Tuy nhiên sản xuất nông nghiệplại mang một số tác hại đối với nguồn nước, phổ biến nhất các chất gây ônhiễm hoá học trong nguồn nước uống phát sinh từ hoạt động nông nghiệp lànitrate và
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận vănThạc sĩ do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ côngtrình nghiên cứu khoa học nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận vănnày đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2017
Học viên
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, dưới sự tận tình hướngdẫn của giảng viên, được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã cómột quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành bàiluận văn tốt nghiệp Kết quả thu được không chỉ do sự nỗ lực của bản thân màcòn có sự giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn:
Tiến sĩ Nguyễn Thị Quỳnh Hoa - Phó trưởng khoa Y tế Công cộng,trưởng bộ môn Sức khỏe môi trường & Sức khỏe nghề nghiệp trường Đại học
Y - Dược Thái Nguyên, cô đã hướng dẫn em rất tận tình trong suốt thời gianthực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
Ban Giám hiệu trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên, Ban chủ nhiệmkhoa Y tế Công cộng cùng toàn thể các thầy cô giáo của khoa đã quan tâm,tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp
Cảm ơn các thầy cô giáo trong nhà trường đã trang bị cho em nhữngkiến thức bổ ích, không chỉ là những bài học chuyên môn quý báu mà còn lànhững kỹ năng nghề nghiệp
Lãnh đạo địa phương, Cán bộ Trạm Y tế, người dân xã La Hiên thuộchuyện Võ Nhai nơi em tiến hành thu thập số liệu cho luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2017
Học viên
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BYT : Bộ Y tế CLNN : Chất lượng nguồn nước KAP : Kiến thức, thái độ, thực hành
(Knowledge Attitude Practice)
LHQ : Liên Hiệp Quốc
QĐ : Quyết Định
TC : Tiêu chuẩn TCCP : Tiêu chuẩn cho phép TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TT : Thông tư UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc
(United Nations Children's Fund)
VSMT : Vệ sinh môi trường WHO : Tổ chức Y tế thế giới
(World Health Organization)
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt 3
1.1.1 Chất lượng nguồn nước sinh hoạt 3
1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt 3
1.1.3 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam 9
1.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 27
Trang 42.1.3 Địa điểm nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Nghiên cứu định lượng 28
2.2.2 Nghiên cứu định tính 29
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 30
2.2.4 Phương pháp đánh giá 32
2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin 37
2.2.6 Khống chế sai số 37
2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu 37
2.2.8 Đạo đức nghiên cứu 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình 38
3.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nước sinh hoạt 41
Chương 4 BÀN LUẬN 50
4.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình 50
Trang 54.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nước sinh hoạt 53
4.2.1 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ ô nhiễm với các chỉ số lý học 53 4.2.2 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ ô nhiễm với các chỉ số hóa học 54 4.2.3 Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ ô nhiễm với các chỉ số sinh học 57 KẾT LUẬN 61
1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã nghiên cứu: 61
2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt: 61
KHUYẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đánh giá các chỉ số lý học của các mẫu nước xét nghiệm tại các
hộ gia đình 38
Bảng 3.3 Hàm lượng chất hữu cơ, độ cứng trong nước tại các hộ gia đình .39 Bảng 3.4 Kết quả xét nghiệm chỉ số Coliform và Fecal Coliform trong
mẫu nước tại các hộ gia đình 39
Bảng 3.5 Đánh giá chỉ số xét nghiệm vi sinh vật trong nước 40 Bảng 3.6 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu với chỉ
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu gần
nhất với chỉ số Fecal Coliform 42
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia
súc gần nhất với chỉ số Amoniac trong nước 43
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia
súc gần nhất với chỉ số Coliform trong nước 43
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia
súc gần nhất với chỉ số Fecal Coliform trong nước 44
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới bãi rác gần
nhất với chỉ số Coliform trong nước 45
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới bãi rác gần
nhất với chỉ số Fecal Coliform trong nước 45
Trang 7Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với
chỉ số Amoniac trong nước giếng đào 46
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với
chỉ số Coliform trong nước giếng đào 46
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với
chỉ số Fecal Coliform trong nước giếng đào 47
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với mùi của nước giếng đào48 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với nguồn nước ô nhiễm
NO2 48
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với nguồn nước ô nhiễm
Fecal Coliform 49
Trang 8DANH MỤC CÁC HỘP ĐỊNH TÍNH
Hộp 3.1 Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ y tế và một số hộ gia đình về chất
lượng nguồn nước giếng đào 40
Hộp 3.2 Kết quả phỏng vấn sâu một số yếu tố liên quan đến chất lượng
nguồn nước giếng đào 44
Hộp 3.3 Kết quả thảo luận nhóm một số yếu tố liên quan đến chất lượng
nguồn nước giếng đào 47
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với con người, vấn
đề về nước đang là 1 điều đáng quan tâm hiện nay Trên trái đất, ¾ lãnh thổ lànước, nước trong các đại dương, ở biển, sông ngòi, ao hồ, nước ở trong lòngđất Nước rất cần thiết cho cuộc sống của con người, chiếm khoảng 70% khốilượng của cơ thể con người và là một thành phần quan trọng của quá trìnhtrao đổi chất, dung môi cho nhiều chất hòa tan của cơ thể Nguồn nước sạchcung cấp cho cơ thể để duy trì sự sống, vậy nên con người không thể sống màthiếu nước Nước là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lênhầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội [35]
Nước sạch giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi chúng ta,theo báo cáo của tổ chức Y tế Thế giới năm 2005 trên toàn thế giới có khoảng1,1 tỷ người đã không thể tiếp cận với nguồn nước sạch chiếm 17% dân sốtoàn cầu, trong đó có tới 2/3 là châu Á, có khoảng 1,8 triệu người chết mỗinăm liên quan đến các bệnh đường tiêu hóa trong đó chiếm tới 90% ở trẻ emdưới 5 tuổi Năm 2016 trên thế giới có 846.000 người tử vong do tiêu chảyliên quan đến sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh [52]
Nguồn nước bị ô nhiễm gây nhiều tác hại đến sức khỏe con người, tỉ lệngười mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêmmàng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng Các nghiên cứu khoa họccũng cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con người có thểmắc bệnh ung thư trong đó thường gặp là ung thư da Con người sử dụngnguồn nước có nhiễm chì vượt quá tiêu chuẩn cho phép có thể mắc bệnh thận,thần kinh; nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, cóthể gây ung thư Vi khuẩn, ký sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnhđường tiêu hóa, nhiễm giun, sán
Trang 10Việt Nam là một nước đang phát triển với mục tiêu đến năm 2020,nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Bên cạnh đàphát triển của đất nước thì vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễmmôi trường nước nói riêng đang ở mức báo động Tại các vùng nông thônnước ta chỉ có 40% dân số được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia do
Bộ Y tế ban hành Mục tiêu quốc gia đến năm 2020 tất cả dân cư nông thôn
sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia, năm 2010 với 85% số hộ sử dụngnguồn nước hợp vệ sinh, ưu tiên hỗ trợ cho những vùng nghèo, người nghèo,các vùng đặc biệt khó khăn [27], [28]
Thái Nguyên trong những năm qua hoạt động cung cấp nước sạch và vệsinh môi trường nông thôn không ngừng được đẩy mạnh Đến nay đã có 82%người dân nông thôn có điều kiện sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh Tuy nhiên
do ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu làm cho số lượng cũng như chấtlượng nguồn nước sinh hoạt không được đảm bảo
La Hiên là một xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xã códiện tích là 39,19 km², nằm ở phía tây của huyện và có tuyến quốc lộ 1Bchạy qua, điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội còn nhiều khó khăn Cùngvới việc đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội thì vấn đề sử dụng nguồn nướchợp vệ sinh đang là một trong những thách thức đối với chăm sóc, đảm bảosức khỏe cho người dân Vậy thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt tạicác hộ gia đình trong xã hiện nay như thế nào? Yếu tố nào tác động đến chấtlượng nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình? Đây là lý do chúng em xây
dựng đề tài: “Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt và một số yếu
tố liên quan tại các hộ gia đình thuộc xã La Hiên huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”, với mục tiêu:
1 Đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình tại
xã La Hiên huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên năm 2016.
