Khi so sánh các tác nhân gây stresscho học sinh theo cấp học thì học sinh cấp 3 chịu áp lực học tập cao hơn họcsinh cấp 2, do các em chuẩn bị cho việc lựa chọn nghề sau này và phải đốimặ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông Lương Phú - Phú Bình -Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS Đàm Thị Bảo Hoa
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa Y tế công cộng – Trường đại học Y Dược Thái Nguyên; Đảng ủy, Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy, Cô giáo đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và đóng góp những ý kiến vô cùng quý giá để tôi hoàn thành luận văn và khóa học này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành tới TS Đàm Thị Bảo Hoa - người thầy đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức, phương pháp luận quý báu và trực tiếp hướng dẫn tôi suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân yêu trong gia đình đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện thuân lợi cho tôi trong quá trình học tập Tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp đã dành cho tôi những tình cảm tốt đẹp cũng như sự giúp đỡ tận tình để tôi vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Học viên
Trang 3(Thang đo về hành vi)DASS : Depression – Anxiety – Stress Scale 21
(Thang đo Trầm cảm – Lo âu – Căng thẳng)
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Khái niệm về stress 3
1.1.2 Các dấu hiệu của stress 3
1.1.3 Nguyên nhân của stress 4
1.1.4 Ảnh hưởng của stress 6
1.2 Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới và Việt Nam 8 1.2.1 Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới 8
1.2.2 Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông tại Việt Nam 9
1.3 Các yếu tố liên quan đến rối loạn stress ở học sinh 12
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 12
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 15
1.4 Công cụ sử dụng nghiên cứu stress ở học sinh - sinh viên 18
1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4 Cỡ mẫu và kĩ thuật chọn mẫu 21
2.5 Công cụ và vật liệu nghiên cứu 23
2.5.1 Công cụ và vật liệu dành cho nghiên cứu thực trạng stress và tác hại tâm lý của stress sở học sinh 23
2.5.2 Công cụ và vật liệu dành cho nghiên cứu các yếu tố liên quan đến stress ở học sinh 23
Trang 52.6 Kĩ thuật thu thập số liệu 23
2.6.1 Đối với học sinh và cha mẹ của học sinh 23
2.6.2 Đối với giáo viên chủ nhiệm và ban lãnh đạo nhà trường 24
2.7 Chỉ số nghiên cứu 24
2.7.1 Các chỉ số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 24
2.7.2 Mục tiêu 1: Các chỉ số về thực trạng stress ở học sinh 24
2.7.3 Mục tiêu 2: Các chỉ số về yếu tố liên quan đến stress ở học sinh 24
2.8 Phương pháp đánh giá 25
2.9 Biện pháp khống chế sai số 26
2.10 Xử lý và phân tích số liệu 27
2.11 Đạo đức nghiên cứu 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 28
3.1.1 Các thông tin chung của học sinh 28
3.1.2 Thông tin chung về nhóm cha mẹ học sinh 29
3.2 Thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú - Phú Bình - Thái Nguyên 30
3.3 Các yếu tố liên quan 35
Chương 4 BÀN LUẬN 45
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 45
4.1.1 Các đặc điểm chung về nhóm học sinh nghiên cứu 45
4.1.2 Các đặc điểm chung về nhóm cha mẹ học sinh 46
4.2 Thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú – Phú Bình – Thái Nguyên 46
4.3 Một số yếu tố liên quan đến stress ở học sinh trường Trung học phổ thông Lương Phú – Phú Bình – Thái Nguyên 49
4.3.1 Liên quan theo khối học, giới tính và dân tộc 49
4.3.2 Liên quan giữa yếu tố gia đình và stress ở học sinh 51
Trang 64.3.3 Liên quan giữa các yếu tố thuộc về nhà trường với stress ở học sinh 53
4.3.4 Liên quan giữa các hành vi sức khỏe và stress ở học sinh 55
KẾT LUẬN 57
1 Về thực trạng stress ở học sinh trường THPT Lương Phú – Phú Bình – Thái Nguyên 57
2 Một số yếu tố liên quan đến stress ở học sinh trường THPT Lương Phú – Phú Bình – Thái Nguyên 57
KHUYẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm về thông tin chung của học sinh 28
Bảng 3.2 Đặc điểm chung về nhóm cha mẹ học sinh 29
Bảng 3.3 Mức độ stress theo khối học 31
Bảng 3.4 Các đặc điểm của stress theo thang đo DASS 21 32
Bảng 3.5 Tỷ lệ lo âu và trầm cảm ở học sinh do stress theo thang DASS 21 32 Bảng 3.6 Đặc điểm của lo âu do stress theo thang DASS 21 33
Bảng 3.7 Đặc điểm của trầm cảm do stress theo thang DASS 21 33
Bảng 3.8 Phân bố stress theo giới, dân tộc 35
Bảng 3.9 Phân bố stress theo khối học 35
Bảng 3.10 Phân tích đặc điểm giới tính của học sinh mắc stress theo khối lớp 36
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa học thêm ngoài trường với stress ở học sinh 36
Bảng 3.12 Phân bố stress theo dự định tương lai của học sinh 37
Bảng 3.13 Phân bố stress theo đặc điểm của cha mẹ học sinh 37
Bảng 3.14 Phân bố stress theo các yếu tố gia đình 39
Bảng 3.15 Phân bố stress theo cảm nhận của học sinh về nhà trường 40
Bảng 3.16 Phân bố stress theo các yếu tố về nhà trường 41
Bảng 3.17 Phân bố stress theo các hành vi sức khỏe 42
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ stress ở học sinh 30 Biểu đồ 3.2 Mức độ stress ở học sinh 30 Biểu đồ 3.3 Đặc điểm kiến thức, thái độ, thực hành của cha mẹ học sinh
về chăm sóc rối loạn stress ở học sinh 38
Trang 9DANH MỤC HỘP KẾT QUẢ ĐỊNH TÍNH
Hộp 3.1 Các ý kiến về rối loạn stress ở học sinh 34 Hộp 3.2 Các ý kiến về mối quan hệ của học sinh tại lớp / trường 43 Hộp 3.3 Ý kiến về các hoạt động ngoại khóa, thể thao, năng khiếu 44
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Stress là một biểu hiện thường gặp trong cuộc sống và là một trongnhững vấn đề sức khoẻ đáng kể nhất trong xã hội hiện đại và thế kỷ 21 [47].Stress là mối tương quan giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể
Nếu đáp ứng của cơ thể với các yếu tố stress không thích hợp và cơ thểkhông tạo ra được một cân bằng mới, thì chức năng của cơ thể ít nhiều bị ảnhhưởng, xuất hiện các dấu hiệu rối loạn tâm lý như: mất ngủ, đau đầu, buồnphiền, trầm cảm, sợ hãi, lo âu, tức giận thậm chí dẫn đến hành vi tự sát [5],[10], [12], [17] Theo thống kê của Trung tâm phòng chống khủngkhoảng tâm lý (PCP), ở Việt Nam học sinh, sinh viên từ 15 - 24 tuổi lànhóm tuổi có ý định tự tử cao nhất [27] Điều tra quốc gia về vị thành niên vàthanh niên Việt Nam (năm 2010) đối với hơn 10.000 người trong nhóm tuổinày cho thấy có 4,1% người nghĩ đến chuyện tự tử và 25% đã tìm cách kếtthúc cuộc sống do căng thẳng quá mức vì: không đạt được kết quả học tậpnhư mong muốn; bị mất danh dự, bị sỉ nhục trước trường, trước tập thể lớp;
bị người thân xúc phạm, vu oan, hiểu lầm; bị áp lực do gia đình, nhà trường
kỳ vọng ở các em quá cao trong học tập; gia đình có nhiều xung đột
không thể giải quyết: cha mẹthường cãi vã nhau, anh em hiềm khích…[6]
Báo cáo của WHO (2003) cho thấy có 33% dân số thế giới gặp các vấn
đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và dự đoán đến năm 2020, các vấn đề sứckhỏe tâm thần sẽ là gánh nặng bệnh tật lớn thứ hai toàn cầu, chỉ đứng saubệnh tim mạch Theo đó, khoảng 20% trẻ em và vị thành niên đang mắc cácvấn đề về sức khỏe tâm thần (trong đó có stress) [55] Tại Việt Nam vấn đềstress học đường đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi những hậuquả do stress gây ra như giảm kết quả học tập, trầm cảm, lo âu, dễ giận dữ, bỏnhà đi bụi thậm chí là tự sát Trong đó, học sinh trung học phổ thông là
Trang 11nhóm tuổi dễ mắc stress Nghiên cứu stress ở trẻ vị thành niên qua đường dâynóng của Phạm Hồng Định trong 200 mẫu trẻ em thì học sinh trung học phổthông chiếm 194 trường hợp [7] Nguyên nhân là do ở lứa tuổi này hoạt độngcủa các em được mở rộng và đa dạng hơn Trong học tập, yêu cầu đối với các
em cao hơn Càng đến cuối cấp, lịch học càng dày đặc hơn nhằm đáp ứngmục đích chọn trường, chọn nghề của học sinh Cùng với đó, sự thay đổi vềsinh lý của lứa tuổi cũng làm gia tăng căng thẳng cho học sinh [13] Theonghiên cứu cắt ngang của Khoa nhân văn và xã hội học Viện công nghệ NewDelhi, Ấn Độ, tỷ lệ mắc các rối loạn tâm lý ở thanh thiếu niên Ấn Độ khoảng14,4-31,7%, trong đó rối loạn stress là 20% [58] Tại Việt Nam, Nghiên cứucủa tác giả Trần Thị Hồng Vân tại trường THPT Phan Đình Phùng, Hà Nộicho kết quả 46,1% học sinh bị stress ở các mức độ khác nhau [29]
Hiện nay tại Thái Nguyên chưa có nhiều nghiên cứu về stress ở họcsinh trung học phổ thông trong khi đây là đối tượng chịu nhiều tác động từcác yếu tố khác nhau như gia đình, nhà trường, xã hội… Đặc biệt là học sinh
ở các vùng nông thôn như Trường trung học phổ thông Lương Phú - Phú Bình
- Thái Nguyên ngoài việc học các em còn phải phụ giúp gia đình tăng gia sảnxuất Vậy câu hỏi đặt ra là: Thực trạng stress ở học sinh trung học phổ thôngnhư thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến tình trạng stress ở học sinhtrung học phổ thông?
