1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ thể đặc biệt trong luật hình sự việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn

80 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đến giai đoạn hiện nay thì vấn đề chủ thể đặc biệt của tội phạm vẫn chưa được quan tâm sâu sắc, chưa được các chuyên gia pháp lý hình sự nghiên cứu, làm rõ mà chỉ được đề cập

Trang 1

KHOA LUẬT HÌNH SỰ

-*** -

TRẦN THỊ MINH NHÂN MSSV: 1055030186

CHỦ THỂ ĐẶC BIỆT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

KHÓA LUẬN CỬ NHÂN LUẬT

Niên khóa: 2010- 2014

GVHD: TH.S TRẦN THANH THẢO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

TP.HCM – Năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình này là của riêng tôi Các số liệu, dẫn chứng trong luận văn

là trung thực Kết quả của luận văn chưa được công bố ở những công trình khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Minh Nhân

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT TỪ GỐC

BLHS Bộ luật Hình sự BLDS Bộ luật Dân sự CTĐB Chủ thể đặc biệt TAND Tòa án nhân dân TNHS Trách nhiệm hình sự

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ THỂ ĐẶC BIỆT CỦA TỘI PHẠM 6

1.1 Khái niệm về chủ thể đặc biệt của tội phạm 6

1.1.1 Định nghĩa về chủ thể đặc biệt của tội phạm 6

1.1.2 Đặc điểm của chủ thể đặc biệt của tội phạm 16

1.2 Sơ lược lịch sử quy định về chủ thể đặc biệt của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước khi ban hành BLHS 1999 18

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS 1985 18

1.2.2 Giai đoạn từ 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999 23

1.3 Các dấu hiệu về chủ thể đặc biệt của tội phạm trong quy định pháp luật hình sự hiện hành 25

1.3.1 Dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn 25

1.3.2 Dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc 28

1.3.3 Dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện 31

1.3.4 Dấu hiệu liên quan đến tuổi tác 35

1.3.5 Dấu hiệu liên quan đến giới tính 37

1.3.6 Dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ gia đình 39

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ ĐẶC BIỆT CỦA TỘI PHẠM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 43

2.1 Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự về chủ thể đặc biệt của tội phạm 43

2.1.1 Những kết quả đạt được trong việc áp dụng quy định pháp luật hình sự về chủ thể đặc biệt của tội phạm 45

Trang 5

2.1.2 Những hạn chế còn tồn tại trong việc áp dụng quy định pháp luật hình sự về

chủ thể đặc biệt của tội phạm 48

2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về chủ thể đặc biệt của tội phạm 57

2.2.1 Kiến nghị sửa đổi quy định của BLHS 57

2.2.2 Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về các tội phạm quy định dấu hiệu chủ thể đặc biệt 58

2.2.3 Kiến nghị phương pháp xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn Luật 62

2.2.4 Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 64

KẾT LUẬN 68

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Lời nói đầu của BLHS năm 1999 được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000 đã

xác định: “Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu

tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao ” Chính vì lẽ đó, pháp luật hình sự mang một ý nghĩa pháp lý chính trị vô cùng to

lớn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kì hội nhập và hợp tác quốc tế ngày nay

Đất nước ta đang trên quá trình hội nhập và phát triển với thế giới, đang bắt nhịp cùng với sự vận động của nhân loại Do đó, giai đoạn định hình thế đứng của mình có rất nhiều sự thay đổi, cả theo hướng tích cực và tiêu cực Một trong những tiêu cực của

sự phát triển đó là tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, xuất hiện sự tồn tại nhiều vấn đề, vướng mắc trong hệ thống pháp luật hình sự hiện hành, cũng như xuất hiện những vấn đề mới cần giải quyết Một trong những sự thay đổi của tình hình tội phạm là vấn đề liên quan đến việc xác định chủ thể đặc biệt của tội phạm Chủ thể đặc biệt của tội phạm là một khía cạnh nhỏ trong Luật hình sự nhưng lại là vấn

đề lớn và phức tạp trong việc xác định yếu tố chủ thể - một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm Đây chính là cơ sở pháp lí của xác định tội phạm và định tội danh Ngoài ra, vấn đề chủ thể đặc biệt của tội phạm còn liên quan đến nhiều ngành khoa học khác như tâm lý học, xã hội học, khoa học điều tra hình sự…

Trang 7

Vấn đề chủ thể đặc biệt của tội phạm không phải là vấn đề mới Tuy nhiên, đến giai đoạn hiện nay thì vấn đề chủ thể đặc biệt của tội phạm vẫn chưa được quan tâm sâu sắc, chưa được các chuyên gia pháp lý hình sự nghiên cứu, làm rõ mà chỉ được đề cập ở một góc độ, khía cạnh nhỏ trong các tạp chí, sách báo, các giáo trình Luật hình sự… Từ đó đã dẫn đến thực trạng là các cơ quan tiến hành tố tụng đã bỏ lọt tội phạm hoặc áp dụng không đúng tội danh đối với những tội phạm liên quan đến dấu hiệu chủ thể đặc biệt Trước những thiếu sót, những bất cập tồn tại trong lí luận cũng như trong

thực tiễn áp dụng nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Chủ thể đặc biệt của tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” để nghiên

cứu và từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện các quy định và thống nhất trong việc áp dụng BLHS Việt Nam về chủ thể đặc biệt của tội phạm

2 Tình hình nghiên cứu

Tuy có vai trò rất quan trọng cả về lí luận cũng như thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự nhưng vấn đề chủ thể đặc biệt của tội phạm vẫn chưa được các chuyên gia hình sự nghiên cứu chuyên sâu Hiện nay, chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào phân tích chi tiết về vấn đề chủ thể đặc biệt của tội phạm Vấn đề này chỉ được đưa ra và đề cập ở một khía cạnh nhỏ trong các giáo trình, các sách chuyên khảo hoặc các bài báo bình luận khoa học… Xét về nội dung, cấp độ và phạm

vi nghiên cứu thể hiện qua các công trình, tài liệu nghiên cứu đã được công bố từ trước

đến nay, có thể chia thành những nguồn sau:

- Nguồn thứ nhất: Các giáo trình ở bậc Đại học và Cao đẳng chuyên ngành Luật học của một số trường như: Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP.HCM, Đại học Cảnh sát Nhân dân, Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội… Các tài liệu này nghiên cứu về chủ thể đặc biệt của tội phạm với ý nghĩa là một trong những vấn đề cơ bản của khoa học pháp lí hình sự Tuy nhiên, những tài liệu này cũng chỉ đưa ra các khái niệm và các đặc điểm chung của chủ thể đặc biệt của tội phạm mà chưa nghiên cứu chuyên sâu về vấn

đề này

Trang 8

- Nguồn thứ hai: Các sách chuyên khảo và một số bài báo khoa học Nguồn tài liệu này tương đối nhiều và khá phong phú, đa dạng của nhiều tác giả, tiêu biểu như:

Sách chuyên khảo “Tội phạm học, Luật hình sự và Luật TTHS Việt Nam” của

GS.TSKH Đào Trí Úc (chủ biên) do nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm

1994; Sách “Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự” của TSKH Lê Cảm (chủ biên) do nhà xuất bản Công an nhân dân phát hành năm 2000; Sách “Lịch sử

Luật hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp (chủ biên) do nhà xuất bản Chính trị

quốc gia phát hành năm 2003; Sách “Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự dưới

ánh sáng nghị quyết ĐH 9 của Đảng” của PGS.TS Hồ Trung Ngũ (chủ biên) do nhà

xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2002; Bài viết “Nam giới có thể là người bị

hại trong tội hiếp dâm” của Nguyễn Văn Lam, Lê Đình Nghĩa – Tạp chí TAND số

4/2-2014 Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả dưới dạng sách chuyên khảo về tìm hiểu các loại tội phạm hay sách về bình luận khoa học BLHS

1985, BLHS 1999… Tuy số lượng công trình nghiên cứu tương đối nhiều nhưng chưa

có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về chủ thể đặc biệt của tội phạm

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về chủ thể đặc biệt của tội phạm, phân loại dấu hiệu chủ thể đặc biệt của tội phạm cũng như những thành tựu đạt được và những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về chủ thể đặc biệt của tội pham, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về chế định chủ thể đặc biệt của tội phạm cũng như những giải pháp đảm bảo cho pháp luật được nhận thức và áp dụng đúng đắn, thống nhất, nâng

cao hiệu quả của hoạt động tư pháp

Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ cần giải quyết của đề tài là:

- Nghiên cứu bản chất, khái niệm CTĐB của tội phạm;

- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự liên quan đến CTĐB, các dấu hiệu CTĐB của tội phạm phân biệt với chủ thể thường;

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các biện pháp cụ thể để làm sáng tỏ những nội dung nghiên cứu của luận văn như sau:

- Phương pháp thu thập, tổng hợp: thu thập tài liệu để làm sáng tỏ phần nội dung liên quan đến khái niệm, các quy định của pháp luật về CTĐB của tội phạm hiện hành, các dấu hiệu liên quan đến CTĐB của tội phạm…