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình ở xã La Hiên huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt
1.1.1 Chất lượng nguồn nước sinh hoạt
Nước sạch là nước dùng cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và giađình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp đồng thời có đủ 22 chỉ tiêuđáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y Tế ban hành [4] Theo Luật tàinguyên nước số 17/2012/QH13 cũng chỉ rõ nước sạch là nước có chất lượngđáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam [18]
Đối với nước hợp vệ sinh là nước không màu, không mùi, không vị,không chứa các thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của conngười, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi [33] Các yếu tố vật lý, hóa học
và vi sinh trong nước không vượt quá giới hạn tiêu chuẩn cho phép
1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt
Tùy theo yêu cầu của việc sử dụng nước vào các mục đích khác nhaunhư nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, văn hóa, thể dục thể thao, phục
vụ ăn uống và sinh hoạt mà quy định những tiêu chuẩn của ngành Đối vớinước ăn uống và sinh hoạt có tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêuchuẩn quốc gia và tiêu chuẩn địa phương Tiêu chuẩn quốc tế về nước sinhhoạt là tiêu chuẩn của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ban hành năm 1958 và
bổ sung sửa đổi năm 1963, 1971, và 1984 Tiêu chuẩn bao gồm 3 nhóm chỉtiêu: Vật lý, hóa học (chất vô cơ tan, chất hữu cơ) và sinh học
Năm 2002 với sự giúp đỡ của UNICEF, Bộ Y tế đã xây dựng và banhành Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống theo quyết định số 1329/2002/BYT-
QĐ ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế để giám sát chất lượng nước dùngcho ăn uống và sinh hoạt Tiêu chuẩn này quy định ngưỡng tối đa cho phépcủa 112 chỉ tiêu vật lý, hóa học và sinh học Đây là chìa khóa pháp lý cho cả
Trang 12người tiêu dùng cũng như sản xuất và cung cấp nước sạch Tuy nhiên, phạm
vi áp dụng chủ yếu là đối với đô thị, công trình cấp nước tập trung cho 500người trở lên, do vậy đối với vùng nông thôn hiện chưa phải là đối tượng ápdụng bắt buộc [1]
Để khắc phục hạn chế này, Bộ Y tế ban hành Tiêu chuẩn ngành: Tiêuchuẩn vệ sinh nước sạch theo quyết định số 09/2005/BYT-QĐ ngày11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế Tiêu chuẩn này chỉ quy định 22 chỉ tiêu cơbản về cảm quan, thành phần vô cơ và vi sinh vật Tiêu chuẩn này áp dụng đốivới các hình thức cấp nước sạch hộ gia đình, các trạm cấp nước sạch khác.Nước sạch quy định trong tiêu chuẩn này chỉ là nước dùng cho các mục đíchsinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp Nếudùng trực tiếp cho nước ăn uống phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ănuống ban hành kèm theo quyết định số 1329/QĐ-BYT ngày 18/4/2002 của Bộtrưởng Bộ Y tế [1]
Nhìn chung về mặt số lượng có thể chấp nhận được ở mức30l/người/ngày ở nông thôn và 100-150l/người/ngày ở thành thị Về mặt chấtlượng, nước dùng để ăn uống và sinh hoạt phải đảm bảo những yêu cầu chungsau đây:
- Nước phải có tính cảm quan tốt, phải trong, không có màu, không cómùi, không có vị gì đặc biệt để gây cảm giác khó chịu cho người sử dụng
- Nước phải có thành phần hóa học không độc hại cho cơ thể conngười, không chứa các chất độc, chất gây ung thư, chất phóng xạ… Nếu cóthì phải ở mức tiêu chuẩn nồng độ giới hạn cho phép theo quy định củaNhà nước và Bộ Y tế
- Nước không chứa các loại vi khuẩn, virus gây bệnh, các loại kí sinhtrùng và các loại vi sinh vật khác, đảm bảo an toàn về mặt dịch tễ học
Cụ thể như sau:
Trang 13a Lý học [9]
* Độ trong.
- Nước phải trong, độ trong của nước ít nhất là 30 cm
- Nước đục là do có những chất lơ lửng trong nước (đất, cát…) đối vớinước bề mặt, chất sắt đối với nước ngầm
Nước đang trong mà bỗng bị đục chứng tỏ là có sự thẩm lậu của các chấtbẩn hoặc do nhiễm khuẩn vào nguồn nước
* Mầu.
- Nước hợp vệ là nước không mầu, có mầu rõ rệt khi nhìn bằng mắt
thường
- Nước hồ, ao, thường có mầu vì có lẫn chất mùn hoặc rêu, tảo
- Nước ngầm sâu thường có mầu vàng gỉ của chất sắt, khi thấy nước cómầu phải tìm xem nguyên nhân nào đã sinh ra màu đó
* Mùi vị.
Nước hợp vệ là nước không mùi vị gì đặc biệt, nếu có thường là do bị nhiễm
+ Do các chất khoáng như muối, sắt.v.v
+ Do khí hoà tan như H2S, Cl2 thừa
+ Do thực vật thối rữa hoặc đang bị phân huỷ
* Nhiệt độ.
- Nước hợp vệ là nước có nhiệt độ tương đối ổn định, thường khoảng 150C
- Với nước càng sâu thì nhiệt độ càng ổn định
Mọi sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ (nhất là đối với nguồn nước ngầmnông) có thể giúp ta nghi ngờ có sự nhiễm bẩn ở ngoài vào
b Hóa học [9]
- Trong nước không có chất độc
- Các hoá chất không quá tiêu chuẩn cho phép
* Về chất hữu cơ.
- Sự có mặt của chất hữu cơ chứng tỏ là mẫu nước bị nhiễm bẩn
- Chất hữu cơ là sản phẩm của sự thối nát
Trang 14+ Của các tổ chức động vật và thực vật.
+ Các chất thải bỏ (phân, nước thải xí nghiệp )
- Về nguồn gốc có 2 loại chất hữu cơ
+ Chất hữu cơ thực vật
+ Chất hữu cơ động vật
Chất hữu cơ động vật rất nguy hiểm, vì sự có mặt của nó còn kèm theocác vi khuẩn gây bệnh
* Về dẫn xuất của Nitơ (amoniac, nitrit, nitrat).
- Đó là những chất do quá trình vô cơ hoá của chất hữu cơ mà ra
- Tuỳ theo đậm độ cao thấp của amoniac, nitrit, nitrat mà định đó là giaiđoạn đầu hay giai đoạn cuối của hiện tượng vơ cơ hoá Từ đó có thể xác định
là mẫu nước đã bị nhiễm bẩn như thế nào
- Khi nhận định cần phải kết hợp với đậm độ của chất hữu cơ và chấtclorua thì mới có thể khẳng định tính chất nhiễm bẩn của mẫu nước
- Tiêu chuẩn một số chất cho phép ở trong nước uống
+ Chất hữu cơ: Tiêu chuẩn cho phép < 4mg O2/l nước
- Trong quá trình phân giải chất hữu cơ, amoniac xuất hiện đầu tiên
- Có amoniac chứng tỏ là có chất hữu cơ bắt đầu thối rữa
- Tiêu chuẩn cho phép là từ 0 - 3 mg NH3 trong 1 lít nước
Trang 15- Sau một thời gian, chất nitrit bị oxy hoá và trở thành nitrat.
- Chất nitrat là giai đoạn cuối cùng của sự phân huỷ các chất hữu cơ chứa N
- Nếu trong nước chỉ có nitrat không có nitrit và NH3 người ta cho rằngnước đó bị nhiễm bẩn nhưng đã được vô cơ hoá Nếu có thêm NH3 và NO2 làtrong dòng nước vẫn còn chất hữu cơ
- Nếu lượng nitrat quá nhiều trong nước có thể nguy hiểm đối với trẻ sơsinh, vì nó gây bệnh Methemoglobin ở máu
- Tiêu chuẩn qui định cho phép lên tới 5mg nitrat trong 1lít nước
* Muối NaCl.
