1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong bộ luật hình sự 1999 những vấn đề lý luận và thực tiễn

91 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 903,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện áp dụng các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự còn một số điểm chưa rõ ràng, không được hướng dẫn cụ thể nên việc áp dụng pháp luật của các cơ quan thẩm quyền gặp nhiều khó kh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÌNH SỰ

-*** -

TRẦN THỊ THƠ MSSV: 1155030308

BIỆN PHÁP MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Niên khóa: 2011 - 2015 GVHD: ThS MAI THỊ THỦY

Trang 3

MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM

HÌNH SỰ 01

1.1 Khái niệm chung về trách nhiệm hình sự 01

1.1.1 Định nghĩa và đặc điểm của trách nhiệm hình sự 01

1.1.2 Các hình thức của trách nhiệm hình sự 04

1.1.3 Cơ sở của trách nhiệm hình sự 06

1.2 Khái niệm chung về miễn trách nhiệm hình sự 08

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự 08

1.2.2 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với các trường hợp khác 11

1.2.3 Cơ sở của việc quy định biện pháp miễn trách nhiệm hình sự 14

1.2.4 Ý nghĩa của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong Luật Hình sự Việt Nam 16

1.3 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự 18

1.3.1 Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật Hình sự Việt Nam thời phong kiến 18

1.3.2 Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật Hình sự Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến trước khi ban hành Bộ Luật Hình Sự 1985 20

1.3.3 Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ Luật Hình Sự 1985

22

1.4 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật Hình sự của một số nước trên thế giới 25

1.4.1 Miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga 25

1.4.2 Miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Canada 29

1.4.3 Miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Trung Hoa 30

Trang 4

CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM

1999 VỀ BIỆN PHÁP MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 33

2.1 Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự 33

2.1.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong Phần Chung của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 34

2.1.1.1 Miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo Điều 19 Bộ luật Hình sự 34

2.1.1.2 Miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình

sự theo Điều 23 Bộ luật Hình sự 38

2.1.1.3 Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự 40

2.1.1.4 Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Bộ luật Hình sự 41

2.1.1.5 Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Bộ luật Hình sự 43

2.1.1.6 Miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên phạm tội theo khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự 44

2.1.2 Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong Phần Các tội phạm của

Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 46

2.1.2.1 Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội gián điệp theo khoản 3 Điều 80 Bộ luật Hình sự 46

2.1.2.2 Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội đưa hối lộ theo khoản

Trang 5

2.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 1999 52

2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện biện pháp miễn trách nhiệm hình

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Miễn trách nhiệm hình sự là biện pháp có nội dung miễn giảm khoan hồng nhất trong tất cả các biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội Bởi vì, miễn trách nhiệm hình sự là miễn tất cả các nội dung của trách nhiệm hình sự, bao gồm hình phạt hoặc biện pháp tư pháp và án tích Đồng thời, việc áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự còn có ý nghĩa động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo tốt, hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội Do đó, việc áp dụng đúng đắn biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan Nhà nước và Tòa án trong công tác phòng chống tội phạm, bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì thế việc thừa nhận

và quy định rõ ràng các nội dung của quy định này trong luật hình sự là hết sức cần thiết

Biện pháp miễn trách nhiệm đã được quy định chính thức trong Bộ luật Hình

sự 1985 và hoàn thiện hơn trong Bộ luật Hình sự 1999 Tuy nhiên, với những thay đổi không ngừng của đời sống xã hội thì việc áp dụng pháp luật không phải là đơn giản Đi sâu vào nghiên cứu, ta thấy biện pháp miễn trách nhiệm hình sự còn nhiều điểm chưa hợp lý về cả lý luận, pháp lý và thực tiễn áp dụng Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự là như thế nào, hậu quả pháp lý khi áp dụng nó ra sao? Điều kiện áp dụng các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự còn một số điểm chưa rõ ràng, không được hướng dẫn cụ thể nên việc áp dụng pháp luật của các cơ quan thẩm quyền gặp nhiều khó khăn và sai lầm dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, hay một số đối tượng đáng được miễn trách nhiệm hình sự nhưng lại không được miễn Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác như việc quy định các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự rải rác trong cả Phần Chung và Phần Các tội phạm Bộ luật Hình sự Do những hạn chế đó làm cho biện pháp miễn trách nhiệm hình sự chưa đạt được hiệu quả tốt nhất, cần phải có những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hơn

Trang 7

Ngoài ra, với xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề quyền con người được đặt lên hàng đầu Nên vấn đề đặt ra là các quy định trong pháp luật hình sự cần phải bảo vệ quyền con người một cách tốt nhất và ngày càng nhân đạo hơn Vì vậy, biện pháp miễn trách nhiệm hình sự cần được quan tâm nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện để phù hợp với xu thế chung của thế giới

Đánh giá đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn nên tác giả chọn

đề tài “Biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự 1999 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn đóng góp ý

kiến hoàn thiện quy định về miễn trách nhiệm hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng, có liên quan chặt chẽ

và mật thiết với chế định trách nhiệm hình sự và nhiều chế định khác trong luật Hình sự

Hiện nay, biện pháp miễn trách nhiệm hình sự đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở các mức độ khác nhau Có thể kể đến các công trình nghiên cứu

về biện pháp này như các sách chuyên khảo: Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam (Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI, tập thể tác giả do Lê Cảm chủ biên, NXB Công an nhân dân, 2002); Chế định miễn trách nhiệm hình sự (Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự - Phần chung, do Lê cảm chủ biên); Điều 25 – Miễn trách nhiệm sự (Bình luận khoa

học Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999 – tập I Phần Chung, Tập thể tác giả do Uông Chu Lưu chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, 2001); và một số giáo trình như: Giáo trình luật Hình sự Việt Nam (Phần Chung), Tập thể tác giả do TS.Trần Thị Quang Vinh chủ biên, Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức, 2012; Giáo trình luật Hình sự Việt Nam (Phần Chung), Đại học luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2008; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần Chung), tập thể tác giả do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Đại học Huế, NXB Giáo dục, 2000…Ngoài ra,

Trang 8

còn có một số bài viết về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự đăng trên tạp chí

chuyên ngành như: Hậu quả pháp lý của việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự

(Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Tháng 11/2010, số 21, của tác giả Trịnh Tiến Việt);

Một số vấn đề về miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 1/2007,

số 1, của tác giả Đinh Văn Quế); Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 1999 (Tạp chí dân chủ và pháp luật số 12/2001, của tác giả Phạm Hồng

Hải)…Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chỉ mới đề ở mức độ khái quát về chủ yếu là nghiên cứu vấn đề lý luận của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự, chỉ khai thác ở từng góc độ khác nhau, từng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự mà chưa nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thì cũng đã có một số luận văn, khóa luận có liên quan về vấn đề này như: Mai Khắc Phúc, luận văn thạc sỹ

“Biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự 1999” (2006); Mai Thị Thủy, luận văn thạc sỹ “Biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” (2013); Nguyễn Ngọc Thương, khóa luận tốt nghiệp, “Miễn trách nhiệm hình sự trong luật Hình sự Việt Nam” (1999) Bên cạnh

đó đề tài “Biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sư Việt Nam năm

1999 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” cũng đã có một khóa luận tốt nghiệp

khóa 33, của tác giả Đỗ Thị Như Nhàn, năm 2012, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Công trình này đã phân tích làm rõ một số vấn đề về mặt lý luận như khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự cũng như điều kiện miễn trách nhiệm hình sự trong từng trường hợp quy định trong Bộ luật hình sự 1999 Tác giả cũng đã đánh giá thực trạng áp dụng và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện Tuy nhiên, công trình này chưa làm rõ cơ sở của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự, và phân tích, tìm hiểu lịch sử quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam để thấy được quá trình phát triển, kế thừa, kinh nghiệm xây dựng các quy định về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự Ngoài ra, với tình hình xã hội thay đổi từng ngày nên một số kiến nghị hoàn thiện biện pháp miễn trách nhiệm hình sự không còn khả thi

Trang 9

Hơn nữa, nhiều vấn đề lý luận – thực tiễn xung quanh chế định miễn trách nhiệm hình sự cũng đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn Cũng đi từ các vấn đề lý luận đó, trong phạm vi khóa luận, tác giả có

sự tham khảo kết quả của các công trình nghiên cứu trên để nhằm nghiên cứu một cách toàn diện biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự 1999 trong khóa luận này Tác giả không chỉ đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự và các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự 1999 Mà còn nghiên cứu lịch sử hình thành của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam và quy định của một số nước trên thế giới về miễn trách nhiệm hình sự Hơn nữa, tác giả còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự để tìm ra các vướng mắc và có những kiến nghị hoàn thiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, khóa luận xác định các nhiệm vụ sau:

- Phân tích, làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

- Phân tích lịch sử quy định của pháp luật hình sự Việt Nam để thấy được quá trình phát triển, kế thừa, kinh nghiệm xây dựng các quy định về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

- Phân tích biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự một

số nước như Liên bang Nga, Canada, Trung Hoa để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

