Mối liên quan giữa nhóm tuổi của người nghiện chích ma túy với hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm tại thành phố Bắc Giang...44Bảng 3.9.. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của chích
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án dotôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu khoahọc nào
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Học viên
Trang 2Các thày, cô Khoa y tế công cộng đã giảng dạy, hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế, Ban Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Bắc Giang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình hoạc tập.
Cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Y tế Thành phố Bắc Giang, Trạm y Tế phường Trần Nguyên Hãn, Ngô Quyền, Mỹ Độ, Lê lợi Cảm ơn lãnh đạo UBND phường Trần Nguyên Hãn, Ngô Quyền, Mỹ Độ, Lê lợi đã giúp đỡ thu thập thông tin trong khi làm luận án này.
Xin cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã giúp
đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn và hoàn thành khóa học.
Xin chân thành cảm ơn !
Bắc Giang, tháng 11 năm 2014
Học viên
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS 3
ễm HIV ở nguời nghiện ma túy 18
1.3 Một số khái niệm 24
1.4 Đường lây nhiễm HIV/AIDS 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
ứu 33
2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 35
2.5 Đạo đức nghiên cứu 37
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1.Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc Giang năm 2013 - 2014 38
3.2 Hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người NCMT 40
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người NCMT 48
Trang 4Chương 4: BÀN LUẬN 54
4.1.Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc Giang năm 2013-2014 544.2 Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người NCMT 58
KẾT LUẬN 61 KIẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AIDS “ Acquired Immunodeficiency Syndrome”,
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngườiHIV “ Human Immuno Deficience virut”
Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngườiELISA “ Enzyme liked Immun soebent Assay”
Xét nghiệm hấp thụ miễn dịch gắn men
STI Lây nhiễm qua đường tình dục
VCT Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
WHO “ World hedlth organization” Tổ chức Y tế thế giới
Trang 6về hành vi lây nhiễm HIV/AIDS 40Bảng 3.5 Thời gian, hút hít và tiêm chích ma túy của người NCMT 41Bảng 3.6 Đặc điểm hành vi tiêm chích ma tuý 41Bảng 3.7 Tỷ lệ người NCMT không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
với các đối tượng 44Bảng 3.8 Mối liên quan giữa nhóm tuổi của người nghiện chích ma túy với
hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm tại thành phố Bắc Giang 44Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nghề nghiệp với hành vi sử dụng chung BKT
của người NCMT túy tại thành phố Bắc Giang 45Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của chích ma túy tại với
hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT tại thành phố Bắc Giang đến 45Bảng 3.11 Mối liên quan giữa thời gian tiêm chích ma túy với hành vi sử
dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT thành phố Bắc Giang 46
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tần suất tiêm chích ma túy/ ngày với hành vi
sử dụng chung bơm kim tiêm của người nghiện chích ma túy 46Bảng 3.13 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và hành vi sử dụng bao cao su khi
quan hệ tình dục của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang 47
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của người nghiện chích ma túy với
hành vi sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục thành phố Bắc Giang 47
Trang 7Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với hành vi sử dụng bao
cao su khi quan hệ tình dục của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang 48
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm cửa người NCMT từ khi
bắt đầu tiêm chích tại thành phố Bắc Giang 40Biểu đổ 3.2 Tỷ lệ hành vi quan hệ tình dục của người NCMT tại thành Phố
Bắc Giang 43Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục của người NCMT 43
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tínhmạng, sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dântộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự
và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước HIV/AIDShiện nay đã trở thành đại dịch trên phạm vi toàn thế giới Số người nhiễmHIV và chết do căn bệnh này gây nên ngày càng gia tăng Hàng năm, trên thếgiới có hàng triệu người mắc và chết do căn bệnh thế kỷ này Trong nhữngnăm gần đây do sự gia tăng của tệ nạn ma tuý, đặc biệt là sự chuyển đổi hìnhthức sử dụng ma tuý từ hút, hít sang tiêm chích ngày càng tăng đã kéo theo sựbùng phát HIV/AIDS ở nhiều châu lục, đặc biệt là châu Á Số người nghiệnchích ma tuý nhiễm HIV chiếm 76% tổng số người nhiễm HIV ở Malaysia;64% ở Việt Nam; 55% ở Myama và 50% Ở Trung Quốc Ở Việt Nam từ 1trường hợp bị nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/1990 tại thànhphố Hồ Chí Minh, chỉ sau đó 8 năm, tháng 12/1998 toàn bộ 61/61 tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung Ương đều phát hiện có người nhiễm HIV
Theo Bộ Y tế, tính đến hết ngày 31/5/2013, số trường hợp HIV hiệncòn sống là 213.413 trường hợp Số bệnh nhân AIDS còn sống là 63.373trường hợp và hơn 65 nghìn trường hợp tử vong do AIDS Tỷ lệ nhiễm HIVtoàn quốc theo báo cáo là 243 người trên 100.000 dân Tỉnh Điện Biên vẫn làđịa phương có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (1015,8),tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (677), thứ 3 là Thái Nguyên (610,6) Táchại của dịch chủ yếu tập trung vào các nhóm hành vi nguy cơ cao, nhómnghiện chích ma túy (NCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD) [24]
Tại tỉnh Bắc Giang tính đến 31/12/2013 số người nhiễm HIV tích lũy
2548 người, bệnh nhân AIDS là 1637 người và 1015 người tử vong do AIDS.Đến nay cả 10 huyện, thành phố với 191/230 xã, phường, thị trấn (83%) cóngười nhiễm, kể cả các xã vùng sâu, vùng xa [4]
Trang 10Qua điều tra nghiên cứu thực trạng hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV vàmột số yếu tố liên quan ở người nghiện ma tuý tại thành phố (TP) Bắc Giang,tỉnh Bắc Giang, năm 2006 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMTchiếm 74,7%, cao hơn so với các tỉnh lân cận Tỷ lệ sử dụng chung BKTtrong vòng 1 tháng trước điều tra chiếm 41,67%, tỷ lệ không sử dụng BCS khiquan hệ tình dục chiếm 72% Tỷ lệ người NCMT có kiến thức phòng lâynhiễm HIV không đạt yêu cầu chiếm 36,3% [22].
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nguy lây nhiễm HIV là sử dụngchung BKT khi tiêm chích và không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD;Người NCMT trẻ tuổi, tình trạng hôn nhân bất ổn, người NCMT không có nghềnghiệp, người NCMT không nhận được BKT, BCS miễn phí, chưa nhận đượccác thông tin truyền thông phòng chống HIV/AIDS, ngoài ra còn bị ảnh hưởngbởi trình độ hiểu biết, hoàn cảnh sống, sự ích kỷ của gia đình, cha/mẹ, sự kỳ thịcủa người thân, bạn bè, làng xóm, sự cấm đoán, bắt bớ của chính quyền địaphương, công an các cấp làm cho người NCMT phải sống lén lút, khó tiếp cậnvới các chương trình can thiệp hỗ trợ, phòng chống HIV/AIDS Đây chính lànhững nguyên nhân làm cho tỷ lệ người NCMT tại TP Bắc Giang ngày càngtăng, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người NCMT khó kiểm soát [22]
Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích matúy ở thành phố Bắc Giang có những hành vi lây nhiễm nào? Yếu tố nào ảnhhưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người nghiện chích ma túy?
