Theo quy định của pháp luật hiện hành, mại dâm là hành vi vi phạm pháp luật, tuy nhiên, xét về mặt xã hội, người bán dâm là nhóm người dễ bị tổn thương bị ngược đãi, bạo lực, bị chà đạp
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mại dâm là một vấn đề xã hội khó giải quyết không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới Tệ nạn mại dâm, các tội phạm liên quan đến mại dâm như chứa mại dâm, môi giới mại dâm, mua dâm người chưa thành niên, đặc biệt là hành vi mua bán người vì mục đích mại dâm gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội, sức khỏe cộng đồng, gây bức xúc dư luận
Theo quy định của pháp luật hiện hành, mại dâm là hành vi vi phạm pháp luật, tuy nhiên, xét về mặt xã hội, người bán dâm là nhóm người dễ bị tổn thương (bị ngược đãi, bạo lực, bị chà đạp nhân phẩm, bị bóc lột, lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bị phân biệt đối xử, không tiếp cận được các dịch vụ y tế, xã hội).Do vậy, cần thiết phải có các biện pháp, giải pháp nhằm ngăn chặn sự gia tăng tiến tới giảm thiểu tệ nạn mại dâm; giảm tác hại của tệ nạn mại dâm đối với đời sống cộng đồng và đối với chính người hoạt động mại dâm; hỗ trợ người hoạt động mại dâm hòa nhập cộng đồng cần phải
có các giải pháp đảm bảo các quyền cơ bản, tạo điều kiện cho họ tiếp cận thông tin, nâng cao kiến thức, kỹ năng để họ được tiếp cận các dịch vụ tư vấn và chăm sóc sức khỏe sinh sản, cũng như các dịch vụ xã hội cơ bản khác, đặc biệt tạo cơ hội để tìm kiếm việc làm,
ổn định cuộc sống hòa nhập xã hội
Trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong các năm 2011-2013 thực hiện Quyết định số 679/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hầu hết các tỉnh, thành phố đã được Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn và hỗ trợ triển khai các mô hình thí điểm như: Mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người mại dâm;
Mô hình xã phường không có tệ nạn mại dâm; Mô hình hỗ trợ giảm hại và hòa nhập cộng đồng
Thông qua thực hiện các mô hình nêu trên, các địa phương đã đạt được kết quả nhất định về nhiều mặt như nâng cao nhận thức của các ban ngành, đoàn thể, người dân đối với phòng chống mại dâm; tăng cường công tác quản lý địa bàn, quản lý các
cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm có môi trường dễ phát sinh mại dâm; đấu tranh,
xử lý các đường dây, tổ chức hoạt động mại dâm; hỗ trợ người bán dâm giảm hại về lây nhiễm HIV/AIDS, điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) và hòa nhập cộng đồng Công tác phòng chống mại dâm nói chung, các mô hình thí điểm nói riêng, đã mang lại những kết quả nhất định, góp phần giữ gìn an ninh trật tự xã hội,
Trang 2bảo vệ thuần phong mỹ tục, hạnh phúc gia đình, phòng ngừa lây nhiễm HIV
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trên thì kết quả phòng, chống mại dâm nói chung và hỗ trợ hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm nói riêng còn nhiều hạn chế
Số lượng người tham gia vào hoạt động mại dâm vẫn tăng, tỷ lệ người lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục mà đặc biết là lây nhiễm HIV/AIDS qua con đường tình dục tăng cao; tỷ lệ người bán dâm bị bạo hành và phân biệt đối xử vẫn còn khá cao Các
mô hình thí điểm cho người bán dâm còn thiếu cơ sở pháp lý
Trên thực tế ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về mại dâm tuy nhiên các công trình nghiên cứu thường tập trung vào các vấn đề như: Hậu quả của tệ nạn mại dâm; đặc điểm tâm lý của người; Mại dâm và HIV; Di biến động của người bán dâm Có rất ít công trình nghiên cứu về mại dâm dưới góc nhìn CTXH và đặc biệt là CTXH trong hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm thì chưa có đề tài nào đề cập đến Xuất phát từ những lý do trên trong luận văn tốt nghiệp tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Hỗ trợ Mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội”
với sự tham gia của nhân viên CTXH
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận về mại dâm
-Đánh giá thực trạng và tìm hiểu nhu cầu hỗ trợ sinh kế của phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội
- Đưa ra mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội theo phương pháp CTXH, nhằm giúp phụ nữ bán dâm hòa nhập cộng đồng và ổn định cuộc sống
- Đề xuất các giải pháp để phát triển mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm trên địa bàn
Hà Nội
2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tiến hành thu thập thông tin, phân tích tài liệu, số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Điều tra qua bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu nhu cầu hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại Hà Nội
- Tiến hành các bước CTXH cá nhân nhằm hỗ trợ mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm
- Đề xuất các giải pháp để phát triển mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm
Trang 33 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu và bài viết của các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam đề cập đến vấn đề mại dâm và người bán dâm
3.1 Các nghiên cứu về mại dâm trên thế giới
Trong phạm vi liên quan đến hoạt động hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm, tác giả luận văn chỉ đề cập đến những nghiên cứu gần với đề tài của mình, tiêu biểu như:
+ Nghiên cứu của Lynda M.Baker, Rochelle L.Dalla và Celia Williamson (được xuất bản
bởi SAGE – 2010), sau khi tổng hợp các mô hình thoát khỏi mại dâm đường phố của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới, nhóm tác đưa ra một mô hình tích hợp gồm sáu giai đoạn thoát khỏi mại dâm của phụ nữ đường phố như một nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về quá trình phụ nữ bán dâm đường phố rời bỏ nghề
+ Trong nghiên cứu“Sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại huyện Binga”của Michael
O'Donnell, Mary Khozombah và Selina Mudenda (27/2/2002), Tác giả đã mang đến một góc nhìn mới đối với hoạt động mại dâm - góc nhìn từ cuộc sống và các yếu tố cơ bản phải được giải quyết liên quan đến sự sống còn và nhu cầu vật chất tối thiểu
3.2.Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về vấn đề này, ở Việt Nam hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu
Lê Thị Quý là nhà khoa học đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu về tệ nạn mại dâm và cũng
có nhiều công trình khoa học quan trọng đi sâu phân tích mọi góc cạnh nhất là tâm lý và
xã hội của tệ mại dâm ở Việt Nam sau đổi mới Ngoài ra, còn có một số công trình
nghiên cứu của các tác giả như: Công trình nghiên cứu “Mại dâm và các hệ lụy kinh tế -
xã hội” (1998), của các tác giả: Khuất Thu Hồng, Nguyễn Thị Văn, Lê Thị Phượng, Bùi Thanh Hà; Mại dâm: Một vấn đề xã hội của xã hội Việt Nam đương đại – Tác giả: Phạm
Bích San; Mại dâm ở Việt Nam: Các tác động tới phòng, chống HIV/AIDS – Tác giả: Vũ
Ngọc Bảo…
Qua tổng hợp và tìm hiểu tác giả thấy trên thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về mại dâm với các vấn đề như: Lịch sử mại dâm; Nguyên nhân dẫn đến mại dâm; Các chính sách và pháp luật liên quan đến mại dâm của mỗi quốc gia; Những ảnh hưởng về kinh tế - xã hội của mại dâm; Thống kê về sự tác động kinh tế của mại dâm; Thu nhập của mại dâm…Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu về mại dâm dưới góc độ CTXH
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Trang 4Đề tài góp phần làm sáng tỏ thực trạng hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại thành phố Hà Nội hiện nay.Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nghiên cứu hoạch định, bổ sung những chính sách, chiến lược về các đối tượng yếu thế trong xã hội đặc biệt là những chị em hoạt động mại dâm
Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo CTXH đối với phụ nữ bán dâm nói riêng và ngành công tác xã hội nói chung
5 Đóng góp mới của luận văn
Đề tài mà luận văn nghiên cứu là một cách tiếp cận mới tạo điều kiện cho phụ nữ bán dâm hòa nhập cộng đồng tốt hơn, cũng như giúp phụ nữ bán dâm tiếp cận với nhiều cơ hội
nghề nghiệp nhằm ổn định cuộc sống
6 Đối tƣợng nghiên cứu
Hỗ trợ Mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội
7 Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ bán dâm, Cán bộ (chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội), nhân viên CTXH
8 Câu hỏi nghiên cứu
1/ Thực trạng hoạt động hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội như thế nào?
2/ CTXH có vai trò gì trong việc hỗ trợ mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai?
3/ Các giải pháp nào có thể đưa CTXH thực hiện mô hình sinh kế cho gái bán dâm
để họ hoàn lương tại quận Hoàng Mai và thành phố Hà Nội?
9 Giả thuyết nghiên cứu
Mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm gặp rất nhiều khó khăn trong việc hỗ trợ phụ
nữ bán dâm hòa nhập cộng đồng tại Hà Nội
CTXH có thể đóng góp những giải pháp mới để hỗ trợ Mô hình sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại thành thị
10 Phạm vi nghiêncứu
Phạm vi không gian: quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội
Phạm vi thời gian: Tác giả tiến hành khảo sát tại địa bàn nghiên cứu: từ tháng
7/2013 đến tháng 03/2017 Trong đó, tiến trình hỗ trợ thân chủ được thực hiện từ
tháng 3/2017 đến tháng 7/2017
Nội dung nghiên cứu: Nhu cầu hỗ trợ sinh kế đối với phụ nữ bán dâm tại quận
Trang 5Hoàng Mai,Thành phố Hà Nội và vai trò của nhân viên CTXH trong vấn đề này
11 Phương pháp nghiên cứu
11.1 Nghiên cứu tổng quan tài liệu
Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài liệu như: các nghiên cứu về vấn đề mại dâm trong và ngoài nước; báo cáo công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm hàng năm và xây dựng mô hình hỗ trợ giảm hại, hoà nhập cộng đồng của thành phố Hà Nội và các tài liệu liên quan khác
11.2 Nghiên cứu định lượng
Thực hiện điều tra xã hội học: Phỏng vấn trực tiếp đối với 150 phụ nữ bán dâm
bằng bảng hỏi được thiết kế với các câu hỏi đóng kết hợp các câu hỏi mở đối với người bán dâm đã từng và chưa từng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ xã hội tại thành phố Hà Nội
Phương pháp phân tích số liệu điều tra xã hội học: Thông tin trong bảng hỏi được
sử dụng phần mềm SPSS để xử lý, phân tích số liệu
Phương pháp phân tích mức độ ưu tiên về dịch vụ và nhu cầu của người bán dâm:
Với những câu hỏi về mức độ ưu tiên dịch vụ và nhu cầu của người bán dâm, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích và sắp xếp các nhu cầu theo mức độ ưu tiên để xếp hạng các nguồn của vấn đề của phụ nữ phải đối mặt
11.3 Nghiên cứu định tính
Trong quá trình thực hiện khảo sát tại thành phố Hà Nội, nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích để thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm đối với các nhóm đối tượng sau:
11.4 Phương pháp CTXH
Phương pháp CTXH cá nhân:
Đề tài có sử dụng phương pháp CTXH cá nhân, tiếp cận với 01 phụ nữ mại dâm, từ
đó áp dụng tiến trình 7 bước trong CTXH cá nhân để trợ giúp cá nhân đó có thể giải quyết được vấn đề hiện tại của mình để sớm vượt qua khó khăn và hòa nhập cộng đồng
12 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, khuyến nghị và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Phương pháp luận và lý thuyết áp dụng của đề tài
Chương 2: Thực trạng hoạt động hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm trên địa bàn quận
Trang 6Hoàng Mai thành phố Hà Nội
Chương 3: Áp dụng phương pháp CTXH cá nhân trong hỗ trợ mô hình sinh kế cho
phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội
Chương 1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG
1 Khái niệm nghiên cứu
1.1 Mại dâm
Mại dâm có nguồn gốc là tiếng Latinh là Prostituere, có nghĩa ban đầu là sự phơi
bày cho người khác xem, về sau mại dâm mang thêm nghĩa là một tình trạng mua bán dâm, một hình thức kinh doanh
Theo từ điển Hán Việt (Đào Duy Anh, 1951): Mại dâm có nghĩa là bán dâm và mãi dâm có nghĩa là mua dâm Mua dâm là hành vi của người dùng tiền, hoặc lợi ích vật chất khác, trả cho người bán dâm để đươc giao cấu Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền, hoặc lợi ích vật chất khác
Pháp lệnh Phòng chống mại dâm do Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 14/03/2003 đã định nghĩa một số khái niệm liên quan đến mại dâm như sau:
1.3 Phụ nữ bán dâm
Là những phụ nữ phục vụ đàn ông thỏa mãn hành vi tình dục ngoài hôn nhân để
được trả tiền hoặc được hưởng những lợi ích vật chất khác (theo Bách khoa toàn thư Wikipedia)
1.4 Sinh kế
Người đầu tiên sử dụng khái niệmSinh kế (livelihood), là Robert Champers với
nghĩa như sau: Sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống” Tổ chức CRD (Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam) khi triển khai các chương
trình hoạt động phát triển cộng đồng giải thích rằng sinh kế là: Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ Còn theo từ điển Tiếng Việt giải thích "sinh kế là việc làm để kiếm ăn,
để mưu sống”
Trang 71.5 Mô hình sinh kế
Trong nghiên cứu này "Mô hình sinh kế" được hiểu là một hình thức trợ giúp thông qua những hoạt động kinh tế cụ thể nhằm hỗ trợ phụ nữ bán dâm có việc làm mang lại thu nhập, góp phần ổn định cuộc sống để hòa nhập cộng đồng
1.6 Hỗ trợ
Là chỉ tất cả những công việc, hoạt động, suy nghĩ nhằm giúp đỡ một người hoặc nhóm người vượt qua vấn đề mà họ gặp phải bằng cách thức khác nhau, bao gồm cả về thể chất, tinh thần, tiền bạc để nhằm khơi dậy tiềm lực của người đó để họ có đủ khả năng đương đầu
với hoàn cảnh khó khăn (theo Bách khoa toàn thư Wikipedia)
Trong đề tài nghiên cứu này khái niệm hỗ trợ trong CTXH được hiểu là những hoạt động trợ giúp của nhân viên CTXH trong tiến trình làm việc với phụ nữ bán dâm nhằm
hỗ trợ họ tìm kiếm việc làm, từ bỏ hoạt động mại dâm
1.7 Hoà nhập cộng đồng
Hòa nhập cộng đồng là việc người bán dâm đã thay đổi công việc, trở lại cuộc
sống bình thường về tâm lý, tham gia vào các hoạt động, sinh hoạt cộng đồng và không cảm thấy bị phân biệt đối xử và tự kỳ thị bản thân
1.8 Công tác xã hội cá nhân
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ
2.1 Chủ nghĩa Duy vật biện chứng
Trang 82.3 Hướng tiếp cận nghiên cứu
Hướng tiếp cận cơ bản của luận văn là hướng tiếp cận XXH và CTXH cá nhân
Hướng tiếp cận xã hội học, giúp tác giả hiểu rõ hơn về những khía cạnh lý luận
và thực tế về hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm, nhận thức được đúng đắn thực trạng công tác hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại Hà Nội Từ đó, tìm ra được các nhân tố tác động tới quá trình hỗ trợ tạo việc làm cho phụ nữ bán dâm và nhu cầu vận dụng các kiến thức về CTXH trong hoạt động thực tiễn hỗ trợ tạo việc làm cho họ
Hướng tiếp cận CTXH, trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng công tác hỗ trợ sinh kế cho
phụ nữ bán dâm, hướng tiếp cận này sẽ giúp tác giả có được những hoạt động thực tiễn hiệu quả hơn, phát triển bền vững, công tác hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm
3 Lý thuyết áp dụng
3.1 Thuyết nhu cầu
Abraham Harold Maslow (1908 - 1970), nhà tâm lý học Mỹ là người sáng lập ra thuyết nhu cầu hoặc Tháp nhu cầu - Thứ bậc nhu cầu (Masolow’s Hierarchy of Needs) vào năm 1943 Ông là nhà tâm lý học sức khỏe, khẳng định việc thực hiện nhu cầu tự nhiên của con người Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)
Ứng dụng của thuyết nhu cầu vào trong đềtài
Trong quá trình trợ giúp phụ nữ mại dâm việc ứng dụng lý thuyết nhu cầu là rất cần thiết sẽ giúp cho nhân viên CTXH xác định được nhu cầu hiện tại của họ trên cơ sở đó xác định được những khó khăn mà họ gặp phải đồng thời trên cơ sở đó để lập kế hoạch can thiệp và hỗ trợ phù hợp và mang lại hiệu quả cao hơn khi trợ giúp cho họ
3.2 Thuyết nhận thức hành vi
Lý thuyết nhận thức- hành vi đánh giá rằng: hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc các lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi Theo các nhà lý thuyết gia
Trang 9nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác
bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên
ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy méo mó) Như vậy, lý
thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm
Ứng dụng của lý thuyết nhận thức- hành vi vào đề tài
Người hoạt động mại dâm chủ yếu là những người có hoàn cảnh khó khăn, họ mong muốn được xã hội chấp nhận và có thể hòa nhập cộng đồng mà không phải chịu
áp lực về sự kỳ thị hay phân biết đối xử từ gia đình, bạn bè, môi trường xã hội xung quanh Thuyết nhận thức – hành vi sẽ giúp nhân viên xã hội củng cố niềm tin trong mỗi người bán dâm, cung cấp các kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ bản thân và tự tin khẳng định bản thân của người bán dâm giúp họ hòa nhập được với môi trường xung quanh từ
bỏ thói quen cũ
4 Chính sách, pháp luật của Nhà nước
4.1 Quan điểm của Việt Nam về vấn đề mại dâm
+ Chính sách về phòng, chống mại dâm của Đảng và Nhà nước ta:
+ Cùng với quá trình phát triển nhận thức của Đảng ta về phòng, chống tệ nạn xã hội, cũng diễn ra đồng thời quá trình thể chế hoá về mặt Nhà nước các chủ trương, quan điểm của Đảng thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống TNXH
4.2 Chính sách của thành phố Hà Nội trong công tác phòng, chống mại dâm
Ngay sau khi Pháp lệnh phòng, chống tệ nạn mại dâm có hiệu lực, thành phố Hà Nội đã thực hiện nhiều biện pháp mạnh và đầu tư nguồn lực cho công tác phòng, chống mại dâm
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày các khái niệm về: Mại dâm, phụ nữ bán dâm, sinh kế, mô hình sinh kế, hòa nhập cộng đồng , các chính sách của nhà nước và thành phố Hà Nội có liên quan đến mại dâm nhằm làm cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động
hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội Việc nghiên cứu hoạt động hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm sẽ chỉ ra thực trạng những khó khăn, các
Trang 10yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm của họ và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm
Với tổng diện tích 3.344,7 km² và dân số hơn 7 triệu người, thành phố Hà Nội hiện có
30 đơn vị hành chính cấp huyện và 584 đơn vị hành chính cấp xã Cùng với sự phát triển
về kinh tế- văn hóa- xã hội thì tình hình tệ nạn xã hội cũng diễn biến rất phức tạp và được xác định là trọng điểm về tệ nạn xã hội
Trong những năm gần đây, trên địa bàn Thành phố Hà Nội, tệ nạn mại dâm diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng Gái mại dâm thường xuyên thay đổi hình thức hoạt động, nên các cơ quan chức năng rất khó xử lý
Tệ nạn xã hội nói chung và tệ nạn mại dâm nói riêng đã và đang gây ra tác hại nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, Thủ đô Hà Nội nói riêng, ảnh hưởng tiêu cực tới thuần phong mỹ tục, nét đẹp văn hóa, sức khỏe của người dân, làm tăng thêm người nhiễm HIV/AIDS và gây mất an ninh trật tự xã hội
2 Địa bàn quận Hoàng Mai
Điều kiện tự nhiên và xã hội
Quận Hoàng Mai nằm ở phía Đông Nam nội thành Hà Nội được thành lập và đi vào hoạt động từ 01/01/2004 theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập các quận Long Biên, Hoàng Mai, thành lập các phường trực thuộc quận Long Biên, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.Quận Hoàng Mai có diện tích: 4.104.1ha,dân số là 365000 người, dân số cơ học tăng nhanh, thành phần dân cư đa dạng
Các vấn đề tệ nạn xã hội
Cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội trên địa bàn quận có nhiều khu vực trọng điểm phức tạp về an ninh trật tự là nơi các loại tội phạm thường lợi dụng hoạt động; nhất là các đối tượng mua bán, tàng trữ vận chuyển ma túy, tệ nạn mại dâm Số người
Trang 11nghiện có hồ sơ quản lý trên toàn địa bàn quận là 705 người trong đó có 522 người hiện đang sinh sống tại địa phương, bên cạnh đó còn có nhiều đối tượng vi phạm từ nơi khác đến mua hoặc thê nhà trên địa bàn quận để hoạt động phạm tội về ma túy Trên địa bàn quận có 287 cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm với 1.109 nhân viên và tiếp viên nữ, gái mại dâm hoạt động công khai tại các địa bàn
2 Đánh giá thực trạng hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm tại quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội
2.1 Thực trạng cơ cấu xã hội của phụ nữ bán dâm
2.1.1 Đặc điểm chung
Về độ tuổi
Hầu hết nữ lao động tình dục trong đánh giá này là phụ nữ bán dâm từ 26-35 tuổi chiếm tới 56%; độ tuổi từ 18-25 chiếm 22%; độ tuổi từ 36-45 cũng chỉ chiếm 22%, không có phụ nữ bán dâm nào trên 45 tuổi trả lời phiếu khảo sát Từ kết quả khảo sát
có thể thấy độ tuổi bán dâm chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 26-35 trong khi đó số phụ nữ trẻ tuổi và lớn tuổi tham gia bán dâm ít hơn
Trình độ học vấn
Trình độ học vấn của chị em tương đối thấp, số chị em có trình độ trung học phổ thông là 18%, trong khi đó đa số chị em chỉ học đến cấp 1,34% và cấp 2 chiếm tới 44% Do trình độ học vấn thấp phụ nữ bán dâm ít cơ hội tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ dạy nghề và các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để làm các công việc lao động mà xã hội yêu cầu Đây là một rào cản lớn trong việc giúp chị em lựa chọn nghề nghiệp, tham gia đào tạo nghề và duy trì nghề được đào tạo để tái hòa nhập cộng đồng
Tình trạng hôn nhân và con cái
Đa số các chị em được hỏi trong bảng khảo sát đều đã ly thân hoặc ly hôn, con số này chiếm tới 41,3%; Tuy nhiên một số chị em có gia đình nhưng vẫn tham gia bán dâm, kết
quả khảo sát cho thấy có 26% Số chị em tham gia bán dâm chưa kết hôn là 27.3% Nơi ở của chị em
Có tới 81,3 % chị em hoạt động mại dâm trong nghiên cứu này hiện đang thuê trọ
vì đa số chị em đến từ các tỉnh thành khác Việc thuê nhà trọ cũng tốn một khoản chi phí hàng tháng vậy nên chị em thường rủ nhau thuê trọ cùng phòng để giảm các chi phí Theo một số chị em việc thuê trọ tuy tốn kém nhưng cũng dễ thay đổi khi chị em thay đổi chỗ làm Tuy nhiên việc liên tục thay đổi chỗ ở của chị em cũng là một rào
Trang 12cản trong công tác tiếp cận và hỗ trợ chị em với các dịch vụ hỗ trợ để giúp hòa nhập cộng đồng
Nghề nghiệp trước khi bán dâm
Khi hỏi về nghề nghiệp trước khi bán dâm đa số chị em cho biết không có nghề chiếm tới 50% hoặc là lao động tự do chiếm 29%, số chị em có nghề nghiệp và việc làm trước khi bán dâm là rất ít Có thể thấy rằng việc không có trình độ học vấn dẫn đến không có nghề nghiệp, việc làm ổn định là nguyên nhân chính dẫn đến việc chị em tham gia hoạt động mại dâm
2.1.2 Những khó khăn của phụ nữ bán dâm
Nếu trước khi tham gia hoạt động bán dâm có tới 50% chị em trả lời là không có nghề nghiệp thì số liệu này có sự tương đồng với công việc chính đem lại thu nhập cho chị em hiện nay có tới 114 người chiếm 76% cho biết hoạt động mại dâm chính là công việc đem lại thu nhập chính cho họ tính đến thời điểm hiện tại, một số ít còn lại thu nhập chính từ các công việc có liên quan như nhân viên matxa, hay tiếp viên trong các quán karaoke
Các vấn đề thường gặp phải của phụ nữ bán dâm
Trong khi hoạt động mại dâm điều mà chị em lo lắng nhất chính là sợ gia đình và bạn
bè của mình biết chiếm tới 74.7%; Bên cạnh đó cũng có rất nhiều chị em sợ bị công an bắt và phạt hành chính có 72.7% chị em lo lắng về điều này… Khi được hỏi, hầu hết chị
em đều chỉ mới nghe qua, hoặc biết sơ qua về Luật xử phạt hành chính đối với người hành hoạt động mại dâm Qua trao đổi, nhiều chị em thậm chí không biết rằng Nhà nước
đã bãi bỏ chính sách thu gom chị em hoạt động mại dâm vào các Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội nên nhiều chị em vẫn còn sợ bị bắt vào các trung tâm này
Vấn đề sức khỏe
Theo kết quả khảo sát, 57% chị em gặp các bệnh phụ khoa và lây nhiễm, là các triệu chứng nhẹ của bệnh lây truyền qua đường tình dục, 7% bị các bệnh như lậu hay sùi mào gà, giang mai và có 33,3% chị em cho biết chưa từng mắc bệnh
Khó khăn khi chuyển đổi nghề
Không tìm được công việc mới phù hợp với trình độ và năng lực của bản thân là lý
do chủ yếu khiến chị em khó có thể chuyển đổi công việc từ bỏ hoạt động mại dâm hiện tại: 60.7% Các yếu tố khó khăn khác như chị em không có khả năng tìm được các công việc thay thế khác mà có mức thu nhập như hiện tại chiếm 44.7%; bên canh đó việc bị kỳ thị, không có cơ sở nhận vào làm việc được 42.7% số chị em tham gia khảo
Trang 13Trong đánh giá này, chỉ có 25% đã từng thực sự tìm kiếm thông tin về một công việc khác So với 38% những người mong muốn bỏ nghề hoàn toàn, và 18% mong muốn giảm dần việc đi khách, có khoảng 44% chị em ít nhiều quyết tâm hơn trong việc
bỏ nghề và giảm hành nghề
Nhiều chị em chia sẻ rằng họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, trước kia nếu có tìm được việc thì công việc cũng có thu nhập quá thấp không đáp ứng được mong muốn nên giờ họ nghĩ rằng họ không thể, hoặc không muốn bỏ nghề tuy nhiên cũng có tới 58% chị em đã thử tìm kiếm các công việc khác để từ bỏ hoạt động bán dâm bên cạnh đó cũng có đến 42% chị em chưa từng thử tìm kiếm việc làm khác để thay thế công việc hiện tại Đa phần số chị em thử tìm kiếm công việc khác nằm trong nhóm tuổi từ 26-35, số chị em dưới 25 tuổi dường như ít nghĩ đến việc tìm một công việc khác
Mức thu nhập mà chị em mong muốn khi chuyển nghề
Khi được hỏi chị em sẽ đồng ý chuyển nghề khi có công việc ở mức thu nhập bao nhiêu, 26.6% mong muốn có công việc từ 3 đến 5 triệu một tháng, trong đó cũng có tới 72% mong muốn mức thu nhập cao hơn là từ 5 đến 10 triệu một tháng, chỉ có 2 người trả lời mong muốn có thu nhập trên 10 triệu một tháng Cần lưu ý rằng mức thu nhập
đó không đảm bảo rằng họ sẽ bỏ hoạt động bán dâm hoàn toàn, nhưng nhiều người trong số họ hy vọng nó có thể giúp làm giảm tần suất làm việc khi họ không muốn làm Kết quả khảo sát cũng cho thấy có tới 87,3% chị em mong muốn được sống cùng gia đình khi có nghề nghiệp và việc làm ổn định, chỉ có 12,7% chị em không muốn trở về nhà với những lý do được đưa ra như gia đình không chấp nhận, bố mẹ ly hôn, có một số ít thì cho biết không còn gia đình để trở về
2.2 Những nhân tố tác động đến hoạt động hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bán dâm
2.2.1 Chính sách của nhà nước về hỗ trợ tạo việc làm cho phụ nữ bán dâm