1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của cảm nhận rủi ro về dịch bệnh do virus corona (covid 19) đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ thành phố hồ chí minh

183 69 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của cảm nhận rủi ro về dịch bệnh do virus corona (covid 19) đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ thành phố hồ chí minh
Tác giả Phạm Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quang Thu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 3,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu kết hợp Thuyết Hành Vi Có Hoạch Định TPB với Mô hình Niềm Tin Sức Khỏe HBM để kiểm định tác động của cảm nhận rủi ro, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi đến

Trang 1

PHẠM THỊ THU HIỀN

TÁC ĐỘNG CỦA CẢM NHẬN RỦI RO VỀ DỊCH BỆNH DO VIRUS CORONA (COVID-19) ĐẾN Ý ĐỊNH HÀNH VI DU LỊCH HẠN CHẾ TIẾP XÚC CỦA KHÁCH DU LỊCH NỘI

ĐỊA ĐẾN TỪ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2021

Trang 3

PHẠM THỊ THU HIỀN

TÁC ĐỘNG CỦA CẢM NHẬN RỦI RO VỀ DỊCH BỆNH DO VIRUS CORONA (COVID-19) ĐẾN Ý ĐỊNH HÀNH VI DU LỊCH HẠN CHẾ TIẾP XÚC CỦA KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA ĐẾN TỪ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Hướng đào tạo: hướng nghiên cứu

Mã số: 8340101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Nguyễn Quang Thu

TP Hồ Chí Minh - Năm 2021

Trang 5

Tôi xin cam đoan rằng luận văn nghiên cứu “Tác động của cảm nhận rủi ro về dịch bệnh do Virus Corona (COVID-19) đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ Thành Phố Hồ Chí Minh” do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô PGS.TS Nguyễn Quang Thu

Tôi xin chân thành biết ơn sâu sắc cô PGS.TS Nguyễn Quang Thu, cô đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tôi thực hiện luận văn một cách tốt nhất, gửi lời cám ơn các thầy

cô khoa Quản Trị Kinh Doanh, Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM đã truyền kiến thức

bổ ích cho tôi; xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn nghiên cứu này

TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 12 năm 2020

Người thực hiện

Phạm Thị Thu Hiền

Trang 7

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC SƠ ĐỒ

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu 4

1.2.1.Câu hỏi nghiên cứu 4

1.2.2.Mục tiêu nghiên cứu 5

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

1.3.1.Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2.Phạm vi nghiên cứu 6

1.4 Phương pháp nghiên cứu 6

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 6

1.6 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8

2.1 Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu 8

2.1.1.Lý thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) 8

2.1.2.Mô hình niềm tin sức khỏe (The Health Belief Model – HBM) 9

2.2 Một số khái niệm trong mô hình nghiên cứu 10

2.2.1.Dịch bệnh COVID-19 10

2.2.2.Du lịch hạn chế tiếp xúc 10

2.2.3.Ý định hành vi 12

Trang 8

2.2.7.Cảm nhận rủi ro 13

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước 14

2.4 Phát triển các giả thiết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu 24

2.4.1 Mối quan hệ giữa Cảm nhận rủi ro với Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi 24

2.4.2 Mối quan hệ giữa Cảm nhận rủi ro với Ý định hành vi 25

2.4.3 Mối quan hệ giữa Thái độ với Ý định hành vi 26

2.4.4 Mối quan hệ giữa Chuẩn chủ quan với Ý định hành vi 26

2.4.5 Mối quan hệ giữa Nhận thức kiểm soát hành vi với Ý định hành vi 27

2.4.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất 27

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Quy trình nghiên cứu 31

3.2 Phương pháp nghiên cứu 32

3.3 Thiết kế nghiên cứu 33

3.3.1 Thiết kế nghiên cứu sơ bộ định tính 33

3.3.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng sơ bộ 34

3.3.3 Thiết kế nghiên cứu định lượng chính thức 35

3.4 Xây dựng, phát triển và điều chỉnh thang đo 37

3.4.1 Thang đo Cảm nhận rủi ro (Cr) 38

3.4.2 Thang đo Thái độ (Td) 39

3.4.3 Thang đo Chuẩn chủ quan (Cq) 41

3.4.4 Thang đo Nhận thức kiểm soát hành vi (Nk) 42

3.4.5 Thang đo Ý định hành vi (Yh) 43

3.5 Nghiên cứu sơ bộ định lượng 43

3.5.1 Phương pháp đánh giá thang đo sơ bộ 44

3.5.2 Thu thập dữ liệu định lượng sơ bộ 44

Trang 9

4.1 Mô tả mẫu thu thập sử dụng cho nghiên cứu 48

4.2 Phân tích độ tin cậy và nhân tố khám phá trong nghiên cứu chính thức 50

4.2.1 Kết quả hệ số tin cậy Cronbach’s alpha của thang đo trong nghiên cứu chính thức 50

4.2.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA trong nghiên cứu chính thức 51

4.3 Kết quả kiểm định thang đo bằng CFA 55

4.3.1 Kết quả phân tích CFA cảm nhận rủi ro 55

4.3.2 Kết quả CFA tổng thể các thang đo (mô hình tới hạn) 56

4.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 59

4.4.1 Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu 59

4.4.2 Kết quả kiểm định các giả thuyết 60

4.4.3 Kiểm định ước lượng mô hình bằng Bootstrap 64

4.5 Kiểm định mô hình đa nhóm 66

4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu 67

4.6.1 Thảo luận kết quả đo lường 67

4.6.2 Thảo luận kết quả kiểm định các giả thiết 68

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 72

CHƯƠNG 5: HÀM Ý QUẢN TRỊ 73

5.1 Kết luận chung 73

5.2 Hàm ý quản trị 74

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC SỐ 01

PHỤ LỤC SỐ 2a

PHỤ LỤC SỐ 2b

PHỤ LỤC SỐ 2c

PHỤ LỤC SỐ 03

Trang 10

PHỤ LỤC SỐ 07 PHỤ LỤC SỐ 08

Trang 11

CFA Confirmatory Factor Analysis - Phân tích nhân tố khẳng định COVID-19 Coronavirus-19 disease

EFA Exploratory Factor Analysis - Phân tích nhân tố khám phá HBM The Health Belief Model - Mô hình niềm tin sức khỏe

SEM Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính

TPB Theory of Planned Behavior - Thuyết hành vi có hoạch định WHO World Health Organization

Trang 13

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan 19

Bảng 2.2: Các biến số trong mô hình nghiên cứu 23

Bảng 3.1: Thang đo Cảm nhận rủi ro 39

Bảng 3.2: Thang đo Thái độ 40

Bảng 3.3: Thang đo Chuẩn chủ quan 42

Bảng 3.4: Thang đo Nhận thức kiểm soát hành vi 43

Bảng 3.5: Thang đo Ý định hành vi 43

Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả đánh giá thang đo nghiên cứu định lượng sơ bộ 45

Bảng 4.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu chính thức 49

Bảng 4.2: Kết quả cronbach's alpha trong nghiên cứu chính thức 51

Bảng 4.3: Kết quả phân tích EFA khái niệm cảm nhận rủi ro 52

Bảng 4.4: Kết quả phân tích EFA các khái niệm còn lại 53

Bảng 4.5: Kết quả phân tích EFA các khái niệm trong mô hình nghiên cứu 54

Bảng 4.6: Hệ số tương quan của các thành phần của cảm nhận rủi ro 56

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo cảm nhận rủi ro 56

Bảng 4.8: Hệ số tương quan của các khái niệm 58

Bảng 4.9: Hệ số tin cậy tổng hợp, phương sai trích của các khái niệm 58

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình nghiên cứu 60

Bảng 4.11: Kết quả ước lượng bằng bootstrap với N=500 65

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định đa nhóm theo giới tính 66

