1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

96 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cách mạng. Khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cách mạng luôn được quan tâm và triển khai dưới nhiều hình thức, đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ chính trị cụ thể. Trong cách mạng dân tộc dân chủ, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là làm cho cán bộ nắm vững lý luận và đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng cũng như nắm vững các quy luật, phương pháp tổ chức và chiến tranh cách mạng, khả năng vận động quần chúng. Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, đội ngũ cán bộ cần được trang bị vững chắc về chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có hiểu biết toàn diện, với tư duy sáng tạo, bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn và hành động hiệu quả. Từ khi thành lập, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) luôn bám sát các nhiệm vụ chính trị được Trung ương Đảng giao phó. Đến nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị xã hội; là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý phục vụ giảng dạy, học tập, góp phần cung cấp luận cứ khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước. Với sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp của hệ thống chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác xây dựng đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học. Trong đó, công tác tuyển dụng là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong quy trình xây dựng và phát triển đội ngũ này, quyết định lớn đến chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo cán bộ cho Đảng và Nhà nước. Trong những năm qua, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có nhiều nỗ lực đổi mới, hoàn thiện công tác tuyển dụng hướng tới xây dựng một đội ngũ giảng viên có năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng vị trí, việc làm cụ thể. Với những chủ trương, định hướng, sự đầu tư nhiều nguồn lực, thực hiện nhiều cách thức, giải pháp trong tuyển dụng, đội ngũ giảng viên Học viện trong thời gian qua đã không ngừng trưởng thành cả về số lượng, và chất lượng. Đội ngũ này được tuyển chọn kỹ càng về năng lực và phẩm chất chính trị từ các địa phương, các ngành, các trường đại học và được đào tạo bài bản, chuyên sâu theo chuyên ngành tại Học viện. Tuy vậy, hiện nay đội ngũ giảng viên của Học viện vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt đáng lo ngại là sự hụt hẫng đội ngũ kế cận. Công tác tuyển dụng giảng viên còn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Chưa có cơ chế đủ mạnh để mạnh dạn thu hút nhân tài, cán bộ giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm thực tiễn về công tác ở Học viện. Trong quá trình tuyển dụng, một số vấn đề như: tính công khai, minh bạch, khách quan, hạn chế tiêu cực trong quá trình tuyển dụng được đặt ra, đòi hỏi Học viện phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới nhằm đáp ứng hiệu quả công tác này. Công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên theo cơ cấu, tiêu chuẩn, chuyên ngành đào tạo còn nhiều hạn chế. Công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên sau khi tuyển dụng còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Kỹ năng sư phạm, năng lực áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại của đội ngũ giảng viên còn chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, chất lượng, hiệu quả chưa cao… Trước yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của Đảng, Nhà nước và của Học viện, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, trong đó có đội ngũ giảng viên, nghiên cứu. Với phương châm “Đổi mới, sáng tạo, chất lượng, hiệu quả”, trong giai đoạn mới, Học viện tập trung đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình; đẩy mạnh đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo đối với các loại hình, các hệ đào tạo, nhất là hệ cao cấp lý luận chính trị; đồng thời, thực hiện đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ từ nội dung đến phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo gắn với việc chuẩn hóa, cập nhật kiến thức, kỹ năng, bám sát yêu cầu thực tiễn xã hội và xu thế hội nhập quốc tế. Do đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải thường xuyên quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên về mọi mặt, đáp ứng tốt nhất yêu cầu và nhiệm vụ của Học viện trong tình hình mới. Trong các khâu của công tác cán bộ, tuyển dụng là bước đầu tiên để tuyển chọn được đội ngũ giảng viên có chất lượng cao. Đây là vấn đề cần được đặt ra và nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh” làm đề tài Luận văn thạc sỹ ngành Chính sách công.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THU TRANG

THỰC THI CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THU TRANG

THỰC THI CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH CÔNG

Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG CÔNG ĐẮC

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Thu Trang

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN 9

1.1 Chính sách tuyển dụng giảng viên 9

1.2 Tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên 24

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Tổ chức nghiên cứu 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 49

Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH 52

3.1 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách 52

3.2 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách 66

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN KẾT QUẢ THỰC THI CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH 73

4.1 Quan điểm, mục tiêu 73

4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện mục tiêu thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên 76

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã mở nhiều lớp

huấn luyện cán bộ cách mạng Khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cách mạng luôn được quan tâm và triển khai dưới nhiều hình thức, đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ chính trị cụ thể Trong cách mạng dân tộc dân chủ, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là làm cho cán

bộ nắm vững lý luận và đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng cũng như nắm vững các quy luật, phương pháp tổ chức và chiến tranh cách mạng, khả năng vận động quần chúng Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực

hiện công cuộc đổi mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, đội ngũ cán bộ cần được trang bị vững chắc về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có hiểu biết toàn diện, với tư duy sáng tạo, bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn và hành động hiệu quả

Từ khi thành lập, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh) luôn bám sát các nhiệm vụ chính trị được Trung

ương Đảng giao phó Đến nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là

trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể

chính trị - xã hội; là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý phục vụ giảng dạy, học tập, góp phần

cung cấp luận cứ khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của

Đảng, Nhà nước

Trang 6

Với sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp của hệ thống chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác xây dựng đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học Trong đó, công tác tuyển dụng là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong quy trình xây dựng và phát triển đội ngũ này, quyết định lớn đến chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo cán bộ cho Đảng và Nhà nước Trong những năm qua, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có nhiều nỗ lực đổi mới, hoàn thiện công tác tuyển dụng hướng tới xây dựng một đội ngũ giảng viên có năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng vị trí, việc làm cụ thể Với những chủ trương, định hướng, sự đầu tư nhiều nguồn lực, thực hiện nhiều cách thức, giải pháp trong tuyển dụng, đội ngũ giảng viên Học viện trong thời gian qua đã không ngừng trưởng thành cả về số lượng, và chất lượng Đội ngũ này được tuyển chọn kỹ càng về năng lực và phẩm chất chính trị từ các địa phương, các ngành, các trường đại học và được đào tạo bài bản, chuyên sâu theo chuyên ngành tại Học viện

Tuy vậy, hiện nay đội ngũ giảng viên của Học viện vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt đáng lo ngại là sự hụt hẫng đội ngũ kế cận Công tác tuyển dụng giảng viên còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Chưa có cơ chế đủ mạnh để mạnh dạn thu hút nhân tài, cán bộ giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm thực tiễn về công tác ở Học viện Trong quá trình tuyển dụng, một số vấn đề như: tính công khai, minh bạch, khách quan, hạn chế tiêu cực trong quá trình tuyển dụng được đặt ra, đòi hỏi Học viện phải tiếp tục hoàn thiện, đổi mới nhằm đáp ứng hiệu quả công tác này Công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên theo cơ cấu, tiêu chuẩn, chuyên ngành đào tạo còn nhiều hạn chế Công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên sau khi tuyển dụng còn nhiều khó khăn, vướng mắc Kỹ năng sư phạm, năng lực áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại của đội ngũ giảng viên còn chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, chất lượng, hiệu quả chưa cao…

Trang 7

Trước yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của Đảng, Nhà nước và của Học viện, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học

lý luận chính trị, trong đó có đội ngũ giảng viên, nghiên cứu Với phương

châm “Đổi mới, sáng tạo, chất lượng, hiệu quả”, trong giai đoạn mới, Học

viện tập trung đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình; đẩy mạnh đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo đối với các loại hình, các hệ đào tạo, nhất là hệ cao cấp lý luận chính trị; đồng thời, thực hiện đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ từ nội dung đến phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo gắn với việc chuẩn hóa, cập nhật kiến thức, kỹ năng, bám sát yêu cầu thực tiễn xã hội và xu thế hội nhập quốc tế Do đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải thường xuyên quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên về mọi mặt, đáp ứng tốt nhất yêu cầu và nhiệm vụ của Học viện trong tình hình mới Trong các khâu của công tác cán bộ, tuyển dụng là bước đầu tiên để tuyển chọn được đội ngũ giảng viên có chất lượng cao Đây

là vấn đề cần được đặt ra và nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”

làm đề tài Luận văn thạc sỹ ngành Chính sách công

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Các nghiên cứu về chính sách và thực thi chính sách tuyển dụng nhân sự trong cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp

- Tác giả Lê Thị Hồng Điệp trong một số công trình nghiên cứu như:

“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam”[11]; “Các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam”[9]; “Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia Châu Á và những gợi ý cho Việt Nam”[10],

tác giả đã trình bày hệ thống về cơ cấu nguồn nhân lực, tiêu chí nguồn nhân lực

Trang 8

chất lượng cao, các giải pháp thu hút, đào tạo, kinh nghiệm một số nước châu Á cho Việt Nam

