không được cấp trên thực tế) để nộp cho cơ quan có thẩm quyền nhằm thực hiện nhu cầu lợi ích bất hợp pháp của bản thân, tất nhiên trong tài liệu đó bao gồm cả con dấu của cơ quan có thẩm quyền Trường hợp nếu không có con dấu đóng vào tài liệu đó thì giá trị pháp lý của tài liệu đó là không đảm bảo (như đã nêu ở vụ án thứ nhất)

Vì vậy, việc VKSND thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm

tội “sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan” và TAND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tuyên bố bị cáo với tội “sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ

quan” là chưa hoàn toàn phù hợp với bản chất hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo

Trang 23

Q Theo quan điểm của tác giả với hành vi khách quan của tội phạm mà bị cáo Q đã thực hiện thì các cơ quan tiến hành tố tụng nên định tội danh với nội dung là “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” mới đảm bảo tính chính xác và phù hợp

Đối chiếu vụ án thứ nhất và vụ án thứ nhất ta thấy: Về bản chất thực hiện hành vi tội phạm của bị cáo Lê Xuân T và Nguyễn Minh Q là hoàn toàn giống nhau

được quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 đó là tội “Tội làm giả con dấu, tài liệu

của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” Tuy

nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan tiến hành tố tụng đã không đảm bảo được sự thống nhất trong việc định tội danh và áp dụng hình phạt đó là:

“Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”hay “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

Về hình thức áp dụng hình phạt cụ thể: Ở bản án thứ nhất cơ quan tiến hành

tố tụng áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính, còn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung; đối với vụ án thứ hai, cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và không có hình phạt bổ sung

Điều này cho thấy với một hành vi thực hiện tội phạm giống nhau và áp dụng cùng một điều luật (Điều 341) của BLHS năm 2015 nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng đã không áp dụng một cách thống nhất, đồng bộ Đây là vướng mắc, bất cập cần được điều chỉnh, hướng dẫn, sửa đổi bổ sung cụ thể bởi các cơ quan có thẩm quyền

Thứ hai, thực tiễn áp dụng hành vi làm giả, con dấu, tài liệu của cơ quan,

tổ chức trong trường hợp thực hiện hành vi này để lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trong quá trình lừa đảo chiếm đoạt tài sản, để tạo sự tin tưởng cho nạn nhân, nhiều bị cáo thực hiện hành vi gian dối bằng cách làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, có những vụ án người phạm tội thực hiện hành vi tương tự nhau, có nơi chỉ xử về một tội là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có nơi xử về hai tội là lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

Vụ án thứ ba: Bản án số 128/2010/HSST ngày 11/5/2010 của TAND thành

phố Hồ Chí Minh Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

“Công ty TNHH Parkson Hải Phòng là công ty 100% vốn nước ngoài thành lập nhiều chi nhánh trên cả nước, trong đó có 02 chi nhánh là Trung tâm thương mại Parkson Hùng Vương, Trung tâm thương mại Parkson Sài Gòn Để phục vụ cho việc kinh doanh, Công ty thực hiện chương trình khuyến mãi phiếu tặng quà cho khách hàng mua hàng hóa tại hệ thống Parkson trong hạn mức, trong dịp lễ

Trang 24

hoặc phiếu được bán cho khách hàng có nhu cầu để khách hàng dùng phiếu mua hàng hóa trong tất cả các trung tâm mua sắm của Parkson trên toàn quốc nhưng không được quy đổi thành tiền Phiếu quà tặng được coi là hợp lệ khi còn trong thời hạn sử dụng và có đầy đủ 3 chữ ký gồm: chữ ký của Tổng Giám đốc, Quản lý trung tâm hoặc Trợ lý quản lý trung tâm và Trưởng thu ngân trung tâm Trường hợp Tổng Giám đốc đi vắng sẽ ủy quyền lại cho Quản lý trung tâm hoặc Trợ lý quản lý trung tâm ký trên phiếu quà tặng Khi giao dịch mua bán hàng hóa bằng phiếu quà tặng hoàn tất, công ty Parkson Hải Phòng có trách nhiệm quy đổi các phiếu quà tặng thành tiền, ghi nhận doanh thu và thanh toán lại cho các đơn vị bán hàng

Ngày 28/11/2008, chị Phan Thị Hồng Liên, Trưởng thu ngân của Trung tâm thương mại Parkson Hùng Vương nhận 2.000 phiếu quà tặng có mệnh giá 100.000 đồng và 500.000 đồng tương ứng với số tiền 600.000.000 đồng để ký và phát hành cho khách hàng Chị Liên giao cho Trần Long Ngân, Trợ lý quản lý trung tâm, ký tên trên phiếu quà tặng Khoảng 24 giờ cùng ngày, Ngân giao lại số phiếu trên cho chị Liên để ký và đóng dấu hạn sử dụng Lát sau chị Liên quay lại báo cho Ngân biết thiếu 160 phiếu quà tặng mệnh giá 500.000 đồng tương ứng với số tiền 80.000.000 đồng, Ngân nói là số phiếu này bị thất lạc đâu đó chứ không thể mất Chị Liên đã trình bày việc mất phiếu quà tặng cho Quản lý trung tâm và thông báo cho tất cả các cửa hàng trong hệ thống Parkson trên cả nước biết số seri các phiếu bị mất

Khi Ngân trở lại bàn làm việc và phát hiện 160 phiếu quà tặng trong ngăn kéo nên nảy sinh ý định chiếm đoạt số phiếu này để mua hàng tại hệ thống Parkson nên đem về nhà cất giấu Sau đó, Ngân giả chữ ký của chị Liên ở mặt sau phiếu và

ra đường Phạm Hồng Thái, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 con dấu ngày tháng năm về đóng trên mục ngày hết hạn sử dụng của phiếu, nhưng do sơ suất nên Ngân đóng nhầm ngày 16/11/2008 nên Ngân gạch bỏ, ký tên mình bên cạnh để xác nhận và đóng lại ngày khác là ngày 16/11/2009, 23/11/2009, 28/11/2009 Khoảng