- Phân tích quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

- Đánh giá thực trạng áp dụng và đưa ra kiến nghị hoàn thiện biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiện cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự, quy định của Bộ luật Hình sự 1999 và một số nước trên thế giới về miễn trách nhiệm hình sự và thực trạng áp dụng pháp luật

Về thực trạng áp dụng pháp luật: Đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trên phạm vi cả nước mà trọng điểm là trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình làm khóa luận này, tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, giải thích, chứng minh

và thống kê để làm sáng tỏ các nội dung được đưa ra dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Về mặt lý luận, đề tài đã làm rõ khái niệm, đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự, nội dung và điều kiện áp dụng của những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định Bộ luật Hình sự 1999 Đồng thời, làm rõ các vướng mắc, hạn chế còn tồn tại và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

Bên cạnh đó, đề tài còn là một nguồn tài liệu tham khảo cho giảng viên và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự khi nghiên cứu về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự Trong một chừng mực nhất định, đề tài còn đóng góp cho quá

Trang 11

trình lập pháp nếu được tham khảo, và làm phong phú hơn cho khoa học lý luận luật Hình sự về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

7 Bố cục của khóa luận

Bố cục của khóa luận gồm các phần sau: Mục lục, phần mở đầu, nội dung, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo

Phần nội dung gồm hai chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về miễn trách nhiệm hình sự

Chương II: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự Thực tiễn áp dụng và các kiến nghị hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm chung về trách nhiệm hình sự

1.1.1 Định nghĩa và đặc điểm của trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự (TNHS) và miễn TNHS là những chế định quan trọng trong pháp luật hình sự (PLHS) Việt Nam và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nếu TNHS đặt ra để giải quyết vấn đề trách nhiệm đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS), bảo đảm sự công bằng pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chung của Nhà nước và xã hội thì miễn TNHS được đặt ra để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, thể hiện chính sách nghiêm trị kết hợp với khoan hồng Vì vậy, trước khi nghiên cứu về miễn TNHS thì cần phải hiểu

về TNHS

Như chúng ta đã biết, TNHS là một trong những thuật ngữ được sử dụng trong khoa học luật Hình sự có ý nghĩa pháp lý, xã hội bên cạnh hai khái niệm cơ bản và quan trọng nhất là tội phạm và hình phạt Tuy nhiên, hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau mà chưa có một định nghĩa thống nhất về TNHS Tôi xin đưa ra một số quan điểm phổ biến sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước” [28-tr.41]

Quan điểm thứ hai: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm

và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước” [17-tr.122]

Quan điểm thứ ba: “TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật Hình sự quy định đối với người phạm tội”.[31-tr.224]

Quan điểm thứ tư: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm

mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước, thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án,

Trang 13

cũng như hình phạt mà Tòa án quyết định đối với người bị kết án và dấu hiệu án tích của người đó” [41-tr.27]

Như vậy, về cơ bản tất cả các quan điểm trên đây về khái niệm miễn TNHS đều đầy đủ về nội dung, ngắn gọn, và thống nhất trong việc khẳng định rõ được nội dung và bản chất pháp lý của nó Tuy nhiên, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho

rằng: “TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở trách nhiệm của người phạm tội trước nhà nước phải chịu những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong luật Hình sự do Tòa án áp dụng theo một trình tự tố tụng nhất định” [17-tr.250]

Từ khái niệm TNHS trên, ta có thể thấy TNHS có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm

TNHS chỉ đặt ra khi có một tội phạm được thực hiện Điều này xuất phát từ

nguyên tắc có luật, có tội và TNHS quy định tại Điều 2 BLHS 1999: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Như vậy nếu bất kì ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng hành vi

đó không được quy định trong BLHS thì không phải chịu TNHS và ngược lại

Thứ hai, TNHS là một loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất trong tất

cả các loại trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý bao gồm nhiều loại như TNHS, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm vật chất, trách nhiệm kỷ luật… TNHS chỉ là một loại trách nhiệm pháp lý Và trong tất cả các loại trách nhiệm pháp lý thì TNHS có mức độ nghiêm khắc nhất Tính nghiêm khắc của TNHS thể hiện ở chỗ người phạm tội bị Tòa án kết án và phải chịu hình phạt, các biện pháp tư pháp và mang án tích

Bản án kết tội chính là sự lên án của Nhà nước đối với người phạm tội Và kèm theo bản án kết tội đó người phạm tội có thể phải chịu hình phạt hoặc biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt Hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu của luật Hình sự, không chỉ hạn chế quyền tự do, quyền tài sản, quyền chính trị mà còn

có thể tước bỏ quyền sống của người phạm tội Ngoài ra, trong quá trình bị kết án

Trang 14

cho đến khi được xóa án tích người phạm tội còn phải chịu mang án tích Án tích được xem là vết tích từng bị kết án của người phạm tội, là dấu hiệu định tội trong một số tội danh và là điều kiện để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong vụ

án hình sự

Thứ ba, TNHS là trách nhiệm của cá nhân người phạm tội trước Nhà nước

Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ PLHS là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội và bao gồm hai nội dung:

Nội dung thứ nhất, TNHS là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội Những người thân thích của họ không phải cùng chịu TNHS Khi người phạm tội thực hiện tội phạm được quy định trong BLHS thì cá nhân họ phải chịu trách nhiệm về việc phạm tội đó Họ có nghĩa vụ chấp hành quyết định của các cơ quan Nhà nước áp dụng đối với họ, đồng thời có quyền yêu cầu Nhà nước tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Nội dung thứ hai là chỉ có Nhà nước mới có thẩm quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội Nhà nước với tư cách là một bên chủ thể của quan hệ PLHS, tham gia vào quan hệ PLHS thông qua các cơ quan chuyên trách của mình Nhà nước có quyền điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội, buộc họ phải chịu TNHS về tội phạm đã thực hiện với trình tự thủ tục tố tụng luật định Bên cạnh đó, Nhà nước

có nghĩa vụ bảo đảm sự tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội, đưa ra những phán quyết phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân người phạm tội

Thứ tư, TNHS phải được xác theo trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố

tụng hình sự (BLTTHS)

Xuất phát từ tính nghiêm khắc của TNHS, có thể ảnh hưởng đến cả tính mạng con người nên việc truy cứu TNHS phải được thực hiện theo một trình tự thủ tục nhất định Các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ chặt chẽ quy trình quy định trong BLTTHS để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội tránh việc oan sai cũng như bỏ lọt tội phạm

Trang 15

Thứ năm, TNHS được phản ánh trong bản án kết tội hoặc quyết định đã có

hiệu lực pháp luật của Tòa án

TNHS của người phạm tội được thể hiện một cách chính thức và đầy đủ nhất trong bản án hoặc quyết định của Tòa án Điều này được thể hiện rõ trong nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 31 Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam năm 2013:“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Chỉ có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là phán

quyết chính thức của Nhà nước đối với một người có tội và bắt buộc người đó phải thực hiện TNHS Còn các văn bản khác của Cơ quan Điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) hoặc ngay cả bản án kết tội chưa có hiệu lực của Tòa án đều không phải

là văn bản thể hiện TNHS

1.1.2 Các hình thức của trách nhiệm hình sự

TNHS được thể hiện dưới những hình thức nào đến nay vẫn còn là quan

điểm Và theo quan điểm được thừa nhận phổ biến hiện nay cho rằng “Hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích vừa là nội dung của TNHS vừa là hình thức thực hiện TNHS” [17-tr.251] Như vậy, theo quan điểm được thừa nhận phổ biến hiện nay,

TNHS có ba hình thức là hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu thể hiện nội dung và bản chất của

TNHS và theo Điều 26 BLHS 1999 thì “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định”

Hiện nay, trong BLHS 1999 quy định hệ thống hình phạt bao gồm bảy hình phạt chính là cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn;

tù chung thân; tử hình và bảy hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính

Trang 16

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước Xuất phát từ mối quan hệ tương xứng giữa tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật với tính nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế cần áp dụng Tội phạm là hành vi có mức độ nguy hiểm cao nhất so với các hành vi vi phạm pháp luật khác Do đó, để đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả thì hình phạt cũng phải là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất Tính chất nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền, lợi ích thiết thân của người phạm tội như quyền tự do thân thể, quyền tài sản, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền chính trị, thậm chí cả quyền sống Ngoài ra, trong hệ thống hình phạt có một số hình phạt đặc biệt nghiêm khắc như tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình chỉ được quy định trong BLHS

Về biện pháp tư pháp, được hiểu “Biện pháp tư pháp là các biện pháp hình

sự được quy định trong BLHS, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt” [32-

tr.300] Hiện nay, trong BLHS 1999 biện pháp tư pháp có hai loại là biện pháp tư pháp hỗ trợ cho hình phạt và biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt

Biện pháp tư pháp hỗ trợ cho hình phạt bao gồm: Tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41 BLHS); Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 42 BLHS); Bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 BLHS) Còn biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt được áp dụng riêng cho người chưa thành niên phạm tội bao gồm: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 70 BLHS)