Bảng 4.13: Kết quả kiểm định đa nhóm theo tình trạng hôn nhân 67

Trang 15

Hình 2.2: Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) 9

Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất 28

Hình 4.1: Kết quả CFA (chuẩn hóa) của cảm nhận rủi ro 55

Hình 4.2: Kết quả CFA (chuẩn hóa) mô hình 57

Hình 4.3: Kết quả SEM của mô hình nghiên cứu (chuẩn hóa) 59

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu của luận văn 31

Trang 17

Du lịch hạn chế tiếp xúc như một hành vi bảo vệ sức khỏe khi du lịch do con người cảm nhận những rủi ro do dịch COVID-19 Nghiên cứu kết hợp Thuyết Hành Vi

Có Hoạch Định (TPB) với Mô hình Niềm Tin Sức Khỏe (HBM) để kiểm định tác động của cảm nhận rủi ro, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định du lịch hạn chế tiếp xúc trong bối cảnh dịch COVID-19 Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp Bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến thu về 386 mẫu hợp lệ sử dụng để phân tích dữ liệu Kết quả nghiên cứu chứng minh tác động của cảm nhận rủi

ro lên thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và ý định du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ TPHCM Cảm nhận rủi ro nhận thức, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi tác động dương đến ý định du lịch hạn chế tiếp xúc, với chuẩn chủ quan tác động mạnh nhất Thái độ và cảm nhận rủi ro tình cảm không có tác động đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc Nghiên cứu giúp chính quyền địa phương, tổ chức trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ hiểu tác động của cảm nhận rủi ro về dịch COVID-19 đến ý định du lịch hạn chế tiếp xúc của du khách nội địa, có định hướng phát triển thị trường, sản phẩm du lịch mới giúp duy trì, phát triển du lịch trong thời kì dịch bệnh và hậu dịch

Từ khóa: COVID-19, Cảm nhận rủi ro, HBM, TPB, du lịch

Trang 18

Untact tourism as an act of health protection while travellers perceive the risks of COVID-19 pandemic This study based on the Theory of Planned Behaviour (TPB) and the Health Belief Model (HBM) in examing the effect of risk perception, attitudes, subjective norms, and perceived behavioral control on behavioural intention towards untact tourism in COVID-19 pandemic This study uses mixed methods.The online survey questionnaire collected 386 valid samples used to analyze the data The results indicate that the effect of risk perception on attitudes, subjective norms, perceived behavioral control and behavioural intention towards untact tourism of domestic tourists from the Ho Chi Minh city Cognitive risk perception, subjective norms and perceived behavioral control impact on behavioural intention towards untact tourism, with subjective norms have the strongest effect Attitude and affective risk perception don’t impact on behavioural intention towards untact tourism The study will help local authorities, organizations in the tourism and services understand the effect of COVID-19 risk perception on behavioural intention towards untact tourism of domestic tourists Through it, organizations and individuals are oriented to develop markets, new tourism products to help maintain and develop tourism in the period affected by Disease and post-pandemic times

Keyword: COVID-19, risk perception, HBM, TPB, tourism

Trang 19

1.1 Đặt vấn đề

Du lịch được xem là một trong những động lực để phát triển đất nước, là lĩnh vực quan trọng nhất trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập Phát triển Du lịch thành công có thể giúp thu hút đầu tư nước ngoài, tăng trưởng các ngành kinh tế, tạo cơ hội việc làm, tăng thu cho ngân sách và ổn định xã hội Hoạt động du lịch trở thành một phần quan trọng trong mối quan tâm của con người Tại các nước phát triển, du lịch được xem là một yếu tố của tiêu dùng, trở thành biểu tượng của địa vị (Alejziak, 2013) Đối với những nước đang phát triển thì du lịch được xem như lựa chọn tốt nhất phát triển nền kinh tế - văn hóa - xã hội phồn thịnh cho quốc gia đó

Năm 2019, tình hình du lịch trong khu vực ASEAN và Việt Nam có những chuyển biến tích cực Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam chiếm gần 10% GDP quốc gia vào năm 2018 (Word Bank, 2019) Việt Nam đã thu hút trên 18 triệu lượt khách quốc tế, 85 triệu lượt khách nội địa, tổng thu đạt hơn 720.000 tỷ đồng, vượt lên đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, được vinh danh là điểm đến di sản hàng đầu thế giới năm 2019, điểm đến hàng đầu Châu Á 2019 (Tổng cục Du lịch Việt Nam, 2020) Việt Nam được đánh giá là một trong 10 quốc gia có mức tăng trưởng du lịch nhanh nhất thế giới (Tổng cục Du lịch Việt Nam, 2020) Mức tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 16.2% đã vượt lên so với các nước trong khu vực như Thái Lan (3.9%), Singapore (1.9%), Malaysia (3.7%), nhưng số lượt khách quốc tế đến tham quan vẫn đứng sau ba nước này (Tổng cục Du lịch Việt Nam, 2020)

Cuối 2019 và nửa đầu năm 2020, tình hình dịch bệnh COVID-19 lan rộng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế - chính trị của hầu hết tất cả các nước trên thế giới, trong đó ngành dịch vụ du lịch bị ảnh hưởng trầm trọng Ngành du lịch được xem

là ngành rất dễ bị tác động mạnh bởi dịch bệnh (Chen và cộng sự, 2007) Du lịch bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong đại dịch do các biện pháp hạn chế đi lại nhằm kiểm soát

sự lây lan của dịch bệnh, Việt Nam cũng tạm thời ngưng mở cửa đón khách quốc tế Khách quốc tế đến nước ta 11 tháng đầu năm 2020 đạt 3.821 nghìn lượt người, giảm 76,6% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó hơn 97% là khách quốc tế đến trong quý I/2020 (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2020) COVID-19 đã lan ra toàn cầu là một loại

Trang 20

2020) Tác động của COVID-19 là rất lớn, có 98,3% các doanh nghiệp tham gia khảo sát cho rằng COVID-19 đang tác động đến hoạt động kinh doanh của mình và dự kiến

họ sẽ điều chỉnh kế hoạch kinh doanh và định hướng lại thị trường khách hàng (Phạm Trương Hoàng và cộng sự, 2020) Hiện nay, Ngành du lịch nước ta vẫn có thể hoạt động chủ yếu là hướng đến đẩy mạnh kích cầu đối tượng là khách du lịch nội địa nhưng phải đảm bảo các yêu cầu chống dịch 5K Mặc dù dịch bệnh COVID-19 có thể kiểm soát tại Việt Nam và một số nước trên thế giới nhưng nguy cơ dịch bệnh tái bùng phát là rất cao như làn sóng dịch bệnh lần thứ hai nổ ra tại Đà Nẵng (thuộc 10 điểm đến du lịch hàng đầu Việt Nam) rồi nhanh chóng lây lan nhanh ra một số tỉnh thành, chỉ trong 1 tuần số ca nhiễm mới tăng 30%, tốc độ tăng nhanh nhất từ khi nước ta phát dịch, xuất hiện ca tử vong đầu tiên trong nước và tăng lên đến 35 người, đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của khách du lịch trên toàn quốc, bởi không dễ để nhận định được ai nhiễm bệnh và người bình thường do thời gian ủ bệnh mất ít nhất 14 ngày theo khuyến cáo của Bộ Y Tế Dịch bệnh tác động đến tâm lý du khách, khiến cho họ nhận thức được rủi ro về an toàn sức khỏe của mình và áp lực xã hội từ chính sách của chính phủ gây hạn chế đến và đi khi du lịch (Cooper, 2005).Như vậy khi dịch bệnh chưa được kiểm soát cơ bản trên phạm vi toàn cầu, khách du lịch sẽ vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng do họ e ngại về khả năng tái bùng dịch và bị yêu cầu kiểm dịch chặt chẽ từ chính phủ khi đi du lịch theo cách thức truyền thống là tương tác trực tiếp