- Phương pháp phân tích, diễn giải: vận dụng phương pháp phân tích tài liệu

để phân tích các tài liệu có liên quan như các văn bản báo cáo tổng kết, các bài tham luận của các nhà khoa học để làm sáng tỏ các quan điểm khác nhau về CTĐB của tội phạm

- Phương pháp thống kê được sử dụng trong phần thực tiễn áp dụng CTĐB của tội phạm để nêu lên tình hình phạm tội cũng như tính chất tội phạm liên quan đến CTĐB của tội phạm…

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Nhằm nghiên cứu những vấn đề chuyên sâu về CTĐB của tội phạm cả về phương diện lí luận lẫn thực tiễn, đề tài được thực hiện một cách nghiêm túc, khoa học dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn rõ ràng với phạm vi, mục tiêu như đã trình bày Có thể xem đây là công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về CTĐB của tội phạm, góp phần bổ sung vào hệ thống tri thức của khoa học Luật hình sự Việt Nam và đặc biệt đề

Trang 10

xuất các kiến nghị đóng góp cho sự hoàn thiện của BLHS cũng như việc áp dụng BLHS một cách đúng đắn, thống nhất và khoa học

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài các phần: Danh mục viết tắt, mục lục, phần mở đầu, phần kết luận và

danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận được chia làm hai chương:

Chương 1 Khái quát chung về chủ thể đặc biệt của tội phạm

Chương 2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự về chủ thể đặc biệt của tội phạm và một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ THỂ ĐẶC BIỆT CỦA TỘI PHẠM 1.1 Khái niệm về chủ thể đặc biệt của tội phạm

1.1.1 Định nghĩa về chủ thể đặc biệt của tội phạm

Theo quy định của pháp luật thì một hành vi chỉ bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt khi hành vi đó đã được quy định trong BLHS Trong khoa học pháp lý hình

sự, việc xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải là hành vi phạm tội hay không phải dựa vào bốn yếu tố cấu thành tội phạm, đó là: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan Nếu thiếu một trong bốn yếu tố trên thì hành vi đó dù gây nguy hiểm cho xã hội cũng không bị coi là tội phạm Chính vì thế, việc xác định chính xác yếu tố chủ thể trong cấu thành tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định tội danh, cũng như việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải là tội phạm được BLHS điều chỉnh hay không

Theo định nghĩa nội dung về tội phạm thì tội phạm được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt Theo đó, tội phạm trước hết phải là hành vi của con người, vì thông qua hành vi, tức những xử sự

có sự kiểm soát của ý thức và ý chí cụ thể ra bên ngoài thế giới khách quan thì con người mới có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ Vì vậy, tội phạm luôn được thực hiện bởi những cá nhân xác định

Theo từ điển thuật ngữ luật học của trường Đại học Luật Hà Nội thì: “hành vi được

hiểu là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh cụ thể” Vì vậy, không thể có hành vi xuất hiện ngoài thế giới

khách quan mà không có chủ thể thực hiện Các tác động trong thế giới vật chất như các hiện tượng tự nhiên (sấm sét, lũ lụt, núi lửa, động đất…) không được coi là hành vi

dù gây ra các thiệt hại đáng kể

Tuy nhiên, không phải ai khi thực hiện một hành vi đã được quy định trong Luật hình sự cũng sẽ trở thành chủ thể của tội phạm tương ứng Đối với một số tội phạm, ngoài việc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đó đáp ứng được đầy đủ các

Trang 12

điều kiện về những đặc điểm thông thường trong chủ thể của tội phạm, thì họ còn phải đáp ứng được những dấu hiệu đặc biệt khác mới có thể bị coi là người phạm tội Khoa học pháp lý hình sự gọi đó là chủ thể đặc biệt của tội phạm

“Chủ thể đặc biệt của tội phạm là người ngoài các dấu hiệu của chủ thể thường (có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS) còn có thêm dấu hiệu đặc biệt khác mà chỉ khi có các dấu hiệu này họ mới có thể trở thành chủ thể của các tội phạm tương ứng”

[51-tr.130]

Có thể hiểu ngắn gọn về chủ thể đặc biệt như sau:

Chủ thể đặc biệt = chủ thể thường + (những) dấu hiệu đặc biệt

Tuy pháp luật hình sự nước ta không quy định trực tiếp khái niệm “chủ thể của tội phạm” mà thể hiện khái niệm đó trong các điều luật của BLHS bằng cách sử dụng khái niệm “người nào phạm tội”, “người phạm tội”, “người bị kết án”… nhưng thông qua khái niệm về tội phạm được quy định trong BLHS thì vẫn có thể xác định được các

đặc điểm về chủ thể của tội phạm

Khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS như sau: “Tội

phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”

Định nghĩa tội phạm trên đây thể hiện rõ quan điểm cơ bản của nước ta về chủ thể của tội phạm bao gồm hai dấu hiệu:

- Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

Trang 13

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì chủ thể của tội phạm trước hết là người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến các lợi ích của xã hội Chủ thể của tội phạm là cá nhân - là con người cụ thể đã thực hiện hành vi vi phạm pháp

luật hình sự Theo quy định tại Điều 27 BLHS thì “hình phạt không chỉ nhằm trừng trị

người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội…” Như vậy,

việc áp dụng hình phạt trước hết là nhằm “trừng trị” chính bản thân người phạm tội, nên đối với người không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì nhà nước không thể áp dụng hình phạt để “trừng trị” họ Hơn nữa, chỉ những con người cụ thể mới có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, có thể tiếp nhận

sự cải tạo, giáo dục của xã hội thì mới phải chịu hình phạt Vì vậy, chủ thể của tội phạm theo Luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS

Theo quy định của Luật hình sự hiện hành, pháp nhân không phải là chủ thể của

tội phạm Không như một số nước theo truyền thống thông luật như Anh, Mỹ, Canada,

với chính sách hình sự mềm dẻo và thực dụng đã áp dụng TNHS đối với pháp nhân, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa xem pháp nhân là đối tượng chịu TNHS vì những

lí do sau:

+ Thứ nhất, theo quy định tại Điều 84 BLDS thì pháp nhân là một tổ chức, được thành lập hợp pháp trên cơ sở các quy định của pháp luật, có tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản riêng của mình khi tham gia vào các quan hệ đó Các hoạt động của pháp nhân được thể hiện thông qua hành vi của những người đại diện cho pháp nhân Tự bản thân pháp nhân không thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không có khả năng nhận thức và không có khả năng điều khiển hành vi nên không

được coi là có lỗi, vì thế không thể chịu TNHS “TNHS là một dạng của trách nhiệm

pháp lí là trách nhiệm của người phạm tội chịu những tác động bất lợi trước nhà nước đối với hành vi phạm tội của mình” [59-tr.64] Một người chỉ bị coi là phạm tội khi

Trang 14

người đó thực hiện hành vi có lỗi, trái pháp luật hình sự Vì vậy, như phân tích ở trên thì pháp nhân không có lỗi nên không thể chịu TNHS

+ Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam là nguyên tắc trách nhiệm cá nhân Theo đó, chỉ có cá nhân mới phải chịu TNHS nên BLHS hiện nay chỉ quy định TNHS đối với cá nhân Pháp nhân không phải là chủ thể chịu TNHS

+ Thứ ba, mục đích của việc truy cứu TNHS là nhằm cải tạo, giáo dục những cá nhân cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội Vì vậy, với cấu trúc là một tổ chức, pháp nhân không có khả năng tiếp nhận sự giáo dục của nhà nước, của xã hội Việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân không đạt được mục đích cải tạo, giáo dục của hình phạt… nên pháp nhân không thể trở thành chủ thể của tội phạm

Từ những phân tích nêu trên có thể kết luận rằng: chủ thể của tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam chỉ có thể là cá nhân - người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự

- Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS

Năng lực TNHS là khả năng của một người nhận thức được tính nguy hiểm cho

xã hội của hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội [59-tr.135]

Như vậy, năng lực TNHS được hợp thành từ hai yếu tố:

Thứ nhất: Khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi

Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ có người có năng lực TNHS mới là chủ thể của tội phạm Người có năng lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy

+ Khả năng nhận thức: con người sinh ra vốn đã có cơ sở vật chất để phát triển ý thức, đó là bộ não người Nhưng không phải ngay khi con người được sinh ra đã có nhận thức về tự nhiên, về xã hội, về chính mình Khả năng này có được là kết quả của