Xuất phát từ lý do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài “Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang ” nhằm mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người nghiện chích
ma túy tại thành phố Bắc Giang năm 2013 - 2014
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDScủa người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS
1.1.1 Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV /AIDS trên thế giới
Đại dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ những năm đầu của thập kỷ
80 của thế kỷ 20 nhưng đã nhanh chóng lan ra khắp toàn cầu Lúc đầu dịchxảy ra chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, tạinhững thành phố lớn, ở những người đồng tính luyến ái và tiêm chích ma tuý.Đến nay, HIV/AIDS không loại trừ bất cứ nhóm xã hội nào, một quốc gianào, dù là nước có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thật tiên tiến như Mỹ, Pháp,Đức hay những quốc gia chậm phát triển như Zimbabwe, Nigeria và hiệntại đại dịch HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Nam
Á và Đông Nam Châu Á Cho đến nay, đại dịch HIV/AIDS đã, đang pháttriển và lây lan rộng khắp trên thế giới [10]
Trải qua hơn 30 năm đấu tranh phòng, chống HIV/AIDS, các quốc giatrên thế giới đã và đang phải đương đầu với một đại dịch có tính chất hết sứcnguy hiểm Tính đến cuối năm 2009, UNAIDS và WHO đã công bố cókhoảng 46 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống, 5,8 triệu người mớinhiễm trong năm và 0,5 triệu người tử vong do AIDS trong năm Tại nhiềunước đang phát triển, phần lớn các trường hợp nhiễm mới là thanh niên.Khoảng 1/3 trong tổng số những người hiện đang bị nhiễm HIV/AIDS ở độtuổi 15-24, phần lớn trong số họ không biết mình đang mang vi rút HIV.Hàng triệu người hầu như không biết hoặc biết rất ít về HIV/AIDS để tự bảo
vệ mình chống lại căn bệnh này Theo báo cáo của UNAIDS và WHO, khuvực cận Sahara có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao nhất, tiếp đến là Châu Á- TháiBình Dương [45]
Trang 12Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới ở người lớn, cao nhất là vùngcận Sahara với 8,4% người lớn bị nhiễm HIV/AIDS, tiếp theo là khu vựcCaribe, Đông Nam châu Á, khu vực Bắc Mỹ Hình thái lây truyền chủ yếu
ở các khu vực là QHTD khác giới, TCMT và có một vài khu vực hình thứclây truyền chính là QHTD đồng tính nam giới Theo báo cáo của UNAIDS,
ở hầu hết các khu vực nam giới mắc nhiều hơn nữ giới, riêng ở khu vực cậnSahara nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn và hình thái lây nhiễm chủ yếu qua QHTDkhác giới [46]
Dora Mbanya và cộng sự khi nghiên cứu về thực trạng HIV ởCameroon cho biết tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở Cameroon đã dần dần tăng lên từ0,4% năm 1987 lên 1,2% vào năm 1990 và từ 4% năm 1992 lên đến 7% năm
1997, lên 11% vào năm 2000 và 11,8% năm 2002 và năm 2004, tỷ lệ hiệnmắc HIV/AIDS trên toàn quốc ở mức 5,5% Phương thức lan truyền chủ yếu
là tình dục khác giới 90% với các đường máu là 5% Phụ nữ Cameroon bịnhiễm HIV cao hơn nam giới, chiếm khoảng 55% các trường hợp Theo báocáo của DHS năm 2004 nhiễm trùng HIV được phát hiện ở 6,8% nữ giới, sovới 4,1% ở nam giới [44]
HIV/AIDS lan ra Châu Á khá muộn, trường hợp nhiễm HIV đầu tiêntại khu vực này được phát hiện tại Thái Lan vào năm 1985, đến cuối nhữngnăm 90, Campuchia, Myanmar và Thái Lan công bố bệnh dịch đáng lo ngạitrên toàn đất nước Năm 2001 có tới 1,07 triệu người lớn và trẻ em bị nhiễmHIV tại Châu Á- Thái Bình Dương, đưa tổng số người bị nhiễm HIV tại khuvực lên tới 7,1 triệu người Dịch tễ học lây nhiễm HIV ở khu vực này cónhiều hình thái đặc biệt, tại Thái Lan và Campuchia hình thái lây nhiễm HIVchủ yếu qua QHTD khác giới, nhưng một số nước khác như Việt Nam, TrungQuốc, Malaysia có hình thái lây nhiễm chủ yếu qua TCMT và lây truyền quaquan hệ tình dục khác giới ngày càng tăng [45]
Trang 13Tại Trung Quốc, UNAIDS và WHO ước tính có khoảng 1, 5 triệungười bị nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 850.000 người lớn, 220.000 là phụ
nữ Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tuổi từ 15 - 24 theo ước tính vào khoảng0,20% Trong 6 tháng đầu năm 2001 số lượng người bị nhiễm HIV tăng67,4% so với năm 2000 Đường lây truyền của dịch HIV tại Trung Quốc chủyếu là do TCMT Vào năm 2000, 7 tỉnh của Trung Quốc đã phải đối mặt vớinguy cơ lan tràn dịch HIV, hơn 70% số người TCMT bị HIV dương tính ởmột số khu vực như quận Yili ở Xingjiang và quận Ruili ở Vân Nam [40]
* Thực trạng lây nhiễm HIV ở người nghiện ma túy
Mặc dù trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện trong nhómngười đồng tính luyến ái, không phải trong nhóm NCMT, nhưng đến năm
1993 đã có 52 nước trên thế giới công bố có người NCMT nhiễm HIV và đếnnăm 2010, sự liên quan giữa lây nhiễm HIV với tiêm chích đã được ghi nhận
ở 182 nước [35]
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một khi có HIV dương tínhtrong cộng đồng người nghiện chích ma tuý, tỷ lệ nhiễm (xét nghiệm huyếtthanh dương tính) rất nhanh trừ khi có biện pháp phòng ngừa thích hợp được
áp dụng ngay lập tức như chương trình tiếp cận cộng đồng, cung cấp BKTsạch, phân phát BCS Thêm vào đó, người NCMT nhiễm HIV lại có nhữngquan hệ tình dục với nhiều người khác làm cho nguy cơ lây lan trong cộngđồng tăng cao
Tỉ lệ phụ nữ bị nhiễm HIV tăng cao hầu hết là do quan hệ tình dục vớiđàn ông NCMT nhiễm HIV Các tụ điểm tiêm chích giữ vai trò rất quan trọngtrong tiến trình lây nhiễm [33]
Tỷ lệ hành vi nguy cơ liên quan đến HIV trong 12 tháng trước đóthường giảm theo tuổi Tỷ lệ người NCMT có trình độ học vấn dưới trung họcphổ thông dùng chung bơm tiêm cao hơn (38%) so với những người NCMT
Trang 14có trình độ học vấn trung học phổ thông 32% hoặc những người có trình độhọc vấn đại học 31% [43].
Nghiên cứu trên 325 người sử dụng ma tuý ở Quảng Tây, Trung Quốc,tác giả Zhang G và cộng sự cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV là 40,9%(114/279) trong số những người tiêm chích ma tuý và chỉ có 4,3% (2/46)trong những người nghiện ma tuý sử dụng qua đường uống, 76,7% ngườinghiện ma tuý sử dụng chung bơm kim tiêm Các yếu tố nguy cơ chính liênquan đến lây nhiễm HIV là tiêm chích ma túy qua đường tiêm tĩnh mạch vàdùng chung bơm kim tiêm [54]
Tại một số bang của Ấn Độ tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong nhómNCMT và tình dục đồng giới nam Ngoài vùng Đông Bắc Ấn Độ, nơi dùngchung bơm kim tiêm “bẩn” là yếu tố nguy cơ phổ biến nhất, HIV dường nhưđang lan tràn chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn giữa người bándâm, khách mua dâm và những bạn tình NCMT của họ [29]
Nghiên cứu của Arshad Altaf và cộng sự về HIV trong số người tiêmchích ma tuý ở Hyderabad và Sukkur, Pakistan cho thấy tuổi trung bình củangười tiêm chích ma tuý ở Hyderabad là 36,5 tuổi và 34,6 tuổi ở Sukkur.Dùng chung dụng cụ tiêm chích trong lần tiêm cuối cùng được báo cáo là 34người 8,5% ở Hyderabad và 135 người 33,6% ở Sukkur Ở cả 2 thành phố,các hành vi như dùng ma tuý qua đường tiêm > 10 năm và tiêm 4 lần hoặc > 4lần/ngày Ở Hyderabad, tỷ lệ hiện hiện nhiễm HIV là 25,4% (101/398) và ởSukkur, tỷ lệ này là 19,2% (77/402) Phần lớn những người NCMT tạiHyderabad và Sukkur là thất học (53,8% và 51%) Hơn một nửa 54,6% ngườitiêm chích ma túy ở Sukkur và 45,4% ở Hyderabad đã nghe nói về HIV vàAIDS Dùng chung bơm tiêm và nguy cơ lây nhiễm HIV đã được xác địnhmột cách chính xác bởi 59% người tiêm chích ma túy ở Hyderabad và 50(41%) ở Sukkur Ở Hyderabad và Sukkur, hành vi nguy cơ cao như tiêm
Trang 15chích ma túy hơn 10 năm và tiêm chích bốn hoặc nhiều lần trong một ngàyliên quan ý nghĩa với lan truyền HIV [40].