08 giờ 00 ngày 30/11/2008, Ngân đến nhà bạn là anh Trần Hữu Phát chơi và cho anh Phát 06 phiếu quà tặng Sau đó, Ngân gọi cho anh Phát hỏi có mua hàng được không, anh Phát nói đã dùng 06 phiếu trên mua được 01 đôi giầy, 01 áo sơ mi, 01

áo gió tại Trung tâm thương mại Sài Gòn Khoảng 09 giờ cùng ngày, Ngân dùng 04 phiếu quà tặng mua được 02 chai dầu thơm tại Trung tâm thương mại Sài Gòn Khoảng 17 giờ cùng ngày, Ngân rủ anh Phát đem số phiếu quà tặng còn lại đến Trung tâm thương mại Sài Gòn vào quầy vàng bạc đá quý của Công ty cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) để mua nhẫn hột xoàn 4,5 ly với giá 40.195.000

Trang 25

đồng, Ngân sợ bị phát hiện nên đi ra ngoài để anh Phát ở lại đưa phiếu quà tặng thanh toán Nhân viên bán hàng đưa anh Phát đến quầy thu ngân thanh toán, anh Phát đưa 80 phiếu quà tặng tương ứng 40.000.000 đồng và 200.000 đồng tiền mặt

để thanh toán, nhân viên thu ngân viết giấy biên nhận đã thu đủ tiền nên quầy hàng PNJ giao chiếc nhẫn kim cương và giấy tờ liên quan cho anh Phát và Ngân Ngân cầm nhẫn ra trước, anh Phát ở lại quầy để nhận phiếu quà tặng do mua hàng vượt hạn mức Một lúc sau, Quản lý trung tâm thương mại Parkson Sài Gòn thông báo cho nhân viên quầy hàng PNJ số phiếu anh Phát thanh toán là không hợp lệ nên báo Công an phường Bến Nghé đến giải quyết Anh Phát báo cho Ngân biết sự việc, Ngân liền xé bỏ khoảng 10 phiếu quà tặng rồi đem chiếc nhẫn kim cương cùng giấy

tờ về nhà cất giấu (sau này ông Trần Công Võ là cha Ngân phát hiện nên đem giao nộp lại chiếc nhẫn, cơ quan điều tra đã lập biên bản trả Công ty cổ phần vàng bạc

Tại bản cáo trạng số 26/VKS-P1A ngày 27/01/2010 của VKSND thành phố

Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Long Ngân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo

khoản 1 Điều 139 BLHS năm 1999

Tại phần nhận định của HĐXX đã thể hiện: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người liên quan, nguyên đơn dân sự, người làm chứng, tang vật thu được, … Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Long Ngân có hành vi gian

dối để chiếm đoạt tài sản, nên phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Tội phạm và

hình phạt được quy định tại Điều 139 BLHS năm 1999 Qua đó, xét xử bị cáo Trần

Long Ngân phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù

Theo quan điểm của tác giả việc VKSND thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố

Trần Long Ngân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử bị cáo Trần Long Ngân phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là

đúng nhưng chưa đầy đủ với hành vi phạm tội mà bị cáo Ngân đã thực hiện bởi các

lý do sau:

Thứ nhất: Bị cáo Ngân đã có hành vi giả chữ ký của chị Liên ở mặt sau phiếu

và ra đường Phạm Hồng Thái, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 con dấu (dấu giả không phải của Công ty Parkson) ngày tháng năm về đóng trên mục ngày

hết hạn sử dụng của phiếu Hành vi này của bị cáo Ngân đã cấu thành tội “làm giả

giấy tờ khác của tổ chức” (cụ thể là Công ty Parkson) theo quy định tại Điều 267

12

Bản án số 128/2010/HSST ngày 11/5/2010 của TAND thành phố Hồ Chí Minh

Trang 26

BLHS năm 1999 (Do thời điểm này BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật) Tội phạm đã được thực hiện hoàn thành kể từ thời điểm phiếu quà tặng (giả) được Ngân làm giả hoàn chỉnh giống như thật bằng các hành vi phạm tội nêu trên Khách thể tội phạm bị xâm phạm ở đây là việc hoạt động bình thường của Công ty Parkson thông qua việc phát hành phiếu quà tặng đã bị hành vi tội phạm của Ngân xâm hại, làm đảo lộn việc hoạt động của Công ty, việc quản lý hành chính của Nhà nước

Thứ hai: Sau khi thực hiện hành vi tội phạm là làm giả phiếu quà tặng của

Công ty Parkson, bị cáo Ngân đã đưa cho bạn thân là anh Phát thực hiện việc mua sắm nhằm thăm dò và nắm tình hình việc thử nghiệm sử dụng phiếu quà tặng giả mà Ngân đã tạo ra Chưa hoàn toàn tin tưởng và việc mua hàng của anh Phát bị cáo Ngân còn đích thân thử nghiệm việc sử dụng phiếu quà tặng giả bằng việc dùng 04 phiếu quà tặng mua được 02 chai dầu thơm và gặp thuận lợi Thông qua việc 02 lần sử dụng phiếu quà tặng giả mua hàng đều không bị phát hiện, bị cáo Ngân đã nảy sinh ý định tội phạm tiếp theo là dùng phiếu quà tặng giả sử dụng mua hàng hóa với giá trị lớn hơn Hành vi tội phạm của Ngân đã được thực hiện hoàn thành kể từ khi giao dịch mua bán được hoàn thành thủ tục thanh toán và nhận hàng, khách thể tội phạm ở hành vi tội phạm này là quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ và nó khác hoàn toàn với khách thể tội phạm ở về quản lý hành chính Nhà nước mà bị cáo Ngân đã thực hiện trước đó

Vì vậy theo quan điểm của tác giả, với các hành vi tội phạm mà bị cáo Ngân

thực hiện thì bị cáo Ngân phải bị xét xử với 02 tội danh là: tội “làm giả giấy tờ khác

của tổ chức” quy định tại Điều 267 BLHS năm 1999 và tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 139 BLHS năm 1999, mới đảm bảo phù hợp với hành vi

khách quan của tội phạm đã thực hiện và đảm bảo tính răn đe và phù hợp theo quy định của pháp luật