- Luận văn thạc sỹ:“Tuyển dụng công chức tại Tổng cục thuế” của Phan Thị Thuý Hạnh, luận văn ThS Quản lý công, 2018; Luận văn thạc sỹ:“Tuyển dụng công chức tại Bộ Nội vụ” của Triệu Thị Thanh Huyền, luận văn ThS Quản lý công, 2017; Luận văn thạc sỹ:“Tuyển dụng viên chức tại Ban Quản lý làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam” của Trần Vũ An, luận văn ThS Quản lý công, 2016; Luận văn thạc sỹ:“Tuyển dụng viên chức ở trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp” của Nguyễn Thị Phượng, luận văn ThS Quản

lý công, 2016 Các nghiên cứu trên đã tập trung vào việc thực thi chính sách tuyển dụng công chức, viên chức ở một số bộ, ban, ngành cụ thể và đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng

2.2 Các nghiên cứu về tuyển dụng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị

và giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- Nhóm các đề tài khoa khọc, sách chuyên khảo: Đề tài “Quản lý nhân lực khoa học ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp”, Trương Thị Thông, 2009; “Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2015”; “Vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận hiện nay”, Lê Kim Việt, Lê Văn Lợi, Trần Kiều Nga “Cơ sở khoa học cho việc xác định định mức lao động của đội ngũ cán bộ khoa học ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”, Lê Văn Lợi, Trần Kiều Nga…

- Nhóm các luận văn, luận án: Luận văn thạc sỹ:“Phát huy nhân tố con người - xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đại học Thái Nguyên hiện nay” của Nguyễn Trường Kháng, luận văn

ThS Triết học, 1999 Luận văn đã làm rõ việc xây dựng đội ngũ giảng viên lý

Trang 9

luận Mác-Lênin ở Đại học Thái Nguyên từ hướng tiếp cận về nhân tố con người

Luận án tiến sĩ: “Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay” của Phạm Văn Thanh, luận án TS

triết học, 2001 Luận án đã nghiên cứu về đội ngũ trí thức khoa học Lênin một cách rộng rãi trên phạm vi cả nước Bước đầu khái quát chung về tình hình hoạt động và đề xuất những giải pháp mang tính định hướng, vĩ mô

Mác-để xây dựng và phát triển đội ngũ này

Luận án tiến sĩ “Phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, tác giả Nguyễn Văn

Lượng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2015, đã đưa ra đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh theo hướng nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

- Nhóm các bài báo, tạp chí: “Một số giải pháp tạo động lực cho giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”, Ngô Thị Hải Anh, Tạp chí Lịch sử Đảng 2016, số 310, tr 117-119; “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ khoa học trẻ ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hiện nay”, Trần

Thị Kiều Nga, Tạp chí Lịch sử Đảng, 2015, số 7…

Nhìn chung, qua các nghiên cứu trên đã có một số công trình nghiên cứu

về công tác cán bộ nói chung và một số các nghiên cứu về công tác cán bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về thực thi chính sách tuyển dụng

giảng viên tại Học viện Vì vậy, đề tài: “Thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh” không bị trùng lặp

với các công trình nghiên cứu đã công bố

3 Câu hỏi nghiên cứu

Trang 10

- Câu hỏi 1: Chính sách tuyển dụng giảng viên được thực thi ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh như thế nào?

- Câu hỏi 2: Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện mục tiêu của chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh?

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận, đánh giá thực trạng thực thi chính sách

tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, luận văn

đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mục tiêu thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện đến năm 2030

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, trình bày tổng quan về lý luận và hệ thống hóa các văn bản chính

sách quan trọng về tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các cơ quan nhà nước; tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao làm giảng viên và giảng viên lý luận chính trị

Hai là, mô tả phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu để đạt được

mục đích nghiên cứu của Luận văn

Ba là, đánh giá thực trạng thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Bốn là, đề xuất các giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách tuyển dụng

giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình và kết quả tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 11

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình tổ chức thực

thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu quá trình thực thi chính sách tại Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến tháng 6-2019 và đề xuất một số định hướng, giải pháp đến năm 2030

- Về không gian: tại Trung tâm Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

số trường đại học, cao đẳng, một số địa phương, từ đó rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp cho tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo để hoạch định chính sách tuyển dụng giảng viên nói chung và tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói riêng

- Luận văn sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên ngành chính sách công

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn được chia làm 04 chương, 08 tiết

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên

Trang 12

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm cải thiện kết quả thực thi chính

sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH

TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN 1.1 CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Giảng viên, giảng viên lý luận chính trị

Giảng viên: Theo Đại từ điển tiếng Việt, giảng viên là “Người giảng dạy

tại trường đại học hay lớp huấn luyện cán bộ”[54, tr 731] Theo định nghĩa này, giảng viên được hiểu là người trực tiếp giảng dạy tại các trường đại học

và các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước như hệ thống các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong Luật Giáo dục năm 2019, Khoản 1, điều 66 có ghi: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy

từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên”[44] Theo đó, có thể hiểu những người làm công việc giảng dạy từ bậc học cao đẳng trở lên được gọi là giảng viên Tuy vậy, trong cách diễn giải này, nhà giáo giảng dạy tại các trung tâm bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước chưa được nói đến

Tại Khoản 2, Điều 2 của Quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ làm việc của giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có quy định: “Giảng viên là viên chức chuyên môn đảm nhận việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”[25] Trong Quy định này, giảng viên được hiểu rõ ràng hơn, vừa làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học phục vụ công tác giảng dạy tại các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Như vậy, từ các khái niệm trên hiểu một cách tổng quát: giảng viên là người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục -

Trang 14

đào tạo từ cao đẳng, đại học và các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước

Lý luận chính trị: Lý luận là sự tổng hợp các tri thức tự nhiên và xã hội

được tích lũy trong quá trình lịch sử Để tồn tại và phát triển, con người phải nhận thức thế giới xung quanh thông qua các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội, lao động sản xuất… những kinh nghiệm tích lũy hình thành lý luận Lý luận luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người Đại từ điển tiếng Việt đưa ra khái niệm lý luận là: “Tổng thể kinh nghiệm và tri thức của loài người đã được khái quát và tích lũy trong quá trình lịch sử; 2 Kiến thức khái quát và hệ thống hóa về một lĩnh vực nào đó”[54, tr 731] Cũng trong quá trình tồn tại và phát triển của loài người, từ khi xuất hiện giai cấp, nhà nước, pháp luật… thì chính trị cũng xuất hiện Chính trị được hiểu là toàn bộ những hoạt động của con người trong các mối quan hệ giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội… Cốt lõi của chính trị là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước để duy trì lợi ích giai cấp

và ổn định xã hội

Lý luận chính trị được coi là bộ phận quan trọng và phức tạp nhất trong kho tàng lý luận của loài người, gắn liền với việc đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị Lý luận chính trị cũng được hiểu là hệ thống những tri thức về lĩnh vực chính trị, thể hiện thái độ và lợi ích giai cấp đối với quyền lực nhà nước trong xã hội có giai cấp, là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn trong quá trình lịch sử Lý luận chính trị có tác dụng to lớn trong định hướng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Như

vậy, từ bản chất của khái niệm lý luận và chính trị có thể hiểu khái quát lý luận chính trị là hệ thống tri thức chính trị được đúc kết từ thực tiễn và nghiên cứu khoa học làm cơ sở lý luận định hướng tư tưởng và hành động của các đảng chính trị và chính thể nhà nước

Trang 15

Ở Việt Nam hiện nay, lý luận chính trị là hệ thống những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam Nó phản ánh lợi ích của giai cấp công nhân và nhân nhân lao động qua các mối quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội Lý luận chính trị ở Việt Nam là tổng thể những tri thức liên ngành mang tính đảng, tính giai cấp, tính khoa học, tính định hướng Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị nhằm xây dựng một thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng thời khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam

Đối với các trường đào tạo cán bộ cho Đảng và Nhà nước thì lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng Nhiệm vụ của các trường chính trị là phải làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước thật sự thấm nhuần trong đội ngũ cán

bộ của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể, góp phần xác lập tư tưởng, đạo đức, lối sống, bản lĩnh chính trị phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng hiện nay

Từ sự phân tích các khái niệm giảng viên, lý luận chính trị như đã trình bày, khái niệm giảng viên lý luận chính trị có thể được hiểu là những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học lý luận chính trị góp phần cung cấp tri thức khoa học, góp phần hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước Ở Việt Nam hiện nay, giảng viên lý luận chính trị là người trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng của Đảng và Nhà nước có lập trường tư