Những yếu tố nguy cơ chủ yếu liên quan đến lây nhiễm HIV baogồm việc dùng chung dụng cụ tiêm chích “bẩn” và quan hệ tình dục không
an toàn với nhiều bạn tình chốc lát hoặc với người hoạt động mại dâm.Trong năm 2006, ước tính 1/3 số người đang sống với HIV là phụ nữ Tuynhiên phần lớn số ca nhiễm HIV vẫn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp vớihoạt động NCMT [29] [34]
Dùng chung bơm kim tiêm được coi là một thực tế phổ biến trong cộngđồng người sử dụng ma tuý ở Tân Cương và góp phần vào việc lan truyềnHIV/AIDS trong số những người tiêm chích ma túy Tỷ lệ hiện mắc HIV cóliên quan đáng kể đến việc sử dụng bao cao su trong số những người sử dụng
ma túy (84,2%) chưa bao giờ sử dụng bao cao su so với 6,5% ở những người
sử dụng bao cao su mỗi khi họ có quan hệ tình dục [47]
Tiêm chích ma túy đã được xác định tại 148 quốc gia, dữ liệu về tiêmchích ma túy hiện chưa có ở nhiều quốc gia ở châu Phi, Trung Đông và MỹLatinh Sự hiện diện của nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích đã được báo cáo ở
120 trong số các nước này Ước tính tỷ lệ tiêm chích ma túy ở 61 quốc gia,chiếm 77% dân số thế giới trong độ tuổi 15 - 64 Ước tính ngoại suy cho thấykhoảng 15,9 triệu người trên toàn thế giới có thể sử dụng ma tuý theo đườngtiêm, số người tiêm chích ma tuý lớn nhất được phát hiện thấy ở Trung Quốc,Hoa Kỳ và Nga và ở các nước đó tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chíchlần lượt là 12%, 16%, và 37% Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích
ma túy là 20 - 40% ở 5 quốc gia và > 40% ở 9 quốc gia Ước tính trên toàn thếgiới, khoảng 3 triệu người tiêm chích ma túy có thể dương tính với HIV[41,42]
Số người tiêm chích ma tuý trên toàn thế giới ước tính khoảng 13,2triệu Trên 10 triệu (78%) người tiêm chích đang sống ở các nước đang phát
Trang 16triển và đang trong quá trình chuyển đổi (Tây Âu và Trung Á, 3,1 triệu; Nam
Á và Đông Nam Á, 3,3 triệu; Đông Á và Thái Bình Dương, 2,3 triệu) Tỷ lệhiện mắc HIV ở người tiêm chích ma tuý là trên 20% được báo cáo ở ít nhất
1 trong 25 nước và vùng lãnh thổ: Belarus, Estonia, Kazakhstan, Russia,Ukraine, Italy, Netherlands, Portugal, Serbia and Montenegro, Spain, Libya,India, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Nepal, Thailand, Viet Nam, China,Argentina, Brazil, Uruguay, Puerto Rico, USA and Canada [42],[51]
Gánh nặng của bệnh HIV/AIDS khác nhau đáng kể giữa những ngườitiêm chích ma túy ở các nước Khoảng 407.000 người tiêm chích ma túy đangsống chung với HIV/AIDS ở Đông Âu và Trung Á và hơn 300.000 ở khu vựcĐông và Đông Nam Á Số người tiêm chích ma túy nhiễm HIV lớn nhất sốngtại Nga (315.000), tiếp theo là Ukraina (156.500) Số người tiêm chích ma túy
bị nhiễm HIV/AIDS lớn nhất ở các nước châu Á được điều tra là Trung Quốc(88.798) và Indonesia (94.500) [51]
Khu vực cận Sahara Châu Phi đang đối mặt với gánh nặng HIV lớnnhất trên toàn cầu Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV mới đang giảm nhưng số ngườichung sống với HIV vẫn tiếp tục tăng, chiếm 68% tổng số người nhiễm HIVtoàn cầu Năm 2009 đạt 22,5 triệu người đang sống chung với HIV so với20,3 triệu người năm 2001 Đặc biệt, tại Nam Phi, năm 2009 có khoảng 11,3triệu người sống chung với HIV 34% số người sống chung với HIV và 31%
số người nhiễm mới của toàn cầu sống tập trung tại 10 quốc gia của khu vựcnày Nhiều nghiên cứu trong các quốc gia này chỉ ra rằng QHTD không antoàn, tình dục đồng giới và sử dụng chung BKT khi NCMT là nguyên nhânchủ yếu dẫn đến việc lây nhiễm HIV NCMT là hiện tượng tương đối mới ởkhu vực cận Sahara Châu Phi, xuất hiện chủ yếu ở các nước Kenya,Mauritius, Nam Phi, Tanzania Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tươngđối cao tại các nước này: 12% ở Nam Phi, 36% tại Nairoby (Kenia) [32]
Trang 17Tại vùng biển Caribbean, năm 2009 tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở ngườitrưởng thành (15 - 49 tuổi) là 1% cao hơn tất cả các khu vực khác (trừ khuvực cận Sahara Châu Phi).
Năm 2009, Đông Âu và Trung Á có khoảng 1,4 triệu người đang sốngchung với HIV, tăng gấp 2 lần so với năm 2001 (760.000 người) Sự tăngnhanh số người nhiễm HIV trong nhóm NCMT là điểm nổi bật của tình hìnhdịch tại khu vực này, 62% là do TCMT không an toàn và 37% là do quan hệtình dục khác giới không an toàn [31]
Trung Đông và Bắc Phi, năm 2009 có khoảng 460.000 người đangchung sống với HIV, tăng hơn 2 lần so với năm 2001 (180.000 người) Cộnghòa Hồi giáo Iran có số người NCMT lớn nhất trong khu vực, tỷ lệ nhiễmHIV trong nhóm NCMT của quốc gia này là 14% (năm 2007) Đặc biệt, trong
số tù nhân bị bắt giữ do NCMT tại Tehran, tỷ lệ nhiễm HIV là 80% cho thấykhả năng lây lan lớn của HIV trong nhóm người này là rất cao [32]
Nghiên cứu trên 10.073 người tiêm chích ma túy ở 20 thành phố ở Hoa
Kỳ năm 2009, Cyprian Wejnert và cộng sự cho biết trong số những ngườitiêm chích ma túy được xét nghiệm, 9% có kết quả xét nghiệm HIV dươngtính, và 45% trong số những người được xét nghiệm dương tính đã không biếtmình bị nhiễm HIV
Nghiên cứu về nhiễm trùng ở người tiêm chích ma tuý, Richard S vàcho biết tỷ lệ hiện mắc HCV là 76,9%, HBV là 65,7% và HIV là 20,5%, vàđối với người tiêm chích ma tuý ≤ 1năm thì tỷ lệ hiện nhiễm HCV là 64,7%,HBV là 49,8%,và HIV là 13,9% Tỷ lệ hiện nhiễm HCV và HBV liên quantới sử dụng chung bơm kim tiêm và HIV liên quan tới quan hệ tình dục khôngđược bảo vệ [50]
Nghiên cứu về quan hệ tình dục, trao đổi bơm tiêm thứ cấp và sựkhác biệt về giới trong nguy cơ lây nhiễm HIV, Riehman KS và cộng sự
Trang 18cho biết phụ nữ chắc chắn trao đổi bơm tiêm thứ cấp cao hơn so với namgiới và có quan hệ tình dục với người sử dụng ma tuý qua đường tiêmnhiều hơn so với nam [49].