Xuất phát từ đặc điểm của TNHS, chỉ có hai biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt mới là nội dung của TNHS còn các biện pháp tư pháp hỗ trợ cho hình phạt không thuộc nội dung của TNHS

Bởi vì các biện pháp tư pháp có tác dụng hỗ trợ cho hình phạt được áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội Hành vi đó có thể cấu thành tội phạm hoặc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Trong khi đó, TNHS chỉ được đặt

ra đối với người thực hiện hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm Mặt khác, người

Trang 17

phạm tội phải chịu TNHS trước Nhà nước chứ không phải trước cơ quan, tổ chức khác, ngay cả người bị hại Còn biện pháp tư pháp như buộc trả lại tài sản, sửa chữa, bồi thường thiệt hại, buộc xin lỗi là trách nhiệm của người phạm tội trước người bị hại Và các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt bao gồm giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 70 BLHS) được áp dụng khi thấy việc áp dụng hình phạt là không cần thiết (khoản 4, Điều 69 BLHS) Đối tượng

áp dụng hai biện pháp này là người chưa thành niên phạm tội, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người chưa thành niên Vì vậy, đối với biện pháp tư pháp thì chỉ có hai biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng mới là hình thức của TNHS

Hình thức cuối cùng của TNHS, đó là ai bị kết án thì người đó sẽ mang án tích Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi của việc bị kết án Điều đó thể hiện việc quy định án tích là dấu hiệu định tội đối một số tội phạm như Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS); Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS)… Án tích cũng là một trong những điều kiện để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong vụ án hình sự Mà tái phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định là tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm g, khoản 1, Điều

48 BLHS hoặc là dấu hiệu định khung tăng nặng trong một số tội phạm cụ thể thuộc Phần Các tội phạm

1.1.3 Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Trong khoa học luật Hình sự, tìm hiểu cơ sở của TNHS là nhằm để trả lời cho câu hỏi: Dựa vào đâu mà Nhà nước có quyền buộc một người phải chịu TNHS

về tội phạm mà họ đã thực hiện? Dựa vào căn cứ pháp lý nào mà Nhà nước xác định TNHS đối với một người? Vậy cơ sở TNHS là gì?

Trước hết, ta hiểu “cơ sở là cái làm nền tảng trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển” [35-tr 215] Theo nghĩa

đó, cơ sở của TNHS phải là cái mà dựa vào đó Nhà nước đặt vấn đề TNHS đối với người phạm tội Cơ sở của TNHS bao gồm hai loại là cơ sở triết học và cơ sở pháp

Trang 18

 Cơ sở triết học của TNHS

Cơ sở triết học của TNHS được dựa vào mối quan hệ biện chứng giữa tính tất yếu và tính tự do trong hành vi của con người thể hiện ở sự tương tác giữa các điều kiện khách quan bên ngoài với con người

Như chúng ta đã biết, hoạt động của con người luôn luôn bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên và các lực lượng xã hội Tuy xử sự của con người chịu tác động của điều kiện kinh tế, xã hội nhưng đó không phải là sự phản ánh trực diện của con người đối với hoàn cảnh mà là sự tương tác giữa điều kiện, môi trường xã hội và bản thân con người, đó là kết quả của việc lựa chọn và thực hiện một trong các cách

xử sự khách quan con người đã nhận thức được Chủ thể có nhiều cách xử sự, đó có thể là xử sự gây thiệt hại cho xã hội hoặc là xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội và những cách xử sự đó đều có thể thực hiện Tuy nhiên, chủ thể đã lựa chọn thực hiện

xử sự trái với lợi ích chung, trái với các quy tắc chuẩn mực xã hội thì có nghĩa là họ

đã tự tước bỏ khả năng tự do của bản thân Chủ thể đã thực hiện xử sự trái với lợi ích xã hội, gây thiệt hại cho xã hội trong khi họ có thể thực hiện xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội, vì vậy họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Nếu xử sự

đó trái với lợi ích xã hội được luật Hình sự bảo vệ trong khi người đó có đủ điều kiện để lựa chọn xử sự hợp pháp và bất hợp pháp thì người thực hiện hành vi đó bị

coi là có lỗi và phải chịu TNHS

 Cở sở pháp lý của TNHS

Trong lĩnh vực PLHS, cơ sở của TNHS là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do luật Hình sự quy định mà chỉ có và phải dựa vào đó các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới có thể truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi

nguy hiểm cho xã hội bị luật Hình sự cấm

Quy định của PLHS về một hành vi bị coi là tội phạm là cơ sở pháp lý của

TNHS Theo nguyên tắc có luật, có tội quy định tại Điều 2 BLHS 1999 “Chỉ người nào phạm một tội đã được quy định mới phải chịu TNHS” Có nghĩa là chỉ khi một

người thực hiện hành vi có đủ những dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS thì mới phải chịu TNHS Các dấu hiệu pháp lý của một tội phạm

Trang 19

cụ thể với bốn yếu tố cấu thành bao gồm khách thể của tội phạm; mặt khách quan; mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm Các dấu hiệu luật định về một tội phạm cụ thể là điều kiện cần và đủ để xác định tội phạm và TNHS đối với người phạm tội Không thể đặt ra vấn đề TNHS đối với một người khi hành vi của họ không thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của một tội phạm cụ thể Như vậy, cấu thành tội phạm chính là cơ sở pháp lý của TNHS

1.2 Khái niệm chung về miễn trách nhiệm hình sự

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự

Có quan điểm cho rằng: “TNHS là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với người phạm tội thì miễn TNHS cũng chỉ có thể đặt ra đối với người phạm tội Không thể

áp dụng miễn TNHS đối với người không có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự” [21-tr.15] Thật vậy, chỉ

những người phải chịu TNHS thì mới phải đặt ra vấn đề miễn TNHS cho họ khi có

đủ điều kiện nhất định Nếu một người không có hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm quy định trong BLHS thì đồng nghĩa với việc họ không phải chịu TNHS và đương nhiên sẽ không xét đến việc miễn TNHS hay không

Miễn TNHS luôn được đặt ra song song với TNHS để thể hiện một cách đúng đắn và đầy đủ nhất nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, thể hiện chính sách

hình sự của nhà nước ta “Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”

Khái niệm miễn TNHS hiện nay chưa được quy định trong BLHS Việt Nam

vì vậy hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Miễn TNHS là hủy bỏ hậu quả pháp lý hình

sự của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật Hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [20-tr.753]

Quan điểm thứ hai là: “Miễn TNHS là một chế định nhân đạo của pháp luật Việt Nam và được thể hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật Hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan tư pháp hình sự có

Trang 20

thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng áp dụng khi có đầy

đủ căn cứ pháp lý và những điều kiên luật định” [32-tr 211]

Quan điểm thứ ba là: “Miễn TNHS có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định” [30-tr.269]

Quan điểm thứ tư là: “Miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà người đó đã thực hiện” [17-tr.372]

Như vậy, về cơ bản tất cả các quan điểm trên đây về miễn TNHS đều thống nhất trong việc khẳng định rõ nội dung và bản chất pháp lý của biện pháp miễn TNHS Tuy nhiên, để đưa ra một khái niệm đầy đủ và chính xác về nội dung, ngắn gọn và thống nhất về mặt pháp lý, đồng thời phù hợp với thực tiễn và chính sách nhân đạo của Nhà nước Vì vậy, theo chúng tôi khái niệm miễn TNHS có thể được định nghĩa như sau:

“Miễn TNHS là chế định nhân đạo của luật Hình sự Việt Nam có nội dung không buộc người phạm tội phải chịu TNHS về tội phạm mà người đó đã thực hiện,

do cơ quan có thẩm quyền áp dụng khi có đầy đủ căn cứ luật định”

Như vậy, bản chất của miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm khi có đủ những căn cứ và điều kiện do luật Hình sự quy định

Tùy vào từng giai đoạn tố tụng tương ứng hoặc tùy vào trường hợp miễn TNHS, thẩm quyền áp dụng biện pháp miễn TNHS thuộc về Quốc hội, CQĐT, VKS và Tòa án

Phạm vi miễn TNHS bao gồm miễn áp dụng tất cả các nội dung của TNHS

là hình phạt hoặc biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt và án tích

Hậu quả pháp lý của việc áp dụng biện pháp miễn TNHS là không để lại án tích cho người phạm tội Có nghĩa là tất cả các trường hợp khi được áp dụng với tính cách là miễn TNHS đều không có án tích

Từ định nghĩa nêu trên ta có thể rút ra được các đặc điểm cơ bản của miễn TNHS đó là:

Trang 21

- Miễn TNHS là chế định phản ánh rõ nét nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nước ta, thể hiện được một cách trọn vẹn nhất đường lối xử lý trong