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông Lương Phú
- Phú Bình - Thái Nguyên”
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng stress ở học sinh trường Trung học phổ thôngLương Phú - Phú Bình - Thái Nguyên, năm 2016
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress tâm lý ở học sinh trườngtrung học phổ thông Lương Phú - Phú Bình - Thái Nguyên
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về stress
Trong cuộc sống hiện đại thuật ngữ stress xuất hiện ngày càng nhiều,tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng thuật ngữ này với những sắc thái khác nhau.Walter Cannon, bác sĩ chuyên khoa thần kinh nổi tiếng của Mỹ, định nghĩastress là biểu hiện khó chịu hay những áp lực của đời sống cá nhân [37]
Hiện nay, stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi Định nghĩa củaHan Selye đưa ra năm 1976 được cho là đầy đủ nhất: “Stress là tình trạngcăng thẳng thể hiện mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của
cơ thể” [12]
Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặttâm lý, sinh học và tập tính Stress đặt con người vào quá trình dàn xếp, thíchứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một sự cân bằng mới sau khichịu đựng những tác động của môi trường Nói cách khác, stress bình thường
đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi Nếu đáp ứng của cá nhân với stresskhông đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mớithì những chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý
cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và tạo ra những stress bệnh lý cấp tínhhoặc kéo dài [17]
1.1.2 Các dấu hiệu của stress
Các dấu hiệu bị ảnh hưởng bởi stress bao gồm những bất bình thường
về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội Cụ thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm
ăn hay bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ, rối loạn giấc ngủ hoặc là ngủ quên vànhững biểu hiện khó chịu khác cũng là dấu hiệu của stress Stress còn đi kèmvới cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi Người bị stress thường có biểu hiện
Trang 13là tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, hơi thở ngắn, ra mồ hôi.Biểu hiện cảm xúc là cảm thấy khó chịu, dễ cáu gắt, lo âu, trầm cảm, buồn bã,chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần… Có những hành vi nhưlạm dụng chất kích thích (rượu, thuốc lá), dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộncác sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánhmọi người, có vấn đề về tình dục… Stress trầm trọng và kéo dài có thề làmtổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năngchống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi trùng và làm tăngnguy cơ tử vong [10], [19].
1.1.3 Nguyên nhân của stress
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra stress nhưng thông thường bao gồm 4nguyên nhân cơ bản sau:
Môi trường bên ngoài: Thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, bụi và sự
ô nhiễm…
Những căng thẳng từ xã hội và gia đình: Các vấn đề về tài chính, do sựmất mát của người thân, mâu thuẫn trong gia đình (cha mẹ ly hôn, tranh chấp,xích mích, bất hòa…), quan hệ bạn bè không tốt, tình yêu tan vỡ hay bị phụbạc…[3]
Các vấn đề về thể chất: Thay đổi cơ thể, không đủ chất dinh dưỡng, ốmđau, bệnh tật
Suy nghĩ của bản thân: Đôi khi, cách chúng ta suy nghĩ hay phiên giảinhững điều đã hoặc sẽ xảy ra đem đến cho chính mình rất nhiều căng thẳng.Thường đó là những suy nghĩ tiêu cực Ví dụ, nếu trượt đại học, tương lai thật
mù mịt [3], [17]
Nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng năm 2009 cho thấy các tác nhân gâystress ở trẻ vị thành niên bao gồm 4 nhóm tác nhân là học tập, mối quan hệvới gia đình, mối quan hệ với bạn bè và các tình huống bất thường Trong đótác nhân do các tình huống bất thường (trung bình là 1.6) cao hơn so với các
Trang 14tác nhân khác như học tập (trung bình là 1.5), mối quan hệ với gia đình (trungbình là 1.3) và bạn bè (trung bình là 1.2) Khi so sánh các tác nhân gây stresscho học sinh theo cấp học thì học sinh cấp 3 chịu áp lực học tập cao hơn họcsinh cấp 2, do các em chuẩn bị cho việc lựa chọn nghề sau này và phải đốimặt với nhiều kỳ thi quan trọng như tốt nghiệp Trung học phổ thông, thi đỗđại học… Cũng theo nghiên cứu này trẻ nam chịu ảnh hưởng từ áp lực họctập cao hơn trẻ nữ [8].
Theo Nguyễn Thị Hằng Phương trong nghiên cứu “Thực trạng vànguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT chuyên Quảng Bình” có 4nhóm nguyên nhân chính dẫn đến rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổthông là: nhóm nguyên nhân liên quan đến học tập, liên quan đến bản thânhọc sinh, liên quan đến gia đình và liên quan đến các mối quan hệ xã hội [20].Nghiên cứu của Phùng Đức Nhật và cộng sự phát hiện các yếu tố gâystress ở học sinh như: lo lắng về kết qủa học tập, về tương lai; lo lắng về kinh
tế gia đình, về áp lực học tập, tình hình an ninh nơi ở và thiếu bạn chia sẻ khibuồn Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ stress ở học sinh với
tỷ lệ học sinh cảm thấy lo lắng về kết quả học tập, về tương lai và về bệnh củabản thân Những học sinh lo lắng về kinh tế gia đình bị stress cao gấp 1,56 lầnhọc sinh không lo lắng về kinh tế gia đình Học sinh lo lắng nhiều về áp lựchọc tập sẽ bị stress gấp 1,81 lần học sinh không lo lắng Tỷ lệ học sinh lo lắng
vì không có bạn để chia sẻ cao gấp 1,57 lần học sinh không lo lắng Nhómhọc sinh lo lắng về tình hình an ninh nơi ở bị stress gấp 1,5 lần nhóm không
lo lắng [18]
Trong nghiên cứu về stress trong học tập ở học sinh, sinh viên của tácgiả Edem Maxwell Azila-Gbettor cho rằng stress có ảnh hưởng đến kết quảhọc tập của học sinh, sinh viên và stress là hậu quả của việc học tập vượt quákhả năng của cơ thể [40]
Trang 15Tổng quan nghiên cứu “Hiệu quả của việc quản lý căng thẳng về cácvấn đề sức khoẻ tâm thần ở thanh thiếu niên vị thành niên và thanh thiếuniên” của tác giả Zhang Jiapeng Casper, đối với thanh thiếu niên, kiểm tra ởtrường học, xung đột gia đình và mối quan hệ bạn bè bất hòa là một yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến stress và trầm cảm [61].