Trang 16

tưởng vững vàng, có tư duy khoa học tổng hợp, biện chứng, có đạo đức cách

mạng và có năng lực sáng tạo trong hoạt động thực tiễn

1.1.1.2 Tuyển dụng

Tuyển dụng là một khâu rất quan trọng trong quản trị nhân lực Bất kỳ một cơ quan hay tổ chức nào, để có được đội ngũ nhân lực mạnh, thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ đều tiến hành tuyển dụng Tuyển dụng giúp cho nhà quản lý có thể lựa chọn được những người phù hợp với vị trí công việc trong

tổ chức Có thể nói tuyển dụng là một trong những hoạt động không thể thiếu của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Hiểu một cách khái quát nhất, tuyển dụng là việc lựa chọn, đưa người mới vào làm việc trong một cơ quan, tổ chức Hiện nay, có nhiều cách hiểu về khái niệm tuyển dụng Theo tác giả Nguyễn Tấn Thịnh trong Giáo trình Quản trị nhân sự trong doanh nghiệp của trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội thì: tuyển dụng lao động là một quá trình thu hút nhân lực có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc và đưa vào sử dụng, bao gồm các khâu: tuyển mộ, tuyển chọn, bố trí sử dụng và đánh giá

Theo Giáo trình Tổ chức nhân sự hành chính nhà nước của Học viện Hành chính, nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2004, tuyển dụng là: đưa thêm người mới vào làm việc chính thức cho tổ chức, tức là từ khâu đầu tiên cho đến giai đoạn hình thành nguồn nhân lực cho tổ chức Quá trình tuyển chọn bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn 1 là “tuyển” tức là quá trình thu hút người tham gia dự tuyển; giai đoạn 2 là “chọn” tức là giai đoạn xem xét, đánh giá để chọn ra những cá nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do tồ chức đặt ra trong số những người tham gia dự tuyển

Trong lĩnh vực hành chính nhà nước thì tuyển dụng được hiểu là hoạt động tuyển chọn những người có đủ phẩm chất, năng lực thực thi công việc trong các cơ quan nhà nước Tùy theo tính chất, chức năng, nhiệm vụ của từng loại cơ quan mà tiêu chuẩn, điều kiện, hình thức tuyển dụng có khác nhau Tuyển dụng là khâu đầu tiên, quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến chất

Trang 17

lượng của đội ngũ cán bộ, do đó phải tuân thủ những nguyên tắc trong tuyển dụng

Mặc dù có nhiều quan điểm, khái niệm về tuyển dụng, nhưng hiểu một

cách chung nhất thì: tuyển dụng là một quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người có đủ năng lực đáp ứng một công việc cho cơ quan, tổ chức

1.1.1.3 Tuyển dụng giảng viên

Tuyển dụng với ý nghĩa là chọn và nhận người vào làm việc tại cơ quan,

xí nghiệp Tuyển dụng là một công việc phức tạp của bất cứ tổ chức hay nhà nước nào, bởi vì để tuyển chọn được những người đáp ứng tốt vị trí công việc thì phải tìm kiếm, đánh giá, phân tích về nhiều mặt trong đó có năng lực chuyên môn, tư tưởng chính trị, đạo đức của ứng viên Việc tuyển chọn cần căn cứ vào yêu cầu công việc, phải hiểu rõ bản chất và đặc điểm cá nhân của người đó cũng như phải phân tích thấu đáo vị trí hay chức danh cần tuyển chọn, ở một khía cạnh khác thì tuyển chọn là việc chọn trong số nhiều người

để từ đó tìm ra mốt số ít người theo yêu cầu của việc tuyển lựa

Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước thì tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển Theo đó, việc tuyển dụng

có thể là thi tuyển, xét tuyển tùy theo mục tiêu và đối tượng cũng như công việc cần tuyển

Tuyển dụng giảng viên là việc tìm kiếm một con người thích hợp vào vị trí công việc giảng dạy Tuyển chọn giảng viên được thực hiện theo một kế hoạch cụ thể để bổ nhiệm vào những vị trí chuyên môn nhất định, như: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp trong biên chế sự nghiệp của các cơ

sở giáo dục đại học, cao đẳng và các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng

và Nhà nước Hiểu một cách khái quát nhất, tuyển dụng giảng viên là việc lấy

Trang 18

một người vào làm công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước

Cũng như các lĩnh vực khác, tuyển dụng là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng đội ngũ giảng viên Nếu khâu tuyển dụng được thực hiện tốt, có bài bản, có chất lượng sẽ tuyển dụng được những người thực

sự có đức, có tài thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục - đào tạo cán bộ của Đảng, và Nhà nước, nâng cao

vị thế và uy tín của trường

Trong tuyển dụng giảng viên phải có kế hoạch cụ thể, rõ ràng ở từng khâu, từng giai đoạn, đây là cơ sở và điều kiện đảm bảo sự ổn định và phát triển của các trường Đối với các cơ sở giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước cần phải có chiến lược xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ

1.1.2 Nội dung chính sách tuyển dụng giảng viên

Chính sách là một hệ thống những nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các

quyết định và đạt được các kết quả hợp lý Thuật ngữ chính sách có thể áp dụng cho chính phủ, các tổ chức và các nhóm tư nhân, cũng như các cá nhân Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì:

Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm

vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa,…[46, tr.475]

Chính sách công là chính sách khi gắn với “khu vực công” tức khu vực

nhà nước Chính sách công là toàn bộ phương hướng, cách thức hành động do nhà nước lựa chọn và được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để giải quyết một vấn đề phát sinh trong một giai đoạn nhất định, định hướng cho xã hội phát triển một cách thống nhất theo mong muốn của nhà nước.[20]

Trang 19

Chính sách tuyển dụng giảng viên là chính sách thu hút nhân lực vào làm

công tác nghiên cứu, giảng dạy tại cơ sở giáo dục đào tạo; là hệ thống các phương hướng, cách thức được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực thi nhằm thu hút những người có năng lực, đáp ứng yêu cầu của công tác giảng dạy, đóng góp vào sự phát triển của cơ quan, đơn vị, của ngành, hoặc quốc gia

1.1.2.1 Các nguyên tắc trong tuyển dụng

Tuyển dụng là một hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên từng bước vững mạnh và toàn diện Tuyển dụng là khâu đầu tiên, quan trọng giúp lựa chọn được những cá nhân có khả năng, đủ điều kiện và tiêu chuẩn để đảm đương nhiệm vụ của cơ sở giáo dục - đào tạo Tuyển dụng giảng viên hiện nay cần phải tuân thủ pháp luật hành chính điều chỉnh chế độ tuyển dụng Đồng thời, cũng cần xây dựng những nguyên tắc đảm bảo các quy định được tôn trọng thực hiện, như:

- Nguyên tắc bình đẳng: Đây là nguyên tắc đầu tiên, đảm bảo cho mọi

công dân đều bình đẳng trong việc tham gia các hoạt động tuyển dụng nói chung và tuyển dụng giảng viên nói riêng, miễn là đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và vị trí ứng tuyển Nguyên tắc này xuất phát từ Hiến pháp quy định những quyền bình đẳng của công dân như: bình đẳng về giới, giai cấp, tôn giáo, dân tộc… Trên nguyên tắc bình đẳng, Nhà nước đã ban hành những quy định, điều kiện pháp lý cụ thể, những yếu tố đặc thù của từng

vị trí công việc được tính đến nhưng không vi phạm các quyền được được Hiến pháp thừa nhận

- Nguyên tắc khách quan: Nguyên tắc này yêu cầu cơ quan tuyển dụng

phải căn cứ vào những yêu cầu khách quan để tuyển dụng Đó là nhu cầu thực

tế công việc, là hệ thống quy định của pháp luật và kết quả tuyển dụng của thí sinh Nguyên tắc khách quan nhằm đảm bảo cho việc tuyển dụng không bị chi

Trang 20

phối bởi các yếu tố chủ quan như: thân quen, hối lộ, tiêu cực trong tuyển dụng…

Nguyên tắc khách quan đảm bảo trong tuyển dụng giảng viên dựa vào tiêu chuẩn, năng lực và kết quả sát hạch qua thi tuyển để tuyển dụng giảng viên Nguyên tắc này đồng thời đảm bảo tính công bằng trong tuyển dụng Công bằng nghĩa là lấy kết quả làm cơ sở để tuyển dụng, loại trừ thiên vị Đảm bảo tính công bằng và khách quan là đảm bảo và tôn trọng kết quả phù hợp với quy định, đảm bảo mọi khâu trong quá trình tuyển dụng được minh bạch, rõ ràng, không thiên vị