Trường hợp với nội dung vụ án nêu trên nhưng thời điểm thực hiện tội phạm là năm 2018 (thời điểm BLHS năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật) thì theo quan điểm

của tác giả vẫn xử bị cáo với 02 tội danh độc lập là tội “làm giả giấy tờ của tổ chức” theo quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 và tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy

định tại Điều 174 BLHS năm 2015 mới đảm bảo phù hợp, chính xác về hành vi thực hiện tội phạm so với quy định của pháp luật hiện hành

Việc xét xử với 02 tội danh độc lập cũng phù hợp với văn bản mới nhất của Tòa án nhân dân Tối cao cụ thể là Công văn số 212/TANDTC-PC, ngày 13/9/2019

về việc thông báo kết quả phúc đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử mà

Trang 27

trong quá trình viết và đi vào giai đoạn hoàn chỉnh luận văn thạc sỹ của tác giả thì Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành văn bản hướng dẫn này

Thứ ba: Việc các cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với an Trần Hữu Phát là phù hợp, vì anh Phát không biết những phiếu quà tặng mà bị cáo Ngân đưa sử dụng để mua hàng giả, đồng thời bị cáo Ngân cũng không bàn bạc hoặc anh Phát biết về các vấn đề có liên quan đến hành vi tội phạm

mà Ngân đã thực hiện cho đến khi bị phát hiện

Cũng với hành vi thực hiện tội phạm liên quan đến tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng ở một bản án khác, các cơ quan tiến hành tố tụng có nhận định và kết luận xét xử hoàn toàn khác nhau,

cụ thể ở bản án sau đây:

Vụ án thứ tƣ: Bản án số 186/2010/HSST ngày 21/7/2010 của TAND thành

phố Hồ Chí Minh Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

“Hoàng Thanh Dũng là môi giới mua bán xe ngụ tại 60/13 Vạn Kiếp, phường 3, quận Bình Thạnh có quen biết Nguyễn Văn Lập (nguyên là cán bộ phòng Cảnh sát giao thông đường bộ CATP HCM) được giao nhiệm vụ quản lý hồ

sơ lưu xe 2 bánh tại kho 282 Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh Dũng đề nghị Lập lấy cho Dũng 03 bộ hồ sơ xe gắn máy đang lưu trữ để Dũng làm hồ sơ đăng ký cho 03 xe mua ở Campuchia (không có giấy tờ hợp lệ) Sau đó, Lập lấy 03 bộ hồ

sơ xe gắn máy, trong đó có 02 hồ sơ chủ xe đã mất, 01 hồ sơ chủ xe còn đang sử dụng đưa cho Dũng Dũng rủ Lập đi uống rượu và đưa cho Lập tổng cộng số tiền 1.000.000 đồng

Khi có được hồ sơ, Dũng mang sang Campuchia, mua xe và thuê người tại Campuchia (không rõ họ tên, địa chỉ) mài số nguyên thủy của xe, đục lại số khung,

số máy và đặt làm biển số mới theo số đã có trong hồ sơ Sau đó, Dũng đưa xe về Việt Nam và thuê một người ở khu vực đường Bàu Cát, quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh (không nhớ tên, địa chỉ) làm giả giấy đăng ký xe, phiếu sang tên di chuyển và đem xe đi bán ở các tỉnh, cụ thể:

Hồ sơ xe gắn máy biển số 50M2- 2071, của bà Phùng Mai Hoa, địa chỉ số 71/44/9A Quân sự, quận 11, Tp Hồ Chí Minh (xe bị mất trộm năm 1996); Ngày 22/9/1999, Dũng bán xe này cho ông Phan Xích Hổ, địa chỉ A3/305 Tân Vạn, Tp Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai với giá 26.000.000 đồng, bao sang tên cho ông Hổ Do không phát hiện được hồ sơ giả nên Phòng cảnh sát giao thông đường bộ – Công

an tỉnh Đồng Nai đã cho đăng ký và cấp biển số 60H1-3675

Trang 28

Sau khi sử dụng một thời gian, ngày 12/11/1999, ông Hổ đã sửa lại xe này và bán cho ông Hồ Văn Cà, ngụ tại 246A Tân Phú, xã Tân Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương giá 29.000.000 đồng Ngày 10/4/2000, ông Cà bán lại xe cho ông Phạm Văn Đức, ngụ tại 30/16 khu C, ấp Tân Hiệp, xã Tân Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Vì khi mua xe từ ông Hổ, ông Cà không làm thủ tục sang tên chủ quyền xe, nên khi bán cho ông Đức thì người đứng tên chủ quyền xe vẫn là ông Phan Xích

Hổ Ông Phạm Văn Đức phải đi làm thủ tục sang tên chủ quyền cho mình, Phòng cảnh sát giao thông đường bộ – Công an tỉnh Đồng Nai kiểm tra phát hiện, do vậy

đã chuyển Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, tiến hành giám định hồ sơ và giám định số khung, số máy và phối hợp với Công an thành phố Hồ Chí Minh điều tra làm rõ vụ việc (lúc này Hoàng Thanh Dũng đã bỏ trốn)

Ngày 29/5/2006, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự số 393-01; Quyết định khởi tố bị can 1115-50 đối với Nguyễn Văn Lập về tội “Chiếm đoạt, mua bán tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội”; Quyết định khởi tố bị can số 1116-50, quyết định truy nã số 60-60 đối với Hoàng Thanh

Công an đã bắt được Dũng và đưa ra xét xử

Tại phần nhận định của HĐXX đã nhận định: Bị cáo Dũng khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với Bản Giám định về số khung số máy của xe máy, phù hợp với tang vật thu giữ được và các tài liệu chứng

cứ khác có trong hồ sơ vụ án Như vậy đã có đầy đủ cơ sở xác định bị cáo Hoàng Thanh Dũng có hành vi móc nối với người khác để mua hồ sơ xe máy cơ quan công

an đang lưu trữ, rồi thuê người làm giả giấy đăng ký xe máy, phiếu sang tên di chuyển, đục lại số sườn, số máy các xe máy mua bất hợp pháp từ Campuchia để đem đi bán ở các tỉnh, hưởng lợi bất chính Hành vi của bị cáo Hoàng Thanh Dũng

như vậy là phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”, tội phạm và

hình phạt được quy định tại điều 267 BLHS năm 1999 Qua đó, xử phạt bị cáo Dũng 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù

Theo quan điểm của tác giả ở bản án này, các cơ quan tiến hành tố tụng đã kết

luận và xét xử bị cáo Dũng phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”

là chưa phù hợp và đầy đủ với hành vi khách quan của tội phạm Với các tình tiết

13

Bản án số 186/2010/HSST ngày 21/7/2010 của TAND thnh phố Hồ Chí Minh

Trang 29

được nêu trong bản án và hành vi tội phạm mà bị cáo Dũng đã thực hiện, theo quan

điểm của tác giả thì bị cáo Dũng đã phạm tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ

chức” và tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bởi các lý do sau:

Thứ nhất: Bị cáo Dũng không phải là người trực tiếp tạo, sản xuất ra con dấu,

tài liệu giả mà thuê một người ở khu vực đường Bàu Cát, quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh (không nhớ tên, địa chỉ) làm giả giấy đăng ký xe, phiếu sang tên di

chuyển Đây mới là đối tượng thực hiện hành vi khách quan “tội phạm làm giả con

dấu, giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức”

Thứ hai: Biết rõ giấy đăng ký xe là giả nhưng bị cáo Dũng vẫn sử dụng vào

mục đích trái pháp luật để nhằm trục lợi cá nhân, hành vi tội phạm của Dũng đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể tội phạm là hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được pháp luật bảo vệ

Thứ ba: Cùng với việc thực hiện hành vi xâm phạm khách thể tội phạm thứ

nhất như đã nêu ở trên, hành vi của bị cáo Dũng đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể tội phạm thứ hai là quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ

Qua tình tiết nội dung và kết quả truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các bản án nêu trên ta thấy:

- Việc định tội danh thể hiện hành vi thực hiện tội phạm là chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng;

- Với cùng hành vi khách quan thực hiện tội phạm tương đối giống nhau ở mỗi bản án đã có sự nhận định kết luận về tội phạm là khác nhau

- Không đảm bảo sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc

áp dụng pháp luật hình sự trên thực tiễn xét xử

1.3 Kiến nghị hướng dẫn áp dụng dấu hiệu hành vi khách quan của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

Thứ Nhất: Cần có văn bản hướng dẫn khi xét xử vụ án trong thực tiễn thì nên

căn cứ vào kết quả phân tích, đánh giá về hành vi khách quan của tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng nên thể hiện được sự thống nhất trong việc định tội danh khi thực hiện kết luận điều tra, truy tố xét xử, đảm bảo tính logic và chính xác với hành vi khách quan mà tội phạm đã thực hiện cụ thể như: Hành vi nào là: “làm giả con dấu”;

“làm giả tài liệu”; “làm giả giấy tờ” của cơ quan, tổ chức hoặc đồng thời dùng cả ba

cụ từ nêu trên trong một bản án cụ thể, nhằm tránh trường hợp như hiện nay chỉ với một hành vi tội phạm cụ thể giống nhau nhưng ở mỗi bản án khác nhau thì lại áp dụng từ ngữ khác nhau, không đảm bảo tính thống nhất chung khi áp dụng pháp luật

Trang 30

Theo quan điểm của tác giả, thì khi nào có hành vi làm giả con dấu cụ thể như: Tạo ra từ việc khắc, vẽ, giả bằng củ khoai, gỗ…,thì chỉ gọi là làm giả “con dấu” hoặc đồng thời vừa làm giả “con dấu” vừa làm giả luôn tài liệu có liên quan thì mới gọi là: “làm giả con dấu, tài liệu” của cơ quan, tổ chức

Trường hợp chỉ làm giả tài liệu như: Giấy phép lái xe, văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…đương nhiên trong tài liệu giả đó phải bao gồm luôn có con dấu giả thì chỉ gọi là “làm giả tài liệu” của cơ quan, tổ chức

Thứ hai: Căn cứ vào kết quả xét xử thực tế của nhiều bản án khác nhau mà

điển hình là các bản án mà tác giả đã đưa vào phân tích trong luận văn của mình tác

giả nhận thấy cụm từ “giấy tờ khác” đã bị “thừa” vì tất cả các văn bản kết luận của các cơ quan tiến hành tố tụng không dùng đến cụm từ “giấy tờ khác” mà qua công tác điều tra, truy tố, xét xử thì cụm từ “tài liệu” mang hàm ý mở rộng đã bao gồm

tất cả các loại giấy tờ của cơ quan, tổ chức

Vì vậy, theo quan điểm của tác giả cần sửa chữa quy định của pháp luật hiện

hành theo hướng sửa loại bỏ cụm từ “giấy tờ khác” hoặc đổi cụm từ “giấy tờ khác” thành cụm từ “giấy tờ giả” (quy định theo hướng mở rộng) tại Điều 341, BLHS

năm 2015

Trang 31

Kết luận Chương 1

Trên cơ sở phân tích đánh giá từ thực tiễn xét xử về hành vi khách quan của

tội “làm giả con dấu, tài liệu” của cơ quan tổ chức” theo quy định tại Điều 341,

BLHS năm 2015, tác giả đã phát hiện được những vướng mắc, bất cập trong quá trình vận dụng, áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thực hiện điều tra, truy tố, xét xử về tội danh này Bên cạnh đó việc định tội danh trong các bản án cụ thể so với quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn hạn chế, vướng mắc nhất định Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn có ý kiến đề xuất, kiến nghị, giải pháp để việc vận dụng, áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng được

thống nhất, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự về tội “làm giả con dấu, tài liệu

của cơ quan, tổ chức”