1.1.4 Ảnh hưởng của stress
Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho thấy, stress có thể gây nhiều tácđộng xấu cho bản thân những người mang nó, đồng thời cũng gây ra nhữngbất lợi cho những người xung quanh và xã hội nói chung Sau đây là nhữngtác động chính mà stress có thể gây ra:
Tác động của stress đối với cảm xúc, tâm lý: Trạng thái stress thường
biểu hiện rõ ở mặt cảm xúc với các biểu hiện thường gặp như: lo âu, dễ nổinóng, nổi cáu, hồi hộp, chán nản, sợ hãi, không hài lòng về bản thân (tự đổ lỗicho bản thân), cảm thấy trống rỗng mất phương hướng, cảm thấy dễ bị tổnthương, căng thẳng…[3] Đây là những ảnh hưởng ban đầu của stress với cácdấu hiệu cơ bản như tinh thần dao động, hành vi thất thường có thể làm bạn
bè và gia đình xa lánh, những người bị stress gần như luôn đắm chìm trongcác hành vi tiêu cực như bỏ học đi chơi game, dễ có hành vi hung hãn dẫn tớibạo lực học đường, bỏ nhà đi bụi, giao du với những người xấu trong xã hội,
có thể làm những người xung quanh và cả xã hội phải trả giá đắt Áp lực họchành đến từ chương trình học, sự kỳ vọng của cha mẹ vào con cái, tâm lýbằng cấp, không đánh giá đúng năng lực của bản thân con cái để có những đòihỏi phù hợp,… cũng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần trẻ
vị thành niên Số lượng học sinh mắc chứng nhiễu tâm (lo âu, trầm cảm,hoảng loạn, hung tính,…) do học tập ngày càng lớn Thậm chí có những trẻdẫn tới hành vi tự sát do không biết cách vượt qua stress Đây là những hậuquả đáng tiếc do stress gây ra Phản ứng gây stress thông thường có thể giúpthanh thiếu niên phản ứng thích ứng với những thách thức của tuổi vị thành
Trang 16niên, nhưng có thể dẫn đến sự căng thẳng trong số thanh thiếu niên có nguy
cơ cao, làm tăng khả năng bị bệnh tâm thần Sự tăng nhạy cảm với kích thíchcảm xúc liên quan đến tuổi dậy thì có thể làm trầm trọng thêm các khuynhhướng cá nhân đối với quá trình xử lý tình cảm phóng đại, có thể góp phầnvào sự xuất hiện các rối loạn tâm lý ở tuổi trẻ này [59]
Tác động của stress đối với cơ thể: Khi ở trong trạng thái stress, về mặt
cơ thể thường có các biểu hiện như: mệt mỏi, đau đầu, đau lưng đau cơ bắp,chóng mặt, đổ mồ hôi, tức ngực khó thở, tay chân bủn rủn, ăn không ngon, ănquá nhiều hoặc quá ít, khó ngủ, mất ngủ, tim đập nhanh, thở gấp, bị tiêu chảyhoặc táo bón …[3] Khi rơi vào tình trạng stress tâm lý hay thể chất, cơ thể sẽgia tăng sản xuất các loại hormon như adrenaline và cortisol Các hormon nàytạo ra các thay đổi rõ rệt ở nhịp tim, huyết áp, sự trao đổi chất và các hoạtđộng thể chất khác Mặc dù đôi khi phản ứng sinh học này giúp hoạt độnghiệu quả hơn trong những khoảng thời gian ngắn, nhưng nó cực kỳ nguy hạicho cơ thể nếu xảy ra trong thời gian dài
Tác động của stress đối với sức khỏe và đời sống: Stress kéo dài được
xem là một trong những nguyên nhân phổ biến của nhiều căn bệnh như: Bệnhtâm thần kinh, Bệnh tim mạch, Stress làm da xuất hiện nhiều dấu hiệu xấu,thậm chí các biểu hiện của bệnh tật, ví dụ như mụn sưng đỏ, phồng rộp lênhay là bệnh Zona, Bệnh tiêu hóa, Bệnh tình dục, Bệnh phụ khoa, Bệnh cơxương khớp hay toàn thân: Suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng haybệnh truyền nhiễm Các thay đổi hành vi chẳng hạn như lạm dụng rượu bia,thuốc lá cũng làm suy giảm đáng kể tình trạng thể chất con người Các pháthiện cũng cho thấy rằng cần sa thường được sử dụng như là một chiến lượcứng phó với căng thẳng Khi cơ thể phải chịu quá mức tình trạng stress, nguy
cơ bị lệ thuộc vào rượu là rất cao [3], [54], [43] Việc sử dụng rượu quá nhiều
sẽ làm tinh thần bấn loạn và vì thế làm cho các mối quan hệ cá nhân thêmcăng thẳng, cả trong gia đình lẫn nơi công sở
Trang 17Tác động của stress đối với khả năng ra quyết định: Stress ảnh hưởng
khá nghiêm trọng đến mặt trí tuệ của mỗi người, các biểu hiện thường thấynhư: mất khả năng tập trung, liên tưởng chậm, phán đoán không chính xác, trínhớ giảm sút, khả năng nhận định, đánh giá kém Stress ở mức độ nào cũngnhanh chóng làm cho con người mất khả năng đưa ra các quyết định chínhxác, nhất là khi sự tự tin mất đi [19], [45]
Trong nghiên cứu Mức độ căng thẳng về tâm lý xã hội kinh niên cao cóthể dẫn đến sự gia tăng BMI đối với những cô gái thừa cân và béo phì, nghiêncứu cũng cho thấy thanh thiếu niên nữ nhạy cảm với stress do tâm lý xã hộihơn là thanh thiếu niên nam [50]
Nghiên cứu của tác giả Linda WP về chủ động và thụ động trong ứngphó với sự căng thẳng với ý tưởng tự sát ở những người căng thẳng cho thấy
có mối liên quan giữa stress và ý tưởng tự tử ở mức cao và trung bình [49]
1.2 Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông trên Thế giới
Stress là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần cần được quantâm Theo báo cáo của WHO (2003), khoảng 20% trẻ em và vị thành niênđang mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tỷ lệ này khác biệt ở các quốc giakhác nhau, do những khác biệt về kinh tế, xã hội nhưng cũng một phần do sửdụng các công cụ đo đạc khác nhau và cách thức lấy mẫu khác nhau [56] Cácđiều tra dịch tễ học ở nhiều quốc gia trên thế giới đều cho thấy các rối loạntâm thần ở trẻ em và thanh thiếu niên rất phổ biến và chiếm tỷ lệ khoảng từ13–29% [35], [36], [38], [39] Nghiên cứu của tác giả Noelle R Leonard vềcăng thẳng, đối phó và sử dụng chất gây nghiện trong thanh thiếu niên cáctrường tư thục, tỷ lệ học sinh bị stress là 31%, trong đó nữ bị stress cao hơnnam (60% so với 41%) [54] Trong phần tổng quan của tác giả Shilpa Taragar(2009), nghiên cứu về yếu tố gây stress ở học sinh cho biết tỷ lệ học sinh 10 –
19 tuổi bị stress là khoảng 10 – 20%, trong đó nguyên nhân chính gây rastress ở học
Trang 18sinh chủ yếu là do các yếu tố gia đình [57] Hay trong nghiên cứu của tác giảKouzma NM (2004), tại Australia cũng chỉ ra rằng có 10 – 15% học sinhtrung học phổ thông bị căng thẳng [46] Tổng quan nghiên cứu của tác giảZhang Jiapeng Casper (2012), có tới 25 – 30% học sinh Mỹ chịu ảnh hưởngcủa stress và Hiệp hội Y tế Hoa Kỳ nghiên cứu về stress trên 16 nghìn sinhviên thì có 33,7% sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng bị stress [61] TạiGoa, Ấn Độ, theo Pillai và cộng sự (2008) nghiên cứu ở lứa tuổi 12-16 tuổi,