- Nguyên tắc cạnh tranh: Muốn tuyển dụng được những người tài đức,

giàu năng lực, ngoài các tiêu chí cụ thể, nhà tuyển dụng cần phải thiết lập được cơ chế cạnh tranh trong hoạt động tuyển dụng Mục đích của tuyển dụng

là lựa chọn được người xuất sắc nhất trong số những người tham gia dự tuyển Việc lựa chọn này chỉ có ý nghĩa và đạt kết quả khi những người tham gia dự tuyển có sự cạnh tranh với nhau để được tuyển dụng vào cùng một vị trí, cạnh tranh cũng chính là động lực để thúc đẩy mọi người phấn đấu và hoàn thiện bản thân Các biện pháp bảo đảm cho cạnh tranh được thực hiện hiệu quả là: xây dựng tiêu chí tuyển dụng cụ thể, rõ ràng; thông báo tuyển dụng công khai; tổ chức thi tuyển, xét tuyển chặt chẽ, giám sát nghiêm, đảm bảo khách quan, trung thực…

- Nguyên tắc ưu tiên: Nội dung của nguyên tắc này là dành những điều

kiện ngoại lệ thuận lợi (ưu tiên cộng điểm, ưu tiên độ tuổi…) đối với một số đối tượng nhất định phù hợp với pháp luật Nguyên tắc ưu tiên không vi phạm nguyên tắc khách quan, bình đẳng trong tuyển dụng, vì các quyền ưu tiên đã được Nhà nước quy định trong luật Việc thực hiện nguyên tắc ưu tiên cũng đòi hỏi các cơ quan, tổ chức tuyển dụng không được tùy tiện đặt ra những điều kiện ngoại lệ trái với quy định của pháp luật

Trang 21

Nguyên tắc này xuất phát từ sự chênh lệch về điều kiện kinh tế, dân trí giữa các vùng miền Nếu không thực hiện ưu tiên trong tuyển dụng thì sẽ rất khó khăn trong xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ở các cơ sở giáo dục ở các vùng sâu, vùng xa, cho cộng đồng các dân tộc ít người Nguyên tắc

ưu tiên cũng xuất phát từ đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, để đền đáp công ơn và sự hi sinh của những người có công với đất nước Việc quy định ưu tiên trong tuyển dụng nói chung và tuyển dụng giảng viên nói riêng là điều cần thiết thể hiện chính sách xã hội, tính nhân văn đối với những người

có công

- Nguyên tắc công khai: Nguyên tắc này đảm bảo những gì liên quan đến

quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn đều được thông báo đến từng ứng viên tham gia tuyển dụng

Tính công khai xuất phát từ các thiết chế dân chủ quy định trong Hiến Pháp và luật Tính công khai được đảm bảo nghĩa là yêu cầu của nguyên tắc khách quan, công bằng có được thực hiện Nguyên tắc công khai trong tuyển dụng được thể hiện qua một số nội dung sau: công khai số lượng cần tuyển theo từng vị trí; công khai hình thức tuyển dụng; công khai thời gian tuyển dụng; công khai tiêu chuẩn tuyển dụng; công khai chế độ ưu tiên; công khai kết quả thi tuyển; công khai những thay đổi trong quá trình tuyển dụng nếu có…

- Nguyên tắc khuyến khích: Nguyên tắc này bổ sung thêm ngoài những

nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc khuyến khích có thể được chủ động xây dựng bởi cơ quan tuyển dụng mà không vi phạm những nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc này có thể tuyển dụng được những người có năng lực chuyên môn cao, toàn diện Khi hai hay nhiều hơn số người có đủ điều kiện trúng tuyển thì phải tính tới nguyên tắc ưu tiên Nhưng khi nguyên tắc ưu tiên vẫn còn lại hai người trở lên để lựa chọn thì có thể áp dụng nguyên tắc khuyến khích để tìm

Trang 22

ra người có năng lực, tiêu chuẩn rộng hơn ví dụ như các yếu tố lợi thế về ngoại ngữ, nơi cư trú, nhà ở, tuổi tác…

- Nguyên tắc tuyển dụng xuất phát từ nhu cầu: Nguyên tắc này nhấn

mạnh tuyển dụng căn cứ phải nhu cầu thực tế, thiếu vị trí nào thì tuyển dụng

vị trí chuyên môn đó, trình độ đó Có như vậy việc tuyển dụng, đặc biệt là tuyển dụng giảng viên mưới đáp ứng được nhu cầu thực sự chứ không chỉ là việc bổ sung cho đủ số lượng

Nguyên tắc này được đưa ra nhằm tránh lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực, trong sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước để duy trì một

bộ máy nhân sự cồng kềnh, chất lượng thấp, không đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi trong vị trí công tác

Tuyển dụng nếu không xuất phát từ nhu cầu sẽ tạo ra những hậu quả rất khó khắc phục như: đủ biên chế nhưng vẫn thiếu người làm; nhiều người làm nhưng vẫn không hiệu quả, không những thế, tâm lý tị nạnh, nhòm ngó lẫn nhau trong công tác sẽ nảy sinh…

Để xác định được đúng nhu cầu tuyển dụng, cơ quan tuyển dụng phải đưa ra được bản mô tả vị trí việc làm cho từng công việc cụ thể, số lượng cán

bộ (giảng viên) của mình là bao nhiêu, trình độ, công việc hiện tại đã đáp ứng được theo vị trí việc làm hay chưa… Đây là nội dung quan trọng nhất là căn

cứ cho hoạt động tuyển dụng nói chung và tuyển dụng giảng viên nói riêng

1.1.2.2 Điều kiện đăng ký tuyển dụng

Trên cơ sở Luật Viên chức (Luật số 58/2010/QH12); Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Nghị định số 161/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập;

Trang 23

Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số 16/2012/TT-BNV ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; Theo Điều 22 Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, người đăng ký dự tuyển vào làm giảng viên phải đảm bảo các điều kiện cơ bản sau:

- Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam;

- Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ;

Ngoài các điều kiện trên, người dự tuyển phải thỏa mãn các tiêu chuẩn

về chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực theo yêu cầu vị trí việc làm (giảng viên) Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị

sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật và phải được cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập

phê duyệt trước khi thực hiện

1.1.2.3 Hình thức tuyển dụng

Tuyển dụng giảng viên là một hoạt động của cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo Thông qua tuyển dụng để chọn những người phù hợp với khả năng, tiêu chuẩn và điều kiện vị trí việc làm Tuyển dụng giảng viên được thực hiện bằng các hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển Người được tuyển dụng phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, không

vi phạm pháp luật Tuy nhiên, thi tuyển hoặc xét tuyển chỉ là khâu đầu tiên

Trang 24

trong quá trình tuyển dụng, người được tuyển dụng phải đánh giá phẩm chất

và kết quả công việc, nếu đạt yêu cầu thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý ra quyết định bổ nhiệm chính thức vào ngạch Yêu cầu của tuyển dụng giảng viên trong điều kiện hiện nay là phải tuân thủ pháp luật và bảo đảm các nguyên tắc bình đẳng, khách quan, công khai…

Hình thức tuyển dụng giảng viên bao gồm thi tuyển và xét tuyển Tuy nhiên, có thể thấy hạt nhân của việc tuyển dụng là thi tuyển Thi tuyển là một khâu quan trọng để tuyển chọn được những người thực sự đáp ứng nhu cầu công việc của cơ quan đơn vị

1.1.2.4 Quy trình tuyển dụng

Tuyển dụng giảng viên là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy tại các cơ sở giáo dục - đào tạo Việc tuyển dụng giảng viên phải đảm bảo quy trình theo quy định của pháp luật:

- Xây dựng kế hoạch tuyển dụng: Tùy theo nhu cầu, vị trí việc làm, số

lượng biên chế, chức danh nghề nghiệp được giao và quỹ tiền lương của đơn

vị mà hằng năm đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch tuyển dụng Kế hoạch tuyển dụng phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt và quyết định trước khi thực hiện Kế hoạch tuyển dụng phải xác định cụ thể về vị trí, số lượng cần tuyển, trình độ chuyên môn, hình thức tuyển dụng, thời gian tuyển dụng

- Thông báo tuyển dụng: Trên cơ sở kế hoạch tuyển dụng đã được phê

duyệt, đơn vị tuyển dụng phải thực hiện thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, website của đơn vị (nếu có), niêm yết tại trụ sở làm việc… Nội dung thông báo gồm: tiêu chuẩn, điều kiện dự tuyển; số lượng cần tuyển; nội dung hồ sơ, địa điểm, thời gian nộp hồ sơ; hình thức thi tuyển, lệ phí ứng tuyển… Khi hết thời hạn hồ sơ, đơn vị tuyển dụng phải niêm yết công khai số lượng hồ sơ đủ điều kiện dự tuyển cho các ứng viên được biết