PLHS Việt Nam “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo” Miễn TNHS bao gồm miễn áp dụng tất cả các hình thức

cưỡng chế thuộc nội dung của TNHS, cụ thể là miễn hình phạt hoặc biện pháp tư pháp và án tích Hậu quả pháp lý của việc áp dụng biện pháp miễn TNHS không để lại án tích cho người bị kết án có nghĩa là tất cả các trường hợp khi được áp dụng với tính cách là miễn TNHS đều không có án tích Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa miễn TNHS với các biện pháp miễn, giảm khác Tuy người được miễn TNHS không phải chịu hậu quả bất lợi của biện pháp miễn TNHS đối với hành vi do mình thực hiện nhưng có thể chịu một hoặc một số biện pháp pháp lý khác Căn cứ vào hướng dẫn chỉ đạo xét xử của Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết 02/HĐTP

ngày 05/01/1986 quy định: “Khi đã miễn TNHS thì Tòa án không được quyết định bất cứ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết tang vật” Như vậy, tuy luật Hình sự chưa quy định rõ việc áp

dụng biện pháp pháp lý nào nhưng dựa trên tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết ta có thể hiểu là người được miễn TNHS vẫn có thể áp dụng một số biện pháp pháp lý khác Có thể là một số biện pháp tư pháp hình sự như tịch thu tiền, vật liên quan đến tội phạm; buộc trả lại tài sản; bồi thường thiệt hại Bởi vì miễn TNHS là miễn các nội dung thuộc TNHS bao gồm hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích còn các nội dung khác như bồi thường thiệt hại, biện pháp tư pháp hỗ trợ hình phạt, án phí, các quyết định khác về tài sản không thuộc nội dung của TNHS nên không được miễn

- Miễn TNHS được áp dụng đối với người phạm tội khi có đủ căn cứ luật định, có nghĩa là miễn TNHS chỉ đặt ra đối với người thực hiện hành vi có đủ yếu

tố cấu thành tội phạm và người thực hiện hành vi đó phải chịu TNHS, nhưng họ lại

có những điều kiện luật định để được miễn TNHS TNHS chỉ đặt ra cho người phạm tội, vì vậy, miễn TNHS cũng chỉ đặt ra cho người phạm tội Ai không phạm tội thì không phải chịu TNHS và đương nhiên cũng không thể áp dụng biện pháp miễn TNHS đối với họ

Trang 22

- Biện pháp miễn TNHS phải được quy định trong BLHS Miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải chịu TNHS đối với tội phạm mà họ đã thực hiện, đồng nghĩa với việc người phạm tội được miễn tất cả các nội dung thuộc TNHS bao gồm hình phạt hoặc biện pháp tư pháp thay thế hình phạt và án tích Với tính chất khoan hồng đặc biệt như vậy, nên biện pháp miễn TNHS phải được quy định trong BLHS để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng Tránh trường hợp áp dụng tùy tiện dẫn đến bỏ lọt tội phạm, có những người không có đủ điều kiện để miễn TNHS, phải chịu TNHS do thực hiện tội phạm nhưng lại được miễn TNHS Hoặc trường hợp người phạm tội có đủ điều kiện, xứng đáng được hưởng sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước nhưng lại không được miễn TNHS

Trong BLHS 1999, biện pháp miễn TNHS được quy định ở cả Phần Chung

và Phần Các tội phạm, bao gồm những trường miễn TNHS như sau: do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19 BLHS); do hết thời hiệu truy cứu TNHS (Điều 23 BLHS); do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 1, Điều 25 BLHS); do người phạm tội có hành vi tích cực (khoản 2, Điều 25 BLHS); do có quyết định đại xá (khoản 3, Điều 25 BLHS); cho người chưa thành niên phạm tội (khoản 2, Điều 69 BLHS); người phạm tội gián điệp (khoản 2, Điều 80 BLHS); người phạm tội hối lộ (khoản 6, Điều 289 BLHS); người phạm tội môi giới hối lộ (khoản 6, Điều 290 BLHS); người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 3, Điều 314 BLHS)

- Tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng tương ứng, việc quyết định miễn TNHS sẽ do các cơ quan có thẩm quyết định Trong giai đoạn điều tra sẽ là CQĐT, giai đoạn truy tố là VKS, hay giai đoạn xét xử do Tòa án và trong trường hợp đại xá thẩm quyền thuộc về Quốc hội quyết định

1.2.2 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với các trường hợp khác

Từ việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểm của miễn TNHS và để hiểu rõ hơn, ta cần phân biệt miễn TNHS với trường hợp miễn hình phạt và trường hợp không phải

là tội phạm

Trang 23

Về trường hợp miễn hình phạt, khái niệm miễn hình phạt tuy chưa được quy

định trong BLHS 1999 nhưng ta có thể hiểu “Miễn hình phạt là trường hợp không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt về tội phạm mà người đó đã thực hiện”

[32-tr.380] Điều kiện áp dụng biện pháp miễn hình phạt được quy định tại Điều 54

BLHS 1999: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS” Như vậy,

điều kiện để người phạm tội được miễn hình phạt là phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS và đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS

Qua đó, ta có thể miễn hình phạt và miễn TNHS có những điểm giống nhau như sau:

- Miễn TNHS và miễn hình phạt đều thuộc hệ thống các biện pháp miễn, giảm TNHS trong luật Hình sự, thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của PLHS nước ta

“không cần cách ly khỏi xã hội những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự pháp luật để trở lại cuộc sống bình thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu trở thành người lương thiện và có ích cho gia đình và xã hội”.[19-tr.222] Đó

là việc không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt - biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của luật Hình sự

- Miễn TNHS và miễn hình phạt được áp dụng đối với người thực hiện hành

vi đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm khi họ có đầy đủ căn cứ pháp lý và điều kiện cụ thể do pháp luật Hình sự quy định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể

Mặt khác, miễn TNHS và miễn hình phạt có những điểm khác nhau:

- Thẩm quyền áp dụng: Đối với miễn TNHS thì tùy từng giai đoạn tố tụng

mà cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét người phạm tội có đủ điều kiện để miễn TNHS Còn miễn hình phạt thì chỉ áp dụng trong giai đoạn xét xử, Tòa án xem xét người bị kết án có đủ điều kiện để được miễn hình phạt Bởi vì chỉ có Tòa án mới

Trang 24

có thẩm quyền quyết định hình phạt quy định tại Điều 26 BLHS nên cũng chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền để miễn hình phạt

- Điều kiện áp dụng: Trong BLHS 1999 thì điều kiện miễn hình phạt không được quy định rõ ràng và khắt khe bằng điều kiện miễn TNHS Điều kiện để được miễn TNHS được quy định mười trường hợp trong BLHS 1999 Trong đó có sáu trường hợp quy định ở Phần Chung là: miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19 BLHS); do hết thời hiệu (Điều 23 BLHS); do chuyển biến tình hình dẫn đến hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho

xã hội (khoản 1, Điều 25 BLHS); trường hợp miễn TNHS theo quy định tại khoản

2, Điều 25 BLHS; khi có quyết định đại xá (khoản 3, Điều 25 BLHS); miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội (khoản 2, Điều 69) Và bốn trường hợp miễn TNHS quy định ở phần Tội phạm: đối với Tội gián điệp (khoản 3, Điều 80 BLHS); Tội đưa hối lộ (khoản 6, Điều 289 BLHS); Tội môi giới hối lộ (khoản 6, Điều 290 BLHS); Tội không tố giác tội phạm (khoản 3, Điều 314 BLHS) Trong khi đó, miễn hình phạt chỉ được quy định trong hai trường hợp ở Điều 54 BLHS ở Phần Chung và khoản 3, Điều 314 BLHS đối với người phạm tội không tố giác tội phạm ở phần Các tội phạm Như vậy, BLHS quy định nhiều trường hợp miễn TNHS và điều kiện để miễn TNHS cho người phạm tội được quy định cụ thể trong từng trường hợp

- Hậu quả pháp lý: Người được miễn TNHS thì không bị coi là có án tích Còn người được miễn hình phạt thì chỉ đương nhiên được xóa án tích sau khi hoàn thành các nghĩa vụ khác trong bản án như đóng án phí, bồi thường thiệt hại, các quy định khác về tài sản

So sánh miễn TNHS với trường hợp không phải là tội phạm có những điểm khác nhau cơ bản sau:

- Hành vi đã thực hiện: Trong trường hợp miễn TNHS thì hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo luật Hình sự và người thực hiện hành vi phải chịu TNHS nếu không có các điều kiện để miễn TNHS Trong trường hợp thực hiện hành vi không phải là tội phạm thì hành vi thực hiện đó không đủ yếu tố cấu thành

Trang 25

tội phạm theo quy định của luật hình sự nên người thực hiện nó không phải chịu TNHS

- Đối tượng áp dụng: Đối tượng được miễn TNHS là người phạm tội Còn trường hợp không phải là tội phạm là người không phạm tội

- Điều kiện áp dụng: Khi xem xét miễn TNHS cho một người thì trước hết phải xét hành vi họ thực hiện có phải là tội phạm hay không Sau đó xem xét các điều kiện luật định để được miễn TNHS, cụ thể là ở Điều 19 BLHS; Điều 23 BLHS; Điều 25 BLHS; khoản 2, Điều 69 BLHS; khoản 3, Điều 80 BLHS; khoản 6, Điều

289 BLHS; khoản 6, Điều 290 BLHS; khoản 3, Điều 314 BLHS Còn trường hợp không phải là tội phạm cần xem xét hành vi đó không đủ yếu tố cấu thành phạm tội như người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đủ tuổi chịu TNHS (Điều

