Tuy nhiên, cốt lõi của nguyên tắc phân quyền vẫn thể hiện chủ yếu ở hai nội dung chính: sự phân chia quyền lực nhà nước thành các lĩnh vực khác nhau bao gồm lập pháp, hành pháp và tư phá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-*** -
TRẦN THỊ KHÔI NGUYÊN MSSV: 1055040196
NGUYÊN TẮC PHÂN QUYỀN
TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
đã cung cấp cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình em học tại trường Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Đặng Thị Thu Trang – giảng viên Khoa Luật Hành Chính trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn cho em cách làm đề cương, thu thập tài liệu cũng như cách trình bày,
bố cục và ngôn ngữ sử dụng trong khóa luận, từ đó tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC Lời mở đầu
Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước 1
1.1 Lịch sử hình thành nguyên tắc phân quyền 1
1.2 Nội dung của nguyên tắc phân quyền 5
1.2.1 Sự phân chia quyền lực nhà nước thành các bộ phận độc lập một cách tương đối 5
1.2.1.1 Sự phân quyền về chức năng 6
1.2.1.2 Sự phân quyền về tổ chức 10
1.2.2 Sự kiềm chế đối trọng giữa các nhánh quyền của quyền lực nhà nước 13
1.2.2.1 Kiềm chế, đối trọng giữa quyền lập pháp với quyền hành pháp và quyền tư pháp 15
1.2.2.2 Kiềm chế, đối trọng giữa quyền hành pháp với quyền lập pháp và quyền tư pháp 19
1.2.2.3 Kiềm chế, đối trọng giữa quyền tư pháp với quyền lập pháp và quyền hành pháp 23
1.2.3 Nguyên tắc phân quyền trong Hiến pháp các quốc gia 24
1.3 Giá trị của nguyên tắc phân quyền 26
1.3.1 Giá trị của nguyên tắc phân quyền đối với nhà nước tư sản 26
1.3.2 Giá trị của nguyên tắc phân quyền đối với nhà nước Hoa Kỳ 28
Chương 2: Thực tiễn nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trung ương Hoa Kỳ 30
2.1 Sự độc lập giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước trung ương Hoa Kỳ 30 2.1.1 Về cách thức hình thành 30
2.1.2 Về nhiệm kì và chế độ đãi ngộ 33
2.1.3 Về cơ cấu thành viên 36
2.1.4 Về quyền hạn 47
2.2 Sự phân quyền trong nội bộ mỗi nhánh quyền lực 40
Trang 42.3 Kiềm chế đối trọng giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp 42
2.3.1 Sự kiểm soát của Quốc hội đối với Chính phủ 42
2.3.2 Sự kiểm soát của Chính phủ đối với Quốc hội 58
2.4 Kiềm chế đối trọng giữa cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp 52
2.4.1 Sự kiểm soát của Quốc hội đối với Tòa án 52
2.4.2 Sự kiểm soát của Tòa án đối với Quốc hội 53
2.5 Kiềm chế đối trọng giữa cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp 55
2.5.1 Sự kiểm soát của Chính phủ đối với Tòa án 55
2.5.2 Sự kiểm soát của Tòa án đối với Chính phủ 56
2.6 Kiềm chế đối trọng trong sự liên hệ và phối hợp 57
2.7 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong kiểm soát quyền lực nhà nước 59
2.7.1 Sự phân định các lĩnh vực của quyền lực nhà nước 59
2.7.2 Đẩy mạnh vai trò lập pháp và giám sát của Quốc hội 60
2.7.3 Tăng cường quyền hạn của Chính phủ 63
2.7.4 Tăng cường tính độc lập của Tòa án nhân dân 66
2.7.5 Đổi mới chế định Chủ tịch nước 66
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng phân quyền đã xuất hiện từ thời cổ đại, trải qua quá trình phát triển lâu dài cùng sự đóng góp của nhiều học giả lỗi lạc đã hình thành nên học thuyết về phân chia quyền lực nhà nước Học thuyết phân quyền mang trong mình nhiều giá trị tiến bộ có tính thời đại trong tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước Từ học thuyết này, nhiều quốc gia trên thế giới đã vận dụng, xây dựng thành nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Tuy nhiên, mỗi quốc gia có cách vận dụng nguyên tắc phân quyền khác nhau dẫn đến nhiều hình thức biến dạng của nguyên tắc này Sự biến dạng này tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, xã hội, lịch sử của mỗi nước nên rất ít quốc gia áp dụng một cách chính xác nguyên mẫu những giá trị được ghi nhận trong học thuyết phân quyền
Qua nhiều công trình nghiên cứu cũng như thực tiễn cho thấy, Hoa Kỳ là quốc gia áp dụng thành công và triệt để nhất nguyên tắc phân quyền Khởi đầu từ mười ba bang thuộc địa của Anh, ngày nay Hoa Kỳ đã phát triển trở thành cường quốc hàng đầu thế giới trong hầu hết các lĩnh vực Từ một quốc gia non trẻ, để đạt được điều đó, không thể phủ nhận đóng góp rất lớn từ cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước Hiến pháp 1787 đã ghi nhận một mô hình tổ chức nhà nước mới mẻ, vận dụng triệt để những tinh hoa của học thuyết phân quyền Theo đó, giữa các nhánh quyền lực nhà nước có sự độc lập, cân bằng để tiến tới kiềm chế, kiểm soát lẫn nhau, không cho bất cứ nhánh quyền nào cơ hội để lạm dụng quyền lực Đó chính là nền tảng cơ bản và quan trọng tạo nên sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia trong suốt lịch sử phát triển của nhà nước Hoa Kỳ bất chấp tình hình thế giới luôn biến động Chính sự ổn định chính trị này tạo điều kiện tất yếu để những yếu tố khác như kinh tế, văn hóa, xã hội… phát triển
Việt Nam đang từng bước đổi mới về mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của nhân loại Sự đổi mới hiện diện trong mọi lĩnh vực, kể cả tổ chức bộ máy nhà nước Đảng và nhà nước ta vẫn quán triệt nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, tất cả thuộc về nhân dân và chưa bao giờ thừa nhận nguyên tắc phân quyền Tuy nhiên, cùng với xu thế toàn cầu hóa, sự tác động của nền kinh tế thị trường và nhu cầu quản lý đất nước trong thời
kỳ đổi mới, Đảng và nhà nước đã từng bước tiếp thu những hạt nhân hợp lý của học thuyết phân quyền qua các bản Hiến pháp Hiến pháp 1992 đã quy định sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan để thực hiện quyền lực nhà nước, tạo
Trang 6nên sự chuyên môn hóa cho mỗi cơ quan Đồng thời, Hiến pháp 2013 đã có một bước tiến mới khi có quy định ghi nhận sự kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước Mặc dù những quy định trong Hiến pháp chưa được cụ thể hóa trong các đạo luật nhưng đã thể hiện ở mức độ nhất định mặt hợp lí của học thuyết phân quyền Vì vậy, Việt Nam vẫn còn một chặng đường dài để hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước và những kinh nghiệm của Hoa Kỳ sẽ rất hữu ích cho chúng ta
Vì những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Hoa Kỳ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu
Hoa Kỳ được xem là quốc gia thành công nhất trong việc áp dụng nguyên tắc phân quyền vào tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về cách thức xây dựng và hoạt động của bộ máy nhà nước ở Hoa
Kỳ như: “Lịch sử ra đời và phát triển của Hiến pháp Hoa Kỳ”, luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Trí; các sách chuyên khảo như “Chế độ Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và sự hình thành nhà nước pháp quyền Mỹ” của TS Nguyễn Tất Đạt,
“Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một
số nước” của TS Nguyễn Thị Hồi Hoặc các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: “Bàn về học thuyết tam quyền phân lập và kiềm chế đối trọng trong Nhà nước Hoa Kỳ” của TS Nguyễn Thị Ánh Vân, “Cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước Mỹ” của TS Lưu Văn Quảng; “Cân bằng và kiểm soát quyền lực từ góc nhìn của vụ đóng cửa Chính quyền Liên bang Mỹ năm 2013” của TS Trương Hồ Hải… Tuy nhiên, các công trình trên chỉ tiếp cận ở góc độ giới thiệu về nguyên tắc phân quyền một cách chung nhất, ngắn gọn nhất hoặc nghiêng về phân tích đặc điểm của chính thể Cộng hòa Tổng thống nhiều hơn là đề cập đến khía cạnh phân chia quyền lực cũng như thực tiễn áp dụng của nó Vì vậy, đề tài đưa ra một cái nhìn bao quát về nguyên tắc phân quyền, việc vận dụng ở các quốc gia tư sản nói chung và nhà nước Hoa Kỳ nói riêng Từ đó, rút ra đặc trưng của nguyên tắc phân quyền trong bộ máy nhà nước Hoa Kỳ và những ưu điểm mà nguyên tắc mang lại
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của đề tài:
Tìm hiểu về sự ra đời, nội dung, và cách thức áp dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước của các quốc gia nói chung
và thực tiễn áp dụng nguyên tắc tại Hoa Kỳ nói riêng Từ đó thấy được vai trò của nguyên tắc phân chia quyền lực trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước
Trang 7Kiến nghị những giải pháp mang tính tham khảo về kiểm soát quyền lực nhà nước đối với bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Liên quan đến đề tài có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu, do đó cần sự hiểu biết rộng và kiến thức chuyên sâu Do giới hạn về mặt thời gian, trình độ và trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, tác giả chỉ trình bày những nội dung chính, khái quát của nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước và thực tiễn áp dụng trong
bộ máy nhà nước trung ương Hoa Kỳ chứ chưa tiếp cận theo chiều dọc là phân quyền giữa trung ương với địa phương Từ đó, đưa ra những kiến nghị mang tính tham khảo nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam
5 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu cách thức tổ chức quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trung ương Hoa Kỳ trong bản Hiến pháp 1787 và các Tu chính án Qua đó làm sáng tỏ những đặc trưng của nguyên tắc phân quyền được áp dụng trong bộ máy nhà nước Hoa Kỳ
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều nguyên tắc khác nhau để hoàn thành đề tài mà nền tảng là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mác – Lênin Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng những phương pháp như so sánh, phân tích, thống kê, đối chiếu, tổng hợp… để làm sáng tỏ vấn đề đặt
ra
6 Bố cục của luận văn
Luận văn được chia bố cục thành 4 phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung chính gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc phân quyền trong tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước
Chương 2: Thực tiễn nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trung ương Hoa Kỳ
Phần kết luận
Phần danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC PHÂN QUYỀN TRONG TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
Mầm mống của tư tưởng phân quyền đã xuất hiện từ thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước Athens và La Mã cổ đại qua các cuộc cải cách của Ephialtes (Thế kỷ
V tr CN) và Pericles (495 – 429 tr CN) Những cải cách này nhằm chống lại sự cai trị của chế độ độc tài, củng cố và mở rộng nền dân chủ Trước hết bằng việc chia tách quyền lực nhà nước thành ba loại quyền lực và trao cho các cơ quan dân cử khác nhau thực hiện để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, chống lại sự chuyên quyền của Hội đồng trưởng lão Quyền lập pháp thuộc về Hội nghị nhân dân, quyền hành pháp thuộc về Hội đồng nhân dân và quyền tư pháp thuộc về Tòa án nhân dân Các chức vụ trong nhà nước được bổ nhiệm bằng cách bốc thăm1, do đó công dân thuộc mọi tầng lớp đều có điều kiện tham gia vào các công việc nhà nước Tuy chỉ mang tính sơ khai nguyên thủy nhưng các cuộc cải cách này đã phác họa được những nét đầu tiên về tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước Về sau, những đặc điểm sơ khai này đã được Montesquieu chọn làm cơ sở để nghiên cứu về tư tưởng phân quyền
Aristote (384 – 322 tr CN) là nhà triết học Hy Lạp cổ đại, ông là người đặt nền móng đầu tiên cho tư tưởng phân quyền Ông phân tách bộ máy nhà nước thành
ba bộ phận hay ba ngành của chính quyền bao gồm: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và tòa án Đồng thời, ông còn trình bày về cách thức hình thành, chức năng, thẩm quyền, thành viên, cơ cấu của từng bộ phận và khái quát về mối quan hệ giữa chúng2 Mặc dù mô tả rất cụ thể
về từng loại cơ quan nhà nước và nhân viên của chúng nhưng Aristote lại chưa phân tích sâu về mối quan hệ cũng như lý giải được nguyên nhân phải phân chia bộ máy nhà nước thành những cơ quan như vậy Ông chỉ mới dừng lại ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và từng cơ quan đảm nhiệm các lĩnh vực đó Sau Aristote, Polybe (201 -120 tr CN) bổ sung thêm rằng các bộ phận của nhà nước phải độc lập với nhau, không được vượt quyền nhau và phải kết hợp với nhau Mặc