Trang 15

quá trình sống, hoạt động trong xã hội với một thời gian nhất định Trong quá trình đó, con người được hoạt động, được giáo dục trong gia đình, nhà trường, xã hội… Trên cơ

sở đó, con người tiếp thu những tri thức, những kinh nghiệm sống và dần dần hình thành nên khả năng nhận thức của mình Khi con người có khả năng nhất định thì mới hiểu được quyền, nghĩa vụ của mình trong cuộc sống cộng đồng, mới hiểu được những đòi hỏi tất yếu của bản thân họ và từ đó mới có cơ sở đánh giá được ý nghĩa thực tế cũng như ý nghĩa xã hội của hành vi do mình thực hiện Việc xác định khả năng nhận thức này phải được đánh giá thông qua nhận thức của người đó về các yếu tố của hành

vi, những yếu tố tạo nên tính nguy hiểm của hành vi và tính chất xã hội của hành vi đó như: Kinh nghiệm sống, trình độ chuyên môn, công cụ mà người đó sử dụng, cách thức

mà người đó tiến hành, đối tượng mà người đó có hành vi tác động xâm hại… Nhận biết được những điều đó chính là năng lực nhận thức của người phạm tội

+ Khả năng điều khiển hành vi: Là khả năng lựa chọn, quyết định và thực hiện hành vi cũng như khả năng tự kiềm chế được hành vi của mình trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể Năng lực điều khiển hành vi trước hết là năng lực của một người có khả năng lựa chọn, cân nhắc và thực hiện các biện pháp xử sự khi người đó đứng trước nhiều biện pháp xử sự khác nhau, trong đó có biện pháp xử sự không gây thiệt hại và nếu người đó đã lựa chọn biện pháp xử sự gây thiệt hại cho xã hội thì họ phải chịu TNHS về sự lựa chọn của mình Như vậy, có thể hiểu khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội là khả năng cân nhắc, lựa chọn, quyết định thực hiện hành vi Khả năng này dựa trên cơ sở nhận thức của người phạm tội

Con người phải trải qua quá trình nhận thức và tích lũy kinh nghiệm sống, đạt đến độ tuổi nhất định mới có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, mới

có năng lực TNHS Vậy muốn xác định năng lực TNHS của một người thì trước hết, ta cần xác định họ đủ tuổi chịu TNHS Luật hình sự Việt Nam không chính thức quy định thế nào là tình trạng có năng lực TNHS mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực

Trang 16

TNHS Như vậy, một người đạt đến độ tuổi chịu TNHS, không rơi vào tình trạng không có năng lực TNHS thì đương nhiên được coi là người có năng lực TNHS

Tại khoản 1 Điều 13 BLHS quy định “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu TNHS; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh” Như vậy, pháp luật Việt Nam

dựa vào hai tiêu chuẩn để xác định năng lực TNHS: tiêu chuẩn về y học và tiêu chuẩn

về tâm lí Để xác định được những tiêu chuẩn này cần dựa vào các dấu hiệu về y học

và dấu hiệu về tâm lí (dấu hiệu pháp lý) của một người như sau:

 Dấu hiệu y học: Người không có năng lực TNHS là người mắc bệnh tâm thần hoặc hoạt động tinh thần bị rối loạn Các loại bệnh này có thể là mãn tính hoặc đột ngột nhất thời Bệnh tâm thần là những bệnh như: tâm thần ở các thể trầm trọng, bệnh đần, thộn (bệnh si ngốc) Hoạt động tinh thần bị rối loạn do các bệnh khác như sốt rét ở nhiệt độ quá cao, gây mê sảng

 Dấu hiệu tâm lí: Người được xem là không có năng lực TNHS khi có các dấu hiệu mắc bệnh dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi Năng lực nhận thức thể hiện ở sự hiểu biết các yếu tố tất yếu của xã hội liên quan đến hành vi mà mình thực hiện

Dấu hiệu y học và dấu hiệu tâm lí là những điều kiện cần và đủ để xác định một người ở trong tình trạng không có năng lực TNHS Dấu hiệu y học có vai trò như là nguyên nhân và dấu hiệu tâm lí là hậu quả Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác nêu trên đều làm mất hoàn toàn khả năng nhận thức

và khả năng điều khiển hành vi của con người Tùy thuộc vào tình trạng bệnh của mỗi người, trong mỗi giai đoạn khác nhau, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người thể hiện ở những mức độ khác nhau Có thể có ba dạng tình trạng bệnh như sau:

Trang 17

 Dạng thứ nhất: Khi mắc bệnh, người bệnh mất hoàn toàn khả năng nhận thức

và khả năng điều khiển hành vi

 Dạng thứ hai: Khi mắc bệnh, năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của người bệnh chỉ mất đi trong từng giai đoạn, không mang tính liên tục

 Dạng thứ ba: Bị bệnh nhưng năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi không hoàn toàn mất đi mà chỉ hạn chế hơn so với người bình thường

Một người đang ở trong tình trạng bệnh thuộc dạng thứ nhất nếu thực hiện hành

vi phạm tội sẽ không bị truy cứu TNHS

Nếu người đang ở trong tình trạng bệnh thuộc dạng thứ hai khi thực hiện hành vi phạm tội mà họ đang bị mất năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì họ không phải chịu TNHS Tuy nhiên, nếu họ thực hiện hành vi phạm tội khi không bị bệnh và lúc đó họ có khả năng nhận thức thì họ vẫn bị truy cứu TNHS

Nếu người đang ở trong tình trạng bệnh thuộc dạng thứ ba thì được xem là người có năng lực TNHS hạn chế Người có năng lực TNHS hạn chế là người vẫn có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình (ở mức độ hạn chế), nên

họ là chủ thể của tội phạm và phải chịu TNHS về hành vi đó, nhưng ở mức độ hạn chế hơn so với người khác Trong trường hợp này, tình trạng bệnh mà người đó mắc phải được xem là tình tiết giảm nhẹ

Theo quy định của pháp luật hình sự, người thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng năng lực TNHS hạn chế thì tình trạng này chỉ ảnh hưởng đến mức độ lỗi của người thực hiện hành vi nên có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 46 BLHS

Như vậy, người có năng lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của mình

và có khả năng kìm chế hành vi đó để lựa chọn thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Bên cạnh đó, năng lực TNHS còn là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người có lỗi hay không khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Vì chỉ

Trang 18

những người có năng lực TNHS mới có thể có lỗi và mới có thể là chủ thể của tội phạm khi đã đạt độ tuổi luật định (tuổi chịu TNHS)

Thứ hai: Tuổi chịu TNHS

Dấu hiệu bắt buộc thứ hai của chủ thể tội phạm là tuổi chịu TNHS Con người sống trong xã hội với đặc điểm cấu tạo sinh học đặc biệt vốn đã có khuynh hướng trưởng thành và phát triển năng lực nhận thức đối với môi trường xung quanh, nhưng phải trải qua quá trình hoạt động và giáo dục nhất định trong môi trường xã hội thì khả năng đó mới trở thành hiện thực Năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của con người không thể có ngay từ lúc sinh ra mà được hình thành từng bước, tích lũy theo thời gian Do đó, phải đạt đến độ tuổi nhất định con người mới có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, khi đó mới bị coi là có lỗi và mới có thể truy cứu TNHS đối với người phạm tội

Năng lực THHS là năng lực của một người có khả năng ý thức, được hình thành trong quá trình phát triển của cá nhận về mặt tự nhiên và mặt xã hội Chỉ trong ý thức, con người mới tách mình và độc lập với thế giới xung quanh, xác định vị trí của mình trong những quan hệ tự nhiên và xã hội Từ đó hình thành nên những cá nhân, những chủ thể có ý thức đầy đủ về hoạt động của mình và chịu trách nhiệm về hành vi của mình Như vậy, năng lực TNHS chỉ được hình thành khi con người đạt độ tuổi nhất định

Cùng với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, sự giáo dục và tích lũy kinh nghiệm sống, khi đạt đến độ tuổi nhất định thì con người mới nhận thức được đầy đủ các đòi hỏi, chuẩn mực của xã hội và điều khiển hành vi của mình theo những chuẩn mực xã hội đó Khi đó, nhà làm luật mới quy định con người đủ tuổi chịu TNHS

“ Đủ tuổi chịu TNHS – đủ tuổi do pháp luật hình sự quy định tại thời điểm thực hiện tội phạm để có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lí của hành vi do mình thực hiện, cũng như có khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi ấy” [36-tr.219]

Trang 19

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể hiểu: Người đủ tuổi chịu TNHS là người tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi do Luật hình sự quy định, có thể có khả năng nhận thức đầy đủ tính thực tế (tính chất nguy hiểm cho xã hội) và tính chất pháp

lý (tính trái pháp luật hình sự) của hành vi do mình thực hiện, cũng như có khả năng điều khiển được hành vi đó

