Quan điểm thứ nhất: “TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp đề tài: “Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại
Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015” là kết quả quá trình nỗ lực cố gắng của bản
thân tác giả, được sự giúp đỡ tận tình, động viên và khích lệ của Thầy Cô, bạn bè và người thân Qua đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô, bạn
bè và người thân đã luôn bên cạnh ủng hộ và giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu vừa qua
Đặc biệt, tác giả xin trân trọng gửi đến ThS Mai Khắc Phúc- là người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, quan tâm và góp ý đối với công trình này, lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Miễn trách nhiệm
hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015” là công trình
nghiên cứu khoa học của riêng tôi, hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Mai Khắc Phúc Những đoạn trích dẫn và số liệu được sử dụng trong khóa luận đều được dẫn từ nguồn có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 6 năm 2020
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Trang 5MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về trách nhiệm hình sự 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự 7
1.1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự 13
1.2 Khái quát chung về miễn trách nhiệm hình sự 15
1.2.1 Sơ lược về lịch sử quy định miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay 15
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự 19
1.2.3 Cơ sở của miễn trách nhiệm hình sự 24
1.3 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với một số chế định khác trong Luật Hình sự 26
1.3.1 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với loại trừ trách nhiệm hình sự 26
1.3.2 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt 28
1.4 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự của một số nước trên thế giới 29
1.4.1 Miễn trách nhiệm hình sự của Liên Bang Nga 29
1.4.2 Miễn trách nhiệm hình sự của Vương quốc Thụy Điển 33
1.4.3 Miễn trách nhiệm hình sự của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 36
Chương 2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO ĐIỀU 29 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 2.1 Khái quát quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015 38
2.2 Nội dung quy định về miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 39
Trang 62.2.1 Các trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự 39
2.2.2 Các trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự 44
Chương 3 MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 29 BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 3.1 Thực tiễn áp dụng miễn trách nhiệm hình sự 57
3.2 Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng 62
3.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định về miễn trách nhiệm hình sự tại Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015 67
3.3.1 Kiến nghị về mặt lập pháp 67
3.3.2 Kiến nghị về mặt hướng dẫn pháp luật 71
KẾT LUẬN 80 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có nêu rõ nhiệm vụ: “coi trọng
việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” Từ đó có thể thấy, Đảng ta
chủ trương đề cao tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội, góp phần thể hiện
“nguyên tắc nhân đạo” trong pháp luật hình sự, vậy nên cần phải xử lý “nghiêm trị kết
hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục”
Trong đó, miễn TNHS là chế định thể hiện rõ nét tính nhân đạo, nhân văn cao đẹp của pháp luật hình sự Việt Nam khi không buộc người phạm tội chịu TNHS mà vẫn đảm bảo được mục tiêu đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo người phạm tội có hiệu quả Đồng thời, chế định miễn TNHS còn đóng vai trò khuyến khích người phạm tội chủ động lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng cải tạo và hòa nhập cộng đồng để trở thành công dân có ích cho xã hội, từ đó tạo nên ý nghĩa xã hội rất tích cực Do đó, việc áp dụng đúng đắn quy định về miễn TNHS một mặt đã thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo, mặt khác củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Như vậy, miễn TNHS đóng vai trò không kém phần quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên, quy định về miễn TNHS vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề chưa thống nhất, chưa cụ thể như khái niệm, hậu quả pháp lý, điều kiện miễn TNHS,…
từ đó ít nhiều gây ra những khó khăn, vướng mắc nhất định khi yêu cầu đặt ra là phải
áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước các quy định của BLHS Khi quy định còn nhiều mập mờ, chưa có hướng dẫn rõ ràng sẽ dễ xảy ra hiện trạng các cơ quan tiến hành tố tụng giải thích và áp dụng pháp luật không đồng bộ, nhiều ý kiến trái chiều, từ
đó dẫn đến một số hệ quả tiêu cực do sự áp dụng chưa chính xác như bỏ lọt tội phạm
Trang 9do miễn TNHS chưa đúng hoặc nhầm lẫn giữa miễn TNHS với loại trừ TNHS hay với các tình tiết giảm nhẹ TNHS,… gây ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, đến lợi ích của người phạm tội, của xã hội và của Nhà nước Trước tình hình này, đặt ra vấn đề cần phải nghiên cứu, tổng hợp để đưa ra hướng dẫn cụ thể,
rõ ràng và thống nhất cũng như sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng miễn TNHS, đáp ứng yêu cầu phải ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung
Vì lý do đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “Miễn trách nhiệm hình sự theo
quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chế định miễn TNHS được nhiều nhà nghiên cứu Luật Hình sự nước ta quan tâm nghiên cứu Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nội
dung liên quan đến chế định miễn TNHS, đáng chú ý là một số công trình sau: 1/ Về
các dạng miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 25 BLHS năm 1999 (Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 1/2001) của Lê Cảm; 2/ Chế định miễn trách nhiệm hình sự
trong Luật Hình sự Việt Nam (Trong sách: Nhà nước và Pháp luật Việt Nam trước
thềm thế kỷ XXI, Tập thể tác giả do GS TSKH Lê Văn Cảm chủ biên, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội, 2002); 3/ Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2004) của TSKH Lê Cảm và Trịnh Tiến Việt; 4/ Hậu
quả pháp lý của miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 7 (196)-
2008) của Trịnh Tiến Việt; 5/ Miễn trách nhiệm hình sự theo BLHS năm 2015 và
những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng (Tạp chí Luật học số 7/2016) của Trịnh
Tiến Việt; 6/ Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong BLHS 2015 (Tạp chí Luật sư Việt Nam số 10/2017) của LS Đinh Văn Quế; 7/ Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo
quy định của BLHS năm 2015 (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9 (306)- 2017) của
Trang 10ThS Huỳnh Châu Mai Sơn; 8/ Bàn về miễn trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự Việt
Nam trên nền tảng của nguyên tắc suy đoán vô tội (Tạp chí Khoa học pháp lý, số
4/2018) của tác giả Hoàng Thị Tuệ Phương; 9/ Bàn về các căn cứ miễn TNHS trong
BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (Tạp chí Nghề luật, số 2/2018) của
Hoàng Minh Đức, Lê Quang Thắng; 10/ Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo quy
định tại Điều 29 BLHS năm 2015 (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10 (kỳ II tháng 5/2019)
của Đoàn Đắc Chinh;…
Bên cạnh đó, trong các Giáo trình và Sách tham khảo, vấn đề về miễn TNHS
được đề cập, phân tích cụ thể hơn, chẳng hạn như: 1/ Giáo trình Luật Hình sự Việt
Nam (Phần chung), Tập thể tác giả do PGS TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Đại học
Huế, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000; 2/ Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Tập thể tác
giả do PGS TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2002; 3/
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh, NXB Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, 2012; 4/ Giáo trình Luật Hình sự
Việt Nam Phần chung, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
2017; 5/ Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015, Phần thứ nhất, Những quy định chung
(Bình luận chuyên sâu) (NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2017) của tác giả
Đinh Văn Quế; 6/ Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ
sung năm 2017 (Phần chung), Tập thể tác giả do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên,
NXB Tư pháp, 2017; 7/ Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Thị Phương
Hoa- TS Phan Anh Tuấn đồng chủ biên, NXB Hồng Đức, 2017; 8/ Trách nhiệm hình
sự và miễn trách nhiệm hình sự (sách chuyên khảo), Tập thể tác giả do TSKH PGS Lê
Cảm chủ biên, NXB Tư pháp, 2005; 9/ Sách chuyên khảo sau Đại học: Những vấn đề
cơ bản trong khoa học Luật Hình sự (Phần chung), Tập thể tác giả do TSKH Lê Cảm
chủ biên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005;…
Trang 11Khái quát trên cho thấy những công trình nghiên cứu về chế định miễn TNHS rất được quan tâm và được công bố trên nhiều tạp chí khoa học chuyên ngành, nhiều sách, báo pháp lý hình sự, trong giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảo hay sách bình luận khoa học Tuy nhiên, do chỉ dừng lại ở góc độ là các bài viết học thuật nên những nghiên cứu trên của các tác giả thường chỉ tập trung vào các vấn đề lý luận xoay quanh chế định miễn TNHS mà chưa gắn liền việc nghiên cứu với thực tiễn áp dụng và