dù còn nhiều hạn chế nhưng những tư tưởng tiến bộ của Aristote vẫn trở thành tiền
Trang 9đề quan trọng cho các nhà tư tưởng Tây Âu về sau phát triển thành học thuyết phân quyền
John Locker (1632 – 1704) là người đi tiên phong trong việc hạn chế quyền lực nhà nước, chống lại chủ nghĩa chuyên chế Theo ông, trong một nước cộng hòa
có ba loại quyền lực lập pháp, hành pháp và liên bang Quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về nhà vua Quyền liên bang là nhằm để xử sự với các sức mạnh ngoại quốc, để tuyên bố chiến tranh, để áp dụng những quy tắc của pháp quyền quốc tế công và tư, quyền này cũng thuộc nhà vua3 Ông đã khắc phục hạn chế của Aristote khi lí giải nguyên nhân phải chia tách quyền lực nhà nước, đặc biệt là giữa quyền lập pháp và hành pháp Theo ông, quyền lực có sức quyến rũ lớn đối với con người nên họ dễ bị cám dỗ bởi quyền lực và có xu hướng
cố nắm giữ nó, sự phân chia quyền lực nhà nước là điều kiện tiên quyết và quan trọng để đảm bảo tự do Nếu một người nắm giữ cả quyền hành pháp và lập pháp thì
dễ dàng dẫn đến nguy cơ họ không tuân thủ những đạo luật do mình làm ra, hoặc xây dựng những đạo luật chỉ vì lợi ích của bản thân Đồng thời, Locker quan niệm quyền lập pháp là tối cao, nó phải được duy trì mãi mãi và độc lập với các nhánh
quyền kia “Ai có thể đẻ ra luật lệ cho người khác thì phải đặt cao hơn Chính
quyền lập pháp có quyền đề ra lập pháp cho mọi bộ phận và thành viên trong xã hội Quy định cho họ các quy tắc hành vi và đủ sức trừng trị khi pháp luật bị vi phạm Cho nên chính quyền lập pháp là tối cao và các ngành quyền khác với tư cách là thành viên hoặc bộ phận đều bắt nguồn từ đó và phụ thuộc vào nó”4
Tuy nhiên, tư tưởng của Locker còn những hạn chế như không đề cập đến quyền tư pháp, chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước chỉ có hai chủ thể là nhà vua và Quốc hội
Các tư tưởng của J Locker đã được kế thừa, phát triển và hoàn thiện bởi
Charles de Secondat Montesquieu (1689 – 1755) qua tác phẩm “Tinh thần pháp
luật” trên cơ sở phân tích cách thức tổ chức bộ máy nhà nước Anh Cơ sở lý luận
của tư tưởng phân quyền của Montesquieu là dựa vào nhu cầu của giai cấp tư sản muốn giảm dần quyền lực của các thế lực phong kiến, từ đó dần dần thâu tóm toàn
bộ quyền lực về tay mình Cơ sở thực tiễn xuất phát từ nước Anh khi có sự phân biệt rõ ràng: những người này thì làm ra luật pháp, những người khác thì áp dụng luật đó; những người này thì cai trị, những người khác thì xét xử Không ai tách
Trang 10khỏi chức năng của mình cũng như xen vào chức năng của người khác5
Montesquieu quan niệm rằng, quyền lực nhà nước có những tên gọi và nội dung khác nhau, gồm ba thứ quyền lực chủ yếu là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Quyền lập pháp là quyền làm luật, sửa đổi, hủy bỏ và giám sát thi hành luật Quyền hành pháp là quyền thực thi các văn bản pháp luật, quyền khai chiến, quyền nghị hòa, phái hoặc tiếp các sứ thần, thiết lập sự an ninh và đề phòng
sự xâm lược Quyền tư pháp là quyền trừng trị các tội phạm hay phân xử các vụ tranh chấp quyền lợi giữa các tư nhân6 Nếu các quyền ấy do một chủ thể nắm giữ thì sẽ tạo ra sự lạm dụng quyền lực và là nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm các quyền tự do của công dân Vì vậy, cần phải được phân chia cho các cơ quan nhà nước khác nhau đảm nhiệm Khắc phục được hạn chế của Locker, Montesquieu đã
bổ sung thêm một bộ phận của quyền lực nhà nước là quyền tư pháp và sự độc lập của các quan tòa, đó là một trong những điều kiện để đảm bảo tự do dân chủ, tự do cho xã hội
“Khi các quyền lực lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay của cùng một người hay một Viện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài
Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ
là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có sức mạnh của kẻ đàn áp
Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”7
Tư tưởng của Montesquieu hoàn thiện hơn ở chỗ quyền lực nhà nước không những bị phân chia mà còn phải bị kiểm soát Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được trao cho hệ thống các cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau nhưng có thể kiềm chế, đối trọng và tương tác lẫn nhau Cần phải có một trình tự
mà theo đó “quyền lực ngăn cản quyền lực”, chỉ như vậy thì con người mới tránh khỏi sự vi phạm pháp luật, buộc phải làm những gì mà pháp luật yêu cầu
“Nhưng kinh nghiệm muôn đời chỉ ra cho chúng ta rằng bất kì ai khi được trao quyền lực là sẽ có khuynh hướng lạm dụng quyền lực ấy, và sẽ tăng quyền lực
5 Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một
số nước, NXB Tư pháp, tr.74
6 Nguyễn Đăng Dung – Trương Đắc Linh – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn Văn Trí
(2010), Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp, kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, NXB Giáo dục, tr 30
7 C.L Montesquieu (2010), Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, tr 103.
Trang 11của anh ta lên đến hết mức…Để ngăn chặn sự lạm dụng này, điều cần thiết rất tự nhiên là quyền lực phải được ngăn cản (kiềm chế) bởi quyền lực Một chính quyền như vậy có thể thiết lập được nếu như không ai không bị bắt buộc phải làm những việc mà luật không bắt buộc anh ta, và cũng không ai bị cưỡng bức phải làm những việc mà pháp luật cho phép”8
Như vậy, Montesquieu đã đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa ba nhánh quyền, để hạn chế tốt nhất sự lạm quyền thì cần phải có cơ chế để các nhánh quyền kiểm soát lẫn nhau Quyền lực nhà nước không chỉ được phân chia mà còn phải bị kiểm soát bởi chính các bộ phận cấu thành nên nó Ngoài ra, còn có sự phân quyền theo hệ thống dọc, tức là giữa các lực lượng xã hội, các giai cấp khác nhau mà hiện nay chính là sự phân quyền giữa trung ương và địa phương Vì vậy, tư tưởng của Montesquieu được xem là toàn diện và hoàn chỉnh hơn cả về học thuyết phân quyền, thậm chí vượt xa cả thời đại của ông Nhiều quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu áp dụng học thuyết phân quyền khi nâng tầm nó lên thành nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt là ở những nhà nước tư sản phương Tây
Sau Montesquieu, một số học giả cũng đề cập đến tư tưởng phân quyền với một số luận điểm tiến bộ Điển hình là Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778) đã tìm
ra cơ chế tối ưu và hữu hiệu để ngăn chặn Chính phủ lạm quyền Đó là việc tổ chức Hội nghị toàn dân (được hiểu như trưng cầu dân ý hiện nay) và giải tán Chính phủ Đây là những cơ chế đang được áp dụng phổ biến ở các quốc gia hiện đại ngày nay Tuy nhiên, tư tưởng phân quyền của Montesquieu vẫn được xem là đầy đủ và toàn diện nhất
Có thể thấy, tư tưởng về phân chia quyền lực nhà nước không phải chỉ được đưa ra trong chế độ tư bản chủ nghĩa mà đã xuất hiện từ thời cổ đại ở Hy Lạp và La
Mã Trải qua quá trình phát triển lâu dài, tư tưởng phân quyền được các học giả lỗi lạc khái quát về mặt lý luận và xây dựng thành học thuyết phân quyền Học thuyết phân quyền là kết quả sự đấu tranh của nhân loại chống lại chế độ chuyên chế độc tài, ngăn chặn nguy cơ lạm dụng quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền tự do của con người Vai trò của nó được khẳng định như một công cụ dân chủ, nhân đạo và tiến
bộ, là phương thức hữu hiệu để chống lại sự tùy tiện của nhà nước
8
C.L Montesquieu (2010), Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, tr 103
Trang 121.2 Nội dung của nguyên tắc phân quyền
Thuật ngữ nguyên tắc xuất phát từ tiếng La tinh là “principium” nghĩa là cơ
sở, cốt lõi, nền tảng Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nguyên tắc là những quy định,
phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, chỗ dựa để xem xét làm việc”9
Khái niệm nguyên tắc trong khoa học pháp lý hiện đại được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, những định hướng cơ bản10
Như vậy, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những tư tưởng chỉ đạo, mang tính định hướng cho toàn bộ tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, được cụ thể hóa bằng các quy định trong Hiến pháp và pháp luật Nguyên tắc phân quyền là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong nhà nước tư sản
Khởi nguồn từ tư tưởng của các triết gia lỗi lạc, ngày nay phân quyền đã được nâng lên thành nguyên tắc chỉ đạo cho tổ chức bộ máy nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia tư sản Phân chia quyền lực nhà nước không chỉ được ghi nhận về mặt lý luận và còn được hiện thực hóa vào từng mô hình nhà nước cụ thể với nhiều biến dạng khác nhau Tuy nhiên, cốt lõi của nguyên tắc phân quyền vẫn thể hiện chủ yếu ở hai nội dung chính: sự phân chia quyền lực nhà nước thành các lĩnh vực khác nhau bao gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp; sự kiềm chế đối trọng lẫn nhau giữa các nhánh quyền nhằm mục đích ngăn chặn sự lạm quyền
1.2.1 Sự phân chia quyền lực nhà nước thành các bộ phận độc lập một cách tương đối
Nguyên tắc phân quyền ra đời nhằm mục đích chống lại sự chuyên chế của các vị vua trong chế độ phong kiến Trong nhà nước phong kiến, tất cả quyền hành đều do một vị vua nắm giữ Nhà vua được toàn quyền ban hành pháp luật, tự do thi hành chính đạo luật do mình ban bố và tùy nghi trong việc xét xử những trường hợp phạm tội Do quyền hạn quá lớn nên vua luôn có xu hướng độc tài và sử dụng một cách tùy tiện Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, các nhà nước tư sản đều tuyên bố quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân ủy quyền cho các cơ quan nhà nước để thực hiện quyền lực của mình Tuy nhiên, quyền lực nhà nước không được
ủy thác tập trung hết trong tay một cơ quan hay một cá nhân mà phải được phân chia để ngăn chặn sự tùy tiện, lạm quyền, đồng thời đảm bảo bộ máy nhà nước vận hành một cách hiệu quả Đó chính là mục đích của giai cấp tư sản khi xây dựng nguyên tắc phân quyền Phân chia quyền lực nhà nước là sự phân chia về mặt nội dung của quyền lực, chủ thể cuối cùng của quyền lực vẫn là nhân dân Sự phân chia
9 Nguyễn Như Ý (2011), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr 1135
10 Thái Vĩnh Thắng (2004), “Về những hạt nhân hợp lý trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ tư sản”,
Nghiên cứu lập pháp, (2), tr 26
Trang 13quyền lực thể hiện ở cả hai phương diện về cả chiều dọc và chiều ngang Sự phân quyền theo chiều ngang thể hiện ở việc phân chia thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước tối cao ở trung ương Sự phân quyền theo chiều dọc là phân chia quyền lực giữa chính quyền trung ương và địa phương
1.2.1.1 Sự phân quyền về chức năng
Về phương diện chiều ngang, quyền lực nhà nước được phân chia thành các
bộ phận lập pháp, hành pháp và tư pháp Mỗi bộ phận được trao cho các cơ quan nhà nước khác nhau, cụ thể là quyền lập pháp thuộc về Nghị viện/Quốc hội, quyền hành pháp thuộc Chính phủ và quyền tư pháp thuộc về Tòa án Các nhánh quyền lực này có chức năng, thẩm quyền khác nhau, độc lập một cách tương đối với nhau trong quá trình hoạt động Mỗi cơ quan có sự chuyên môn hóa trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, chuyên trách và thu hẹp hoạt động trong phạm vi quyền hạn của mình, không xâm lấn sang hoạt động của các cơ quan khác Đồng thời, cả ba loại cơ quan đều hoạt động trên cơ sở luật pháp, độc lập với nhau về chức năng và nhân sự
Quyền lập pháp
Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện Theo quan điểm của J Locker và Montesquieu thì Nghị viện chỉ đóng vai trò là cơ quan lập pháp Hơn nữa, Nghị viện được xem là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân trong một nhà nước Biểu hiện bằng việc Nghị viện do nhân dân lựa chọn ra Theo Montesquieu, nhân dân chỉ ủy quyền cho Nghị viện thực hiện quyền lập pháp mà
thôi “Trong một nước tự do, mọi người đều được xem như có tâm hồn tự do, thì họ
phải được tự quản; như vậy tập đoàn dân chúng phải có quyền lập pháp Nhưng trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp Trong một nước nhỏ, việc này cũng rất khó khăn; cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc mà cá nhân công dân không thể tự mình làm lấy được”11