Trang 25

- Thành lập Hội đồng tuyển dụng: Sau khi kết thúc việc nhận hồ sơ

tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị tuyển dụng quyết định thành lập Hội đồng tuyển dụng để thực hiện việc thi tuyển hoặc xét tuyển Hội đồng tuyển dụng được thành lập theo đúng quy định và phân công nhiệm vụ cho các bộ phận giúp việc, cụ thể như: bộ phận đề thi; coi thi; phách; chấm thi; phúc khảo (áp dụng cho hình thức thi tuyển); ban kiểm tra, sát hạch; phúc khảo (xét tuyển)

- Tổ chức tuyển dụng: Việc tuyển dụng tùy theo vị trí việc làm hoặc điều

kiện cụ thể khác của từng cơ quan, đơn vị mà áp dụng hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển

+ Thi tuyển: Người dự thi nói chung và thi giảng viên phải thực hiện các

bài thi sau: thi kiến thức chung và thi chuyên môn, nghiệp vụ đúng với chuyên ngành cần tuyển và thi các môn cơ bản như tin học văn phòng và ngoại ngữ Kiến thức chung thi về: tìm hiểu về pháp luật viên chức; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và những hiểu biết cơ bản về ngành hoặc lịch sử đơn vị tuyển dụng Thi chuyên môn, nghiệp vụ được thực hiện qua các bài thi viết và thi thực hành Đối với giảng viên thì yêu cầu tất yếu phải thi viết về chuyên ngành dự tuyển và thi giảng đối với chuyên ngành đó Người dự thi phải thực hiện một bài giảng (giảng một bài hoặc 1 tiết) trước hội đồng chấm thi, đây là phần thi quan trọng nhất

vì nó thể hiện đầy đủ được kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của ứng viên Các môn tin học, ngoại ngữ là môn phụ trợ cho vị trí, yêu cầu của việc làm (trừ đối với những giảng viên chuyên ngành tin học, ngoại ngữ) Do đó, đơn vị tuyển dụng sẽ lựa chọn môn ngoại ngữ phù hợp với vị trí việc làm để tuyển dụng Tin học thì có thể thi thực hành trên máy hoặc trên giấy…

+ Xét tuyển: Đối với giảng viên hình thức xét tuyển thường được áp

dụng với đối tượng xuất sắc (những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc mới ra trường) hoặc với những giảng viên hoặc cán bộ lãnh đạo, nguyên lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan, đơn vị khác phù hợp với chuyên ngành cần tuyển Đối

Trang 26

với hình thức này thì chủ yếu thực hiện kiểm tra, sát hạch thông qua phỏng vấn và thực hành giảng dạy qua đó chấm điểm về năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển

+ Kết quả thi tuyển: là tổng số điểm các phần thi kiến thức chung và các

bài thi chuyên ngành Các môn tin học, ngoại ngữ thường được tính là điểm điều kiện và đạt từ 50 điểm trở lên Người trúng tuyển được xác định theo nguyên tắc có kết quả thi cao hơn, lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp cho đến khi hết chỉ tiêu Nếu trong trường hợp có 02 người trở lên có kết quả thi bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có tổng điểm chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển Nếu tổng điểm các bài thi chuyên ngành bằng nhau thì đơn vị tuyển dụng xét đến các yếu tố ưu tiên khác theo quy định hoặc thực hiện phỏng vấn trực tiếp

+ Kết quả xét tuyển: Dựa trên các yếu tố chấm điểm học tập trong quá

trình học (đối với sinh viên tốt nghiệp) và điểm phỏng vấn, điểm thực hành giảng dạy Trong trường hợp với những người có thâm niên, kinh nghiệm trong công tác thuộc lĩnh vực cần tuyển dụng hoặc với những người đặc biệt xuất sắc như tốt nghiệp đại học xuất sắc, có bằng thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài… đơn vị tuyển dụng có quyền tuyển dụng đặc cách

- Thông báo kết quả tuyển dụng: Sau khi có kết quả tuyển dụng, đơn vị

tuyển dụng phải thực hiện thông báo kết quả tuyển dụng Việc thông báo được thực hiện công khai trên các phương tiện thông tin như báo chí, website của đơn vị (nếu có) và niêm yết kết quả tại trụ sở của đơn vị Trong thời gian thông báo kết quả tuyển dụng, đơn vị tuyển dụng đồng thời thông báo thời hạn nhận đơn phúc khảo kết quả thi tuyển Sau khi hoàn tất việc phúc khảo, đơn vị tuyển dụng thực hiện thông báo lại kết quả tuyển dụng sau phúc khảo đồng thời gửi giấy báo trúng tuyển tới địa chỉ của người dự tuyển

- Ký hợp đồng làm việc và nhận việc: Sau khi công bố kết quả tuyển

dụng, người trúng tuyển phải đến ký kết hợp đồng làm việc với đơn vị tuyển

Trang 27

dụng theo thông báo quy định tại Khoản 3 Điều 17 Nghị định

29/2012/NĐ-CP Trường hợp không đến ký hợp đồng làm việc hoặc không đến nhận việc thì đơn vị tuyển dụng có quyền hủy bỏ kết quả hoặc chấm dứt hợp đồng đã

- Tập sự và bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp sau thời gian tập sự: Sau

khi ký hợp đồng làm việc, người trúng tuyển thực hiện chế độ tập sự (thường

là 01 năm) Trong thời gian tập sự người tập sự được hướng dẫn tập sự và được hưởng các khoản lương, phụ cấp, trợ cấp (nếu có) theo quy định của pháp luật Hết thời gian tập sự, người tập sự và người hướng dẫn phải báo cáo bằng văn bản tới người đứng đầu đơn vị có thẩm quyền Nội dung báo cáo kết quả theo các nội dung được quy định tại Khoản 4 Điều 20 Nghị định 29/2012/NĐ-CP Nếu người tập sự đạt được kết quả như yêu cầu thì đề nghị người đứng đầu đơn vị ra quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp Nếu không đạt yêu cầu thì bị chấm dứt hợp đồng làm việc

- Phân công nhiệm vụ: Người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm phân

công nhiệm vụ, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của giảng viên, đồng thời bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ Việc phân công nhiệm vụ cho giảng viên phải đảm bảo phù hợp với chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý được bổ nhiệm và yêu cầu của vị trí việc làm

1.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyển dụng giảng viên

Có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động tuyển dụng giảng viên, nhưng chủ yếu là các yếu tố sau: quy định của pháp luật về tuyển dụng; chế độ,

chính sách và môi trường làm việc

- Quy định của pháp luật về tuyển dụng: Các quy định của pháp luật về

tuyển dụng giảng viên được quy định trong Luật Viên chức Luật Viên chức

và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Viên chức được ban hành đã quy định cụ thể về nguyên tắc, đối tượng và quy trình tuyển dụng, đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động tuyển dụng và là cơ sở pháp lý quan trọng để các

Trang 28

đơn vị sự nghiệp giáo dục căn cứ thực hiện Trên cơ sở các quy định về tuyển dụng viên chức đã được pháp luật quy định, các đơn vị tuyển dụng có thể lựa chọn phương thức tuyển dụng thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển phù hợp với tình hình thực tế của mỗi đơn vị

- Về chế độ, chính sách: Chế độ, chính sách là những yếu tố ảnh hưởng

đến các đơn vị sự nghiệp và đội ngũ giảng viên Việc tuyển dụng viên chức nói chung luôn được Đảng và nhà nước quan tâm, trong đó có viên chức là giảng viên Giảng viên khi được tuyển dụng được bố trí làm việc tại các đơn

vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo theo vị trí việc làm, được trả lương và các chế

độ phụ cấp theo quy định hiện hành của nhà nước Ngoài ra tùy theo tình hình ngân sách của đơn vị đơn vị, các địa phương mà xây dựng các chính sách ưu đãi, thu hút giảng viên chất lượng cao

- Môi trường làm việc: Đây là một yếu tố quan trọng thu hút giảng viên

Đối với những đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo được đầu tư cơ sở, vật chất, trang thiết bị làm việc tốt; môi trường làm việc, mối quan hệ đồng nghiệp, cơ quan hòa thuận… sẽ thu hút nhiều nguồn lực có chất lượng cao vào làm việc và ngược lại, những đơn vị thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị lạc hậu… rất khó tuyển người làm vào việc đặc biệt là thu hút nhân lực chất lượng cao

1.2 TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH TUYỂN DỤNG GIẢNG VIÊN

1.2.1 Khái niệm tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên

Để hiểu khái niệm tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên cần hiểu khái niệm cơ bản sau:

Thực thi chính sách là quá trình tổ chức, thông báo, tuyên truyền, triển

khai áp dụng các quy định của chính sách vào thực tiễn để đạt mục tiêu Tổ chức thực thi chính sách là yếu tố cần thiết khách quan để duy trì sự tồn tại của chính sách Chính sách dù có tốt nhưng nếu không được tổ chức thực thi thì không bao giờ đạt đươc các mục tiêu chính sách, không mang lại lợi ích

Trang 29

cho xã hội Tổ chức thực thi chính sách là hoạt động có tổ chức của các đơn

vị, cơ quan quản lý nhà nước; là hoạt động biến các ý tưởng, chủ trương, mục

tiêu của chính sách thành những kết quả cụ thể trong cuộc sống mang lại lợi ích thiết thực cho tổ chức…

Theo cách hiểu trên, có thể khái quát Tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên là quá trình chuyển hóa chủ trương, mục tiêu của chính sách thu hút nguồn nhân lực làm công tác giảng dạy vào thực tiễn nhằm tuyển dụng và phát huy được những con người có năng lực, trình độ vào làm việc trong các cơ sở giáo dục - đào tạo, góp phần thực hiện các mục tiêu mà cơ quan, đơn vị giáo dục - đào tạo đặt ra trong quá trình xây dựng, phát triển

1.2.2 Quá trình tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên

Hiện thực hóa chính sách là một giai đoạn vô cùng quan trọng trong việc đưa chính sách vào cuộc sống Để tổ chức, điều hành hiệu quả việc thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên về làm việc cho các cơ sở giáo dục - đào tạo, cần phải qua các bước cơ bản sau:

1.2.2.1 Xây dựng kế hoạch và ban hành văn bản

Đối với các cơ sở giáo dục - đào tạo, trực thuộc Trung ương việc tuyển dụng giảng viên được thực hiện trên cơ sở Luật Viên chức, các nghị định của chính phủ và các thông tư, hướng dẫn của Bộ Nội vụ và quy định, hướng dẫn của các bộ, ngành trực thuộc Đối với các cơ sở giáo dục - đào tạo ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trên cơ sở nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố ban hành quy định cụ thể và tổ chức thực hiện chính sách Theo

đó, các cơ quan Trung ương, các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ phân công cụ thể nhiệm vụ cho các cơ quan tham mưu, giúp việc dưới quyền để thực thi chính sách Các cơ quan này sẽ xây dựng kế

hoạch triển khai thực thi chính sách Bao gồm các yêu cầu sau:

- Kế hoạch tổ chức, điều hành;

Trang 30

- Kế hoạch phân công, phối hợp trong đó xác định trách nhiệm từng vị trí công việc trong quá trình thực thi chính sách kèm theo là các nguồn lực hỗ trợ như tài chính, vật tư, thiết bị…;

- Kế hoạch kiểm tra, đánh giá, tổng kết thực thi chính sách dựa trên kế hoạch tập hợp thông tin phản hồi; từ đó, có kế hoạch kiến nghị điều chỉnh chính sách

Kế hoạch tổ chức thực thi chính sách cần đảm bảo một số yêu cầu như kịp thời, đúng thẩm quyền, khả thi

Để hạn chế những bất cập, trong khi xây dựng kế hoạch thực thi chính sách cần có những đánh giá khái quát về thuận lợi và khó khăn khi triển khai chính sách Đồng thời, cần xác định mức độ, phạm vi, tác động xã hội khi thực hiện chính sách Bên cạnh đó, cũng cần tiên liệu những khó khăn, bất cập và các phương án giải quyết dự phòng

Các nguồn lực cần có để thực hiện một chính sách bao gồm:

- Nguồn lực con người: là số lượng người cần thiết đảm bảo việc tổ

chức thực thi chính sách; các yếu tố về thể chất, trình độ văn hóa, khoa học,

kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ… của người thực hiện chính sách

- Nguồn lực tài chính: là tài chính, kinh phí đảm bảo trong việc thực thi

chính sách Nguồn lực tài chính đóng vai trò quan trọng, nếu thiếu sẽ dẫn tới việc thực thi chính sách không không đầy đủ hoặc không hiệu quả

- Nguồn lực vật chất: Bao gồm các phương tiện, thiết bị hỗ trợ khác

như máy tính, Internet, phương tiện thông tin truyền thông,… là những thứ không thể thiếu đảm bảo cho việc thực thi chính sách đạt kết quả cao nhất Mỗi loại chính sách khi thực thi có thể cần nguồn lực vật chất cụ thể đặc thù

Cùng với việc xây dựng các kế hoạch thực thi chính sách là việc ban hành các văn bản về các vấn đề điều hành, quản lý (ví dụ như thành lập một đơn vị, phân công trách nhiệm, ) Các văn bản quản lý điều hành này phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản của văn bản quản lý nhà nước là hợp pháp, hợp

Trang 31

lý, giúp thực hiện tốt các mục tiêu quản lý nhà nước, các mục tiêu chính sách

1.2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Hoạt động phổ biến, tuyên truyền chính sách do các cơ quan hành chính nhà nước được giao nhiệm vụ thực hiện nhằm giúp đưa thông tin chính sách đến người dân và những đối tượng mà chính sách hướng tới, giúp họ nắm bắt được những nội dung cụ thể của chính sách, từ đó có thái độ và hành động phù hợp với yêu cầu của chính sách

Tùy theo từng đối tượng mà chính sách hướng đến, việc tuyên truyền, vận động chính sách cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và có những

kế hoạch tuyên truyền riêng biệt để đạt kết quả Nội dung tuyên truyền, phổ biến chính sách phải phù hợp với từng nhóm đối tượng và địa bàn, phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện, có trọng tâm, trọng điểm…

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện phổ biến, tuyên truyền chính sách Việc làm này cần được tăng cường đầu tư cho đội ngũ cán bộ, công chức về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị; về trang thiết bị kỹ thuật… nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động

1.2.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Để tổ chức thực hiện chính sách có kết quả cao cần có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan, các cấp chính quyền

Để phát huy tính chủ động, sáng tạo của các chủ thể và sự phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể thực thi chính sách với nhau, việc tổ chức thực thi chính sách cần phân công, phối hợp rõ ràng, chi tiết, đối với từng cấp, từng cơ quan Cụ thể như phải chỉ rõ cấp nào, cơ quan nào, chịu trách nhiệm chủ trì,

cơ quan nào, cấp nào có trách nhiệm phối hợp…

Nếu việc phân công mang tính chất chung chung, không rõ ràng, cụ thể

sẽ dẫn đến việc triển khai thực hiện bị chồng chéo, không đúng chức năng, nhiệm vụ sẽ ảnh hưởng đến việc tổ chức thực thi chính sách

Trang 32

Trong tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thì Giám đốc Học viện sẽ ra quyết định thành lập Hội đồng tuyển dụng Hội đồng tuyển dụng sẽ thành lập các ban và tổ giúp việc cụ thể như: Ban đề thi, phỏng vấn; ban kiểm tra, sát hạch; ban phúc khảo;

tổ phát hành, thu nhận hồ sơ; tổ xử lý dữ liệu… Đồng thời có sự phân công cụ thể nhiệm vụ và sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng và các viện chuyên ngành trong Học viện

Mặc dù chính sách tác động tới những đối tượng nhất định, nhưng kết quả tác động lại liên quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cần chỉ rõ các cơ chế phối hợp bên trong hệ thống công vụ và với bên ngoài để đảm bảo mục tiêu chính sách được thực hiện một cách toàn diện nhất, phát huy tốt nhất sự ủng hộ và nguồn lực từ xã hội

1.2.2.4 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm

Trong quá trình tổ chức, thực thi chính sách cần có đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm để có thể điều chỉnh kịp thời hoặc sửa đổi chính sách cho phù hợp với thực tiễn Trong đó có thể đánh giá sơ kết từng phần trong quá trình thực thi chính sách hay tổng kết toàn bộ kết quả thực thi chính sách sau khi kết thúc

Việc tổng kết, đánh giá được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về những chỉ đạo, điều hành của cơ quan thực thi chính sách tuyển dụng và sự chấp hành của đối tượng thực thi chính sách, cũng như những kết quả đạt được, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách Trong đó, đối tượng được xem xét, đánh giá về công tác chỉ đạo, điều hành trong thực thi chính sách là các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương Bên cạnh

đó, còn xem xét đến cả sự phối hợp của các tổ chức khác trong việc tham gia thực thi chính sách trên cơ sở các kế hoạch được giao

Việc xem xét, đánh giá việc thực thi chính sách của các đối tượng tham gia bao gồm đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách,

Trang 33

nghĩa là tất cả các thành viên xã hội cũng là một khâu hết sức quan trọng trong đánh giá thực thi chính sách Cơ sở đánh giá là tinh thần hưởng ứng, chấp hành của đối tượng chính sách với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan hành chính nhà nước

có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về thời gian và không gian cụ thể

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên

1.2.3.1 Các yếu tố khách quan

Bối cảnh tổ chức thực thi chính sách

Trước hết, là sự ổn định của hệ thống chính trị và tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho việc tổ chức thực thi chính sách

Bên cạnh đó, thái độ, quan điểm, phản ứng, dư luận của công chúng, của người được thụ hưởng trực tiếp từ chính sách là những người đang ở bên ngoài hệ thống công vụ cũng như cán bộ, công chức và người thụ hưởng gián tiếp từ chính sách là công dân và cộng đồng, doanh nghiệp

Những thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh kể cả không có nhiều chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút nguồn nhân lực trình độ cao nhưng đó vẫn là nơi được đa số giới trí thức chọn làm việc vì những thuận lợi về điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí cho vợ (chồng), con cái Tại những khu vực khác thì các thành phố trung tâm cũng được lựa chọn nhiều hơn Trên thế giới, những quốc gia có trình độ khoa học tiên tiến, có mức sống cao, có nền văn hóa đa dạng như Mỹ, Canada, Úc, Singapore,… thường dễ dàng thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao

Có thể nói, môi trường sống có ý nghĩa quan trọng trong công tác thu hút nguồn nhân lực

Trang 34

Đối với một số nhà khoa học, môi trường hoạt động khoa học lại là yếu

tố quyết định nhất Những chuyên gia khoa học luôn mong muốn được làm việc với những đồng nghiệp, đội ngũ trợ giúp phù hợp, có trang thiết bị hiện đại cũng như môi trường trao đổi kết quả, kinh nghiệm nghiên cứu Nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nhật, Anh, Pháp… đang là những quốc gia thành công trong việc xây dựng hình ảnh là các trung tâm nghiên cứu và giảng dạy uy tín trên thế giới, thu hút được nhiều các nhà khoa học uy tín đến làm việc và học tập

1.2.3.2 Các yếu tố chủ quan

Một là, các yếu tố liên quan đến chính sách

Như phần đầu Luận văn đã phân tích, mỗi mục tiêu chính sách đều cần được triển khai thông qua các công cụ, giải pháp chính sách Chính vì vậy, sự không phù hợp giữa mục tiêu với công cụ chính sách sẽ làm quá trình tổ chức triển khai trở nên khó khăn, khó đạt được mục tiêu đặt ra

Để thu hút nhân lực làm giảng viên cho các cơ sở giáo dục - đào tạo đại học, bên cạnh việc có thể tận dụng được niềm tự hào của người được thu thút khi được tham gia vào quá trình công vụ, thì cần những công cụ, nguồn lực rất cụ thể để ghi nhận (như phân công công việc xứng đáng), và phát huy (các công cụ vật chất, tài chính, cơ hội học tập, tham gia các chương trình, dự án lớn)

- Ưu đãi về vật chất và điều kiện làm việc:

Lương là yếu tố đầu tiên thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất của người lao động Có thể nói, đối với phần lớn người lao động, lương là một trong những yếu tố cơ bản chi phối quyết định lựa chọn công việc Ở khu vực

tư, lương đã trở thành công cụ chủ yếu để các doanh nghiệp cạnh tranh trong tuyển dụng nhân sự Cũng có một số ít doanh nghiệp lớn có thương hiệu không nhất thiết phải trả mức lương cao nhất mới có được người giỏi nhưng mức lương mà họ chi trả cũng thường là hấp dẫn hơn so với mặt bằng chung của thị trường lao động

Trong khu vực nhà nước, mức lương thường khó có thể cạnh tranh với

Trang 35

khu vực tư, tuy nhiên, nhà nước vẫn cần có những chính sách hỗ trợ tài chính hoặc tạo điều kiện nâng cao thu nhập bằng năng lực, trí tuệ cho người lao động thì mới có thể kết hợp thêm các yếu tố khác để cạnh tranh thu hút nguồn nhân lực Vì thế, hầu hết các cơ sở giáo dục - đào tạo ở Việt Nam khi xây dựng chính sách này đều tính đến việc trợ cấp thêm một khoản tiền hàng tháng để cải thiện thu nhập cho cán bộ, giảng viên

Bên cạnh lương, các chế độ thưởng và phúc lợi cũng góp phần đáp ứng nhu cầu vật chất của người lao động Một số phúc lợi có ý nghĩa chi phối nhiều đến quyết định lựa chọn công việc và nơi làm việc của người lao động

là nhà ở (nhất là ở những thành phố lớn), chế độ chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng, du lịch, thưởng hằng năm và thưởng theo thành tích cũng có tác động khuyến khích

Điều kiện làm việc bao gồm các yếu tố vật chất khác như phòng làm việc, máy tính và các phương tiện làm việc… Đối với nguồn nhân lực trình độ cao thì yêu cầu về điều kiện làm việc càng cấp thiết Các giảng viên, nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật cần các phòng thí nghiệm, thư viện hiện đại; các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn, kinh tế cần nguồn thông tin, tài liệu đầy đủ, kịp thời; bác sĩ cần máy móc, thiết bị tiên tiến, Nếu điều kiện làm việc không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng thì rất khó có thể thu hút được nguồn nhân lực trình độ cao về công tác

Bên cạnh đó, các điều kiện về thời gian, không gian làm việc cũng có ý nghĩa tác động nhất định, nhất là đối với những công việc mang tính nghiên cứu, sáng tạo thì cách quản lý thời gian làm việc cần linh hoạt hơn

- Tính chất công việc:

Đối với nguồn nhân lực giảng viên trong các cơ sở giáo dục - đào tạo, tính chất công việc có ý nghĩa rất quan trọng Càng được đào tạo chuyên sâu, người lao động càng muốn khai thác tối đa những tri thức mà mình lĩnh hội Vì thế,

Trang 36

việc bố trí công việc đúng chuyên môn và khai thác được sở trường của họ phải

là ưu tiên hàng đầu Bên cạnh đó, sự thú vị, thách thức trong công việc cũng có ý nghĩa quan trọng đối với trí thức Đây chính là sự thỏa mãn nhu cầu cao nhất của con người - nhu cầu được làm những việc mình yêu thích, khát vọng Đôi khi những giá trị vật chất không còn ý nghĩa quan trọng nếu người trí thức thỏa mãn được những kỳ vọng lớn lao của mình như được cống hiến và thấy mình hữu ích

- Môi trường làm việc:

Môi trường làm việc thể hiện trong các mối quan hệ đồng nghiệp - đồng nghiệp và quan hệ cấp trên - cấp dưới cũng là vấn đề mà người lao động quan tâm Thái độ thân thiện, giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp sẽ khiến cho người lao động cảm thấy gắn bó hơn với nơi làm việc; trong khi sự suy bì, ganh đua dễ khiến những người giỏi thấy nản lòng Những người có trình độ cao cũng có nhu cầu được làm việc với những người giỏi, nhất là cấp trên trực tiếp của họ phải có năng lực chuyên môn và khả năng quản lý tốt Sự ngưỡng

mộ hay kính nể đối với lãnh đạo cũng là một trong những yếu tố thu hút và giữ chân nhân viên

- Cơ hội đào tạo, thăng tiến:

Mỗi người đều có nhu cầu phát triển bản thân vì thế các cơ hội đào tạo, huấn luyện hữu ích luôn được người lao động đánh giá cao Trong những nhu cầu ở bậc cao của con người, có nhu cầu được tôn trọng, ghi nhận, kính nể Trong nhiều trường hợp, người lao động vẫn chấp nhận mức lương thấp nếu môi trường làm việc phù hợp và có cơ hội đào tạo, thăng tiến

- Những giá trị tinh thần khác:

Lòng yêu quê hương, đất nước, mong muốn được cống hiến, được thể hiện bản thân và những giá trị tinh thần khác cũng có ý nghĩa tác động đến đội ngũ trí thức trong một số trường hợp [53]

Hai là, năng lực của đội ngũ thực thi và tổ chức thực thi chính sách

Trang 37

Năng lực của các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách là yếu tố quan trọng, có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách

Năng lực ở đây bao gồm việc thực hành đạo đức công vụ, năng lực tổ chức thu thập thông tin và xây dựng các dự thảo văn bản; năng lực đưa ra các đề xuất chính sách và giải pháp chính sách dựa trên phân tích, tổng hợp, dự báo,…

Bên cạnh đó, quá trình thực hiện các nghiệp vụ như phỏng vấn tuyển dụng, xét hồ sơ tuyển dụng… có thể bao gồm các giao tiếp trực tiếp với các ứng viên Vì vậy, các nguyên tắc giao tiếp công vụ cũng cần được thực hiện tốt để góp phần

“thu hút” ứng viên tìm đến cơ quan

Điều đó cũng có nghĩa là các nhà lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống cơ quan giáo dục - đào tạo, cần là một tấm gương để ứng viên có thêm động lực tìm đến Họ cần có cái tâm trong sáng, cần biết kết hợp lời nói và việc làm, và cần tạo dựng được môi trường để các ứng viên muốn đến, muốn ở lại, muốn cống hiến, và

có thể cống hiến

1.2.4 Đánh giá kết quả tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên

Chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của chính sách thu hút vào làm giảng viên tại các cơ sở giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước được thể hiện qua một hệ thống các tiêu chí, trong đó có các tiêu chí chủ yếu sau:

Một là, trình độ của người thu hút được:

- Trình độ đào tạo: Vì làm việc trong môi trường giáo dục đào tạo, việc ứng

viên đạt đến một trình độ giáo dục nhất định được tính là một tiêu chí quan trọng, một yêu cầu để thu hút Các tiêu chuẩn bằng cấp không chỉ giúp đánh giá trình độ đào tạo của ứng viên mà còn tiết kiệm kinh phí đào tạo về lâu dài Đối với nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ tối thiểu phải từ tối nghiệp đại học Tuy nhiên giảng viên là lĩnh vực nghề nghiệp đặc biệt, đòi hỏi người có trình độ cao phải là

Trang 38

thạc sĩ trở lên, có kỹ năng sư phạm

- Kỹ năng tin học, ngoại ngữ: Để tiếp cận công việc nhanh và hiệu quả, đồng

thời nhanh chóng cập nhật thông tin, kiến thức, kĩ năng mới trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, yêu cầu về năng lực ngoại ngữ và tin học là rất quan trọng Đây có thể coi là một tiêu chí “cứng” bắt buộc phải có đối với nguồn nhân lực chất lượng cao, kể cả với nguồn nhân lực là giảng viên

- Kinh nghiệm công tác: Đối với giảng viên, có kinh nghiệm công tác là một

lợi thế quan trọng Để đánh giá tốt nguồn nhân lực, những kinh nghiệm, kiến thức,

kỹ năng, kỹ sảo nhuần huyễn sẽ đảm bảo hiệu quả công việc tốt hơn

- Tư chất, năng lực tư duy: Khả năng tư duy và giải quyết vấn đề rất quan

trọng trong việc xác định một giảng viên tốt

- Phẩm chất đạo đức: Các phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong, lối sống cũng rất quan trọng trong quá trình xem xét tuyển dụng

Hai là, kết quả làm việc và những thành tích nổi bật:

Kết quả làm việc và những thành tích nổi bật của giảng viên là yếu tố đảm bảo hiệu quả của chính sách thu hút giảng viên Kết quả được thể hiện dưới những sản phẩm, công trình cụ thể hoặc qua các hình thức khen thưởng, vinh danh Ngoài các tiêu chí cơ bản trên, trong từng trường hợp cụ thể, đơn vị tuyển dụng giảng viên có thể đánh giá trên cơ sở các tiêu chí bổ sung khác như kỹ năng thuyết trình, khả năng làm việc nhóm…

Tiểu kết chương 1

Trong chương này nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tuyển dụng và thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên Luận văn đưa ra các khái niệm cơ bản liên quan đến tuyển dụng giảng viên như khái niệm giảng viên, giảng viên lý luận chính trị, tuyển dụng, thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên Luận văn tập trung trình bày một số vấn đề liên quan đến tuyển dụng giảng viên như mục đích, quy trình tiến hành công tác tuyển dụng, các yếu tố tác động đến công tác tuyển dụng…

Trang 39

Tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên là quá trình đưa chủ trương, mục tiêu của chính sách tuyển dụng giảng viên vào thực tiễn nhằm đạt mục đích là tuyển dụng được những người có năng lực, đạo đức, tâm huyết vào làm giảng viên tại các cơ sở giáo dục - đào tạo nói chung và tại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói riêng Quá trình tổ chức thực thi chính sách tuyển dụng giảng viên phải được thực hiện tuân thủ tuần tự theo các khâu, các hoạt động cụ thể; những yếu tố tác động tới quá trình tổ chức thực thi chính sách bao gồm yếu tố chủ quan và khách quan

Những vấn đề lý luận ở chương một là cơ sở cho việc giải quyết các nội dung ở chương sau

Trang 40

Chương 2

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu

2.1.1.1 Khái quát về Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển:

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Quá trình xây dựng và trưởng thành của Học viện luôn luôn gắn liền với quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng Từ khi thành lập cho đến nay, Học viện đã đào tạo cho Đảng và Nhà nước hàng nghìn cán bộ lý luận chính trị, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng trong từng chặng đường lịch sử Học viện được thành lập tháng 9-1949 tại chiến khu Việt Bắc ngay trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra gay go, quyết liệt Trong những ngày đầu thành lập, Học viện có nhiệm vụ mở các lớp bồi dưỡng về lý luận, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cho cán bộ trung, cao cấp của Đảng Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Trường chuyển về Hà Nội Bước vào giai đoạn mới, để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ cán bộ của dân tộc vững mạnh về chính trị, tư tưởng Do đó, công việc huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ của Trường là nhiệm vụ chính trị quan trọng để đáp ứng nhu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới Với nhiệm vụ ngày càng lớn, đội ngũ cán bộ của Trường ngày càng tăng thêm, hệ thống tổ chức của Trường cũng ngày càng hoàn thiện, các đơn vị trực thuộc được thành lập

Ngày đăng: 20/04/2021, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thị Hải Anh (2016),“Quản lý tạo động lực làm việc cho giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý tạo động lực làm việc cho giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”
Tác giả: Ngô Thị Hải Anh
Năm: 2016
3. Ngô Thành Can (2011), “Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực công”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực công”, "Tạp chí Tổ chức nhà nước
Tác giả: Ngô Thành Can
Năm: 2011
4. Ngô Thành Can (2014), Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công
Tác giả: Ngô Thành Can
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2014
6. Hoàng Chương (Chủ biên) (2003), Tài năng trong thời kỳ tri thức toàn cầu hoá, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài năng trong thời kỳ tri thức toàn cầu hoá
Tác giả: Hoàng Chương (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 2003
7. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
Năm: 2003
8. Lê Thị Hồng Điệp (2005), “Những yêu cầu đối với nguồn nhân lực trong thời đại kinh tế tri thức”, Tạp chí Cộng sản, (77) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu đối với nguồn nhân lực trong thời đại kinh tế tri thức”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Lê Thị Hồng Điệp
Năm: 2005
9. Lê Thị Hồng Điệp (2008), “Các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Lê Thị Hồng Điệp
Năm: 2008
10. Lê Thị Hồng Điệp (2009), “Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia Châu Á và những gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, (25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia Châu Á và những gợi ý cho Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học
Tác giả: Lê Thị Hồng Điệp
Năm: 2009
11. Lê Thị Hồng Điệp (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Hồng Điệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2012
12. Hoàng Ngọc Hòa (2000), Công tác giáo dục đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học ở các trường đảng Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giáo dục đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học ở các trường đảng Trung Quốc
Tác giả: Hoàng Ngọc Hòa
Năm: 2000
13. Nguyễn Văn Hoà (2007), Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ giảng viên trong các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ giảng viên trong các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Hoà
Năm: 2007
14. Cao Quốc Hoàng, Nguyễn Đỗ Kiên (2017), Chính sách công lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công lý luận và thực tiễn
Tác giả: Cao Quốc Hoàng, Nguyễn Đỗ Kiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2017
15. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận, Kỷ yếu hội thảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị khu vực I (2010), Vấn đề đổi mới công tác giảng dạy và học tập lý luận chính trị hiện nay Thông tin chuyên đề, (3), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đổi mới công tác giảng dạy và học tập lý luận chính trị hiện nay
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị khu vực I
Năm: 2010
18. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2010), Báo cáo tổng kết năm học 2010-2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2010-2011
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2010
19. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2011), Báo cáo tổng kết năm học 2011-2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2011-2012
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2011
21. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2013), Báo cáo tổng kết năm học 2013-2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2013-2014
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2013
22. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2014), Báo cáo tổng kết năm học 2014-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2014-2015
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2014
23. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2015), Báo cáo tổng kết năm học 2015-2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2015-2016
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2015
24. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2016), Báo cáo tổng kết năm học 2016-2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2016-2017
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w