1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quản lý tạm trú người nước ngoài và thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bình dương

77 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về quản lý tạm trú người nước ngoài và thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Tác giả Hà Trọng Ân
Người hướng dẫn TS. Dương Kim Thế Nguyên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội phát triển, các văn bản pháp luật cần được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tế, nên việc nghiên cứu về việc quản lý tạm trú đối với người nước ngoài đã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những lý luận, nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, phân tích Các số liệu trong luận văn là do tôi tự thu thập Các số liệu, trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, bảo đảm độ tin cậy, khách quan và chính xác Các kết quả này chưa được công bố trong bất cứ nghiên cứu nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HÀ TRỌNG ÂN

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT

ABSTRACT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng của đề tài 6

7 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ TẠM TRÚ ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 8

1.1 Khái quát chung về quản lý tạm trú người nước ngoài 8

1.1.1 Khái niệm người nước ngoài 8

1.1.2 Khái niệm quản lý tạm trú người nước ngoài 10

1.1.3 Đặc điểm quản lý tạm trú người nước ngoài 13

1.1.4 Nội dung quản lý tạm trú đối với người nước ngoài 14

1.1.5 Sự cần thiết phải quản lý tạm trú người nước ngoài 15

1.2 Quy định của pháp luật về quản lý tạm trú của người nước ngoài 16

1.2.1 Quy định của pháp luật về chứng nhận tạm trú 16

1.2.1.1 Về chủ thể được chứng nhận tạm trú 17

1.2.1.2 Về thẩm quyền chứng nhận tạm trú 18

1.2.1.3 Về hình thức chứng nhận tạm trú 18

Trang 5

1.2.1.4 Về thời hạn tạm trú 19

1.2.1.5 Về khai báo tạm trú 20

1.2.1.6 Về gia hạn tạm trú 23

1.2.2 Quy định của pháp luật về cấp thẻ tạm trú người nước ngoài 24

1.2.2.1 Về chủ thể được cấp thẻ tạm trú 25

1.2.2.2 Về thẩm quyền giải quyết cấp thẻ tạm trú 25

1.2.2.3 Về thủ tục xin cấp thẻ tạm trú 26

1.2.2.4 Về thời hạn thẻ tạm trú 27

1.3 Quy định pháp luật về đăng ký, quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại khu công nghiệp 28

1.3.1 Các điều kiện để được tạm trú trong khu công nghiệp 28

1.3.2 Khai báo tạm trú cho người nước ngoài tạm trú trong khu công nghiệp 30 1.3.3 Giải quyết Cấp thẻ tạm trú, gia hạn tạm trú cho người nước ngoài trong khu công nghiệp 32

1.4 Xử lý vi phạm của pháp luật về quản lý tạm trú người nước ngoài 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TẠM TRÚ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 36

2.1 Thực trạng tình hình tạm trú của người nước ngoài, áp dụng các quy định pháp luậtđăng ký, quản lý tạm trú người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương 36

2.1.1 Thực trạng tình hình tạm trú của người nước ngoài tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương 36

2.1.2 Áp dụng các quy định pháp luật về đăng ký, quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương 37

2.1.3 Phân cấp quản lý tạm trú người nước ngoài tại khu công nghiệp tỉnh Bình Dương 40

2.1.4 Đánh giá tình hình công tác quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp Bình Dương 44

Trang 6

2.2 Một số bất cập trong quản lý tạm trú người nước ngoài trong các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương 45 2.2.1 Bất cập trong một số quy định xử lý vi phạm hành chính đối với người nước ngoài vi phạm tạm trú 45 2.2.2 Bất cập trong xác định đối tượng tạm trú trong Khu công nghiệp, các quy định thủ tục đăng ký tạm trú người nước ngoài tại các khu công nghiệp 48 2.2.3 Bất cập trong cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện pháp luật về tạm trú đối với người nước ngoài tại Bình Dương 50 2.3 Nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý hành chính về tạm trú đối với người nước ngoài tại Bình Dương 51 2.3.1 Hoạt động kiểm tra, xử lý chưa được phát huy tương xứng, còn hạn chế 51 2.3.2 Cơ chế quản lý, cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu 52 2.3.3 Văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ 53 2.4 Kiến nghị hoàn thiện để quản lý nhà nước về tạm trú đối với người nước ngoài tại khu công nghiệp tỉnh Bình Dương 53 2.4.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý quản lý về tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương 53 2.4.2 Xây dựng đội ngũ làm công tác quản lý tạm trú đối với người nước ngoài

có trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ 56 2.4.3 Hoàn thiện cơ chế phối hợp quản lý về tạm trú đối với người nước ngoài tại khu công nghiệp tỉnh Bình Dương 57 2.4.4 Công tác kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về tạm trú của người nước ngoài tại khu công nghiệp tỉnh Bình Dương 61