Mặc dù có quyền trong lĩnh vực lập pháp, nhưng hầu hết Hiến pháp của các quốc gia hiện nay đều quy định Nghị viện có quyền thông qua luật, chứ không quy định là Nghị viện làm luật12 Bởi vì quá trình làm luật trải qua nhiều công đoạn như
đề xuất, nghiên cứu, soạn thảo, xem xét, biểu quyết thông qua và công bố nên có sự tham gia phối hợp của nhiều chủ thể Đặc biệt là sự tham gia của nhánh hành pháp
vì nhu cầu làm luật luôn phát sinh từ thực trạng của hoạt động quản lý Thực tiễn
Trang 14lập pháp của nhiều nước trên thế giới cho thấy, đa số các dự án luật do Chính phủ
đệ trình còn quyền công bố luật thuộc về người đứng đầu nhà nước là Nguyên thủ quốc gia Vì vậy, quyền lập pháp của Nghị viện thể hiện rõ nhất ở giai đoạn cuối cùng của quá trình làm luật là việc thông qua hoặc không thông qua một chính sách hoặc một dự thảo luật được đệ trình Văn bản luật là văn bản thể hiện ý chí chung của toàn thể nhân dân, bởi vậy, chỉ có cơ quan do nhân dân ủy quyền mới được quyền thông qua luật
Tuy nhiên, các thành viên nghị viện vẫn có quyền đưa ra sáng kiến lập pháp Hiến pháp thường yêu cầu các nghị sĩ thực hiện quyền này tập thể Chẳng hạn như
Hạ viện Cộng hòa Liên bang Đức quy định các dự án luật do đại biểu trình phải có chữ kí của một đoàn đại biểu hay của 5% tổng số đại biểu Quy định như vậy để đảm bảo sự ủng hộ của đa số nhóm đại biểu, đồng thời phản ánh đường lối chính sách của đảng chính trị vì thành viên của đảng sẽ có đường lối thống nhất Các dự luật sẽ được đưa ra thảo luận tại các phiên họp của Nghị viện thông qua các lần đọc Theo đó, toàn thể thành viên Nghị viện xem xét về tính cần thiết và đối tượng điều chỉnh của dự luật Nếu các nghị sĩ không tán thành thì dự luật sẽ bị bác bỏ
Bên cạnh đó, các ủy ban của nghị viện có vai trò rất quan trọng trong quá trình làm luật Các ủy ban với những thành viên chuyên trách có nhiệm vụ chỉnh lí, sửa đổi, bổ sung dự luật đó theo ý kiến thảo luận của Nghị viện Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia mà các ủy ban có phạm vi thẩm quyền đến đâu Chẳng hạn ở Tây Ban Nha, các ủy ban có thể thay thế Nghị viện thông qua dự án luật nếu được các viện ủy quyền13 Ngược lại, các ủy ban của Nghị viện Anh không có quyền thay đổi nội dung của các ý kiến bổ sung, sửa đổi đã được Nghị viện thông qua ở lần đọc thứ hai Trong khi đó, các ủy ban của Nghị viện Hoa Kỳ lại có toàn quyền đối với dự
án, kể cả việc thay đổi nội dung, kết cấu dự án theo quan điểm của các ủy ban.Việc thông qua dự án luật được tiến hành tại phiên họp Nghị viện bằng hình thức biểu quyết Ở những quốc gia theo mô hình lưỡng viện thì phải tiến hành biểu quyết ở cả hai viện
Trang 15phương tiện để hành pháp thực hiện quyền lực của mình trong việc thực thi các chính sách và pháp luật vào đời sống xã hội Quyền lập quy được hiểu là ban hành các văn bản pháp quy dưới luật theo thẩm quyền hoặc được cơ quan lập pháp ủy quyền Cả hai hoạt động hành chính và lập quy đều không thể thiếu trong quá trình thực hiện quyền hành pháp trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Chính phủ tổ chức thực thi các quy định của Hiến pháp và các luật bằng việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và luật Xây dựng và duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy công quyền
từ trung ương xuống địa phương nhằm điều hòa các mối quan hệ xã hội trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống, đảm bảo một trật tự an toàn chung cho mọi công dân Hệ thống cơ quan này chịu trách nhiệm quản lí một hoặc một số lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội đồng thời ban hành những chính sách trong lĩnh vực mà mình quản lý
Quyền hành pháp được trao cho tập thể Chính phủ hoặc Tổng thống tùy vào từng hình thức chính thể Quan niệm khá phổ biến vẫn cho rằng quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật và xét về phương diện quyền lực, quyền hành pháp không
có tính độc lập mà phụ thuộc vào quyền lập pháp Điều này xuất phát từ việc hành pháp buộc phải thi hành những đạo luật mà lập pháp ban hành, nếu không có các đạo luật ấy thì hành pháp không thể thực hiện chức năng của mình được Tuy nhiên, quan niệm này là không chính xác Trước hết, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, được thiết lập và thực thi trên cơ sở ủy quyền của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân nên quyền hành pháp là một quyền lực độc lập Hơn nữa, quyền hành pháp bản chất là quản lý, điều hành, vì vậy trong những trường hợp nhất định quyền hành pháp có thể ban hành những chủ trương, chính sách để phục vụ cho hoạt động quản lý của mình chứ không chỉ chấp hành những quyết định của cơ quan lập pháp Do đó, hành pháp có vị trí độc lập tương đối với các nhánh quyền lực còn lại
Quyền tư pháp
Tư pháp là nhánh quyền lực thứ ba trong tổng thể quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền Trong ba nhánh quyền lực nhà nước, tư pháp là nhánh quyền độc lập hơn cả Bởi vì trong bất cứ hình thức chính thể nào, lập pháp và hành pháp đều có sự liên hệ với nhau do tác động của các đảng phái chính trị Trong khi
đó, nhánh tư pháp với vai trò bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của con người nên cần phải có một vị trí độc lập với hành pháp
và lập pháp
Trang 16Quyền tư pháp được trao cho Tòa án Ở các nước tư sản, tư pháp được hiểu
theo nghĩa hẹp là hoạt động xét xử “Nói một cách cụ thể hơn, đó là quyền của Tòa
án xét xử một vụ việc thực tế nào đó trên cơ sở xem xét các tình tiết thực tế của vụ việc, áp dụng pháp luật để xác định hậu quả pháp lý và ra phán quyết”15 Các cơ quan khác như cơ quan điều tra, cơ quan công tố mặc dù tương đồng về tính chất công việc, song về cơ cấu tổ chức lại thuộc nhánh hành pháp Do đó, trong bộ máy nhà nước tổ chức theo nguyên tắc phân quyền thì Tòa án là chế định trọng tâm của quyền tư pháp, chỉ Tòa án được thực hiện quyền tư pháp, các cơ quan nhà nước khác không được can dự Trong số các Hiến pháp hiện đại, Hiến pháp Nhật Bản quy định rất rõ về điều này tại Điều 76: “Không được thành lập bất kỳ một Tòa án đặc biệt nào cũng như không một cơ quan hành pháp nào được trao quyền tư pháp cuối cùng” Hoặc Điều 97 Hiến pháp Jordan quy định: “Quan tòa được độc lập, và trong quá trình thực thi chức năng pháp luật của mình không chịu sự chỉ huy của quyền lực nào khác ngoài pháp luật”
Nội dung chủ yếu của quyền tư pháp là hoạt động xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết các tranh chấp để đảm bảo công bằng và giữ cho xã hội phát triển ổn định Ban đầu, Tòa án có chức năng xét xử các công dân vi phạm pháp luật
và giải quyết các tranh chấp giữa các công dân với nhau trên cơ sở luật pháp Các tranh chấp đó có thể xảy ra trên nhiều lĩnh vực như dân sự, hình sự, thương mại, lao động… Cùng với đó, các Tòa án chuyên trách lần lượt ra đời để đáp ứng việc giải quyết tranh chấp trên các lĩnh vực đó, thể hiện tính chuyên môn hóa trong hoạt động
tư pháp
Qua thời gian phát triển, bên cạnh chức năng xét xử truyền thống thì Tòa án còn có thẩm quyền tài phán Hiến pháp qua việc xem xét tính hợp hiến của các đạo
luật và hành vi của quan chức hành pháp “Trong việc kiểm soát tính hợp hiến của
hành pháp ban đầu người ta giao cho lập pháp, song chẳng bao lâu sau đó người ta
đã phát hiện ra rằng ngành tư pháp có thể thực hiện nhiệm vụ này tốt hơn nhiều… Ngày nay, nhà nước pháp quyền không còn được đặc trưng bởi chức năng lập pháp như trước, mà bởi sự phát triển các thủ tục pháp lý nhằm bảo vệ pháp luật, trước sự tùy tiện của lập pháp và hành pháp”16 Việc xác lập vai trò này của Tòa án là biểu hiện của sự thượng tôn pháp luật và sự hiện diện mạnh mẽ của nguyên tắc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước Tòa án với vị trí độc lập của mình có thể phán xét cả nhánh quyền hành pháp và lập pháp, thiết lập nên chế tài cần thiết trong
15 Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (2013), Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên
thế giới, NXB Chính trị quốc gia, tr 228
16
Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao (2012), “Tư pháp độc lập một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nghiên
cứu lập pháp, (21), tr 3
Trang 17trường hợp các nhánh quyền này có sự vi phạm và vượt quá thẩm quyền Quyền tài phán Hiến pháp có thể được tiến hành bằng hệ thống Tòa án độc lập (Hoa Kỳ), Hội đồng bảo hiến (Cộng hòa Pháp) hay Tòa án Hiến pháp độc lập (Cộng hòa Liên bang Đức)
Bên cạnh đó, Tòa án còn có một thẩm quyền đặc biệt quan trọng đó là giải thích pháp luật Các đạo luật do Nghị viện ban hành đôi khi rất chung chung, không
có một cách hiểu thống nhất khi áp dụng vào từng trường hợp cụ thể Do đó, với tư cách trọng tài, Tòa án sẽ có cách giải thích công bằng và hợp lý nhất Vai trò giải thích Hiến pháp của Tòa án hướng đến mục tiêu bảo đảm tính rõ ràng, tính nhất quán và tính minh bạch của hệ thống pháp luật; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp
và sự tuân thủ pháp luật trong đời sống chính trị xã hội
63, một người không thể vừa là Tổng thống, vừa là Thủ tướng vừa là Chủ tịch Hạ viện
“Muốn lập được một căn bản vững chắc cho sự phân quyền trong Chính phủ
mà mục đích là để bảo vệ sự tự do, điều dĩ nhiên là mỗi ngành, mỗi bộ cần phải có một ý chí độc lập riêng biệt Và cũng vì vậy, mỗi ngành, mỗi bộ cần phải trực thuộc lẫn nhau càng ít càng hay trong việc bổ nhiệm nhân viên chính quyền” 17
Sự không
kiêm nhiệm giữa các thành viên tạo ra sự độc lập cần thiết cho mỗi cơ quan nhà nước, các cơ quan không phụ thuộc lẫn nhau Cơ quan này không thể lợi dụng sự chung thành viên để điều khiển cơ quan khác theo ý muốn của mình Đồng thời, các thành viên cũng tránh được sự tác động từ bên ngoài và có thể tập trung vào công việc một cách chuyên môn hóa Bằng cách giới hạn ở những chức năng chuyên biệt, các ngành chính quyền khác nhau phát triển cả về kỹ năng chuyên môn, cả về ý thức tự hào đối với vai trò của mình, một điều sẽ không thể có được nếu các quyền lực này được gộp chung lại hoặc bị chồng chéo ở một mức độ nào đó
17
James Madison - Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến – Một
số tiểu luận của các học giả nước ngoài, NXB Lao động xã hội, tr 114
Trang 18Để các thành viên không kiêm nhiệm, điều kiện cần thiết là cách thức hình thành mỗi cơ quan phải được quy định sao cho không có sự liên hệ với nhau Theo
đó, việc bổ nhiệm thành viên các nhánh quyền tốt nhất nên để cho nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử Nhờ vậy, mỗi nhánh quyền sẽ do nhân dân trực tiếp trao một loại quyền lực một cách độc lập và riêng biệt, không phụ thuộc nhau Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện cách thức này trên thực tế khá khó khăn Đầu tiên là
về thủ tục, để thực hiện một cuộc bầu cử, cần phải có nguồn kinh phí và nhân lực lớn, thời gian chuẩn bị cũng như điều kiện đảm bảo chất lượng của cuộc bầu cử Do
đó, khó có thể tiến hành bầu nhân sự ở cả ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Thứ hai, vì tính chất của mỗi nhánh quyền là khác nhau và sự lựa chọn của nhân dân không phải bao giờ cũng đúng đắn do hạn chế về trình độ, nhận thức hoặc
vì lí do khách quan Chẳng hạn như đối với ngành tư pháp, thành viên của ngành này cần phải có những điều kiện về đạo đức và khả năng chuyên môn đặc biệt, vì vậy cần áp dụng phương pháp lựa chọn thành viên sao cho những người được chọn đáp ứng được những điều kiện khắt khe đã đặt ra Cho nên, nhánh tư pháp trong các nhà nước tư sản được hình thành không do bầu cử mà hình thành trên sự bổ nhiệm của hai nhánh quyền lực còn lại
Trong các chính thể hiện đại ngày nay, sự hình thành thành viên của các nhánh quyền thường bằng thể thức bầu cử hoặc bổ nhiệm Chẳng hạn trong chính thể đại nghị thì chỉ có Nghị viện là do dân chúng trực tiếp bầu cử, còn Thủ tướng và Chính phủ được thành lập trên cơ sở đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện Vì vậy tạo ra cơ chế thống nhất giữa Chính phủ và Nghị viện do Chính phủ luôn được số đông nghị sĩ trong Nghị viện ủng hộ Như vậy, do sự chung thành viên giữa hai nhánh quyền lập pháp và hành pháp nên nguyên tắc phân quyền được áp dụng một cách mềm dẻo khi hai cơ quan này không hoàn toàn độc lập với nhau Trong khi đó, thành viên của nhánh tư pháp được Nguyên thủ quốc gia hoặc Nghị viện bổ nhiệm theo sự đề nghị của Thủ tướng