Trong nghiên cứu ở Vancouver, Canada, Patricia M và cộng sự chothấy tỷ lệ mới mắc tích lũy HIV ở 939 đối tượng trong 48 tháng theo dõi là13,4% Tỷ lệ mới mắc ở nữ giới cao hơn so với nam giới (16,6% so với11,7%, p = 0,074) Tiêm chích ma tuý nhiều lần trong ngày, không sử dụngbao cao su thường xuyên khi quan hệ tình dục là yếu tố nguy cơ làm gia tăng
tỷ lệ mới mắc HIV ở người tiêm chích ma tuý [48]
Dịch HIV tại Châu Á vẫn tập trung phần lớn trong nhóm người nghiệnchích ma túy, PNMD và khách hàng của họ, nhóm nam quan hệ tình dục đồnggiới (MSM) Theo ước tính có khoảng 4,5 triệu người ở Châu Á nghiện chích
ma túy, hơn một nửa số đó sống tại Trung Quốc Tại Châu Á, trung bình cókhoảng 16% người NCMT đang sống chung với HIV, tỷ lệ này cao hơn ở một
số nước như Myanmar 38%; Thái Lan (30%-50%); Indonesia (trên 50%) ỞTrung Quốc, tỷ lệ người sống chung với HIV trong nhóm NCMT là khoảng7% - 13% thấp hơn so với năm 2002 (18% - 56%) [29]
Tại Pakistan, tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong nhóm NCMT Mộtnghiên cứu tại Karachi cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã tăng
từ dưới 1% vào đầu năm 2004 lên 26% vào tháng 3 năm 2005, trong khi một
số nghiên cứu khác cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã lên tới24% tại Quetta dọc theo biên giới với Afghanistan, 12% tại Sargodha, gần10% tại Faisalabad và 8% tại Larkana
Đường lây truyền HIV ở Thái Lan trong thời gian gần đây có nhiềuthay đổi, virus lan tràn ngày càng nhiều tới những nhóm dân số vốn được coi
là có nguy cơ thấp Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc
Trang 19đẩy lùi dịch HIV ở Thái Lan, tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT trong vòng
15 năm qua vẫn cao từ 30% đến 50% [34]
Nghiên cứu trên 142 người nghiện ma tuý ở thành phố Kashgar, TânCương, Trung Quốc, Ni Mingjian, KM Wheeler cho biết trong nhóm người sửdụng ma tuý, tỷ lệ hiện hiện nhiễm HIV/AIDS là 24,5% và 17% trong sốnhững người sử dụng ma tuý có trình độ học vấn đại học hoặc dạy nghề Nhưvậy có thể nói tỷ lệ HIV dương tính ở người NCMT khá thay đổi theo khuvực Những nước phát triển ở Châu Âu và ở Châu Mỹ mặc dù việc xuất hiệnHIV trên người NCMT được ghi nhận sớm hơn nhưng có tỷ lệ nhiễm thấphơn và khá ổn định so với các nước đang phát triển ở Châu Á đặc biệt ở cácnước Đông Nam Á Trái lại, HIV xuất hiện trong quần thể người NCMT tạicác nước đang phát triển ở Châu Á được ghi nhận chậm hơn nhưng lại có xuhướng gia tăng nhanh hơn [34]
1.1.2 Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam
Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam bao gồm nhiều hình thái dịch khác nhautrên toàn quốc và vẫn tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi lâynhiễm HIV cao như người tiêm chích ma túy, nam tình dục đồng giới và phụ
nữ mại dâm
Trên thực tế việc lây truyền HIV qua bạn tình - từ những nam giới cóhành vi lây nhiễm sang bạn tình nữ của họ - là nguyên nhân chính dẫn đếnviệc giảm đều tỷ suất nam/nữ của các trường hợp mới nhiễm HIV được báocáo trong vài năm gần đây [14]
* Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV ở người nghiện ma tuý
Theo kết quả IBBS vòng 2, tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong 6tháng qua khá cao (15% - 37%) ở tất cả các địa phương tiến hành khảo sát, trừHải Phòng 7% Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua cao nhất là
ở Đà Nẵng 37.2% và Lào Cai 35,3% [15]
Trang 20Theo IBBS 2009, tỷ lệ nam TCMT thường xuyên sử dụng bao cao su(BCS) với bạn tình thường xuyên (vợ và người yêu) trong 12 tháng qua daođộng từ 15% ở Đà Nẵng đến 56% ở Quảng Ninh Mặc dù tỷ lệ thường xuyên
sử dụng bao cao su với PNMD có cao hơn tỷ lệ sử dụng BCS với bạn tìnhthường xuyên (từ 38% ở TP HCM đến 74% ở Hải Phòng) nhưng tỷ lệ này vẫn
là thấp ở các tỉnh tham gia khảo sát So với kết quả điều tra năm 2006, điềutra năm 2009 cho thấy tỷ lệ nam TCMT thường xuyên sử dụng BCS với bạntình thường xuyên cao hơn ở hầu hết các tỉnh/thành, cụ thể là Hà Nội, HảiPhòng, Quảng Ninh và An Giang nhưng lại có xu hướng thấp đi ở Đà Nẵng
và TP HCM, tỷ lệ này giảm từ tương ứng từ 25% va 36% xuống 15% [11]
Hành vi lây nhiễm HIV tại Việt Nam đến nay chủ yếu là qua con đườngmáu do sử dụng chung BKT trong NCMT, chiếm trên 70% vào năm 1994,sau đó ổn định ở mức trên 50%, năm 2009 là 55% và tháng 9 năm 2010 làkhoảng 50%
Năm 2009, tại đa số các tỉnh/thành phố khu vực phía Bắc và Bắc Trung
Bộ, hành vi lây nhiễm HIV vẫn chủ yếu là từ con đường NCMT (trên 60%).Tuy nhiên, tại các tỉnh khu vực phía Nam, đặc biệt các tỉnh Đồng Bằng SôngCửu Long, HIV lại lây truyền chủ yếu qua đường tình dục và tỷ lệ này ngàycàng tăng (năm 2005 là 35%, năm 2009 lên tới 68%) Tỷ lệ nhiễm HIV doNCMT chỉ chiếm dưới 20% (năm 2009 là 13%) tại các tỉnh này [37]
Nghiên cứu các yếu tố tương quan đến hành vi lây nhiễm HIV ở ngườinghiện chích ma túy tại tỉnh Vĩnh Long năm 2007, Khưu Văn Nghĩa và cộng sựcho thấy tuổi càng cao và càng nhiều bạn tình có tương quan với việc sử dụngBCS không thường xuyên; nhưng trình độ học vấn cao hơn thì sử dụng BCSthường xuyên hơn Tương tự, tuổi, trình độ học vấn và kiến thức HIV/AIDScao có xu hướng ít dùng chung BKT trong khi nhận thức rõ về tình trạng nhiễmHIV của bản thân và thời gian tiêm chích dài có tương quan với việc dùngchung
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
BKT nhiều hơn Tham dự câu lạc bộ tương quan với việc sử dụng bao cao su(BCS) thường xuyên hơn; việc nhận hỗ trợ từ đồng đẳng viên và sống cùng giađình có xu hướng ít dùng chung bơm kim tiêm (BKT) hơn [20]
Nguyễn Anh Quang nghiên cứu về thực trạng hành vi nguy cơ lâynhiễm HIV và hiệu quả chương trình trao đổi bơm kim tiêm sạch trong nhómnghiện chích ma tuý tại tỉnh Hà Tây (2007-2009) cho thấy kết quả điều trađầu vào và xét nghiệm HIV cho 1.010 người NCMT (năm 2007) có 18,5%người NCMT tại Hà Tây nhiễm HIV Trong số 1.010 đối tượng nghiên cứunhóm tuổi từ 20 - 29 chiếm 42,4%, nhóm tuổi từ 30 - 39 chiếm 39,6% tiếpđến là nhóm trên 40 tuổi 15,3%, và thấp nhất là dưới 20 tuổi 2,7% Về trình
độ học vấn, tỷ lệ đối tượng có trình độ phổ thông cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất58,3%, trung học phổ thông 26,9%, tiểu học 12,0%, trình độ trung cấp trở lênchiếm tỷ lệ rất ít 2,4%, đặc biệt có 0,4% đối tượng không biết chữ Đa sốngười NCMT làm rất nhiều ngành nghề khác nhau trong đó tập trung chủ yếu
là nghề tự do 52,7% và làm ruộng 20,2% Về tình trạng hôn nhân, ngườiNCMT đang có vợ chiếm tỷ lệ 55,8%, chưa có vợ 37,3%, đã ly dị 3,8%, đã lythân 2,4% và góa vợ 0,2% Về tuổi QHTD lần đầu, có 64,6% trả lời đã QHTDdưới 20 tuổi, trong đó: 4,3% là dưới 15 tuổi; 22,2% từ 15 - 17 tuổi; 38,1% từ
18 - 19 tuổi Còn lại từ 20 - 22 tuổi chiếm tỷ lệ là 16,9% và trên 23 tuổi chiếm18,5% Về thời gian TCMT, có 86,2% đối tượng tham gia nghiên cứu có thờigian sử dụng TCMT trên 2 năm, 10,2% người NCMT từ 1 đến 2 năm và dưới
1 năm là 3,6% Về hành vi sử dụng BCS của người NCMT khi QHTD trongtháng qua, chỉ có 34,5% người chủ động sử dụng BCS khi QHTD vớivợ/người yêu Khi QHTD với bạn tình bất chợt không trả tiền thì tỷ lệ sửdụng BCS có cao hơn 60,8%, nhưng vẫn ở mức thấp Tuy nhiên khi QHTDvới GMD chỉ có 48,7% người NCMT tự ý thức sử dụng BCS [21]