từ đó rút ra những hạn chế, vướng mắc còn tồn tại cần phải tháo gỡ, để trên cơ sở đó góp phần vào việc ban hành văn bản hướng dẫn hay sửa đổi, bổ sung BLHS ngày càng hoàn thiện hơn Việc tìm hiểu các tài liệu này giúp tác giả hiểu sâu các vấn đề lý luận, định hướng nghiên cứu cho bài khóa luận của mình
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các trường hợp miễn TNHS được quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015, do đó tác giả tập trung đến các nội dung sau đây:
- Phân tích các vấn đề pháp lý về miễn TNHS theo quy định tại Điều 29 BLHS;
- Thực tiễn áp dụng các trường hợp miễn TNHS tại Điều 29 BLHS và một số
khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định tại Điều 29 BLHS
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi của khóa luận, tác giả đề cập đến các vấn đề sau đây:
- Về nội dung: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung liên quan đến miễn
TNHS, để từ đó có cái nhìn tổng quan, tạo tiền đề đi sâu phân tích các trường hợp được quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015 về mặt pháp lý cũng như về thực tiễn áp dụng của nước ta, trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất khoa học để giải quyết một số khó khăn, vướng mắc
- Về không gian: Tìm hiểu quy định về miễn TNHS của một số quốc gia khác
như Liên Bang Nga, Vương quốc Thụy Điển và CHDCND Lào để tham chiếu, so sánh với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam,qua đó tác giả có cái nhìn đa chiều hơn,
có ý nghĩa trong việc chọn lọc và tiếp thu kinh nghiệm của pháp luật các nước
- Về thời gian: Nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự hiện hành nhưng
cũng có sự so sánh, đối chiếu với quy định của các bộ luật trước đó để làm rõ những điểm mới và những điểm kế thừa trong chế định miễn TNHS của nước ta
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Để thực hiện khóa luận này, tác giả luôn lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm và về tính nhân đạo của pháp luật làm nền tảng chủ yếu cho việc nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học Luật Hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, thống
kê,… để luận chứng các vấn đề nghiên cứu tương ứng
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Phân tích một cách có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của chế định miễn TNHS như: khái niệm, đặc điểm và cơ sở của miễn TNHS, nội dung quy định của Điều 29 BLHS năm 2015 về các trường hợp miễn TNHS, từ đó góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc nhận thức các quy định pháp luật liên quan đến chế định
này một cách đúng đắn nhất
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Nghiên cứu việc áp dụng quy định về miễn TNHS theo Điều 29 BLHS năm
2015 trong thực tiễn của nước ta trên cơ sở phân tích, đánh giá những số liệu thống kê, bản án trên thực tế, để rút ra những thiếu sót, hiểu biết nhầm lẫn và những vướng mắc trong quá trình áp dụng, từ đó đề xuất giải pháp cụ thể để hoàn thiện quy định tại Điều
29 BLHS năm 2015, qua đó là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn cho những đối tượng quan tâm đến chế định này
7 Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm có 03 chương:
- Chương I: Những vấn đề lý luận chung về miễn trách nhiệm hình sự theo Luật
Hình sự Việt Nam
- Chương II: Nội dung quy định về miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ
luật Hình sự năm 2015
- Chương III: Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình
sự năm 2015: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về trách nhiệm hình sự
Có thể nói rằng: “không thể tồn tại khái niệm miễn TNHS nếu không có khái
niệm TNHS” [60], hay “cơ sở của miễn TNHS cũng được xuất phát từ cơ sở của TNHS” [33, tr.47], vì vậy, để có thể nhận thức rõ những vấn đề cơ bản của miễn
TNHS, trước hết cần phải làm rõ nội dung mang tính nền tảng của nó, tức là làm sáng
tỏ một số vấn đề về khái niệm, đặc điểm và cơ sở của TNHS
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự
Đến nay, khoa học Luật Hình sự của nước ta vẫn chưa đưa ra được một khái niệm thống nhất về TNHS mặc dù đây là một khái niệm pháp lý quan trọng trong bối cảnh chế định về TNHS là nền tảng để xây dựng các chế định khác của Luật Hình sự
Xung quanh khái niệm TNHS cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất: “TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm
của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ
nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện.” [40, tr.14]
Quan điểm thứ hai: “TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý buộc người
phạm tội phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của mình, được thể hiện bằng việc Tòa án nhân danh Nhà nước, tuân theo một thủ tục tố tụng riêng, kết án
người phạm tội.” [23, tr.316]
Quan điểm thứ ba: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà cá
nhân người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình và
có thể bị chịu hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác theo quy định của
BLHS.” [37, tr.136]
Trang 15Quan điểm thứ tư: “TNHS của người phạm tội được hiểu là trách nhiệm của
người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình.” [54, tr.245]
Như vậy, những khái niệm về TNHS nêu trên chỉ mới thống nhất được rằng TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, còn đối với nội dung cụ thể của TNHS thì hiện chưa có sự thống nhất, điển hình
là tất cả bốn quan điểm trên đều nêu ra nội dung của TNHS một cách chung chung nhất
là “những hậu quả bất lợi” hay “hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác”
mà chưa xác định được nội dung cụ thể của TNHS bao gồm những gì? Nói cách khác, nội dung cụ thể của “hậu quả pháp lý bất lợi” mà TNHS nói đến là gồm những gì?
Để nghiên cứu nội dung của TNHS cần phải bắt đầu từ nhận thức về bản chất
của TNHS PGS.TS Kiều Đình Thụ đã nhận xét: “Bản chất của TNHS là sự lên án của
Nhà nước đối với người có lỗi khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Luật Hình sự quy định là tội phạm, là sự phản ứng của Nhà nước đối với tội phạm” [50,
tr.66] Với ý nghĩa đó, nội dung của TNHS phải là những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong Luật Hình sự mà người phạm tội bắt buộc phải gánh chịu trước Nhà nước Đồng thời, để xác định một tác động pháp lý bất lợi nào đó thuộc nội dung của TNHS thì nó phải hàm chứa, thỏa mãn được các đặc điểm cơ bản của TNHS Dù có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm TNHS nhưng tất cả quan điểm trên đều đã thể hiện được một số đặc điểm cơ bản của TNHS như sau:
Thứ nhất, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm Theo quy định
Điều 2 BLHS năm 2015: “1 Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự; 2 Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”
Như vậy, khi một người, pháp nhân thương mại phạm tội thì họ đương nhiên phải chịu TNHS Nói cách khác, TNHS chỉ được đặt ra khi có một tội phạm được thực hiện
Trang 16Xuất phát từ bản chất của TNHS là sự phản ứng, sự lên án của Nhà nước đối với tội phạm- là hành vi nguy hiểm cho xã hội, TNHS phát sinh để buộc người, pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi phạm tội của
họ Vậy, việc thực hiện hành vi phạm tội là sự kiện pháp lý làm phát sinh TNHS và thời điểm phát sinh TNHS xác định kể từ thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện
Thứ hai, TNHS là các biện pháp trách nhiệm nghiêm khắc nhất so với các trách
nhiệm pháp lý khác (trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính,…) Tính nghiêm khắc vượt trội thể hiện thông qua việc người, pháp nhân thương mại phạm tội bị kết tội, chịu các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc (hình phạt và biện pháp tư pháp) và mang án tích Đặc biệt, hình phạt là biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất, làm hạn chế một số quyền con người, quyền công dân như quyền tự do, quyền chính trị, thậm chí là tước bỏ cả quyền sống thiêng liêng của con người Hay, tính nghiêm khắc nhất còn thể hiện ở chỗ cùng một biện pháp nhưng khi áp dụng trong TNHS thì
lại nghiêm khắc hơn Đơn cử, biện pháp “phạt tiền” với tư cách là hình phạt trong
TNHS đã thể hiện tính nghiêm khắc cao hơn so với khi áp dụng trong trách nhiệm hành chính, cụ thể là pháp luật hành chính có quy định giới hạn mức phạt vi phạm hành chính tối đa đối với cá nhân, tổ chức1, còn trong pháp luật hình sự không có bất cứ quy định giới hạn nào
Thứ ba, TNHS là trách nhiệm cá nhân của người, pháp nhân thương mại phạm
tội trước Nhà nước Bởi bản chất của quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ phát sinh giữa Nhà nước và người, pháp nhân thương mại phạm tội đã thực hiện tội phạm, nên TNHS phải là trách nhiệm của cá nhân người, pháp nhân thương mại đó, từ đó phải tránh đến mức thấp nhất việc áp dụng các biện pháp làm ảnh hưởng đến cá nhân, pháp
1
Khoản 1 Điều 23, khoản 3 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012: “Mức phạt tiền trong xử phạt vi
phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức, trừ trường hợp mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực thuế; đo lường; sở hữu trí tuệ; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; hạn chế cạnh tranh theo quy định tại các luật tương ứng.”