Trong chính thể cộng hòa Tổng thống, Quốc hội và Tổng thống do nhân dân bầu ra nhưng các Thẩm phán của Tòa án tối cao lại được bổ nhiệm bởi Tổng thống
và được Quốc hội phê chuẩn Do đó, không những cơ quan lập pháp do nhân dân bầu ra mà cả người đứng đầu chính quyền hành pháp cũng được dân chúng bầu ra
Vì vậy, hai cơ quan này có một vị thế pháp lý độc lập với nhau, tạo ra sự kiềm chế đối trọng lẫn nhau
Trong chính thể cộng hòa lưỡng tính thì mang những đặc điểm của chính thể đại nghị và cộng hòa Tổng thống Trong mô hình chính thể này, Tổng thống do nhân dân bầu ra nhưng chỉ đứng đầu nhà nước Thủ tướng và Chính phủ hình thành
Trang 19trên cơ sở đảng chiếm ưu thế trong Nghị viện Như vậy, sự độc lập giữa Chính phủ
và Nghị viện cũng chỉ mang tính chất tương đối chứ không rạch ròi như mô hình Cộng hòa Tổng thống Tuy nhiên, với vai trò của Nguyên thủ quốc gia là Tổng thống, thì sự kiềm chế đối trọng giữa hai nhánh lập pháp và hành pháp cũng được thể hiện Thẩm phán tư pháp do Chính phủ bổ nhiệm và bãi miễn
Từ đó cho thấy, nguyên tắc bất khả kiêm nhiệm được áp dụng phổ biến trong các nhà nước tư sản, thành viên các nhánh quyền lực được phân định rạch ròi Tuy nhiên, cách thức hình thành lại không hoàn toàn độc lập Đặc biệt là nhánh quyền tư pháp, Thẩm phán luôn được bổ nhiệm bởi nhánh lập pháp hoặc hành pháp hoặc có
sự tham gia của cả hai nhánh này Nhưng điều đó không làm giảm đi tính độc lập cần có cho tư pháp Bởi sau khi được bổ nhiệm, Thẩm phán sẽ được hưởng một nhiệm kì lâu dài vững chắc cùng với những đãi ngộ xứng đáng nên sẽ không phụ thuộc vào những người đã bổ nhiệm mình Đồng thời, với sự chuyên nghiệp cùng ý thức thượng tôn pháp luật và vai trò bảo vệ công lý, các Thẩm phán sẽ chỉ chuyên tâm vào công việc của mình và không bị ảnh hưởng bởi các thế lực khác, hoàn toàn
có khả năng đối trọng lại lập pháp và hành pháp
Mặc dù đa số các nước đều phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền như học thuyết của Montesquieu đã đề ra nhưng một số nước lại phân thành nhiều hơn ba quyền Chẳng hạn Hiến pháp năm 1986 của Nicaragoa quy định nguyên tắc phân quyền là quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, kiểm tra, bầu cử Hiến pháp Angeri năm 1976 phân chia thành sáu quyền: quyền lực chính trị được thực hiện bởi Đảng cầm quyền, quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, hành pháp thuộc về Tổng thống và Chính phủ, tư pháp thuộc Tòa án, quyền kiểm tra thuộc về các cơ quan khác nhau của Nhà nước, quyền lập hiến thuộc về các cơ quan có chức năng xây dựng và sửa đổi Hiến pháp18 Tuy nhiên, thiết nghĩ sự phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là hợp lý vì nó đã bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của nhà nước, các quyền khác tựu chung lại cũng chỉ là một khía cạnh chức năng khác của các quyền này mà thôi Mặt khác, phân chia quyền lực ra cho quá nhiều cơ quan sẽ gây ra tình trạng bộ máy nhà nước cồng kềnh, khó kiểm soát và hoạt động kém hiệu quả vì quyền lực bị phân tán quá rộng
Vì vậy, hầu hết các quốc gia hiện đại ngày này vẫn chỉ phân lập quyền lực nhà nước thành ba quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp
Mục đích của việc phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là nhằm tránh hiện tượng tập trung quá nhiều quyền lực vào
18
Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một
số nước, NXB Tư pháp, tr 29
Trang 20tay một chủ thể qua đó hạn chế được sự lạm quyền và tùy tiện Tuy nhiên, việc phân quyền không có nghĩa là áp dụng một cách cơ học, các quyền hoàn toàn độc lập, không có mối liên hệ với nhau Sở dĩ có mối quan hệ phối hợp này là vì các nhánh
quyền lực đều nằm trong một chỉnh thể thống nhất của quyền lực nhà nước “Khi
quyền lực toàn bộ của một cơ quan được thi hành bởi cùng bàn tay đang nắm giữ quyền lực toàn bộ của một cơ quan khác, nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp tự do đã
bị lật đổ… Nếu chúng ta nhìn vào Hiến pháp của nhiều quốc gia, chúng ta sẽ thấy rằng… không có tình huống nào mà quyền lực của nhiều cơ quan lại được giữ cho cách biệt và khác biệt một cách tuyệt đối”19
Với tư cách là các bộ phận trong một chỉnh thể thì giữa chúng chỉ có mối quan hệ độc lập một cách tương đối chứ không hoàn toàn biệt lập Hành pháp khi thực hiện công tác quản lý, điều hành và tư pháp thực hiện chức năng xét xử dựa trên pháp luật do lập pháp ban hành; các bản án của
tư pháp lại được thực hiện bởi hành pháp; các đạo luật do lập pháp ban hành đa phần khởi nguồn từ sáng kiến của hành pháp Nếu lập pháp ban hành các đạo luật kém chất lượng thì việc thực hiện các đạo luật đó đối với cơ quan hành pháp sẽ rất khó khăn Nếu cơ quan hành pháp không thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì dù hoạt động lập pháp có tốt tới đâu, pháp luật cũng không
có khả năng đi vào đời sống thực tiễn Các cơ quan tư pháp nếu không xét xử nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật thì pháp luật sẽ không được người dân tôn trọng thực hiện
Vì vậy, nếu chỉ phân chia một cách máy móc sẽ làm cho các nhánh quyền bị
cô lập và mâu thuẫn với nhau trong hoạt động Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng
sự phân quyền không thể phát huy hiệu quả nếu giữa các quyền hoàn toàn tách biệt với nhau Ngược lại, còn dẫn đến sự bế tắc trong hoạt động giữa các cơ quan nhà nước Đó là tình cảnh của chính quyền được thiết lập dưới thời kỳ Cách mạng Pháp Trong chính quyền đó, người ta đã áp dụng triệt để nguyên tắc phân quyền, không nhánh quyền nào tiếp xúc với nhánh quyền nào Vì thế mà chính quyền đó đã không thể “sống” được, hậu quả tất yếu là chính quyền phải bị sụp đổ20
1.2.2 Sự kiềm chế đối trọng giữa các nhánh quyền của quyền lực nhà nước
Nội dung của nguyên tắc phân quyền không chỉ dừng lại ở sự phân định các lĩnh vực của quyền lực nhà nước mà còn tiến tới thiết lập một cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực hay còn gọi là cơ chế kiềm chế đối trọng Hiện nay, mặc dù thuật ngữ “kiềm chế đối trọng” được sử dụng nhiều trong khoa học pháp lý
19 Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến – Một số tiểu luận của
các học giả nước ngoài, NXB Lao động xã hội, tr 46
20
Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một
số nước, NXB Tư pháp, tr 110
Trang 21nhưng đa phần chỉ nghiên cứu về bản chất cũng như ý nghĩa của nó chứ chưa đưa ra được một định nghĩa cụ thể về thuật ngữ này Theo Đại từ điển Tiếng Việt:
“Kiềm chế là ép giữ trong chừng mực, giới hạn nhất định”21.“Đối trọng là
trọng lượng dùng để cân bằng một trọng lượng khác”22
Như vậy, các định nghĩa trên chỉ nêu về ngữ nghĩa của từ chứ chưa nói lên được nội hàm bên trong của nó Xét ở góc độ pháp lý cũng như liên hệ với vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước thì có thể khái quát khái niệm kiềm chế đối trọng như sau: kiềm chế là giữ cho các nhánh quyền lực chỉ được phép hoạt động trong phạm
vi thẩm quyền nhất định, để thực hiện được điều đó thì cần phải có sự kiểm tra, giám sát của các nhánh quyền lực nhà nước còn lại; đối trọng là sự cân bằng giữa các nhánh quyền, không nhánh nào có quyền lực cao hơn nhánh nào, từ đó tạo cơ sở cho việc kiềm chế lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước Kiềm chế đối trọng
là cơ chế để các cơ quan tự kiểm soát lẫn nhau, qua đó hạn chế được sự tùy tiện lạm quyền của bộ máy nhà nước
“Kiềm chế và đối trọng là tập hợp các quyền và trách nhiệm do pháp luật quy định làm cơ sở để các nhánh quyền lực thực hiện kiểm soát lẫn nhau” 23 Sự
kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền phải được xác lập trên cơ sở pháp lý là các quy định của pháp luật Một mặt, mỗi cơ quan được đặt trong sự kiểm soát của các cơ quan còn lại Mặt khác, sự kiểm soát đó cũng phải trong khuôn khổ pháp luật chứ không thể tùy tiện Kiềm chế đối trọng tạo nên mối liên hệ, khắc phục được những hạn chế của phân quyền là làm cho các nhánh quyền quá độc lập, tách biệt Giữa các nhánh quyền không hoàn toàn độc lập với nhau mà luôn có mối quan hệ chính trị - pháp lý ràng buộc lẫn nhau, hoạt động của nhánh quyền này đặt trong sự kiểm tra, giám sát của các nhánh còn lại Kiềm chế tạo nên sự kiểm tra giữa các nhánh quyền để các cơ quan công quyền của mỗi nhánh và các quan chức của mỗi
cơ quan tương ứng nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động của mình Đối trọng tạo nên sự phân công một cách rõ ràng, rành mạch quyền lực giữa các cơ quan công quyền để đảm bảo cân bằng quyền lực, không một nhánh quyền lực nào có cơ hội, khả năng để lấn át nhánh quyền lực khác Mỗi cơ quan được quyền hoạt động trong lĩnh vực của mình, không có quyền trong lĩnh vực khác, nhưng có quyền ngăn chặn cơ quan khác Quyền lực ngăn chặn quyền lực chính là điểm cốt yếu trong chủ trương phân chia quyền lực giữa các cơ quan trong
bộ máy nhà nước “Cơ quan lập pháp có hai bộ phận ràng buộc nhau bằng chức
21 Nguyễn Như Ý (2011), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr 842
22 Nguyễn Như Ý (2011), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr 548
23
Phạm Thế Lực (2008), “Ý nghĩa của lý thuyết phân quyền trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
ở Việt Nam hiện nay”, Nghiên cứu lập pháp, (11), tr 19.
Trang 22năng ngăn cản bên này đối với bên kia Cả hai bộ phận đều bị ràng buộc bởi quyền hành pháp, mà quyền hành pháp thì cũng bị ràng buộc bởi quyền lập pháp”24
Phân chia quyền lực luôn phải kết hợp với kiểm soát và cân bằng quyền lực, vừa ngăn chặn kịp thời nguy cơ lạm dụng quyền lực từ bất cứ cơ quan nào, vừa tạo được mối liên hệ nhất định của các cơ quan Mối liên hệ này sẽ khắc phục được những hạn chế của việc phân chia quyền lực nhà nước Tạo cho các cơ quan sự ràng
buộc lẫn nhau chứ không hoàn toàn phân định một cách biệt lập “… vì tính tất yếu
của mọi sự vật là vận động, nên cả ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới, và đi tới một cách nhịp nhàng”25
Tuy nhiên ở các hình thức chính thể khác nhau thì sự kiểm soát giữa các nhánh quyền lực lại khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm chính trị xã hội, truyền thống lịch sử và các tập quán dân tộc
1.2.2.1 Kiềm chế, đối trọng giữa quyền lập pháp với quyền hành pháp và
quyền tƣ pháp
Quyền lập pháp thuộc về Nghị viện Ngay từ khi hình thành, Nghị viện được xem là hình ảnh của giai cấp tư sản đấu tranh chống lại vương triều phong kiến nên Nghị viện có quyền lực rất lớn Nghị viện Anh được cho là Nghị viện tư sản đầu
tiên trên thế giới có nhiều quyền hành đến nỗi mà nhiều người ví von rằng “Nghị
viện có quyền được làm tất cả, chỉ trừ việc biến đàn ông thành đàn bà” Điều này
được lý giải rằng cần phải tăng cường quyền hạn cho Nghị viện để có thể hạn chế được quyền lực vô hạn của nhà vua thời bấy giờ Sự ưu thế của Nghị viện trước các
cơ quan nhà nước khác còn được Lenin nhận định: “Chế độ đại nghị là chế độ mà ở
đó nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực: quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp và quyền lực tư pháp, trong đó quyền lực lập pháp của Nghị viện có ưu thế hơn hẳn và những thành viên của Nghị viện do nhân dân trực tiếp bầu ra có nhiều đặc quyền đặc lợi, nhưng lại không chịu trách nhiệm trước cử tri” 26
Đồng thời, một trong những nguyên nhân tạo nên sức mạnh của Nghị viện là
vì đây là cơ quan nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân Cho nên Nghị viện sẽ có nhiều quyền hành hơn các cơ quan khác Ngày nay, mặc dù Nghị viện đã trở về công việc chính của mình là lập pháp và giám sát bộ máy hành pháp nhưng quyền hạn của Nghị viện vẫn rất lớn và dễ dẫn đến sự tùy tiện nên phải bị kiềm chế bởi hai nhánh quyền hành pháp và tư pháp
24 C.L Montesquieu (2010), Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, tr 104
25 Nguyễn Đăng Dung – Trương Đắc Linh – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn Văn Trí
(2010), Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp, kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, NXB Giáo dục, tr 31.