Trang 22Nguyễn Duy Phúc và cộng sự khi nghiên cứu trên 400 nam giới NCMTtại tỉnh Đồng Nai năm 2010 cho thấy có 50% có kiến thức về HIV Tỷ lệ dùngchung bơm kim tiêm (BKT) trong 6 tháng qua là 14% Tỷ lệ luôn sử dụngBCS với phụ nữ mại dâm (PNMD) trong 12 tháng qua là 59% Phân tích hồiqui đa biến cho thấy NCMT có tuổi từ 25 trở lên, thu nhập dưới 2 triệu/tháng,thời gian tiêm chích từ 5 năm trở lên, có kiến thức cần thiết về HIV có nguy
cơ nhiễm HIV cao hơn [22]
Nghiên cứu của Nguyễn Cao Tài và cộng sự 2013 tại Mèo Vạc HàGiang cho thấy người NCMT mù chữ và học vấn thấp dùng bao cao su trongquan hệ tình dục chiếm 25% Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm ở nhóm có trình
độ phổ thông trung học là 8,5% và nhóm có trình độ tiểu học và mù chữ là10,53%.Tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT thường xuyên dùng bao cao su trongquan hệ tình dục là 5,43%, nhóm không sử dụng bao cao su là 20,53% NgườiNCMT từ 5 năm trở lên có HIV dương tính chiếm 31,00% cao gấp 3 lần sovới nhóm dưới 5 năm [26]
Nghiên cứu về một số yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ lây nhiễmHIV trên người nghiện ma tuý ở thành phố Bắc Giang, Trịnh Thị Sang chobiết tỷ lệ người NCMT sử dụng chung BKT trong vòng 6 tháng trước điều tragiảm từ 40,63% xuống còn 17,50%, CSHQ 56,92% Tỷ lệ người NCMT dùngchung BKT trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra này cũng giảm từ 41,67%xuống còn 15,94% Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong lần gần nhấtgiảm từ 36,46% xuống còn 12,81% Tỷ lệ người NCMT dùng chung thuốc/dụng cụ pha thuốc trong vòng 6 tháng trước điều tra giảm từ 51,04%xuống còn 37,19% Trong vòng 1 tháng giảm từ 43,6% xuống còn 16,3% Tỷ
lệ người NCMT làm sạch BKT đã tăng từ 36,25% lên 80,39% Tỷ lệ ngườiNCMT có sử dụng BCS trong 12 tháng qua khi QHTD với vợ/người yêu đã
Trang 23tăng từ 7,3% lên 43,37% Tỷ lệ người NCMT có sử dụng BCS trong lần quan
hệ gần nhất chiếm 37,14% cao hơn 28,49% [23]
Tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong QHTD với GMD tăng từ53,62% lên 72% Tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong lần QHTD với bạntình bất chợt không thay đổi trước và sau can thiệp chiếm 73,33% Chủ độnggợi ý dùng BCS khi QHTD với nhóm này là người NCMT chiếm 87,27% caohơn 70,27% Khả năng tiếp cận với BCS miễn phí tăng từ 64,80% lên80,36% Tỷ lệ người NCMT thực hành đúng tăng từ 34,92% lên 82,24% Tỷ
lệ người NCMT hiểu biết đúng về các đường lây truyền HIV tăng từ 63,7%lên 92,2% [23]
Nghiên cứu trên 200 nam nghiện chích ma tuý tại Cà Mau năm 2012,Nguyễn Thanh Long cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam NCMT là7,5%, tương tự ở Vĩnh Long 7,3%, cao hơn Đà Nẵng 4,0% và Huế 3,5%,Quảng Trị 2%, nhưng thấp hơn kết quả điều tra tại Bình Dương 17,8% vàNghệ An 15,5% Tỷ lệ đối tượng dùng chung bơm kim tiêm tương đối cao22,5% Tỷ lệ nam NCMT có quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12tháng qua là 5,0% 100% nam NCMT thỉnh thoảng sử dụng bao cao su khiquan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12 tháng qua [19]
Nghiên cứu hành vi và các yếu tố lây nhiễm HIV trong nhóm nghiệnchích ma tuý (NCMT) tại tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn Hùng cho biết hầuhết người NCMT sử dụng Hêrôin 98,89% Tỷ lệ không sử dụng bao cao su(BCS) trong tất cả các lần quan hệ tình dục với vợ hoặc chồng là 60,6%, vớigái mại dâm (GMD) 29,17% Có 7,8% có sử dụng chung bơm kim tiêm(BKT) trong các lần tiêm chích Hầu hết người NCMT đều đã nghe vềHIV/AIDS; 39,6% không tự cho mình có nguy cơ lây nhiễm HIV; 55,7%
Trang 24người NCMT đã từng xét nghiệm HIV; 84,7% đã từng nhận được BKT trong
6 tháng trước điều tra [18][24]
Theo kết quả giám sát trọng điểm 2011, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trongnhóm nam TCMT và PNMD tương ứng là 13,4% và 3%; kết quả IBBS 2009cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 16,7% Phân bố cáctrường hợp nhiễm HIV theo sát sự phân bố của 3 nhóm nhóm quần thể vốntập trung phần lớn tại các trung tâm đô thị nhưng cũng xuất hiện ở khu vựcngoài đô thị
Tính không đồng nhất của dịch HIV trên nhóm nam TCMT thể hiện ở sựgiao động tỷ lệ hiện nhiễm trên nhóm này ở các tỉnh khác nhau Tỷ lệ hiệnnhiễm cao nhất trên nhóm này được ghi nhận ở Điện Biên, một tỉnh phía Tâybắc (45.7%), trong khi tỷ lệ hiện nhiễm thấp nhất được xác định là ở HòaBình – thuộc khu vực trung Bắc bộ (1,1%) Ở 7 tỉnh/thành phố (Hà Nội, HảiPhòng, Quảng Ninh, TP HCM, Cần Thơ, Đà Nẵng và An Giang) tiến hànhnghiên cứu IBBS vào năm 2006 và 2009, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhómnam TCMT chỉ tăng duy nhất ở TP HCM, còn ở các địa phương khác tỷ lệnày giảm hoặc ổn định Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm nam TCMT ở TPHCM tăng từ 34% lên 46%, tuy nhiên tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm mới tiêmchích giảm từ 28% vào năm 2006 xuống 5% vào năm 2009, cho thấy bằngchứng ban đầu về việc giảm tỷ lệ mới nhiễm
Kết quả giám sát trọng điểm HIV năm 2012 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm nghiện chích ma tuý tiếp tục có xu hướng giảm, năm 2012 tỷ lệnày là 11,6% (so với năm 2011 là 13,4%) Tất cả các vùng trong cả nước tỷ lệnhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý đều giảm, tuy nhiên có sự khácnhau giữa các khu vực [15]
Trang 25Cũng như ở các nơi khác trên thế giới, tình hình dịch HIV trong nhómNCMT ở Việt Nam lan truyền rất nhanh và vượt qua mọi khoảng cách địa lýkhác nhau Mặc dù tình hình dịch ở các tỉnh có khác nhau nhưng nhìn chung tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại Việt Nam cao chủ yếu do việc dùngchung BKT đã qua sử dụng trong khi các dịch vụ dự phòng vẫn còn hạn chế[10]
Ở mức độ quốc gia, tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất là trong nhómnhững người NCMT, chiếm tỷ lệ 34% Tỷ lệ hiện nhiễm trong những ngườiNCMT ở Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh và Hải Phòng còn cao hơn rấtnhiều Phụ nữ bán dâm có tỷ lệ hiện nhiễm HIV đứng cao thứ nhì với 6,5%
Tỷ lệ này còn cao hơn ở các thành phố Hải Phòng, Hồ Chí Minh, Hà Nội vàCần Thơ [11]
Tuy nhiên, phân bố tỷ lệ người nhiễm HIV theo các đường lây giữa cácvùng miền qua các năm có sự khác nhau rõ rệt
Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hoà về tình trạng nhiễm HIV, HBV vàHCV và yếu tố liên quan ở một số nhóm nguy cơ cao tại Hà Nội, cho thấy tỷ
lệ nhiễm HIV ở nhóm NCMT là 43,0% năm 2008; 37,7% năm 2009 và 30 5% năm 2010 và có xu hướng giảm dần Nghiên cứu cũng xác định được một
-số yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng lây nhiễm ở nhóm NCMT, PNBD: thờigian tiêm chích ma tuý càng dài thì tỷ lệ nhiễm HIV càng cao; NCMT nhiễmHIV cao nhất ở nhóm tuổi 30-39 và NCMT nhiễm HIV cao nhất ở đối tượng
có hoàn cảnh hôn nhân đặc biệt như li thân, li dị, goá [16]
Như vậy, hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở nhóm nghiên chích ma túy tậptrung ở nhóm nam giới nghiện chích ma túy, sau đó do quan hệ tình dục củanhững người này với gại mại dâm Tiếp đó từ gái mại dâm lây sang cho cácđối tượng là khách làng chơi rồi cuối cùng là vợ, con của họ Như vậy, từ chỗ
Trang 26ban đầu là HIV chỉ tập trung ở các đối tượng TCMT sau đó lan rộng ra khắpcộng đồng, người ta gọi đây là mô hình lan truyền qua bốn làn sóng liên tiếp.