Trang 17nhân khác Như C Mác viết: “Tội phạm thực tế là có giới hạn Vì vậy, cả sự trừng phạt
cũng phải có giới hạn […], sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó…” [25, tr.181] Mặt khác, với bản chất của TNHS là phản ứng lên án của Nhà
nước đối với tội phạm nhằm bảo vệ trật tự và lợi ích xã hội, Nhà nước- với chức năng quản lý xã hội- có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự và buộc họ phải thực hiện Nói cách khác, Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền truy cứu TNHS đối với chủ thể phạm tội và họ phải chịu TNHS trước Nhà nước chứ không phải trước những đối tượng khác
Thứ tư, TNHS được phản ánh trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa
án Ở đây, thời điểm phát sinh TNHS và thời điểm thực hiện TNHS là khác nhau Kể
từ thời điểm tội phạm được thực hiện là đã làm phát sinh TNHS, nên kể từ đó Nhà nước có quyền buộc người, pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm về
việc phạm tội của mình Tuy nhiên, dựa theo nguyên tắc Hiến định là nguyên tắc “suy
đoán vô tội” với nội dung “người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi có
bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật” thì TNHS sẽ chỉ được thực hiện khi có
cơ sở là bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án Với logic này, thời điểm kết thúc của TNHS là thời điểm các tác động cưỡng chế hình sự thuộc nội dung của TNHS
đó không còn hiệu lực hoặc có cơ sở đình chỉ TNHS [66, tr.15-16]
Với những lý luận trên, theo tác giả, nội dung cụ thể thuộc TNHS, hay nói cách khác, hình thức thể hiện của TNHS gồm các tác động cưỡng chế hình sự sau:bị kết tội, hình phạt, các biện pháp tư pháp và án tích
Bị kết tội thể hiện thông qua bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án Bản án kết tội là phán quyết cuối cùng của Tòa án nhân danh Nhà nước quy kết một người, pháp nhân thương mại có tội, thông qua đó chính thức lên án và buộc họ phải chịu các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc Hậu quả pháp
lý của bản án kết tội là gây ra tình trạng án tích cho người bị kết án [39, tr.7]
Trang 18 Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định để tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại phạm tội Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội ở mức độ cao hơn so với những vi phạm pháp luật khác nên hình phạt cũng phải là biện pháp cưỡng chế chủ yếu và nghiêm khắc nhất Tính nghiêm khắc vượt trội của nó thể hiện ở chỗ một số hình phạt đặc biệt nghiêm khắc chỉ
có trong Luật Hình sự như các hình phạt tử hình, tù chung thân
Biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được quy định trong BLHS, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt [56, tr.300] Biện pháp tư pháp thay thế hình phạt chính là biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96 BLHS năm 2015) dành cho người dưới 18 tuổi phạm tội trên nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội tại khoản 4 Điều 91 BLHS năm
2015 Biện pháp tư pháp hỗ trợ cho hình phạt gồm: biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh; khôi phục lại tình trạng ban đầu; thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra (Điều 46 BLHS năm 2015) Ở đây, chúng tôi muốn nói đến các biện pháp
tư pháp hỗ trợ cho hình phạt này thiết nghĩ không phải là nội dung thuộc TNHS bởi nó không thỏa mãn đầy đủ các đặc điểm cơ bản của TNHS như sau:
Một là, trách nhiệm mà một số biện pháp này hướng đến không phải là trách
nhiệm trước Nhà nước mà hướng đến trách nhiệm đối với những người khác
(người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) Đơn cử, “trả lại tài
sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại” và “buộc công khai xin lỗi” là các biện pháp hướng đến quyền lợi của người bị hại trong mối quan hệ giữa người gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại Như TS Trần Thị Quang Vinh
Trang 19đã viết: “không tách biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại ra khỏi nội dung của TNHS có thể đưa đến miễn TNHS
đồng thời dẫn đến miễn cả trách nhiệm dân sự” [66, tr.14] Hay, biện pháp
“buộc công khai xin lỗi” chỉ có thể áp dụng trên cơ sở có sự tự nguyện của
người phạm tội và sự đồng ý của người bị hại [35, tr.58], từ đó có thể thấy đây đều là trách nhiệm trước người bị hại và vì quyền lợi của người bị hại
Hai là, các biện pháp này có thể áp dụng đối với người, pháp nhân thương
mại không phạm tội Điều này trái với đặc điểm quan trọng nhất của TNHS,
đó là: TNHS phải là hậu quả pháp lý của việc phạm tội Điển hình, biện
pháp “bắt buộc chữa bệnh” có thể áp dụng đối với người có hành vi nguy
hiểm cho xã hội là người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi- là người không có năng lực TNHS (không đủ yếu tố CTTP) nên không phải tội phạm, từ đó
cho thấy việc áp dụng biện pháp “bắt buộc chữa bệnh” này không phải là
hậu quả pháp lý của việc phạm tội mà do chính sách nhân đạo của Luật Hình sự nước ta
Từ những phân tích trên cho thấy, các biện pháp tư pháp hỗ trợ cho hình phạt thực chất không thuộc nội dung của TNHS, mà bản chất của nó chỉ là những biện pháp mang tính chất hành chính- dân sự để giải quyết những vấn đề trực tiếp liên quan đến tội phạm và việc giải quyết vụ án, bởi lẽ, chính sách hình sự của Nhà nước ta là huy động tối đa, đồng bộ các biện pháp, các phương tiện để giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh trong một vụ án hình sự [35, tr.9]
Vậy nên, tác giả thống nhất với quan điểm: “chỉ nên thừa nhận những biện pháp
tư pháp được áp dụng để thay thế cho hình phạt mới là biện pháp thuộc nội dung của TNHS” [39, tr.8]
Trang 20 Án tích là hậu quả pháp lý của việc bị kết án [56, tr.415] Án tích tồn tại trong
cả thời gian chấp hành bản án và một khoảng thời gian nhất định theo quy định của BLHS sau khi đã chấp hành xong bản án, do đó án tích đặt người, pháp nhân thương mại bị kết án trong tình trạng pháp lý bất lợi phải chịu ràng buộc về hình sự, bởi án tích là một trong những căn cứ xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm tại Điều 53 BLHS năm 2015 và cũng là dấu hiệu định tội của một số CTTP cụ thể trong BLHS
Tóm lại, chúng tôi cho rằng: TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội
phạm mà cá nhân người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước bao gồm chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt) và mang án tích theo quy định của BLHS
1.1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Nghiên cứu cơ sở của TNHS là vấn đề quan trọng giúp nhận thức căn cứ nào để xác định TNHS đối với một người, pháp nhân thương mại Để giải quyết vấn đề này
phải trả lời câu hỏi: Trên cơ sở nào mà Nhà nước, xã hội lại có thể buộc con người
phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ? Để lý giải điều này phải xuất phát từ quan
điểm triết học về tự do và trách nhiệm, về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do- hai phạm trù triết học biểu hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa hoạt động của con người và các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội [52, tr.219] Theo đó, tính tất yếu của hành vi con người thể hiện ở chỗ hành vi của con người không phải là ngẫu nhiên mà suy cho cùng là do những điều kiện khách quan quy định Hành vi của con người không thể tách rời các hoàn cảnh, điều kiện xã hội mà là kết quả của sự tác động qua lại của các hoàn cảnh, điều kiện đó Mặc dù chủ nghĩa Mác- Lênin thừa nhận tính tất yếu khách quan của hành vi con người, nhưng nói như vậy không có nghĩa là tuyệt đối hóa tính tất yếu của hành vi Bởi lẽ, hành vi của con người còn mang tính tự do, thể
Trang 21hiện ở chỗ tác động của các yếu tố khách quan đến hành vi của con người không làm mất đi khả năng tự do lựa chọn cách xử sự của họ Mọi xử sự của con người đều chịu
sự chi phối nhất định của ý thức, nên có thể nói việc lựa chọn thực hiện hành vi hợp pháp hay hành vi phạm tội đối với một tình huống cụ thể là kết quả lựa chọn của sự tự