- Khi thấy nước có nhiều NaCl chứng tỏ là nước bị nhiễm bẩn, do dịchthể động vật, nhiễm nước tiểu và phân mang lại
- Nhưng nếu ta thấy số lượng muối tăng cùng với số lượng NH3 và NO2
thì nước đã bị nhiễm bẩn và nguy hiểm
- Chất NaCl tiêu chuẩn cho phép là 60 - 70 mg NaCl/1lít nước
* Sắt (Fe).
- Sắt có thể thấy ở trạng thái
+ Hoà tan Fe++ (Fe(HCO3))
+ Không hoà tan Fe+++ (Fe2O3)
- Tiêu chuẩn cho phép là không quá 0.3mg Fe++/1lít nước
Trang 16* Độ cứng.
- Nước cứng là nước có nhiều muối Ca, Mg khác với nước mềm là nước
có ít loại muối này
- Tiêu chuẩn độ cứng ở nước ta được phân loại như sau
* Khái niệm vi khuẩn trong nước
- Nước dùng hàng ngày có thể bị nhiễm khuẩn Vi khuẩn sinh bệnh sốngtrong nước một thời gian nếu gặp điều kiện thuận lợi có thể gây bệnh cho mộtngười, một nhóm người hoặc thành dịch, bởi vì nhiều người cùng dùng chungmột nguồn nước
- Trong nước ứ đọng và nước lạnh, vi khuẩn sống dễ dàng hơn trongnước chảy và nước nóng Nước giếng bị nhiễm bẩn là do ô nhiễm đất vì nướcthải, vì gần hố xí không hợp vệ sinh Nếu nước bị nhiễm phân thì có thể nguyhiểm, vì trong số người khoẻ cũng có thể có người mang vi khuẩn Nguời tatìm những vi khuẩn sau đây để làm chỉ số cho sự nhiễm phân của nước:
+ Vi khuẩn Escherichia Coli
+ Vi khuẩn yếm khí có nha bào
+ Thực khuẩn thể
Đặc biệt trong nguồn nước sinh hoạt cần phải kể đến đó là vi khuẩnColiform và Fecal Coliform: Coliform là trực khuẩn Gram âm hiếu khí, kỵkhí tùy tiện không có nha bào, có khả năng lên men đường lactose sinh acid,sinh hơi ở nhiệt độ 35 - 370C trong vòng 48 giờ, chúng được tìm thấy ở phânngười, động vật và cả trong môi trường như đất, nước, rau quả…chúng được
Trang 17coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước đã được xử lý.Fecal Coliform là những coliform chịu nhiệt, phát triển được ở nhiệt độ44,50C, chúng có ở phân người và động vật máu nóng Vì vậy Fecal Coliformđược coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước khôngđược xử lý Sự có mặt của vi khuẩn này ở ngoại cảnh chứng tỏ đã có sự ônhiễm phân người và động vật máu nóng [5].
d Ký sinh trùng trong nước [9]:
- Chúng có khả năng sống ăn bám ở bên trong cơ thể người hay độngvật và chia thành hai loại
+ Ký sinh trùng địa chất Loại ký sinh trùng không cần vật chủ trunggian để phát triển
+ Ký sinh trùng sinh học, phải qua cơ thể của 2, 3 vật chủ trung gian đểphát triển
- Đối với một vài loại sán, trứng, ấu trùng và các vật chủ trung giansống ở dưới nước
Bên cạnh đó để đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt cần căn cứvào các thông tư:
- Theo thông tư số 15/2006/TT-BYT, Hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinhnước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình
- Theo thông tư số 50/2015/TT- BYT, Quy định việc kiểm tra vệ sinh,chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt
- Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Bộtrưởng Y tế về tiêu chuẩn vệ sinh nước
1.1.3 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam
1.1.3.1 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên thế giới
Như chúng ta đã biết, nước đóng một vai trò chủ đạo trong hệ sinh thái
và cũng quan trọng trong đời sống của con người, ở đâu có nước là ở đó có sựsống, có văn hóa và có văn minh Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý
Trang 18giá của mỗi quốc gia, đóng một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tếkhác nhau [44], [47] Tuy nhiên nguồn tài nguyên này đang dần trở nên cạnkiệt bởi những tác nhân ô nhiễm do chính con người gây ra Chúng ta hoàntoàn có lý do để e ngại rằng thế giới sẽ sớm không có nước trong sản xuấtnông nghiệp, không còn đủ nguồn nước sạch phục vụ cho nhu cầu ăn uống vàsinh hoạt của con người, thiếu nước sạch ảnh hưởng đến an ninh mỗi quốcgia, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và gây nên nhiều bệnh tật cho conngười trên trái đất này Dân số thế giới và tăng trưởng kinh tế đang làm giatăng nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp Tuy nhiên sản xuất nông nghiệplại mang một số tác hại đối với nguồn nước, phổ biến nhất các chất gây ônhiễm hoá học trong nguồn nước uống phát sinh từ hoạt động nông nghiệp lànitrate và thuốc trừ sâu, phân người, phân động vật, phân bón và chất rắn sinhhọc (bùn thải) sử dụng cho mục đích nông nghiệp là một trong các nguyênnhân chính gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sức khỏe con người [49].Liên Hiệp Quốc công bố báo cáo cho thấy, từ năm 2000 đến năm 2015,việc tiếp cận nguồn nước sạch cho người dân trên thế giới đã có nhiều tiến
bộ đáng kể Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là giảm một nửa số người khôngđược tiếp cận với nước sạch và các điều kiện vệ sinh cơ bản đã đạt được sớm
5 năm so với mục tiêu đề ra ở năm 2015 Đến cuối năm 2010, 89% dân
số toàn cầu (khoảng hơn 6 tỷ người) có thể tiếp cận nước sạch, vượt mụctiêu đề ra Tuy nhiên, nước sạch vẫn không phải là nguồn tài nguyên dành chotất cả mọi người trong khi 11% còn lại (khoảng 783 triệu người) vẫn khôngđược tiếp cận nguồn nước an toàn; khoảng 2,5 tỷ người vẫn còn thiếu các điềukiện vệ sinh tối thiểu Khu vực Châu Á Thái Bình Dương chiếm đến 61% dân
số thế giới nhưng nguồn nước dành cho khu vực này chỉ bằng 1/3 dân số toàncầu Khoảng nửa tỷ người tại đây không có cơ hội tiếp cận với nguồn nướcđảm bảo an toàn và 1,8 tỷ người dân không được sống trong điều kiện vệ sinh[13]
Trang 19Theo báo cáo của UNICEP về tình hình thực hiện thập kỷ cung cấpnước và vệ sinh môi trường từ năm 1990 đến năm 2000, ở thời điểm năm
2000 có 81% dân số thế giới được cung cấp nước sạch còn 19% không đượccung cấp nước sạch hoặc trong tình trạng thiếu sinh hoạt và ăn uống, trong số
đó 63% thuộc Châu Á và 28% ở Châu Phi, trong khi tỷ lệ này tương ứng ởChâu Mỹ Châu Âu là 7% và 2% Điều đó cho thấy các nước đang phát triển
và kém phát triển thì tỷ lệ dân số không được cung cấp nước sạch rất cao [51]
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinhhoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử
lý bị đổ trực tiếp vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Theothống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thếgiới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày5/9/2010 Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người
bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đangphát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vìthiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước Thiếu nước sạch là nguyên nhângây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm Tổ chức Nông Lương LHQ(FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khuvực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước
Cả thế giới đang hướng tới hoàn thành được các mục tiêu thiên niên kỷ
về nước vào năm 2015 (90% dân số thế giới sẽ được sử dụng nước sạch) Tuynhiên, kỳ vọng để đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ này là không mấy hiệnthực Thực tế cho thấy, việc tiếp cận được với những dịch vụ cơ bản liên quanđến nước như nước uống an toàn, vệ sinh… vẫn là một vấn đề khó khăn đốivới các nước đang phát triển Theo ước tính, đến năm 2030 vẫn còn khoảng 5
tỷ người (chiếm 67% số dân thế giới) chưa được tiếp cận với các điều kiện vệsinh về nước Hầu hết 80% bệnh tật ở các nước đang phát triển đều liên quanđến nước Theo thống kê, mỗi ngày có khoảng 5.000 trẻ em, hay cứ sau 17
Trang 20giây lại có 1 trẻ chết vì bệnh tả Nếu như được tăng cường về cấp nước, điềukiện vệ sinh và quản lý tài nguyên nước thì cả thế giới có thể tránh được 1/10bệnh tật [3].