26
Lê Quốc Hùng (2004), Thống nhất phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở Việt Nam, NXB Tư pháp,
Hà Nội, tr 34-35
Trang 23Thứ nhất, Chính phủ có quyền giải tán Nghị viện trong chính thể đại nghị
và cộng hòa lưỡng tính Đây là cách thức mà hành pháp kiềm chế, đối trọng lại với quyền lực lập pháp Theo đó, chế định giải tán Nghị viện là cách thức để kiềm chế lại chế định bất tín nhiệm Chính phủ Các nhà lập hiến tư sản cho rằng, nếu cứ để cho Nghị viện toàn quyền lật đổ Chính phủ thì sẽ tạo cho Nghị viện sự độc tài,
quyền lực của Nghị viện không thể bị chế ngự “Nếu cơ quan hành pháp không có
quyền ngăn cản các dự định của cơ quan lập pháp, thì cơ quan lập pháp sẽ trở thành chuyên chế, tự ban cho mình mọi thứ quyền hành mà xóa bỏ các quyền lực khác” 27
Trong chính thể đại nghị và cộng hòa lưỡng tính, xét về mặt hình thức của các quy định Hiến pháp, quyền giải tán Nghị viện thuộc về Nguyên thủ quốc gia, nhưng thực chất đó là quyền của Thủ tướng Chính phủ Các đề xuất giải tán Nghị viện có thể đến từ hai trường hợp: Thủ tướng yêu cầu Nguyên thủ quốc gia giải tán Nghị viện hoặc bản thân Nguyên thủ quốc gia nhận thấy cần phải giải tán cơ quan này Trường hợp thứ hai thông thường nguyên thủ quốc gia cũng tham khảo ý kiến của Thủ tướng trước khi ra quyết định Điều này xuất phát từ việc Thủ tướng trong chính thể đại nghị có quyền hạn rất lớn trong khi Nguyên thủ quốc gia chỉ là người thay mặt nhà nước về đối nội đối ngoại Thực tế cho thấy, Thủ tướng thường dùng biện pháp này để đe dọa Nghị viện trước tình cảnh có thể bị giải thể, buộc Nghị viện phải thông qua các dự án, chính sách của Chính phủ Nhiều Tổng thống cũng như Thủ tướng đã lợi dụng chế định này, nhằm mưu toan kéo dài nhiệm kỳ hoặc tăng cường quyền lực của mình Chẳng hạn như Tổng thống Pháp Jacques Chirac
đã tuyên bố giải tán Quốc hội Pháp ngày 21 tháng năm 1997 cho một cuộc bỏ phiếu lập pháp sớm trong một canh bạc nhằm thúc đẩy sự ủng hộ cho chương trình kinh tế mang tính bảo thủ của mình28
Việc giải tán Nghị viện có thể gây ra những bất ổn chính trị bởi đây là cơ quan do nhân dân bầu ra, nếu tùy tiện giải tán mà không có lý do hợp lý sẽ gây bất bình trong người dân Vì vậy, Hiến pháp các nước quy định trình tự giải tán Nghị viện rất khắt khe, phải tuân thủ chặt chẽ những điều kiện nhất định Chẳng hạn theo Điều 111 và 117 Hiến pháp Liên bang Nga, Tổng thống chỉ có thể giải tán Đuma quốc gia trong 3 trường hợp: Đuma quốc gia ba lần liên tiếp bác bỏ ứng cử viên chức Chủ tịch Chính phủ liên bang do Tổng thống đề cử; Đuma quốc gia trong thời gian ba tháng hai lần biểu quyết bất tín nhiệm Chính phủ liên bang; trong thời hạn 7
27 C.L Montesquieu (2010), Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, tr 111.
28
http://vi.wikipedia.org/wiki/Jacques_Chirac#Nhi.E1.BB.87m_k.E1.BB.B3_t.E1.BB.95ng_th.E1.BB.91ng_ C4.91.E1.BA.A7u_ti.C3.AAn_.281995.E2.80.932002.29 (truy cập ngày 30/06/2013)
Trang 24ngày kể từ khi Đuma quốc gia biểu quyết từ chối tín nhiệm Chính phủ liên bang Ngoài ra, Điều 109 Hiến pháp còn quy định một số điều kiện mà Tổng thống liên bang phải tuân thủ khi quyết định giải tán Đuma quốc gia
Thứ hai, Chính phủ có quyền phủ quyết đối với những dự luật của Nghị
viện Mặc dù các dự luật đã được Nghị viện thông qua nhưng nó vẫn chưa thể phát sinh hiệu lực Để một dự luật có hiệu lực điều chỉnh thì cần phải có sự phê chuẩn của nguyên thủ quốc gia Nếu không đồng ý, nguyên thủ quốc gia có quyền phủ quyết đối với dự luật đó Có hai loại quyền phủ quyết là phủ quyết tương đối và phủ quyết tuyệt đối Hệ quả của phủ quyết tuyệt đối là dự luật bị bác bỏ hoàn toàn, Nghị viện không có quyền thảo luận lại Ngược lại, phủ quyết tương đối không bác bỏ dự luật mà Nghị viện được quyền xem xét thảo luận lại cùng với ý kiến của nguyên thủ quốc gia Trong các chính thể cộng hòa Tổng thống cũng như cộng hòa lưỡng tính thì Nguyên thủ quốc gia đồng thời là người đứng đầu hành pháp Trong chính thể đại nghị, mặc dù quyền phủ quyết thuộc về Nguyên thủ quốc gia (Vua hoặc Tổng thống) nhưng thật sự luôn có sự tác động của nhánh hành pháp lên các quyết định này29 Vì vậy, có thể xem quyền phủ quyết chính là sự kiềm chế đối trọng của nhánh hành pháp đối với nhánh lập pháp
“Nhưng trong một nước tự do, nếu cơ quan lập pháp không nên có quyền ngăn cản cơ quan hành pháp thì nó phải có chức năng xem xét các đạo luật đã ban hành được thực hiện như thế nào” 30 Quyền phủ quyết tạo nên sự kiểm soát của người đứng đầu nhà nước đối với hoạt động lập pháp của Nghị viện bằng việc buộc Nghị viện phải xem xét lại các đạo luật của mình Điều này đảm bảo cho sự thận
trọng, kĩ lưỡng cần có cho hoạt động lập pháp “Nếu nhà vua tham gia việc lập
pháp với chức năng quy định luật thì sẽ không còn tự do nữa Nhưng dầu sao thì nhà vua cũng phải tham gia lập pháp để tự bảo vệ, nên ông chỉ tham gia với chức năng ngăn cản mà thôi”31 Sự can thiệp này đảm bảo cho Nghị viện không ban hành những đạo luật sai trái tự mở rộng quyền hạn cho mình, lấn át các cơ quan nhà nước khác
Thứ ba, Hiến pháp giới hạn phạm vi lập pháp của Nghị viện Về cơ bản,
Nghị viện được quyền ban hành những đạo luật nào mà nó thấy cần thiết để điều chỉnh đời sống xã hội Tuy nhiên, để hạn chế việc Nghị viện ban hành luật một cách tràn lan không xuất phát từ thực tiễn xã hội, gây nên sự lãng phí cũng như kém hiệu quả và có thể xâm phạm các nhánh quyền lực khác Hiến pháp quy định Nghị viện
29 Lê Quốc Hùng (2004), Thống nhất phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở Việt Nam, NXB Tư pháp,
Hà Nội, tr 52
30
C.L Montesquieu (2010), Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, tr 111.
31 C.L Montesquieu (2010), Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, tr 113
Trang 25chỉ được quyền thông qua những đạo luật mà nội dung của nó không can thiệp quá sâu vào lĩnh vực hành pháp Các đạo luật do Nghị viện chỉ nên quy định một cách chung nhất còn những vấn đề cụ thể sẽ do Chính phủ ban hành văn bản pháp quy quy định Hiến pháp Cộng hòa Pháp 1958 quy định Nghị viện chỉ được thông qua luật trong một phạm vi nhất định tại Điều 34 Đó là những lĩnh vực quan trọng như liên quan đến an ninh, quốc phòng, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ của công dân Các vấn đề còn lại được xác định thuộc lĩnh vực lập quy do Chính phủ thực hiện Vì
vậy, “nếu dự án luật đưa ra cho Nghị viện thảo luận không thuộc phạm vi lập pháp
của Nghị viện, thì Chính phủ chỉ cần tuyên bố dự án không thuộc quyền lập pháp, thì việc thảo luận dự án phải chấm dứt”32 Bên cạnh đó, Chính phủ còn kiềm chế quyền lập pháp của Nghị viện bằng các sáng kiến lập pháp Đa số các luật thuộc thẩm quyền ban hành của Nghị viện cũng đều do Chính phủ soạn thảo và trình Nghị viện thông qua Đặc biệt trong lĩnh vực ngân sách và tài chính, hiện nay hầu như các dự án ngân sách, thực hiện ngân sách cũng như các thẩm quyền khác của Nghị viện trong lĩnh vực tài chính đều nằm trong tay hành pháp Chẳng hạn như ở Anh,
Hạ viện chỉ cần phê chuẩn dự án ngân sách đã được Chính phủ chuẩn bị mà không cần thiết phải thay đổi Ở Nhật Bản cũng như Italia, các nghị sĩ không được quyền phát biểu về sự gia tăng chi phí ngân khố nhà nước, nếu như nghị sĩ không chỉ ra
được nguồn thu bù vào đã trở thành một quy định của Hiến pháp Như vậy, “quyền
lực hành pháp phải vận dụng chức năng ngăn cản để tham gia vào việc lập pháp, nếu không nó sẽ bị tước mất ưu quyền” 33
Thứ tƣ, Tòa án kiềm chế đối trọng Nghị viện bằng quyền giải thích Hiến
pháp và pháp luật Mặc dù các đạo luật là do Nghị viện xây dựng và ban hành những việc giải thích lại thuộc về Tòa án Nghị viện không có quyền giải thích chính các đạo luật của mình xuất phát từ nhiều lý do Một là, nếu để Nghị viện giải thích thì sẽ mất đi tính khách quan vì Nghị viện có thể tùy tiện giải thích theo quan điểm của mình hoặc che giấu đi những sơ hở, khuyết điểm, sai sót của đạo luật đó Hai là, Nghị viện không thực hiện chức năng xét xử, vì vậy Nghị viện không có nhu cầu giải thích luật và cũng không đủ trình độ chuyên môn, điều kiện để giải thích pháp luật Vì vậy, thẩm quyền giải thích pháp luật được trao cho Tòa án và việc giải thích này phải dựa trên cơ sở những quy định của Hiến pháp Những đạo luật nào
mà Tòa án phát hiện trái với Hiến pháp thì sẽ bị tuyên vô hiệu hoặc Tòa án ra phán quyết hủy bỏ đạo luật đó Sự kiềm chế đối trọng này của Tòa án đối với Nghị viện
32 Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1994), Luật Hiến pháp các nước tư bản, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội, tr 141
33
C.L Montesquieu (2010), Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, tr 112
Trang 26giúp loại bỏ những đạo luật kém chất lượng, không hiệu quả cũng như bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, đảm bảo mọi đạo luật của Nghị viện đều phải tuân theo những quy định của Hiến pháp
Hiện nay, để thực hiện thẩm quyền bảo hiến, các quốc gia thành lập các mô hình bảo hiến khác nhau Chẳng hạn như mô hình bảo hiến phi tập trung theo kiểu Hoa Kỳ - Nhật Bản là trao cho hệ thống cơ quan tư pháp thường Các Tòa án thường đứng đầu là Tòa án tối cao có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, từ đó ra phán quyết tuyên đạo luật là vi hiến hay hợp hiến Mô hình bảo hiến tập trung theo kiểu Cộng hòa Liên bang Đức là thành lập một Tòa án Hiến pháp độc lập có trách nhiệm giải quyết các vấn đề liên quan đến Hiến pháp, có quyền hủy bỏ hoặc sửa đổi
bổ sung đạo luật, can thiệp sâu vào quá trình lập pháp của Nghị viện Hội đồng bảo hiến của Cộng hòa Pháp thì ngược lại, chỉ có quyền tuyên đạo luật là hợp hiến hay
đổ vỡ hệ thống chính quyền Để tránh rủi ro này, trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn, tổ chức bộ máy nhà nước đều chú trọng tới sự kiểm soát, hạn chế cơ quan này, thiết lập những cơ chế chịu trách nhiệm của Chính phủ
Thứ nhất, Hiến pháp thiết lập cơ chế thực hiện quyền hành pháp tập thể
Theo đó, quyền hành pháp được trao cho một tập thể người và mọi quyết định của hành pháp đều phải được đa số phiếu tàn thành Việc quy định hành pháp tập thể có tác dụng ngăn chặn sự độc tài của cá nhân khi phân tán quyền lực cho nhiều cá nhân khác nhau đảm nhiệm Chẳng hạn như ở Thụy Sĩ, Chính phủ được gọi là Hội đồng liên bang do Quốc hội liên bang thành lập gồm 7 người phụ trách 7 lĩnh vực khác nhau Hội đồng liên bang hoạt động theo chế độ tập thể, các quyết định phải có quá nửa số thành viên tán thành Hoặc ở Sudan từ năm 2004 đến năm 2011, Hiến pháp quy định quyền hành pháp tập trung cho 3 người là Tổng thống và 2 Phó Tổng thống, mọi vấn đề về hành pháp phải được sự đồng ý của cả ba hoặc quá bán Hành pháp tập thể có ưu điểm là góp phần đưa ra những quyết định cẩn trọng, kĩ lưỡng hơn, hạn chế sự tùy tiện Nhưng mặt khác, nó lại làm cho việc giải quyết vấn đề
Trang 27chậm chạp trong khi nhanh chóng lại là một đòi hỏi cần thiết của quyền hành pháp
Vì vậy, cơ chế hành pháp lưỡng đầu chỉ phát huy hiệu quả ở những quốc gia có nền văn minh cao, nhà nước đóng vai trò phục vụ cộng đồng Còn lại đa số các nước quan niệm hành pháp mạnh phải là Chính phủ tập trung trong tay một người
“Quyền hành pháp thì phải trong tay một vị vua chúa, vì rằng quyền hành pháp luôn luôn cần đến một hành động nhất thời, để cho một người làm thì hơn là nhiều người cùng nắm”34
Thứ hai, Hiến pháp thiết lập cơ chế hành pháp lưỡng đầu Cơ chế này chỉ
xuất hiện trong chính thể cộng hòa lưỡng tính, theo đó quyền hành pháp được chia
sẻ cho Tổng thống và Thủ tướng Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia, tồn tại độc lập với Chính phủ vì do nhân dân trực tiếp bầu cử Trong khi đó, Thủ tướng là thủ lĩnh của Đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện và là người đứng đầu Chính phủ Tổng thống có nhiệm vụ hoạch định những chính sách chung và nắm những lĩnh vực quan trọng của quốc gia như công an, ngoại giao, quân đội Tổng thống có quyền trực tiếp lãnh đạo và chủ trì các phiên họp Chính phủ Thủ tướng và Nội các