do ý chí Như vậy, hành vi phạm tội không phải là sự phản ứng trực diện của con người đối với hoàn cảnh mà là sự phản ứng thông qua sự suy xét của lý trí và sự quyết định của ý chí [56, tr.255] Một con người có tự do ý chí hoàn toàn đủ khả năng để tự kiểm tra mình, tự đánh giá hành vi của mình là nên hay không nên và suy nghĩ về hậu quả của nó để có thể lựa chọn xử sự phù hợp với các chuẩn mực của xã hội Do đó, khi một người có tự do mà họ lại quyết định thực hiện hành vi phạm tội thì việc Nhà nước và
xã hội buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình là điều tất nhiên Điều này lý giải tại sao TNHS chỉ được đặt ra đối với người phạm tội có tự do ý chí, bởi các trường hợp phạm tội không có tự do ý chí như do “bị cưỡng bức thân thể”2 sẽ không phải chịu TNHS
Như vậy, ở khía cạnh triết học đã giải quyết được câu hỏi tại sao một người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Tuy nhiên, ở khía cạnh pháp lý đặt ra vấn đề là:
Con người phải chịu TNHS dựa trên cơ sở pháp lý nào? Theo đó, cơ sở của TNHS
được quy định tại Điều 2 BLHS năm 2015 như sau: “1 Chỉ người nào phạm một tội đã
được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự; 2 Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Đây là quy định thể hiện rõ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa bởi nó yêu cầu sự tuân thủ pháp luật một cách triệt để nhất, thể hiện ở chỗ chỉ được phép đặt ra vấn đề TNHS đối với các hành vi mà BLHS quy định là tội phạm
2
“Bị cưỡng bức thân thể” là trường hợp “biểu hiện” ra bên ngoài của một người đã gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ không phải chịu TNHS vì biểu hiện đó không phải là hành vi, bởi vì có thể không được ý thức của họ kiểm soát (như “ngã” vào quầy hàng pha lê gây thiệt hại lớn do bị xô ngã bất thình lình) hoặc có thể không được
ý chí của họ điều khiển (như “điểm chỉ” vào đơn vu cáo do bị những người khác giữ người, nắm tay điều khiển) [56, tr.117]
Trang 22Với nguyên tắc này, Luật Hình sự Việt Nam không thừa nhận nguyên tắc “áp dụng
tương tự” trong việc truy cứu, áp dụng TNHS [52, tr.15] Về nguyên tắc, để kết luận
hành vi nào đó có phải là tội phạm hay không thì phải xác định hành vi đó đã thỏa mãn các dấu hiệu của CTTP hay chưa? Cho nên, khi một người, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một CTTP trong BLHS thì hành vi đó bị coi là hành vi phạm tội và người, pháp nhân thương mại
đó phải chịu TNHS Ngược lại, nếu hành vi không thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu (thiếu một dấu hiệu bất kỳ) của CTTP thì hành vi này không phải là tội phạm và không phải chịu TNHS Như vậy, chỉ khi hành vi được thực hiện có sự hiện diện của đầy đủ các dấu hiệu của một CTTP được quy định trong BLHS mới phải chịu TNHS Đồng thời, với quy định này, TNHS có thể đặt ra đối với “bất kỳ” người, pháp nhân thương mại nào đã thực hiện hành vi phạm tội, không loại trừ một ai, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo hay thành phần, địa vị xã hội của họ, từ đó thể hiện tính công bằng, bình đẳng trong pháp luật hình sự nước ta- một nguyên tắc cơ bản được quy định
theo điểm b khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 là “mọi người phạm tội đều bình đẳng
trước pháp luật”
1.2 Khái quát chung về miễn trách nhiệm hình sự
1.2.1 Sơ lược về lịch sử quy định miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, pháp luật hình sự từ đó cho đến trước khi BLHS đầu tiên năm 1985 được ban hành chưa chính thức quy định chế định miễn TNHS Nhưng trên thực tiễn đã xuất hiện quy định về miễn TNHS nằm rãi rác trong một số văn bản mang tính quy phạm thời bấy giờ, nhưng chủ yếu mang tính tha miễn áp dụng tương tự như tính chất của miễn TNHS chứ không phải là một chế định về miễn TNHS hoàn thiện
Trang 23như bây giờ Xuất hiện với nhiều tên gọi khác nhau là “xá miễn”, “miễn tố”, “miễn hết
các tội”,… trong một số văn bản mang tính pháp lý điển hình như:
Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về xá miễn cho một số tội trước ngày 19/8/19453;
Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ4;
Thông tư số 413-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tướng Chính phủ về đại
xá5…
Khái quát các giai đoạn phát triển của chế định miễn TNHS thì không thể không nói đến quy định miễn TNHS ở miền Nam sau khi đất nước thống nhất Do yêu cầu xây dựng và bảo vệ chính quyền miền Nam còn non trẻ lúc bấy giờ cũng như công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm mà đặc biệt là những loại tội phạm đặc trưng của xã hội miền Nam trước năm 1975 [58, tr.23], nên Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Không số về việc trừng trị tội hối lộ ngày 20/5/1981 Pháp lệnh này
được xem như sự xuất hiện lần đầu tiên của thuật ngữ pháp lý “miễn TNHS” trong quy
định pháp luật hình sự của nước ta, mà cụ thể khoản 1 Điều 8 ghi nhận “Những trường
hợp miễn TNHS” như sau: “Người phạm tội hối lộ, trước khi bị phát giác, chủ động
khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Giai đoạn từ khi BLHS năm 1985- BLHS đầu tiên được ban hành, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam “Miễn TNHS” được chính thức ghi nhận và quy định thành chế định trong Phần chung và Phần các tội
3
Điều thứ 4 Sắc lệnh số 52/SL đề cập đến “xá miễn” như sau: “Những tội được xá miễn đều coi như không phạm
bao giờ; quyền công tố sẽ tiêu huỷ, những chính hình và phụ hình mà toà án đã tuyên đều bỏ hết.”
4
Điều thứ 2 Sắc lệnh số 223/SL nói đến “miễn hết các tội”: “Người phạm tội đưa hối lộ cho một công chức mà tự
ý cáo giác cho nhà chức trách việc hối lộ ấy và chứng minh rằng đã đưa hối lộ là vì bị công chức cưỡng bách ước hứa hay là dùng cách trả nguy thôi người ấy được miễn hết các tội.”
5
Mục II Thông tư số 413-TTg nêu ra: “Người đang bị giam mà được đại xá thì được tha ngay Những người đã
mãn hạn tù hoặc được ân xá, ân giảm và được tha trước đây và những người này được tha đều được hưởng quyền công dân như ứng cử, bầu cử và các quyền tự do, dân chủ…”
Trang 24phạm của BLHS, cụ thể các Điều 16, 48, 59, 74, 227 và 247 gồm bảy trường hợp miễn TNHS sau:
Miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16);
Miễn TNHS do sự chuyển biến tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 1 Điều 48);
Miễn TNHS do người phạm tội tự thú, ăn năn hối cải (khoản 1 Điều 48);
Miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội (khoản 3 Điều 59);
Miễn TNHS đối với người phạm tội gián điệp (khoản 3 Điều 74);
Miễn TNHS đối với tội đưa hối lộ (khoản 4 Điều 227);
Miễn TNHS đối với tội không tố giác tội phạm (khoản 2 Điều 247)
Bên cạnh đó, quy định miễn TNHS còn nằm rải rác ở một số văn bản mang tính hướng dẫn thi hành BLHS, ví dụ như:
Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS6;
Thông tư liên tịch số 05-BNV-TANDTC-VKSNDTC-BTP/TTLT ngày 02/6/1990 của Bộ Nội vụ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp về hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra
tự thú7…
6
Trong đó: Phần IV hướng dẫn cụ thể việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hiện tội phạm,
và Phần VIII hướng dẫn chi tiết quy định tại khoản 2 Điều 48 BLHS năm 1985 về miễn TNHS
7
Trong đó quy định: “Người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát giác, không kể phạm tội gì,
thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm thì có thể được miễn trách
nhiệm hình sự theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự” Bên cạnh đó, quy định căn cứ “miễn
truy cứu TNHS” đối với Tội trốn khỏi nơi giam tại Điều 245 BLHS năm 1985 như sau: “Người phạm tội đang bị
dẫn giải, tạm giữ, tạm giam để điều tra hoặc chờ xét xử mà bỏ trốn, nhưng đã ra tự thú […]; nếu trong thời gian trốn tránh mà không phạm tội mới thì có thể miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam quy định tại Điều 245 Bộ luật hình sự”; “Người đang chấp hành hình phạt tù đã trốn khỏi trại cải tạo mà ra tự thú và trong thời gian trốn tránh không phạm tội mới, có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam được quy định tại Điều 245 Bộ luật hình sự.”