Theo Giám đốc UNESCO Koichiro Matsuura, tình trạng thiếu nước giatăng như hiện nay, vấn đề quản lý hiệu quả tài nguyên nước trở nên quantrọng hơn bao giờ hết và việc đấu tranh với cái nghèo còn tùy thuộc vào khảnăng chúng ta đầu tư vào lĩnh vực tài nguyên nước [3]
Việc khai thác nước sạch đã tăng gấp 3 lần trong vòng 50 năm qua Diệntích đất tưới cũng tăng gấp đôi trong chừng ấy năm và hiện tượng này liên quanmật thiết với sự gia tăng dân số Dân số thế giới hiện nay là 6,6 tỷ người vàmỗi năm tăng thêm 80 triệu người, điều đó có nghĩa là nhu cầu về nước sạchmỗi năm tăng thêm khoảng 64 tỷ mét khối Song, đáng tiếc là 90% số dântrong số 3 tỷ người dự kiến tăng thêm vào năm 2050 lại tập trung ở cácnước đang phát triển, nơi mà ngay từ bây giờ đã đang chịu cảnh khan hiếmnước [3]
Theo ước tính, đến năm 2030 sẽ có 47% dân số trên thế giới sinh sốngtại các vùng thiếu nước sạch Chỉ tính riêng ở Châu Phi, do biến đổi khí hậu,
số người thiếu nước sinh hoạt nhiều hơn vào năm 2020 là từ 75 đến 250 triệungười Khan hiếm nước ở một số vùng khô hạn và bán khô hạn sẽ tác độnglớn tới sự di cư; do hiếm nước sẽ có từ 24 triệu đến 700 triệu người dân không
có chỗ ở [3]
Trên thế giới vấn đề chất lượng nguồn nước ngầm đặc biệt được quantâm từ những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ 20 với các nghiên cứu vềnồng độ của kim loại nặng trong nước ngầm đặc biệt là As Chất lượng nguồnnước sinh hoạt không được đảm bảo, các yếu tố lý học, hóa học và sinh họctrong nước vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nghiên cứu về tổng Coliform trongnước vùng hồ Kashmir ở Ấn Độ cho thấy tất cả các mẫu nước xét nghiệm đều
có sự xuất hiên của Coliform và cao hơn nhiều so với giới hạn cho phép.Trong tháng 12 năm 2013, với 40 mẫu nước từ các nguồn nước uống khác
Trang 21nhau được phân tích chất lượng nước cho thấy các mẫu nước 30% bị nhiễmcoliform (1-20 cfu/ml) và 5% với E.coli (2-5 cfu/ml) [42].
Nghiên cứu chất lượng nguồn nước uống trong cộng đồng nông thôn ởEthiopia cũng cho thấy hầu hết các mẫu nước xét nghiệm tìm thấy coliform,cao hơn tiêu chuẩn cho phép, hầu hết các nguồn nước không đáp ứng các giátrị độ đục khuyến cáo của WHO [50]
Kết quả nghiên cứu 60 mẫu nước để đánh giá chất lượng nguồn nướcgiếng đào tại cộng đồng Nigeria (2010) cho thấy, hầu hết các mẫu nướckhông đạt tiêu chuẩn về Nitrat, Coliform và Fecal Coliform trong nước, tácgiả lý giả rằng nguồn nước có thể bị nhiễm phân người, gia súc, gần các bãithải sinh hoạt [37]
Kết quả nghiên cứu chất lượng nguồn nước sông AnKo (2016) ở vùngtrung tâm đông nam Ethiopia được cho là nguồn cung cấp nước sinh hoạt vàphục vụ mục đích ăn uống cho thấy, các mẫu nước xét nghiệm có tổng lượngnitrit thu được trong suốt thời gian nghiên cứu vượt quá giới hạn quy định,tổng số vi sinh khuẩn đếm được cho tất cả các mẫu nước vượt quá giới hạncho phép 1.0x102 cfu/ml, nguyên nhân chủ yếu do sự hiện diện của chất hữu
cơ cao và muối hoà tan trong nước Các nguồn chính của các vi khuẩn trongnước là chất thải của con người và động vật [36]
Nghiên cứu đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại tỉnh Isfahannằm ở trung tâm đất nước Iran (2012) cho thấy, tất cả các mẫu nước xétnghiệm nitrat, clorua, sắt, và florua đều vượt quá mức cho phép do Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO) ban hành lần lượt là 12,3%, 9,2%, 6,8% và 1,5% [40].Trong một nghiên cứu tại huyện Charsadda, Pakistan về chất lượngnguồn nước sinh hoạt năm 2012 cho thấy tất cả các mẫu nước uống thu được
từ huyện Charsadda đã được phân tích vi khuẩn coliform và dao động từ 0đến 5 trên 100 ml Ở Tehsil Tangi, cả hai bể đều đều và mẫu giếng đào chothấy sự hiện diện của coliform (các làng như Yousaf Khanai, Spalmai và
Trang 22Gandheri) Tất cả các mẫu nước uống cho thấy sự hiện diện của vi khuẩncoliform tổng số ở Tasmania Charsadda, trong khi ở Tehsil Shabqadar, cácmẫu nước bị nhiễm vi khuẩn coliform ngoại trừ các mẫu giếng khoan Tạihuyện Charsadda, tổng số vi khuẩn coliform trong mẫu nước uống thườngvượt quá giới hạn cho phép (0 trên 100 mL) do Pak-EPA (2008) [46].
Kết quả nghiên cứu chất lượng nước uống của cộng đồng Bangladesh(2016) cho thấy, nồng độ sắt trung bình trong nước vượt quá tiêu chuẩn củaWHO (0,3mg/L), độ mặn tương đối cao, phần lớn các hộ gia đình (67%) sửdụng nước uống có chất lượng kém [48] Đồng thời cũng theo kết quả nghiêncứu chất lượng nước uống và nước sinh hoạt nông thôn tại quận Balaka,Malawi cho thấy hầu hết các mẫu nước giếng có hàm lượng sắt cao hơn tiêuchuẩn cho phép (0,3mg/L), chỉ số Fecal Coliform và Coliform lần lượt là 62-
120 cfu/100ml, và 40 - 56 cfu/100ml, cao hơn mức cho phép là 0cfu/100ml(WHO, 2011) [43] Nguồn nước bị ô nhiễm gây nhiều hậu quả nghiêm trọngđến sức khỏe con người đặc biệt là trẻ em ở các nước chậm phát triển Bệnhtiêu chảy gây ra 90% số ca tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang pháttriển Suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng năng lượng protein, có thểlàm giảm khả năng đề kháng của trẻ đối với nhiễm trùng, bao gồm tiêu chảyliên quan đến nước Trong năm 2000 - 2003 có 769.000 trẻ em dưới 5 tuổi ởvùng hạ Sahara Châu Phi đã chết mỗi năm do bệnh tiêu chảy, chỉ có 36% dân
số trong vùng hạ Sahara có các phương tiện vệ sinh hợp lý, hơn 2000 trẻ emcuộc sống bị mất mỗi ngày Tại Nam Á, mỗi năm có 683.000 trẻ em dưới 5tuổi chết do bị tiêu chảy, trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2003 Trongcùng khoảng thời gian, ở các nước phát triển, 700 trẻ em dưới 5 tuổi chết vìbệnh tiêu chảy này [39]
Nghiên cứu về chất lượng nguồn nước ngầm tại quận Muzaffargarh,Pakistan chỉ ra rằng Trong 49 mẫu nước ngầm, được thử nghiệm ở quậnMuzaffargarh, phía tây nam Punjab, miền trung Pakistan, các sự kết hợp của
Trang 23As đã vượt quá giá trị hướng dẫn tạm thời của Tổ chức Y tế Thế giới vàMôi trường Hoa Kỳ Cơ quan Bảo vệ (USEPA) Mức chất gây ô nhiễm tối đa(MCL), 10 microgam/lít trong Trong đó có 58% mẫu và đạt đến 906microgam/lít [45].
1.1.3.2 Thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt ở Việt Nam
Theo quy định của Bộ y tế nước sạch là nước dùng cho các mục đíchsinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếpđồng thời có đủ 22 chỉ tiêu đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch do Bộ Y tếban hành [4] Tuy nhiên việc áp dụng các tiêu chuẩn này trong việc sử dụngnước sinh hoạt ở nhiều địa phương trên cả nước còn nhiều hạn chế, nhiềuvùng miền còn sử dụng nguồn nước chưa qua xử lý và không đảm bảo vệsinh, đặc biệt là vùng núi phía bắc nước ta Vấn đề không đảm bảo nước sạch,
vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường yếu kém có ảnh hưởng rất lớn tới sứckhỏe của người dân, đặc biệt là sự phát triển và tương lai của trẻ em Theoước tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam cókhoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch [24]
Kết quả báo cáo Quốc gia kết quả 15 năm thực hiện mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ ở Việt Nam cho thấy việc tiếp cận nước sạch và điều kiện vệsinh cơ bản có nhiều chuyển biến tích cực: Chương trình mục tiêu quốc gia vềcung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 - 2015.Chương trình hướng tới mục tiêu: 85% người dân ở nông thôn sử dụng nướcsạch Để đạt được mục tiêu trong giai đoạn này, Việt Nam đã có các tiến bộđều đặn đến cuối năm 2013, tỷ lệ người dân ở nông thôn sử dụng nước sạch là82,5% tăng từ 65% (2005) và 80% (2010) So sánh giữa các vùng, Bắc Trung
Bộ và Tây Nguyên là những vùng có tỷ lệ dân sử dụng nước sạch thấp nhất(lần lượt là 73% và 77%) [8]
Tại vùng nông thôn Việt Nam chỉ có 11,7% người dân được cung cấpnước máy, 33,1% sử dụng nước giếng khoan, 31,2% sử dụng giếng đào cònlại 20,3% là sử dụng nguồn nước khác bao gồm nước mưa, nước đầu nguồn,
Trang 24nước suối, ao, hồ Trong khi đó chỉ có 40% dân số nông thôn được sử dụngnước sạch đạt quy chuẩn quốc gia do Bộ Y tế ban hành, còn lại phần lớn cácgia đình nông thôn thường sử dụng các nguồn nước khác mà không được xử
lý gì Trong 7 vùng kinh tế - sinh thái vùng Đông nam bộ có tỷ lệ dân nôngthôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90%, cao hơn trung bình cảnước 10%, thấp nhất là vùng Tây Nguyên 72% (Bộ Y tế 2011) [7]
Theo nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn về vệ sinh môi trường của NgườiDao tại một số xã đặc biệt khó khắn ở Thái Nguyên chỉ ra rằng chỉ có 46,3%người dân sử dụng nước sạch trong sinh hoạt, nguồn nước chủ yếu là giếngđào chiếm 41,9% [23]
Theo nghiên cứu của Lê Hoài Thu ở Đồng Kỳ huyện Yên Thế tỉnh BắcGiang cũng cho thấy với giếng đào chỉ có tỷ lệ 32,4% là nguồn nước hợp vệsinh [26]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt (2011), cấp nước sinh hoạt vùngnúi cao Hà Giang, thực trạng và một số điều quan tâm giải quyết cũng chothấy tỷ lệ người dân sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh còn thấp chiếm33,1%, năm 2013 là 42% - 56% [16]
Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm
2006 của Tổng cục thống kê thì cả nước có 8,28% số hộ dùng nước máy đểnấu ăn (trong đó xã miền núi là 3,03% số hộ, xã vùng cao là 2,60%) Tỷ lệ hộdùng các loại nước giếng đã qua xử lý tương ứng là 6,87% và 1,08% [22].Hiện nay ở nước ta có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi
cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súckhông được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ônhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao
Theo luật tài nguyên nước của Việt Nam quy định: “Ô nhiễm nguồnnước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh họccủa nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây
Trang 25ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” Tuy nhiên, trong môi trường sốngcủa chúng ta có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm môi trường nước, nguồn ônhiễm này có thể ở là tự nhiên nhưng phần lớn nguồn gây ô nhiễm là nhântạo, do hoạt động sống, hoạt động sản xuất do con người tạo ra và gây ảnhhưởng đến sử dụng nước tại các hộ gia đình, nguồn gây ô nhiễm môi trườngnước gồm [2].
* Nguồn nước thải trong sinh hoạt, bệnh viện.
Nước thải từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học, cơquan… chứa nhiều chất hữu cơ không bền, chất rắn và nhiều vi trùng; hàmlượng chất ô nhiễm thay đổi tùy thuộc vào điều kiện sinh hoạt, sinh thái củatừng vùng Bên cạnh đó, nước thải sinh hoạt còn chứa nhiều chất hữu cơ khóphân hủy (có nguồn gốc từ các chất tẩy rửa…) chưa qua xử lý thải trực tiếp rasông, hồ, biển sẽ gây ô nhiễm nguồn nước, đồng thời làm tăng sinh và pháttriển các loại vi khuẩn, đặc biệt là các vi khuẩn gây bệnh (tả, lỵ, thươnghàn…) ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người
* Nguồn nước thải trong công nghiệp.
Nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giaothông vận tải… không có đặc điểm chung mà tùy vào đặc điểm của từngngành sản xuất như nước thải từ các cơ sở chế biến đường, sữa, thịt, tôm, cá,bia, nước ngọt… chứa nhiều chất hữu cơ; nước thải từ xí nghiệp thuộc dangoài chất hữu cơ còn có kim loại nặng, sulfua
* Nguồn nước thải trong nông lâm nghiệp, chăn nuôi sản xuất:
Nước thải trong nông lâm nghiệp chứa nhiều hóa chất bảo vệ thựcvật…; nước thải trong chăn nuôi sản xuất chứa nhiều vi sinh vật và chất hữu cơ…
* Nguồn nước mưa (mang theo chất ô nhiễm trong không khí và đất).