Trang 32

CHƯƠNG 2 DẤU HIỆU CHỦ THỂ CỦA TỘI LÀM GIẢ CON DẤU,

TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC 2.1 Quy định của pháp luật về dấu hiệu chủ thể của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

Chủ thể của tội làm giả con dấu, tài hệu của cơ quan, tổ chức là người từ đủ

16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS Chủ thể của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức không có những dấu hiệu đặc biệt nên đương nhiên chủ thể của tội phạm này cũng không phải là chủ thể đặc biệt Nếu những người có chức chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm trong việc bảo quản, gìn giữ con dấu mà phạm tội thì tùy trường hợp phạm tội cụ thể có thể bị

truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “giả mạo trong công tác” theo quy định tại Điều 359 BLHS năm 2015 hoặc thuộc trường hợp "lợi dụng chức vụ, quyền hạn để

phạm tội" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, là một tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại thì pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự với 32 tội danh và không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức Theo nhận xét của tác giả quy định này là phù hợp vì tội phạm này chỉ được thực hiện bởi cá nhân hoặc đồng phạm thực hiện, không liên quan đến pháp nhân

Trong BLHS hiện nay, tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”

và tội “giả mạo trong công tác” có dấu hiệu hành vi tương tự nhau, nhưng điểm

khác nhau cơ bản nhất của hai tội phạm này là chủ thể và khách thể của tội phạm

Khác nhau:

Tội làm giả con dấu, giấy tờ, tài liệu Tội giả mạo trong công tác

- Về chủ thể của tội phạm: Không phải là - Về chủ thể của tội phạm: Là chủ thể đặc

Trang 33

người có chức vụ, quyền hạn khi thực hiện

- Về mặt khách quan: Người phạm tội

không phải là người có chức vụ quyền hạn

khi thực hiện hành vi phạm tội: Làm giấy

tờ, tài liệu giả của người có chức vụ,

quyền hạn…

- Về mặt khách quan: Người phạm tội đã

lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi phạm tội bằng cách: Giả mạo, cấp giả, giấy tờ, tài liệu…

- Về khách thể của tội phạm: Xâm phạm

trật tự quản lý hành chính của nhà nước

- Về khách thể của tội phạm: Xâm phạm

hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức

- Về hành vi phạm tội: Là làm giả giấy tờ,

tài liệu của cơ quan, tổ chức

- Về hành vi phạm tội: Là giả mạo, làm,

cấp giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ

bản án trên thực tế có liên quan đến hành vi tội phạm của “tội làm giả con dấu, tài

liệu của cơ quan, tổ chức” đó là việc tranh chấp tội danh này với tội danh khác cụ

thể là tội “tội giả mạo trong công tác” Như đã phân tích trong mục 2.1, điểm khác

nhau quan trọng nhất giữa hai tội phạm này là dấu hiệu chủ thể của tội phạm, từ đó dẫn đến khách thể bị xâm hại khác nhau và định tội danh khác nhau Có trường hợp hành vi thực hiện tội phạm là giống nhau nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng kết

luận khác nhau: có nơi xử lý về “tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ

chức”,có nơi xử lý về“tội giả mạo trong công tác Cụ thể thông qua các bản án

được tác giả nêu sau đây:

Vụ án thứ năm: Bản án số: 46/2018/HS-ST, ngày 07/8/2018 của TAND

huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

“Ngày 01/01/2016, Thông tư liên tịch số 24/2015/TTLT-BYT-BGTVT ngày 21/8/2015 của Bộ Y tế và Bộ Giao thông vận tải về tiêu chuẩn của người lái xe, việc

Trang 34

khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô và Thông báo số 551/TB-SYT ngày 26/7/2017, của Sở Y tế tỉnh Tây Ninh quy định về cơ sở y tế khám sức khỏe cho người lái xe có hiệu lực nên Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Tây Ninh đã dừng khám sức khỏe của người lái xe ô tô do không đủ điều kiện theo quy định: Không có bác

sỹ chuyên khoa về tâm thần, thần kinh

Lê Văn N là Y sỹ, Khoa y tế dự phòng thuộc Trung tâm Y tế huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2016 đến tháng 5/2017, nhận thấy nhiều người có nhu cầu cần làm giấy khám sức khỏe để bổ sung hồ sơ học lái xe ô tô, nhưng không muốn đến Trung tâm y tế để khám sức khỏe nên N nảy sinh ý định làm giả giấy khám sức khỏe nhằm mục đích thu lợi bất chính Để thực hiện, N photocopy mẫu giấy khám sức khỏe của Trung tâm y tế huyện Châu Thành làm nhiều bản mang về nhà cất giữ Sau đó, N nhận thông tin cá nhân, hình ảnh của những người cần khám sức khỏe rồi trực tiếp điền các thông tin theo mẫu; ghi Kết luận đủ điều kiện sức khỏe, giả chữ ký của các bác sỹ, rồi tự ý lấy các dấu tên: BS.Tống Văn Hẹn, BS.Nguyễn Văn Tuấn; dấu chữ: “TEST THỬ: HEROINEMORPHINE”, “ÂM TÍNH”, “TỔ GIÁM ĐỊNH Y KHOA” và dấu tên “Nguyễn Ngọc Lành” đóng lên mẫu giấy khám sức khỏe Riêng đối với dấu mộc tròn màu đỏ của Trung tâm y tế huyện Châu Thành, N sử dụng máy vi tính và máy scan có sẵn tại nhà để scan và in lên mẫu giấy khám sức khỏe

Tính đến ngày bị phát hiện, N đã làm giả 112 giấy khám sức khỏe cho người lái xe ô tô với mỗi giấy có giá tiền từ 70.000 đồng đến 100.000 đồng, thu lợi bất chính từ việc làm giả giấy khám sức khỏe tổng số tiền 9.000.000 đồng Sau khi bị phát hiện, N đã tiêu hủy các thiết bị, con dấu dùng làm giả giấy khám