Du lịch là nhu cầu cơ bản của con người Dịch bệnh sẽ tác động lên tâm lý dẫn tới tạo ra xu hướng mới trong việc lập kế hoạch, lựa chọn và tổ chức những chuyến du lịch của du khách với tiêu chí sức khỏe và an toàn là trên hết (Outbox Consulting, 2020) Khi đối mặt giữa nhu cầu đi du lịch và nhu cầu được an toàn từ những rủi ro hiện hữu, con người có xu hướng tham gia vào các hành vi du lịch nâng cao sức khỏe

để vừa thõa mãn nhu cầu đi du lịch vừa giảm thiểu rủi ro cho mình (Brewer và cộng

sự, 2004) Theo Rosenstock (1974), khi các cá nhân cảm nhận được những rủi ro đến sức khỏe, họ sẽ tăng cường tham gia các hành vi bảo vệ sức khỏe để đối phó rủi ro Trong đại dịch Covid-19, người dân Việt Nam có phản ứng tâm lý tiêu cực, một số bị mắc chứng trầm cảm từ nhẹ đến nặng (Le và cộng sự, 2020) Do đó, lối sống lành

Trang 21

trong mùa dịch Covid-19 (Nguyen và cộng sự, 2020) Khách du lịch nội địa Việt Nam cũng có tham gia vào các hoạt động du lịch hạn chế tiếp xúc để giải tỏa tâm lý sau thời gian cách ly dài do dịch bệnh, đặc biệt là tại các vùng có rủi ro bùng dịch cao như TP

Hồ Chí Minh bằng các hoạt động như kỳ nghỉ cá nhân, kì nghỉ gia đình, du lịch canh nông, thiên nhiên, tham quan những điểm chưa có dịch, du lịch nghỉ dưỡng tại chỗ ở những homestay, khách sạn, nhà hàng miễn sao đảm bảo trãi nghiệm du lịch an toàn theo khuyến cáo của bộ y tế và chính phủ Theo Nguyen và cộng sự (2020), có 30.0%

và 42.3% người được hỏi cho rằng họ vừa sợ hãi và lo lắng về sức khỏe của chính họ

và người thân của họ, số người tham gia các hoạt động thể chất trong thời gian có dịch chiếm đến 92.9%, trong đó hoạt động ngoài trời chiếm 59.8% Theo kết quả khảo sát của VnExpress cùng TAB có đến 41.2% người có ý định đi du lịch trong thời gian từ tháng 9 đến tháng 11/2020, xu hướng muốn đi cùng nhóm nhỏ chiếm tỉ trọng cao như cùng gia đình chiếm 48.6%, cùng bạn bè chiếm 30.8%, đi một mình chiếm 5.9%; đa số đều muốn đi du lịch trong nước, chỉ 0.5% người muốn đi du lịch nước ngoài; du lịch nghĩ dưỡng, khám phá thiên nhiên, điểm đến du lịch an toàn được quan tâm cao (Tạ

Lư và Phong Vinh, 2020)

Nghiên cứu về ý định hành vi trong lĩnh vực du lịch đã được nhiều tác giả quan tâm từ trước đến nay, trong đó, các nghiên cứu đề cập đến vai trò của cảm nhận rủi ro

về dịch bệnh do vi rút Corona (COVID-19) trong ý định đi du lịch được một số nhà nghiên cứu quan tâm gần đây như ý định du lịch nông thôn (Zhu và Deng, 2020), ý định du lịch hạn chế tiếp xúc (Bae và Chang, 2020) Các nghiên cứu này được thực hiện tại các quốc gia phát triển như Trung Quốc và Hàn Quốc Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về tác động của COVID-19 đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch (Phạm Trương Hoàng và cộng sự, 2020) và một số nghiên cứu tác động của COVID-19 trong các lĩnh vực khác, nhưng còn thiếu vắng nghiên cứu về cảm nhận rủi ro về dịch bệnh đến ý định hành vi du lịch nhằm phát triển một hình thức du lịch mới có thể giúp ngành du lịch duy trì hoạt động khi bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh Trong các nghiên cứu về du lịch, sự kết hợp mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) với thuyết hành vi có hoạch định (TPB) để xem xét tác động cảm nhận rủi ro

Trang 22

nghiên cứu nước ngoài áp dụng trong lĩnh vực du lịch (Bae và Chang, 2020; Huang và cộng sự, 2020; Chaulagain và cộng sự, 2020) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu chưa có

sự tương đồng kết quả nghiên cứu về yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi (Seow và cộng sự, 2017; Bae và Chang, 2020) đã đặt ra yêu cầu cần phải xem xét kiểm định thêm Do đó, việc mở rộng thuyết hành vi có hoạch định bằng cách kết hợp với mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) để giải thích cho sự tác động của cảm nhận rủi ro về dịch Covid-19 đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc để kiểm định tại thị trường Việt Nam là cần thiết

Nghiên cứu này bổ sung vào tổng quan tài liệu với việc phân tích tác động của cảm nhận rủi ro về dịch bệnh đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của du khách nội địa, trường hợp nghiên cứu khách du lịch đến từ Thành Phố Hồ Chí Minh, đây là nơi có mật độ dân số đông,đa dạng về nhân khẩu học và là nơi có khả năng lây lan dịch trong cộng đồng cao Luận văn dựa trên thuyết hành vi có hoạch định (TPB) kết hợp với mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) bao gồm các yếu tố thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, cảm nhận rủi ro và ý định hành vi du lịch Du lịch hạn chế tiếp xúc nhằm giảm thiểu việc tiếp xúc trực tiếp khi du lịch trong bối cảnh dịch bệnh, như là một hành vi bảo vệ sức khỏe xuất phát từ cảm nhận rủi ro về dịch bệnh của cá nhân Trong đó, du lịch nội địa đang là ưu tiên hàng đầu để tập trung phát triển của ngành du lịch nước ta do diễn biến phức tạp dịch Covid-19 ở trên thế giới Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng giúp ngành du lịch và các ngành kinh tế hỗ trợ khác có định hướng phát triển phù hợp nhằm xây dựng chương trình phát triển kinh

doanh điểm đến một cách bền vững trong đại dịch Do đó, tác giả chọn đề tài “Tác

động của Cảm nhận rủi ro về dịch bệnh do Virus Corona (COVID-19) đến Ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ Thành Phố

Hồ Chí Minh” để nghiên cứu

1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

 Có hay không ý định tham gia du lịch hạn chế tiếp xúc trong tương lai của khách du lịch nội địa đến từ TP HCM?

Trang 23

vi có tác động đến ý định tham gia du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ Thành phố Hồ Chí Minh không? Nếu có thì mức độ tác động của chúng như thế nào?

 Các yếu tố kiểm soát như giới tính, tình trạng hôn nhân có ảnh hưởng đến ý định tham gia du lịch hạn chế tiếp xúc không?

 Các gợi ý quản trị nào có thể kiến nghị cho chính quyền địa phương, các tổ chức quản lý du lịch, các đơn vị và cá nhân hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch nhằm hoạch định hướng phát triển du lịch để vừa có thể ứng phó với bối cảnh dịch bệnh vừa có thể sử dụng trong bối cảnh bình thường trong tương lai?

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu

 Xác định và đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố cảm nhận rủi ro, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ Thành Phố Hồ Chí Minh

 Kiểm định sự khác biệt của một số biến kiểm soát gồm giới tính và tình trạng hôn nhân đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ Thành Phố Hồ Chí Minh

 Đề xuất hàm ý quản trị cho chính quyền địa phương, các tổ chức quản lý du lịch, các đơn vị và cá nhân hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch nhằm đề xuất hướng phát triển loại hình du lịch mới để vừa có thể ứng phó với bối cảnh dịch bệnh

vừa có thể sử dụng trong bối cảnh bình thường trong tương lai

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là sự tác động cảm nhận rủi ro về dịch bệnh do Virus Corona (COVID-19) đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của khách du lịch nội địa đến từ TP Hồ Chí Minh

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

 Phạm vi khảo sát

Nghiên cứu tập trung vào khảo sát những người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên, là khách du lịch nội địa đang sinh sống, học tập, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có số ca và khả năng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng cao ở Việt Nam

Trang 24

Nghiên cứu này được thực hiện năm 2020 Thời gian dịch COVID-19 bùng phát

và tạm thời được kiểm soát ở Việt Nam, nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo chỉ thị của Chính phủ gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành dịch vụ du lịch trên toàn nước

 Phạm vi về không gian

Luận văn được thực hiện ở thành phố Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh được chọn bởi vì đây là thành phố lớn của Việt Nam đa dạng về nhân khẩu học, nằm trong những địa phương được ghi nhận số ca lây nhiễm COVID-19 cao, người dân phải sống trong

sự lo lắng do dịch bệnh trong suốt thời gian từ khi phát dịch đến nay

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp định tính: cụ thể là kế thừa thang đo từ các nghiên cứu trước, chỉnh sửa thang đo bằng thảo luận nhóm nhờ những người tham gia bổ sung, chỉnh sửa câu chữ cho dễ hiểu và phù hợp nhằm đảm bảo người trả lời hiểu rõ đầy đủ các phát biểu trong bảng khảo sát

Phương pháp định lượng: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn chính thống, có

uy tín Tiến hành khảo sát trực tuyến khách du lịch nội địa đến từ TP Hồ Chí Minh bằng bảng câu hỏi thu được từ kết quả nghiên cứu định tính Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Dữ liệu sau khi được thu thập sẽ được dùng các kĩ thuật phân tích sâu như đánh giá độ tin cậy Cronbach’s alpha, phân tích EFA để loại bỏ những biến quan sát không đạt nhằm đảm bảo thang đo đạt độ tin cậy và độ giá trị cần thiết; Phân tích CFA khẳng định lại thang đo và cuối cùng là kiểm định mô hình và giả thiết nghiên cứu bằng phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này sẽ giúp cho chính quyền địa phương, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực du lịch hiểu và nhận diện được về ý định đi du lịch hạn chế tiếp xúc của du khách nội địa, phân tích được sự tác động của cảm nhận rủi ro về dịch bệnh COVID-

19, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc của du khách nội địa; kiểm định được vai trò kiểm soát của giới tính

Trang 25

nghĩa về ý định hành vi du lịch của du khách khi bị ảnh hưởng bởi đại dịch Thông qua

đó, các tổ chức và cá nhân có định hướng phát triển thị trường, phát triển sản phẩm du lịch mới, nhằm lôi cuốn khách du lịch nội địa, giúp duy trì và phát triển du lịch một cách bền vững trong thời kì dịch bệnh Ngoài ra, nghiên cứu này có thể được sử dụng bởi các chính quyền địa phương, công ty du lịch lữ hành, các cơ sở kinh doanh dịch vụ

- du lịch của các tỉnh thành trên cả nước để phát triển loại hình du lịch mới trong thời

kì dịch và hậu dịch Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đóng góp vào dự báo được ý định hành vi của du khách TP Hồ Chí Minh cho ngành du lịch thành phố này, cũng như du lịch Việt Nam nói chung, còn giúp ích dự báo nhu cầu cho những ngành khác như ngành dịch vụ ăn uống, khách sạn, giao thông Kết quả nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa thực tiễn về hành vi của khách du lịch cho các trận đại dịch khác trong tương lai, để ngành du lịch có thể có những hiểu biết sâu sắc để hoạch định lại chiến lược kinh doanh đáp ứng lại sự tác động mạnh mẽ từ môi trường

1.6 Cấu trúc luận văn

Kết cấu luận văn bao gồm các chương cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Trình bày lí do chọn đề tài, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp về thực tiễn, cuối cùng là cấu trúc luận văn

Chương 2: Cơ sở lí thuyết và mô hình nghiên cứu

Luận văn lược khảo một số lý thuyết nền có liên quan, tổng quan các nghiên cứu trước từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết về ý định hành vi du lịch

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Luận văn trình bày các bước trong quy trình nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu được sử dụng để hình thành bảng câu hỏi, khảo sát, thu thập dữ liệu, đánh giá thang đo

và kiểm định các giả thiết nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Hàm ý quản trị

Trình bày hàm ý quản trị, tóm tắt thảo luận kết quả đạt được, đồng thời đưa ra một

số hạn chế của luận văn và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 26

2.1 Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu

2.1.1 Lý thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB)

Thuyết hành vi có hoạch định (TPB) được Ajzen (1991) phát triển thêm yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi từ Thuyết hành động hợp lý (TRA) được đề xuất bởi Fishbein và Ajzen (1975) Theo Thuyết hành vi có hoạch định (TPB) thì Ý định hành

vi của khách hàng sẽ bị tác động bởi Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi Học thuyết này đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu hàn lâm để dự đoán Ý định sử dụng và hành vi cụ thể của người tiêu dùng Trong lĩnh vực du lịch, ý định hành vi du lịch của du khách được xem xét như dự định thực hiện hành vi du lịch

Dự định thực hiện hành vi sẽ có trước khi hành vi xảy ra

TPB đã được nhiều tác giả nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau như y học, tâm lý học, tiếp thị, du lịch Trong mỗi nghiên cứu các tác giả đã cố gắng bổ sung thêm biến mới để mở rộng cho mô hình gốc TPB nhằm tăng khả năng giải thích cho ý định hành vi Bae và Chang (2020) đã dựa trên lý thuyết nền TPB kết hợp với Cảm nhận rủi ro để đề xuất mô hình nghiên cứu ý định hành vi du lịch Mặc dù Cảm nhận rủi ro đã được một số tác giả gần đây quan tâm nghiên cứu như Quintal và cộng sự (2010), Shim và You (2015), Zhang và cộng sự (2018), Zhu và Deng (2020), Kim và cộng sự (2020) nhưng Bae và Chang (2020) có điểm mới trong việc dựa vào mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) để xem xét cảm nhận rủi ro về dịch COVID-19 của các cá nhân tác động đến ý định du lịch hạn chế tiếp xúc như là thực hiện hành vi bảo vệ sức khỏe

Trang 27

Mô hình HBM này được đề xuất bởi các nhà tâm lý học xã hội của Dịch vụ Y Tế Công Cộng Mỹ vào năm 1950 (Rosenstock, 1974) Lý thuyết này được chấp nhận và

sử dụng trong nhiều nghiên cứu để giải thích cho các hành vi sức khỏe như là một khung khái niệm, chủ yếu là trong lĩnh vực y tế, tiêm chủng, thể thao, sử dụng sản phẩm dinh dưỡng (Dillard và cộng sự, 2012; Donadiki và cộng sự, 2014; Hosseini và cộng sự, 2017, Gabriel và cộng sự, 2019) Hành vi sức khỏe là những hành vi tác động đến sức khỏe hoặc những hành vi mà một cá nhân tin rằng nó có tác động đến sức khỏe con người Trong đó, cảm nhận rủi ro về sức khỏe là yếu tố quan trọng trong mô hình dẫn đến hành vi tăng cường sức khỏe, khi đó để tránh những rủi ro về sức khỏe các cá nhân dẫn đến hành vi nâng cao sức khỏe để giảm thiểu những rủi ro sức khỏe của họ (Champion và Skinner, 2008)

Hình 2.2 Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM)

Nguồn: Rosenstock (1974)

Trong lĩnh vực du lịch, mô hình niềm tin sức khỏe cũng được một số ít nhà nghiên cứu nước ngoài tích hợp trong mô hình nghiên cứu của mình (Bae và Chang, 2020; Huang và cộng sự, 2020) Hai nghiên cứu đã tích hợp mô hình niềm tin sức khỏe

Cảm nhận rủi ro của bệnh “X”

Khả năng thực hiện hành vi nâng cao sức

khỏe

Động lực hành động:

 Giáo dục;

 Các biểu hiện của bệnh;

 Chứng kiến từ bạn bè, người thân;

 Từ các phương tiện thông tin đại chúng

Nhận thức những lợi ích so với Nhận thức những rào cản

Trang 28

Hàn Quốc, Trung Quốc

2.2 Một số khái niệm trong mô hình nghiên cứu

2.2.1 Dịch bệnh COVID-19

Dịch Coronavirus (COVID-19) là một bệnh truyền nhiễm do một loại vi rút Corona mới phát hiện gây ra bắt nguồn từ Trung Quốc, lây lan diện rộng ở người từ tháng 02/2020 Hầu hết những người bị nhiễm vi rút Corona (COVID-19) sẽ bị bệnh đường hô hấp, đặc biệt nguy hiểm đối với người có sức đề kháng kém như người lớn tuổi, người có các vấn đề bệnh lý nền như bệnh tim mạch, tiểu đường, bệnh hô hấp mãn tính và ung thư có nhiều khả năng phát triển bệnh nghiêm trọng Vi rút này lây lan chủ yếu qua các giọt bắn vì vậy để bảo vệ bản thân và những người khác khỏi bị lây nhiễm COVID-19, WHO khuyến cáo hạn chế sự lây lan của nó bằng các biện pháp như rửa tay thường xuyên, hạn chế tụ tập nơi đông người, đeo khẩu trang y tế (WHO, 2020)

2.2.2 Du lịch hạn chế tiếp xúc

Trong thời kì dịch COVID-19 lây lan diện rộng trên toàn thế giới, các nước đều khuyến nghị và đưa ra các biện pháp để giảm thiểu sự lây lan của dịch bệnh bằng cách giảm thiểu sự tiếp xúc trực tiếp giữa người với người Các hoạt động hạn chế tiếp xúc trực tiếp xuất hiện và phát triển nhanh như tuyển dụng trực tuyến, giảng dạy trực tuyến, mua hàng trực tuyến, dịch vụ tự phục vụ…Trong lĩnh vực du lịch, các hoạt động du lịch thường được tổ chức theo cách truyền thống là tiếp xúc trực tiếp được xem là tinh túy, nhấn mạnh khoảng khắc sự thật (Sur, 2008) nhằm đem lại những trải nghiệm đáng nhớ để dẫn tới sự hài lòng và lòng trung thành của du khách (Bitner, 1990) Tuy nhiên, khi dịch COVID-19 bùng nổ mạnh mẽ trên toàn thế giới, ngành du lịch bị ảnh hưởng trầm trọng, mọi hoạt động du lịch truyền thống bị đóng băng Để vừa đáp ứng nhu cầu được đi trải nghiệm, giải tỏa tâm lý của du khách, vừa đảm bảo

an toàn hạn chế bị nhiễm dịch bệnh do vi rút Corona gây ra, du lịch hạn chế tiếp xúc

đã được các nhà nghiên cứu ở Hàn Quốc đề cập tới ví dụ như các hoạt động du lịch ngoài trời, thiên nhiên ở những nơi hẻo lánh, du lịch nông thôn, du lịch tại chỗ, du lịch

Trang 29

(Bae và Chang, 2020)

Du lịch hạn chế tiếp xúc được định nghĩa là hành vi đi du lịch mà giảm thiểu đến mức tối đa việc tiếp xúc trực tiếp (Bae và Chang, 2020) Cụm từ này khá mới mẻ được Bae và Chang (2020) sử dụng trong nghiên cứu về hành vi du lịch trong bối cảnh dịch Covid-19 tại Hàn Quốc Đây là chiến lược cung cấp dịch vụ khách hàng mới được phát triển trong thời đại kỷ thuật số, khi mà con người trong cuộc sống hiện đại ngày càng hướng đến chủ nghĩa cá nhân cao, muốn hạn chế tiếp xúc không cần thiết với người khác đã tạo nên nhu cầu mới nhờ vào đổi mới công nghệ (Lee và Lee, 2019) Dịch vụ này thực tế đã xuất hiện từ lâu khi công nghệ ngày càng tiên tiến cho phép con người có thể thực hiện các dịch vụ mà không cần gặp mặt hoặc tiếp xúc từ xa nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng thay đổi của khách hàng đã được một số nghiên cứu tìm hiểu (Oh và cộng sự, 2013; Lee và Lee, 2019) Du lịch hạn chế tiếp xúc là cách du lịch để vừa đáp ứng nhu cầu được đi trải nghiệm, giải tỏa tâm lý bị cô lập, stress của con người; vừa nâng cao an toàn, tránh bị nhiễm dịch bệnh do vi rút Corona gây ra Trong đại dịch COVID-19, người dân hướng đến lối sống thận trọng hơn, hướng đến sự an toàn như hạn chế tiếp xúc trực tiếp là một trong những khuyến cáo của chính phủ để tự bảo vệ bản thân tránh rủi ro bị lây nhiễm dịch bệnh lây lan trong cộng đồng Luận văn sẽ xem xét du lịch hạn chế tiếp xúc bao gồm việc xem xét

đi du lịch an toàn và cả ứng dụng công nghệ thông tin để đi du lịch an toàn, nhằm trãi nghiệm chuyến du lịch hướng đến tiêu chí an toàn dựa trên sự xa rời xã hội Du lịch hạn chế tiếp xúc ví dụ như các hoạt động du lịch ngoài trời, khám phá thiên nhiên ở những nơi chưa có dịch, du lịch canh nông, du lịch nghỉ dưỡng tại chỗ (nghỉ dưỡng núi, biển), du lịch cá nhân hóa dành riêng cho từng cá nhân hoặc dành riêng cho gia đình, nhóm bạn bè, dịch vụ cao cấp cá nhân (phòng tự chọn khách sạn, phòng ăn riêng cho gia đình,…) hoặc các hoạt động sẽ được thực hiện online hoặc qua các ứng dụng trực tuyến trên thiết bị di động để hạn chế sự tiếp xúc giữa người và người đến mức tối

đa ví dụ như lưu trữ thông tin cá nhân trực tuyến, đặt mua, đặt lịch và thanh toán trực tuyến, sử dụng các ứng dụng trực tuyến để xem xét điểm đến an toàn, tuân thủ các yêu cầu biện pháp phòng chống dịch của chính phủ,

Trang 30

Ý định được xem là một yếu tố trung gian nhưng đóng vai trò quan trọng giữa việc ra quyết định và hành động thực tế Một ý định hành vi là một ý định lập kế hoạch nhằm thực hiện một việc nhất định Theo Fishbein và Ajzen (1975) đã cho rằng ý định

là xác suất mà khách du lịch sẽ thực hiện một hành động du lịch cụ thể Ý định hành vi xuất phát gốc từ thuyết dự định hành vi (TPB) được sử dụng trong nhiều nghiên cứu

về du lịch (Zhang và cộng sự, 2019; Hu và cộng sự, 2019; Chaulagain và cộng sự, 2020; Bae và Chang, 2020; Zhu và Deng, 2020; Kim và cộng sự, 2020) Với nghiên cứu này, thuyết dự định hành vi (TPB) được sử dụng làm lý thuyết nền, ý định hành vi

du lịch hạn chế tiếp xúc được định nghĩa là xác suất mà khách du lịch sẽ tham gia du

lịch hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp

2.2.4 Thái độ

Thái độ là một khái niệm nằm trong thuyết dự định hành vi (TPB) Theo Ajzen (1991) định nghĩa thái độ là đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của một người về một hành động cụ thể Thái độ thường đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán ý định hành vi Theo Al-Talabani và cộng sự (2019), thái độ là phản ứng cá nhân ủng hộ hoặc chống lại một ý định hay hành vi nào đó Theo Chaulagain và cộng sự (2020), thì thái