tỷ lệ stress thấp là 1,8% [29] Nghiên cứu cắt ngang của Khoa nhân văn và xãhội học Viện công nghệ New Dehi, Ấn Độ (2015), tỷ lệ mắc các rối loạn tâmthần ở thanh thiếu niên Ấn Độ khoảng 14,4-31,7% [58] Trong phần tổngquan của tác giả Trần Thị Hồng Vân và cộng sự cho biết tại Israel, theoFarbstein và cộng sự (2009) nghiên cứu ở lứa tuổi 14-17 tuổi, tỷ lệ stress là11,7% còn tại Puerto Rico, theo Canino và cộng sự (2004) nghiên cứu ở độtuổi 4-17 tuổi, tỷ lệ này là 19,8% Tại Zurich Conton Swetzerland, theoSteinhausen và cộng sự (1998) nghiên cứu ở độ tuổi 6-17 tuổi, tỷ lệ stress là22,5% hay theo Guan và cộng sự (2010) nghiên cứu tại Trung Quốc ở độ tuổi5-17 tuổi, tỷ lệ trẻ stress là 16,22% [29]
1.2.2 Thực trạng rối loạn stress ở học sinh phổ thông tại Việt Nam
Ở Việt Nam, số lượng trẻ em trong độ tuổi học sinh mắc các rối loạnstress, lo âu và trầm cảm có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương trong tổng số 600 em thamgia điều tra thì tất cả các em đều có biểu hiện bất thường về sức khỏe và tâm
lý trong vòng 2 tháng trở lại đây [20] Một nghiên cứu của viện Tâm thần MaiHương năm 2005 cho thấy tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thầnchung là 19,46% [5]
Một số nghiên cứu điển hình về stress như nghiên cứu của tác giả TrầnThị Hồng Vân và cộng sự (2014), tại trường THPT Phan Đình Phùng - HàNội, cho thấy có đến 46,1% học sinh bị stress, trong đó nhẹ là 18,9%, vừa là
Trang 1920,1%, nặng là 5,2% và rất nặng là 2,5% (tính trên tổng số học sinh tham gianghiên cứu) [29] Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Phụ nữ - Đại họcQuốc gia Hà Nội (2008), khảo sát trên 200 học sinh lớp 12 đã chỉ ra rằng 47%học sinh bị stress ở các mức độ nhẹ, vừa và nặng [24] Theo nghiên cứu mức
độ stress của học sinh lớp 12 trường THPT Đông Hà – Quảng Trị nhìn từ góc
độ tổng quát phần lớn học sinh ở trong trạng thái stress cấp tính chiếm 69.6%
và 30.4% học sinh ở mức độ bắt đầu quá tải vì stress, không đủ năng lực kiểmsoát các trở ngại gặp phải, cần được hỗ trợ để vượt qua [3] Nghiên cứu củatác giả Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành (2009) ở học sinh THPT PhanBội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận trên học sinh lớp 12 cho kết quả 38% họcsinh có biểu hiện stress [25] Theo tác giả Hoàng Cẩm Tú và Đặng HoàngMinh (2010) nghiên cứu trên học sinh của 2 trường THPT Nguyễn Trãi (HàNội) và Vân Tảo (Hà Tây) cho thấy các trường hợp mắc vấn đề sức khỏe tâmthần (trong đó có stress) là 25.76% [14]
Một nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh miền Bắc trên trẻ vị thànhniên (2012) sử dụng thang đo YSR (Youth Self - Report) cho kết quả đángbáo động khi so sánh kết quả nghiên cứu với các quốc gia khác, thấy rằngViệt Nam xếp cao nhất trong các quốc gia được nghiên cứu, nghiên cứu chỉ rarằng có 18% trẻ trong nghiên cứu gặp ít nhất 1 trong 8 triệu chứng về rốinhiễu tâm lý được đề cập trong thang đo YSR: Lo âu/trầm cảm, Thumình/trầm cảm, bệnh tâm cảm, vấn đề xã hội, vấn đề suy nghĩ, vấn đề chú ý,hành vi hung tính, phá bỏ qui tắc [16] Nghiên cứu “Đánh giá mức độ căngthẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội” có 25.8% học sinh bị stress ởmức độ vừa và 29% học sinh lo âu ở mức độ vừa và nhẹ [31] Tuy nhiên mộtnghiên cứu năm 2007 trên 2 tỉnh miền trung lại cho kết quả tỷ lệ trẻ vị thànhniên mắc các bệnh tâm thần là 9% [29] Một nghiên cứu khác tại Hội thảoquốc gia “Sức khỏe tâm thần trong trường học” do Quỹ tài năng trẻ tâm lýhọc - giáo dục học (Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam) tổ chức tại
Trang 20Đồng Nai, nhiều chuyên gia tâm lý - SKTT đã lên tiếng cảnh báo về tìnhtrạng SKTT ngày càng sa sút của học sinh Tâm lý lo sợ không hoàn thành bài
vở mới là nỗi ám ảnh với các học sinh lứa tuổi THPT, nhất là các em lớp 12
Từ đó, học sinh cảm thấy căng thẳng trong việc học, 13,6% học sinh khá thấy
ăn không ngon, 17,6% chỉ muốn uống nước hoặc sữa và gần 20% thườngxuyên bỏ bữa Thậm chí, một số em tâm sự đang đối mặt với một kỳ thi quantrọng, sợ làm bài không tốt, sợ gia đình sẽ thất vọng và khi nghĩ đến nhữngđiều đó thì các em chỉ muốn “nổ tung” [1]
Kết quả khảo sát của một nhóm nghiên cứu xác định: có gần 27% họcsinh Tây Ninh có tâm lý buồn phiền từ nhẹ đến nặng Tỷ lệ này được nhìnnhận là thấp hơn TP Hồ Chí Minh và Long An, song nếu so sánh với các tiêuchuẩn của nhiều quốc gia trên thế giới có liên quan vấn đề này thì con số vừanêu thuộc loại quá cao Nhóm nghiên cứu ghi nhận: học sinh ở bậc học càngcao thì các trường hợp rơi vào trạng thái buồn phiền càng nhiều; tỷ lệ này ởhọc sinh lớp 10 chỉ chiếm 23% nhưng ở lớp 12 là 30% [21]
Nghiên cứu gần đây nhất của Đặng Hoàng Minh và Trịnh Thị Mai(2013) trong phần tổng quan của nghiên cứu cho biết khảo sát về sức khỏetâm thần của Tổ chức Y tế Thế giới trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh ởViệt Nam trong độ tuổi 10-16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâmthần chung là 19,46% [15] Còn nghiên cứu gần đây nhất của Đặng HoàngMinh, Bahr Weiss và Nguyễn Cao Minh năm 2013 đã điều tra dịch tễ trên1.314 trẻ em từ 6 – 16 tuổi ở 10 tỉnh, thành phố Việt Nam đã cho thấy có9,6% trẻ có các vấn đề hướng nội ở mức lâm sàng Trong đó, lo âu/ trầmcảm chiếm 1,8%, thu mình chiếm 2,1%, than phiền cơ thể chiếm 4,1% Tỉ lệnày ở mức ranh giới là 18,3% Bên cạnh đó, tỉ lệ trẻ em từ 6 – 16 tuổi có cácbất thường về tình cảm là 16,29%, ở mức ranh giới là 11,59%, kết quảnghiên cứu cũng gợi ý rằng có từ 12-13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6-16) gặp phải những vấn đề SKTT một cách rõ rệt Điều này có nghĩa là cókhoảng 2.7 triệu trẻ em
Trang 21và vị thành niên trên toàn quốc gặp phải vấn đề SKTT (trong đó có stress)[33] Nghiên cứu tại trường THPT Yên Mô B Ninh Bình (2007) của PhạmThanh Bình sử dụng thang đo mức độ lo âu của Soly-Bensabel (60-90 điểm)cho kết quả số lượng học sinh trong mức điểm 70-80 điểm chiếm số lượngnhiều nhất, tiếp đến là số lượng học sinh 80-90 điểm, điều này có nghĩa cómột số lượng lớn học sinh được điều tra đang ở mức độ stress cao [4].