Tại Bản cáo trạng số: 39/CT-VKSCT ngày 31/5/2018, VKSND huyện Châu

Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Làm giả tài liệu của cơ

quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại phần nhận định của HĐXX đã thể hiện: Bị cáo Lê Văn N đã làm giả 112 giấy khám sức khỏe cho nhiều người lái xe ô tô nhằm mục đích thu lợi bất chính với tổng số tiền là 9.000.000 đồng Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn N phạm tội

“Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày

20/6/2017 của Quốc hội, khi xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng, áp

14

Bản án số: 46/2018/HS-ST, ngày 07/8/2018 của TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh https://congbo banan.toaan.gov.vn/2ta160230t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập ngày 20/10/2019)

Trang 35

dụng điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015 có lợi về hình phạt so với Điều 267 BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341 của BLHS năm 2015 là phù hợp Qua đó, xử phạt bị cáo Lê Văn N 09 (chín) tháng tù

về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối

với bị cáo N

Tương tự như vụ án thứ Năm, TAND huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu cũng

có cách hiểu như TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh sẽ được tác giả trình bày trong vụ án tiếp theo sau đây

Vụ án thứ sáu: Bản án số 32/2018/HSST ngày 04/10/2018 của TAND huyện

Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

“Bị cáo Nguyễn Hồng Mận vào công tác tại Văn phòng UBND xã Định Thành A, huyện Đông Hải, tinh Bạc Liêu từ năm 2006 dưới hình thức hợp đồng lao động, đến năm 2011 có quyết định phân công làm Cán bộ tư pháp với nhiệm vụ lập các tài liệu, giấy tờ liên quan đến Tư pháp - Hộ tịch Năm 2015 bị cáo Mận thi rớt

kỳ thi tuyển công chức cấp xã, do đó ngày 28/6/2016 UBND huyện Đông Hải ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với bị cáo Mận Ngàv 01/7/2016 Chủ tịch UBND xã Định Thành A ký hợp đồng lao động ngắn hạn với bị cáo làm công tác chính sách - chi trả, đồng thời phân công bị cáo hướng dẫn chị Nguyễn Ngọc Dung làm quen với công việc cán bộ tư pháp của xã, thời gian từ ngày 01/7/2016 đến ngày 31/12/2016

Khoảng tháng 8/2016 ông Nguyễn Thanh Út có nhờ ông Trần Văn Phúc (là anh vợ của ông Út) đi làm giúp giấy khai sinh cho con trai là Nguyễn Nhật Hào, sinh ngày 15/8/2016 để bổ sung thủ tục mổ tim bẩm sinh Ngày 29/8/2016 ông Phúc đến gặp bị cáo nhờ giúp và bị cáo đồng ý Khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo sử dụng phần mềm quản lý hộ tịch của UBND xã Định Thành A soạn thảo giấy khai sinh và lấy sổ thứ tự là 132, ngày 29/8/2016 nhưng không ghi vào sổ theo dõi, sau

đó bị cáo ký giả vào giấy khai sinh chữ ký của ông Huỳnh Duy Khương (Phó Chủ tịch UBND xã) và dùng dấu tên của ông Khương và dấu của UBND xã Định Thành

A đóng vào Sau khi làm xong giấy khai sinh bị cáo giao cho ông Phúc và ông Phúc bồi dưỡng cho bị cáo số tiền 300.000 đồng

Ngày 21/6/2017 ông Phan Văn Sơn đến UBND xã Định Thành A làm thủ tục nhập hộ khẩu cho cháu Nguyễn Nhật Hào vào hộ khẩu của ông Nguyễn Thanh Út thì bị phát hiện giấy khai sinh số 132, đăng ký ngày 29/8/2016 mang tên Nguyễn

Trang 36

Nhật Hào có dấu hiệu giả mạo nên bị thu giữ và điều tra phát hiện hành vi của bị

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS - ĐH ngày 14/5/2018 của VKSND huyện

Đông Hải truy tố bị cáo Mận về tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại

điểm c khoản 1 Điều 284 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

Tuy nhiên, tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm, hành vi của bị

cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ

chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 267 BLHS năm 1999, tuy nhiên, vào thời

điểm xét xử BLHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật Tại Điều 341 BLHS năm 2015

quy định tội “Làm già con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” có mức hình phạt nhẹ

hơn Điều 267 BLHS năm 1999 Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quổc hội về việc thi hành BLHS số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017, áp dụng quy tắc có lợi cho bị cáo nên cần áp dụng Điều 341 BLHS năm 2015 xét xử bị cáo

Tại phần nhận định của HĐXX đã thể hiện: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm như trên là có căn cứ, qua đó, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Mận 09 tháng tù cho hưởng án treo

Như vậy cả hai nội dung vụ án nêu trên về bản chất của hành vi thực hiện tội phạm là cơ bản giống nhau, các bị cáo đều lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí việc làm được giao hoặc vì động cơ cá nhân khác để thực hiện hành vi phạm tội và bị

các cơ quan tiến hành tố tụng xử phạt về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan

tổ chức”

Tại vụ án thứ Sáu, chính cơ quan tiến hành tố tụng là VKSND đã có sự mâu thuẫn tranh chấp tội danh đối với hành vi khách quan của tội phạm đó là ban đầu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giả mạo trong công tác” , tại phiên tòa, Kiểm

sát viên đã quyết định thay đổi tội danh đó là tội “Làm giả con dấu, tài liệu cùa cơ

quan, tổ chức” và Tòa án cũng thống nhất với quan điểm thay đổi tội danh này

Theo quan điểm của tác giả, hành vi khách quan tội phạm của hai bản án nêu

trên việc định tội danh về tội “Làm giả con dấu, tài liệu cùa cơ quan, tổ chức” là

chưa thật sự chính xác Với hành vi khách quan tội phạm nêu trên đã thỏa mãn các

yêu tố cấu thành tội “giả mạo trong công tác” theo quy định tại Điều 359 BLHS

Trang 37

Theo quy định tại khoản 1 Điều 359 về tội “giả mạo trong công tác” quy

định:“Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền

hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; Làm, cấp giấy tờ giả; Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn”