12 BLHS); người đó không có năng lực TNHS (Điều 13 BLHS) hoặc do phòng vệ chính đáng (Điều 15 BLHS); tình thế cấp thiết (Điều 16 BLHS), hành vi đó không được BLHS quy định…

- Hậu quả pháp lý: Đối với người được miễn TNHS thì họ không phải chịu hậu quả pháp lý của việc phạm tội, không bị coi là có án tích, tuy nhiên họ có thể bị

áp dụng một số biện pháp cưỡng chế thuộc các ngành luật khác Còn đối với người không phạm tội thì không đặt ra vấn đề phải chịu hay không phải chịu TNHS theo quy định của BLHS

1.2.3 Cơ sở của việc quy định biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

Là một trong những chế định quan trọng của BLHS, việc quy định biện pháp miễn TNHS xuất phát từ những cơ sở sau đây:

Chế định miễn TNHS xuất phát từ chính sách hình sự trong đấu tranh phòng

ngừa và chống tội phạm của Đảng và Nhà nước là: “trừng trị kết hợp với khoan hồng, cưỡng chế đi liền với giáo dục, thuyết phục” Bên cạnh quy định hệ thống

hình phạt với nội dung cưỡng chế nghiêm khắc thì BLHS còn quy định biện pháp miễn TNHS mang tính chất khoan hồng đặc biệt Quy định về biện pháp miễn TNHS không chỉ phù hợp với bản chất nhân văn, nhân đạo của luật Hình sự nước ta

mà còn đáp ứng yêu cầu trong thực tiễn xử lý tội phạm

Trang 26

Ngoài ra, một trong những nguyên tắc của chính sách hình sự trong xử lý tội phạm của Nhà nước ta đó là tiết kiệm tính cưỡng chế trong việc áp dụng các chế tài hình sự, có nghĩa là chỉ sử dụng liều lượng cưỡng chế hình sự ở một mức độ cần và

đủ để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm Tiết kiệm tính cưỡng chế ở đây có nghĩa rằng trong các chế tài, các biện pháp có thể được áp dụng đều thỏa mãn quy định của pháp luật vừa đảm bảo đạt được mục đích thì phải lựa chọn chế tài nào, biện pháp nào có nội dung cưỡng chế thấp nhất Quan điểm xử lý hình sự của nước ta cũng đã thể hiện rõ nguyên tắc trên khi cho rằng việc truy cứu TNHS là rất quan trọng trong việc đảm bảo trật tự xã hội và sự nghiêm trị của pháp luật nhưng không phải là biện pháp duy nhất mà đòi hỏi ngày càng mở rộng các biện pháp tác động xã

hội khác để đấu tranh và phòng chống tội phạm Do đó, quy định biện pháp miễn

TNHS nhằm đáp ứng được đòi hỏi của nguyên tắc tiết kiệm tính cưỡng chế trong xử

lý tội phạm, thể hiện bản chất nhân đạo, công bằng của luật Hình sự nước ta

Hơn nữa, xuất phát từ thực tiễn xử lý tội phạm có những chuyển biến về mặt khách quan và mặt chủ quan dẫn tới yêu cầu phải có biện pháp miễn TNHS để ghi nhận những chuyển biến đó nhằm giải quyết có hiệu quả những đòi hỏi của thực tiễn

Những chuyển biến khách quan là những chuyển biến của các điều kiện kinh

tế xã hội làm cho hành vi phạm tội mất hoặc giảm đi tính nguy hiểm dẫn tới phải áp dụng biện pháp miễn TNHS để đảm bảo sự tương xứng và công bằng giữa hành vi phạm tội và biện pháp cưỡng chế áp dụng

Chuyển biến các yếu tố chủ quan là sự chuyển biến của nhân thân người phạm tội theo hướng tích cực cần có sự ghi nhận từ phía Nhà nước bằng việc áp dụng biện pháp miễn TNHS Điều đó không chỉ đảm bảo nguyên tắc công bằng, nhân đạo của luật Hình sự mà còn nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội tích cực tự cải tạo, giáo dục để hưởng sự khoan hồng của Nhà nước Miễn TNHS vừa là mục đích, vừa là động lực thúc đẩy người phạm tội quyết tâm cải tạo

Trang 27

Bởi vì quy định biện pháp miễn TNHS xuất phát đầy đủ từ những cơ sở lý luận và thực tiễn Như vậy, vai trò của biện pháp này đang ngày càng quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

1.2.4 Ý nghĩa của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong luật Hình

sự Việt Nam

Miễn TNHS là một trong những chế định quan trọng của pháp luật Việt Nam nói chung và PLHS nói riêng, việc quy định biện pháp miễn TNHS trong BLHS mang nhiều ý nghĩa to lớn

Thứ nhất, biện pháp miễn TNHS thể hiện sâu sắc tính nhân đạo của pháp luật

nước ta Thể hiện tinh thần của chính sách “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”,

“trừng trị kết hợp giáo dục, thuyết phục, cải tạo” Đường lối đấu tranh phòng

chống tội phạm của Nhà nước ta đã nhận định rõ: Việc truy cứu TNHS và áp dụng các biện pháp cưỡng chế không phải cách duy nhất để chống lại tội phạm mà cần kết hợp với các biện pháp cải tạo, giáo dục để nhằm mang lại hiệu quả cao nhất Việc quy định về những trường hợp miễn TNHS còn giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xác định được chính xác và đúng đắn trường hợp nào được miễn TNHS, trường hợp nào không được miễn TNHS mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất, sự tùy tiện khi áp dụng Đảm bảo nguyên tắc pháp chế, sự công bằng trong việc xét xử, vừa thấu tình vừa đạt lý

Thứ hai, ngoài việc ghi nhận trong PLHS thực định thì vấn đề áp dụng biện pháp miễn TNHS trong thực tiễn cũng chính là một trong những hình thức xã hội hóa giáo dục quan trọng tạo thu hút đông đảo nhân dân cùng tham gia vào việc giáo dục, cải tạo người phạm tội được miễn TNHS, thể hiện bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Bởi vì, khi người phạm tội được miễn TNHS thì chủ thể cải tạo giáo dục họ không phải là các cơ quan chức năng của Nhà nước nữa mà là gia đình, cơ quan, tổ chức sẽ giám sát, giúp đỡ họ trong

quá trình tự cải tạo, giáo dục Vì vậy, “ngoài ý nghĩa nhân đạo và nguyên tắc mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời, thì việc càng có nhiều

Trang 28

căn cứ, điều kiện pháp lý cho việc miễn TNHS càng làm tăng thêm các kênh để qua

đó nhân dân có thể tham gia vào việc giáo dục người phạm tội” [29-tr.54]

Thứ ba, biện pháp miễn TNHS còn mang lại một ý nghĩa to lớn về mặt kinh

tế Việc không áp dụng TNHS đối với người phạm tội làm giảm được một phần chi phí đáng kể cho Nhà nước trong việc thi hành án, cụ thể là chi phí xây dựng nhà tù, trại giam và chi phí trả cho nguồn nhân lực quản lý trại giam Ngoài ra, những người phạm tội được miễn TNHS khi có đủ điều kiện chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập cộng đồng của họ Nhờ vậy, Nhà nước cũng giảm được khoản chi phí tái hòa nhập cộng đồng cho người phạm tội sau khi thi hành án

Thứ tư, việc quy định miễn TNHS tạo điều kiện khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, tích cực cải tạo, giáo dục theo chiều hướng tốt để hưởng sự khoan hồng của Nhà nước Hơn nữa, người phạm tội được miễn TNHS không bị áp dụng các biện pháp hình sự (nghiêm khắc nhất chính là hình phạt) sẽ nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng hơn Bởi vì tâm lý chung của mọi người tỏ ra e dè với những người phạm tội, nên người phạm tội gặp nhiều khó khăn trong việc tái hòa nhập cộng đồng khi thực hiện xong TNHS Đặc biệt là trong vấn đề tìm kiếm việc làm, đa số các nhà tuyển dụng đều ngại tuyển dụng người lao động đã từng bị truy cứu TNHS Điều đó gây cho họ tâm lý tiêu cực, tự ti, chán nản, dễ sa vào các tệ nạn

xã hội và quay lại con đường phạm tội

Thứ năm, việc một người bị truy cứu TNHS không những ảnh hưởng đến bản thân họ mà còn đối với người thân của họ Gia đình có người vào tù ra tội cũng gây trở ngại cho cuộc sống thường ngày, gia đình họ phải nhận những ánh mắt kiêng dè từ mọi người, mối quan hệ xã hội cũng bị thu hẹp Hoặc việc đó có thể dẫn đến gia đình ly tán, con cái có thể trở nên hư hỏng, tăng gánh nặng cho xã hội Do