Học sinh, sinh viên là những chuyên gia tương lai của đất nước, có vaitrò quan trọng đến chất lượng của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức
và sự bền vững của xã hội Trong quá trình học tập, họ tích cực trau dồi, pháttriển các phẩm chất tâm lý, để thực sự làm chủ bản thân, làm chủ xã hội vănminh, hiện đại Do đó, hiện tượng stress luôn nảy sinh, ảnh hưởng mạnh mẽđến sự thành công, hay thất bại của quá trình hoàn thiện nhân cách cũng nhưphẩm chất tâm lý nghề nghiệp của họ [11]
Đã có nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên vàthanh niên Việt Nam nói chung, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể vềvấn đề rối loạn stress ở học sinh, đặc biệt là học sinh Trung học phổ thông,trong khi đây là đối tượng chịu nhiều áp lực từ gia đình, nhà trường và xãhội Mặc dù các nghiên cứu không hoàn toàn nhất quán, nhưng các nghiêncứu đều cho thấy một xu hướng rõ ràng, tỷ lệ trẻ vị thành niên, thanh niên,học sinh Việt Nam gặp các vấn đề về rối loạn stress là đáng kể
1.3 Các yếu tố liên quan đến rối loạn stress ở học sinh
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu tự đánh giá nguyên nhân stress ở học sinh cuối cấp 3(2004) của Kouzma NM, Kennedy GA chỉ ra rằng nguyên nhân chính dẫn đếnstress bao gồm các kì kiểm tra, điểm số, lo lắng cho tương lai, lựa chọn nghềnghiệp, ôn thi, khối lượng kiến thức, kỳ vọng của gia đình và bản thân [46].Một tổng quan về nguyên nhân stress ở thanh thiếu niên vị thành niên vàthanh thiếu niên của tác giả Zhang Jiapeng Casper (2012), phần lớn học sinhcho
Trang 22biết mức căng thẳng về tinh thần và lo lắng là do tham gia các kỳ thi Cácnghiên cứu ở Hoa Kỳ ước tính rằng một tỷ lệ lớn trẻ em đã được báo cáo bịstress do kiểm tra Trong đó Hill nhận thấy rằng từ 25% đến 30% sinh viênHoa Kỳ bị ảnh hưởng bất lợi do stress vì những khiếm khuyết liên quan đến lolắng Cũng theo đó ảnh hưởng của stress đối với sinh viên đại học là rấtlớn Hiệp hội Y tế Trường Cao đẳng Hoa Kỳ đã khảo sát hơn 16.000 sinhviên đại học cho thấy 33.7% cho rằng stress đã can thiệp vào thành tích họctập của họ [61] Những học sinh có điểm trung bình cao thường gặp stresskhi phải liên tục học tập để đạt được kì vọng cao của cha mẹ, thầy cô Đôi khinhững học sinh này tự đặt áp lực lên mình Học sinh có điểm trung bình thấpphải đối mặt với cảm giác thất vọng về bản thân và tự ti khi so sánh vớinhững học sinh giỏi hơn Khi nhận định về những nguyên nhân gây stress ởhọc sinh thì yếu tố về khối lượng công việc mà học sinh phải làm xếp thứhai và phần lớn học sinh nhận định rằng lượng bài tập về nhà thường xuyênlàm họ mất ngủ [61] Trong cuộc thăm dò năm 2005 thực hiện bởi TheWashington Post, Quỹ Kaiser Family và Đại học Harvard, khảo sát hơn mộtnửa số thanh thiếu niên khu vực Washington the District, trong đó 58% nóirằng các yếu tố trường học là nguyên nhân lớn nhất gây stress [29] Tuynhiên một nghiên cứu trường hợp ở Bangkok, Thái Lan (2010) củaYoujaiyen M, Sirimai W, Thongsai S trên 300 học sinh trung học phổ thônglại cho kết quả các em học sinh có kết quả học tập thấp có căng thẳng cao hơn
so với những em có thành tích học tập cao hơn [53] Trong một nghiêncứu thực nghiệm về stress ở học sinh trung học phổ thông của EzilaGbettor tại một trường ở khu vực ngoại ô New York, Mỹ cho kết quả rằnghọc sinh có điểm trung bình cao thường có mức stress cao hơn những họcsinh có điểm trung bình thấp hơn, những học sinh tham gia các lớp chuyênthường có mức độ stress cao hơn các lớp bình thường Những học sinh nữ cómức độ stress trong học tập nhiều hơn nam [40]
Trang 23Nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến stress ở học sinh trung họcphổ thông tham gia chương trình học dự bị đại học và học sinh bình thườngcủa Suldo SM, Shaunessy E, Thalji A, và cộng sự (2009) tại Mỹ trên 319 họcsinh cấp 3 (162 học sinh trong chương trình dự bị đại học và 157 học sinhbình thường) cho kết quả: Nguyên nhân chính dẫn đến stress của những họcsinh tham gia chương trình dự bị đại học là yêu cầu học tập Trái lại, các họcsinh bình thường thì có xu hướng bị stress bởi quan hệ bố mẹ con cái, khókhăn trong học tập, xung đột trong gia đình và quan hệ bạn bè cũng như quátrình chuyển đổi các vai trò trong xã hội So với học sinh bình thường, họcsinh tham gia chương trình dự bị Đại học có nhiều biểu hiện tâm thần hơn, vàgiảm khả năng học tập khi họ đối diện với stress ở mức độ cao Cụ thể làstress liên quan đến yêu cầu học tập, sự thay đổi vai trò và các vấn đề xã hội,khó khăn trong học tập và các hoạt động ngoại khóa [60].
Nghiên cứu của Shilpa Taragar về căng thẳng ở học sinh cấp 3 (2009)tại Ấn Độ cho rằng không có mối liên quan giữa một số thông tin cá nhân củađối tượng (tuổi, số lượng anh chị em, kích cỡ gia đình, nghề nghiệp của cha,nghề nghiệp của mẹ) với stress ở học sinh, nhưng có mối liên quan giữa nơisống với stress, những trẻ ở vùng ngoại thành có tỷ lệ stress ở mức độ nhẹ vàvừa thấp hơn so với thành thị, tuy nhiên đối với mức độ stress nặng thì ở khuvực thành thị lại cao hơn nhiều so với nông thôn (22,4% so với 9,9%) Có mốiliên quan giữa giới và stress, các học sinh nam có xu hướng cao hơn các họcsinh nữ, tuy nhiên ở mức độ stress nhẹ và vừa thì nữ có xu hướng cao hơnnam (71,7% và 21,9% so với 66% và 8,5%) [57] Kết quả nghiên cứu củaFinkelstein DM chỉ ra rằng so với thanh thiếu niên có cha mẹ có trình độ họcvấn cao thì thanh thiếu niên có cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn có mứcstress cao hơn (E3 beta = 1.70, p <.01, E2 beta = 1.94, p <.01, E1 beta = 3.19,
p <.0001) [42] Cũng trong phần tổng quan về nguyên nhân stress của tác giảZhang Jiapeng Casper (2012), thì yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến stress ở học
Trang 24sinh là cuộc sống cá nhân của họ, đối với một số người thì đó là việc chia tayvới bạn trai hay bạn gái, cãi nhau với cha mẹ, anh chị em, cha mẹ bất đồng,tình hình tài chính thay đổi, chấn thương bệnh tật của người thân tronggia đình hay các vấn đề quan hệ với bạn bè và gia đình [61].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Leslie R Rith-Najarian và cộng sự(2014), chỉ ra không có sự liên quan giữa tuổi tác, giới tính và chủng tộc/sắctộc với stress ở học sinh [48]
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu, đưa ra một số yếu tố ảnh hưởngđến stress ở vị thành niên, thanh niên nói chung và học sinh trung học phổthông nói riêng Theo một nghiên cứu do TS Đỗ Ngọc Khanh hướng dẫn chothấy dường như có mối liên quan giữa kết quả học tập với tỷ lệ mắc stress củahọc sinh Nghiên cứu cho thấy những học sinh có kết quả học tập càng cao thì
tỷ lệ mắc stress càng lớn Cụ thể, trong số những học sinh có kết quả học tậploại giỏi thì có đến 33% có dấu hiệu của stress trong khi đó ở nhóm học sinh
có kết quả học tập trung bình tỷ lệ này chỉ có 21,1%, và tỷ lệ nhóm học sinhkhá là 24,5% [31] Một nghiên cứu về stress trong học tập của học sinh trunghọc phổ thông (2007) của tác giả Phạm Thanh Bình nhận định có 2 nhómnguyên nhân chính: Nguyên nhân khách quan như: phương pháp giảng dạycủa giáo viên, sự quan tâm của giáo viên đối với một số học sinh khá hay kémtrong lớp, mục đích của môn học đối với kỳ thi đại học, cao đẳng sắp tới…nguyên nhân chủ quan như: chưa biết phân bố hợp lý thời gian học tập vànghỉ ngơi, thời gian vui chơi giải trí ít… Nguyên nhân chủ quan có ảnh hưởngthường xuyên và mạnh mẽ đến mức độ stress hơn so với nguyên nhân kháchquan [4] Tác giả Lê Thị Thanh Thủy thực hiện một nghiên cứu định tính trên