Trang 27nguời nghiện ma túy 1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy
Người NCMT có quyền được tiếp cận và nhận các dịch vụ hỗ trợ sứckhỏe phù hợp với nhu cầu cá nhân để được sống khỏe mạnh giống như nhữngngười khác (UNAIDS, 2010) Tuy nhiên, có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởngđến nỗ lực duy trì hành vi an toàn của nhóm NCMT Những yếu tố này khôngchỉ liên quan đến cá nhân họ như kiến thức, thái độ, thu nhập mà còn liênquan đến tính sẵn có, khả năng tiếp cận được, khả năng tự trang trải được cácchi phí đối với các chương trình phòng chống HIV/AIDS
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi làm tăng khả năng nhiễmHIV ở người NCMT là chủ đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm.Davies và Peters, trong một mẫu nghiên cứu 346 đối tượng nghiện chích matúy tại thành phố Edinburgh, Scotland cho rằng những người nghiện chíchsớm không có nghề nghiệp ổn định có tiền sử bị giam giữ có nguy cơ mắcHIV cao hơn những người khác [55]
Lima, Friedmam và cộng sự tiến hành một cuộc điều tra trên 123đối tượng nghiện chích ma túy tại Rio de Janeio Kết quả nghiên cứu chothấy các khả năng làm tăng lây nhiễm HIV gồm: thời gian tiêm chích lớn hơn
5 năm và chưa chủ định áp dụng các biện pháp tự bảo vệ phòng,chốngHIV/AIDS [56]
Theo nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp tiếp cận cộng đồng trong nhómngười NCMT tại TPBG năm 2007 – 2010, 2013 cho thấy hầu hết ngườiNCMT có sử dụng hoặc TCMT ở lứa tuổi còn rất trẻ (dưới 20) thậm chí mới
11 tuổi Khoảng 43% người NCMT có thâm niên TCMT trên 5 năm Thờigian trung bình của một người hút, hít ma túy là 6,4 năm Thời gian trung bình
từ lần đâu hút, hít chuyển sang TCMT khoảng 1,3 năm Có nhiều trường
Trang 28hợp TCMT ngay từ lần đầu khi sử dụng ma túy Lý do dẫn đến NCMT chủyếu là do
Trang 29bạn bè rủ rê, sau đó chán đời, thất tình, do buôn bán heroin, đặc biệt cótrường hợp do ý thích của người NCMT Heroin là loại ma túy mà ngườiNCMT hay sử dụng nhất, chiếm tỷ lệ trên 94% cho cả 2 vòng điều tra [23].
Hầu hết người tiêm chích ma túy có quan hệ tình dục chiếm 84% trongvòng 12 tháng Tuổi trung bình khi quan hệ tình dục lần đầu tiên vào khoảng19,5 tuổi Phần lớn người NCMT có quan hệ tình dục với bạn tình ngoài hônnhân Tuy nhiên không có trường hợp nào được ghi nhận có QHTD với bạntình là người đồng tính nam Nhóm bạn tình thường xuyên (vợ, chồng, ngườiyêu) là nhóm có tỷ lệ QHTD cao nhất chiếm trên 68% Khoảng ½ số ngườiNCMT có QHTD với PNBD trong cùng thời gian và 25% người NCMT chobiết có QHTD với bạn tình bất chợt
* Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm
Theo kết quả phân tích của một số yếu tố liên quan đến hành vi lâynhiễm HIV của người nghiện chích ma túy, cho thấy có một số yếu tố ảnhhưởng đến hành vi sử dụng chung BKT của người NCMT:
Về nhóm tuổi, trong lần TCMT gần nhất, ở nhóm tuổi từ 30 tuổi trởxuống có tỷ lệ sử dụng chung BKT cao gấp 3,1 lần so với người NCMT trên
30 tuổi;
Theo kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinhhọc HIV/STI tại Việt Nam 2005-2006, cho thấy khoảng một nửa số ngườiNCMT bắt đầu dùng ma túy trước 20 tuổi tại TP.HCM, Cần thơ và An Giang,khoảng 1/5 số người NCMT có thời gian TCMT ít hơn 1 năm Và không có
sự khác biệt trong các hành vi lây nhiễm khi tiêm chích giữa những ngườimới tiêm chích với những người có thời gian TCMT dài hơn Điều này cónghĩa là ngay từ khi mới chích, họ đã đối diện với nguy cơ lây nhiễm HIV dohành vi dùng chung bơm kim tiêm [9]
Trang 30Những người NCMT không nhận được BKT miễn phí có hành vi sửdụng chung BKT cao gấp 18 lần người NCMT nhận được BKT miễn phí.
Những người NCMT có tần suất TCMT dưới 2 lần/ ngày có hành vi sửdụng chung BKT cao gấp 2,9 lần những người NCMT có tần suất TCMT trên
2 lần/ngày
Về trình độ học vấn, ở nhóm học từ lớp 9 trở lên có trong vòng 6 tháng
có hành vi sử dụng bơm kim tiêm cao gấp hơn 2 lần nhóm học dưới lớp 9
Về tình trạng hôn nhân, ở nhóm người không sống cùng vợ hoặc giađình có hành vi sử dụng chung BKT cao gấp 3,08 lần so với nhóm người sốngcùng vợ/gia đình
Về thời gian TCMT, nhóm TCMT dưới 5 năm có hành vi sử dụngchung BKT cao gấp 1,23 lần so với nhóm TCMT trên 5 năm
* Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không sử dụng BCS trong QHTD với bạn tình
Trong quan hệ với PNMD: Ở nhóm tuổi nhỏ hơn hoặc bằng 30 tuổi
có hành vi không sử dụng BCS khi QHTD với PNMD cao gấp 1,87 lần sovới nhóm trên 30 tuổi Những người NCMT không được nhận BCS miễnphí có hành vi không sử dụng bao cao su trong QHTD cao gấp 10,5 lần sovới người NCMT có nhận được BCS miễn phí; Những người NCMT có kiếnthức hiểu biết sai về HIV/AIDS có hành vi không sử dụng bao cao su trongQHTD cao gấp 3,1 lần so với người NCMT có kiến thức hiểu biết đúng vềHIV/AIDS [23]
Trong QHTD với bạn tình bất chợt: Những người không nhận
được BCS miễn phí có hành vi không sử dụng BCS trong QHTD cao gấp
45 lần so với nhóm người NCMT nhận được BCS miễn phí; Những ngườiNCMT không cho rằng mình có nguy cơ lây nhiễm HIV có hành vi không
sử dụng BCS trong QHTD với bạn tình bất chợt cao gấp 8 lần ngườiNCMT cho rằng mình có nguy cơ lây nhiễm HIV [23]
Trang 31Theo kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ sốsinh học HIV/STI tại Việt Nam 2005-2006, cho thấy tỷ lệ sử dụng BCSthấp trong nhóm NCMT khi QHTD cả với bạn tình thường xuyên vàPNMD Để phòng tránh lây nhiễm HIV từ nhóm NCMT cho các quần thểkhác như vợ của họ hay PNMD, cần thiết phải có những hành động thúcđẩy việc sử dụng BCS hiệu quả hơn nữa cho nhóm quần thể này Rất ítngười NCMT sử dụng BCS thường xuyên khi hộ có QHTD với bạn tìnhthường xuyên , chỉ khảng từ 16% đến 36% [9].
1.2.2 Về phía gia đình và xã hội
Việc triển khai hoạt động can thiệp tại cộng đồng để làm giảm hành vilây nhiễm HIV trong đối tượng có nguy cơ cao là công việc khó khăn, phảithực hiện tốt từ việc vận động được sự ủng hộ của chính quyền cấp tỉnh đếncấp xã và phải vận động được đối tượng đích tham gia vào các hoạt động canthiệp
Hiện nay, một số hoạt động phòng, chống HIV/AIDS thiếu tính thườngxuyên ở một số địa bàn nên kết quả hoạt động can thiệp chưa cao, nội dung
và hình thức đôi khi chưa phù hợp, trong khi đó các CTV, ĐĐV còn thiếu vàyếu, nhất là ĐĐV số lượng ít, trình độ thấp, điều kiện địa hình khó khăn,thường xuyên biến động và hầu hết vẫn còn sử dụng ma túy, các ĐĐVthường xuyên được tập huấn, nhưng do trình độ thấp và hay thay đổi nênhiệu quả của chương trình can thiệp chưa cao
Kỳ thị và phân biệt đối xử với HIV/AIDS tuy đã được cải thiện, nhưngvẫn còn nặng nề Nhiều gia đình vẫn dấu và không công nhận tình trạngNCMT, một số gia đình còn cản trở hoặc từ chối sự hỗ trợ của chương trìnhcấp phát BKT Việc tiếp cận quản lý đối tượng nguy cơ cao rất khó khăn dođối tượng sợ lộ… và người NCMT là cán bộ công chức do danh dự, tương lainên không tiếp cận với chương trình can thiệp [6]
Trang 321.2.3 Về tiếp cận các chương trình can thiệp giảm tác hại
Để giảm sự lây nhiễm HIV/AIDS trong nhóm người NCMT, đòi hỏiphải cải thiện và mở rộng các dịch vụ chăm sóc y tế cho họ, song song vớiviệc tăng cường phố hợp mạnh mẽ giữa các nhà hoạch định, chính sách, các
cơ quan Chính phủ, phi Chính phủ, các cán bộ y tế, những người sử dụng matúy và cộng đồng dân cư Triến khai chương trình can thiệp giảm tác hạitrong nhóm nghiện chích ma túy đặc biệt quan trọng, không những bảo vệcho cá nhân người NCMT bảo vệ cho gia đình họ mà còn bảo vệ cho cảcộng đồng trước những đại dịch HIV/AIDS
Việt nam có rất nhiều mô hình can thiệp giảm tác hại đối với ngườiNCMT như: tiếp cận cộng đồng; cấp phát BKT, BCS; điều trị nghiện cácchất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone, tư vấn xét nghiệm tự nguyện.Tuy nhiên độ bao phủ vẫn còn nhiều khoảng trống Đối tượng NCMT vẫnchưa thực sự tiếp cận được các chương trình này [6]
Tiếp cận chương trình cấp phát BKT, BCS
Về chương trình bơm kim tiêm trong điều tra giám sát hành vi và các chỉ
số sinh học kết quả cho thấy có sự dao động lớn về tỷ lệ người TCMT đượctiếp cận với bơm kim tiêm miễn phí giữa các tỉnh thành Tại Cần Thơ và AnGiang, tỷ lệ tiếp cận tăng gấp ba lần giữa hai năm 2006, 2009 Khoảng 23%người TCMT tại Hà Nội báo cáo nhận được bơm kim tiêm miễn phí trongnăm 2009, tỷ lệ này là 11% tại Tp HCM và 2% tại Đà Nẵng Tỷ lệ tiếp cậnvới chương trình bơm kim tiêm miễn phí giảm mạnh tại TP HCM, từ mức35% năm 2006 Mặc dù việc tiếp cận với bơm kim tiêm miễn phí vẫn cònthấp ở các tỉnh trọng điểm, phần đông người TCMT báo cáo rằng họ có thểmua hoặc nhận bơm kim tiêm mỗi khi cần Tỷ lệ tiếp cận dao động trongkhoảng 64% tại Lào Cai đến 99% tại các tỉnh thành nghiên cứu Tại hầu hếtcác tỉnh thành, trên 80% người TCMT báo cáo có khả năng tiếp cận được bơmkim tiêm sạch khi cần [38]
Trang 33Theo báo cáo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013cho thấy kết quả những khó khăn và thách thức trong công tác can thiệp giảmtác hại Các hoạt động phân phát bơm kim tiêm và bao cao su trong năm 2013bắt đầu gặp nhiều khó khăn do kinh phí cắt giảm Mặt khác, các hoạt độngcan thiệp giảm tác hại dựa vào đội ngũ tuyên truyền viên đồng đẳng là chínhnhưng các phần lớn các dự án quốc tế hiện nay đang cắt giảm kinh phí chi trảlương cho đội ngũ này Do đó đã ảnh hưởng chung đến hoạt động can thiệpgiảm tác hại [6].