Trang 25Sau 15 năm với bốn lần sửa đổi và bổ sung, BLHS năm 1985 tỏ ra lỗi thời BLHS năm 1985 ra đời ở bối cảnh nền kinh tế kế hoạch tập trung không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta khởi xướng từ Đại hội Trung ương VI năm 1986 [58, tr.25] Trong điều kiện mới, BLHS năm 1999 được Quốc hội thông qua Chế định miễn TNHS được sửa đổi và bổ sung hoàn thiện hơn, ghi nhận năm trường hợp miễn TNHS trong Phần chung gồm các Điều 19, Điều 25, khoản 2 Điều 69 và bốn trường hợp miễn TNHS trong Phần các tội phạm tại khoản 3 Điều 80, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và khoản 3 Điều 314 Về cơ bản, những trường hợp miễn TNHS đều được kế thừa và giữ nguyên như BLHS năm 1985 Tuy nhiên, BLHS năm 1999 bắt đầu có sự phân định thành hai nhóm gồm: nhóm mang tính
“bắt buộc” miễn TNHS và nhóm mang tính “tùy nghi” có thể miễn hoặc không miễn TNHS, đồng thời bổ sung hai trường hợp miễn TNHS hoàn toàn mới làm phạm vi miễn TNHS mở rộng hơn, đó là:
Miễn TNHS do có quyết định đại xá (khoản 3 Điều 25);
Miễn TNHS đối với tội làm môi giới hối lộ (khoản 6 Điều 290)
Đến giai đoạn hiện nay, BLHS năm 2015 ra đời với nền tảng kế thừa từ BLHS
cũ về chế định miễn TNHS nhưng đồng thời cũng có một số điểm đổi mới nhất định Điển hình như: Điều 29 bổ sung thêm những trường hợp miễn TNHS hoàn toàn mới; khoản 2 Điều 91 quy định điều kiện miễn TNHS chặt chẽ hơn đối với người dưới 18
tuổi; khoản 4 Điều 247 bổ sung trường hợp miễn TNHS mới đối với “Tội trồng cây
thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy”
Nghiên cứu sơ lược về lịch sử quy định miễn TNHS trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay có thể thấy rằng, trong từng giai đoạn phát triển của đất nước với điều kiện, hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau, Nhà nước ta đều đã dành sự quan tâm đặc biệt đến các chính sách nhân đạo, khoan hồng đối với người phạm tội Trong đó, chế định về miễn TNHS là kết quả của cả quá trình tích
Trang 26lũy kinh nghiệm, từng bước xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn trên tinh thần kế thừa và phát triển một cách có hiệu quả để đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn xét xử
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự
Sự ra đời của chế định miễn TNHS trong BLHS thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước khi nó khuyến khích người phạm tội ăn năn, hối cải để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, tuy không cần truy cứu TNHS đối với một số trường hợp nhất định nhưng vẫn đảm bảo đạt hiệu quả cao trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
và giáo dục, cải tạo người phạm tội Mặc dù chế định miễn TNHS giữ vai trò nhất định trong hệ thống pháp luật hình sự, nhưng kể từ khi BLHS đầu tiên của nước ta ra đời đến nay, khái niệm miễn TNHS vẫn chưa một lần nào được các nhà làm luật của nước
ta chính thức ghi nhận vào hệ thống pháp luật hình sự thực định, từ đó cho thấy về mặt
lập pháp chưa đạt được hiệu quả cao, dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Miễn TNHS có nghĩa là miễn những hậu quả
pháp lý của việc thực hiện tội phạm đối với người phạm tội khi thỏa mãn các điều kiện
do luật định.” [29, tr.58]
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Miễn TNHS là trường hợp không buộc một người
phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc đã thực hiện hành vi phạm tội mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người đó khi đáp ứng những điều kiện do luật định.” [65, tr.61]
Quan điểm thứ ba cho rằng: “Miễn TNHS là hủy bỏ hậu quả pháp lý hình sự của
việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật Hình sự cấm đối với người bị coi
là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó.” [27, tr.753]
Quan điểm thứ tư cho rằng: “Miễn TNHS là việc không buộc người phạm tội
phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội họ đã thực hiện, kể
Trang 27từ thời điểm các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định miễn TNHS đối với người phạm tội, bảo đảm yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm.” [28, tr.20]
Quan điểm thứ năm cho rằng: “Miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải
chịu TNHS về tội phạm mà người đó đã thực hiện.” [56, tr.372]
Có thể thấy, những quan điểm trên đưa ra khái niệm miễn TNHS cơ bản đều khá hợp lý với nội hàm tương đối thống nhất và đều khẳng định được nội dung của nó Xuất phát từ mối liên hệ chặt chẽ giữa miễn TNHS và chế định có tính nền tảng xây dựng nên nó là TNHS nên khái niệm miễn TNHS cũng phải xây dựng trên cơ sở khái niệm TNHS Theo đó, TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý buộc người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình, do đó miễn TNHS cũng chính là miễn những hậu quả pháp lý bất lợi của TNHS đối với người
phạm tội Vậy có thể nói, miễn TNHS chính là “tiết giảm sự tác động cưỡng chế hình
sự của Luật Hình sự Việt Nam” [57, tr.68] Từ đó cho thấy, bản chất pháp lý của miễn
TNHS là một chế định nhân đạo trong Luật Hình sự nước ta, là biểu hiện của sự khoan hồng mà Nhà nước ta dành cho những người phạm tội có đủ điều kiện miễn TNHS theo quy định của BLHS Như vậy, những quan điểm nêu trên về cơ bản đã khái quát được miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội khi họ đáp ứng đủ các điều kiện luật định, từ đó thể hiện được nội dung, điều kiện, đối tượng của miễn TNHS, tuy nhiên vẫn chưa thể hiện được một cách rõ ràng, thống nhất về bản chất pháp lý, thẩm quyền quyết định và giai đoạn áp dụng miễn TNHS- cũng là các khía cạnh quan trọng trong khái niệm về miễn TNHS
Từ đó, chúng tôi đưa ra khái niệm miễn TNHS như sau: “Miễn TNHS là một chế
định mang tính nhân đạo, phản ánh sự khoan hồng của Nhà nước, do các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) tương ứng với giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử quyết định áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội khi đáp
Trang 28ứng các điều kiện do BLHS quy định, với nội dung là không buộc họ phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình.”
Từ khái niệm miễn TNHS có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, miễn TNHS là chế định phản ánh rõ nét nguyên tắc nhân đạo của
pháp luật hình sự nước ta Chế định phản ánh mục đích cuối cùng của việc xử lý hình
sự chính là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân tốt và có ích cho xã hội, chứ không phải chỉ nhằm trừng trị họ Chế định miễn TNHS đã thể chế hóa chính
sách hình sự đúng đắn là “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo
dục, thuyết phục”, từ đó tạo ra cơ sở pháp lý cho sự kết hợp giữa biện pháp cưỡng chế
hình sự với biện pháp tác động xã hội nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội, cụ thể là không buộc người phạm tội phải cách ly mình ra khỏi đời sống cộng đồng mà sẽ lấy chính môi trường đang sinh sống đó làm nơi tự giáo dục, cải tạo một cách có hiệu quả
Thứ hai, miễn TNHS phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội
trong Luật Hình sự nước ta Phân hóa TNHS có vai trò không kém phần quan trọng
như GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa nhận định: “Trách nhiệm hình sự càng được phân hóa
trong luật thì càng tạo điều kiện cho cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong áp dụng”
[31, tr.28] Bởi mỗi tội phạm sẽ có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau
do hậu quả, động cơ, lỗi, hoàn cảnh phạm tội,… của mỗi người khác nhau, do đó cần phải phân hóa TNHS tương xứng với tội phạm để có đường hướng xử lý phù hợp, chính xác và công bằng Ở đây có thể thấy, chế định miễn TNHS là sự phân hóa giữa
trường hợp phải chịu TNHS với trường hợp được miễn TNHS, giữa trường hợp có thể được miễn TNHS với trường hợp được miễn TNHS [34, tr.16]
Thứ ba, miễn TNHS chỉ được áp dụng đối với người mà hành vi của người đó
đã thỏa mãn các dấu hiệu của một CTTP cụ thể nhưng họ lại đủ điều kiện miễn TNHS theo quy định của BLHS Điều này xuất phát từ mối liên hệ chặt chẽ giữa chế định TNHS và miễn TNHS Theo đó, hiểu một cách khái quát thì TNHS là hậu quả pháp lý
Trang 29bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu đối với hành vi phạm tội của mình Như vậy,
bởi TNHS là trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với người phạm tội nên miễn TNHS, miễn hậu quả pháp lý của việc phạm tội cũng chỉ có thể đặt ra đối với người phạm tội [44, tr.19] Vậy nên, người được miễn TNHS phải là người phạm tội, do đó không thể miễn TNHS đối với người không có hành vi thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của một CTTP cụ thể trong BLHS
Thứ tư, miễn TNHS phải do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự tùy theo giai
đoạn tố tụng quyết định bằng văn bản Cụ thể là chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
và Tòa án trong từng giai đoạn tố tụng tương ứng gắn liền với các cơ quan này là điều tra, truy tố và xét xử mới có thẩm quyền quyết định miễn TNHS theo quy định của BLHS Về lý luận, miễn TNHS phải được áp dụng đối với người phạm tội, mà thẩm quyền quyết định một người có tội hay không có tội là thuộc về Tòa án, được quy định
tại Điều 13 BLTTHS năm 2015: “Người bị buộc tội 8 được coi là không có tội cho đến khi [ ] có bản án kết tội của Tòa án […]”, cho nên xét về lý luận có thể khẳng định
chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền ra quyết định miễn TNHS Như vậy, cần nhận thức rằng, khi xuất hiện điều kiện miễn TNHS tại Điều 29 BLHS năm 2015 ở giai đoạn điều tra, truy tố thì không thể thể hiện bằng quyết định miễn TNHS mà phải được thể hiện bằng quyết định đình chỉ điều tra (Điều 230 BLTTHS năm 2015) và quyết định đình chỉ vụ án (Điều 248 BLTTHS năm 2015)
Thứ năm, người được miễn TNHS không phải chịu những hậu quả pháp lý hình
sự bất lợi của việc phạm tội mà mình thực hiện Xuất phát từ mối quan hệ chặt chẽ giữa TNHS và miễn TNHS Theo đó, nội dung cụ thể của hậu quả pháp lý bất lợi trong TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu là bị kết tội, chịu các biện pháp cưỡng chế (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích Như vậy, miễn TNHS là miễn những hậu quả pháp lý bất lợi của TNHS, tức là người phạm tội không bị kết tội, không phải
8
Điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo.”