Thông qua hành vi khách quan của tội phạm, bị cáo cố tình lợi dụng nhiệm

vụ, quyền hạn được giao để “Làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có

chức vụ, quyền hạn” cụ thể: Ở vụ án thứ năm bị cáo đã lợi dung mình là Y sĩ và

đang làm việc tại Trung tâm Y tế của huyện Châu Thành, từ có mới thực hiện được hành vi phạm tội là photocopy mẫu giấy khám sức khỏe của Trung tâm y tế huyện làm nhiều bản mang về nhà cất giữ, sau đó tự ý giả chữ ký của bác sỹ rồi lấy các

dấu tên bác sỹ; dấu chữ: “TEST THỬ: HEROINEMORPHINE”, “ÂM TÍNH”, “TỔ

GIÁM ĐỊNH Y KHOA…để đóng vào mẫu giấy khám sức khỏe…

Đối với vụ án thứ sáu bị cáo Nguyễn Hồng Mận đã lợi dung mình được phân công hướng dẫn chị Nguyễn Ngọc Dung làm quen với công việc cán bộ tư pháp của

xã từ đó đã lợi dụng nhiệm vụ được giao để thực hiện hành vi phạm tội là soạn thảo giấy khai sinh trên máy tính của cơ quan và tự lấy số thứ tự không ghi vào sổ theo dõi, đồng thời, tự giả chữ ký và lấy dấu tên, dấu cơ quan thật đóng vào giấy khai

sinh giả mạo Đây là những yếu tố đặc trưng về mặt khách quan của tội “giả mạo

trong công tác” đó là “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” được giao để thực hiện hành

vi phạm tội Nếu các bị báo không được giao nhiệm vụ, quyền hạn nhất định thì

không thực hiện được hành vi tội phạm như trên

Do trên thực tế chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền nên các cơ quan tiến hành tố tụng ở các địa phương đã đưa ra nhiều quan điểm, nhận định khác nhau và có phần chủ quan, không thống nhất dẫn đến tình trạng án có tranh chấp tội danh hoặc kết luận tội phạm không chính xác

Để phân tích rõ hơn nội dung vừa trình bày, tác giả xin nêu cụ thể vụ án tiếp theo sau đây về hành vi, tình tiết vụ việc hoàn toàn giống với nội dung được thể hiện ở bản án năm và thứ sáu nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng đã nhận định và

kết luận với tội danh hoàn toàn khác đó là “tội giả mạo trong công tác”

Vụ án thứ bảy: Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 của TAND tỉnh

Hưng Yên Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

“Trong quá trình giúp việc các thẩm phán ở TAND huyện A T, Nguyễn Văn P không được phân công nhận đơn xin ly hôn nhưng thấy các đương sự trong vụ án ly

Trang 38

hôn chỉ cần lấy quyết định, trích lục của Tòa án về xã để xin xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc chuyển hộ khẩu gia đình nên P nảy sinh ý định làm giả các quyết định, trích lục đó để lấy tiền tiêu cá nhân

Khoảng cuối tháng 02/2017, chị Phạm Thị T đến TAND huyện A T, tỉnh Hưng Yên để hỏi thủ tục xin ly hôn với chồng là anh Phan Trắc A Đến nơi, chị T vào phòng làm việc của P để hỏi thủ tục xin ly hôn theo quy định thì được P hướng dẫn chuẩn bị các giấy tờ nộp cho Tòa án gồm: bản chính giấy chứng nhận kết hôn, bản sao chứng minh nhân dân, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao giấy khai sinh các con chung của hai vợ chồng và phải nộp lệ phí 300.000đ Khi chị T trình bày muốn làm thủ tục ly hôn nhanh thì P cho biết chi phí là 7.000.000đ (bảy triệu đồng), sau đó chị T về Khoảng vài ngày sau, chị T cùng chồng là anh Phan Trắc

A đến phòng làm việc của P Tại đây, P hỏi hai vợ chồng chị T có thuận tình ly hôn hay không thì cả hai vợ chồng chị T đều trả lời đồng ý thuận tình ly hôn, tự thỏa thuận về nuôi con chung, tài sản chung và án phí Việc thỏa thuận này được

P lập biên bản ghi nhận, đưa cho hai vợ chồng chị T ký tên Sau đó P tiếp tục hướng dẫn hai vợ chồng chị T ký tên vào các biên bản liên quan đến việc xin ly hôn theo quy định gồm: biên bản giao nhận, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải Tất

cả các biên bản này đều không ghi nội dung do P giải thích phần nội dung P sẽ hoàn thiện sau Sau đó anh A về, chị T ở lại nộp cho P các giấy tờ mà P đã hướng dẫn trước đó và trình bày với P do hoàn cảnh khó khăn nên xin giảm lệ phí xuống còn 5.000.000đ P đồng ý

Khoảng một tuần sau, chị T vay của anh Phạm Văn Đ là anh trai của chị T

số tiền 5.000.000đ rồi cùng anh Đ đến gặp và đưa toàn bộ số tiền này cho P Sau khi nhận được tiền, P cất toàn bộ hồ sơ ly hôn của chị T vào tủ hồ sơ mà không báo cáo lãnh đạo cơ quan để làm thủ tục thụ lý, giải quyết theo quy định, số tiền 5.000.000đ P đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết

Ngày 10/4/2017 chị T điện thoại cho P hỏi kết quả xin ly hôn Lúc này do hồ

sơ của chị T vẫn đang cất trong tủ nên P đã làm giả quyết định công nhận thuận tình ly hôn để giao cho chị T và hẹn chị T ngày 12/4/2017 đến Tòa án nhận quyết định Sau đó P sử dụng máy tính tại phòng làm việc của P soạn thảo một quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự dựa trên quyết định

có sẵn lưu trong máy tính, lấy số quyết định vừa soạn thảo là HNGĐ ngày 12/4/2017 theo hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 91/2017/TLDS-HNGĐ

Trang 39

79/2017/QĐST-ngày 01/3/2017, số biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 008704 79/2017/QĐST-ngày 01/3/2017 rồi điền tên thẩm phán Lương Thị T vào phần người ký quyết định Còn phần nội dung