65 học sinh có dấu hiệu stress có 89,2% học sinh cảm thấy căng thẳng vì thờigian dành cho việc học quá nhiều, trong đó mức độ rất căng thẳng chiếm49,2% Các em học sinh lớp 12 cho rằng quỹ thời gian hạn hẹp với lịch học
Trang 25dày đặc được coi là điều lo lắng nhất, bên cạnh đó các em còn chịu áp lực vìkhối lượng kiến thức phải tích lũy quá lớn Áp lực trong học tập của học sinhkhối 12 lớn hơn khối 10 và 11 bởi 2 kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông vàthi vào đại học [24] Tác giả Phạm Tiến Sỹ trong một bài tổng quan có nhậnđịnh: trong điều kiện hiện tại, môi trường học đường còn chứa đựng nhiềunguy cơ, trong thời gian gần đây, trên các website thường xuất hiện các clipđánh nhau, hành hạ, lột đồ, mại dâm, điều đó cũng dần len lỏi và ảnh hưởngđến trẻ vị thành niên, tạo cảm giác mất an toàn, lo âu ở trẻ Áp lực học hànhđến từ chương trình học, sự kỳ vọng của cha mẹ vào con cái, tâm lý bằng cấp,không đánh giá đúng năng lực của bản thân con cái để có những đòi hỏi phùhợp,… cũng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần trẻ vị thànhniên Số lượng học sinh mắc chứng nhiễu tâm (lo âu, trầm cảm, hoảng loạn,hung tính, tự sát…) do học tập ngày càng lớn [24] Theo một nghiên cứukhác, có 47% số học sinh được khảo sát nói rằng mình bị nhiều áp lực bởiviệc học hằng ngày và 34% cho rằng có quá nhiều cạnh tranh trong lớp học;60% trả lời có áp lực do nghĩ về tương lai và 32% than phiền về việc bị phụhuynh quan tâm quá nhiều đến việc học tập, từ đó tạo nên áp lực cho các em.Cũng theo kết quả nghiên cứu, khối lượng học tập là một gánh nặng đối vớihọc sinh, có 70% học sinh được khảo sát đều nhận định: có quá nhiều bài tập
ở trường, chưa kể số lượng bài tập được giao về nhà và các bài thi, kiểm trathường xuyên gây áp lực cho học sinh Hơn 80% học sinh bày tỏ mối lo lắng
về điểm số, bởi điểm số không như mong đợi dễ làm cho cha mẹ các em thấtvọng và bản thân các em cũng thấy lo sợ về tương lai… Tất cả những hiệntượng nêu trên nếu kéo dài thì sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, không chỉ thể chất
mà còn cả tinh thần của học sinh Điều này được minh chứng qua kết quảnghiên cứu: hơn 71% học sinh có biểu hiện chán nản, thất vọng trong học tập.Các triệu chứng khác như thiếu tự tin, khó tập trung trong học tập cũng chiếmmột tỷ lệ tương đối cao [21]
Trang 26Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số các huyện và thành phố của TâyNinh đã qua khảo sát, điều tra, tỷ lệ học sinh bị stress do học tập có sự khácbiệt Nơi mà học sinh có biểu hiện stress cao nhất là Hoà Thành, thấp nhất làhuyện Tân Biên Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở những gia đình có từhai con trở lên thì tỷ lệ con em bị căng thẳng thần kinh thấp hơn những giađình chỉ có một con Những học sinh có tranh cãi gay gắt với thầy cô giáohoặc bị thầy cô la mắng, hăm dọa hoặc bị phạt thì tình trạng bị stress cao hơnkhoảng từ 22 - 40% so với những học sinh khác Điều này nói lên việc họcsinh bị căng thẳng tinh thần không chỉ do học hành, bài vở mà còn do cácnguyên nhân khác có liên quan đến vai trò của gia đình và nhà trường [21].
Trong nghiên cứu “Thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh THCS ở
Hà Nội và nhu cầu tham vấn sức khỏe tâm thần học đường” stress liên quanđến gia đình, quan hệ với bố mẹ và các chấn thương ở trẻ… [14] Nghiên cứucủa Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành (2010) tại trường THPT Phan BộiChâu, Phan Thiết, Bình Thuận chỉ ra các mối liên quan có ý nghĩa thống kêgiữa stress ở học sinh lớp 12 với giới tính và học lực; đứng ở góc độ gia đình,
có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa stress với sức khỏe người thân vànhững áp lực, kỳ vọng học tập từ gia đình; đứng ở góc độ nhà trường, có mốiliên quan giữa stress với những áp lực học tập và thi cử; đứng ở góc độ bảnthân học sinh là những cạnh tranh trong học tập, ngoại hình bản thân, nhữngbệnh lý liên quan đến học tập (cận thị, cong vẹo cột sống) và việc không tậpthể dục thể thao đều đặn; đứng ở góc độ xã hội như không có bạn bè thân vànhững lo lắng về an ninh nơi ở Ngoài vấn đề học tập, mối quan hệ với bạn bècũng được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng stresstrong học sinh Nghiên cứu cũng cho kết quả như sau: số học sinh bị bắt nạt
về thể chất và tinh thần khiến sinh ra stress chiếm tỷ lệ tương đương với số
em bị stress do học tập [25]
Trang 271.4 Công cụ sử dụng nghiên cứu stress ở học sinh - sinh viên
Trên thế giới hiện nay có nhiều bộ công cụ được sử dụng để đánh giá cácvấn đề về sức khỏe tâm thần Một số bộ công cụ đã được chuẩn hóa và sửdụng phổ biến trong các nghiên cứu cũng như trong chẩn đoán lâm sàng vềstress như: bộ công cụ về đánh giá stress nghề nghiệp (JSQ), đánh giá trạngthái phản ứng thông qua test Soly-Bensabal, nghiên cứu sức khỏe tâm thầnbằng thang SDQ, bộ câu hỏi đánh giá stress của Beck & Srivastava…
Bộ câu hỏi đánh giá stress của Beck & Srivastava (BBSI) (1991): đượcchỉnh sửa dựa trên những kết quả điều tra của Firth (1983) và Frances &Naftel (1986) Bộ câu hỏi được chia làm 2 phần: phần 1 là những câu hỏi yêucầu sinh viên mô tả những khó khăn gặp phải trong cuộc sống cũng như các
kỳ thi trong vòng 1 tháng qua mà sinh viên cảm thấy áp lực; phần 2 bao gồm
44 tiểu mục, mỗi tiểu mục được cho điểm từ 0 đến 4 điểm để đánh giá mức độtress ở sinh viên [55], tuy nhiên bộ câu hỏi này thường dùng để đánh giástress và trầm cảm ở sinh viên
Đánh giá trạng thái phản ứng thông qua test Soly-Bensabal bao gồm 30câu hỏi, mỗi câu hỏi là trạng thái biểu hiện phản ứng có số điểm tương ứngtheo các mức độ từ điểm 1 đến điểm 4 Theo Soly-Bensabal, thông qua điểm
số về những mức độ biểu hiện cụ thể, có thể xác định mức độ stress [11]
Bộ câu hỏi về Điểm mạnh và khó khăn (SDQ) (Goodman, 1997;Goodman et al; 1998) Các Thang đo này đã được sửa đổi từ những công cụđánh giá các vấn đề về tâm lý và hành vi được sử dụng nhiều nhất có tên làRutter A, dành cho trẻ em và trẻ vị thành niên và Rutter B, công cụ dành chophụ huynh và giáo viên Mặc dù vẫn tương tự với tài liệu của Rutter, ngôn
từ của Bộ câu hỏi về Điểm mạnh và khó khăn đã được sắp xếp lại để tậptrung vào đánh giá điểm mạnh và khó khăn trong hành vi và cảm xúc của trẻ
Bộ câu hỏi thực tế bao gồm với 5 Thang đo: hành vi được xã hội ủng hộ, tínhhiếu động, những vấn đề về cảm xúc, vấn đề hành vi, và vấn đề bạn bè Bộ tàiliệu có các thang đo khác nhau
Trang 28dành cho những người chăm sóc, hoặc giáo viên của trẻ từ 3 đến 16 tuổi, vàdành cho thanh thiếu niên từ 11 đến 18 tuổi Những câu hỏi này cũng đã được
sử dụng cho trẻ khuyết tật và giáo viên cùng người chăm sóc trẻ, tuy nhiên
bộ câu hỏi này chủ yếu đánh giá về sức khỏe tâm thần nói chung [34]
Thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS21) (Depression – Anxiety – Stress Scale): là thang đo đánh giá được cả 3 vấn
đề SKTT gồm stress, lo âu và trầm cảm, được sử dụng khá phổ biến trongnghiên cứu khoa học cũng như được ứng dụng trong lâm sàng giúp hỗ trợchẩn đoán Thang đo DASS 21, đây là phiên bản rút gọn của DASS 42 nhằmtạo sự tiện lợi hơn cho người dùng DASS 42 gồm 42 tiểu mục chia thành 3nhóm, mỗi nhóm 14 tiểu mục sẽ đánh giá về một vấn đề sức khỏe tâm thần