Trang 30chịu biện pháp cưỡng chế (hình phạt, biện pháp tư pháp) và không bị mang án tích Tuy nhiên, vì người được miễn TNHS bị coi là người đã thực hiện hành vi phạm tội nên ở một chừng mực nào đó, miễn TNHS đã thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội Điển hình như, người được miễn TNHS không được bồi thường thiệt hại theo điểm a khoản 2 Điều 32 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm
2017 Hoặc, có thể bị buộc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự, xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật hành chính, bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật lao động,… [62, tr.48] Ví dụ, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
của BLHS, quy định: “Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết
định bất cứ loại hình phạt nào, nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người
bị hại và giải quyết các tang vật.”
Phạm vi nghiên cứu trong bài khóa luận này chỉ xoay quanh quy định miễn
TNHS theo Điều 29 BLHS năm 2015 Tuy nhiên, ở đây cũng cần nói đến quy định xử
lý chuyển hướng 9 đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại khoản 2 Điều 91 BLHS năm
2015 Theo lý luận trên, miễn TNHS nghĩa là miễn các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội nhưng khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 lại quy định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải đi kèm với việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục quy định tại Mục 2 Chương XII BLHS năm 2015, điều này liệu có trái đặc điểm của miễn TNHS không? Ở đây, khi người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS cũng sẽ dẫn đến cùng một hậu quả pháp lý như miễn TNHS đối với người thành niên, đó là được thoát ra khỏi vòng quay tố tụng hình sự chính thống, còn các biện
9
“Xử lý chuyển hướng” là việc chuyển hướng hoặc đưa người chưa thành niên vi phạm pháp luật ra ngoài hệ
thống tư pháp chính thống để áp dụng các biện pháp xử lý thay thế khác, trong đó tăng cường yếu tố tham gia của cộng đồng [24, tr.98-127]
Về lý do, Ban soạn thảo BLHS (sửa đổi) có lý giải: “Để thực hiện chủ trương nhân đạo hóa, tăng tính hướng
thiện trong chính sách xử lý hình sự, nhất là đối với đối tượng cần bảo vệ đặc biệt là người chưa thành niên theo hướng sớm đưa các em ra khỏi vòng quay tố tụng khi có điều kiện để tránh những tác động tiêu cực không cần thiết thì một trong những giải pháp là nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vào BLHS quy định về các biện pháp thay thế
xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.” [22]
Trang 31pháp giám sát, giáo dục là biện pháp mang tính cộng đồng chứ không mang tính cưỡng chế hình sự (khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn) Bởi
lẽ, về bản chất, xử lý chuyển hướng là quá trình thay thế nhằm xử lý vi phạm của người chưa thành niên phạm tội bằng các biện pháp nằm ngoài hệ thống tư pháp hình sự chính thống [51, tr.26] Như vậy, các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn TNHS có bản chất là các biện pháp thay thế xử lý hình sự nằm ngoài hệ thống tư pháp hình sự chính thống, không phải hình phạt cũng không phải biện pháp tư pháp hình sự, nên không thuộc nội dung của TNHS được miễn Từ đó, việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS là không có mâu thuẫn với bản chất của miễn TNHS nói chung là miễn các hậu quả pháp lý bất lợi thuộc nội dung của TNHS Hơn nữa, người được miễn TNHS được coi là người phạm tội nên ở một chừng mực nào đó vẫn phải chịu sự lên
án của Nhà nước về hành vi phạm tội của mình (đã phân tích trên), từ đó, theo chúng
tôi, hoàn toàn có cơ sở hợp lý để quy định việc áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đi kèm theo việc miễn TNHS Điều này là cần thiết bởi theo Ban soạn thảo BLHS lý giải, việc miễn TNHS đồng nghĩa với việc trả tự do vô điều kiện mà không áp dụng bất kỳ biện pháp giáo dục, phòng ngừa nào dẫn đến người dưới 18 tuổi tiếp tục tái phạm [22],
do đó, cần phải lựa chọn giải pháp xử lý phù hợp với sự thiếu hụt và non nớt về kiến thức và kinh nghiệm sống của người dưới 18 tuổi cũng như gắn với trách nhiệm của toàn xã hội trong việc giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội, hướng đến trọng tâm giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi
1.2.3 Cơ sở của miễn trách nhiệm hình sự
Nghiên cứu cơ sở của miễn TNHS nhằm xác định căn cứ để miễn TNHS đối với người phạm tội Như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Nếu việc gì đáng xử nhẹ thì cần
xử nhẹ, nếu việc gì xử cũng được, không xử cũng được thì kiên quyết không xử Người còn chỉ rõ: Có tội thì phải xử phạt nhưng để không phải xử phạt thì tốt hơn [59, tr.54]
Trang 32Xuất phát từ chính sách hình sự “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp
với giáo dục, thuyết phục”, đặt ra yêu cầu phải phong phú và đa dạng các biện pháp xử
lý được quy định trong BLHS Vậy nên, bên cạnh các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, BLHS còn quy định các biện pháp miễn, giảm TNHS, trong đó chế định miễn TNHS là sự thể chế hóa cụ thể chính sách giáo dục, cải tạo người phạm tội, bởi lẽ đây cũng chính là mục đích cuối cùng mà chính sách hình sự hướng đến, tạo ra căn cứ pháp
lý vững chắc thể hiện tính nhân đạo, nhân văn và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc “tiết kiệm tính cưỡng chế” trong việc áp dụng các chế tài hình sự, có nghĩa là chỉ sử dụng liều lượng cưỡng chế ở mức độ cần và đủ
để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm [55, tr.100] Đặt ra pháp luật hình sự trước tiên
là nhằm trừng trị người phạm tội, nhưng trừng trị ở đây không nhằm mục đích trả thù hay tra tấn, nên đòi hỏi nội dung cưỡng chế phải ở mức độ vừa và đủ với mục đích tốt đẹp cuối cùng là giáo dục, cải tạo Vậy nên, khi xét thấy không cần thiết phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc, miễn TNHS là một trong những biện pháp có hiệu quả Đây là cơ sở lý luận của chế định miễn TNHS trong BLHS
Xuất phát từ mối liên hệ chặt chẽ giữa TNHS và miễn TNHS, có quan điểm cho
rằng: “Cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Luật Hình
sự quy định là tội phạm, thì cơ sở của miễn TNHS là việc có căn cứ pháp lý và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định để không buộc một người phải chịu TNHS, mặc dù người đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật Hình sự cấm và lẽ
ra họ phải chịu TNHS” [26, tr.15] Với ý nghĩa này, cơ sở xác định một người phạm tội
được miễn TNHS chính là việc đáp ứng đủ các điều kiện miễn TNHS tùy theo mỗi trường hợp miễn TNHS do BLHS quy định Ở đây, điều kiện miễn TNHS được BLHS quy định chủ yếu gồm có hai nhóm chính là điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan Bởi từ tính biện chứng trong thực tiễn xử lý tội phạm xảy ra những chuyển biến của các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan dẫn đến yêu cầu cần phải tiết giảm nội dung cưỡng chế trong các biện pháp xử lý người phạm tội
Trang 33 Chuyển biến khách quan: Là những chuyển biến của các điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội,… làm cho một hành vi bị mất đi tính nguy hiểm cho
xã hội một cách đáng kể dẫn đến không còn cần thiết phải truy cứu TNHS nữa,
từ đó đặt ra yêu cầu phải miễn TNHS đối với người phạm tội để đảm bảo tính tương xứng, công bằng giữa hành vi phạm tội với TNHS
Chuyển biến chủ quan: Là những chuyển biến của chính nhân thân người phạm tội theo hướng tích cực, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải được Nhà nước và
xã hội ghi nhận, từ đó xét thấy họ xứng đáng được hưởng khoan hồng bằng việc được miễn TNHS Qua đó, miễn TNHS sẽ góp phần động viên và khuyến khích người phạm tội quyết tâm và tích cực tự cải tạo, giáo dục tốt
Như vậy, cơ sở để xác định một người phạm tội được miễn TNHS chính là việc