đó, khi áp dụng biện pháp miễn TNHS thì người phạm tội không bị cách ly khỏi gia đình xã hội tạo điều kiện cho họ được cải tạo trong chính môi trường sống với sự giúp đỡ từ phía gia đình, xã hội tạo nên sự gắn kết giữa người phạm tội với gia đình,

xã hội và sẽ hạn chế được các hệ quả trên

Trang 29

Thứ sáu, việc quy định biện pháp miễn TNHS còn thể hiện sự tiến bộ về kỹ thuật lập pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm Ngoài ra, việc quy định các trường hợp miễn TNHS ngày càng rộng thể hiện hiệu quả của các biện pháp cải tạo, giáo dục khác ngoài các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc trong luật Hình sự

1.3 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về biện pháp miễn trách nhiệm hình sự

1.3.1 Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật Hình sự Việt Nam thời phong kiến

Về mặt luật pháp trong thời kì phong kiến của nhà nước ta không thể không nhắc đến hai Bộ luật nổi tiếng có giá trị ảnh hưởng đến cả kỹ thuật lập pháp hiện nay là Quốc triều hình luật thời Lê, và Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn

Quốc triều hình luật được xây dựng dưới thời vua Lê Thánh Tông, được đánh giá là Bộ luật tiến bộ trong thời kì phong kiến của nước ta, có giá trị ảnh hưởng đến Bộ luật Gia Long sau này và có nhiều điểm được pháp luật hiện hành kế thừa

Do sự ảnh hưởng của Nho giáo nên pháp luật thời kì nhà Lê chịu sự chi phối

của cả tư tưởng đức trị lẫn pháp trị Các quy định thể hiện chính sách hình sự xuất

phát từ đạo lý Nho giáo nên tội phạm chủ yếu là những hành vi vi phạm nghiêm trọng đạo lý Nho giáo, mang tính giáo hóa cao Bên cạnh đó thì các quy định hình

sự cũng mang tính chất nhân đạo Nguyên tắc nhân đạo thể hiện rõ nét qua các quy định khoan hồng đối với những người phạm tội là người già, người tàn tật và trẻ em

cũng như đối với người phạm tội chưa bị phát giác nhưng đã tự thú

Tại Điều 18 quy định: “Phàm phạm tội chưa bị phát giác mà tự thú trước thì được tha tội Phạm tội thập ác và giết người thì không theo luật này Phạm tội nhẹ

đã bị phát giác mà lại thú cả tội nặng nữa, nhân hỏi về tội đương xét mà thú thêm các tội khác nữa, thì được tha cả mọi tội Phạm tội thập ác và giết người thì không theo luật này Còn nhờ người thú thay, thì không được tha tội Tự thú mà không thú

Trang 30

thật hay thú không hết, thì chỉ cho giảm tội một bậc Về tang vật mà không thú hết thì theo chỗ thú không hết mà xử tội Biết người sắp tố giác mình, mà mình mới tự thú thì cũng cho giảm tội một bậc Phạm tội cùng đi trốn, mà biết bắt nhau đem nộp quan thì cũng được tha tội”

Vì vậy để được tha tội thì người phạm tội phải tự thú trước khi bị phát giác, tội phạm đó không thuộc tội thập ác hoặc tội giết người, và việc tự thú phải thành thật, đầy đủ Phải chăng đây là điểm tiến bộ của Quốc triều hình luật mà pháp luật hiện nay có sự kế thừa trong trường hợp miễn TNHS tại khoản 2, Điều 25 BLHS

Ngoài ra, Điều 19 Quốc triều hình luật còn quy định trường hợp tự thú khác

cũng được tha tội theo Điều 18: “Phàm ăn trộm tài vật của người mà sau lại tự thú với người mất của, thì cũng coi như là thú ở cửa quan” Điều này thể hiện tinh thần

khoan hồng độ lượng đối với những người đã biết sai, ăn năn hối cải, cho họ quay lại con đường hối lỗi

Tuy chưa được chính thức quy định là “miễn TNHS” mà tồn tại dưới tên gọi

“tha tội” nhưng các quy định trong Quốc triều hình luật cũng chính là một biểu hiện đánh dấu sự xuất hiện của biện pháp miễn TNHS trong PLHS nước ta dưới thời Lê

Bước sang thời Nguyễn là Bộ Hoàng Việt luật lệ, đây là bộ luật lớn nhất trong lịch sử phong kiến của nước ta, đồ sộ và khá đầy đủ Hoàng Việt luật lệ được xây dựng trên cơ sở kế thừa Quốc triều hình luật thời Lê nên cũng có những quy định tương tự mang tính chất nhân đạo Tuy nhiên, đã có sự phát triển và quy định

cụ thể hơn đối với một số loại tội phạm

Điều 24 quy định về Phạm tội tự thú: “Phàm người phạm tội, tội chưa phát giác mà biết tự thú thì miễn buộc tội (người ăn đút lót tuy miễn tội nhưng vẫn phải

bị truy thu tang vật) còn người phạm tội nhẹ bị phát giác nhân đó tự thú tội nặng thì được miễn phạt tội nặng…nếu bạo trộm ăn cắp vặt, lừa đảo, lấy của cải của người,

mà đến thú tội cùng khổ chủ mà ăn năn đem của trả lại cho chủ thì cũng như quan

ti tự thú, đều được miễn tội…kẻ bạo trộm nếu bắt được đồng bọn giải quan thì cũng được miễn tội và y còn được thưởng Nhưng lần sau tái phạm thì không cho thú”

Trang 31

Hay trường hợp phạm tội công đào mà người phạm tội cùng nhau chạy trốn, người phạm tội nhẹ bắt người phạm tội nặng đem nộp cho quan thì cũng được miễn tội được quy định tại Điều 26 như sau:

“Phàm người phạm tội cùng nhau chạy trốn, người phạm tội nhẹ có thể bắt người phạm tội nặng đem nộp cho quan Tội nặng nhẹ ngang bậc nhau,chỉ bắt một nửa trở lên, đem nộp cho quan đều được miễn tội

Năm người cùng phạm tội chạy trốn, một người bắt lại được hai người đem nộp cho quan thì được miễn tội Trừ tội làm tổn thương và gian dâm thì không được miễn

Nếu tội nhân tự thú và gặp dịp ân xá được tha thì người liên lụy cũng được tha, giảm tội”

Ta thấy, về cơ bản thì trường hợp miễn tội của Hoàng Việt luật lệ xuất phát

từ việc tự thú của người phạm tội, ngoài ra còn miễn tội khi bắt đồng phạm nộp cho quan để nhằm khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội

Qua nghiên cứu hai bộ luật Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ cho thấy pháp luật thời phong kiến đã xây dựng các quy định có bản chất miễn TNHS như BLHS 1999 hiện nay Tuy nhiên, ở thời kỳ này các quy định đó chưa được gọi

là “miễn TNHS” như hiện nay mà tồn tại dưới những tên gọi khác nhau như tha tội, miễn tội

1.3.2 Miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật Hình sự Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự 1985

Đến giai đoạn suy yếu của triều Nguyễn, nước ta bị Pháp, Mỹ xâm lược nên nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước Cho đến cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thì lúc này nhằm chống thù trong giặc ngoài bảo vệ chính quyền non trẻ và mục tiêu thống nhất hai miền nên nhà nước ta đã ban hành một số văn bản PLHS điều chỉnh một số quan hệ pháp luật cụ thể Trong đó, chưa thừa nhận miễn TNHS là một chế định độc lập nhưng trong thực tiễn xét xử và một số văn bản đã thừa nhận với nhiều tên gọi khác nhau như xá miễn, tha miễn, miễn tố, tha bổng bị cáo, miễn hết cả tội…

Trang 32

Cụ thể, Điều 1 mục 1 Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 quy định về đại xá cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945 Theo đó, những người phạm tội sau trước 19/08/1945 sẽ được hoàn toàn xá miễn:

“1 Tội phạm vào luật lệ báo chí; 2 Tội phạm vào luật lệ hội họp; 3 Tội của thợ thuyền bị phạt do luật lao động; 4 Tội phạm trong khi đình công; 5 Tội phạm vào luật lệ về quan thuế và thương mại, rượu lậu, thuốc phiện lậu, muối lậu và các hàng hóa lậu khác; 6 Tội phạm vào luật lệ kiểm lâm; 7 Tội phạm vào luật kinh tế chỉ huy; 8 Tội vô ý giết người hoặc đánh người có thương tích; 9 Tội vi cảnh”

Và hậu quả pháp lý của việc xá miễn được quy định tại Điều 4: “Những tội được xá miễn đều coi như không phạm bao giờ; quyền công tố sẽ bị tiêu hủy, nhưng chính hình và phụ hình mà Tòa án đã tuyên đều bỏ hết Những tiền phạt hoặc án phí

mà công khố đã thu của tội nhận rồi thì không hoàn lại nữa Những của cải đã tịch biên và phát mại rồi cũng không trả lại nữa”

Như vậy, xá miễn là một biện pháp khoan hồng của nhà nước nhân dịp đất nước có những sự kiện đặc biệt quan trọng, nó không chỉ mang ý nghĩa chính trị to lớn mà còn có ý nghĩa nhân đạo với người phạm tội nhất định có tác dụng tha tội hoàn toàn và triệt để

Khác với quy định hiện nay trong BLHS 1999 quy định không phải chịu tội trong trường hợp người đưa hối lộ bị ép buộc thì Điều 2 Sắc lệnh số 223/SL ngày

17/11/1946 quy định tội phạm về chức vụ: “Người phạm tội đưa hối lộ cho một công chức mà tự ý cáo giác cho nhà chức trách việc hối lộ bị công chức cưỡng bách ước hứa, hay là dùng cách trá ngụy thì người ấy được miễn hết cả tội Trong trường hợp này, tang vật hối lộ được hoàn trả” Như vậy, trường hợp này miễn

TNHS được gọi là miễn hết cả tội

Đến năm 1954 với chiến thắng Điên Biên Phủ và sự kiện kí hiệp định Giơneve với Pháp, nhà nước ta quyết định đại xá Trong mục II Thông tư số 314 -

TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “Người đang bị giam mà được đại xá thì tha ngay Những người đã mãn hạn tù hoặc được ân xá, ân giảm và

Trang 33

được tha trước đây và những người này được tha đều được hưởng quyền công dân như ứng cử, bầu cử và các quyền tự do, dân chủ…”

Sau khi đất nước thống nhất, tình hình kinh tế - chính trị còn gặp nhiều khó khăn Nền kinh tế bao cấp lộ rõ nhiều bất cập, theo đó là tệ nạn hối lộ phát triển mạnh mẽ Vì vậy, nhằm để củng cố bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa, lấy lại niềm tin của người dân, khuyến khích tất cả công dân tham gia vào công cuộc chống tệ nạn hối lộ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh trừng trị tội hối lộ ngày 20/05/1981 Bên cạnh việc thể hiện sự nghiêm trị đối với tội đưa hối lộ, tội nhận hối lộ, tội môi giới hối lộ thì Pháp lệnh cũng quy định một số điều kiện được

miễn TNHS: “Người phạm tội hối lộ, trước khi bị phát giác, chủ động khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể được miễn TNHS; nếu là phạm tội nghiêm trọng thì có thể được giảm nhẹ hình phạt”.

Có thể xem đây là lần đầu tiên thuật ngữ “miễn TNHS” được đề cập đến

trong quy định PLHS nước ta

Như vậy, ở trong giai đoạn từ cách mạng tháng 8/1945 đến trước khi ban hành BLHS 1985 thì biện pháp miễn TNHS được quy định rất hạn chế phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, chính sách hình sự, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của nhà nước ta lúc bấy giờ Những trường hợp để áp dụng miễn TNHS là khi có quyết định đại xá; người phạm tội chấm dứt nửa chừng việc phạm tội, có hành động ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả phạm tội; hoặc tự thú, ăn năn hối cải, lập công chuộc tội, việc thực hiện phạm tội là do bị ép buộc, lừa phỉnh

1.3.3 Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự

1985

Đến năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra đời đánh dấu bước phát triển mới của PLHS Việt Nam nói chung và các quy định miễn TNHS nói riêng Đây là lần đầu tiên biện pháp miễn TNHS được thừa nhận là một chế định độc lập với tám trường hợp được quy định trong cả Phần Chung và Phần Các tội phạm của BLHS Những trường hợp miễn TNHS theo BLHS 1985 cụ thể như sau:

Trang 34

- Miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16 BLHS);

- Miễn TNHS do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (đoạn 1, khoản 1, Điều 48 BLHS);

- Miễn TNHS do hết thời hiệu truy cứu TNHS (Điều 45 BLHS)

- Miễn TNHS do người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn, hối cải (đoạn 2, khoản 1, Điều 48 BLHS);

- Miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội (khoản 3, Điều 59 BLHS);

- Miễn TNHS đối với tội gián điệp (khoản 3, Điều 74 BLHS);

- Miễn TNHS đối với tội đưa hối lộ (khoản 4, Điều 227 BLHS);

- Miễn TNHS đối với tội không tố giác tội phạm (khoản 2, Điều 247 BLHS) Như vậy, so với BLHS 1985 thì biện pháp miễn TNHS quy định trong BLHS

1999 mở rộng hơn với việc thêm hai trường hợp miễn TNHS là miễn TNHS khi có quyết định đại xá (khoản 3, Điều 25 BLHS); miễn TNHS đối với tội môi giới hối lộ (khoản 5, Điều 290 BLHS) Ngoài việc thêm hai trường hợp miễn TNHS trên, điều kiện để người phạm tội trong một số trường hợp miễn TNHS quy định trong BLHS

1985 cũng có một số điểm khác biệt so với quy định trong BLHS 1999 như sau:

Về trường hợp miễn TNHS do hết thời hiệu truy cứu TNHS

Trang 35

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định thì hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đã trôi qua không được tính vào thời hiệu đối với tội cũ tính lại kể từ ngày phạm tội mới

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ khi người

đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ

2- Đối với những trường hợp nói ở điểm c khoản 1 Điều này nếu có lý do đặc biệt thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao vẫn có thể truy cứu TNHS và Tòa án nhân dân tối cao có thể quyết định không áp dụng thời hiệu

Như vậy, quy định miễn TNHS do hết thời hiệu truy cứu TNHS của BLHS

1985 có điểm khác so với quy định của BLHS 1999 đó là thời hiệu truy cứu TNHS đối với loại tội ít nghiêm trọng được chia ra hai giới hạn hình phạt riêng biệt với khoảng thời hiệu khác nhau Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có hình phạt tù từ hai năm trở xuống hoặc hình phạt khác nhẹ hơn thì thời hiệu truy cứu TNHS là năm năm Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có hình phạt trên hai năm thì thời hiệu truy cứu TNHS là mười năm

Còn trong BLHS 1999 thời hiệu truy cứu TNHS đối với loại tội ít nghiêm trọng là năm năm không phân biệt giới hạn hình phạt như BLHS 1985

Về trường hợp miễn TNHS do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Trong BLHS 1985

miễn TNHS trong trường hợp này được quy định: “Người phạm tội có thể được miễn TNHS, nếu khi tiến hành điều tra hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình

mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”

Có nghĩa là trong giai đoạn điều tra hoặc xét xử nếu có sự chuyển biến tình hình dẫn đến hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người phạm tội có thể được miễn TNHS Tức đây là trường hợp miễn TNHS có tính tùy nghi, còn trong BLHS 1999 quy định đó là trường hợp miễn TNHS bắt buộc Ngoài ra, giai đoạn tố tụng để xem xét miễn TNHS trong trường hợp này quy định ở

Trang 36

BLHS 1985 chỉ có hai giai đoạn là điều tra và xét xử, còn quy định ở BLHS 1999

có ba giai đoạn là điều tra, truy tố và xét xử

Về trường hợp miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội Khoản

3, Điều 59 BLHS 1985 quy định: “Viện kiểm sát có thể quyết định miễn truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu được gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục” Điều kiện để người chưa thành niên phạm

tội có thể được miễn TNHS theo quy định này là: phạm tội ít nghiêm trọng; gây hại không lớn; được gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát giáo dục Thẩm quyền áp dụng trường hợp miễn TNHS này là VKS

So sánh điều kiện để có thể miễn TNHS cho người chưa thành niên phạm tội thì có thể thấy phạm vi miễn TNHS của BLHS 1999 rộng hơn, BLHS 1999 còn miễn TNHS cho người chưa thành niên phạm tội nghiêm trọng Và thẩm quyền áp dụng miễn TNHS của BLHS 1999 trong trường hợp này không chỉ thuộc về VKS như quy định trong BLHS 1985 mà có thể thuộc về cả CQĐT và Tòa án, tùy vào giai đoạn tố tụng tương ứng

Qua đó ta thấy, điều kiện miễn TNHS trong ba trường hợp: miễn TNHS do hết thời hiệu truy cứu TNHS; miễn TNHS do sự chuyển biến của tình hình mà hành

vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; miễn TNHS cho người chưa thành niên phạm tội trong BLHS 1985 được quy định theo hướng

có phạm vi miễn TNHS hẹp hơn so với BLHS 1999

Qua nghiên cứu những quy định về miễn TNHS trong các Bộ luật phong kiến và đặc biệt là BLHS 1985 ta thấy đó chính là những tiền đề đặt nền móng cho việc quy định trong BLHS 1999 hiện nay Chế định miễn TNHS trong BLHS 1999

là sự kế thừa và khắc phục các hạn chế từ các văn bản pháp luật trước đây để hoàn thiện hơn về mặt kĩ thuật cũng như nội dung

1.4 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật Hình sự của một số nước trên thế giới

1.4.1 Miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga

Trang 37

Trong BLHS Liên bang Nga, chế định miễn TNHS được quy định ở cả Phần Chung và Phần Riêng Các trường miễn TNHS được quy định ở Phần Chung bao gồm:

Thứ nhất là trường hợp miễn TNHS do người phạm tội thực sự ăn năn, hối cải quy định tại Điều 75 như sau:

“1 Người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra tự thú, tích cực giúp đỡ việc khám phá và điều tra tội phạm, bồi thường thiệt hại đã gây ra hoặc bằng cách nào đó làm giảm thiệt hại của tội phạm và do hành vi thực sự ăn năn hối cải hoặc đã không còn nguy hiểm cho xã hội nữa