là stress, lo âu hoặc trầm cảm Tương tự, DASS 21 gồm 21 tiểu mục chiathành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục Mỗi tiểu mục là một mô tả vềtriệu chứng thực thể hoặc tinh thần Điểm cho mỗi tiểu mục là từ 0 đến 3điểm, tùy thuộc vào mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng Cũng nhưthang đo khác, kết quả thu được từ DASS 21 không có ý nghĩa chẩn đoán xácđịnh bệnh mà chỉ có vai trò sàng lọc ban đầu những đối tượng có biểu hiệnstress, lo âu, trầm cảm Từ đó khuyến cáo họ nên tìm sự giúp đỡ từ cácchuyên gia tâm lý sớm và có chế độ điều trị, chăm sóc, nghỉ ngơi phù hợp.Các biểu hiện về thể chất và tâm lý được mô tả trong thang đo chỉ tínhđược trong khoảng thời gian 1 tuần trở lại vì vậy kết quả thu được từ thang đochỉ có giá trị ngay tại thời điểm đánh giá [32], [51]
Trong các thang đo trên hiện chỉ có thang đo DASS 21 được Viện sứckhỏe tâm thần quốc gia biên dịch, thử nghiệm trên một số đối tượng nghềnghiệp khác nhau như lái xe bus, công nhân dệt may [32] và cũng được sửdụng nhiều trong các nghiên cứu trên đối tượng là học sinh - sinh viên tại ViệtNam Nghiên cứu của Lê Minh Thuận (2010) ở sinh viên trường Đại học Y -Dược thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Eslami AA và cộng sự (2016) trongnghiên cứu “Hiệu quả rèn luyện tính ứng phó với mức độ căng thẳng, lo âu và
Trang 29trầm cảm của học sinh trung học” và các tác giả Singh K, Junnarkar M,Sharma S, trong nghiên cứu “Lo lắng, căng thẳng, trầm cảm, và chức năngtâm lý xã hội của thanh thiếu niên Ấn Độ” đều sử dụng bộ công cụ này dotính thuận tiện và nó phù hợp với đối tượng học sinh [23], [58], [41].
Như vậy, sử dụng DASS 21 để đánh giá thực trạng stress ở học sinh làhoàn toàn phù hợp và khả thi Điều này rất quan trọng để làm tăng cường sựquan tâm, chăm sóc về sức khỏe tâm thần cho học sinh Do đó, trong nghiêncứu này chúng tôi sử dụng bộ công cụ DASS 21 cho học sinh tự điền và xácđịnh học sinh có tổng điểm stress >14 là có vấn đề stress
1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Trường THPT Lương Phú – Phú Bình – Thái Nguyên nằm trên địa bànmột xã khu vực 2 nông thôn, kinh tế còn khó khăn, nghề nghiệp chính là nôngnghiệp nên ngoài việc học tập tại trường thì các em còn phải phụ giúp gia đìnhtăng gia sản xuất, điều đó có thể là gánh nặng gây ảnh hưởng tới SKTT vàthể chất của học sinh Trường trung học phổ thông Lương Phú được thành lậpvào năm 2003 với cơ sở vật chất nghèo nàn, trong hai năm đầu trường phảimượn cơ sở vật chất tại trường THCS Lương Phú để đáp ứng nhu cầu học tậpcủa các em học sinh Đến năm 2005 cơ sở vật chất của trường cơ bản đượchoàn thiện phục vụ nhu cầu học tập cho khoảng hơn 1200 các con em trên địabàn xã và các xã lân cận… Khoảng cách từ nhà đến trường của nhiều em họcsinh còn khá xa gần 20km, điều kiện giao thông đi lại còn nhiều khó khăn,phương tiện đi lại chủ yếu là xe đạp… điều đó cũng gây ảnh hưởng đến sứckhỏe của các em học sinh Trong đó SKTT ảnh hưởng nhiều đến cuộc sốngcủa học sinh, đến mối quan hệ của học sinh với thầy cô, bạn bè, người thân,đến kết quả học tập cũng như sự phát triển chung của các em học sinh Nhữngnăm gần đây, các nghiên cứu đánh giá về sức khỏe tâm thần của học sinh, đặcbiệt là học sinh phổ thông mới được chú trọng nhiều hơn Vì vậy, đánh giástress của học sinh phổ thông rất cần thiết để góp phần đưa ra giải pháp canthiệp nhằm tăng cường sức khỏe tâm thần cho học sinh
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
* Nghiên cứu định lượng
- Học sinh khối 10, 11, 12 trường Trung học phổ thông Lương Phú - PhúBình - Thái Nguyên
- Giáo viên chủ nhiệm lớp tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 6/2016 - 12/2016
- Địa điểm: Trường trung học phổ thông Lương Phú - Phú Bình - Thái Nguyên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang, kết hợp địnhlượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu và kĩ thuật chọn mẫu
* Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng:
Trang 31α: Mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số Z =1,96
12
p: Tỷ lệ rối loạn stress, chọn p = 0,5 (Theo nghiên cứu
“Thực trạng stress của học sinh trung học phổ thông và một số yếu tố liênquan tại trường trung học phổ thông Phan Đình Phùng, Hà Nội, năm 2014 củaTrần Thị Hồng Vân và cộng sự, tỷ lệ học sinh bị stress là 46,1%) [29]
q: 1 - pd: Độ chính xác mong muốn, chọn d = 0,05
Áp dụng công thức ta có số đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là: 385 người
Cỡ mẫu cha mẹ học sinh: Toàn bộ cha mẹ học sinh của 1 lớp khối 10, 1
lớp khối 11 và 1 lớp khối 12 tham gia nghiên cứu
* Cỡ mẫu nghiên cứu định tính:
Cỡ mẫu Lãnh đạo nhà trường và giáo viên chủ nhiệm: toàn bộ lãnh đạonhà trường và giáo viên chủ nhiệm của các lớp tham gia nghiên cứu
* Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn chủ đích trường trung học phổ thông Lương Phú Phú Bình Thái Nguyên
Chọn khối: Chọn cả 3 khối lớp 10, 11, 12 tham gia nghiên cứu
- Chọn lớp: 12 lớp (4 lớp khối 10, 4 lớp khối 11 và 4 lớp khối 12)
Cách chọn: Mỗi khối có 10 lớp, mỗi lớp trung bình có 40 học sinh
Lập danh sách các lớp theo khối Bốc thăm ngẫu nhiên mỗi khối 4 lớpvào nghiên cứu
- Chọn học sinh: Chọn toàn bộ học sinh trong các lớp đã được chọn
- Chọn mẫu cha mẹ học sinh: Trong 12 lớp đã được chọn vào nghiên cứu, bốc thăm mỗi khối 1 lớp và chọn toàn bộ cha/mẹ của các em học sinh trong lớp đó
Chọn mẫu lãnh đạo nhà trường và giáo viên chủ nhiệm: Chọn toàn bộlãnh đạo nhà trường và giáo viên chủ nhiệm các lớp tham gia nghiên cứu
Trang 322.5 Công cụ và vật liệu nghiên cứu
2.5.1 Công cụ và vật liệu dành cho nghiên cứu thực trạng stress và tác hại tâm lý của stress sở học sinh
- Sử dụng Test tâm lý: DASS 21 để đánh giá thực trạng stress và một sốhậu quả của stress ở học sinh
- Phiếu điều tra học sinh về một số tác hại tâm lý của stress
2.5.2 Công cụ và vật liệu dành cho nghiên cứu các yếu tố liên quan đến stress ở học sinh bao gồm:
- Phiếu điều tra học sinh: xây dựng theo yêu cầu và mục tiêu nghiêncứu Sau khi xây dựng xong, tiến hành điều tra thử trên 15 học sinh và chỉnhsửa nội dung cho phù hợp với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
- Phiếu điều tra cha mẹ học sinh: được xây dựng tương tự như mẫuphiếu điều tra học sinh
- Phiếu phỏng vấn sâu giáo viên chủ nhiệm, lãnh đạo nhà trường
2.6 Kĩ thuật thu thập số liệu
2.6.1 Đối với học sinh và cha mẹ của học sinh
Bước 1: Chuẩn bị
- Trước nghiên cứu: Nghiên cứu viên liên hệ với Ban giám hiệu và giáoviên chủ nhiệm để thảo luận và thống nhất về nội dung, cách thức, thời giannghiên cứu Lấy phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu của cha mẹ và học sinh
- Trước khi phát vấn bằng bộ phiếu tự điền được thiết kế sẵn, điều traviên giới thiệu với học sinh và cha mẹ học sinh về mục đích và lợi ích củanghiên cứu Điều tra viên cũng giới thiệu nội dung của phiếu tự điền, giảithích một số cụm từ mà đối tượng nghiên cứu chưa hiểu rõ
Bước 2: Tiến hành điều tra
- Học sinh và cha mẹ học sinh điền các thông tin vào phiếu theo sựhướng dẫn và giám sát của điều tra viên
Trang 33- Ngay sau khi học sinh và cha mẹ học sinh điền phiếu xong, ĐTVkiểm tra lại phiếu nếu có thông tin thiếu sót hoặc có những câu hỏi mà họcsinh, cha mẹ học sinh chưa điền thì yêu cầu bổ sung ngay tại thời điểm điềutra.