họ đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện miễn TNHS do BLHS quy định, để từ đó không buộc họ phải chịu TNHS mà lẽ ra họ phải gánh chịu do hành vi phạm tội của mình
1.3 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với một số chế định khác trong Luật Hình sự
1.3.1 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với loại trừ trách nhiệm hình sự
Loại trừ TNHS là một chế định của pháp luật hình sự nước ta Hiện nay, cũng
như miễn TNHS, khái niệm của “loại trừ TNHS” chưa được quy định thống nhất10
Hiểu một cách cơ bản, người được loại trừ TNHS là người có hành vi nguy hiểm cho
xã hội không thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của một CTTP cụ thể, gồm có sự kiện bất ngờ (Điều 20); tình trạng không có năng lực TNHS (Điều 21) Hoặc là, khi hành vi có đủ dấu hiệu của CTTP nhưng lại có “tình tiết” khác quy định trong BLHS và được BLHS xác định không phải là tội phạm cũng được loại trừ TNHS, bao gồm phòng vệ chính
10
Có quan điểm cho rằng: “Loại trừ TNHS là trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại cho xã hội, nhưng theo pháp luật không bị truy cứu TNHS” [41, tr.567] Quan điểm này có nội hàm quá
rộng, nhiều nguy cơ gây nhầm lẫn miễn TNHS cũng là nội dung thuộc chế định loại trừ TNHS nên chưa chuẩn xác
Trang 34đáng (Điều 22); tình thế cấp thiết (Điều 23); gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24); rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật
và công nghệ (Điều 25); thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26) Miễn TNHS và loại trừ TNHS có một số điểm khác nhau cần phải nhận thức rõ như sau:
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng Miễn TNHS được áp dụng đối với người đã
thực hiện hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của CTTP, có nghĩa họ là người phạm tội mà lẽ ra họ sẽ phải chịu TNHS về hành vi phạm tội của mình nếu như
họ không được miễn TNHS Sự khác biệt ở chỗ trong trường hợp loại trừ TNHS thì phải là đối với người không phạm tội, tức là khi hành vi của người đó không thỏa mãn
ít nhất một trong số các dấu hiệu pháp lý của CTTP hoặc thuộc trường hợp BLHS quy định không phải tội phạm, vậy nên họ đương nhiên không phải là người phạm tội và không phải chịu TNHS
Thứ hai, về hậu quả pháp lý Bởi người được loại trừ TNHS không thực hiện
hành vi mà BLHS quy định là tội phạm nên đương nhiên không đặt ra vấn đề TNHS đối với họ, họ không phải chịu TNHS Đối với người được miễn TNHS thì không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của TNHS Tuy nhiên, họ là người đã thực hiện hành vi phạm tội nên vẫn có thể sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuộc các ngành luật khác như: buộc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự, bị xử phạt
hành chính theo quy định của pháp luật hành chính,…
Thứ ba, về ý nghĩa Chế định miễn TNHS thể hiện tính nhân đạo sâu sắc cũng
như chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội của Luật Hình sự nước ta khi xét thấy việc buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội phải chịu TNHS là không cần thiết, nhưng vẫn đảm bảo hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả Còn chế định loại trừ TNHS mang ý nghĩa xác định ranh giới giữa tội phạm và không phải tội phạm, giống như quan điểm “loại trừ TNHS là cơ sở cần thiết để phân biệt khi nào thì
Trang 35một hành vi bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi sẽ bị truy cứu TNHS và khi nào thì một người thực hiện hành vi không phải là tội phạm và TNHS của họ được loại trừ” [45, tr.10], từ đó là cơ sở để xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội
1.3.2 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt
Miễn hình phạt cũng là một biện pháp khoan hồng của pháp luật hình sự nước ta với phương châm: Chỉ áp dụng hình phạt khi điều đó thật sự cần thiết Miễn hình phạt được quy định tại Điều 59, Điều 88 và Điều 390 BLHS năm 2015 nhưng khái niệm miễn hình phạt vẫn chưa được đề cập Đối với khái niệm, miễn hình phạt là trường hợp không buộc người, pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu hình phạt về tội phạm mà người đó đã thực hiện [56, tr.380] Từ đó cho thấy, cũng như miễn TNHS, miễn hình phạt cũng được áp dụng đối với người đã có hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của CTTP
cụ thể, nhưng do đáp ứng các điều kiện miễn hình phạt theo quy định của BLHS Tuy nhiên, miễn hình phạt và miễn TNHS cũng có một số điểm khác nhau cần phải nhận thức rõ như sau:
Thứ nhất, về phạm vi áp dụng Miễn hình phạt chỉ miễn một phần nội dung của
TNHS chính là hình phạt, có nghĩa là người phạm tội chỉ không phải chịu hình phạt, còn người phạm tội vẫn sẽ bị kết tội bằng bản án của Tòa án và biện pháp tư pháp vẫn được phép áp dụng để buộc họ phải thực hiện Sự khác nhau ở đây chính là nội hàm của miễn TNHS rộng hơn, nó bao gồm cả miễn hình phạt Từ đó cho thấy, miễn hình phạt là biện pháp khoan hồng ở một mức độ thấp hơn so với miễn TNHS Ở đây, người phạm tội được miễn hình phạt [ ] có các điều kiện miễn TNHS nhưng vì tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết khác của vụ án mà không thể miễn TNHS đối với họ thì mới miễn hình phạt [42, tr.332] Nói cách khác, người được miễn hình phạt là người chưa đến mức được miễn TNHS, còn người được miễn TNHS thì đương nhiên được miễn hình phạt
Trang 36Thứ hai, về thẩm quyền quyết định Miễn TNHS do cơ quan tiến hành tố tụng
hình sự (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án tùy vào giai đoạn tố tụng tương ứng) quyết định Còn miễn hình phạt do Tòa án xét xử vụ án quyết định Như vậy, thẩm quyền quyết định miễn hình phạt hẹp hơn so với miễn TNHS khi chỉ có một chủ thể duy nhất là Tòa án có thẩm quyền, trong khi cả ba cơ quan tiến hành tố tụng đều có thẩm quyền miễn TNHS Điều này cũng dễ hiểu khi chỉ duy nhất Tòa án là có thẩm quyền quyết định hình phạt, do đó việc miễn hình phạt cũng sẽ chỉ do Tòa án xem xét, quyết định
Ở đây muốn nói đến án tích Khi được miễn TNHS, người phạm tội đương nhiên được miễn toàn bộ hậu quả pháp lý bất lợi của TNHS bao gồm cả án tích Còn miễn hình phạt, BLHS năm 1999 quy định người phạm tội được miễn hình phạt bị coi
là có án tích và thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích tại khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999 Hiện nay, BLHS năm 2015 đã loại bỏ “miễn hình phạt” ra khỏi những trường hợp bị coi là có án tích, nên miễn hình phạt không còn gây ra án tích cho người được miễn
1.4 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự của một số nước trên thế giới
1.4.1 Miễn trách nhiệm hình sự của Liên Bang Nga
BLHS Liên Bang Nga được Đuma Quốc gia thông qua ngày 24/5/1996, Hội đồng Liên bang phê chuẩn ngày 05/6/1996 và Tổng thống ký ban hành ngày 13/6/1996
Bộ luật có hiệu lực từ ngày 01/01/1997 và sửa đổi, bổ sung nhiều lần, lần gần nhất vào ngày 12/4/2020 Liên quan đến chế định miễn TNHS, BLHS Liên bang Nga đã quy định một Chương IV riêng biệt trong Phần chung, cụ thể:
“Điều 75 Miễn trách nhiệm hình sự vì ăn năn hối cải: 1 Người lần đầu phạm
tội ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng trung bình có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu sau khi phạm tội đã tự thú, giúp điều tra, khám phá tội phạm, đã bồi thường thiệt hại hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm và do đã ăn năn hối cải, hành
Trang 37vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa 2 Người đã phạm các loại tội khác chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp điều luật của phần Riêng Bộ luật này
có quy định cụ thể” [49, tr.188] BLHS năm 2015 nước ta cũng đã quy định trường hợp
miễn TNHS với tính chất tương tự như Điều 75 này tại điểm c khoản 2 Điều 29 và với
những điều kiện tương tự như: đã tự thú, góp phần điều tra tội phạm, làm hạn chế hậu
quả của tội phạm Nhưng sự khác biệt chính là điểm c khoản 2 Điều 29 được áp dụng
đối với tất cả các loại tội phạm; trong khi BLHS Liên Bang Nga có sự giới hạn về loại
tội phạm, cụ thể phải là “lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng
trung bình”, còn đối với các loại tội phạm khác, việc miễn TNHS phụ thuộc vào quy
định cụ thể tại phần Riêng của BLHS
“Điều 76 Miễn trách nhiệm hình sự do có sự hòa giải với người bị hại:
Người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu người phạm tội đã tiến hành hòa giải với người bị hại và đã đền bù thiệt hại cho người bị hại” [49, tr.189] Theo đó, điều kiện miễn TNHS bao gồm: một
là, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng; hai là, đã hòa giải với người bị
hại; và ba là, đã đền bù thiệt hại cho người bị hại Về vấn đề này, Nghị quyết số 19
ngày 27/6/2013 (sửa đổi ngày 29/11/2016) của Tòa án tối cao Liên Bang Nga về việc
áp dụng của Tòa án các quy định về căn cứ và thủ tục miễn TNHS, có hướng dẫn rằng:
việc người phạm tội “hứa hẹn” bồi thường thiệt hại hoặc sửa đổi trong tương lai không
phải trường hợp làm phát sinh căn cứ miễn TNHS cho người phạm tội Như vậy, BLHS Liên Bang Nga chỉ xem xét miễn TNHS đối với “kết quả” bồi thường thiệt hại Giống với BLHS Liên Bang Nga, BLHS năm 2015 của nước ta cũng đã quy định về trường hợp miễn TNHS do có sự hòa giải tại khoản 3 Điều 29 nhưng với những điều kiện chặt chẽ hơn BLHS nước ta không những giới hạn về loại tội phạm được miễn tương tự như BLHS Liên Bang Nga mà hơn nữa còn giới hạn cả về loại lỗi và lĩnh vực
xâm hại của tội phạm, cụ thể “tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm
trọng” gây thiệt hại đến “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản”
Trang 38 “Điều 78 Miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu: 1 Không truy cứu trách
nhiệm hình sự, nếu kể từ ngày phạm tội đã qua các thời gian sau đây: a) Hai năm sau khi phạm tội ít nghiêm trọng; b) Sáu năm sau khi phạm tội nghiêm trọng trung bình; c) Mười năm sau khi phạm tội nghiêm trọng; d) Mười lăm năm sau khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng […]” [49, tr.190] Khác với BLHS Liên Bang Nga, BLHS năm 2015 của
nước ta không quy định “hết thời hiệu” là một căn cứ miễn TNHS, mà được quy định
riêng tại Điều 27 rằng khi hết thời hiệu, người phạm tội sẽ “không bị truy cứu TNHS”
Bên cạnh Chương IV nêu trên, BLHS Liên Bang Nga còn có quy định hai trường hợp miễn TNHS do đại xá (Điều 84) và miễn TNHS đối với người chưa thành niên (Điều 90) như sau:
“Điều 84 Đại xá: 1 Đại xá do Đuma quốc gia của Quốc hội Liên bang Nga
tuyên bố đối với một số người không xác định 2 Bằng văn bản đại xá, những người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự…” [49, tr.201] Ở đây, miễn TNHS do
đại xá được quy định với cụm từ “có thể” nên có thể hiểu đây là trường hợp miễn TNHS có tính “tùy nghi”- có thể miễn TNHS và cũng có thể không miễn TNHS Như vậy, khác với BLHS Liên Bang Nga, điểm b khoản 1 Điều 29 BLHS năm 2015 nước ta quy định miễn TNHS do đại xá mang tính chất “bắt buộc” phải miễn TNHS
“Điều 90 Áp dụng biện pháp giáo dục bắt buộc: 1 Người chưa thành niên
phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng trung bình có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu thấy rằng có thể cải tạo được họ bằng các biện pháp giáo dục bắt buộc […]” [49, tr.207] Như vậy, điều kiện miễn TNHS gồm có: một là, phạm tội ít
nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng trung bình; và hai là, thấy rằng có thể cải
tạo được họ bằng biện pháp giáo dục bắt buộc Theo đó, người chưa thành niên có thể
bị áp dụng một hoặc cùng lúc nhiều biện pháp giáo dục bắt buộc như: cảnh cáo; giao cho cha mẹ hoặc người thay cha mẹ hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giám sát,
giáo dục; buộc bồi thường thiệt hại gây ra; và hạn chế sự nhàn rỗi và đặt ra những đòi
Trang 39hỏi riêng đối với xử sự của người chưa thành niên [47, tr.58] So sánh với BLHS của nước ta, điều kiện miễn TNHS cho người dưới 18 tuổi phạm tội tại khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 có phần chặt chẽ hơn, cụ thể bởi có sự phân hóa thành từng nhóm
tuổi nhỏ và giới hạn loại tội phạm, tội danh cụ thể, đồng thời cũng đòi hỏi phải “có
nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả” Tuy nhiên, cũng có
điểm tương đồng với BLHS Liên Bang Nga khi người chưa thành niên phạm tội được miễn TNHS, họ sẽ phải bị áp dụng biện pháp khác với tên gọi “biện pháp giáo dục bắt buộc” (BLHS Liên Bang Nga) hay “biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn TNHS” (BLHS Việt Nam)
Trong Phần các tội phạm, BLHS Liên bang Nga quy định nhiều trường hợp khác như miễn TNHS đối với người phạm tội bắt cóc (Điều 126); người phạm tội khủng bố (Điều 205); người phạm tội bắt giữ con tin (Điều 206); người tổ chức hoặc tham gia vào đơn vị vũ trang bất hợp pháp (Điều 208); người sở hữu, tiêu thụ, bảo quản, chuyển giao hoặc mang trái phép vũ khí, đạn dược, chất nổ và thiết bị gây cháy
nổ (Điều 222); người chế tạo vũ khí trái phép (Điều 223); người phạm tội đưa hối lộ (Điều 291); người đưa ra lời khai, kết luận giám định hay dịch gian dối (Điều 307);… [19] Như vậy, so với quy định miễn TNHS trong Phần các tội phạm của BLHS Việt Nam, Phần riêng của BLHS Liên bang Nga quy định tương đối nhiều hơn các trường hợp miễn TNHS đối với một số tội phạm cụ thể, trong đó miễn TNHS cho người phạm tội đưa hối lộ cũng được BLHS nước ta quy định tại khoản 7 Điều 364 BLHS năm
2015 Về cơ bản, những trường hợp miễn TNHS trong Phần riêng của BLHS Liên Bang Nga cũng đòi hỏi phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định, mà nói một cách khái quát nhất là đòi hỏi người phạm tội phải có hành động chứng tỏ thái độ thành khẩn, ăn năn như: kịp thời ngăn chặn không cho tội phạm xảy ra hay người phạm tội tự nguyện giao nộp hoặc thông báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,… [64, tr.299], điều này khá tương đồng với BLHS nước ta Bên cạnh đó, một sự khác biệt nữa là những trường hợp miễn TNHS tại Phần riêng của BLHS Liên Bang Nga đều mang tính
Trang 40“bắt buộc” miễn TNHS; còn Phần các tội phạm của BLHS nước ta chỉ duy nhất trường hợp tại khoản 4 Điều 110 là “được” miễn TNHS, còn những trường hợp khác (khoản 4 Điều 247, khoản 7 Điều 364, khoản 6 Điều 365 và khoản 2 Điều 390) đều là dạng tùy nghi “có thể” miễn TNHS
Qua nghiên cứu, có thể nhận thấy tư duy lập pháp giữa hai BLHS Liên Bang Nga và BLHS Việt Nam tương đối giống nhau khi quy định về chế định miễn TNHS, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho Việt Nam nghiên cứu, chọn lọc và học tập kinh nghiệm quý giá của pháp luật hình sự Liên Bang Nga, góp phần hoàn thiện pháp luật của nước ta
1.4.2 Miễn trách nhiệm hình sự của Vương quốc Thụy Điển
BLHS Vương quốc Thụy Điển được thông qua năm 1962, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1965
Về miễn TNHS, các nhà làm luật Vương quốc Thụy Điển quan niệm: miễn TNHS được coi như một nguyên tắc của Luật Hình sự dựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, để chỉ ra rằng không có tội phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của người nào đó đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm cụ thể [34, tr.33] Như vậy, có thể hiểu các nhà làm luật của Vương quốc Thụy Điển quan niệm những xung đột lợi ích chính là lý do có thể làm cho hành vi phạm tội mất đi tính chất có tội của nó Hay nói cách khác, khi cần thiết phải bảo vệ một lợi ích chính đáng hơn lợi ích bị xâm phạm thì hành vi đó sẽ được coi
là mất đi tính có tội của nó Ở đây, quan niệm xung đột lợi ích thể hiện rõ nhất trong trường hợp miễn TNHS do tình thế cấp thiết (Điều 4 BLHS Vương quốc Thụy Điển) bởi vì cần phải bảo vệ một lợi ích lớn hơn nên buộc phải gây ra một thiệt hại nhỏ hơn, hay nói cách khác đây là trường hợp buộc phải lựa chọn hy sinh một lợi ích nhất định
để có thể bảo toàn được một lợi ích quan trọng hơn