Cơ sở để xác định tuổi chịu TNHS là dựa trên sự phát triển về tâm - sinh lí của con người ở mỗi quốc gia, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, truyền thống lập pháp và chính sách hình sự của quốc gia đó Thông qua các số liệu của khoa học sinh lí học, khoa học tâm lí chung và tâm lí lứa tuổi, khoa học giáo dục lứa tuổi để nhận biết được ở lứa tuổi nào thì người chưa thành niên phát triển bình thường, có thể hình thành khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình Từ đó, khi quy định độ tuổi chịu TNHS thì nhà làm luật cần phải xác định, ở độ tuổi này, người chưa thành niên không những có khả năng đánh giá được mặt thực tế hành vi của mình mà còn phải hiểu được ý nghĩa xã hội của hành vi do mình thực hiện, và có khả năng tiếp nhận một cách đúng đắn hình phạt được áp dụng đối với mình vì đã thực hiện tội phạm Ở mỗi quốc gia khác nhau với trình độ phát triển khác nhau thì có những quy định khác nhau về độ tuổi chịu TNHS Ví dụ: Ở Anh, người từ 7 tuổi đến 14 tuổi chưa có khả năng thực hiện tội phạm Tuy nhiên, nếu tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mà người đó nhận thức được mình đã xử sự “đúng”, có nghĩa là họ nhận thức được tính trái pháp luật của hành vi, thì nhận định trên bị bác bỏ, và người từ 14 tuổi phải chịu TNHS về mọi loại tội phạm Ở Hoa Kỳ, mỗi bang khác nhau có những quy định khác nhau về độ tuổi chịu TNHS Tuy nhiên, độ tuổi này dao động từ 14 đến 16 tuổi, nhưng

ở bang Colorado và Louisiana thì người từ đủ 10 tuổi đã phải chịu TNHS Ở Pháp, TNHS được quy định đối với người từ đủ 13 tuổi, nhưng nếu người bị kết án mà chưa

đủ 16 tuổi thì Tòa án quyết định hình phạt giảm đi một nửa Người từ đủ 16 tuổi bị kết

án, Tòa án có thể quyết định hình phạt như đối với người đã thành niên nhưng vẫn có quyền giảm đi một nửa căn cứ vào nhân thân của họ Ở Đức, độ tuổi chịu TNHS được

Trang 20

quy định trong luật tòa án là 14 tuổi [44-tr.65] Như vậy, có thể thấy được rằng, với trình độ phát triển khác nhau, văn hóa và phong tục khác nhau thì mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau Sao cho phù hợp với sự phát triển của con người, mà nói rõ

ra là khi nào một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được xác định là chủ thể của tội phạm

Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Điều 12 BLHS thì độ tuổi chịu TNHS được xác định:

“Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về tội phạm Người từ đủ 14 tuổi

trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Như vậy, theo quy định này thì những người dưới 14 tuổi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội sẽ không bị coi là chủ thể của tội phạm vì họ chưa đạt độ tuổi chịu TNHS Với người chưa đủ 14 tuổi thì trí tuệ chưa phát triển đầy đủ Ở độ tuổi này

sự nhận thức của bản thân họ không đủ để nhận biết được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình và chưa đủ khả năng tự chủ về hành vi của mình nên họ không bị coi

là có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện Một hành vi được coi là không có lỗi, tức là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu TNHS

Trong khi đó, những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi bị coi là chủ thể có năng lực hạn chế Trong độ tuổi này, con người đã được giáo dục và có khả năng tiếp nhận tri thức một cách đúng đắn, đã biết tư duy về hành vi của mình nhưng vẫn chưa thể có khả năng điều chỉnh hành vi theo lí trí để có thể hiểu được hành vi của mình một cách hoàn thiện Do vậy, người trong độ tuổi này chỉ phải chịu TNHS về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chứ không phải chịu TNHS về mọi loại tội phạm

Cuối cùng, những người từ đủ 16 tuổi trở lên bị coi là chủ thê có năng lực TNHS đầy đủ Do đó, họ phải chịu TNHS về mọi loại tội phạm Ở độ tuổi này, nhận

Trang 21

thức của con người đã tương đối hoàn chỉnh Họ có thể nhận biết được hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi ấy vì thế họ có đủ năng lực TNHS

Chủ thể của bất kì tội phạm nào cũng bắt buộc phải có hai dấu hiệu là có năng lực TNHS và đủ độ tuổi luật định Tuy nhiên, chủ thể đặc biệt của tội phạm là chủ thể ngoài việc mang đầy đủ các dấu hiệu về năng lực TNHS, độ tuổi chịu TNHS còn phải đáp ứng được các dấu hiệu đặc biệt khác như các dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn; các dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc; dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện hay các dấu hiệu liên quan đến tuổi, giới tính… Đó là các dấu hiệu đặc biệt được quy định riêng cho từng loại tội phạm mà chỉ khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mang những dấu hiệu đặc biệt đó thì mới bị coi

là chủ thể của tội phạm, Nếu người phạm tội không có thêm những dấu hiệu này thì họ không thể thực hiện được hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm

1.1.2 Đặc điểm của chủ thể đặc biệt của tội phạm

Về bản chất pháp lí thì chủ thể đặc biệt của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm nên phải có những đặc điểm sau đây:

- Các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm do luật định

Cơ sở của TNHS được quy định tại Điều 2 BLHS là: “chỉ người nào phạm một

tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS” Đây chính là nguyên tắc không có

tội, không có hình phạt nếu không có Luật Nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể đặc biệt của tội phạm phải do luật định Vì vậy, những dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm phải được quy định trong pháp luật hình sự Để xác định một người nào đó có mang các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm hay không trước hết phải xác định các dấu hiệu đó có được quy định trong Luật hình sự hay không BLHS chính là cơ sở để xác định các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt Ngoài ra, dấu hiệu của chủ thể đặc biệt còn được hướng dẫn trong Nghị quyết, Nghị định nhằm giải thích một cách rõ ràng và thống nhất cách xác định các dấu hiệu này Khi giải thích Luật, các cơ quan có thẩm quyền chỉ được giải thích những dấu hiệu đã được quy định trong BLHS vì việc thêm

Trang 22

hoặc bớt bất kì một dấu hiệu nào đó của chủ thể tội phạm đều có thể dẫn đến tình trạng định sai tội danh, bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội

- Các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm mang tính đặc trƣng điển hình

Đối với các tội phạm có chủ thể được xác định là chủ thể đặc biệt thì mỗi chủ thể sẽ mang một dấu hiệu riêng biệt để có thể phân biệt với các chủ thể của tội phạm khác Các dấu hiệu là khác nhau và mang nét đặc trưng riêng Ví dụ: các dấu hiệu về tuổi, dấu hiệu về nghề nghiệp, dấu hiệu về mối quan hệ đều có đặc điểm khác nhau Chỉ những dấu hiệu nào thể hiện được bản chất đặc trưng của chủ thể đặc biệt để phân biệt với các chủ thể thường mới được ghi nhận là chủ thể đặc biệt của tội phạm, nên các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm có tính đặc trưng riêng

Với các tội phạm thông thường, chủ thể của tội phạm chỉ cần là cá nhân cụ thể

có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS Tuy nhiên, chủ thể đặc biệt của tội phạm ngoài các dấu hiệu trên còn phải đáp ứng được các dấu hiệu đặc biệt khác, và mỗi loại dấu hiệu khác biệt đó sẽ cấu thành nên chủ thể đặc biệt mang dấu hiệu đặc trưng riêng của tội phạm

Ví dụ: Hành vi giết một đứa trẻ được sinh ra trong thời gian bảy ngày, nếu người giết đứa trẻ đó là một người bình thường có đầy đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định thì người đó phạm tội giết người Nhưng cùng là chủ thể mang đầy đủ các dấu hiệu trên và chính là người sinh ra đứa trẻ đó thì lại phạm tội giết con mới đẻ

Đó chính là dấu hiệu riêng biệt để xác định cùng loại hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng với những chủ thể khác nhau thì được quy định các loại tội khác nhau

- Các dấu hiệu về chủ thể đặc biệt của tội phạm có tính bắt buộc

Một người chỉ bị coi là chủ thể đặc biệt của tội phạm khi nó mang đầy đủ các dấu hiệu chủ thể của tội phạm và các đặc điểm riêng biệt đặc trưng của từng loại tội phạm cụ thể Nếu thiếu bất kì một dấu hiệu nào thì nó có thể không phải là tội phạm hoặc là tội phạm khác Nghĩa là tất cả các dấu hiệu chung về chủ thể của tội phạm và

Trang 23

các dấu hiệu riêng biệt đều là điều kiện cần và đủ để xác định một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải là chủ thể của tội phạm hay không

Khi xác định chủ thể của tội phạm, nếu không có các dấu hiệu riêng biệt của chủ thể đặc biệt của tội phạm thì hành vi mà người đó thực hiện không bị coi là tội phạm vì không đáp ứng được các dấu hiệu đặc biệt của chủ thể tội phạm và người đó sẽ không phải chịu TNHS Vì thế, các dấu hiệu về chủ thể đặc biệt của tội phạm là các dấu hiệu bắt buộc được quy định trong BLHS

Các dấu hiệu về chủ thể đặc biệt của tội phạm là bắt buộc và có ý nghĩa quyết định trong việc định tội danh Tuy nhiên, đối với các vụ phạm tội do đồng phạm, các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt chỉ áp dụng đối với người thực hành, những người khác như người xúi giục, người giúp sức… thì không cần các dấu hiệu đặc biệt của tội phạm