có trách nhiệm thực thi các chính sách đó đồng thời quản lý những lĩnh vực còn lại
Ví dụ Điều 13 Hiến pháp Liên bang Nga 1993 quy định Thủ tướng Chính phủ Liên bang Nga căn cứ vào Hiến pháp Liên bang Nga, các luật của Liên bang Nga và các pháp lệnh của Tổng thống liên bang để xác định những phương hướng hoạt động cơ bản của Chính phủ và tổ chức công việc của Chính phủ
Hành pháp lưỡng đầu tạo cơ chế kiểm soát quyền hành pháp bằng cách phân tán quyền hành pháp cho hai chủ thể khác nhau đảm nhiệm Điều này giúp giảm bớt khối lượng công việc hành pháp cho Thủ tướng Đồng thời, Tổng thống do người dân bầu ra nên cơ chế này giúp nhân dân kiểm soát Chính phủ và kiểm soát được cả Nghị viện Về lý thuyết thì quyền hành pháp giữa Tổng thống và Thủ tướng cân bằng với nhau Tuy nhiên dưới sự tác động của các Đảng phái chính trị thì quyền lực có thể nghiêng về Tổng thống hoặc nghiêng về Thủ tướng nhiều hơn, nhưng có một điểm chung là không một thiết chế nào có toàn quyền Nếu Tổng thống cùng đảng với đảng chiếm đa số trong Nghị viện thì Tổng thống có toàn quyền chọn Thủ tướng là người cùng đảng với mình Khi đó, quyền hạn của Tổng thống là rất lớn, chi phối cả Thủ tướng và Chính phủ Ngược lại, nếu Tổng thống khác đảng với Nghị viện thì buộc Tổng thống phải chọn Thủ tướng là người cùng đảng với Nghị viện (để Nghị viện đồng ý phê chuẩn) Như vậy, quyền lực giữa Thủ tướng và Tổng thống cân bằng hơn
34
C.L Montesquieu (2010), Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch), NXB Đà Nẵng, tr 109
Trang 28Thứ ba, Nghị viện thực hiện kiềm chế đối trọng Chính phủ bằng hình thức
bỏ phiếu bất tín nhiệm Bỏ phiếu bất tín nhiệm là hình thức kiểm soát Chính phủ phổ biến ở các quốc gia theo chính thể đại nghị và cộng hòa lưỡng tính Theo đó, giữa lập pháp và hành pháp có mối liên hệ mật thiết vì Chính phủ được thành lập trên cơ sở Nghị viện Thủ tướng đứng đầu Chính phủ là thủ lĩnh của Đảng chiếm đa
số ghế trong Nghị viện (ở những quốc gia đa đảng nhưng có đảng nổi trội), các thành viên Chính phủ hầu hết là thành viên của Đảng cầm quyền Do đó, Nghị viện
có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ nếu xảy ra mâu thuẫn giữa hai cơ quan này Mâu thuẫn đó có thể là do Chính phủ hoạt động không hiệu quả, cũng có thể là chương trình hoạt động của Chính phủ không được Nghị viện chấp thuận, các dự án của Chính phủ không được Nghị viện thông qua hoặc bản thân uy tín của Thủ tướng
bị giảm sút dẫn đến khả năng phải từ chức… Khi bị tuyên bố bất tín nhiệm, tập thể Chính phủ phải giải tán và Thủ tướng phải từ chức Điều 50 Hiến pháp Cộng hòa Pháp quy định: “Trong trường hợp Hạ viện bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ hoặc không phê duyệt chương trình hành động hoặc tuyên bố chính sách chung của Chính phủ, Thủ tướng phải đệ đơn từ chức của Chính phủ lên Tổng thống”
Bỏ phiếu bất tín nhiệm là cách thức để Nghị viện kiểm soát Chính phủ, đây
là một loại trách nhiệm chính trị dựa vào uy tín, lòng tin Do đó, Nghị viện mặc dù thành lập và tạo cơ sở cho hoạt động của Chính phủ nhưng nếu Chính phủ không còn đáp ứng niềm tin của Nghị viện, Nghị viện có thể lật đổ để thành lập Chính phủ mới Cơ sở để quy trách nhiệm là sự đánh giá chính sách, đường lối hoạt động chính trị của Chính phủ và các thành viên Bất tín nhiệm Chính phủ được thực hiện bằng thủ tục bỏ phiếu tại Nghị viện và không mang tính tố tụng Mặc dù Nghị viện bỏ phiếu nhưng người ra quyết định bất tín nhiệm Chính phủ lại là Nguyên thủ quốc gia và Nguyên thủ quốc gia buộc phải thực hiện
Tuy nhiên, sự bất ổn chính trị có thể xảy ra thường xuyên do sự ra đi của Chính phủ bị bất tín nhiệm Ví dụ như nền Cộng hòa thứ IV của Pháp nhanh chóng sụp đổ khi Quốc hội được trao quá nhiều quyền lực, dẫn đến tình trạng mỗi năm có tới một hoặc hai Chính phủ sụp đổ do Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm35
Cho nên Hiến pháp thường quy định thủ tục bỏ phiếu bất tín nhiệm rất khắt khe Chẳng hạn Điều 67 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức 1949 quy định: “Hạ viện chỉ có thể bày tỏ sự thiếu tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang bằng cách bầu ra một người
kế nhiệm qua việc biểu quyết của đa số thành viên Hạ viện và yêu cầu Tổng thống Liên bang phế truất Thủ tướng liên bang Tổng thống liên bang phải tuân thủ yêu
35 http://caicachhanhchinh.gov.vn/uploads/News/2729/attachs/vi.bai%2012.doc (truy cập ngày 25/06/2014)
Trang 29cầu đó và chỉ định người được bầu” Hoặc Hiến pháp Cộng hòa Pháp 1958 tại Điều
49 quy định: “Thủ tục bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được chấp nhận khi có chữ ký của ít nhất 10% số thành viên Hạ viện Việc bỏ phiếu bất tín nhiệm của Chính phủ chỉ được tổ chức sau 48 giờ kể từ lúc trình kiến nghị Khi kiểm phiếu, chỉ cần tính các phiếu thuận không tín nhiệm Chính phủ và việc bất tín nhiệm Chính phủ được thông qua khi đạt đa số phiếu của các thành viên của Hạ viện”
Thứ tƣ, Nghị viện và Tòa án kiềm chế đối trọng Chính phủ bằng hình thức
luận tội Luận tội (hay đàn hạch) là cách thức Nghị viện kiểm soát Chính phủ ở nhiều quốc gia, phổ biến ở chính thể Cộng hòa Tuy nhiên, Anh là nước thuộc chính thể quân chủ đại nghị vẫn có quy định này Đây là một dạng trách nhiệm pháp lý dựa trên những hành vi sai trái của cá nhân vi phạm Đối tượng bị luận tội thường là những quan chức cao cấp của nhánh quyền hành pháp như Tổng thống, Phó Tổng thống hoặc Bộ trưởng Cơ sở để quy kết trách nhiệm là các hành vi vi phạm như tội phản quốc, có hành vi vi hiến, làm mất danh dự uy tín của nhà nước hoặc các trọng tội khác tùy quy định của mỗi quốc gia Tuy vậy, hình thức chế tài ở đây cũng chỉ là truất quyền nhân vật bị luận tội, kéo theo việc mất quyền miễn trừ và tạo điều kiện cho việc truy tố hình sự theo thủ tục thông thường Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình luận tội phổ biến
Theo mô hình luận tội kiểu Mỹ thì quá trình luận tội có sự tham gia của cả hai viện Cả quá trình luận tội diễn ra trong khuôn khổ Nghị viện, sau đó có thể tiến hành thủ tục tố tụng tại Tòa án Hạ viện buộc tội với tỉ lệ 2/3 và Thượng viện kết tội với tỉ lệ 2/3 Trong quá trình luận tội có sự tham gia của Thẩm phán Tòa án tối cao liên bang Sau khi bị kết tội, cá nhân vi phạm sẽ bị cách chức và có thể bị truy cứu trách nhiệm về những hành vi khác
Theo mô hình luận tội kiểu Pháp, một trong hai viện đóng vai trò buộc tội Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý sẽ được giải quyết ở Tòa án do Nghị viện lập ra Tổng thống chỉ bị đưa ra xét xử khi đạt được đa số phiếu tuyệt đối ở cả hai viện Sau đó, Nghị viện thành lập một Tòa án độc lập là Tòa án công lý tối cao để truy cứu trách nhiệm Tổng thống36
Theo mô hình luận tội kiểu Đức, một trong hai viện đóng vai trò buộc tội Việc khởi động luận tội phải có sự ủng hộ của ít nhất ¼ thành viên Hạ viện hoặc ¼
số phiếu của Thượng viện Nghị quyết về việc luận tội phải được thông qua với đa
số 2/3 thành viên của Hạ viện hoặc 2/3 số phiếu của Thượng viện37 Sau đó, hồ sơ được chuyển qua cho Tòa án Hiến pháp để thực hiện việc xét xử và ra phán quyết
36
Điều 68 Hiến pháp Cộng hòa Pháp 1958
37 Điều 61 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức 1949.
Trang 30Từ ba mô hình trên có thể nhận thấy rằng khi tiến hành luận tội Chính phủ, luôn có sự tham gia của hai nhánh quyền lực nhà nước còn lại là lập pháp và tư pháp Luận tội không chỉ có tác dụng kiểm soát mà còn truy cứu trách nhiệm tới cùng Chính phủ và các thành viên nếu họ có hành vi trái pháp luật
1.2.2.3 Kiềm chế, đối trọng giữa quyền tƣ pháp với quyền lập pháp và quyền
hành pháp
Mặc dù là một nhánh quyền độc lập với vai trò đảm bảo công bằng chung cho xã hội nhưng quyền tư pháp đôi khi cũng không thể tránh được sự lạm quyền
Đó là tình trạng “Chính phủ của những ông Tòa” ở Hoa Kỳ vào những năm đầu thế
kỉ XX khi Tòa án đã đi quá xa so với thẩm quyền của mình Hơn nữa, trong ba nhánh quyền lực thì sự độc lập của Tòa án là cao hơn cả vì rất ít chịu sự can thiệp từ bất cứ chủ thể nào, kể cả hai nhánh quyền lập pháp và hành pháp Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là tư pháp không bị kiềm chế
Thứ nhất, lập pháp và hành pháp kiềm chế đối trọng quyền lực tư pháp
thông qua công tác nhân sự Theo đó, việc bổ nhiệm các nhân viên của nhánh quyền
tư pháp thường có sự tham gia của các nhánh quyền lực khác, đặc biệt là nhánh lập pháp Trong chính thể quân chủ đại nghị, tiêu biểu là nước Anh thì Thẩm phán do
Nữ hoàng bổ nhiệm Chính thể Cộng hòa đại nghị thì ngược lại, lập pháp là cơ quan
bổ nhiệm Thẩm phán Chẳng hạn ở Cộng hòa Liên bang Đức, Thẩm phán của Tòa
án Hiến pháp do Nghị viện bầu ra Tương tự theo Hiến pháp Italia 1947, Nghị viện bầu 5 trong số 15 Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp và toàn bộ thành viên của Hội đồng tối cao Thẩm phán Ở các nước Cộng hòa Tổng thống thì sự tham gia của lập pháp hạn chế hơn, đồng thời có sự can thiệp từ phía hành pháp Tổng thống bổ nhiệm Thẩm phán của Tòa án tối cao theo sự đề nghị và phê chuẩn của Thượng viện Ở Liên bang Nga, Hội đồng Liên bang bổ nhiệm các Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp, Tòa án tối cao và Tòa án trọng tài tối cao Liên bang Nga theo đề nghị của Tổng thống
Tuy nhiên, sự kiểm soát của các nhánh quyền lực nhà nước khác đối với tư pháp ở mức độ rất hạn chế vì bản chất của quyền này đóng vai trò đảm bảo công lý cho xã hội Nhánh quyền tư pháp luôn đề cao nguyên tắc độc lập: Thẩm phán độc lập và xét xử độc lập Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình chỉ tuân theo pháp luật Đồng thời, với nhiệm kì và chế độ đãi ngộ xứng đáng, Thẩm phán không phải chịu sự tác động từ chủ thể nào ngay cả những người đã bổ nhiệm mình Nhiệm kì lâu dài giúp Thẩm phán yên tâm công tác, tích lũy được nhiều kinh nghiệm xét xử, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, từ đó không dễ dàng chịu
áp lực từ bên ngoài Vì vậy, sự kiểm soát của các nhánh quyền còn lại chỉ ở mức độ
Trang 31bổ nhiệm nhân sự và truy cứu trách nhiệm nếu có vi phạm Còn trong quá trình hoạt động, thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình thì Tòa án hoàn toàn độc lập
Thứ hai, lập pháp thực hiện kiềm chế đối trọng quyền lực tư pháp thông qua
thủ tục luận tội Thẩm phán ở các nước tư sản có nhiệm kì rất lâu dài, thậm chí là suốt đời Nhiệm kì chỉ kết thúc trước hạn khi họ có hành vi vi phạm pháp luật Khi
đó, Thẩm phán buộc phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình Thủ tục luận tội Thẩm phán cũng tiến hành tương tự như các thành viên Chính phủ
Các biện pháp để kiềm chế và đối trọng quyền lực tư pháp thường ít hơn so với lập pháp và hành pháp Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân Có thể kể đến
đó là sự tuân thủ tiền lệ cũng như sự thượng tôn pháp luật trong nền văn hóa tư pháp của các quốc gia tư sản Theo đó, ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc triệt để, cũng như trình độ chuyên môn rất cao đã góp phần giới hạn được sự tùy tiện của Thẩm phán Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, tư pháp của mỗi bang hay của Liên bang đều có bộ Quy tắc Ứng xử khuyến khích sự trung thành ở mức cao nhất với các nguyên tắc đạo đức Ngay tiêu chuẩn đầu tiên của bộ Quy tắc Ứng xử đối với quan tòa Liên bang đã nhắc nhở các quan tòa “nêu cao tính liêm chính và độc lập của tư pháp”38 Ngoài ra, sự phê bình sắc bén đúng lúc của các học giả và luật gia với các quyết định, lý luận của Thẩm phán, cộng với sự theo dõi rộng rãi của giới truyền thông, cũng khiến cho nhánh quyền tư pháp hoạt động đúng khuôn khổ thẩm quyền của mình
1.2.3 Nguyên tắc phân quyền trong Hiến pháp các quốc gia
Với tư cách là nguyên tắc chỉ đạo trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nên hình thức biểu hiện của nguyên tắc phân quyền thường được ghi nhận trong các văn kiện quan trọng của quốc gia như các bản Tuyên ngôn và Hiến pháp
Điều 16 “Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân” năm