Tiếp cận chương trình điều trị methadone
Chương trình điều trị methadone tuy được quan tâm nhiều hơn nhưngvới mục tiêu đạt 80.000 người nghiện chích ma túy được điều trị methadonevào năm 2015 sẽ khó đạt được, hiện nay việc mở rộng các điểm điều trịmethadone vẫn còn rất chậm, các tỉnh chưa chủ động bố trí nhân lực cho triểnkhai chương trình này, trong khi các dự án đang có lộ trình cắt giảm kinh phí,không hỗ trợ trang thiết bị và nhân lực cho địa phương [6]
Tính đến ngày 31/12/2013 chương trình được triển khai tại 30 tỉnh,thành phố với 80 điểm điều trị cho 15.542 bệnh nhân Năm 2013 số tỉnh triểnkhai chương trình methadone tăng lên 10 tỉnh, tăng thêm 20 điểm điều trị, sốngười NCMT được điều trị methadone tăng 26,8% so với năm 2012 Hoạtđộng của chương trình methadone hiện nay còn phụ thuộc nhiều vào dự án,rất ít tỉnh chủ động cho nguồn nhân lực, đặc biệt sắp xết bố trí nhân lực chochương trình này còn hạn chế [6]
Tỉnh Bắc Giang đã triển khai chương trình điều trị nghiện các chất dạngthuốc phiện bằng thuốc methadone từ tháng 10/ 2013, đến tháng 9/2014 đãđiều trị cho khoảng 330 bệnh nhân trên toàn tỉnh Tuy nhiên việc điều trị hiệnnay còn rất khó khăn, không đủ thuốc cho người nghiện chích ma túy điều trị.Người NCMT được điều trị rất thấp Không được tiếp cận chương trình điều
Trang 34trị methadone nên người NCMT vẫn phải sử dụng ma túy bằng đường tiêmchích Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV của ngườiNCMT tại tỉnh Bắc Giang.
1.3 Một số khái niệm
1.3.1 Khái niệm về HIV
HIV là cụm từ viết tắt từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh: HumanImmuno Deficience virut Dịch ra tiếng Việt là suy giảm miễn dịch ở người
Đó là loại virut khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ tấn công trực tiếp hệ thốngmiễn dịch làm cơ thể giảm sức đề kháng và dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơhội và ung thư
1.3.2 Khái niệm về AIDS
AIDS viết tắt của cụm từ tiếng Anh: “Acquired ImmunodeficiencySyndrome”, hay SIDA viết tắt từ tiếng Pháp: “Syndrome d’ImmunodéficienceAcquise” có nghĩa là: “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải” do nhiễmHIV (Human Immunodeficiency Virus) HIV tấn công và tiêu huỷ dần các tếbào miễn dịch, làm suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể AIDS là giai đoạncuối của quá trình nhiễm HIV, khi cơ thể không còn khả năng chống đỡ nên dễmắc thêm nhiều loại bệnh cơ hội dẫn đến tử vong [10]
1.3.3 Khái niệm về ma túy
Ma tuý là những chất khi đưa vào cơ thể sẽ tác động vào hệ thần kinhtrung ương, gây biến đổi nhận thức, cảm giác, chức năng của hệ thống não bộ.Nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng bị lệ thuộc về cơ thể hoặc tâmthần hoặc cả hai Người sử dụng ma túy do không kiểm soát được bản thân
sẽ có những hành vi gây hậu quả nặng nề cho chính mình, gia đình và xã hội[23]
Nghiện ma tuý: Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), nghiện ma tuý là
tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sửdụng ma tuý lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma
Trang 35tuý và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sựluôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma tuý để có được những hiệu ứng matuý về mặt tâm thần của ma tuý và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu matuý Tình trạng lệ thuộc này có thể kèm theo hiện tượng quen ma tuý hoặc
không, và một người có thể bị lệ thuộc vào nhiều lọai ma tuý.
1.3.4 Khái niệm về hành vi lây nhiễm, tụ điểm, tiêm chích ma túy
Hành vi dễ làm lây nhiễm HIVnhư quan hệ tình dục không an toàn, dùng chung BKT
Tụ điểm: là vị trí người NCMT tụ tập để tiêm chích và hút, hít như:
công viên, bến xe, đường phố, nhà trọ
Tiêm chích ma tuý: là những người sử dụng ma tuý qua đường tiêm
chích, nghĩa rộng của thuật ngữ này nhằm chỉ những người đã có tiền sử sửdụng ma tuý qua đường tiêm chích hoặc những người thỉnh thoảng tiếp tụctiêm chích cho đến những người lệ thuộc hoàn toàn vào việc tiêm chích vài lầnmột ngày Những người tiêm chích có thể sử dụng những loại thuốc hợp pháphoặc bất hợp pháp, những loại thuốc kích thích (như amphetamines haycocaine), những thuốc giảm đau (như heroin hay benzodiazepines) hay nhữngloại thuốc khác như steroids Họ có thể tiêm trực tiếp vào ven hay vào bắp[23]
* Đồng đẳng viên: là những người tự nguyện tập hợp thành một nhóm
để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động và giúp đỡ những người cùngcảnh ngộ
* Các biện pháp can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV: bao
gồm tuyên truyền viên, vận động, khuyến khích sử dụng BKT, BCS, điều trịcai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và các biện phápcan thiệp giảm tác hại khác nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi antoàn để phòng ngừa lây nhiễm HIV
Trang 361.4 Đường lây nhiễm HIV/AIDS
* Phân loại nhiễm HIV: có 2 loại HIV
- HIV1: giống 1 loại virut ở khỉ Chimpazel tại Gabong HIV1 lây nhiễmtrên toàn cầu được tìm thấy vào năm 1983
- HIV2: giống 1 loại virut ở loài khỉ Sooty Mangabey tại Tây phi HIV2gây nhiễm chủ yếu ở khu vực Châu phi được tìm thấy vào năm 1986
* HIV tồn tại trong cơ thể người
- Trong máu tế bào limpho T và tinh dịch
- Trong nước bọt, nước tiểu, nước mắt, mồ hôi, sữa mẹ, màng ối, dịchnão tủy, dịch khớp, dịch âm đạo…
- Ở xác chết bệnh nhân AIDS trong vòng 24h
- Ở các giọt máu khô đọng ở kim tiêm 2 đến 7 ngày
* HIV tồn tại trong môi trường
HIV tồn tại ở môi trường không lâu ở bên ngoài thậm chí dễ bị chết.Thời gian tồn tại bên ngoài của HIV phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản thândịch HIV bài tiết ra theo loại dịch gì và các yếu tố nhiệt độ ánh sáng như nhiệt
độ cao, trong các hóa chất sát khuẩn thông thường như Javen 1%
* Các đường lây nhiễm HIV
HIV có thể tìm thấy trong máu và các sản phẩm của máu, tinh dịch, âmđạo, nước bọt, nước mắt, dịch não tủy, dịch khớp, sữa mẹ Tuy nhiên chỉ có 3con đường lây truyền được xác định là:
- Lây truyền qua đường tình dục
Là con đường lây truyền khá phổ biến Do HIV có nhiều trong tinhdịch, dịch âm đạo và máu của người nhiễm HIV Các kiểu quan hệ tình dục