đó

Ví dụ: Tội tham ô tài sản Điều 278 BLHS là tội phạm có dấu hiệu chủ thể là chủ thể đặc biệt – phải là người có chức vụ, quyền hạn Tuy nhiên, trong trường hợp đồng phạm thì một người không có chức vụ, quyền hạn vẫn có thể bị truy cứu TNHS về tội tham ô tài sản với vai trò người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức

1.2 Sơ lược lịch sử quy định về chủ thể đặc biệt của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước khi ban hành BLHS

1999

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS 1985

Bản thân xã hội tồn tại dưới dạng một hệ thống các quan hệ xã hội, thông qua mối liên kết giữa người với người Tuy nhiên, các chủ thể trong các quan hệ xã hội có

xu hướng phá vỡ mối liên kết đó, vì về bản chất mỗi chủ thể riêng lẻ đều muốn đảm bảo lợi ích riêng của mình trong khi những lợi ích đó luôn đối kháng nhau cũng như nhu cầu của từng chủ thể là khác nhau Vì vậy, như một nhu cầu khách quan, xã hội cần phải có những phương tiện để đảm bảo trật tự xã hội, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích

cá nhân, nhóm người, cộng đồng người Từ đó, pháp luật xuất hiện như là một phương

Trang 24

tiện quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, bảo đảm sự công bằng và bình đẳng giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội Nói tóm lại, chức năng của pháp luật là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử thì xã hội có những sự phát triển khác nhau nhất định nên đòi hỏi quy định của pháp luật cũng phải thay đổi để đảm bảo thực hiện tốt chức năng của mình Quy định về chủ thể đặc biệt trong cấu thành tội phạm cũng không nằm ngoài quy luật đó Mỗi thời kì khác nhau với

sự khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật lại có những quy định khác nhau về chủ thể đặc biệt của tội phạm cụ thể như sau:

- Thời kì 1945 đến 1954

Cách mạng tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Tuy nhiên, trong thời kì lịch sử đặc biệt này, chính quyền nhân dân vừa mới được thiết lập còn non trẻ, phải chống chọi lại giặc ngoại xâm và nội phản Bên cạnh đó, sau chiến tranh, nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói triền miên; về chính trị: Đảng và nhân dân Việt Nam chưa có kinh nghiệm giữ chính quyền, đã có ảnh hưởng ít nhiều đến việc xây dựng pháp luật

Ba nhiệm vụ lớn của nước ta được đặt ra lúc bấy giờ là diệt giặc đói, giặc dốt, và giặc ngoại xâm Nên chủ thể tội phạm của pháp luật thời kì này chủ yếu là bất kì người nào xâm hại đến lợi ích nhà nước, lợi ích của nhân dân mà chưa phân định rõ các chủ thể riêng biệt cho từng hành vi phạm tội Về kĩ thuật xây dựng luật, việc quy định về chủ thể của tội phạm hầu như được thể hiện là “tất cả những người nào”, hay nêu lên một hành vi bị cấm và quy định “ai” vi phạm hành vi đó sẽ bị trừng trị

Chủ thể đặc biệt của tội phạm giai đoạn này chủ yếu liên quan đến các tội phạm

về chức vụ và các nghĩa vụ phải thực hiện của quân nhân Các quy định về chủ thể đặc biệt được thể hiện qua các văn bản pháp luật thời kì này như:

+ Sắc lệnh 223/SL ngày 27/11/1946 là văn bản pháp luật hình sự đầu tiên quy định về chủ thể đặc biệt của tội phạm – chủ thể của tội phạm là người có chức vụ Sắc lệnh quy định hành vi nhận hối lộ, phù lạm, hay biển thủ công quỹ của công chức; quy

Trang 25

định công chức gồm: nhân viên trong chính phủ, trong các ủy ban hành chính các cấp, các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong bộ đội, và tất cả những người phụ trách một công vụ;

+ Sắc lệnh 163/SL ngày 23/8/1946 quy định 12 tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân mà tổ chức tòa án binh lâm thời được xử lý

- Thời kì 1954 đến 1975

Dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện hay các tội phạm liên quan đến dấu hiệu chức vụ của chủ thể đặc biệt của tội phạm đã được quy định rõ ràng hơn trong thời kì này:

+ Sắc lệnh số 106/SL ngày 15/6/1950 quy định về dấu hiệu nghĩa vụ thực hiện

của chủ thể đặc biệt của tội phạm như sau: “sẽ phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm những

người không tuân theo hay chậm trễ tuân lệnh nghĩa vụ quân sự, những người tự hủy hoại thân thể hoặc dùng mưu chước để được hoãn nghĩa vụ quân sự” Như vậy, một

người thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không thực hiện nghĩa vụ

đó của mình, sẽ phạm tội và phải chịu hình phạt;

+ Sắc lệnh số 154/SL ngày 17/11/1950 về trách nhiệm giữ bí mật cơ quan, bí mật công tác Tội phạm này có chủ thể đặc biệt là công chức và quân nhân Quy định

cụ thể tại Điều 1: “Trong thời kỳ kháng chiến việc giữ bí mật về cơ quan hay công tác

của Chính phủ là nhiệm vụ của công chức, quân nhân và của toàn dân”;

+ Sắc lệnh 267/SL ngày 15/6/1956 quy định về những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện

kế hoạch của nhà nước đã có quy định các tội phạm chức vụ gồm: tội không làm hoặc làm sai công vụ mình phụ trách; tội thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác mình phụ trách, làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân Chủ thể của loại tội phạm này là người có trách nhiệm trong công tác của

mình, được quy định tại Điều 10 như sau: “Kẻ nào vì thiếu tinh thần trách nhiệm mà

trong công tác mình phụ trách đã để lãng phí, để hư hỏng máy móc, dụng cụ, nguyên

Trang 26

vật liệu, để lộ bí mật nhà nước, để xảy ra tai nạn… làm thiệt hại một cách nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của nhà nước, sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù”;

+ Luật số 103 ngày 10/5/1957 quy định về hành vi bắt giam người trái phép Chủ thể của tội phạm này là cán bộ làm việc trong TAND, tòa án binh, cán bộ công an, cán bộ thuộc bộ đội bảo vệ và bộ đội quốc phòng được quy định cụ thể là những chủ thể sau:

a) Việc thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân bao gồm chủ thể là:

- Công tố uỷ viên, phó công tố uỷ viên, thẩm phán Toà án nhân dân

- Chánh án, phó Chánh án, thẩm phán Toà án nhân dân

b) Việc thuộc thẩm quyền Toà án binh bao gồm chủ thể là:

- Cục trưởng hoặc Cục phó Cục quân pháp

- Công tố uỷ viên hoặc công tố uỷ viên Toà án binh các cấp, cán bộ công tố được Cục trưởng Cục quân pháp hoặc công tố uỷ viên Toà án binh

- Chánh án, phó Chánh án, cán bộ thẩm phán được uỷ quyền làm chủ toạ phiên toà, đối với những vụ án đem xét xử tại phiên toà ấy

c) Cán bộ công an bao gồm chủ thể là:

- Trưởng đội tuần tra;

- Trưởng đồn, phó đồn công an;

- Trưởng công an huyện, châu, phó công an huyện, châu;

- Trưởng quận công an, phó quận công an;

- Trưởng ban, phó ban ở Ty công an;

- Trưởng Ty, phó Ty công an;

- Trưởng phòng, phó phòng ở Sở công an thành phố, ở công an khu hoặc liên khu;

- Giám đốc, phó giám đốc Sở công an thành phố; giám đốc, phó giám đốc công

an khu hoặc liên khu;

Trang 27

- Giám đốc, phó Giám đốc Vụ, Cục ở Bộ Công an

d) Cán bộ thuộc bộ đội bảo vệ và bộ đội quốc phòng bao gồm chủ thể là:

- Đội trưởng đang chỉ huy đội tuần tra kiểm soát của bộ đội bảo vệ;

- Đội trưởng đang chỉ huy đội tuần tra biên phòng;

- Ban chỉ huy đồn biên phòng;

- Thủ trưởng đơn vị bộ đội bảo vệ từ cấp đại đội trở lên;

- Thủ trưởng đơn vị bộ đội quốc phòng từ cấp đại đội trở lên trong khi đơn vị ấy làm nhiệm vụ cuả bộ đội bảo vệ;

- Thủ trưởng các cơ quan và đơn vị bộ đội quốc phòng từ cấp trung đoàn trở lên, hoặc tiểu đoàn độc lập, đại đội độc lập khi vụ phạm pháp xảy ra trong khu vực đóng quân hoặc trong phạm vi doanh trại quân đội

Với dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc của chủ thể đặc biệt của tội phạm, pháp luật giai đoạn này quy định tại Điều 57 Luật bầu cử đại biểu Quốc

hội ngày 13/1/1960 như sau: “Nhân viên trong các hội đồng bầu cử, ban bầu cử và

nhân viên trong các tổ chức chính quyền phạm tội giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu, hoặc dùng mọi thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử có thể bị phạt tù đến ba năm”