1789 của Pháp đã viết: “Một xã hội trong đó không bảo đảm việc sử dụng các quyền và không thực hiện sự phân quyền thì không có Hiến pháp”
Nguyên tắc phân quyền được ghi nhận phổ biến trong Hiến pháp các nước Bởi vì Hiến pháp là văn bản pháp lý cao nhất quy định về tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước, những mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với nhau Với tư cách là nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức nhà nước cũng như là công
cụ hữu hiệu chống lại sự lạm quyền, chuyên chế thì phân quyền được ghi nhận trang trọng trong Hiến pháp các nước tư sản Nhiều học giả tư sản đã cho rằng ở đâu
38
Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến – Một số tiểu luận của
các học giả nước ngoài, NXB Lao động xã hội, tr 323
Trang 32không có sự phân chia quyền lực thì ở đó bất thành Hiến pháp39
Tuy nhiên, cách quy định trong Hiến pháp của mỗi nước lại khác nhau Một số Hiến pháp quy định
rõ thành điều khoản của nguyên tắc này, đồng thời thiết kế các quy định về Nghị viện, Tổng thống/Chính phủ, Tòa án để thể hiện sự phân chia quyền lực
Điều 10 Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan 1997 quy định : “(1) Hệ thống chính quyền của Cộng hòa Ba Lan được tổ chức trên cơ sở phân chia và cân bằng giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp (2) Quyền lập pháp thuộc về Hạ nghị viện và Thượng nghị viện, quyền hành pháp thuộc về Tổng thống Cộng hòa Ba Lan và Hội đồng Bộ trưởng, và quyền tư pháp thuộc về các Tòa án”
Tương tự, Điều 10 Hiến pháp Liên bang Nga 1993 quy định: “Quyền lực nhà nước Liên bang Nga được thực thi trên cơ sở phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau” Quy định này đã được cụ thể hóa tại Điều 11 của Hiến pháp: “(1) Quyền lực nhà nước ở Liên bang Nga được thực hiện bởi Tổng thống Liên bang Nga, Quốc hội Liên bang (gồm Hội đồng Liên bang và Duma quốc gia), Chính phủ Liên bang Nga, các Tòa án Liên bang Nga”
Điều 34 Hiến pháp Ruanda ghi nhận: “Sự phân chia và hợp tác giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thiêng liêng và được điều chỉnh trong Hiến pháp” Thậm chí, Hiến pháp Liberia còn chỉ rõ: cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước là nguyên tắc phân quyền và hệ thống “kiềm chế đối trọng”40
Bên cạnh đó, đa số các Hiến pháp không quy định về nguyên tắc phân chia quyền lực trong một điều khoản riêng biệt mà trao quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện và quyền phán xét về tính hợp hiến được trao cho Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến (nếu có) Không chỉ quy định về sự phân chia mà Hiến pháp còn quy định về cơ chế kiềm chế đối trọng giữa các cơ quan nhà nước bằng những điều khoản về Nghị viện hay Chính phủ Vì vậy, mặc dù không thể hiện một cách trực tiếp nhưng cũng đã thể hiện được nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước
Điều 40 Hiến pháp Hàn Quốc 1987 ghi nhận “Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội”, Điều 66 quy định “Quyền hành pháp được trao cho nhánh Hành pháp được lãnh đạo bởi Tổng thống”, “Quyền lực Tư pháp được trao cho Tòa án bao gồm
Trang 33các Thẩm phán” tại Điều 101 và Tòa án Hiến pháp được quy định thành một chương riêng là chương VI
Điều 20 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức 1949 quy định “Mọi quyền lực của cơ quan nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân Quyền lực đó được thực hiện bởi nhân dân thông qua bầu cử, việc bỏ phiếu và thông qua các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cụ thể”
Điều 1 khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1787 quy định “Toàn bộ quyền lập pháp được thừa nhận tại đây sẽ được trao cho Quốc hội Hoa Kỳ Quốc hội gồm có Thượng viện và Hạ viện”, “Quyền hành pháp được trao cho tổng thống Hoa Kỳ” tại Điều 2 khoản 1 và “Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những Tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp” tại Điều 3 khoản 1 Đồng thời, Hoa Kỳ là nhà nước liên bang nên trong Hiến pháp của mỗi tiểu bang cũng ghi nhận sự phân chia quyền lực Điều 30 Hiến pháp bang Massachusetts nhấn mạnh: “Trong chính quyền của khối thịnh vượng chung này, lập pháp không bao giờ được thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp, hoặc một trong hai quyền đó; hành pháp không bao giờ được thực hiện quyền lập pháp và quyền tư pháp, hoặc một trong hai quyền đó; tư pháp không bao giờ được thực hiện quyền lập pháp và quyền hành pháp, hoặc một trong hai quyền đó Mục đích là làm sao để có một chính quyền pháp trị chứ không phải nhân trị” Hoặc Điều 2 Hiến pháp bang Connecticut nêu rõ: “Chính quyền trong bang phải phân ra cho ba cơ quan khác nhau; chính quyền lập pháp thuộc một cơ quan, chính quyền hành pháp phải thuộc một cơ quan khác và Tòa án thuộc cơ quan thứ ba”41
1.3.1 Giá trị của nguyên tắc phân quyền đối với nhà nước tư sản
Phân quyền là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở hầu hết các nước tư sản Mặc dù xuất hiện từ thời cổ đại nhưng nguyên tắc này vẫn có những đóng góp to lớn cho đến hiện nay, những giá trị phổ quát của nó vẫn tiếp tục được khai thác và nhân rộng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Thứ nhất, việc áp dụng nguyên tắc phân quyền “chống lại mọi sự lạm dụng
quyền lực nhà nước của bất kể cành quyền lực nào, kể cả của Nghị viện đông người
do nhân dân trực tiếp bầu ra lẫn cả của cá nhân nguyên thủ quốc gia một người cho dù là thế tập hay do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp bầu ra”42 Phân quyền là phương thức hữu hiệu để đấu tranh chống sự độc quyền, chuyên chế Nguy cơ lạm
Trang 34dụng quyền lực luôn tiềm ẩn trong bản thân nhà nước Phân quyền giúp kiểm soát quyền lực nhà nước, chống lại chế độ độc tài và đặt nền móng cho thể chế tự do dân chủ Phân quyền làm cho quyền lực nhà nước không có cơ hội tập trung vào tay một
cá nhân hay một cơ quan nào Cả lý thuyết và thực tiễn đều chứng minh phân quyền chính là cách thức kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả nhất, đúng như Montesquieu đã chỉ ra “dùng quyền lực để chế ngự quyền lực”
Thứ hai, nguyên tắc phân quyền ảnh hưởng đến sự hình thành các thể chế
nhà nước tư sản trên thế giới Thông qua việc vận dụng nguyên tắc phân quyền một cách cứng rắn hay mềm dẻo mà nhiều chính thể nhà nước khác nhau xuất hiện, mang những nét độc đáo và hiệu quả nhất định Dưới ảnh hưởng của phân quyền, các chính thể như quân chủ đại nghị, cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống hay cộng hòa lưỡng tính ra đời Các mô hình chính thể này có những nét đặc trưng riêng phù hợp với tình hình chính trị, xã hội và hoàn cảnh của mỗi quốc gia Tuy nhiên, chúng đều có điểm chung là áp dụng phân quyền vào tổ chức quyền lực nhà nước, chỉ khác là ở mức độ ít hay nhiều, thừa nhận hay không thừa nhận chính thức Các nhà nước này đã đóng góp những giá trị và kinh nghiệm không nhỏ cho nhân loại trong quá trình tìm kiếm cách thức để hoàn thiện vấn đề tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước
Thứ ba, phân quyền tạo ra cơ chế phân công, phối hợp giữa các nhánh
quyền lực nhà nước một cách khoa học.Với việc trao quyền lực của nhân dân cho các nhánh quyền lực tương ứng với các cơ quan khác nhau đã hình thành nên quá trình phân công lao động nhằm tạo sự chuyên nghiệp hóa, chuyên môn hóa chức năng, nhiệm vụ của mỗi nhánh quyền lực Mỗi cơ quan hoạt động trong lĩnh vực chuyên môn của mình, không trùng lắp, chồng chéo hay loại trừ nhau mà làm tăng tính hiệu quả và tác dụng của chính quyền Đồng thời, khẳng định vị trí, vai trò của mỗi nhánh quyền trong cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, mỗi nhánh đều có tầm quan trọng như nhau
Thứ tƣ, phân quyền còn là phương thức để bảo vệ tốt nhất quyền con người
bằng cách kiểm soát và chống lại sự tùy tiện của nhà nước “Trong khi thành lập
một Chính phủ để người cai trị người, sự khó khăn lớn nhất là ở chỗ này: trước hết phải làm thế nào để Chính phủ có thể cai trị được dân chúng và sau nữa là phải làm thế nào để Chính phủ tự mình có thể kiểm soát lấy mình được Chính phủ cần phải phụ thuộc vào nhân dân, đó cố nhiên là một giải pháp để kiểm soát Chính phủ rồi, nhưng dù sao cũng cần có nhiều phương tiện khác để phòng ngừa”43 Nhà nước
43
James Madison - Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến – Một
số tiểu luận của các học giả nước ngoài, NXB Lao động xã hội, tr 115
Trang 35được lập ra là để phục vụ và đảm bảo những lợi ích nhất định cho nhân dân, cung cấp những điều kiện an sinh xã hội, cuộc sống ấm no cho nhân dân Tuy nhiên nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình Bất cứ ở đâu có quyền lực sẽ xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền Vì vậy cần phải thiết lập
cơ chế để giới hạn quyền lực nhà nước, thực hiện sự phân chia quyền lực và giới hạn nó trong khuôn khổ pháp luật Đó là điều kiện tiên quyết của tiến trình dân chủ hóa trong đời sống xã hội và phân quyền là yếu tố đảm bảo cho điều đó
Thứ năm, phân quyền còn là một yêu cầu của nhà nước pháp quyền dân chủ
“Nhà nước pháp quyền được tổ chức ra để không ai có thể lạm dụng quyền lực, chống người khác, mưu lợi cho bản thân Muốn không có sự lạm dụng quyền lực, thì phải sắp xếp quyền lực sao cho quyền lực ngăn chặn quyền lực, theo kiểu tham vọng phải được kiềm chế bằng tham vọng”44 Học thuyết về nhà nước pháp quyền chỉ rõ sự phân chia quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Mỗi chức năng chủ yếu đó được trao cho một cơ quan nhà nước thực hiện và các cơ quan này đều được thành lập, hoạt động dựa trên quy định của pháp luật Nhà nước pháp quyền luôn đề cao sự thượng tôn pháp luật, kiềm chế chính quyền
và kiểm soát quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Hoạt động của cơ quan công quyền bị giới hạn bởi pháp luật, dựa trên cơ sở pháp luật và bị kiểm soát theo pháp luật Vì vậy, phân quyền có giá trị lớn lao trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ
1.3.2 Giá trị của nguyên tắc phân quyền đối với nhà nước Hoa Kỳ
Ngay từ thuở mới lập quốc, các vị cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ đã quan tâm rất nhiều đến cách thức tổ chức quyền lực nhà nước Rút kinh nghiệm từ tổ chức bộ máy nhà nước Anh thời đó và tiếp thu học thuyết phân quyền của Montesquieu, nguyên tắc phân quyền đã được áp dụng một cách triệt để tại Hoa Kỳ thông qua việc xây dựng mô hình chính thể Cộng hòa Tổng thống Các nhà lập hiến
đã nhận ra được các khiếm khuyết của các mô hình nhà nước trên thế giới là không
có một cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu “…các khiếm khuyết đó phải được xử
lý bằng những quy định đúng đắn trong bản Hiến pháp để thiết lập một hệ thống chính quyền, trong đó, các nhánh chính quyền quan hệ và ràng buộc với nhau theo cách thích hợp và đặt những cơ quan này vào những vị trí, sao cho chúng sẽ kiểm soát được hoạt động của nhau”45 James Madison đã khẳng định cấu trúc của chính quyền mới phải thiết lập được những kiểm tra và đối trọng thích hợp giữa những
44
Nguyễn Đăng Dung – Trương Đắc Linh – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn Văn Trí
(2010), Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp, kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, NXB Giáo dục, tr 53-54
45 Nguyễn Cảnh Bình (2009), Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào, NXB Tri thức, tr 372
Trang 36nhánh chính quyền khác nhau Vì vậy, Hoa Kỳ được xem là quốc gia áp dụng triệt
để nhất nguyên tắc phân quyền, mà hạt nhân là cơ chế kiềm chế đối trọng giữa các nhánh quyền lực nhà nước
Trải qua hơn 200 năm phát triển, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ mười ba bang thuộc địa của Anh đã lớn mạnh không ngừng với 50 bang và các vùng lãnh thổ đứng thứ tư trên thế giới Mặc dù là quốc gia non trẻ nhưng Hoa Kỳ lại có một nền chính trị tương đối ổn định và nền kinh tế chiếm vị trí số một thế giới, là một trong những cường quốc hàng đầu Để đạt được điều đó, một điều không thể phủ nhận là