Các nguồn gây ô nhiễm làm cho chất lượng nguồn nước sinh hoạt khôngđược đảm bảo, các kết quả xét nghiệm lý học, hóa học và sinh học cao hơn sovới tiêu chuẩn cho phép
Trang 26Nghiên cứu của Đồng Kim Loan và Trịnh Thị Thanh (2009) thì trongnước ngầm các ion thường gặp là: Fe2+, Mn2+, Ca2+, Na+, Mg2+, HCO3-, Cl-, với nồng độ lớn hơn 0,7mg/l Giá trị pH biến đổi rộng trong khoảng từ 1,8 - 11
và thường dao động trong khoảng từ 5 - 8
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Phước và cộng sự (2008) tại Hóc Môn chothấy chất lượng nước ngầm bị ô nhiễm Fe với hàm lượng là 9mg/l cao hơnnhiều so với QCVN 09:2008/BTNMT là 5 mg/l
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Công Hào (2010) chothấy chất lượng nước ngầm tại khu vực Nhà Bè cũng bị ô nhiễm Fetổng vớihàm lượng 8,2mg/l
Tại thành phố Cần Thơ, kết quả quan trắc môi trường giai đoạn từ 2005
-2009 cho thấy chất lượng nước ngầm bị ô nhiễm ở các chỉ tiêu như: Độ cứng,Cl- (Clorua) và Coliform (so với QCVN 09:2008/BTNMT) với hàm lượngtrung bình trong năm 2009 lần lượt là: 268mg/l, 225mg/l, 1.442 MPN/100ml.Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Triệu (2008) cũng kết luận nước ngầm tạiCần Thơ có hàm lượng Fe2O3 cũng vượt giới hạn cho phép cả ở dạng Fe2+ và
Fe3+ Kết quả khảo sát mức độ nhiễm As trong nước ngầm tại khu vựcĐBSCL cho thấy hầu hết các mẫu quan trắc đều phát hiện có As
Theo nghiên cứu của Ngô Thị Nhu (2008), nghiên cứu một số yếu tố chấtlượng nước sinh hoạt và bệnh liên quan ở 6 xã nông thôn Đông Hưng TháiBình Đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp đã cho kết quả: Chỉ có 36,1%mẫu nước giếng khoan và 7,2% số mẫu giếng khơi đạt tiêu chuẩn vệ sinh chấthữu cơ 57,8% giếng khoan và 31,1% giếng khơi đạt tiêu chuẩn Amoni.46,1% giếng khoan và 30,6% giếng khơi đạt tiêu chuẩn vệ sinh Coliform.14,4% giếng khoan và 3,9% giếng khơi đạt tiêu chuẩn Fecal Coliform Có30,6% mẫu nước giếng khoan và 29,4% mẫu nước giếng khơi không đạt tiêuchuẩn vệ sinh asen [17]
Trang 27Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Hồ Vân, Nguyễn Thị Tuyến, đánhgiá chất lượng nước tại khu vực trường Đại học Y Hà Nội cho thấy có tới50% mẫu nước xét nghiệm không đạt tiêu chuẩn về Coliform và 94,3%không đạt tiêu chuẩn về Fecal Coliform, tác giả đã khẳng định rằng nguồnnước bị ô nhiễm ngay tại khu vực sử dụng có thể là do bể chứa nướckhông được vệ sinh và liên quan đến chất thải được thải ra từ các khu vựcxung quanh nguồn nước [30].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân tại các hộ gia đình thuộc xã Minh Quang Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, cho thấy các mẫu nước xét nghiệm đều nằmtrong giới hạn cho phép về lý học Tuy nhiên các về mặt sinh học thì tất cả các mẫu nước xét nghiệm đều có chỉ số Coliform tổng số cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 4 đến 5 lần [32]
Từ năm 2003 đến 2005, chương trình UNICEF đã khảo sát nồng độArsen trong các giếng khoan ở 4 tỉnh ĐBSCL cho thấy nguồn nước giếngkhoan của các tỉnh vùng đầu nguồn sông Cửu Long như An Giang, ĐồngTháp đều bị nhiễm Arsen rất cao, tỷ lệ các giếng có nồng độ Arsen từ 10 ppb
đến 50ppb (Nguyễn Khắc Hải, 2006) Ở ĐBSCL, nồng độ As cao trên 10ppb
chủ yếu tập trung vùng ven sông Tiền, sông Hậu và Đồng Tháp Mười(Gordon Stanger et al, 2005) Tại An Giang, trong số 2.966 mẫu nghiên cứu
có 40% số giếng bị nhiễm trên 50ppb, 16%nhiễm dưới 50ppb Tại Long Antrong số 4.876 mẫu nước ngầm có 56% mẫu nhiễm Arsen, tại Đồng Tháptrong 2.960 mẫu nước ngầm có 67% nhiễm Arsen, trong đó huyệnThanh Bình nhiễm Arsen 85% mẫu thử có hàm lượng trên 50 ppb, KiênGiang 3.000 mẫu khảo sát có 51% nhiễm Arsen (UNICEF và Viện Vệ sinh y
tế công cộng, 2006)
Nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt bị ô nhiễm gây nhiều hậu quảnghiêm trọng đến sức khỏe của người dân, các bệnh tật của con người đa sốliên quan đến nguồn nước mà chúng ta dùng Năm 1990, Tổ chức Y tế Thế
Trang 28giới (WHO) đã cho biết 80% các bệnh tật của con người có liên quan đếnnguồn nước, với số giường bệnh bằng ½ tổng số giường bệnh tại bệnh viện.Các bệnh có liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm thường phổ biến, khóchống chế hoặc thanh toán Các bệnh liên quan đến nước thường gặp là: [2]
- Bệnh đường ruột do vi khuẩn trong nước ô nhiễm: Vi khuẩn đườngruột vào cơ thể con người từ nguồn nước ô nhiễm thông qua con đường ănuống, chế biến thực phẩm như:
- Bệnh do giun sán: Bệnh sán lá gan, sán lá ruột, sán máng, sán lá phổi
- Bệnh do côn trùng có liên quan đến nước:
+ Bệnh sốt rét
+ Bệnh sốt xuất huyết (do muỗi vằn Aedes aegypti truyền bệnh)
+ Bệnh giun chỉ (do muỗi tulex pipiens sống trong ao tù nước đọng bẩn)
- Các bệnh da, mắt, cháy, rận : Bệnh mắt hột, bệnh viêm màng tiếp hợp,ghẻ lở, hắc lào, chàm, nấm da, cháy, rận Lây truyền trực tiếp từ người bệnhsang người lành do thiếu nước sinh hoạt vệ sinh hàng ngày hay dùng nướckhông sạch
- Các bệnh do thiếu vi chất trong nước:
+ Bệnh bướu cổ địa phương (do một số nơi thiếu Iốt trong nước kéo dài).+ Bệnh sâu răng (do thiếu Fluor), hoen ố răng và tổn thương xương (dothừa Fluor trong nước uống kéo dài)
- Bệnh do các độc chất trong nước:
Trang 29+ Bệnh methemoglobin (MetHb) do Nitrat chuyển thành Nitrit kết hợp với Hb ngăn cản sự vận chuyển oxy đến các mô.
+ Nitrit còn có thể tác dụng với các acid amin tạo thành Nitrosamin làchất có khả năng gây ung thư
+ Một số chất hữu cơ tổng hợp (nhân thơm, benzen vòng ), thạch tín cókhả năng gây ung thư cao
+ Các chất phóng xạ, chì, đồng, thủy ngân có trong nước khi vượt quángưỡng an toàn sẽ gây ngộ độc rất trầm trọng
1.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt
Để đánh giá vệ sinh nguồn nước tại cộng đồng và các yếu tố liên quanđến chất lượng nguồn nước sinh hoạt, tại tuyến cơ sở hiện nay đang áp dụng
“Tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ ô nhiễm nguồn nước hộ gia đình theo Thông tư 50/2015/TT-BYT” [6].
* Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sử dụng trong sinhhoạt như:
Đối với nguồn nước giếng đào:
- Khoảng cách từ giếng tới nhà tiêu gần nhất < 10m
- Khoảng cách từ giếng tới bãi rác gần nhất < 10m
- Khoảng cách từ giếng tới chuồng gia súc gần nhất < 10m
- Thiếu nắp đậy giếng
- Thành giếng cao < 0,8m so với nền giếng
- Vách giếng bị hở, bị nứt
- Thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt hoặc hẹp hơn 1m tính từ vách giếng
- Thiếu rãnh thoát nước thải hoặc điểm đổ nước thải < 10 m
- Dụng cụ lấy nước bị bẩn hoặc được đặt trên nền giếng
Đối với nguồn nước giếng khoan
* Giếng khoan có độ sâu mực nước từ 25m trở lên:
- Cổ giếng bị nứt, hở hoặc rò rỉ
Trang 30- Thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt, vỡ
- Dụng cụ bơm nước bị bẩn hoặc hư hỏng
* Giếng khoan có độ sâu mực nước dưới 25m:
- Cổ giếng bị nứt, hở hoặc rò rỉ
- Thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt, vỡ
- Dụng cụ bơm nước bị bẩn hoặc hư hỏng
- Khoảng cách từ giếng tới nhà tiêu gần nhất < 10m
- Khoảng cách từ giếng tới bãi rác gần nhất < 10m
- Khoảng cách từ giếng tới chuồng gia súc gần nhất < 10m
- Thiếu rãnh thoát nước thải hoặc điểm đổ nước thải < 10m
* Ngoài các tiêu chuẩn để đánh giá nguy cơ ô nhiễm chất lượng nguồnnước sinh hoạt, yếu tố con người có một vai trò rất quan trọng liên quan đếnthực trạng sử dụng và chất lượng nguồn nước sinh hoạt:
- Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua quá trìnhhọc tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống Mỗi người có thể thu đượckiến thức từ thày cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những người xungquanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp Các kiếnthức về bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ, nâng cao sức khỏe là điều kiện cần thiết
để mọi người có cơ sở thực hành các hành vi sức khỏe lành mạnh [10]
- Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ thể để đáp ứng vớinhững tình huống hay hoàn cảnh cụ thể Thái độ phản ánh những điều người
ta thích hoặc không thích, mong muốn hay không mong muốn, tin hay khôngtin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản Thái độ thường bắtnguồn từ kiến thức, niềm tin và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồngthời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của những người xung quanh [10]
- Hành vi của con người là một hành động, hay là tập hợp phức tạp củanhiều hành động, mà những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan Ví dụ các yếu tố
Trang 31tác động đến hành vi của con người như: phong tục tập quán, thói quen, yếu
tố di truyền, văn hoá - xã hội, kinh tế - chính trị
Theo nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn năm 2009, nghiên cứu 415 hộ giađình người dân ở bốn xã của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cho thấy thựctrạng kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh môi trường còn thấp vê kiến thứctốt chiếm 3,4%, thái độ tốt chiếm 34,4%, thực hành tốt chiếm 12,5% Tỷ lệkiến thức tốt của người dân còn rất thấp, tuy hầu hết đều kể tên được nguồnnước sạch, tuy nhiên tỷ lệ nêu được các bệnh do nguồn nước không sạch gây
ra thấp (33,2 %) Cũng theo nghiên cứu đó, cho thấy số đối tượng kể đượcđúng tên hai bệnh do sử dụng nguồn nước không sạch trở lên là 33,2%, kiếnthức chung của đối tượng về nguồn nước xếp loại tốt chỉ có 11,3%, trungbình là 24,3% và yếu là 64,3% Về thái độ chung của đối tượng nghiên cứu,xếp loại tốt cao hơn là 38,3%, trung bình 59% và yếu 2,7% Về thực hànhcủa đối tượng nghiên cứu, thực hành tốt về nguồn nước cao hơn 21,7%, trungbình 49,4% và yếu 28,9% [19] Cũng theo nghiên cứu của tác giả (2013), tạihuyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho thấy, có đến 58,3% người dân tộcNùng có kiến thức yếu về nguồn nước hợp vệ sinh, và chỉ có 26,3% có kiếnthức khá [21]
Theo nghiên cứu của Hạc Văn Vinh, Đàm Khải Hoàn, Đào Văn Dũng(2010) về thực trạng sử dụng nguồn nước và nhà tiêu hợp vệ sinh, kiến thức,thái độ và thực hành vệ sinh môi trường của phụ nữ (15-49 tuổi) có con dưới
5 tuổi tại huyện Võ Nhai, Thái Nguyên đã cho kết quả: thái độ đồng ý vớiviệc sử dụng nguồn nước sạch có thể phòng được bệnh tiêu hóa là 50,7%,phòng được bệnh mắt hột là 61,1% và phòng được bệnh ghẻ, lở, hắc lào là40,9% [31]
Nghiên cứu của Dương Xuân Hùng về thực trạng kiến thức, thái độ, thựchành về VSMT ở hai xã vùng sâu huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên cho thấy: sốđối tượng kể được đúng tên các bệnh do sử dụng nguồn nước không sạch chỉ
Trang 32có 36,07%, kiến thức chung của đối tượng về nguồn nước xếp loại tốt là30,68%, trung bình là 44,5% và yếu là 24,82% Về thái độ chung của đốitượng nghiên cứu, xếp loại tốt chỉ có 17,56%, trung bình 53,16% và yếu29,28% Về thực hành của đối tượng nghiên cứu, thực hành tốt về nguồnnước chỉ có 16,86%, trung bình 57,61% và yếu 25,53% [14].
Cũng theo nghiên cứu của Lê Hoài Thu (2015) về thực trạng nguồn nướcsinh hoạt và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng ô nhiễmnguồn nước tại xã Đồng Kỳ huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang cho thấy kiếnthức tốt của người dân về phòng chống ô nhiễm nước chỉ chiếm 16,5%,kiến thức trung bình chiếm 57%, trong khi đó kiến thức kém chiếm tới 26,5%[26]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Khánh Linh (2007) về thực trạng cáccông trình vệ sinh của người dân ở xã La Hiên huyện Võ Nhai trong phongtrào xây dựng làng văn hóa - sức khỏe, cho thấy chỉ có 67,79% nguồn nướcđạt tiêu chuẩn vệ sinh, tác giả chỉ ra rằng nguồn nước không sạch do nhiềunguyên nhân: Chất thải của người và động vật, giếng gần hố xí, gần chuồnggia súc, giếng không có thành và không có rãnh, các công trình vệ sinh củađồng bào miền núi là một vấn đề nghiêm trọng, ngày càng đe dọa đến cuộcsống của họ do thiếu kiến thức về vệ sinh môi trường nước sạch [15]
Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Thắng tại Hợp Tiến, Đồng Hỷtỉnh Thái Nguyên cũng chỉ ra rằng thực hành vệ sinh môi trường của ngườiDao còn thấp, nguyên nhân là do kiến thức, thái độ, thực hành của người dâncòn chưa cao, cụ thể là: Kiến thức tốt chiếm 19,13%, thái độ tốt chiếm15,85% và thực hành tốt chiếm 10,93% [25]
Bên cạnh đó cán bộ y tế: Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc sửdụng nguồn nước sinh hoạt và đảm bảo chất lượng nguồn nước khi sử dụng
đó là đội ngũ cán bộ y tế, do vậy cần phát huy vai trò của đội ngũ y tế thôn,bản, Trạm y tế xã cần làm tốt việc tuyên truyền, vận động người dân thực hiện
vệ sinh môi trường, ăn uống hợp vệ sinh, nâng cao ý thức phòng chống dịch
Trang 33bệnh Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế cần được quan tâm thựchiện tốt nhằm đảm bảo mọi đối tượng đều được chăm sóc về sức khỏe.
Sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể về vệ sinh môi trường: Vấn đềnâng cao nhận thức cho cộng đồng và giải quyết vấn đề vệ sinh môi trườngbằng tăng cường truyền thông giáo dục sức khoẻ, nâng cao kiến thức và thái
độ của người dân về vệ sinh môi trường là hết sức cần thiết Khi thực hiện cầnlồng ghép nhiều chương trình, nhiều ban ngành và nhiều giải pháp ở các mức
độ thích hợp khác nhau, trong đó xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường,chống ô nhiễm môi trường và tập hợp, sử dụng được tiềm năng của các cơquan khoa học đóng trên địa bàn mới là nội lực quan trọng để giải quyết tìnhtrạng ô nhiễm môi trường số hiện nay cho đồng bào các dân tộc thiểu số, đặcbiệt các dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Có nhưvậy mới mong rằng hành vi vệ sinh về môi trường của người dân mới đượccải thiện và nâng cao Nếu cán bộ y tế xã, y tế thôn bản, vệ sinh viên chưađược tập huấn đầy đủ, chưa nắm vững kiến thức, chưa có đủ kỹ năng truyềnthông về vệ sinh môi trường Vai trò của các già làng, trưởng bản, những cánhân có uy tín, lãnh đạo cộng động chưa được phát huy, chưa khai thác đượcnhững mặt mạnh của các phong tục truyền thống tốt đẹp trong nhân dânnhưng hương ước bản làng, quy định dòng họ thì đây là những khó khăn,cản trở việc thực hiện các biện pháp can thiệp giải quyết ô nhiễm môi trường,làm ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức, thái độ và thực hành về vệ sinh môitrường của người dân
* Nguồn lực: Để thực hành các hành vi nâng cao sức khỏe, phòng chốngbệnh tật, cộng đồng hay cá nhân cần có các điều kiện nhất định về nguồn lực.Nguồn lực cho thực hiện hành vi bao gồm các yếu tố như thời gian, nhân lực,tiền, cơ sở vật chất trang thiết bị Nhiều cá nhân có đủ kiến thức, họ hiểu rất
rõ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của họ nhưng vì thiếu các điều kiện nguồn lựcnên họ không thực hiện được hành vi mong muốn [11], [12]
Trang 34- Thời gian: Thời gian là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đếnhành vi của con người Có những hành vi cần có thời gian để thực hành hoặc
để thay đổi [11], [12]
- Nhân lực: Nhân lực đôi khi ảnh hưởng lớn đến hành vi sức khỏe củacộng đồng Nếu một cộng đồng nào đó có thể huy động nguồn nhân lực thìviệc tổ chức các hoạt động lao động phúc lợi cho cộng đồng sẽ được thựchiện dễ dàng Ví dụ như huy động nhân lực tổng vệ sinh đường làng, ngõxóm, cải tạo các nguồn cung cấp nước, xây dựng công trình vệ sinh côngcộng Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe rất cần nguồn nhân lực
từ cộng đồng tham gia để tạo nên phong trào tác động đến thay đổi hành visức khỏe [11], [12]
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị: Cơ sở vật chất trang thiết bị là các điềukiện cần thiết hỗ trợ cho thay đổi một số hành vi sức khỏe [11], [12]
* Yếu tố văn hóa: Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi con người, cácyếu tố này có thể rất khác nhau giữa cộng đồng này với cộng đồng khác Vănhoá là tổng hợp của nhiều yếu tố bao gồm kiến thức, niềm tin, phong tục tậpquán, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và tất cả những năng lực màcon người thu được trong cuộc sống Đồng thời môi trường văn hóa xã hội cóảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sức khỏe con người, sự khác biệt vềkinh tế xã hội giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển dẫn tới sựthay đổi mô hình bệnh tật cũng như tuổi thọ của con người [11], [12], [29].Thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với lãnh đạo trong cộngđồng, cán bộ y tế, già làng người có vai trò trong cộng đồng để tìm hiểu rõhơn về thực trạng sử dụng và các yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nướcsinh hoạt
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nguồn nước giếng đào dùng trong sinh hoạt của các hộ gia đình
- Cán bộ y tế xã, người có uy tín trong cộng đồng, người dân, nhân viên
Y tế thôn bản
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 5/2016 đến tháng 4/2017
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
- Xã La Hiên: Là một xã có diện tích 39,19km2 Xã nằm ở phía tây củahuyện và có quốc lộ 1B chạy qua Xã gồm có 16 xóm (Trúc Mai, Làng Lai,Hiên Bình, xóm Phố, Cây Bòng, Cây Thị, Khuôn Ngục, Làng Giai, La Đồng,Xuân Hòa, Đồng Đình, Hiên Minh, Hang Hon, Làng Kèn, Khuôn Vạc, ĐồngDong) Người dân sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhờ trồng cây ănquả, trồng lúa và kinh doanh buôn bán Trong xã gồm nhiều thành phần dântộc sống xen kẽ lẫn nhau chủ yếu là dân tộc Kinh, Nùng, Tày, Mông vẫn còntồn tại nhiều thói quen sinh hoạt, canh tác nông nghiệp ảnh hưởng xấu đếnmôi trường nước và sức khỏe của người dân trong cộng đồng Số hộ gia đìnhtrong xã là 2135 hộ Nguồn nước được người dân dùng chủ yếu trong sinhhoạt là nguồn nước giếng đào, nguồn nước giếng đào nơi đây còn tồn tạinhiều yếu tố nguy cơ ô nhiễm gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân khi
sử dụng
Trang 36Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Sở Tài nguyên và Môi trường
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang
Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
2.2.1 Nghiên cứu định lượng
2.2.1.1 .1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng
* Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nước tại các hộ gia đình
- Cỡ mẫu xét nghiêm nước sinh hoạt
Trang 37Áp dụng công thức tính cỡ mẫu xét nghiệm: [10]
Thay vào công thức ta có n = 42,5
Số mẫu nước cần lấy là 45 mẫu/chỉ số
Xét nghiệm 09 chỉ số, tổng số mẫu nước cần lấy là 45 mẫu x 09 chỉ số = 405chỉ số Thực tế số mẫu nước xét nghiệm là 50 mẫu x 09 chỉ số = 450 chỉ số
2.2.1.2 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng
- Chọn quần thể nghiên cứu: Chọn chủ đích huyện Võ Nhai tỉnh Thái
Chọn mẫu chủ đích Cụ thể như sau:
- Phỏng vấn sâu cán bộ y tế xã La Hiên: 1 cuộc
2
Trang 38- Phỏng vấn sâu 4 người có uy tín trong cộng đồng có hiểu biết tại địa phương để tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt.
- Thảo luận nhóm hộ gia đình: Chọn 10 người trong các hộ gia đìnhđược điều tra: 1 cuộc
- Thảo luận nhóm y tế thôn bản của các xóm có các hộ gia đình đượcđiều tra: Chọn 10 người
Tổng cộng 2 cuộc phỏng vấn sâu, 2 cuộc thảo luận nhóm theo cácnhóm đối tượng
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.3.1 Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nước sinh hoạt của các hộ gia đình.
- Các chỉ số lý học:
+ Màu, mùi vị trong nước giếng đào
+ Độ trong của nước giếng đào
+ Tỷ lệ các mẫu nước xét nghiệm có chỉ số lý học cao hơn TCCP
- Các chỉ số hoá học:
+ Hàm lượng chất hữu cơ trong nước (mgO2/l)
+ Hàm lượng NH3 trong nước sinh hoạt (mg/l)
+ Hàm lượng NO2 trong nước sinh hoạt (mg/l)
+ Hàm lượng độ cứng của nước sinh hoạt (độ Đức)
+ Tỷ lệ các mẫu nước xét nghiệm có chỉ số hoá học cao hơn TCCP
- Các chỉ số vi sinh:
+ Số lượng Coliform trong các mẫu nước giếng đào
+ Số lượng Fecal Coliform trong các mẫu nước giếng đào
+ Tỷ lệ Coliform trong các mẫu nước xét nghiệm cao hơn TCCP
+ Tỷ lệ Fecal Coliform trong các mẫu nước xét nghiệm cao hơn TCCP
Trang 392.2.3.2 Mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình.
- Liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu với chỉ số lý học.
- Liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới nhà tiêu gần nhất với chỉ
- Liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia súc gần nhất
với chỉ số Amoniac trong nước
- Liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia súc gần nhất
với chỉ số Coliform trong nước
- Liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới chuồng gia súc gần nhất
với chỉ số Fecal Coliform trong nước
- Liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới bãi rác gần nhất với chỉ số
Coliform trong nước
- Liên quan giữa khoảng cách từ giếng đào tới bãi rác gần nhất với chỉ số
Fecal Coliform trong nước
- Liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với chỉ số
Amoniac trong nước giếng đào
- Liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với chỉ số
Coliform trong nước giếng đào
- Liên quan giữa thiếu sân giếng hoặc sân giếng bị nứt với ng với chỉ số
Fecal Coliform trong nước giếng đào
- Liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với mùi của nước nước giếng đào.
- Liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với ô nhiễm NO2
- Liên quan giữa nguy cơ ô nhiễm với nguồn nước ô nhiễm Fecal Coliform.
Trang 402.2.4.1 Phương pháp lấy mẫu theo quy định của TCVN
+ TCVN 5992: 1995 (ISO 5667 2:1991): chất lượng nước lẫy mẫu hướng dẫn kỹ thuật
+ TCVN 5993 1995 (ISO 5667 3:1985): chất lượng nước lấy mẫu hướng dẫn bảo quản - xử lý mẫu
+ TCVN 6000: 1995 (ISO 5667 11:1992): chất lượng nước lấy mẫu hướng dẫn lấy mẫu
-2.2.4.2 Đánh giá các mẫu nước bằng phương pháp xét nghiệm
* Xét nghiệm đánh giá chất hữu cơ trong nước bằng phương pháp chuẩn độ:
Song song với mẫu xét nghiệm ta phải làm 1 mẫu đối chứng bằng nướccất các bước tiến hành tương tự ta sẽ có (n' ml thuốc tím) thường n' = 0,5
b Kết quả:
X mgO2/l = (n-n').0,16.1000/100 =(n-n').1,6
Trong đó: n là số ml thuốc tím đã chuẩn độ hết với mẫu nước xét nghiệm n'
là số ml thuốc tím đã chuẩn độ hết với mẫu nước đối chứng 0,16 là 1 ml