P điền các thông tin liên quan đến việc ly hôn của vợ chồng chị T rồi in ra 01 (một) bản Sau đó P cắt chữ ký của thẩm phán Lương Thị T trong một tài liệu có sẵn mà

P đã lưu khi còn làm thư ký cho thẩm phán T rồi đặt lên tờ quyết định P vừa in ra, mang sang văn phòng Tòa án photo 01 (một) bản giữ lại, còn tài liệu vừa cắt ra P mang đi đốt Ngày hôm sau lợi dụng việc hoàn thiện hồ sơ để chuyển lên Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án của TAND tỉnh Hưng Yên, P kẹp tờ quyết định thuận tình ly hôn mà P vừa làm giả vào tập hồ sơ nêu trên mang sang phòng cho bà

N kiểm tra Sau khi kiểm tra thấy đã đủ chữ ký và chức danh theo quy định trong tập tài liệu nên bà N đưa cho P con dấu của cơ quan để P tự đóng dấu Đúng hẹn, ngày 12/4/2017 chị T cùng anh Đ đến gặp P tại TAND huyện A T Tại đây P đưa cho chị T tờ quyết định thuận tình ly hôn mà P đã làm giả nêu trên và nói chị T không cần phải đến nữa, chị T và anh Đ về Sau khi nhận được tờ quyết định thuận tình ly hôn P đưa, chị T đến UBND xã B S, huyện A T xin chứng thực để nộp cho UBND xã B S làm cơ sở để cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 37/UBND- XNTTHN ngày 17/5/2017 cho chị T đến làm thủ tục đăng ký kết hôn với anh Đỗ Đình L, sinh năm 1989 tại UBND xă Đ T, huyện K C, tỉnh Hưng Yên Ngày 22/5/2017 UBND xã Đ T đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19/2017 - quyển số 01/2017 cho chị T và anh L Đến nay chị T và anh L đã có 01 con chung là cháu Đỗ Thị Thanh H, sinh ngày 04/7/2017

Đối với anh Phan Trắc A do không nhận được tờ quyết định nêu trên nên ngày 21/9/2017 đã đến TAND huyện A T để xin được cấp thì hành vi nêu của P bị phát hiện

Cũng với thủ đoạn trên, Nguyễn Văn P đã giả chữ ký, ghép chữ ký photo của các thẩm phán Lương Thị T, Hoàng Lương H để làm giả 11 quyết định công nhận

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSTC- V6 ngày 27/12/2018, VKSND tối cao

truy tố Nguyễn Văn P về tội “Giả mạo trong công tác”, theo quy định tại điểm c

khoản 2 Điều 284 BLHS năm 1999

Tại phần nhận định của HĐXX đã thể hiện: Hành vi của bị cáo làm, cấp

quyết định ly hôn giả đã cấu thành tội “Giả mạo trong công tác”, với tình tiết định

16

Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 của TAND tỈNH Hưng Yên, nguồn: http://congbobanan toaan.gov.vn/2ta251357t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập ngày 20/10/2019)

Trang 40

khung tăng nặng là phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 284 của BLHS năm 1999, tương ứng điểm a khoản 4 Điều 359 của BLHS năm 2015 Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực và quy định nặng hơn Điều 284 BLHS năm 1999 Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 7

của BLHS năm 2015, VKSND tối cao truy tố bị cáo về tội “Giả mạo trong công

tác”, theo điểm c khoản 2 Điều 284 của BLHS năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp

luật Qua đó, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P với mức hình phạt là ba (03) năm, ba (03) tháng tù

Với tình tiết thực hiện tội phạm giống như nội dung bản án thứ Năm, TAND thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu cũng có nhận định về mặt khách quan của tội phạm giống như nhận định của TAND tỉnh Hưng Yên, cụ thể như sau:

Vụ án thứ tám: Bản án số 01/2019/HS-ST ngày 22/01/2019 của TAND thị

xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

“Trong khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 5 năm 2014 đến ngày 19/5/2016

bị cáo Nguyễn Hoàng Thương công tác tại Công an xã Tân Phong, huyện Giá Rai nên bị cáo đã có hành vi lập khống các loại thủ tục nhằm làm sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân cho nhiều người, gồm:

Lần thứ nhất: Thông qua mạng xã hội, bị cáo quen biết với bà Thạch Thị Khal, ngụ ấp Prey Chóp B, xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Do biết

bị cáo công tác tại công an xã nên bà Khal đặt vấn đề nhờ bị cáo làm các thủ tục, giấy tờ để bà Khal và em gái ruột bà Thạch Thị Ô được cấp sổ hộ khẩu thường trú tại xã Tân Phong và bị cáo đồng ý

Bị cáo biết tại đơn vị công tác có quyển sổ hộ khẩu số 030068019 được cấp thừa để trong tủ hồ sơ của đơn vị nên bị cáo đã lập khống giấy xác nhận nơi ở hợp pháp của Khal tại ấp 3B, xâ Tân Phong và nhờ ông Nguyên Văn Thanh (là trưởng ban nhân dân ấp) xác nhận nội dung bà Khal có nơi ở hợp pháp tại ấp 3B, xã Tân Phong bị cáo tiếp tục lập các thủ tục gồm phiếu thông tin thay đổi nhân khẩu, hộ khẩu; Phiếu báo thay đổi nhân khẩu, hộ khẩu, bản khai nhân khẩu và bị cáo tự điền các thông tin của bà Thạch Thị Khai và Thạch Thị Ô vào sổ hộ khẩu số 030068019, sau khi hoàn tất các thủ tục bị cáo gửi tất cả cho Bùi Ngọc Bích là thư ký công an

xã Tân Phong có trách nhiệm hướng dẫn và tiếp nhận đăng ký sổ hộ khẩu mới Do kiểm tra đầy đủ thủ tục (giả do bị cáo lập) nên bà đề xuất đến Trưởng Công an xã Tân Phong cấp sổ hộ khẩu mới Đến ngày 16/5/2014, bà Khai và bà Ô được cấp sổ

hộ khẩu mới số: 030068019

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w