có sự đóng góp rất lớn của mô hình tổ chức nhà nước Sự áp dụng triệt để học thuyết phân quyền với cơ chế kiềm chế đối trọng cứng rắn đã tạo nên một bộ máy chính quyền hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả Đồng thời tạo nên một hình thức chính thể hoàn toàn mới là Cộng hòa Tổng thống với những ưu điểm mà hầu như các quốc gia đều đang hướng tới để hoàn thiện
Tóm lại, nguyên tắc phân quyền được xây dựng trên cơ sở học thuyết phân quyền của các học giả phương Tây Từ sau cách mạng tư sản đến hiện nay, nguyên tắc phân quyền được áp dụng phổ biến ở các nhà nước tư sản Ở mỗi nhà nước khác nhau với các hình thức chính thể khác nhau thì nguyên tắc phân quyền có sự biến dạng linh hoạt Qua thực tiễn tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của các quốc gia, nguyên tắc phân quyền được vận dụng một cách mềm dẻo hoặc cứng rắn tùy vào đặc điểm chính trị - xã hội của từng nước Nhưng có một điểm chung nhất là trên nền tảng phân chia quyền lực, các quốc gia luôn thiết lập một cơ chế để các cơ quan nhà nước tối cao thực hiện kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau bằng những biện pháp nhất định Phân quyền được xem là cách thức để kiểm soát quyền lực một cách thường xuyên và hiệu quả, ngăn ngừa những hậu quả xấu có thể xảy ra trong hoạt động của bộ máy nhà nước
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN NGUYÊN TẮC PHÂN QUYỀN TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG HOA KỲ
Hiến pháp Hoa Kỳ là bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới, ra đời vào năm 1787 Đây là bản Hiến pháp lâu đời và nổi tiếng nhất, là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Hiến pháp là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của nhà nước pháp quyền Mỹ, là xương sống cho toàn bộ đời sống chính trị - xã hội của nước Mỹ Mặc dù ra đời hơn 200 năm với 7 Điều đầu tiên và
27 Điều bổ sung (Tu chính án) nhưng những nguyên tắc quan trọng cốt lõi vẫn giữ nguyên và là hình mẫu cho nhiều bản Hiến pháp của các quốc gia khác sau này Đặc biệt, Hiến pháp Hoa Kỳ đã áp dụng một cách khoa học tư tưởng phân chia quyền lực của Montesquieu vào tổ chức bộ máy nhà nước Theo đó, chính quyền liên bang được chia thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp Mỗi nhánh có sự độc lập một cách tương đối để kiềm chế đối trọng hai nhánh còn lại Nguyên tắc phân chia giữa các nhánh quyền lực nhà nước trong Hiến pháp 1787 là một nguyên tắc quan trọng để xây dựng nên một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ ở Hoa Kỳ, nơi mà pháp luật được thượng tôn và quyền con người, quyền công dân được đảm bảo, chống lại
sự lạm dụng quyền lực từ phía nhà nước Bên cạnh đó, trên cơ sở của nguyên tắc này, bộ máy nhà nước vận hành một cách linh hoạt và hiệu quả
2.1 Sự độc lập giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước trung ương Hoa Kỳ 2.1.1 Về cách thức hình thành
Cơ quan lập pháp
Cơ quan lập pháp theo Hiến pháp là Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Quốc hội Hoa Kỳ được tổ chức theo mô hình lưỡng viện, gồm Thượng viện (Senate) và Hạ viện (House of Representatives)
Hạ viện bao gồm những Hạ nghị sĩ đại diện cho mỗi bang theo quy mô dân
số Ứng cử viên Hạ viện phải từ 25 tuổi trở lên, mang quốc tịch Hoa Kỳ ít nhất 7 năm và là công dân của bang mà họ đại diện46 Các nghị sĩ được bầu lên từ các đơn
vị bầu cử của bang, cứ 30.000 dân sẽ có một nghị sĩ nhưng mỗi bang phải có ít nhất một hạ nghị sĩ để đảm bảo các bang nhỏ vẫn có đại biểu của mình trong Hạ nghị
viện “Có thể thấy đây là một quy định mở Hiến pháp không quy định tổng số Hạ
nghị sĩ và quy định số hạ nghị sĩ dựa vào dân số của từng bang Số dân này có thể
sẽ thay đổi trong nhiều năm và những quy định như vậy vẫn luôn phù hợp” 47 Như
Trang 38vậy, căn cứ vào các cuộc điều tra dân số thì số ghế trong Hạ viện sẽ có sự thay đổi cho phù hợp với dân số của từng bang trong từng thời kì khác nhau
Thượng viện đại diện cho quyền lợi của các tiểu bang nên số lượng thành viên cố định là 100 người, đại diện cho 50 tiểu bang của Hoa Kỳ So với thời kì đầu mới thành lập thì số lượng Thượng nghị sĩ đã tăng từ 26 người lên 100 người theo
sự gia tăng của các bang Thượng nghị sĩ do cử tri các bang bầu ra Đây là sự thay đổi về cách thức hình thành Thượng viện Hoa Kỳ hiện nay so với thời kì trước năm
1913 khi mà thành viên Thượng viện đều do cơ quan lập pháp của tiểu bang bầu ra Sau năm 1913, Tu chính án 17 quy định Thượng nghị sĩ phải do người dân trong
tiểu bang họ đại diện bầu ra, “qua đó làm cho quyền lực của Thượng viện cân bằng
hơn so với Hạ viện”48, đều được nhân dân trực tiếp bầu ra Ứng cử viên Thượng
nghị sĩ phải từ 30 tuổi trở lên, là công dân Hoa Kỳ ít nhất 9 năm và cư trú tại chính bang mà họ đại diện49
Như vậy, Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ hình thành một cách độc lập, đều
do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân Số lượng đông đảo nghị sĩ đã phản ánh được rộng rãi quan điểm của người dân, đại diện cho ý chí của mọi tầng lớp nhân dân Đồng thời, cơ cấu hai viện cũng đảm bảo lợi ích của các bang lớn, nhỏ đều có đại diện của mình trong Quốc hội liên bang
Cơ quan hành pháp
Hoa Kỳ không có Nội các hay Chính phủ theo nghĩa như phần lớn các nước
khác Hiến pháp trao quyền hành pháp cho một vị Tổng thống: “Quyền hành pháp
sẽ được trao cho một vị Tổng thống Hợp chúng quốc Mỹ Châu”50 Phó Tổng thống
là người giúp việc cho Tổng thống đồng thời là Chủ tịch Thượng viện Tổng thống
do tập thể đại cử tri gồm 538 người bầu ra (bầu cử gián tiếp)51 Ứng cử viên Tổng thống phải là công dân Hoa Kỳ từ lúc sinh ra, phải là người ít nhất 35 tuổi và có trên
14 năm cư trú tại Hoa Kỳ52 Các ứng cử viên Tổng thống được Đại hội dân tộc của các Đảng (chủ yếu là Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa) đề cử Ngoài ra còn có các ứng cử viên độc lập do chính họ tự ứng cử lên Ủy ban bầu cử của liên bang
Ngoài ra còn có những điều kiện khắt khe hơn nhưng chỉ áp dụng cho những ứng cử viên của hai Đảng lớn là Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ Thông thường
48 Nguyễn Tất Đạt (2012), Chế độ tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và sự hình thành nhà nước pháp
quyền Mỹ, NXB Chính trị quốc gia, tr 144
49
Điều 1 khoản 3 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1787
50 Khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1994), Luật Hiến pháp các nước tư bản, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội, tr 258
51 Đại cử tri do công dân của mỗi bang trực tiếp bầu ra và tiến hành theo luật riêng của mỗi bang Số lượng đại cử tri bằng tổng số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ của bang đó cộng lại (riêng quận Colombia có 3 phiếu).
52 Điều 2 khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1787
Trang 39phải là đàn ông da trắng, có bằng Đại học, theo đạo Tin lành và phải là đại diện của một bang lớn Tuy nhiên, pháp luật không cấm người da đen ứng cử Ví dụ như Tổng thống Barack Obama là người da màu nhưng vẫn được là đại diện của Đảng Dân chủ và là Tổng thống da màu đầu tiên của Hoa Kỳ Ứng cử viên Tổng thống sẽ lựa chọn cho mình ứng cử viên phó Tổng thống và phải ở tiểu bang khác với bang nơi cư trú của ứng cử viên Tổng thống
Nội các (Chính phủ) Hoa Kỳ gồm các quan chức đứng đầu các bộ, ngành và không được quy định cụ thể cơ cấu cũng như thành phần trong Hiến pháp, vì vậy, Tổng thống có toàn quyền quyết định số lượng thành viên Nội các Hiện nay, Nội các có 16 thành viên là Bộ trưởng của 16 Bộ53 Nội các hoàn toàn chỉ đóng vai trò
tư vấn, giúp việc đắc lực cho Tổng thống, do Tổng thống tự mình lựa chọn, bổ nhiệm, bãi nhiệm và phải có sự phê chuẩn của Thượng nghị viện Trực thuộc Tổng thống còn có một số các cơ quan phụ trợ khác để giúp Tổng thống điều hành bộ máy hành chính Tổng thống Hoa Kỳ là Chủ tịch các cơ quan đó và bổ nhiệm người đứng đầu gọi là Chủ tịch lâm thời để trực tiếp điều hành
Như vậy, bộ máy hành pháp Hoa Kỳ là nhánh quyền lực thứ hai hoàn toàn độc lập với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp Tổng thống Hoa Kỳ do nhân dân bầu ra nên không chịu trách nhiệm trước Quốc hội mà chịu trách nhiệm trước nhân dân Các chức danh trong Chính phủ đều do Tổng thống chỉ định nên phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống và có nhiệm vụ giúp việc cho Tổng thống Tổng thống độc lập trong các quyết định và Chính phủ tồn tại theo ý chí của Tổng thống
Tổng thống Abraham Lincoln từng có câu nói nổi tiếng: “bảy phiếu thuận, một
phiếu chống, phiếu chống thắng”
Cơ quan tư pháp
Quyền lực tư pháp được trao cho Tòa án tối cao liên bang (Tối cao pháp viện) Tòa án tối cao liên bang có 9 Thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm theo sự giới thiệu của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và được Thượng nghị viện phê chuẩn54
“Theo
thông lệ, tiêu chuẩn để bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án tối cao ở Mỹ thường được
mô tả, phải là người da trắng, có tuổi đời từ 50 đến 56 tuổi, dòng dõi quý tộc, có địa vị cao trong xã hội, sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hoạt
53
Nguyễn Tất Đạt (2012), Chế độ tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và sự hình thành nhà nước pháp
quyền Mỹ, NXB Chính trị quốc gia, tr.154
54 Điều 2 khoản 2 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1787
Trang 40động chính trị, đã tốt nghiệp đại học trở lên, được đào tạo cơ bản về pháp luật và từng giữ những chức vụ cao trong bộ máy nhà nước”55
Mặc dù việc bổ nhiệm Thẩm phán là do Tổng thống quyết định, nhưng từ năm 1900, hệ thống Tòa án ở Hoa Kỳ đã tự lập trong tổ chức quản lý hành chính và thiết lập nên những tổ chức bên trong Tòa án để nâng cao chuyên môn cho Thẩm
phán cũng như tạo tiếng nói tập thể có tính tổ chức cho Tòa án “Quốc hội còn
thành lập ra cơ quan quản lí hành chính các Tòa án, có nhiệm vụ quản lí ngân sách, nhân sự và các nhiệm vụ khác liên quan tới cơ sở vật chất của Tòa án”56
Vì vậy, Tòa án không chịu sự ảnh hưởng của nhánh hành pháp về cơ sở vật chất Đồng thời Quốc hội cũng chỉ thực hiện việc quản lý những vấn đề về mặt hành chính chứ không có khả năng tác động sâu vào chuyên môn hoạt động của Tòa án
Những quy định như trên đảm bảo tính độc lập của Tòa án, thoát li khỏi sự ảnh hưởng của nhánh quyền hành pháp Cùng với nguyên tắc hoạt động chỉ tuân theo pháp luật, Tòa án còn độc lập với nhân dân do không được người dân bầu và không chịu trách nhiệm trước nhân dân
2.1.2 Về nhiệm kỳ và chế độ đãi ngộ
Cơ quan lập pháp
Hạ nghị viện có nhiệm kỳ 2 năm Nhiệm kì ngắn tạo cơ sở để Hạ viện thường xuyên đổi mới nhằm nâng cao chất lượng nhân sự cũng như nắm bắt kịp thời nguyện vọng của dân chúng Hạ viện là đại diện của toàn thể dân chúng, nhiệm
kì 2 năm là phù hợp để duy trì được sự phụ thuộc, gần gũi của chính quyền đối với nhân dân
Thượng nghị viện có nhiệm kỳ 6 năm, cứ 2 năm sẽ bầu lại một phần ba số
thành viên “Ngay sau khi Thượng viện nhóm họp lần đầu tiên, các Thượng nghị sĩ
sẽ phân chia thành ba hạng: Ghế Thượng nghị sĩ thuộc lớp thứ nhất sẽ khuyết vào năm thứ hai, lớp thứ hai vào năm thứ tư và lớp thứ ba vào năm thứ sáu, sao cho cứ mỗi năm một phần ba tổng số Thượng nghị sĩ lại được tuyển cử”57
Nguyên nhân có quy định này bởi vì nhiệm kì của Thượng nghị sĩ quá dài và cùng một thời điểm thì
sẽ có nguy cơ họ cấu kết với nhau để tha hóa, chiếm đoạt quyền lực Việc bổ nhiệm lại giúp duy trì trong Thượng viện một nhóm nghị sĩ cũ và một nhóm nghị sĩ mới, đảm bảo sự ổn định và tăng cường tính mới cho Thượng viện
55Trần Hậu Thành (2005), Cơ sở lí luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, NXB Lý luận chính trị, tr.215
56Nguyễn Tất Đạt (2012), Chế độ tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và sự hình thành nhà nước pháp
quyền Mỹ, NXB Chính trị quốc gia, tr.166.
57 Điều 1, khoản 3, đoạn 2 Hiến pháp Liên bang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