có xâm nhập dù khác giới hay đồng giới đều có khả năng lây nhiễm HIV nếumột trong hai người bị nhiễm vi rút này Khi giao hợp có thể gây ra các xâyxước nhỏ trên niêm mạc sinh dục ở cả nam và nữ Chính các tổn thương đó là
Trang 37cửa ngõ để HIV xâm nhập một cách dễ dàng vào cơ thể Nếu giao hợp quahậu môn thì khả năng gây bệnh sẽ cao hơn bởi niêm mạc hậu môn, trực tràngmỏng hơn nhiều so với niêm mạc âm đạo, do đó dễ bị xây xước hơn Cànggiao hợp với nhiều người, xác suất gặp người nhiễm HIV càng cao nên càng
dễ có khả năng lây nhiễm HIV Tuy nhiên rất nhiều người chỉ quan hệ chỉ có
1 lần cũng bị mắc bệnh Sự hiện diện của những thương tổn do bệnh lâytruyền qua đường tình dục thông thường gây nên (như giang mai, lậu…) virutHIV sẽ dễ dàng xâm nhập qua những vết loét, vết xây xước, tổ chức bị viêmtấy do bệnh lây truyền tình dục gây ra Có nhiều bạn tình thay đổi cùng thờigian sẽ tăng nguy cơ và xác suất bị lây nhiễm HIV, khả năng lây nhiễm thấphơn so với giao hợp qua âm đạo nhưng nếu trong miệng có vết xây xước haychảy máu chân răng thì HIV có khả năng lây nhiễm
- Lây truyền qua đường máu
HIV có trong máu nên khi một người nhiễm HIV qua đường tiêm chíchmáu có chứa HIV sẽ đọng lại ở trên bơm kim tiêm Nếu dụng cụ này khôngđược xử lý hoặc không được khử trùng đúng cách người khác dùng phải thìvirút theo đường tiêm xâm nhập vào cơ thể
HIV cũng có thể lây truyền qua việc dùng chung các dụng cụ y tế: nhưchâm cứu, dao kéo mổ, dùng chung các hoạt động hàng ngày có thể dính máunhư: xăm mình, xuyên lỗ tai, dùng chung bàn chải đánh răng, chữa răng màkhông được tiệt trùng đúng cách… tuy nhiên có rất ít các trường hợp lâynhiễm qua các dụng cụ này
Truyền máu hay các sản phẩm của máu hoặc ghép các bộ phận cơ thểcủa người bị nhiễm HIV cho bệnh nhân
Tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất qua đường máu là do sử dụng chungdụng cụ tiêm chích chưa được khử trùng đúng cách để tiêm chích ma tuý vị
họ tiêm thẳng vào tĩnh mạch
Trang 38- Lây truyền từ mẹ sang con
Mẹ bị nhiễm HIV truyền sang con không được hiểu là bệnh di truyền màHIV lây truyền từ mẹ sang con thông qua các con đường như:
Qua quá trình đẻ, HIV có trong nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của
mẹ đã lây truyền vào người bé qua vết sây xát hoặc niêm mạc miệng, mắt,mũi của bé
Qua sữa mẹ khi mẹ cho trẻ bú, là khi núm vú bị sây xát, trẻ mọc rănghoặc có tổn thương ở miệng Tuy nhiên việc lây lan qua đường sữa mẹthường ít gặp vì số lượng HIV có trong sữa mẹ ít
* Các đường không lây truyền HIV
HIV tồn tại trong các dịch của cơ thể như dịch âm đạo, tinh dịch, nướcmắt, nước ối… tuy nhiên người ta đã nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng HIVtruyền chủ yếu qua ba con đường đã nêu ở phần các con đường lây truyền,trên thực tế người ta chưa phát hiện nhiễm HIV qua những tiếp xúc thôngthường như:
Bắt tay, xoa bóp, ôm hôn; nói chuyện, hắt hơi, ho; ngồi chung bàn ghế,mặc chung quần áo, ăn chung bát đĩa, cốc chén, đi chung nhà vệ sinh, tắmchung bể bơi, muỗi và côn trùng
* Quá trình xâm nhập và phát triển HIV/AIDS trong cơ thể người
+ Điều kiện xâm nhập
Có vi rút HIV
Có lượng HIV đủ lớn
+ Cách xâm nhập và phát triển của HIV trong cơ thể
HIV xâm nhập cơ thể, tấn công ngay bạch cầu, đặc biệt là tế bào lymphoT4 - là thành phần quan trọng nhất trong hàng ngũ bạch cầu, đóng vai trò nhưmột tổng chỉ huy có nhiệm vụ điều phối, huy động, kìm hãm toàn bộ hệ miễndịch của cơ thể HIV sử dụng chính chất liệu di truyền của bạch cầu để sinh
Trang 39sôi nảy nở Chính vì vậy mà khi cơ thể bị vi rút tấn công hệ miễn dịch cànghuy động nhiều bạch cầu đến để kháng cự thì HIV lại càng sinh sôi lên gấpbội Cuối cùng hệ miễn dịch bị vô hiệu hoá và cơ thể không còn được bảo
vệ nữa, mọi mầm bệnh mặc sức hoành hành gây nên nhiều chứng bệnh nguyhiểm dẫn đến tử vong
+ Thời gian ủ bệnh
Cũng giống như một số bệnh thông thường khác, HIV khi vào cơ thểcũng trải qua thời gian bị bệnh rồi mới chuyển sang giai đoạn AIDS Thờigian ủ bệnh của HIV khá dài Kể từ khi phát hiện ra người đầu tiên bị AIDSvào năm 1981, người ta quan sát vô số trường hợp và kết luận rằng thời gian
để vi rút HIV sinh ra bệnh là khoảng từ 2 đến 10 năm Trong thời gian ủ bệnhnày người nhiễm HIV vẫn sống khoẻ mạnh bình thường, nếu không xétnghiệm thì cũng không biết mình có mang vi rút HIV
+ Các giai đoạn và các triệu chứng biểu hiện AIDS
Có nhiều cách để phân ra các giai đoạn của AIDS Tiến triển từ nhiễmHIV đến AIDS là một quá trình kéo dài Do vậy các biểu hiện lâm sàng rấtphức tạp và tùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau Có thể chia AIDS thành 4thời kỳ
Giai đoạn nhiễm HIV cấp (thời kỳ cửa sổ)
Sau khi đã xâm nhập vào cơ thể, số lượng vi rút HIV tăng lên trong máu,tạo ra giai đoạn nhiễm HIV cấp Trong đó có khoảng 80% trường hợp làkhông có triệu chứng gì ở giai đoạn đầu từ khi bị lây nhiễm cho đến khoảng 6tháng đầu Chỉ 20% có các triệu chứng rất thông thường Các triệu chứngthường gặp của thời kỳ này là viêm họng, sốt, đau nhức đầu, có ban, đau cơkhớp, mất ngủ…một số trường hợp có rối loạn cảm giác và nổi hạch Cáctriệu chứng lâm sàng sẽ khỏi sau vài tuần Thường từ 2 - 6 tuần
Trang 40Thời kỳ cửa sổ là khi số lượng HIV tăng lên song số lượng kháng thểsau một thời gian mới sinh ra và số lượng ít nên khi xét nghiệm HIV trongthời gian này là âm tính Thời kỳ này thường kéo dài vài tuần đến 3 tháng, cótrường hợp sẽ lâu hơn.
Giai đoạn nhiễm HIV không có triệu chứng
Giai đoạn này thường kéo dài từ 1 năm đến dưới 10 năm Thời gianngắn hay dài tùy thuộc vào nhiều yếu tố, như lứa tuổi, giới tính, tâm lý, dinhdưỡng, sức khỏe của người bệnh nhiễm HIV
Giai đoạn AIDS toàn phát
Đây là giai đoạn cuối của nhiễm HIV Phần lớn bệnh nhân sẽ chết trongvòng 2 - 3 năm
Có các triệu chứng chính sau: ỉa chảy kéo dài trên 1 tháng; sụt cân trên
10 % trọng lượng cơ thể; viêm phổi, ho khan, ho dai dẳng khó thở, sốt kéodài, nấm tưa ở họng; viêm màng não, U lympho; các tổn thương da và niêmmạc kéo dài; viêm da kéo dài; xuất hiện các u ác tính; nổi hạch toàn thân