- Thời kì 1976 đến khi ban hành BLHS 1985

Cùng với việc ban hành sắc lệnh về tổ chức TAND và VKSND và sắc lệnh bắt, giam, khám người, khám nhà ở, đồ vật, của người phạm tội, nhà nước Việt Nam đã ban hành sắc lệnh số 02-SL/76 ngày 15/3/1976, quy định rõ ràng và cụ thể các tội phạm có chủ thể mang dấu hiệu về tính chất công việc, nghề nghiệp như tội xâm phạm thân thể

và nhân phẩm của công dân; chủ thể mang dấu hiệu liên quan đến hoạt động trong lĩnh vực tư pháp như tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và tội nhận hối lộ

Từ sự phân tích ở trên, có thể thấy pháp luật giai đoạn 1945-1985 đã phần nào quy định một số loại tội phạm mang dấu hiệu đặc biệt về chủ thể, phản ánh được tình hình tội phạm của nước ta thời kì xây dựng đất nước Trong giai đoạn này, mới chỉ

Trang 28

hình thành một số loại tội phạm mang dấu hiệu đặc biệt về chức vụ, nghề nghiệp hay nghĩa vụ phải thực hiện mà chưa có quy định về chủ thể đặc biệt mang dấu hiệu liên quan đến tuổi hay liên quan đến mối quan hệ gia đình Vì pháp luật giai đoạn này chủ yếu dùng để điều chỉnh các quan hệ về kinh tế và bảo vệ nhà nước, nhằm đấu tranh tiêu diệt giặc đói và giặc ngoại xâm Đó là mục tiêu hàng đầu của pháp luật thời kì này

1.2.2 Giai đoạn từ 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999

Trong giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến thời kì đấu tranh thống nhất đất nước, công cụ bảo vệ nhà nước ta về mặt pháp luật chủ yếu được quy định bằng những Sắc lệnh, Pháp lệnh - là những văn bản quy phạm pháp luật đơn hành nên không thể hiện được toàn diện đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Chính vì vậy, việc ban hành BLHS là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có

ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 27/6/1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII đã thông qua BLHS có hiệu lực từ ngày 1/1/1986 (sau đây gọi tắt là BLHS 1985)

Trong BLHS 1985, lần đầu tiên đã có một quy định pháp luật rõ ràng và đầy đủ

về cơ sở của TNHS Khái niệm về tội phạm cũng đã được quy định và có cơ sở pháp lí

rõ ràng Bên cạnh đó, BLHS cũng đã quy định rất nhiều loại tội phạm liên quan đến chủ thể đặc biệt Các dấu hiệu liên quan đến tuổi, giới tính, liên quan đến nghĩa vụ thực hiện, liên quan đến chức vụ quyền hạn, liên quan đến hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp hầu như đã được quy định trong BLHS 1985 Đây là điểm phát triển về kỹ thuật lập pháp cũng như các quy định mới về các loại tội phạm của nước ta trong giai đoạn này Các tội phạm về chủ thể đặc biệt được quy định trong BLHS 1985 như: hành vi giết con mới đẻ thuộc khoản 4 Điều 101 quy định về tội giết người; Điều 114 - Tội giao cấu với trẻ em, chủ thể của tội phạm phải là người đã thành niên; Điều 135 - Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; các tội liên quan đến chức vụ từ Điều 129 đến Điều 225; các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại các Điều 231, Điều 232,

Trang 29

Điều 233, Điều 234, Điều 235, Điều 236, Điều 237, Điều 238, Điều 239, Điều 240 và các tội phạm về nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân từ Điều 249 đến Điều 274;…

Đặc trưng của pháp luật thời kì 1945 đến trước khi ban hành BLHS 1985 đã phản ánh yêu cầu bảo vệ nền kinh tế hành chính bao cấp chủ yếu dựa trên hai hình thức

sở hữu: nhà nước và tập thể, theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp [47-tr.154] Từ năm 1986, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình tội phạm có nhiều diễn biến phức tạp nên yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cũng được đặt ra theo tinh thần mới Vì thế, chính sách hình sự của nước ta đã từng bước phát triển sau nhiều lần bổ sung, sửa đổi một số điều luật của BLHS 1985:

Từ khi ban hành BLHS 1985 đến năm 1992, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhiều lần tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều luật của BLHS 1985: lần thứ nhất vào ngày 28/12/1989, lần thứ hai vào ngày 12/8/1991, lần thứ ba vào ngày 22/12/1992 Tuy nhiên, cho đến lần sửa đổi thứ tư vào ngày 10/5/1997 thì mới có những thay đổi về chủ thể đặc biệt của tội phạm Trong hoàn cảnh chưa có điều kiện thông qua toàn văn BLHS (sửa đổi) thì cần sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS

1985 nhằm phục vụ trực tiếp cuộc đấu tranh phòng chống các tội phạm về tham nhũng, các tội phạm về ma túy và các tội phạm về tình dục Theo tinh thần đó, ngày 10/5/1997, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của BLHS 1985 Luật sửa đổi, bổ sung các tội phạm mang dấu hiệu đặc biệt của chủ thể bao gồm:

- Sửa đổi, bổ sung một số điều luật về các tội tham nhũng, đó là: Điều 133 - Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, Điều 134a - Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa; Điều 137a - Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa; Điều 15 - Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chiếm đoạt tài sản của công dân; Điều 175 – Tội lập quỹ trái phép; Điều 221- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trong khi thi hành công vụ; Điều 221a - Tội lạm quyền trong

Trang 30

khi thi hành công vụ; Điều 224 - Tội giả mạo trong công tác; Điều 226 - Tội nhận hối lộ; Điều 228a – Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi;

- Sửa đổi, bổ sung một số điều của tội phạm tình dục đối với người chưa thành niên: Điều 114 - Tội giao cấu với trẻ em; Điều 202b - Tội dâm ô với trẻ em…

BLHS 1985 là công cụ sắc bén của nhà nước ta để bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Lần đầu tiên, ở nước ta có quy định rõ ràng, đầy đủ về cơ sở TNHS, quy định một cách có hệ thống các hình phạt, quy định các loại tội phạm mang dấu hiệu chủ thể đặc biệt Bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực về tình hình tội phạm vốn diễn biến phức tạp Trước tình hình BLHS 1985 dù đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần nhưng vẫn còn nhiều bất cập, để hoàn thiện pháp luật hình sự, BLHS 1999 ra đời với những quy định mới về chủ thể đặc biệt của tội phạm, như các loại tội phạm mang dấu hiệu đặc biệt về tuổi hay quy định lại về tuổi chịu TNHS đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của quốc gia và là cơ sở pháp lí vững chắc để xác định tội phạm mang dấu hiệu chủ thể đặc biệt

1.3 Các dấu hiệu về chủ thể đặc biệt của tội phạm trong quy định pháp luật hình

sự hiện hành

1.3.1 Dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn

Đối với các tội phạm về chức vụ, các đặc điểm của chủ thể tội phạm là dấu hiệu quan trọng nhất để xác định hành vi phạm tội có cấu thành tội phạm hay không Bởi để xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội do một người gây ra có bị coi là tội phạm chức

vụ hay không, cần xác định được hành vi được thực hiện đó có đủ yếu tố và điều kiện được quy định trong pháp luật về mặt chủ thể hay không Đặc trưng của các tội phạm

về chức vụ là khi thực hiện một hành vi, người đó phải có đầy đủ điều kiện để thực hiện hành vi đó thông qua quyền hạn của mình Vì thế, các tội phạm về chức vụ đòi hỏi

Trang 31

người thực hiện hành vi đó phải có những chức vụ, quyền hạn nhất định thì mới có thể thực hiện được hành vi, nên chủ thể mang dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn được xem là chủ thể đặc biệt của tội phạm

Trước hết, khái niệm người có chức vụ được quy định tại Điều 277 BLHS 1999

như sau: “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do

một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”

Theo quy định trên của pháp luật thì có rất nhiều căn cứ khác nhau để xác định một người có chức vụ như: do được bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng, hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ

Như vậy, trong khái niệm này, người có chức vụ có thể được hiểu một cách ngắn gọn là: người được giao thực hiện công vụ (mang tính chất hợp pháp) và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ đó

Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của hội đồng thẩm phán TANDTC

quy định: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà

nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như tuần tra, canh gác) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội” Theo

một số quan điểm khác như quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Sửu thì “công vụ là

hoạt động phục vụ lợi ích công, có thể được thực hiện bởi công chức nhà nước, hoặc các tổ chức nhà nước được trao quyền, ủy quyền, các tổ chức phi chính phủ…” [43-

tr.53] Tuy nhiên, không phải ai thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khi đang thi hành công vụ cũng là chủ thể của các tội phạm liên quan đến chức vụ, quyền hạn Vì theo qui định của pháp luật, chủ thể của tội phạm chức vụ là những người có chức vụ, được giao thực hiện công vụ và có quyền hạn khi thực hiện công vụ đó

Trang 32

Như vậy, có thể đưa ra những dấu hiệu đặc trưng cho người có chức vụ, quyền hạn như sau:

Thứ nhất, phải là người được giao thực hiện một công vụ nhất định Việc được giao này có thể do bổ nhiệm, bầu cử hay một hình thức khác như thực hiện nghĩa vụ

- Trong chương XXI các tội phạm về chức vụ, chủ thể đặc biệt của tội phạm được quy định trong các tội về tham nhũng: như Điều 278 - Tội tham ô tài sản; Điều

279 - Tội nhận hối lộ; các tội liên quan đến lạm dụng chức vụ, quyền hạn, quy định ở các Điều 280, Điều 281, Điều 282, Điều 283; và các tội phạm khác như Điều 285 - Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, Điều 286, Điều 287 - Tội cố ý hoặc vô ý làm lộ bí mật công tác, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác; Điều 288 - Tội đào nhiệm

- Quy định ở các chương khác như: Điều 128 – Tội buộc người lao động, cán

bộ, công chức, thôi việc trái pháp luật; Điều 165 - Tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lí kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; Điều 279 - Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật; Điều 303 - Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn giam giữ người trái pháp luật…

Dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn được xem là một trong những dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm Vì với những tội phạm có chủ thể là người mang dấu hiệu chức vụ, quyền hạn, ngoài việc người đó có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi theo quy định của pháp luật thì đòi hỏi người đó còn phải có chức vụ, quyền hạn mới thực hiện được hành vi khách quan được mô tả trong mặt khách quan của cấu

Trang 33

thành tội phạm – hành vi lợi dụng hay lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ Chức vụ, quyền hạn chính là công cụ, phương tiện để người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội về tham nhũng hay những hành vi phạm tội khác

Đối với các tội phạm về chức vụ trong Luật hình sự, việc xác định dấu hiệu có chức vụ, quyền hạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong hoạt động định tội danh Dựa vào dấu hiệu chủ thể của tội phạm, có thể phân biệt các tội phạm về chức vụ với những tội phạm khác không do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện cho dù cả hai tội phạm đều có những dấu hiệu giống nhau về hành vi trong mặt khách quan hay khách thể của tội phạm Nếu chủ thể thực hiện hành vi phạm tội không phải là người có chức vụ, quyền hạn thì kết luận về tội danh sẽ khác đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn và có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ Ví dụ: Nhân viên vệ sinh làm việc ở văn phòng công chứng (không có chức vụ quyền hạn) lợi dụng lúc làm vệ sinh đã lấy trộm con dấu để đóng vào những giấy tờ giả mạo do người đó tự lập ra và sau đó đi lừa gạt người khác để chiếm đoạt tài sản Đây không phải là hành vi làm giấy tờ giả và giả mạo chữ kí của người có chức vụ quyền hạn trong tội giả mạo trong công tác (Điều 284 BLHS) vì thực

tế người phạm tội không có chức vụ quyền hạn cho nên người đó không thể có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, mà hành vi này chỉ có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại Điều 139 BLHS

1.3.2 Dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc

Các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội như nhau nhưng được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau sẽ thuộc vào các loại tội phạm khác nhau Cùng là chủ thể mang dấu hiệu đặc biệt được quy định trong pháp luật hình sự, nhưng các dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp và tính chất công việc lại khác với các dấu hiệu về chức vụ Nếu như dấu hiệu về tội phạm liên quan đến chức vụ là những người có chức vụ và họ lợi dụng chức

vụ đó thông qua những quyền hạn mà chức vụ của họ mang lại để thực hiện hành vi trái với quy định của pháp luật, thì các dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp và tính chất

Trang 34

công việc lại được hiểu là mỗi công việc có tính chất riêng và đặc thù riêng Khi một người đảm nhận công việc, họ phải đảm bảo thực hiện đúng trách nhiệm hay những quy định liên quan đến công việc đó mà họ lại không thực hiện hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật thì họ sẽ là chủ thể của các tội phạm tương ứng với những nét riêng biệt đặc thù của ngành nghề đó

Theo từ điển tiếng Việt của viện ngôn ngữ học Việt Nam thì:

Nghề nghiệp là công việc chuyên làm theo sự phân công xã hội Trong xã hội có rất nhiều loại nghề nghiệp khác nhau như: nghề luật sư, nghề nhà giáo, nghề y, nghề nông…[53-tr.606]

Tính chất là đặc điểm riêng biệt của sự vật hiện tượng, làm phân biệt nó với những sự vật hiện tượng khác [53-tr.999] Như vậy, có thể hiểu tính chất công việc là những đặc điểm riêng biệt của mỗi công việc, ngành nghề để phân biệt với những công việc, ngành nghề khác

Trong xã hội, mỗi nghề nghiệp khác nhau lại mang những tính chất công việc khác nhau Có những công việc mang tính chất đặc thù riêng mà không phải ai cũng có thể thực hiện đươc

BLHS nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã hình sự hóa các hành vi liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc, và xem đó là dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm, cụ thể như sau:

- Chủ thể là những người hành nghề trong các tổ chức tín dụng:

Theo quy định tại Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng thì “Tổ chức tín dụng là

doanh nghiệp thực hiện một, một số, hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, và quỹ tín dụng nhân dân” Tổ chức tín dụng có đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ

và ngân hàng, các hoạt động của tổ chức tín dụng đó là huy động vốn và cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, các hoạt động khác trong lĩnh vực ngân hàng Và đặc biệt, các hoạt động trên chỉ được thực hiện bởi các tổ chức tín dụng mà không được bất

Trang 35

kì cơ quan, tổ chức nào khác thực hiện Vì thế, các hoạt động này được xem là hoạt động có tính chất đặc thù riêng biệt liên quan đến tiền tệ

Quy định về tội phạm liên quan đến hoạt động của tổ chức tín dụng trong BLHS bao gồm: Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (Điều 178), tội vi phạm về quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (Điều 179)

Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là quỹ dự trữ được trích từ

tỷ lệ 5% trên lợi nhuận ròng lập Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ Quỹ này được lập cho đến khi bằng 50% vốn điều lệ thực có tại thời điểm trích lập quỹ [15-Điều 1] Đây là loại quỹ dự trữ của các tổ chức tín dụng và chỉ có các tổ chức tín dụng mới có loại quỹ này Do đó, người thực hiện hành vi sử dụng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ trái phép trong việc chia lợi tức cổ phần phải là người hành nghề trong các tổ chức tín dụng

Hoạt động cho vay là một hoạt động đặc trưng và phổ biến của các tổ chức tín dụng Chỉ những người làm việc trong tổ chức tín dụng, có trách nhiệm trong việc cho vay mới thực hiện được hoạt động cho vay Hành vi cho vay trái với quy định của pháp luật là hành vi cho vay không bảo đảm theo quy định của pháp luật hoặc cho vay quá giới hạn quy định của pháp luật nên đã làm thất thoát tiền của quỹ tín dụng và không thu hồi được Hoạt động của các tổ chức tín dụng là các hoạt động mang tính chất riêng biệt, chỉ được thực hiện bởi những người có chuyên môn và trách nhiệm trong các tổ chức tín dụng mà không có ở những tổ chức khác Từ sự phân tích trên, tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ vốn điều lệ của tổ chức tín dụng và tội vi phạm quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng là những tội phạm quy định dấu hiệu chủ thể đặc biệt Đây là hai tội có chủ thể là chủ thể đặc biệt của tội phạm mang dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc

- Chủ thể là những người hoạt động trong các lĩnh vực công việc đặc thù khác:

Ngoài các tội phạm liên quan đến hoạt động tổ chức tín dụng, các tội phạm sau đây cũng quy định chủ thể của tội phạm là những người mang dấu hiệu đặc biệt về

Trang 36

nghề nghiệp, tính chất công việc: Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99), tội vô ý gây thương tích hoặc gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109), tội vi phạm các quy định về quản lí, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác (Điều 201), tội vi phạm về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác (Điều 242)

Như đã phân tích ở trên, mỗi công việc đều mang một tính chất riêng biệt, đặc thù cho từng ngành nghề và chỉ có những người hoạt động trong nghề mới có thể thực hiện được những hành vi liên quan đến công việc đó Chỉ nhân viên, cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính, mới có thể thực hiện quyền lực nhà nước trao cho trong lĩnh vực hành chính; chỉ bác sĩ, y tá, những người làm việc trong ngành y mới có quyền khám chữa bệnh hay chỉ những người được giao nhiệm vụ quản lí, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc chất ma túy khác mới có quyền thực hiện các chức năng quản lí, sử dụng thuốc, chất ma túy Vì thế, chỉ có họ mới có thể trở thành chủ thể của các tội phạm trên mà không phải là các chủ thể thường khác bởi những người đó không thể có khả năng thực hiện các hành vi phạm tội này

1.3.3 Dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện

Theo từ điển tiếng Việt thì nghĩa vụ là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác

Nghĩa vụ phải thực hiện là việc một người trong một hoàn cảnh nào đó phải thực hiện một công việc mà theo quy định của pháp luật, họ phải thực hiện và nếu như

họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng họ sẽ trở thành chủ thể của tội phạm

mà pháp luật quy định

Có thể hiểu pháp luật hình sự quy định về nghĩa vụ phải thực hiện là dấu hiệu đặc biệt về chủ thể vì các lí do sau:

Trang 37

Thứ nhất: Nghĩa vụ là điều bắt buộc phải thực hiện, nhưng không phải nghĩa vụ nào đó nếu không được thực hiện đều sẽ trở thành chủ thể của tội phạm Điều này được dùng để phân biệt với các nghĩa vụ về đạo đức

Thứ hai: Đặc trưng về khách thể của tội phạm là khác nhau, có những chủ thể được xác định là phải thực hiện những nghĩa vụ được nhà nước quy định nhằm bảo vệ các khách thể tương ứng Vì thế, chỉ những chủ thể có nghĩa vụ thực hiện một hành vi

do nhà nước quy định mà không thực hiện hành vi đó mới trở thành chủ thể của tội phạm

Những nghĩa vụ mà pháp luật quy định để làm dấu hiệu xác định chủ thể đặc biệt của tội phạm là:

- Nghĩa vụ cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Đây là nghĩa vụ được quy định tại Điều 102 BLHS - Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Theo nguyên tắc của cuộc sống và pháp luật, một người có nghĩa vụ phải bảo vệ tính mạng của người khác Vì vậy, khi thấy một người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (tức là mạng sống của người đó đang bị đe dọa, cần phải có sự cứu giúp của người khác, nếu không có sự cứu giúp kịp thời có thể dẫn đến hậu quả chết người)

có khả năng cứu giúp mà người đó không thực hiện hành vi cứu giúp nạn nhân, dẫn đến hậu quả là nạn nhân chết thì vi phạm pháp pháp luật và phải chịu TNHS Tuy nhiên chủ thể của tội này phải là người có khả năng, đủ điều kiện cứu giúp mà không cứu giúp mới bị coi là tội phạm

Ví dụ: Vận động viên bơi lội hoàn toàn có khả năng cứu một người sắp chết đuối dưới sông mà không cứu, dẫn đến hậu quả là nạn nhân chết sẽ là chủ thể bị truy cứu TNHS về tội phạm này Còn một người bình thường không biết bơi thì việc không

giúp người bị rớt xuống sông không bị coi là tội phạm

- Nghĩa vụ chấp hành các bản án, thi hành án, quyết định của các cơ quan nhà nước

Trang 38

+ Nghĩa vụ chấp hành bản án

Điều 304 BLHS quy định: “Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định

của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”

Bản án là văn bản ghi nhận phán quyết của tòa án sau khi xét xử một vụ án Theo quy định của pháp luật hiện nay, có các loại bản án sau: bản án hình sự, bản án dân sự, bản án hành chính, bản án lao động Theo đó, không phải chỉ một người nào đó

vi phạm pháp luật thì mới chấp hành bản án của Tòa án mà bản án còn được Tòa án ban hành đối với những người không có hành vi vi phạm pháp luật nhưng có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện bản án đó Ví dụ: Bản án dân sự xử lí việc phân chia tài sản hay quyền nuôi con của một vụ án ly hôn, bản án giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động… Như vậy, đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ chấp hành bản án là những người nhận được bản án của Tòa án sau khi xử lí một vụ án mà không phân biệt người đó có hành vi vi phạm pháp luật hay không

- Nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ của một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình [13-tr.78] Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền được bảo đảm cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của một người trong đời sống hàng ngày Vì vậy, một người có nghĩa vụ phải đảm bảo quyền đó của người được cấp dưỡng nên pháp luật quy định TNHS đối với hành vi từ

chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Điều 152 BLHS quy định “Người nào có

nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người

mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về

Trang 39

hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”

Những người có mối quan hệ giữa cha, mẹ và con; giữa anh chị em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu; giữa vợ và chồng là những người có nghĩa vụ cấp dưỡng với nhau

Việc xử lí người vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng được đặt ra đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng khi có đầy đủ các dấu hiệu được quy định ở Điều 8 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TAND-VKSND ngày 25/9/2001 về việc hướng dẫn

các quy định tại Chương XV BLHS: “Người vi phạm phải là người có nghĩa vụ cấp

dưỡng theo quy định của luật hôn nhân và gia đình Người vi phạm có hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Việc từ chối đã gây hậu quả nghiêm trọng”

- Nghĩa vụ của quân nhân

Quân nhân là những người phục vụ trong quân đội, bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp Theo quy định tại Điều 315 BLHS thì những người phải chịu TNHS về Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là:

“Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được tập trung vào phục vụ trong quân đội, dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu”

Quân đội nhân dân là một tổ chức quân sự - tổ chức nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng và nhà nước Việt Nam lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, và quản lý để làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc

Môi trường quân đội khác với các môi trường khác khi mọi quân nhân phải tôn trọng kỉ cương và tuân lệnh tuyệt đối theo nguyên tắc “Quân lệnh như núi” Vì thế, mọi hoạt động trong quân đội đều được thực hiện theo mệnh lệnh và là nghĩa vụ phải thực hiện của quân nhân

Để tăng cường kỉ luật quân đội, nâng cao sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu, mỗi quân nhân phải thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm của mình Việc coi thường

Trang 40

kỉ luật quân đội gây nên hậu quả khó lường Vì vậy, BLHS quy định TNHS đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng kỉ luật quân đội, vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm quân nhân Các tội vi phạm nghĩa vụ quân nhân là: Tội chống mệnh lệnh (Điều 316 BLHS), Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh (Điều 317 BLHS), Tội trốn tránh nhiệm

vụ (Điều 326 BLHS), Tội báo cáo sai (Điều 329 BLHS)… và chủ thể có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ quân nhân được quy định cụ thể tại Điều 315 BLHS

Không phải ai cũng có nghĩa vụ phải thực hiện một điều gì đó, trừ khi pháp luật quy định bắt buộc phải thực hiện Từ những phân tích về các nghĩa vụ phải thực hiện trong BLHS, mỗi công dân được quy định trong những tình huống và hoàn cảnh nhất định sẽ buộc phải thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật quy định Do đó, nghĩa vụ phải thực hiện là dấu hiệu để xác định chủ thể đặc biệt của một số tội phạm

1.3.4 Dấu hiệu liên quan đến tuổi tác

Một trong những đặc điểm của chủ thể của tội phạm là người đó phải đạt độ tuổi luật định Theo quy định của pháp luật về tuổi chịu TNHS thì một người từ đủ 14 tuổi

đã có thể trở thành chủ thể của tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng với lỗi cố ý và người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể thì những người đủ 16 tuổi thực hiện hành

vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải chịu TNHS về tội phạm đó mà họ cần phải đạt một độ tuổi chính xác do luật định Những tội phạm đó được xác định là những tội phạm quy định dấu hiệu chủ thể đặc biệt về độ tuổi

Trong quy định của BLHS hiện hành thì quy định dấu hiệu Tội dâm ô với trẻ em (Điều 115 BLHS) và tội giao cấu với trẻ em (Điều 116 BLHS) là những tội phạm đòi hỏi người thực hiện hành vi là người đã thành niên, tức là người đủ 18 tuổi

- Tội giao cấu với trẻ em – Điều 115 BLHS

Theo quy định tại Điều 115 BLHS thì “Người nào đã thành niên mà giao cấu

với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã sửa đổi bổ sung năm 2009) Khác
6. Luật bầu cử đại biểu Quốc Hội năm 1960 Khác
8. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 Khác
10. Luật số 103 (Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và Quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân) ngày 20/5/1957 Khác
11. Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 Khác
12. Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TAND – Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS Khác
13. Pháp lệnh phòng chống mại dâm năm 2003 Khác
14. Thông tư liên tịch số 01/2001 TTLT-BTP-BCA-TAND-VKSND ngày 25/9/2001 về việc hướng dẫn các quy định tại chương XV BLHS Khác
15. Quy chế trích lập và sử dụng các quỹ dự trự của tổ chức (Ban hành theo quyết định số 106/QĐ-NH5 ngày 09 tháng 06 năm 1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) Khác
16. Sắc lệnh số 02, SL/76 ngày 15/3/1976. Sắc lệnh về việc bắt, giam những phần tử cần tập trung cải tạo Khác
18. Sắc lệnh số 154/SL ngày 17/11/1950. Sắc lệnh ấn định những hình phạt trừng trị việc để tiết lộ bí mật Khác
19. Sắc lệnh số 106/SL ngày 15/6/1950. Sắc lệnh định việc trừng trị những tội làm chậm trễ hay ngăn trở việc thi hành nghĩa vụ quân sự và lệnh tòng quân Khác
20. Sắc lệnh 163/SL ngày 23//1946. Sắc lệnh quy định tổ chức Tòa án binh lâm thời đặt ở Hà Nội Khác
21. Sắc lệnh 223/SL ngày 27/11/1946. Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ.B. Danh mục các tài liệu tham khảo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm