Trong quy định của pháp luật còn nhiều vướng mắc, hạn chế: những quan điểm về hình phạt tiền chưa thật sự thống nhất, chưa đưa ra giải pháp bảo đảm khả năng thực thi hình phạt này, vị tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
****0O0****
LÊ THỊ DUNG
HÌNH PHẠT TIỀN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Hình sự
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
****0O0****
Ư
LÊ THỊ DUNG MSSV: 1155030027
HÌNH PHẠT TIỀN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên khóa: 2011 - 2015
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Giảng viên hướng dẫn:
ThS NGUYỄN THỊ ÁNH HỒNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lê Thị Dung – sinh viên Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Khoa Luật Hình sự, Khóa 36 (2011 – 2015), là tác giả của khóa luận tốt nghiệp Cử
nhân Luật – Chuyên ngành Luật hình sự – Đề tài: “Hình phạt tiền trong pháp luật
hình sự Việt Nam dưới góc độ so sánh với quy định của pháp luật một số nước”
được trình bày trong tài liệu này (say đây gọi là “Khóa luận”)
Tôi xin cam đoan tất cả nội dung trong khóa luận này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa
học của ThS Nguyễn Thị Ánh Hồng – Giảng viên Khoa Luật Hình sự, Trường Đại
học Luật Tp Hồ Chí Minh
Trong khóa luận có trích dẫn, sử dụng một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Sự trích dẫn được thể hiện trong danh mục tài liệu tham khảo và tuân thủ các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Các kết quả có được trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt ngiệp của mình, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, ủng hộ từ quý Thầy Cô và các bạn
Trước tiên, tác giả gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Giảng viên – ThS Nguyễn Thị
Ánh Hồng, Cô đã giành nhiều thời gian, công sức và hết lòng tận tụy giúp đỡ tác
giả trong suốt quá trình làm khóa luận
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô Trường Đại học Luật
Tp Hồ Chí Minh đã dạy dỗ truyền đạt kiến thức cho tác giả cũng như các bạn sinh viên Đồng thời, tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ, ủng hộ của gia đình, bạn bè trong thời gian làm khóa luận
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một các hoàn chỉnh nhất, song không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được, tác giả mong nhận được sự góp ý từ Thầy Cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT TIỀN 1
1.1 Những vấn đề lý luận về hình phạt tiền 1
1.1.1 Khái quát chung về hình phạt 1
1.1.1.1 Khái niệm hình phạt 1
1.1.1.2 Khái niệm hệ thống hình phạt 9
1.1.2 Lý luận chung về hình phạt tiền 11
1.1.2.1 Định nghĩa hình phạt tiền 11
1.1.2.2 Đặc điểm của hình phạt tiền 12
1.1.2.3 Vị trí, ý nghĩa của hình phạt tiền 13
1.1.2.4 Mục đích của hình phạt tiền 14
1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tiền 15
1.2.1 Quy định về hình phạt tiền từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 15
1.2.2 Quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự 1985 19
1.2.3 Quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự 1999 21
1.2.3.1 Điều kiện và phạm vi áp dụng hình phạt tiền 21
1.2.3.2 Mức phạt tiền và cách thức nộp phạt 32
1.2.3.3 Các quy định khác trong Phần chung của Bộ luật hình sự liên quan đến hình phạt tiền 34
CHƯƠNG 2: HÌNH PHẠT TIỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 39
2.1 Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ 39
2.1.1 Khái quát chung về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ 39
2.1.2 Những điểm tương đồng và khác biệt về hình phạt tiền 40
2.2 Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Cộng hòa Pháp 41
Trang 72.2.1 Khái quát chung về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Cộng hòa
Pháp 41
2.2.2 Những điểm tương đồng và khác biệt về hình phạt tiền 41
2.3 Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Cộng hòa liên bang Đức 42
2.3.1 Khái quát chung về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Cộng hòa liên bang Đức 42
2.3.2 Những điểm tương đồng và khác biệt về hình phạt tiền 43
2.4 Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Liên bang Nga 45
2.4.1 Khái quát chung về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Liên bang Nga 45
2.4.2 Những điểm tương đồng và khác biệt về hình phạt tiền 45
2.5 Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Trung Quốc 47
2.5.1 Khái quát chung về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Trung Quốc47 2.5.2 Những điểm tương đồng và khác biệt về hình phạt tiền 47
2.6 Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự một số nước khác 48
2.6.1 Trong pháp luật hình sự Thụy Điển 48
2.6.2 Trong pháp luật hình sự Vương quốc Anh 50
2.6.3 Trong pháp luật hình sự Tây Ban Nha 51
2.6.4 Trong pháp luật hình sự Singapore 53
2.7 Đánh giá so sánh tổng quát 54
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HÌNH PHẠT TIỀN 59
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về hình phạt tiền và những hạn chế, vướng mắc 59
3.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về hình phạt tiền từ năm 2010 đến năm 2014 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 59
3.1.2 Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng hình phạt tiền 61
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về hình phạt tiền 66
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tiền 66
Trang 83.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả của pháp luật về hình phạt tiền 71
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính nguy hiểm cao cho xã hội, mang tính lịch sử và bản chất giai cấp sâu sắc Đấu tranh phòng chống tội phạm, ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là nhiệm vụ của bất kỳ nhà nước nào trong bất kỳ xã hội nào Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với tội phạm là trừng trị kết hợp với cải tạo, giáo dục cảm hóa; thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hóa cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó bồi dưỡng mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tích cực tham gia đấu tranh phòng và chống tội phạm
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra một trong những phương hướng, nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là “Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp” Để thực hiện được nhiệm vụ trên, Nghị quyết xác định:
“Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục
tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Coi trọng việc hoàn
thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và
tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp
dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm
Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ” Một trong những quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về cải cách tư pháp được thể hiện rõ trong Nghị quyết: “Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được
xu thế phát triển của xã hội trong tương lai” Xuất phát từ phương hướng, nhiệm vụ
và quan điểm có tính chất chỉ đạo chiến lược đó đã đặt ra yêu cầu và đòi hỏi phải
nghiên cứu không chỉ ở trong nước mà còn có thể chọn lọc, tiếp thu những kinh
nghiệm của pháp luật hình sự nước ngoài để góp phần hoàn thiện hệ thống hình
phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam cũng như xây dựng nền tư pháp dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc
Trang 10Hình phạt tiền được quy định khá sớm trong pháp luật hình sự Việt Nam, không chỉ thể hiện bản chất nhân đạo của pháp luật hình sự mà còn có vai trò rất quan trọng trong hệ thống hình phạt, góp phần tạo nên tính đa dạng, thống nhất và hoàn thiện của hệ thống hình phạt BLHS năm 1999 có những quy định tiến bộ và
mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền so với BLHS trước đó Đặc biệt, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã có những bổ sung nhất định nhằm hoàn thiện quy định về hình phạt này
Mặc dù mang bản chất nhân đạo cao cả, khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội cao, có vị trí quan trọng trong hệ thống hình phạt, hình phạt tiền vẫn chưa được quan tâm đúng mức trong pháp luật hình sự nước ta Trong quy định của pháp luật còn nhiều vướng mắc, hạn chế: những quan điểm về hình phạt tiền chưa thật sự thống nhất, chưa đưa ra giải pháp bảo đảm khả năng thực thi hình phạt này, vị trí và vai trò của nó chưa được đánh giá đúng; trong thực tiễn xét xử, hình phạt tiền còn ít được Tòa án áp dụng, việc thi hành còn nhiều bất cập, thiếu hiệu quả chưa tương xứng với vị trí, vai trò của hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt
Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về hình phạt tiền, tiến hành so sánh với quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới và đồng thời đánh giá việc áp dụng hình phạt tiền trong thực tiễn để đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện BLHS và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tiền, không những có ý nghĩa lý luận – thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết
Những phân tích trên lý giải cho việc tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Hình
phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới góc độ so sánh với quy định của pháp luật một số nước” làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học luật hình sự đã có một số công trình nghiên cứu về hình phạt
tiền như: Tìm hiểu tội phạm và hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB
Phương Đông, năm 2010 của tác giả Đinh Văn Quế – Thạc sĩ Luật học, Thành viên
Hội đồng Thẩm phán, Chánh tòa Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao; Hình phạt bổ
sung trong luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, năm 2011, của Tiến sĩ
Trịnh Quốc Toản; Hình phạt tiền trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2008, của tác giả Nguyễn
Hoàng Lâm; Các hình phạt không tước tự do trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010, của tác giả Lê
Trang 11Khánh Hưng; “So sánh quy định về hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
và luật hình sự Trung Quốc” của tác giả Phạm Văn Báu, Tạp chí Luật học, số 08, năm 2013; Thạc sĩ Doãn Trung Đoàn với “Hoàn thiện các quy định về hình phạt tiền của Bộ luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 18, năm 2013 Các công trình khoa học nói trên đã gợi mở cho tác giả nhiều ý tưởng khoa học, là những tài liệu rất bổ ích và giá trị được tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu
đề tài
Tuy nhiên, hình phạt tiền vẫn chưa được quan tâm đúng mức, các nghiên cứu
về hình phạt tiền mới chỉ đề cập, tập trung nghiên cứu chung hoặc có nghiên cứu dưới góc độ so sánh với các nước khác trên thế giới nhưng còn khái quát và chưa thật đầy đủ Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống
và so sánh với quy định của pháp luật hình sự nước ngoài về hình phạt tiền để trên
cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm, học hỏi cho pháp luật hình sự nước ta và đưa ra được những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu và nhận thức toàn
diện các vấn đề lý luận, phân tích các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt tiền; so sánh quy định của pháp luật hình sự nước ta với quy định của pháp luật hình sự nước ngoài về hình phạt này Từ đó, học hỏi, tham khảo chọn lọc quy định của pháp luật hình sự nước ngoài nhằm góp phần hoàn thiện quy định của luật hình sự nước ta về hình phạt tiền và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn Mặt khác, nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp của nước ta cũng như phù hợp với xu thế thế giới khi quy định
và áp dụng hình phạt tiền
Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận đặt ra: nghiên cứu,
làm rõ cơ sở lý luận và phân tích, đánh giá các quy định của BLHS về hình phạt tiền Tiến hành so sánh các quy định của pháp luật hình sự nước ta với quy định của pháp luật hình sự nước ngoài; nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tiền Qua đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa quy định về hình phạt này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp là nghiên cứu hình phạt tiền
trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới góc độ so sánh với quy định của pháp luật
một số nước trên thế giới
Trang 12Phạm vi nghiên cứu là khái quát những vấn đề lý luận về hình phạt tiền, tiến
hành so sánh quy định của pháp luật hình sự nước ta với quy định của pháp luật hình sự một số nước về hình phạt này và khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng trên
địa bàn Tp Hồ Chí Minh trong những năm 2010 – 2014
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để thực hiện đề tài khóa luận này, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp phân tích, so sánh, lịch sử, thống kê, tổng hợp Phương pháp lịch sử được tác giả sử dụng chủ yếu ở Chương 1, đặc biệt là phần nói về quá trình phát triển các quy định về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam Trong Chương 2, phương pháp phân tích và phương pháp so sánh được tác giả sử dụng chủ yếu để nói về quy định về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự một số nước và so sánh với quy định của pháp luật Việt Nam, từ góc độ so sánh đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam Ở Chương 3, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp để thấy được thực trạng áp dụng hình phạt tiền và phương pháp phân tích để phân tích những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng hình phạt tiền, trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tiền
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
Nghiên cứu hình phạt tiền một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở lý luận
và thực tiễn công tác xét xử trong những năm qua Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chế định hình phạt tiền và nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt này Vì vậy, khi đề tài khóa luận này được hoàn thành sẽ có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn:
Ý nghĩa lý luận: khóa luận góp phần làm cơ sở cho các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tham khảo trong việc sửa đổi, bổ sung BLHS trong thời gian tới
Ý nghĩa thực tiễn: khóa luận sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị thuyết
phục cho hoạt động học tập, nghiên cứu và giảng dạy các môn học liên quan đến pháp luật hình sự về hình phạt tiền
7 Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương:
Trang 13Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
Mặc dù tác giả đã rất cố gắng để hoàn thành tốt khóa luận này với mong muốn
đề tài mà mình nghiên cứu sẽ mang lại nhiều ý nghĩa trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn nhưng với trình độ nghiên cứu, khả năng lý luận chưa thật vững chắc, do đó khóa luận sẽ còn nhiều hạn chế, thiếu sót Tác giả mong nhận được những ý kiến đánh giá, nhận xét và góp ý từ phía Thầy Cô và các bạn sinh viên để tác giả có thể chỉnh sửa, khắc phục những sai sót, rút ra được những kinh nghiệm
quý báu trong nghiên cứu chuyên môn và thực tiễn công tác sau này
Trang 14Chương1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT TIỀN 1.1 Những vấn đề lý luận về hình phạt tiền
1.1.1 Khái quát chung về hình phạt
1.1.1.1 Khái niệm hình phạt
Định nghĩa hình phạt
Hình phạt cùng với tội phạm là hai chế định cơ bản và quan trọng nhất trong BLHS Trong khoa học luật hình sự nước ngoài và Việt Nam xung quanh khái niệm hình phạt, giữa các nhà hình sự học vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Trong khoa học luật hình sự nước ngoài, cụ thể là trong khoa học luật hình sự
Liên bang Nga có những quan điểm: i) Hình phạt – Biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước do Tòa án nhân danh áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm nhằm mục đích ngăn ngừa chung và ngăn ngừa riêng (Natasev A.E., Xtruchoov H.A., Nôi I.X., Bêlaev N.A); ii) Hình phạt – Sự trừng trị, tức là gây cho người có tội những sự đau đớn và những sự tước đoạt do luật định mà người đó phải chịu (Đementre X.I.); iii) Hình phạt – Một trong những biện pháp đấu tranh chống tội phạm mà nội dung của nó là kết hợp thuyết phục với cưỡng chế (Karpetx I.I.)1
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, về khái niệm hình phạt: i) GS TS Đỗ Ngọc Quang có quan điểm hình phạt là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và mục đích nhất định với mục đích cải tạo giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; ii) PGS TS Võ Khánh Vinh cho rằng, hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án và iii) hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước được luật hình sự quy định và do Tòa
án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm trừng trị, giáo dục họ, cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp
1
Lê Cảm (2007), “Hình phạt và Hệ thống hình phạt”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (14), tr 10
Trang 15luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm – quan điểm của PGS TS Nguyễn Ngọc Hòa và TS Lê Thị Sơn2
Như vậy, trước khi BLHS năm 1999 ra đời, khái niệm hình phạt chỉ được nghiên cứu như một khái niệm có tính chất khoa học, trên các tạp chí chuyên ngành hoặc trong các giáo trình của các trường đại học với một số quan điểm nổi bật đã nêu ở trên Phải đến Luật hình sự Việt Nam năm 1999, lần đầu tiên BLHS nước ta mới ghi nhận khái niệm hình phạt tại Điều 26 BLHS:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm
tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định”
BLHS hiện hành đã nêu tương đối đầy đủ nội dung, bản chất của hình phạt Tuy nhiên, việc mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm là rất cần thiết, bên cạnh chủ thể của tội phạm là cá nhân, pháp nhân đã được đưa vào khái niệm hình phạt trong
Dự thảo BLHS (12/01/2015) Quy định này là điểm tiến bộ của pháp luật hình sự bởi định nghĩa được Dự thảo BLHS đưa ra không chỉ bao quát được nội dung bản chất của hình phạt mà còn ghi nhận pháp nhân là chủ thể của tội phạm; phù hợp với
xu thế pháp luật hình sự nước ngoài là thừa nhận trách nhiệm hình sự của chủ thể này Theo Đại biểu Trần Văn Độ cho biết hiện nay đã có 120 quốc gia đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân3 Do đó, theo tác giả nên đưa chủ thể này vào khái niệm hình phạt, cụ thể như sau:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy
định trong Bộ luật này, do Toà án quyết định áp dụng đối với cá nhân hoặc pháp nhân là các tổ chức kinh tế phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của
Trang 16Trong tất cả các biện pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hình phạt
là biện pháp nghiêm khắc nhất được áp dụng phổ biến nhất và có lịch sử lâu đời Nhà nước sử dụng hình phạt đối với người phạm tội là để bảo vệ mình, bảo vệ xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó4 Hình phạt là biện pháp tước
bỏ hoặc hạn chế một số quyền và lợi ích thiết thân của người bị kết án Là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn các chế tài khác (chế tài hành chính, chế tài dân sự hoặc kinh tế), cho dù có mức phạt cao hơn, bởi vì các chế tài khác không bị coi là
có án tích, còn chế tài hình sự, người bị kết án khi bị áp dụng hình phạt sẽ đưa đến
hậu quả pháp lí là người đó bị coi là có án tích5
và làm cho họ phải mang án tích trong một thời gian nhất định Chịu hình phạt, người bị kết án có thể bị bắt, bị hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do, quyền tài sản, thậm chí bị tước bỏ cả quyền sống nếu
họ bị kết án tử hình
Thứ hai, hình phạt – với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự và một hình thức để thực hiện trách nhiệm hình sự, hình phạt chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội
Hình phạt được Tòa án tuyên đối với người phạm tội, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với họ và hành vi họ gây ra Sự trừng phạt bằng hình phạt đối với người có hành vi phạm tội là hậu quả thực tế của việc phạm tội C Mác đã viết:
“dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi
của chính người đó, do đó phải là hành vi của chính người đó”6
Thứ ba, hình phạt phải và chỉ do một cơ quan tư pháp hình sự duy nhất của Nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình phạt là Tòa án
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định
áp dụng đối với người phạm tội và chỉ có Tòa án mới có quyền này ngoài ra không một cơ quan nào có quyền quyết định hình phạt Vấn đề này được ghi nhận tại các
cơ sở pháp lý: Điều 127 Hiến pháp năm 1992 “Toà án nhân dân tối cao, các Toà án
nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”7; nay là Điều
102 Hiến pháp năm 2013 “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà
Trang 17xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” 8 ; khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa nhân dân 2014 “Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật”9
và tại Điều 26 BLHS hiện hành “Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và
do Toà án quyết định” Do đó, hình phạt phải và chỉ do cơ quan duy nhất có thẩm
quyền áp dụng là Tòa án Tòa án là cơ quan quyết định một người có phải chịu hình phạt hay không và nếu phải chịu thì loại và mức phạt cụ thể áp dụng như thế nào Tòa án áp dụng hình phạt theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do Bộ luật Tố tụng hình
sự quy định
Thứ tư, hình phạt phải và chỉ được quy định trong pháp luật hình sự
Trong BLHS Việt Nam, hình phạt được quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm Phần chung của BLHS quy định những vấn đề có tính nguyên tắc liên quan đến hình phạt như: Mục đích của hình phạt (Điều 27), Các hình phạt (Điều 28), Căn cứ quyết định hình phạt (Điều 45), Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 50), Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 51), Miễn chấp hành hình phạt (Điều 57), Giảm hình phạt đã tuyên (Điều 58) Phần các tội phạm quy định các hình phạt và mức phạt cho từng loại tội cụ thể Bởi hình phạt là của Nhà nước, do đó chỉ có Nhà nước mà cơ quan thay mặt cho Nhà nước là Quốc hội mới được đặt ra hình phạt thông qua hình thức quy định trong BLHS Ngoài BLHS ra không có một đạo luật nào được quy định tội phạm và hình phạt, chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình
sự Nhà nước coi hành vi này hay hành vi khác là tội phạm nhưng nếu không quy định biện pháp cưỡng chế (chế tài) đối với người thực hiện hành vi đó thì không khác gì nhìn thấy kẻ trộm vào nhà mà không có biện pháp tự vệ Khi nói đến hình
phạt, C Mác viết: “Hình phạt chẳng qua là thủ đoạn tự vệ của xã hội đối với những
hành vi xâm phạm điều kiện tồn tại của nó, không kể nó là những điều kiện như thế nào”10
Thứ năm, hình phạt chỉ mang tính chất cá nhân
Cho đến thời điểm hiện nay, luật hình sự nước ta quy định chỉ cá nhân mới là chủ thể của tội phạm Xuất phát từ một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình
8
Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
9
Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (Luật số 62/2014/QH13) ngày 24/11/2014.
10 Đinh Văn Quế, tlđd (5), tr 242
Trang 18sự Việt Nam là trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra với cá nhân người phạm tội, do đó hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và chỉ áp dụng với riêng bản thân người bị kết án mà thôi Sự trừng phạt bằng hình phạt đối với người phạm tội là hậu quả thực tế của việc phạm tội Dựa trên nguyên tắc đó, có thể khẳng định rằng hình phạt không thể được áp dụng đối với tập thể, với các thành viên trong gia đình cũng như những người thân khác của người phạm tội, luật hình sự cũng không cho phép việc chấp hành hình phạt thay cho người phạm tội cho dù sự chấp hành thay này là hoàn toàn tự nguyện Mặc dù, trong cả hai lần phát điển hóa với việc ban hành BLHS 1985 và BLHS
1999, nhà làm luật vẫn chưa thừa nhận nguyên tắc trách nhiệm hình sự của pháp nhân Tuy nhiên, khi pháp nhân được ghi nhận trong BLHS như một chủ thể của tội phạm thì pháp nhân được hiểu là một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng của mình, được xử sự tự do và hưởng quyền tự chủ của chủ thể có thể so sánh với quyền
tự chủ của cá nhân Vì vậy, nó có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi và đương nhiên có thể bị xử lý về hình sự11
Khi pháp nhân thực hiện một hành vi bị coi là tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự thì pháp nhân đó sẽ phải chịu một số hình phạt nhất định của Nhà nước như phạt tiền, giải thể, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ lĩnh vực hoạt động nào đó Bởi khả năng phạm tội phải gắn liền với khả năng chịu hình phạt hình sự Sự cần thiết áp dụng hình phạt với chủ thể của tội phạm (pháp nhân phạm tội) và giữa tội phạm với chế tài hình sự có mối quan hệ logic khó có thể phản bác Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân còn thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng, nguyên tắc mọi hành vi phạm tội không thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật hình sự được củng cố12 Đối với cá nhân, người phạm tội chính là người phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với pháp nhân phạm tội, ngoài việc truy cứu trách nhiệm hình sự của cá nhân trực tiếp thực hiện tội phạm trong pháp nhân thì pháp nhân đó còn là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự
Mục đích của hình phạt
Cơ sở pháp lý cho sự tồn tại của hình phạt là sự tồn tại của tội phạm, không có tội phạm thì không thể có hình phạt Hình phạt là hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội, là thức đo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Tội phạm và hình phạt có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau, đó là quan hệ nhân quả Việc xác định tội phạm không chỉ là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật bị coi là tội phạm, mà nó có ý nghĩa
11 Trịnh Quốc Toản (2013), “Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong điều kiện phát triển của nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 29, (01), tr 63
12 Trịnh Quốc Toản (2013), tlđd (11), tr 64
Trang 19rất quan trọng trong việc quy định, áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, Nhà nước xây dựng nên hệ thống hình phạt nhằm giúp luật hình sự thực thi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi sự xâm phạm của tội phạm Trước nhiệm vụ đó, đặt ra một vấn đề cơ bản là hệ thống hình phạt được quy định và sử dụng như thế nào, sử dụng hình phạt vào mục đích gì
Luật hình sự Việt Nam đã có quan điểm chính thức của Nhà nước về mục đích của hình phạt, thể hiện trong BLHS 1985 tại Điều 20 và BLHS 1999 tại Điều 27 Theo đó, mục đích của hình phạt là:
“Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo trở
thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”
Nhà làm luật đã thể hiện rõ quan điểm về mục đích của hình phạt trong BLHS nhưng khoa học luật hình sự Việt Nam còn tồn tại nhiều quan điểm xoay quanh vấn
đề này
Quan điểm thứ nhất, nghiêng về đạo đức, xem mục đích của hình phạt là giáo
dục, cải tạo và ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới cũng như nhằm giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời khẳng định trừng trị không phải là mục đích của hình phạt mà là nội dung, là thuộc tính, là cách thức để thực hiện hình phạt13
Quan điểm thứ hai, khẳng định mục đích cuối cùng của hình phạt là đảm bảo
công bằng xã hội và phòng ngừa tội phạm14
Quan điểm thứ ba, xem mục đích cuối cùng và chủ yếu của hình phạt là giáo
dục, cải tạo người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, mặt khác xem trừng trị là mục đích nhưng đồng thời cũng là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng đó15
Quan điểm thứ tư cho rằng mục đích của hình phạt vừa trừng trị, vừa giáo dục
cải tạo người phạm tội16
13
Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (1995), Hình phạt trong luật Hình sự Việt Nam, NXB
Chính trị quốc gia năm 1995, Hà Nội, tr 25
Trang 20Quan điểm thứ năm lại xem hình phạt được áp dụng nhằm mục đích giáo dục
và cải tạo người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội Và xem trừng trị là bản chất, là thuộc tính tất yếu của hình phạt chứ không phải là mục đích của hình phạt17
Từ những quan điểm trên, có thể thấy rằng phần lớn đều thống nhất xem mục đích chung của hình phạt trong luật hình sự nước ta là giáo dục, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa chung Bên cạnh đó, một trong những vấn đề hình phạt trong luật hình sự nước ta có mục đích trừng trị hay trừng trị chỉ là bản chất, là thuộc tính tất yếu của hình phạt, được các nhà nghiên cứu quan tâm hơn cả Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, mục đích của hình phạt gồm mục đích phòng ngừa riêng và mục đích phòng ngừa chung
- Mục đích phòng ngừa riêng
Mục đích của hình phạt trước hết được thể hiện là hình phạt tác động trực tiếp đến người phạm tội, không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục họ trở thành người
có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới Trong lý luận, mục đích này của
hình phạt được thể hiện bằng thuật ngữ phòng ngừa riêng
Nội dung cơ bản của phòng ngừa riêng chính là sự tước bỏ, hạn chế những
quyền, lợi ích theo quy định của BLHS đối với người bị áp dụng hình phạt, “hình
phạt trước hết thể hiện sự lên án, sự phạt của Nhà nước, của xã hội đối với người phạm tội Nhưng đó không phải là lên án, sự phạt đơn thuần mà là biện pháp đặc biệt để răn đe (răn đe bằng tác động cưỡng chế Nhà nước), để giáo dục, cải tạo (giáo dục, cải tạo bằng tác động cưỡng chế Nhà nước) người bị kết án, ngăn ngừa
họ phạm tội lại Hình phạt cũng còn là biện pháp đặc biệt để hạn chế (có thể đến loại trừ) điều kiện phạm tội lại của người bị kết án”18 Mức độ của việc tước bỏ và hạn chế những quyền và lợi ích này phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân người phạm tội và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 45 BLHS) Về nguyên tắc, hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Do
đó, tội phạm càng nguy hiểm thì mức độ trừng trị người phạm tội càng nghiêm khắc Tuy nhiên, theo luật hình sự Việt Nam, trừng trị không được coi là mục đích chủ yếu của hình phạt Mục đích chủ yếu trong phòng ngừa riêng của hình phạt
chính là cải tạo, giáo dục người phạm tội để họ “trở thành người có ích cho xã hội,
Trang 21có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới” (Điều 27 BLHS)
Trong phòng ngừa riêng, giữa trừng trị, cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa họ phạm tội mới là mục đích cùng tồn tại, có quan hệ tương tác qua lại với nhau rất chặt chẽ; chỉ có thể đạt được mục đích cuối cùng và chủ yếu là cải tạo giáo dục người phạm tội nếu hình phạt trừng trị tương xứng với tội phạm đã gây ra Bởi vì, hình phạt trước hết là hậu quả pháp lý của tội phạm, là thức đo thái độ lên án của Nhà nước đối với cá nhân người phạm tội, là tiêu chí của công lý và công bằng
xã hội Trừng trị một cách công minh là yếu tố tiên quyết quan trọng để đảm bảo mục đích giáo dục Như vậy, trong mối quan hệ giữa mặt trừng trị và giáo dục của hình phạt thì trừng trị là mục đích (không là mục đích chủ yếu, không phải sự trả
thù người phạm tội theo nguyên tắc ngang bằng – nguyên tắc Talion – nguyên tắc
“mắt đền mắt, răng đền răng”) và cũng là phương tiện để đạt được mục đích cuối
cùng và chủ yếu của hình phạt đối với người phạm tội là giáo dục và cải tạo
- Mục đích phòng ngừa chung
Ngoài mục đích phòng ngừa riêng nêu trên, theo Điều 27 BLHS hình phạt còn
có mục đích phòng ngừa chung là “giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm”
Việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, trong từng trường hợp cụ thể không chỉ tác động trực tiếp đến bản thân người phạm tội mà còn tác động, ảnh hưởng đến các thành viên khác trong xã hội Đối với một bộ phận những người dân
“không vững vàng” hình phạt có tác dụng răn đe, kiềm chế, ngăn ngừa họ phạm tội
Bởi hình phạt làm cho họ thấy trước được hậu quả pháp lý mà họ phải chịu khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Bên cạnh đó, hình phạt còn có mục đích giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật cho các thành viên khác cũng như động viên khuyến khích đông đảo quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào đấu tranh ngăn ngừa và chống tội phạm
Để đạt được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp như: biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, pháp
lý, văn hóa, giáo dục Trong đó, biện pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân có ý nghĩa to lớn Mục đích phòng ngừa chung của hình phạt chỉ thực sự đạt được hiệu quả tốt khi quần chúng nhân dân hiểu biết pháp luật, thấy được sự cần thiết của việc tuân thủ pháp luật cũng như ý nghĩa xã hội của hình phạt
Trang 22Như vậy, có thể thấy mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt không thể tách rời của hình phạt, chúng ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong thể thống nhất (hình phạt) Khi hình phạt được áp dụng tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và làm cho những người khác tôn trọng pháp luật thì mục đích của hình phạt mới có thể đạt được
1.1.1.2 Khái niệm hệ thống hình phạt
Hệ thống hình phạt trong BLHS nước ta tương đối phong phú và đa dạng, được phân chia thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung Hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do người phạm tội thực hiện, do đó nhà làm luật quy định các loại hình phạt khác nhau để áp dụng cho từng trường hợp cụ thể Hệ thống hình phạt được ra đời để đáp ứng yêu cầu đó Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam không ghi nhận khái niệm hệ thống hình phạt, tuy nhiên căn cứ vào hệ thống các hình phạt (hình phạt chính và hình phạt bổ sung) được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành (Điều 28 BLHS 1999), có thể đưa ra khái niệm khoa học về hệ thống hình phạt như sau:
“Hệ thống hình phạt là tổng hợp các biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm
khắc nhất của Nhà nước được quy định trong pháp luật Hình sự, căn cứ vào mức độ nghiêm khắc của mỗi loại được sắp xếp thành một danh mục cụ thể theo trình tự nhất định từ nhẹ đến nặng (hay ngược lại) và chỉ do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với bị cáo vì đã thực hiện tội phạm”19
Khái niệm khoa học về hệ thống hình phạt đã chỉ ra nội dung và đặc điểm cơ bản của một hệ thống hình phạt Hình phạt được quy định đều mong muốn đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn áp dụng nó Tính khả thi của hình phạt nói riêng và hệ thống hình phạt nói chung sẽ góp phần đạt được hiệu quả đó khi nhà làm luật quy định nó trong BLHS Với việc xem xét các tiêu chí của hệ thống hình phạt khả thi cũng làm nổi bật những đặc điểm của nó
Tiêu chí thứ nhất, trong hệ thống hình phạt quy định một cách cụ thể, rõ ràng
và chính xác trình tự, các căn cứ và những điều kiện áp dụng của từng loại hình phạt nói chung, cũng như các giới hạn tối thiểu và tối đa của các loại hình phạt có thời hạn nói riêng20
Hệ thống hình phạt theo luật hình sự Việt Nam hiện hành được quy định tại 15 điều của Chương V, một chương độc lập với tên gọi – “Hình phạt” trong
Trang 23BLHS năm 1999 (từ Điều 26 đến Điều 40) bằng các quy phạm riêng biệt, chặt chẽ
và chính xác với trình tự, các căn cứ và những điều kiện áp dụng cụ thể 12 loại hình phạt (từ Điều 29 đến Điều 40) có tính chất bắt buộc với Tòa án và mức phạt giới hạn của mỗi loại, có thể là mức tối thiểu và tối đa, có thể là dựa vào giá trị hàng phạm pháp hoặc số lợi bất chính, hoặc cả hai Việc quy định này tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng được thống nhất, nhanh chóng và có hiệu quả, tránh được tình trạng tùy tiện khi quyết định hình phạt
Tiêu chí thứ hai, hệ thống hình phạt trong Phần chung phải được xây dựng một cách khoa học, cân đối và hợp lý để làm cơ sở cho việc quy định một cách
chính xác các chế tài cụ thể đối với các tội phạm tương ứng trong Phần riêng của
BLHS21 Hệ thống hình phạt theo BLHS năm 1999 gồm: 1) Cảnh cáo; 2) Cải tạo không giam giữ; 3) Tù có thời hạn; 4) Tù chung thân; 5) Tử hình; 6) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; 7) Cấm cư trú; 8) Quản chế; 9) Tước một số quyền công dân; 10) Tịch thu tài sản; 11) Phạt tiền và 12) Trục xuất Trong đó, năm loại hình phạt đầu tiên là hình phạt chính; năm loại hình phạt tiếp theo là hình phạt bổ sung; hai loại hình phạt cuối cùng là hình phạt có thể tùy từng trường hợp cụ thể tương ứng mà được áp dụng với tính chất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung; đối với người bị kết án là người chưa thành niên phạm tội – nhà làm luật quy định là Tòa án chỉ được áp dụng ba loại hình phạt chính ít nghiêm khắc đầu tiên mà không được phép áp dụng hai hình phạt cuối cùng nghiêm khắc hơn và tất cả các loại hình phạt bổ sung Một loại hình phạt được quy định với tính chất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung và chỉ áp dụng với người nước ngoài phạm tội – Trục xuất
Tiêu chí thứ ba, việc quy định trình tự áp dụng của các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt tương ứng (phù hợp) với sự phân chia tội phạm thành các loại (nhóm) nhất định trong Phần chung BLHS22 Mỗi loại hình phạt, nhà làm luật quy định khi nào được áp dụng là hình phạt chính, khi nào áp dụng là hình phạt bổ sung cũng như được và không được áp dụng cùng loại hình phạt nào Do đó, trong mỗi tội phạm cụ thể phải tuân thủ quy định này
Tiêu chí thứ tư, trong hệ thống hình phạt thể hiện rõ được tính chất và mức độ
nghiêm khắc khác nhau của các loại hình phạt tương ứng với tính chất mức độ cho
xã hội của các loại (nhóm) tội phạm được quy định trong BLHS23 Các loại hình
Trang 24phạt có tính liên tục từ hình phạt từ nhẹ đến nặng, đồng thời cũng thể hiện được sự nghiêm khắc của nó Mỗi loại hình phạt khác nhau được áp dụng tùy thuộc vào tính chất cho mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Trong đó, hình phạt tử hình sẽ tước bỏ quyền sống của người bị kết án, là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt
Như vậy, hệ thống hình phạt trong BLHS 1999 được nhà làm luật quy định rất
cụ thể, rõ ràng, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu của hệ thống hình phạt có tính khả thi Tuy nhiên, nhằm hoàn thiện BLHS và đạt được hiệu quả cao nhất mà nhà làm luật mong muốn khi đặt ra hệ thống hình phạt, cần tiếp tục tiến hành nghiên cứu pháp luật hình sự trong nước cũng như pháp luật hình sự nước ngoài trong đó có hình phạt tiền
1.1.2 Lý luận chung về hình phạt tiền
“Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội khoản tiền nhất định sung
công quỹ Nhà nước”24
“Phạt tiền là hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định để sung công quỹ Nhà nước”25
“Phạt tiền là Tòa án buộc người phạm tội phải nộp một số tiền theo quy định
của pháp luật để sung quỹ Nhà nước”26
“Phạt tiền là hình phạt tước ở người phạm tội một khoản tiền nhất định để
sung quỹ Nhà nước, tác động đến tình trạng kinh tế, tài sản của người phạm tội và qua đó tác động đến ý thức của người phạm tội”27
Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội
luật gia Việt Nam, tr 278
26
Đinh Văn Quế, tlđd (5), tr 250
Trang 25Qua các quan điểm trên, về cơ bản những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của hình phạt tiền đã được chỉ ra, tuy nhiên từ góc độ một khái niệm pháp lý tác giả đồng
tình với quan điểm: “Phạt tiền là hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền
nhất định sung công quỹ Nhà nước”28 của ThS Đinh Thế Hưng, TS Trần Văn Biên
và cũng là quan điểm của nhà nghiên cứu khoa học luật hình sự Lý Văn Tầm29 cùng một số nhà nghiên cứu khác Đây là khái niệm ngắn gọn, phản ánh tương đối đầy đủ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cũng như nội dung của hình phạt tiền Hơn nữa, khái
niệm trên sử dụng thuật ngữ pháp lý “người bị kết án” thay cho thuật ngữ “người
phạm tội” là rất hợp lý, chính xác Bởi vì, nếu “người phạm tội” tuy có thực hiện
hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự (kể cả trước hoặc thậm chí
sau khi bị xét xử) thì đều không thể bị áp dụng hình phạt; trên thực tế chỉ có “người
bị kết án” – người đã bị Tòa án xét xử và tuyên bản án kết tội có hiệu lực pháp luật
– mới bị áp dụng hình phạt (nếu không được miễn)30
1.1.2.2 Đặc điểm của hình phạt tiền
Hình phạt tiền là hình phạt trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS Do đó, ngoài những đặc điểm chung của hình phạt trong hệ thống các loại hình phạt, nó còn có những đặc trưng riêng
Thứ nhất, hình phạt tiền với tính chất là chế tài hình sự trong tương quan với
các chế tài khác như chế tài hành chính, dân sự hoặc kinh tế là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất mặc dù mức phạt chỉ 1.000.000 đồng Bởi vì các chế tài khác không bị coi là có án tích, còn chế tài hình phạt tiền ngoài tước đi ở người bị kết án một khoản tiền nhất định, nghĩa là trực tiếp làm hạn chế về mặt lợi ích vật chất, hơn hết để lại hậu quả án tích cho người bị kết án Khi bị mang án tích sẽ là đặc điểm về nhân thân bất lợi cho người có đặc điểm đó trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội cũng như khi có hành vi vi phạm pháp luật hay phạm tội 31
Thứ hai, như đã đề cập về khái niệm hình phạt tiền, nội dung của hình phạt
tiền là sự tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước Hình phạt tiền có khả năng tác động một cách trực tiếp và có hiệu quả về mặt
27
Nguyễn Hoàng Lâm (2008), Hình phạt tiền trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 6
Lê Văn Cảm, Trịnh Tiến Việt (2008), “Thực trạng các quyđịnh của pháp luật hình sự Việt Nam về hệ
thống hình phạt và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế – Luật, (24), tr 212
31
Trịnh Quốc Toản (2011), Hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr 23
Trang 26kinh tế đối với người phạm một số tội trong lĩnh vực nhất định nhằm tước đoạt các khoản tiền nhất định, qua đó giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội đồng thời thực hiện giáo dục, phòng ngừa chung Tuy nhiên, phạt tiền không phải là một biện pháp kinh tế thuần túy, khi tác động tới những lợi ích nhất định của người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, răn đe những người “không vững vàng” tránh để không bước vào con đường phạm tội Chính vì thế tước bỏ một khoản tiền nhất định của người bị kết án sung công quỹ Nhà nước nhưng mục đích kinh tế không phải là mục đích chính khi Nhà nước quy định hình phạt tiền và áp dụng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm32 Để hình phạt tiền được áp dụng thống nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án, nhà làm luật đã quy định rõ tại Điều 30 BLHS, trường hợp nào áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, trường hợp nào áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cũng như quy định phạm vi, mức phạt một cách rõ ràng
Thứ ba, người bị kết án được giáo dục, cải tạo và thi hành án trong một môi
trường hoàn toàn bình thường, không bị cách ly khỏi xã hội Đặc điểm này vừa thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đối với người bị kết án nhưng vẫn đạt được mục đích của hình phạt
1.1.2.3 Vị trí, ý nghĩa của hình phạt tiền
Trong luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt được phân thành hai nhóm là hình phạt chính và hình phạt bổ sung Trong đó, phạt tiền là hình phạt được quy định với cả hai tư cách vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung Quy định này đã góp phần đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, cho thấy hình phạt tiền có vị trí và vai trò rất quan trọng không chỉ có giá trị khi được áp dụng là hình phạt chính mà còn được phát huy ở cả vai trò một hình phạt bổ sung
Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính cùng với cải tạo không giam giữ
“Người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà
nước” có khả năng tác động về mặt kinh tế đối với người bị kết án Tuy nhiên, sự
tác động mà hình phạt tiền mang lại mạnh mẽ và trực tiếp hơn Nhưng xét về vị trí trong hệ thống hình phạt thì hình phạt tiền là loại hình phạt nhẹ hơn so với cải tạo không giam giữ Hình phạt tiền với tư cách hình phạt chính, biện pháp giữ vị trí nối tiếp giữa cảnh cáo là biện pháp ít nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt và cải tạo không giam giữ là biện pháp xử lý nhẹ hơn tù có thời hạn, tạo nên tính liên tục
32 Lý Văn Tầm, tlđd (29), tr 20
Trang 27theo hướng tăng dần từ nhẹ đến nặng trong hệ thống hình phạt Do đó, hình phạt tiền góp phần tạo nên được tính thống nhất của hệ thống hình phạt
Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung, tuy chỉ được áp dụng kèm theo các hình phạt chính (không đồng thời áp dụng với hình phạt chính là hình phạt tiền), không có ý nghĩa quyết định như hình phạt chính nhưng có vai trò nổi bật thể hiện ở chính tác dụng phòng chống tội phạm, hỗ trợ, củng cố và tăng cường kết quả của hình phạt chính áp dụng đối với người phạm tội Bên cạnh đó, còn có tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục người bị kết án Như vậy, quy định này đã góp phần làm
đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự trong hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm, giúp cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với hành vi phạm tội ở mức độ cao nhất, đồng thời bảo đảm được tính thống nhất, công bằng trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp
Việc quy định và áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội sẽ tiết kiệm được những chi phí xã hội cho việc giáo dục, cải tạo Hơn nữa, người phạm tội không bị cách ly khỏi xã hội, được sống và làm việc trong môi trường hoàn toàn bình thường qua đó thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta
1.1.2.4 Mục đích của hình phạt tiền
Trong luật hình sự Việt Nam, hình phạt được quan niệm là công cụ, phương tiện đấu tranh phòng chống tội phạm, là biện pháp bảo đảm và phát huy dân chủ Đây là một quan niệm tiến bộ Nhưng vai trò của hình phạt được phát huy đến mức nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, khách quan cũng như chủ quan, trong đó việc nhận thức về bản chất, mục đích và khả năng của hình phạt có một ý nghĩa quan trọng33
Hình phạt tiền khi được Tòa án áp dụng như những hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, mục đích trước hết là tác động trực tiếp đến người phạm tội, không chỉ trừng trị mà còn giáo dục, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt tiền tước một
số quyền lợi vật chất của người bị kết án, tác động đến kinh tế (tình hình tài sản) của họ, làm cho họ nhận ra được hành vi sai lầm của bản thân và tính tất yếu của hình phạt đối với hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện Đồng thời, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Phạt tiền là hình phạt tác động trực tiếp đến kinh tế của người bị kết án, tuy nhiên hình phạt này không phải là một biện pháp mang bản chất kinh tế thuần túy, bởi người bị kết án sẽ
33
Nguyễn Mạnh Khánh, tlđd (12), tr 21
Trang 28bị mang án tích bên cạnh bị tước đi một khoản tiền nhất định Đây chính là đặc điểm cơ bản để phân biệt hình phạt tiền với các biện pháp cưỡng chế khác như tịch thu tài sản, tịch thu vật tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm hay các chế tài khác như chế tài hành chính, dân sự và cũng thể hiện được tính nghiêm khắc của hình phạt này Khoản tiền mà người bị kết án tước bỏ được sung quỹ Nhà nước và sẽ tạo
ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nhưng đây không phải là mục đích chính khi Nhà nước quy định hình phạt tiền và áp dụng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mà nguồn thu này chỉ là hệ quả của việc áp dụng hình phạt tiền với người phạm tội và hành vi do họ gây ra
1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tiền
1.2.1 Quy định về hình phạt tiền từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Pháp luật hình sự hiện nay có xu hướng ngày càng mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền để phát huy vai trò của nó Hình phạt tiền là hình phạt được ghi nhận rất sớm kể cả trong pháp luật phong kiến khi tính hà khắc của hình phạt đặt ra rất cao Mặc dù, những hình phạt trong Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử là những hình phạt mang tính chất thể hình, rất nghiêm khắc nhưng hình phạt tiền vẫn có sự hiện diện và được quy định lần đầu tiên trong Bộ luật này từ thời kỳ Nhà Lê được ban hành vào năm 1483 (Điều 26 Bộ luật Hồng
Đức: “Những tội xử phạt tiền gồm có 3 bậc, bậc thứ nhất từ 300 quan đến 500 qua,
bậc thứ nhì từ 60 quan đến 200 quan, bậc 3 từ 5 quan đến 50 quan”)34
Tuy không đóng vai trò chủ yếu, trọng tâm như những hình phạt về mặt thể hình nhưng đã bắt đầu có và rõ ràng đã chứng tỏ được giá trị, vai trò của hình phạt này Đây là tư tưởng lập pháp hết sức tiến bộ của ông cha ta lúc bấy giờ35 Vào những năm Pháp xâm lược, nước ta bị chia thành ba xứ là Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ với ba chế
độ chính trị khác nhau Thời kỳ này, pháp luật hình sự ở ba xứ chịu sự ảnh hưởng nặng nề của pháp luật hình sự Pháp và đều quy định hình phạt tiền là hình phạt chính
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa
ra đời Bấy giờ, Nhà nước đặt ra yêu cầu phải có hệ thống pháp luật đủ mạnh, đặc biệt là pháp luật hình sự để trấn áp các lực lượng phản động, chống phá cách mạng
và nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ nhân dân Ngay sau khi giành được chính
Trang 29quyền, ngày 13/9/1945, Chính phủ Lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 33C thành lập Tòa án quân sự tại Hà Nội và nhiều địa phương trong cả nước từ Bắc vào Nam Trong Sắc lệnh này chưa quy định phạt tiền mà chỉ có quy định ba loại hình phạt sau: Tịch thu một phần hay tất cả tài sản; Phạt tù từ một năm đến mười năm; Xử
tử36 Nhưng sau đó không lâu, hình phạt tiền được quy định trong hàng loạt văn bản: Sắc lệnh số 68 SL ngày 30/11/1945 ấn định thể lệ trưng dụng, trưng thu và trưng tập; Sắc lệnh số 27 SL ngày 28/02/1946 quy định việc trừng trị những hành vi bắt cóc, tống tiền và ám sát; Sắc lệnh số 40 SL ngày 29/3/1946 quy định về việc bắt người và giám cứu; Sắc lệnh số 51 SL ngày 17/4/1946, tại Điều thứ 5 của Sắc lệnh
có quy định: “Những án phạt bạc từ 0 đ 50 đến 9 đ 00” (đ có nghĩa là “đồng”, đơn
vị tiền tệ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lưu dụng từ năm 1946 đến ngày 2/5/1978 Một đồng chia thành 10 hào, một hào bằng 10 xu) và Điều thứ 10 của Sắc
lệnh có quy định: “Những việc tiểu hình là những việc có thể bị phạt tù từ 6 ngày
đến 5 năm, hay bị phạt bạc trên 9 đ 00”, (trước đây gọi là phạt bạc nay gọi là phạt
tiền); Sắc lệnh số 157 SL ngày 16/8/1946 quy định các thứ thuốc bào chế phải có dán nhãn hiệu; Sắc lệnh số 223 SL ngày 27/11/1946 quy định về tội đưa, nhận hối
lộ, phu lam, biển thủ; Sắc lệnh số 61 SL ngày 5/7/1947 cấm xuất cảng tư bản Mặc
dù đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự nhưng hình phạt tiền không được quy định rõ tính chất là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung, tuy nhiên nhìn nhận từ nội dung của nó thì hình phạt tiền được áp dụng vừa là hình phạt chính, vừa
là hình phạt bổ sung Ví dụ, Điều 12 của Sắc lệnh số 68 SL ngày 30/11/1945 quy
định: “Người nào nhận được lệnh trưng thu, trưng dụng hoặc trưng tập mà không
tuân thì có thể bị phạt từ 500 đồng đến 10.000 đồng”; Điều 1 Sắc lệnh số 223 SL
ngày 27/11/1946 quy định: “Tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối
lộ, hoặc phu lam, hoặc biển thủ công quỹ hay của công dân đều bị phạt khổ sai từ 5 năm đến 20 năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phu lam hay biển thủ”37
Trong những năm 1946 – 1954, là thời kỳ củng cố chính quyền mới giành được, là tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược Tuy điều kiện đất nước có nhiều khó khăn nhưng vẫn rất chú trọng đến công tác pháp luật Một số lượng văn bản pháp luật rất lớn được ban hành, trong đó một số văn bản quy định về hình phạt tiền như:
Sắc lệnh số 144 SL ngày 02/03/1948 quy định về việc cấm giết mổ trâu bò trong Toàn cõi Việt Nam Ai phạm vào lệnh cấm này, sẽ bị phạt tiền từ 1.000 đến
Trang 302.000 đồng Trong trường hợp tái phạm, có thể bị phạt tiền gấp đôi và bị tù từ một tháng đến sáu tháng (Điều 3 của Sắc lệnh)
Sắc lệnh 168 SL ngày 14/4/1948 trừng trị tội đánh bạc Trong Sắc lệnh này
hình phạt tiền được quy định tại hai điều luật: Điều 2 quy định: “Những người nào
tổ chức một cuộc đánh bài, đánh bạc, một trò chơi kể trong Điều 1, không cứ một nơi nào, đều bị phạt tù 2 năm đến 5 năm và phạt bạc từ 10.000 đồng đến 1000.000 đồng”; “Các người làm công khác, giúp trực tiếp vào cuộc chơi đều là tòng phạm Những người nào đáng bạc hay dự vào cuộc chơi nói trên sẽ bị phạt tù từ 1 năm đến 3 năm và phạt bạc từ 5.000 đồng đến 50.000 đồng” và Điều 3 quy định: “Các việc làm bày bán, tang trữ, lưu hành các vũ khí chuyên dùng để đánh bạc đều cấm hẳn Những người phạm vào điều này sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm và phạt bạc từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng”
Sắc lệnh số 257 SL ngày 19/11/1948 về cấm chỉ mọi sự tích trữ có tính đầu cơ những hàng hóa cần thiết cho đời sống nhân dân Điều 2 của Sắc lệnh này quy định: những sự phạm pháp đối với Sắc lệnh này sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù và bị phạt từ 500 đồng đến 100.000 đồng phạt, hoặc một trong hai thứ hình phạt đó Sắc lệnh số 128 SL ngày 14/12/1950 quy định về tội trộm cắp Những kẻ phạm tội bóc trộm, ăn cắp hay thủ tiêu công văn của chính phủ sẽ bị truy tố trước Tòa án và bị phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm, phạt tiền từ 1.000 đến 10.000 đồng, hay
là một trong hai hình phạt ấy (Điều 1) Như vậy, giai đoạn này các văn bản pháp luật đã ghi nhận phạt tiền là hình phạt được áp dụng với người phạm tội Tuy nhiên mức độ quy định còn khá chung chung, nội dung chưa cụ thể, rõ ràng
Hình phạt tiền từ năm 1955 đến năm 1970 đã có những bước tiến Trong đó,
từ năm 1955 đến trước năm 1970, quy định của các văn bản pháp luật về hình phạt tiền đã cụ thể hơn so với giai đoạn trước, từ chỗ đơn giản đi đến những quy định chi tiết, rõ ràng, thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn Đó là những văn bản: Sắc lệnh 282/SL
ngày 14/12/1956, tại Điều 13 quy định: “Báo chí nào vi phạm Điều 10, sẽ bị trừng
phạt: tùy theo lỗi nặng nhẹ mà cảnh cáo, tịch thu ấn phẩm, đình bản tạm thời, hoặc
bị truy tố trước Tòa án, có thể bị phạt tiền từ năm vạn đồng (50.000 đồng) đến hai chục vạn đồng (200.000 đồng)”; Sắc luật số 003 SLT ngày 18/6/1957 về quyền tự
do xuất bản, Điều 16 có quy định: “Nhà xuất bản hay cá nhân xuất bản nào vi phạm
Điều 12 thì cơ quan có thẩm quyền tùy theo trường hợp nặng nhẹ mà cảnh cáo, thu hồi tạm thời giấy phép hoặc truy tố trước Tòa án Tòa án có thể xử phạt tiền từ năm vạn đồng (50.000 đồng) đến hai chục vạn đồng (200.000 đồng)”; Sắc luật số 001-
Trang 31SLT ngày 19/4/1957 cấm chỉ mọi hành động đầu cơ, Điều 3: “Những người vi phạm
luật này và những người đồng phạm, tùy theo tội nhẹ hay là nặng có thể bị truy tố trước Tòa án và có thể bị phạt tiền từ mười vạn đồng (100.000 đồng) đến hai chục vạn đồng (200.000 đồng)” Tuy nhiên, đến năm 1970, trong Pháp lệnh Trừng trị các
tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và trong Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân đều có quy định hình phạt tiền, nhưng phạt tiền chỉ
là hình phạt phụ, nay gọi là hình phạt bổ sung Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa đươc công bố theo Lệnh số 149 LCT của Chủ tịch nước nên còn gọi là Pháp lệnh số 149, khoản 3 Điều 20 của Sắc lệnh này quy định:
“Phạm một trong những tội quy định ở các Điều 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 15
thì tùy theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm hoặc nguồn thu lợi bất chính, có thể bị phạt tiền từ 50 đồng đến 5.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản” Và Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân được
công bố theo Lệnh số 150 LCT của Chủ tịch nước hay còn gọi là Sắc lệnh số 150,
tại khoản 3 Điều 16 quy định rằng: “Phạm một trong những tội quy định ở các Điều
3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 13 thì tùy theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm hoặc nguồn thu bất chính mà có thể bị phạt tiền từ 50 đồng đến 3.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản”
Sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975), ngày 15/3/1976 Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam ban hành Sắc luật số 03 SL/76 quy định các tội phạm và hình phạt Trong Sắc luật này, hình phạt tiền được quy định tại hai điều
luật, cụ thể là: tại Điều 6, Tội kinh tế, quy định: “Phạm một trong các tội trên đây
thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm và phạt tiền đến 50.000 đồng Ngân hàng”; và tại
Điều 9, Tội xâm phạm đến trật tự công cộng và sức khỏe của nhân dân có quy định:
“Cờ bạc, tổ chức ổ mại dâm, buôn bán, tang trữ ma túy và các chất độc khác, thì bị
phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm Trong mọi trường hợp, có thể bị phạt tiền đến 1000 đồng Ngân hàng” Đây là một
trong những văn bản pháp luật hình sự Nhà nước ta ban hành nhằm phục vụ cho việc thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trong cấp bách là trấn áp bọn phản cách mạng và tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước sau khi giải phóng
Vào những năm 1980 – 1985, bên cạnh ban hành Bản Hiến Pháp mới – Hiến Pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều luật, pháp lệnh quan trọng Trong đó, nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật, tăng cường hiệu quả quản lý Bộ máy Nhà nước, hai Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ
Trang 32(thông qua ngày 20/5/1981) và Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (thông qua ngày 30/6/1982) được Nhà nước ban hành trong giai đoạn này để đáp ứng yêu cầu trên Hình phạt tiền trong hai pháp lệnh này với tư cách là hình phạt bổ sung và mức phạt tiền cũng được nâng lên, tại Điều 7 Pháp
lệnh trừng trị các tội hối lộ quy định: “còn có thể bị phạt tiền từ 1 đến 3 lần giá trị
của hối lộ” và ở khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, làm hàng giả, kinh
doanh trái phép quy định: “bị phạt tiền gấp 3 lần giá trị hàng phạm pháp”; khoản 3 Điều 3: “bị phạt tiền từ 5 lần đến 10 lần trị giá hàng phạm pháp”
Như vậy, có thể thấy rằng sau khi Nhà nước ta giành được chính quyền 1945 đến năm 1985 đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật hình sự, tuy nhiên vẫn chưa
có văn bản nào quy định về hệ thống hình phạt Những văn bản pháp luật chủ yếu là những văn bản đơn hành: Sắc lệnh, sắc luật, pháp lệnh, nghị định và là căn cứ áp dụng hình phạt đối với tội phạm cho đến khi BLHS nước ta được ban hành có hiệu lực pháp luật Hình phạt tiền được quy định vừa là hình phạt chính (Sắc lệnh số 51, Sắc lệnh số 168, Sắc luật số 03), vừa là hình phạt bổ sung (Pháp lệnh số 149, Pháp lệnh số 150, Sắc luật số 03) Hình phạt tiền được áp dụng chủ yếu đối với các tội phạm có tính chất vụ lợi nhằm tước đoạt các món lợi bất chính của người phạm tội, trừng phạt về mặt kinh tế và loại trừ điều kiện để họ phạm tội mới Vấn đề đáng lưu
ý là trước năm 1955 do vẫn áp dụng luật của chế độ cũ nên Tòa án vẫn áp dụng Điều 231 để đổi hình phạt tù ra hình phạt tiền Nhưng từ sau năm 1955 không cho phép dùng hình phạt tiền để thay cho hình phạt tù trong những trường hợp đáng phải xử phạt tù38 Hình phạt tiền trong giai đoạn này là được quy định theo giá một
số lượng gạo (giá gạo), bằng một số lần giá trị hàng phạm pháp; mức phạt tiền được
ấn định với mức tối đa và tối thiểu tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội Hình phạt tiền trong giai đoạn này nói chung quy định chưa rõ ràng, đơn giản Tuy nhiên, từ những năm 1970 – 1985 đã được khắc phục và có tiến
bộ hơn
1.2.2 Quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự 1985
BLHS 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 có hiệu lực từ ngày 01/01/1986, là BLHS đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt phát triển quan trọng của pháp luật hình sự BLHS đã có những quy định tội phạm và hình phạt, trong đó, theo quy định tại Điều 21 thì hình phạt tiền vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung, là một bộ phận cấu thành của hệ thống hình phạt Góp phần làm
38
Nguyễn Hoàng Lâm, tlđd (27), tr 20
Trang 33đa dạng hóa hệ thống hình phạt, thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự Nhà nước ta Phạt tiền là hình phạt chính quy định tại 11 điều và là hình phạt bổ sung tại
52 điều trong tổng số 215 điều (Phần các tội phạm) của Bộ luật này
Điều 23 BLHS 1985 quy định phạm vi, điều kiện áp dụng và mức phạt tiền cụ thể như sau:
Phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt tiền, hình phạt tiền là hình phạt tước đi
của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước, tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người phạm tội; được áp dụng đối với người phạm các tội có tính chất vụ lợi, tham nhũng, các tội có dùng tiền làm phương tiện hoạt động hoặc những trường hợp khác do luật quy định ví dụ Điều 90, 91, 201, 202 Phạt tiền theo các quy định của BLHS 1985 chỉ được áp dụng là hình phạt chính trong những trường hợp điều luật quy định tội phạm cụ thể đó là hình phạt tiền, không cho phép áp dụng hình phạt tiền thay cho các hình phạt khác và cũng không cho phép chuyển từ hình phạt chính khác thành hình phạt tiền
Mức phạt tiền, BLHS 1985 quy định mức phạt tiền theo hai cách thức là mức
thấp nhất đến mức cao nhất và theo số lần giá trị hàng phạm pháp hoặc số lợi bất chính Mức phạt tiền được quy định theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả
Như vậy, có thể thấy hình phạt tiền được áp dụng với tư cách hình phạt chính
và hình phạt bổ sung đều chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng số các tội được BLHS 1985 quy định, tương ứng là 4,3% (9/209 tội) và 24% (52/209 tội) Phần lớn các chế tài trong BLHS 1985 không quy định mức phạt tiền tối thiểu mà chỉ quy định mức cao nhất, vì vậy dể dẫn đến tình trạng áp dụng hình phạt tiền một cách tùy tiện Đối với những tội có quy định mức thấp nhất và mức cao nhất thì khoảng cách giữa chúng
khá rộng, ví dụ tại Điều 215 BLHS 1985, khoảng chênh lệch là 40 lần: “phạt tiền từ
năm nghìn đồng (5.000 đồng) đến hai trăm nghìn đồng (200.000 đồng)” (Điều 215
– Tội vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, ấn phẩm khác)
BLHS 1985 đã được sửa đổi, bổ sung ngày 28 tháng 12 năm 1989, ngày 21 tháng 8 năm 1991, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 10 tháng 5 năm 1997 Qua một thời gian áp dụng với nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn nhiều điểm bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, do đó cần phải tiếp tục hoàn thiện những quy định của BLHS để đáp ứng với yêu cầu đó Trong đó, quy định liên quan đến hình phạt tiền tất yếu cần có sự thay
Trang 34đổi, bởi BLHS 1985 chưa thật sự đánh giá đúng vai trò của hình phạt tiền, làm giảm đáng kể hiệu quả trừng trị, giáo dục của hình phạt tiền trên thực tế
Trước tình hình trên, ngày 21/12/1999, BLHS 1999 đã được Quốc hội khóa X
kỳ họp thứ 6 chính thức thông qua thay thế cho BLHS năm 1985, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000 Bên cạnh sự kế thừa thì hình phạt tiền trong BLHS 1999
đã quy định có thay đổi và nhiều điểm mới so với hình phạt tiền trong BLHS 1985
1.2.3 Quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự 1999
1.2.3.1 Điều kiện và phạm vi áp dụng hình phạt tiền
Trong hệ thống hình phạt, phạt tiền vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung Điều kiện và phạm vi áp dụng được quy định cụ thể tại khoản 1, khoản 2 Điều
30 BLHS năm 1999)
“1 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định
2 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định”
Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính
Hình phạt chính là hình phạt được áp dụng một cách độc lập Đối với mỗi tội phạm người bị kết án chỉ có thể bị áp dụng một hình phạt chính Phạt tiền chỉ được
áp dụng là hình phạt chính khi điều luật có quy định áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính Pháp luật hình sự hiện hành quy định điều kiện bắt buộc để áp dụng
hình phạt này là “tội ít nghiêm trọng” – “tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù” (khoản 3
Điều 8 BLHS) BLHS 1999 quy định phạm vi áp dụng hình phạt tiền không căn cứ vào tính chất của tội phạm như tính chất vụ lợi, tính chất tham nhũng mà căn cứ theo nhóm tội nhất định – căn cứ vào khách thể của tội phạm, gồm những trường hợp cụ thể sau:
- Tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Là những trường hợp người phạm tội đã phạm vào một trong các tội quy định tại Chương XVI BLHS, người phạm tội có những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước trong trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến các
Trang 35quan hệ xã hội bảo đảm cho sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nước Những quy định này thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất, kinh doanh hàng hóa, tiền tệ, quản lý đất đai, tài nguyên, quản lý và bảo vệ rừng Ngoài ra, còn được thể hiện ở những quy định, chế độ, nguyên tắc, chính sách liên quan đến nhiều lĩnh vực khác
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được quy định tại 24 điều luật, chiếm
tỷ lệ 68,5% trong tổng số 35 điều của Chương XVI Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính bao gồm những tội phạm cụ thể: Tội buôn lậu (khoản 1 Điều 153); Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (khoản 1 Điều 154); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (khoản 1 Điều 155); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (khoản 1 Điều 158); Tội kinh doanh trái phép (khoản 1 Điều 159); Tội đầu cơ (khoản 1 Điều 160); Tội trốn thuế (khoản 1, 2 Điều 161); Tội lừa dối khách hàng (khoản 1 Điều 162); Tội cho vay lãi nặng (khoản
1 Điều 163); Tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả (khoản 1 Điều 164); Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (khoản 1 Điều 164a); Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (khoản 1 Điều 164b); Tội quảng cáo gian dối (khoản 1 Điều 168); Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (khoản 1, 2 Điều 171); Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (khoản 1 Điều 172); Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (khoản 1, 2 Điều 173); Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (khoản 1 Điều 175); Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện (khoản 1 Điều 177); Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (khoản 1 Điều 178); Tội
vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (khoản 1 Điều 179)
Mức phạt tiền thấp nhất chiếm đa số trong các tội ở trên là năm triệu đồng và mức cao nhất là một tỷ đồng Các tội quy định tại khoản 1, 2 Điều 161 BLHS và khoản 1 Điều 163 BLHS không quy định mức phạt tiền là bao nhiêu triệu đồng, mà lại quy định mức phạt tiền theo số lần giá trị hàng phạm pháp hoặc số lợi bất chính với mức phạt thấp nhất là một lần và cao nhất là mười lần Về cơ bản mức phạt tiền quy định với nhóm tội này tại thời điểm ban hành luật là hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên, với tình hình kinh tế hiện nay thì mức phạt tiền đối với người phạm tội còn thấp, hơn nữa tại Điều 161 BLHS và Điều 163 BLHS quy định mức phạt tiền theo giá trị phạm pháp, quy định này gây rất nhiều khó khăn cho thực tiễn xét xử của
Trang 36Tòa án, bởi người phạm tội có tâm lý thường khai báo không trung thực, dẫn đến quyết định mức phạt tiền không tương xứng với hành vi phạm tội, tính trừng trị và giáo dục của hình phạt bị hạn chế đi rất nhiều
- Tội phạm về môi trường
Việc ban hành chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường và các luật khác có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường là điều tất yếu khách quan, là công cụ quản lý, điều hành việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường cũng như việc quản lý chất thải nhằm phòng chống ô nhiễm môi trường Được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước, các biện pháp xử lý hình sự là một trong những biện pháp góp phần vào công cuộc đó Trong BLHS hiện hành, nhà làm luật đã quy định các tội phạm liên quan đến môi trường thành một chương riêng – Chương XVII – Các tội phạm về môi trường Theo Điều 30 BLHS không có quy định các tội về môi trường, tuy nhiên phạt tiền lại là chế tài được áp dụng ở tất cả các tội Có 11/11 điều luật có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, chiếm tỷ lệ 100% các điều luật của Chương này (từ Điều 182 – Điều 191a BLHS)
Qua nghiên cứu mức phạt tiền được áp dụng đối với nhóm tội này, tác giả thấy rằng, có 04 tội quy định mức phạt tiền tối thiểu là mười triệu đồng, 05 tội quy định mức tối thiểu là năm mươi triệu đồng và 01 tội với mức tối thiểu là hai trăm triệu đồng; với mức phạt tiền tối đa: một tỷ có 01 tội, năm trăm triệu có 06 tội và 03 tội quy định một trăm triệu Với đặc thù của các tội phạm về môi trường thì việc tăng cường áp dụng hình phạt tiền là rất phù hợp và đúng đắn Hơn nữa, để cải thiện môi trường sống, phòng ngừa, khắc phục các thiệt hại về môi trường cần những khoản chi phí rất lớn, do đó việc áp dụng hình phạt tiền với giá trị lớn là một trong những những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường cũng như bảo đảm hiệu quả, tính trừng trị, răn đe và giáo dục của hình phạt tiền đối với hành vi phạm tội Các hành
vi vi phạm pháp luật, xâm hại môi trường liên tục được phát giác, ví dụ các vụ việc như: Vedan, Miwon, Sonadezi, Italiasa Tuy nhiên, các trường hợp này cũng chỉ là những ví dụ điển hình của hàng loạt các hành vi xâm hại môi trường đang diễn ra hàng ngày, thực tiễn xét xử cho thấy đây là nhóm tội ít được áp dụng nhất Hơn nữa, với những hậu quả đã gây ra cho môi trường để khắc phục tình trạng đó, mức phạt tiền như trên chưa phù hợp và còn rất thấp so với mức chi phí khắc phục đòi hỏi có khi lên đến nhiều tỷ đồng Do đó, nhà làm luật nên quy định tăng mức phạt tiền các tội của chương này trong lần sửa đổi, bổ sung BLHS thời gian tới
Trang 37- Tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng
Giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Hơn nữa, an toàn, trật tự công cộng là một trong những thước đo, tiêu chí để đánh giá sự ổn định của xã hội, đánh giá sức mạnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật, khả năng quản lý của các cơ quan tổ chức; đồng thời nó cũng đánh giá được ý thức pháp luật, văn minh pháp lý công dân Trước tầm quan trọng đó, nhà làm luật đã quy định các tội xâm phạm an toàn công cộng trong một chương, Chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng của BLHS
Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính có 32/59 điều luật, chiếm 54% các tội phạm của chương Mức phạt tiền thấp nhất đối với các tội phạm ở chương này là một triệu đồng (01 điều luật) và mức phạt tiền cao nhất lên tới một tỷ đồng (01 điều luật) Nhìn chung, mức phạt này phù hợp với xu hướng vận động và phát triển của xã hội cũng như thể hiện rõ chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là giảm hình phạt tù, tăng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ
- Tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Trong BLHS các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính cũng được nhà làm luật xây dựng thành một chương riêng, Chương XX – Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính Quy định này xuất phát từ vai trò quan trọng của quản lý hành chính Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và ổn định kinh tế, xã hội; bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân Trong tổng số 20 điều luật của chương này, có 7 điều luật quy định áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, bao gồm: Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức (khoản 1 Điều 266); Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (khoản 1 Điều 267); Tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội (khoản 1 Điều 268); Tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hĩnh, băng hình hoặc các ấn phẩm khác (khoản 1 Điều 271); Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng (khoản 1 Điều 272); Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới (khoản 1 Điều 273); Tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; Tội ở lại Việt Nam trái phép (khoản 1 Điều 274)
Trang 38Hình phạt tiền được áp dụng đối với các tội phạm trên, có mức phạt thấp nhất
là một triệu đồng (02 điều luật), mức phạt cao nhất là một trăm triệu đồng (01 điều luật) Có thể thấy, các tội này có tính nguy hiểm cho xã hội không cao, đa số là các tội ít nghiêm trọng và gặp nhiều trong thực tiễn nên việc áp dụng hình phạt tiền là
đủ và vẫn bảo đảm được mục đích của hình phạt mà không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các tội này Tuy nhiên, việc chỉ quy định 07 trong tổng số 20 điều luật của Chương XX còn rất hạn chế và với tình hình kinh tế hiện nay cần tăng mức phạt tiền để bảo đảm tính cưỡng chế, tính răn đe người phạm tội Do đó, cần phải mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền với các tội phạm này và cũng phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
- Các tội phạm khác mà Bộ luật hình sự có quy định hình phạt tiền là hình
phạt chính
Bên cạnh các tội trên, hình phạt tiền còn được quy định là hình phạt chính ở một số tội phạm khác trong BLHS Đó là: Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (khoản 1 Điều 125) được quy định tại Chương XIII – Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; Tội sử dụng trái phép tài sản (khoản 1 Điều 142) thuộc Chương XIV – Các tội xâm phạm sở hữu
và Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác (khoản 1 Điều 201) trong Chương XVIII – Các tội phạm về ma túy
Như vậy, qua khảo sát cho thấy trong 76 điều luật quy định áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, nhà làm luật đều quy định hình phạt này trong chế tài lựa chọn với các hình phạt chính khác như cải tạo không giam giữ, cảnh cáo Quy định này tạo điều kiện cho Tòa án trong quá trình xét xử có thể lựa chọn hình phạt phù hợp nhất với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong từng trường hợp cụ thể cũng như bảo đảm đạt được hiệu quả của hình phạt được áp dụng Tuy nhiên, về loại tội được áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính không chỉ là loại tội ít nghiêm trọng mà còn áp dụng với các loại tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng Đây là điểm chưa thống nhất với quy định của Phần chung BLHS Về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, số lượng tội áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính còn ít Do đó, cần quy định thêm việc
áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính ở nhóm tội này
Trang 39 Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung
Hình phạt bổ sung là hình phạt áp dụng kèm với hình phạt chính Nếu Tòa án không áp dụng hình phạt chính đối với một người thì cũng không được phép áp dụng hình phạt bổ sung đối với họ Người bị kết án chỉ có thể bị áp dụng một hình phạt chính nhưng lại có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hoặc không bị áp dụng hình phạt bổ sung nào Phạt tiền chỉ có thể được tuyên là hình phạt bổ sung nếu điều luật
có quy định áp dụng hình phạt này là hình phạt bổ sung Theo khoản 2 Điều 30
BLHS, phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung trong những trường hợp sau:
- Các tội về tham nhũng
Nhận thức sâu sắc những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng, Đảng
và Nhà nước ta luôn luôn chú trọng đến việc phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng Trong điều kiện hiện nay, Đảng và Nhà nước ta coi tham nhũng là một
“quốc nạn” và công cuộc phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị Vì vậy, Nhà nước ta cũng đã quy định các tội phạm về tham nhũng thành một mục riêng trong Chương XXI – Các tội phạm về chức vụ
Các tội về tham nhũng gồm 07 điều luật trong BLHS hiện hành cho phép áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung: Tội tham ô tài sản (khoản 5 Điều 278); Tội nhận hối lộ (khoản 5 Điều 279); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (khoản 5 Điều 280); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công
vụ (khoản 4 Điều 281); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (khoản 4 Điều 282); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (khoản 5 Điều 283); Tội giả mạo trong công tác (khoản 5 Điều 284)
Trong nhóm các tội phạm này, có 02 tội quy định mức phạt tiền theo giá trị phạm pháp, mức phạt tiền thấp nhất là 1 lần và cao nhất là 5 lần; 05 tội quy định mức phạt tiền tối thiểu và tối đa, thấp nhất là ba triệu đồng và cao nhất là năm mươi
triệu đồng Trước vấn đề tham nhũng là hiện tượng tiêu cực, làm “suy kiệt cơ thể”
xã hội, Đảng và Nhà nước ta thể hiện rõ quan điểm trong việc nghiêm trị những hành vi phạm tội, hình phạt chính áp dụng đối với các tội tham nhũng rất nghiêm khắc, thấp nhất là tù có thời hạn, cao nhất là tử hình (khoản 4 Điều 278 BLHS, khoản 4 Điều 279 BLHS) Tuy nhiên, để xử lý triệt để loại tội phạm này, cũng như phát huy được hiệu quả cao nhất của hình phạt, nhà làm luật cần quy định thêm các
Trang 40hình phạt bổ sung bắt buộc là cấm đảm nhiệm chức vụ và hình phạt bổ sung lựa chọn là hình phạt tiền, tịch thu tài sản
- Các tội về ma túy
Ma túy là chất gây tác hại to lớn, lâu dài về mọi mặt đời sống và xã hội Các tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng, phương thức và thủ đoạn rất tinh vi và phức tạp Năm 2014, các lực lượng chức năng đã bắt giữ hơn 19.000 vụ, 28.000 đối tượng liên quan đến ma túy39
BLHS đầu tiên năm 1985 chỉ có Điều 96a và Điều 203 quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma tuý nhưng đến BLHS 1999 nhà làm luật đã xây dựng một chương riêng, Chương XVIII – Các tội phạm về ma túy Tất cả 09 điều luật của chương này đều có quy định áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt
bổ sung gồm: Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý (khoản 3 Điều 192); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (khoản 5 Điều 193); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (khoản 5 Điều 194); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (khoản 5 Điều 195); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (khoản 3 Điều 196); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (khoản 5 Điều 197); Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý (khoản 3 Điều 198); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (khoản
5 Điều 200); Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác (khoản 5 Điều 201)
Qua nghiên cứu thấy rằng, đa số các tội này có quy định mức phạt tiền bổ sung thấp nhất chiếm đa số là năm triệu đồng (06/09 điều luật), mức phạt cao nhất năm trăm triệu đồng (04/09 điều luật) và hình phạt tiền được quy định trong chế tài hình phạt bổ sung lựa chọn với tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (06/09 điều luật)
- Các tội phạm khác mà Bộ luật hình sự có quy định hình phạt tiền là hình