2.6.2 Đối với giáo viên chủ nhiệm và ban lãnh đạo nhà trường
Bước 1: Chuẩn bị
Trước nghiên cứu: Nghiên cứu viên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm vàlãnh đạo nhà trường để thống nhất thời gian phỏng vấn
Trước khi phỏng vấn: Giới thiệu với đối tượng nghiên cứu về mục đích
và lợi ích của nghiên cứu Đảm bảo các thông tin được giữ bí mật, không gâyảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu
Bước 2: Tiến hành phỏng vấn
- Điều tra viên đặt câu hỏi và giải thích câu hỏi để đối tượng trả lời
- Kiểm tra lại phiếu phỏng vấn để bổ sung những thông tin còn thiếu
2.7 Chỉ số nghiên cứu
2.7.1 Các chỉ số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
- Các chỉ số về thông tin chung của học sinh bao gồm: phân bố theogiới tính, phân bố theo khối học, phân bố theo dân tộc
- Các chỉ số về thông tin chung của cha mẹ học sinh bao gồm: phân bốtheo nhóm tuổi, phân bố theo giới tính, phân bố theo dân tộc của cha mẹ họcsinh, theo trình độ văn hóa
2.7.2 Mục tiêu 1: Các chỉ số về thực trạng stress ở học sinh
- Tỷ lệ học sinh bị stress theo thang đo DASS 21 (Depression – Anxiety– Stress Scale 21)
- Mức độ stress theo thang đo DASS 21
- Đặc điểm stress tâm lý của học sinh theo thang đo DASS 21
- Một số ảnh hưởng của stress đối với học sinh như lo âu, trầm cảm
2.7.3 Mục tiêu 2: Các chỉ số về yếu tố liên quan đến stress ở học sinh
* Các yếu tố về gia đình như:
Trang 34- Tình trạng hôn nhân của cha, mẹ.
- Nghề nghiệp của cha, mẹ
- Trình độ học vấn của cha, mẹ
- KAP của cha mẹ về chăm sóc rối loạn stress ở trẻ
- Thứ tự con trong gia đình
- Tần suất mâu thuẫn trong gia đình
- Tần suất đối tượng bị mắng, chửi
- Sự quan tâm của cha mẹ với stress ở học sinh
* Các yếu tố về nhà trường:
- Cảm nhận về lượng kiến thức tại trường
- Lượng bài tập về nhà
- Nội quy nhà trường
- Sự quan tâm của giáo viên chủ nhiệm
- Hài lòng với các mối quan hệ bạn bè
0 điểm: Không đúng với tôi chút nào cả
1 điểm: Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng
2 điểm: Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng
3 điểm: Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng
Các câu hỏi theo thang đo DASS 21 (xem phần phụ lục)
Cách tính điểm:
Trang 35Điểm của stress và lo âu, trầm cảm do stress được tính bằng cách cộngđiểm các đề mục thành phần, rồi nhân hệ số 2.
Đánh giá KAP: dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn KAP của cha mẹ học sinh.
* Đánh giá kiến thức: phần kiến thức, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trảlời sai không tính điểm Tổng số điểm của phần kiến thức được phân chia làm 2mức độ chưa tốt và tốt theo phân loại của Bloom như sau [22]:
Tập huấn kỹ cho điều tra viên và thực hành điều tra
Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, trước khi tiến hành điều tra cóđiều tra thử và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp
Trang 36Mọi thông tin cá nhân của các đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật,không tiết lộ nhằm thu thập thông tin một cách chính xác nhất.
Đối tượng nghiên cứu được sắp xếp vị trí chỗ ngồi, có sự giám sátcủa ĐTV để tránh sự trao đổi thông tin, các vấn đề chưa rõ có thể hỏi trực tiếpĐTV
Sau khi đối tượng nghiên cứu tự điền phiếu câu hỏi, ĐTV kiểm tra ràsoát lại các thông tin, đầy đủ mới thu lại phiếu
2.10 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập và quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1
Phân tích và xử lý số liệu dựa trên phần mềm SPSS 18.0 với các testthống kê thông thường như tính tỷ lệ %, sử dụng kiểm định Khi bình phương,giá trị OR, để xem xét các yếu tố liên quan
2.11 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này được sự đồng ý của lãnh đạo nhà trường, giáo viên chủnhiệm, phụ huynh và học sinh tham gia nghiên cứu Trước khi tham gianghiên cứu đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích của nghiêncứu và hoàn toàn có quyền quyết định tự nguyện tham gia nghiên cứu haykhông, đồng thời có giấy cam kết đồng ý tham gia nghiên cứu của phụ huynh
và học sinh Thông tin của đối tượng nghiên cứu hoàn toàn được giữ bí mật,không gây ảnh hưởng đến cuộc sống, tâm lý và sức khỏe của đối tượngnghiên cứu Kết quả nghiên cứu được thông báo cho các đơn vị y tế, cơ quanchuyên trách trên địa bàn Trên cơ sở kết quả nghiên cứu nhằm cung cấpthông tin và đưa ra những khuyến nghị cho việc làm giảm tình trạng stress vànâng cao sức khỏe cho học sinh
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
3.1.1 Các thông tin chung của học sinh
Bảng 3.1 Đặc điểm về thông tin chung của học
Nhận xét: Trong tổng số 396 học sinh tham gia nghiên cứu, học sinh
khối 10 chiếm 34,8%, trong đó nam là 37%, nữ là 63%, khối 11 là 47,2%trong đó nam là 34,2%, nữ là 65,8% và học sinh khối 12 tham gia vào nghiêncứu là 18%, trong đó nam là 50,7%, nữ là 49,3%
- Đa số học sinh là người dân tộc kinh 91,9%, học sinh các dân tộc thiểu
số chiếm 8,1%
Trang 383.1.2 Thông tin chung về nhóm cha mẹ học sinh
Bảng 3.2 Đặc điểm chung về nhóm cha mẹ học sinh
Nhận xét: Trong tổng số 113 cha mẹ học sinh tham gia nghiên cứu tỷ lệ
cha mẹ học sinh từ 30 – 40 tuổi tham gia nghiên cứu là 39,8%, 40 – 50 tuổitham gia nghiên cứu là 51,3%, trên 50 tuổi chiếm 8,9%
- Phụ huynh nam tham gia nghiên cứu là 56,6%, phụ huynh nữ là 43,4%
- Trình độ học vấn của nhóm cha mẹ tham gia nghiên cứu đa số là trunghọc phổ thông trở xuống, chuyên nghiệp chiếm 21,2%
- Đa số phụ huynh tham gia nghiên cứu là người dân tộc kinh 88,5%,dân tộc thiểu số chiếm 11,5%
Trang 39hiện stress chiếm tỷ lệ 31,1%.
Biểu đồ 3.2 Mức độ stress ở học sinh Nhận xét: Trong 123 học sinh bị stress, stress ở mức độ nhẹ chiếm
39%, vừa chiếm 30,9%, nặng chiếm 22% và rất nặng là 8,1%
Trang 40Bảng 3.3 Mức độ stress theo khối học
Stress Khối