độ là niềm tin và cảm xúc cá nhân đối với một hành vi cụ thể Với nghiên cứu này, Thái độ hướng tới hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc là đánh giá ủng hộ hoặc không ủng

hộ của khách du lịch tham gia vào hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc trực tiếp

2.2.5 Chuẩn chủ quan

Chuẩn chủ quan là chuẩn để các cá nhân tham khảo quan điểm xã hội khuyến khích hoặc không khuyến khích cá nhân đó thực hiện một hành động cụ thể (Bae và Chang, 2020) Theo Ajzen (1991), Áp lực xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi, chuẩn chủ quan là nhận thức về mức quan trọng của những người có sức ảnh hưởng đến quyết định thực hiện một hành vi, những người đó có thể là gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp Khi gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các cá nhân xung quanh một người có thái độ ủng hộ một hành động nào đó thì cá nhân đó sẽ có khả năng thực hiện hành động đó tăng lên để đáp ứng sự kỳ vọng từ các mối quan hệ xã hội của họ Chuẩn chủ quan được coi là nhận thức của một cá nhân về cách những người khác quan trọng

Trang 31

Dựa trên thuyết hành vi có hoạch định (TPB), nghiên cứu này định nghĩa Chuẩn chủ quan hướng đến hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc là nhận thức của một cá nhân về những áp lực xã hội ủng hộ hoặc không ủng hộ cá nhân đó tham gia vào hành vi du lịch hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp

2.2.6 Nhận thức kiểm soát hành vi

Nhận thức kiểm soát hành vi là nhận thức của một cá nhân về khả năng của họ để thực hiện một hành động nào đó, như kỹ năng, thời gian, tiền bạc Nó đề cập đến niềm tin của họ về khả năng kiểm soát nguồn lực cần thiết để thực hiện thành công một hành động (Bae và Chang, 2020) Thuyết dự định hành vi có hoạch định (TPB) cho rằng nhận thức kiểm soát hành vi là một yếu tố quan trọng để dự đoán ý định hướng tới thực hiện một hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến nhận thức của cá nhân về những khó khăn khi thực hiện một hành vi nhất định (Ajzen, 1991) Với nghiên cứu này, Nhận thức kiểm soát hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc được xem xét là nhận thức của khách du lịch về khả năng kiểm soát các nguồn lực cần thiết để có ý định tham gia vào hành vi du lịch hạn chế tiếp xúc

2.2.7 Cảm nhận rủi ro

Cảm nhận rủi ro là niềm tin chủ quan hoặc đánh giá liên quan đến các tình huống phát sinh rủi ro nào đó (Bauer, 1960, trích trong Bae và Chang, 2020) Theo Zhu và Deng (2020), cảm nhận rủi ro trong du lịch là đánh giá chủ quan của khách du lịch dẫn đến kết quả tiêu cực cho hành vi đi du lịch, do tồn tại một cách khách quan thông tin

an toàn du lịch mà du khách có được kết hợp với nhận thức chủ quan của họ Theo Chien và cộng sự (2017) thì cảm nhận rủi ro du lịch là đánh giá khả năng tiêu cực một

sự kiện liên quan đến sức khỏe và an toàn du lịch sẽ xảy ra trong một khoảng thời gian xác định, cảm nhận rủi ro về sức khỏe có thể thay đổi tùy theo từng cá nhân và tình huống khác nhau Các cá nhân khác nhau cũng có cảm nhận rủi ro khác nhau cùng một hình thức du lịch (Zhu và Deng, 2020) Phát triển một mô hình kết hợp các yếu tố cảm nhận rủi ro nhận thức, cảm nhận rủi ro tình cảm và động lực làm yếu tố dự báo về hành vi của cá nhân thì còn hạn chế trong các nghiên cứu về du lịch (Chien và cộng

sự, 2017) Nghiên cứu của Bae và Chang (2020) chia cảm nhận rủi ro thành cảm nhận

Trang 32

chia cảm nhận rủi ro thành rủi ro tâm lý, trang thiết bị, chi phí, thể chất, xã hội, hiệu suất; với Lê Chí Công (2017) chia cảm nhận rủi ro thành tâm lý và thể chất; với nghiên cứu về thang đo cảm nhận rủi ro về dịch Covid-19 của Yıldırım và Guler (2020) chia thành cảm nhận rủi ro nhận thức và cảm nhận rủi ro tình cảm Cảm nhận rủi ro được xem xét trên hai khía cạnh: khía cạnh nhận thức và khía cạnh tình cảm (Brug và cộng

sự, 2004), trong đó Cảm nhận rủi ro ở khía cạnh nhận thức được định nghĩa là nhận thức được tính nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng của rủi ro của một cá nhân (Sjöberg, 1998), còn Cảm nhận rủi ro ở khía cạnh tình cảm được định nghĩa là sự lo lắng phải đối mặt với rủi ro đó của một cá nhân (Sjöberg, 1998) Theo Chien và cộng sự (2017), cảm nhận rủi ro tình cảm là một phản ứng tâm lý đối với một mối đe dọa, tự nhiên lúc

đó con người sẽ có cảm giác lo lắng và quan tâm Với nghiên cứu này, cảm nhận rủi ro

sẽ được xem xét ở khía cạnh tình cảm và khía cạnh nhận thức theo đề xuất của Bae và Chang (2020), Yıldırım và Guler (2020)

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước

Thái độ là một yếu tố phổ biến được sử dụng trong một số nghiên cứu thực nghiệm về ý định hành vi du lịch trong các nghiên cứu của các tác giả trước đây (Seow

và cộng sự, 2017; Hu và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Chaulagain và cộng sự, 2020; Zhu và Deng, 2020) Kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng thái độ có tác động tích cực đến ý định (Quintal và cộng sự, 2010; Seow và cộng

sự, 2017; Lê Chí Công, 2017; Hu và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Chaulagain

và cộng sự, 2020; Zhu và Deng, 2020) Thái độ còn đóng vai trò trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa cảm nhận rủi ro và ý định hành vi trong các nghiên cứu trước đây (Quintal và cộng sự, 2010; Lê Chí Công, 2017; Zhang và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Xu và cộng sự, 2020), nhưng lại không có ý nghĩa vai trò trung gian trong nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2018) Từ các nghiên cứu trên, luận văn đã kế thừa được Thái độ là một yếu tố quan trọng để dự đoán ý định hành vi trong lĩnh vực

du lịch và tác động cùng chiều đến ý định hành vi Cảm nhận rủi ro có ý nghĩa tác động đến ý định hành vi thông qua thái độ

Trang 33

nghiên cứu về ý định hành vi du lịch (Quintal và cộng sự, 2010; Lê Chí Công, 2017; Seow và cộng sự, 2017; Hu và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Chaulagain và cộng sự, 2020) Kết quả các nghiên cứu cho thấy chuẩn chủ quan của khách du lịch có tác động tích cực đến ý định hành vi Chuẩn chủ quan như là động lực chính của ý định hành vi, tùy vào các chuẩn mực chung của xã hội, các cá nhân sẽ dựa vào đó để nhận thức được một hành vi là có được ủng hộ hay không để dẫn đến ý định thực hiện hành vi đó (Bae và Chang, 2020) Bên cạnh đó, Chuẩn chủ quan còn là trung gian quan trọng giữa Cảm nhận rủi ro và ý định hành vi (Zhang và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Xu và cộng sự, 2020) Nghiên cứu này kế thừa Chuẩn chủ quan có tác động tích cực đến ý định hành vi, chuẩn chủ quan cũng đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa cảm nhận rủi ro và ý định

Phân tích về yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi là quan trọng đối với ý định để

dự đoán về khả năng kiểm soát các nguồn lực dẫn đến ý định thực hiện hành vi nào đó của các cá nhân Yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về ý định hành vi trong lĩnh vực du lịch (Quintal và cộng sự, 2010; Seow

và cộng sự, 2017; Lê Chí Công, 2017; Hu và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Chaulagain và cộng sự, 2020) Đa phần kết quả các nghiên cứu chỉ ra rằng nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực lên ý định hành vi của khách du lịch (Quintal

và cộng sự, 2010; Lê Chí Công, 2017; Hu và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Chaulagain và cộng sự, 2020) Tuy nhiên, vai trò của nhận thức kiểm soát hành vi được tìm thấy lại không có ý nghĩa giải thích, không phải là tiền đề đáng kể dẫn đến ý định hành vi (Seow và cộng sự, 2017; Xu và cộng sự, 2020) Thêm vào đó, nhận thức kiểm soát hành vi còn đóng vai trò trung gian giữa Cảm nhận rủi ro và ý định hành vi (Zhang và cộng sự, 2019; Xu và cộng sự, 2020) đối lập với kết quả nghiên cứu của Bae và Chang (2020) Qua lược khảo, tác giả nhận thấy có số ít nghiên cứu xem xét tác động của cảm nhận rủi ro đến nhận thức kiểm soát hành vi trong nghiên cứu như

về ý định hành vi tự bảo vệ do khói mù (Xu và cộng sự, 2020), về ý định tiêu thụ thực phẩm trong thời kỳ dịch H7N9 (Zhang và cộng sự, 2019), ý định bảo vệ sức khỏe và học tập (Schmiege và cộng sự, 2009), mà trong lĩnh vực du lịch thì hạn chế, có Bae và

Trang 34

tác động Qua đó, các kết quả nghiên cứu là khác nhau giữa các lĩnh vực, đặt ra yêu cầu cần phải thực hiện thêm các nghiên cứu khác, đặc biệt là xem xét trong lĩnh vực du lịch để so sánh

Một trong những yếu tố có tác động tích cực đến ý định hành vi đã được chỉ ra từ kết quả của một số nghiên cứu về lĩnh vực du lịch gần đây là Cảm nhận rủi ro (Quintal

và cộng sự, 2010; Seow và cộng sự, 2017; Bae và Chang, 2020) Dựa theo mục tiêu nghiên cứu cụ thể của từng nhóm tác giả thì họ sẽ lựa chọn các thành phần thuộc cảm nhận rủi ro khác nhau và xem xét trong mô hình ở khái niệm bậc 1 hoặc 2, như cảm nhận rủi ro được đo bằng cảm nhận rủi ro ở khía cạnh nhận thức và ở khía cạnh tình cảm (Shim và You, 2015; Bae và Chang, 2020), hoặc được lo lường thông qua 6 khái niệm con: rủi ro vật lý, rủi ro thiết bị, rủi ro chi phí, rủi ro tâm lý, rủi ro xã hội, rủi ro hiệu suất (Zhu và Deng, 2020); các thành phần của cảm nhận rủi ro sẽ được xem xét ở khái niệm bậc 1 (Shim và You, 2015; Lê Chí Công, 2017; Bae và Chang, 2020) hoặc ở khái niệm bậc 2 (Zhu và Deng, 2020; Kim và cộng sự, 2020) Về ý định du lịch, các tác động tiêu cực của thái độ ngại rủi ro đáng kể hơn so với cảm nhận rủi ro, tác động trung gian song song của cảm nhận rủi ro và thái độ không thích rủi ro trong du lịch cần được xem xét cùng nhau (Zhu và Deng, 2020).Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng cảm nhận rủi ro không có tác động đến ý định hành vi (Zhang và cộng sự, 2019) Chiều tác động của cảm nhận rủi ro đến ý định hành vi cũng còn nhiều tranh cãi giữa các nghiên cứu (Shim và You, 2015; Zhang và cộng sự, 2018; Bae và Chang, 2020; Zhu và Deng, 2020; Kim và cộng sự, 2020) Từ đó, ta nhận thấy chưa có sự tương đồng kết quả nghiên cứu giữa các nghiên cứu với nhau, đặt ra yêu cầu cần phải xem xét kiểm định thêm Trong quá trình lược khảo thì còn khá ít nghiên cứu về cảm nhận rủi ro tác động đến ý định du lịch được thực hiện ở Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu về lĩnh vực du lịch trong bối cảnh dịch Covid-19, nên cần có thêm những nghiên cứu về yếu tố này

Nghiên cứu về ý định hành vi trong lĩnh vực du lịch đã được nhiều tác giả quan tâm từ trước đến nay Thuyết hành vi có hoạch định (TPB) như một tham chiếu chính

để các nhà nghiên cứu đề xuất mô hình tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể của

Trang 35

được Ajzen (1991) đề xuất là có ý nghĩa giải thích cho ý định hành vi, đã được nhiều nhà nghiên cứu về ý định du lịch kiểm định là có tác động tích cực đến ý định hành vi (Quintal và cộng sự, 2010; Seow và cộng sự, 2017; Hu và cộng sự, 2019; Chaulagain

và cộng sự, 2020; Bae và Chang; 2020) Vai trò của nhận thức kiểm soát hành vi vẫn chưa có sự tương đồng trong kết quả nghiên cứu của các tác giả Khái niệm Cảm nhận rủi ro đã được các nhà nghiên cứu quan tâm để mở rộng thuyết dự định hành vi (TPB)

từ những năm 1990 (Huang và cộng sự, 2020) Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) đã được kết hợp với thuyết hành vi có hoạch định (TPB) để dự đoán về cảm nhận rủi ro đến ý định hành vi du lịch còn hạn chế nghiên cứu thực hiện, chủ yếu là ở nước ngoài như về du lịch hạn chế tiếp xúc (Bae và Chang, 2020); về du lịch địa điểm có độ cao (Huang và cộng sự, 2020); về du lịch chữa bệnh (Chaulagain và cộng sự, 2020)

Tại Việt Nam, dịch COVID-19 bùng phát từ tháng 02/2020 trên toàn quốc, gây ảnh hưởng không nhỏ đến lĩnh vực dịch vụ và du lịch Đã có một số nghiên cứu về tác động của COVID-19 đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch (Phạm Trương Hoàng và cộng sự, 2020) Du lịch hạn chế tiếp xúc là khái niệm mới xuất hiện được đề xuất bởi Bae và Chang (2020) nghiên cứu về ý định du lịch được thực hiện trong làn sóng đại dịch COVID-19 đầu tiên vào tháng 3/2020 ở Hàn Quốc Du lịch hạn chế tiếp xúc là hình thức du lịch mới trong thời đại kĩ thuật 4.0, mà hầu như tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào được thực hiện ở Việt Nam kết hợp Mô hình Niềm tin Sức khỏe (HBM) với Thuyết Hành vi Có Hoạch Định (TPB) để xem xét tác động cảm nhận rủi ro về dịch bệnh đến ý định hành vi du lịch Trong đại dịch, một số nghiên cứu được thực hiện ở thị trường Việt Nam về nhận thức và hành vi của sinh viên (Van Nguyen và cộng sự, 2020), Đào tạo an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc, nhận thức rủi

ro, sự tuân thủ hành vi an toàn của nhân viên và sự mất an toàn trong công việc (Chi

và cộng sự, 2020), hành vi mua sắm trực tuyến trên các website (Nguyen và Hoang, 2020), ý định và mục tiêu sử dụng công cụ hỗ trợ học tập online (Bui và cộng sự, 2020), mà còn hạn chế nghiên cứu về ý định hành vi du lịch Do đó, việc mở rộng thuyết hành vi có hoạch định bằng cách kết hợp với mô hình niềm tin sức khỏe (HBM)

Trang 36

tiếp xúc để kiểm định tại thị trường Việt Nam là cần thiết

Từ những phân tích trên, đề tài nghiên cứu này kế thừa các yếu tố chính được đề xuất trong thuyết dự định hành vi (TBP) nghiên cứu về ý định hành vi gồm thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi Bổ sung khái niệm cảm nhận rủi ro đã được các nhà nghiên cứu xem xét tác động đến ý định và hành vi trong du lịch (Huang

và cộng sự, 2020) để mở rộng khả năng giải thích cho ý định hành vi, khắc phục hạn chế của mô hình TPB trong dự đoán ý định du lịch Chủ yếu các nghiên cứu có liên quan với đề tài sử dụng phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định mô hình và các giả thiết nghiên cứu đề xuất (Quintal và cộng sự, 2010; Seow và cộng sự, 2017; Lê Chí Công, 2017; Zhang và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Zhu và Deng, 2020; Chaulagain và cộng sự, 2020; Prasetyo và cộng sự, 2020; Xu và cộng sự, 2020) Các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện bằng bảng câu hỏi được thiết kế theo thang đo likert với đối tượng khảo sát là các khách du lịch trong độ tuổi trưởng thành, có khả năng tài chính (Bae và Chang, 2020; Zhu và Deng, 2020) Đa phần dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến trong bối cảnh dịch bệnh (Zhang và cộng sự, 2019; Bae và Chang, 2020; Zhu và Deng, 2020, Chaulagain và cộng sự, 2020; Prasetyo và cộng sự, 2020), và thu thập bằng phương pháp phát triển mầm (Zhu và Deng, 2020)

Trang 37

Ước lượng Bootstrap z-scores

Hu và cộng sự

(2019)

Thống kê mô tả Phân tích CFA Hổi quy thứ bậc

Biến phụ thuộc: Ý định hành vi Biến độc lập: Thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn cá nhân, hành

vi quá khứ, các biện pháp khuyến khích

Biến kiểm soát: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn

Ý định tham gia ZLI của khách du lịch bị ảnh hưởng tích cực bởi thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, hành vi trong quá khứ và chuẩn mực cá nhân Giới tính, tuổi tác có ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi, trình độ học vấn có tác động tiêu cực đến ý định hành vi

Zhu và Deng

(2020)

Thống kê mô tả Cronbach Alpha CFA

Trang 38

Chaulagain và

cộng sự (2020)

CFA SEM Kết hợp HBM và TPB

thức kiểm soát hành vi

Biến ngoại sinh: chuẩn chủ quan, nhận thức lợi ích, nhận thức rào cản

Biến điều tiết: nhận thức mức độ nghiêm trọng

Thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi và chuẩn chủ quan ảnh hưởng tích cực đến ý định tham gia của các cá nhân trong du lịch chữa bệnh Tác động điều tiết của nhận thức mức độ nghiêm trọng đã được tìm thấy là có ý nghĩa tác động đến các mối quan hệ giữa thái độ và ý định hành vi

Seow và cộng sự

(2017)

Thống kê mô tả CFA

Shim và You

(2015)

Thống kê mô tả CFA

SEM T- test

Biến nội sinh: Ý định hành vi, cảm nhận rủi

ro nhận thức, lo lắng (cảm nhận rủi ro tình cảm)

Biến ngoại sinh: sự chú ý tin tức, sự tiếp xúc tin tức

Cảm nhận rủi ro nhận thức, lo lắng (cảm nhận rủi ro tình cảm), sự chú ý tin tức, sự tiếp xúc tin tức có tác động tích cực đến ý định tiêu thụ thực phẩm

Xu và cộng sự

(2020)

Thống kê mô tả Cronbach’s alpha CFA

SEM

Biến nội sinh: Ý định hành vi, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, thu nhập, hành vi tự bảo vệ

Biến ngoại sinh: cảm nhận rủi ro

Cảm nhận rủi ro, thái độ, chuẩn chủ quan

có tác động tích cực đến ý định hành vi trong cả 4 mô hình hành vi tự bảo vệ của người dân Bắc Kinh chống lại rủi ro sức khỏe do ô nhiễm khói mù Cảm nhận rủi ro ảnh hưởng tích cực đến thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi Thu nhập tác động dương đến cảm nhận rủi ro

Trang 39

Quintal và cộng

sự (2010)

CFA SEM

thức kiểm soát hành vi

Biến ngoại sinh: chuẩn chủ quan, cảm nhận rủi ro, nhận thức sự không chắc chắn

hành vi ảnh hưởng tích cực đến ý định, thái

độ đối với ý định đến thăm Úc chỉ có ý nghĩa tích cực đối với mẫu thu thập từ khách du lịch Nhật Bản Chuẩn mực chủ quan ảnh hưởng tích cực đến thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi trong tất cả các mẫu quốc gia Cảm nhận rủi ro ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ ở mẫu khảo sát khách du lịch Hàn Quốc và Nhật Bản

Zhang và cộng

sự (2018)

Thống kê mô tả CFA

SEM Kiểm định Bootstrap t-test

Biến nội sinh: Ý định hành vi, thái độ

Biến ngoại sinh: chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, cảm nhận rủi ro, nhận thức lợi ích

Biến điều tiết: kiến thức chủ quan

Nhận thức lợi ích, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi đều có tác động tích cực đến ý định Cảm nhận rủi ro

có tác động tiêu cực đến ý định Thái độ không đóng vai trò trung gian giữa cảm nhận rủi ro và ý định

Zhang và cộng

sự (2019)

Thống kê mô tả CFA

vi có tác động tích cực đến ý định tiêu thụ Cảm nhận rủi ro của H7N9 tác động tích cực đến chuẩn chủ quan và tác động tiêu cực đến Thái độ và Nhận thức kiểm soát hành vi Cảm nhận rủi ro của H7N9 không

có ý nghĩa giải thích cho ý định tiêu thụ gia cầm

Trang 40

Prasetyo và

cộng sự (2020)

động lực bảo vệ (PMT) và TPB

Thống kê mô tả CFA

SEM

nhận, thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, Cảm nhận mức độ nghiêm trọng, cảm nhận tính dễ bị tổn thương

Biến ngoại sinh: Sự hiểu biết về COVID-19

tiếp đáng kể đến nhận thức tính dễ bị tổn thương và nhận thức mức độ nghiêm trọng Ngoài ra, nhận thức tính dễ bị tổn thương

và nhận thức mức độ nghiêm trọng có ý nghĩa ảnh hưởng gián tiếp đến ý định làm theo Ý định làm theo có ảnh hưởng trực tiếp đáng kể đến hành vi thực tế và hành vi thích nghi, sau đó dẫn đến hiệu quả cảm nhận Sự hiểu biết về COVID-19 được phát hiện có ảnh hưởng gián tiếp đáng kể đến hiệu quả cảm nhận

Lê Chí Công

(2017)

Thống kê mô tả Cronbach’s alpha CFA

SEM

Biến nội sinh: ý định sử dụng tour 4 đảo, thái

độ đối với sử dụng tour 4 đảo

Biến ngoại sinh: rủi ro cảm nhận tâm lí, rủi

ro cảm nhận thể chất, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức

Rủi ro cảm nhận tâm lí và thể chất ảnh hưởng tiêu cực lên thái độ và ý định sử dụng dịch vụ tour bốn đảo Thái độ, kiểm soát hành vi nhận thức có tác động dương đến ý định sử dụng tour 4 đảo trong khi đó, chuẩn chủ quan lại không có ý nghĩa giải thích cho ý định

Kim và cộng sự

(2020)

Cronbach’s alpha CFA

vi không đi du lịch Hồng Kông trong cuộc biểu tình

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Ngày đăng: 20/04/2021, 10:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w