2 Người thực hiện loại tội phạm khác sẽ được miễn trách nhiệm hình sự chỉ trong các trường hợp được quy định cụ thể tại các điều luật tương ứng ở Phần Riêng Bộ luật này”

Trường hợp miễn TNHS do thực sự ăn năn, hối cải quy định tại Điều 75 BLHS Liên bang Nga có các điều kiện tương đối giống với trường hợp miễn TNHS theo khoản 2, Điều 25 BLHS như: người phạm tội có thể được miễn TNHS khi do thực sự ăn năn, hối cải, có hành vi tự thú, tích cực góp phần vào việc khám phá và điều tra tội phạm, làm giảm thiệt hại Tuy nhiên, BLHS Liên bang Nga còn quy định thêm điều kiện phạm tội lần đầu và chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng còn khoản 2, Điều 25 BLHS không giới hạn loại tội phạm Đây là điều kiện phù hợp mà Việt Nam có thể tham khảo Bởi vì mức độ nguy hiểm của các loại tội phạm là khác nhau Khi xem xét các điều kiện để miễn TNHS trong trường hợp này giữa người phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng ngang bằng với người phạm tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng là không phù hợp

Thứ hai, trường hợp miễn TNHS do hết thời hiệu quy định tại Điều 78:

1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nếu kể từ ngày phạm tội đã hết các thời hạn sau:

a) Hai năm sau khi phạm tội ít nghiêm trọng;

Trang 38

b) Sáu năm sau khi phạm tội nghiêm trọng;

c) Mười năm sau khi phạm tội rất nghiêm trọng;

d) Mười lăm năm sau khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

2 Thời hiệu được tính từ ngày thực hiện hành vi phạm tội đến trước thời điểm bản án của Tòa án bắt đầu có hiệu lực Trong trường hợp thực hiện tội phạm mới, thời hiệu sẽ được tính riêng theo từng tội

3 Khoảng thời gian của thời hiệu có thể bị tạm ngừng nếu người phạm tội trốn tránh cơ quan điều tra hoặc Tòa án Trong trường hợp này, khoảng thời gian của thời hiệu sẽ được phục hồi từ thời điểm bắt giữ người phạm tội hoặc thời điểm người phạm tội ra tự thú

4 Vấn đề quyết định thời hiệu đối với người phạm tội bị Tòa án áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân do Tòa án quyết định Nếu Tòa án không thể miễn trách nhiệm hình sự cho người bị kết án do hết thời hiệu thì hình phạt tử hình hoặc tù chung thân sẽ không áp dụng

5 Đối với những người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đến nền hòa bình

và an ninh toàn nhân loại được xem xét tại các Điều 353, 356, 357, 358 Bộ luật này thì sẽ không được áp dụng thời hiệu

Trường hợp miễn TNHS do hết thời hiệu của BLHS Liên bang Nga cũng tương đối giống với trường hợp miễn TNHS do hết thời hiệu theo Điều 23 BLHS với thời hạn được quy định theo từng loại tội phạm tương ứng và trong khoảng thời gian đó, người phạm tội không được trốn tránh Nhưng dựa vào điều kiện miễn TNHS của BLHS Liên bang Nga trong trường hợp này có phạm vi miễn TNHS rộng hơn so với Điều 23 BLHS đó là trong khoảng thời gian tính thời hiệu, người phạm tội nếu phạm tội mới thì thời hiệu của hai tội được tính riêng biệt Còn Điều

23 BLHS quy định thời hiệu của tội cũ sẽ được tính lại bắt đầu từ thời điểm phạm tội mới

Thứ ba, trường hợp miễn TNHS khi có quyết định đại xá theo Điều 84:

1 Đại xá do Hội đồng Đuma quốc gia Liên bang Nga công bố đối với một nhóm người không xác định cụ thể danh tính

Trang 39

2 Người phạm tội thông qua văn bản đại xá có thể được miễn trách nhiệm hình

sự Đối với những người bị kết án do thực hiện tội phạm thì có thể được miễn chấp hành hình phạt, hoặc hình phạt đã áp dụng có thể được rút ngắn hoặc được thay thế bằng hình phạt nhẹ hơn, hoặc những người này có thể được miễn chấp hành hình phạt bổ sung Còn những người đã chấp hành hình phạt xong thì có thể được xóa bỏ án tích thông qua văn bản đại xá

Đều là trường hợp miễn TNHS khi có quyết định đại xá của cơ quan có thẩm quyền, tuy nhiên BLHS Liên bang Nga quy định đây là trường hợp có thể miễn TNHS còn khoản 3, Điều 25 BLHS quy định đây là trường hợp miễn TNHS bắt buộc

Như vậy, so với quy định các trường hợp miễn TNHS trong BLHS Việt Nam

1999 thì các trường hợp miễn TNHS trên tương đối giống, đó là khi người phạm tội thực sự ăn năn, hối cải, khi đã hết thời hiệu hoặc khi có quyết định đại xá Nhưng có một trường hợp khác đó là miễn TNHS do đã hòa giải với người bị hại

Điều 76 BLHS Liên bang Nga quy định: “Người phạm tội ít nghiêm trọng có thể được miễn TNHS nếu họ đã hòa giải với người bị hại và bồi thường thiệt hại cho người bị hại”

Điều kiện để được miễn TNHS trong trường hợp này là: tội phạm mà người phạm tội thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; đã hòa giải với người bị hại và bồi thường thiệt hại cho người bị hại

Bởi vì thực tiễn giải quyết vụ án hình sự Việt Nam thời gian qua cho thấy, có những tội phạm ít nghiêm trọng, xảy ra do xích mích, tranh chấp nhỏ Hoặc một số tội phạm do lỗi vô ý, người phạm tội đã khắc phục hậu quả của tội phạm, người bị hại chấp nhận việc bồi thường thì cũng không nhất thiết phải đưa ra xử lý bằng biện pháp xử lý hình sự

Nhằm tạo điều kiện để xử lý vấn đề tội phạm một cách linh hoạt hơn, khuyến khích người phạm tội sớm nhận ra sai lầm và nhanh chóng khắc phục hậu quả của tội phạm, pháp luật Việt Nam nên sự tham khảo quy định này để có quy định phù hợp với tình hình thực tiễn áp dụng miễn TNHS

Trang 40

Ngoài các trường hợp quy định ở Phần Chung, BLHS Liên bang Nga còn quy định nhiều trường hợp miễn TNHS ở Phần Riêng như: miễn TNHS cho người phạm tội bắt cóc người (Điều 127); cho người phạm tội khủng bố (Điều 202); cho người chiếm con tin (Điều 203); cho người tổ chức đơn vị vũ trang bất hợp pháp (Điều 205); cho người sở hữu, tiêu thụ, bảo quản, chuyển giao hay mang trái phép

vũ khí, đạn dược, chất nổ và thiết bị cháy nổ (Điều 219); cho người chế tạo vũ khí trái phép (Điều 220); cho người đưa hối lộ (Điều 286); cho người đưa ra lợi khai, kết luận giám định hay dịch gian dối (Điều 301); cho người trốn khỏi nhà tù hoặc nơi tạm giam (Điều 307) Đối với các trường hợp miễn thì đều quy định các điều kiện như người phạm tội phải có những hành động thành khẩn, ăn năn, kịp thời ngăn chặn không để cho tội phạm xảy ra, hay từ nguyện giao nộp vũ khí hoặc thông báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Và hành vi của họ không cấu thành tội phạm khác, nếu hành vi của họ cấu thành tội phạm khác thì họ phải chịu TNHS về tội mà hành vi đó thỏa mãn cấu thành tội phạm đó Những điều kiện này tương tự như với điều kiện miễn TNHS trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo Điều 19 BLHS Việt Nam 1999

So với BLHS Việt Nam năm 1999 có bốn trường hợp miễn TNHS đối với tội gián điệp (Điều 80); tội đưa hối lộ (Điều 289); tội môi giới hối lộ (Điều 290); tội không tố giác tội phạm (Điều 314) thì BLHS Liên bang Nga quy định nhiều trường hợp miễn TNHS hơn

1.4.2 Miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Canada

Xét về bản chất cũng là biện pháp miễn TNHS nhưng BLHS Canada lại có

tên gọi khác là “miễn trách nhiệm hoàn toàn” được quy định ở khoản 1 Điều 730

như sau:

“Khi bị cáo không phải là một tổ chức thừa nhận có tội hoặc bị kết luận phạm tội không phải là tội có mức hình phạt tối thiểu được luật quy định hoặc một tội bị trừng phạt thông qua án tù đến 14 năm hoặc chung thân, tòa án giải quyết bị cáo nếu thấy đó là đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho bị cáo và không trái với quyền

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1985 3. Bộ luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1999 4. Bộ luật hình sự Canada Khác
9. Bộ luật tố tụng hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2003 10. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 Khác
11. Nghị quyết số 02/ HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
12. Nghị quyết 01-89/HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
13. Pháp lệnh trừng trị Các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 14. Pháp lệnh trừng trị Tội hối lộ ngày 20/05/1981 Khác
15. Pháp lệnh trừng trị Tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/07/1982 Khác
16. Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối caoGiáo trình, sách chuyên khảo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w