PHẦN KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

QLNN: Quản lý nhà nước

QLTT: Quản lý tạm trú

NNN: Người nước ngoài

UBND: Ủy ban nhân dân

KCN: Khu công nghiệp

Luật NCXCQCCT năm 2014: Luật nhập cảnh, xuất xảnh, quá cảnh, cư trú năm 2014

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tiêu đề: Pháp luật về quản lý tạm trú người nước ngoài và thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Tóm tắt bài: Tỉnh Bình Dương là một địa phương có nhiều khu công nghiệp, đây cũng là một trong những tỉnh có thu hút số lượng đầu tư nước ngoài nhiều Vì vậy số người nước ngoài đang tạm trú, làm việc ngày càng gia tăng Nghiên cứu

“Pháp luật về quản lý tạm trú người nước ngoài và thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương” giúp hiểu rõ về 2 tình hình: thứ nhất là việc quản lý tạm trú người nước ngoài như thế nào, thứ hai là thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý tạm trú

đối với người nước ngoại tại các khu công nghiệp qua một địa phương cụ thể

Bên cạnh những mặt tích cực đạt được, thì công tác quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp Bình Dương vẫn còn tồn tại những hạn chế Đó là từ những quy định của pháp luật đến công tác tổ chức thực hiện, yếu tố chọn lọc nhân lực làm công tác quản lý, cơ chế phối hợp các ban ngành, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác chưa đồng bộ và chưa chuyên sâu nhất là cấp

cơ sở đã phần nào làm hiệu quả công tác chưa cao

Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích, tác giả đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc, đồng thời đưa ra các kiến nghị và giải pháp cụ thể để khắc phục những bất cập này Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho những người làm công tác thực tiễn, các cơ quan chức năng trong việc quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp

Từ khóa: Quản lý tạm trú đối với người nước ngoài

Quản lý tạm trú người nước ngoài tại các khu công nghiệp

Trang 9

ABSTRACT

Title: Law on management of temporary residence forforeigners and the current situation of implementation laws in Binh Duong industrial zones

Summary: Binh Duong is a province which has many industrial zones It is also one

of the most dynamic economic zones attracting foreign investment Therefore the number of foreigners staying and working in Binh Duong is rapidly increasing day

by day Research "Law on management of temporary residence for foreigners and the current situation of implementation laws in Binh Duong industrial zones" helps you to understand clearly the two main parts: (1) Law on managing temporary residence for foreigners, and (2) the practical applying of this law in industrial zones through a specific locality

In addition to the positive achievements, the management of temporary residence for foreigners in Binh Duong industrial parks still has some limitations They are the difficulties from bringing the law to real life, the implementation of each related organization, the logical managing in human resource element, coordinated systems from each department, the applying of science and technology is not synchronized and completely unitedespecially from the basic enforcement levels which affect to the efficiency of the job

On the basis of research and analysis, the author listed difficulties and problems facing, and also made specific recommendations and solutions to overcome these obtacles The results of this thesis will be the reference document for relevant practical departments and authorities in management temporary residence for foreigners in industrial zones

Key words: temporary residence managementfor foreigners

temporary residence management for foreigners in industrial zones

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Để cùng bắt nhịp phát triển của thời đại công nghệ 4.0 hiện nay Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tập trung phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế theo nhiều hướng hợp tác song phương song song với đa phương để tạo nên nhiều hệ sinh thái kinh tế trên toàn cầu Quá trình này buộc nền kinh tế của các nước không ngừng đổi mới cũng như thúc đẩy sự hợp tác, hội nhập kinh tế giữa các quốc gia, thay đổi theo sự đòi hỏi của thời đại, của xu thế toàn cầu hóa Việt Nam là quốc gia không nằm ngoài xu thế đó

Với yêu cầu của thời đại, của sự phát triển Việt Nam với đường lối đổi mới

mở cửa hợp tác ở nhiều lĩnh vực với nhiều quốc gia, các vùng lãnh thổ, không phân biệt chế độ chính trị Từ những chính sách của Đảng và Nhà nước đã thu hút một lượng lớn khách du lịch, vốn đầu tư, nhân lực, công nghệ khoa học từ các nước có nền công nghiệp phát triển Với lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài cùng với đó thu hút một lượng lớn người nước ngoài đến quản lý điều hành doanh nghiệp, tham gia lao động, thăm thân nhân, định cư, du lịch.v.v Để đáp ứng yêu cầu tình hình thực

tế, thời gian qua công tác quản lý cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã và đang thực hiện Hệ thống pháp luật để quản lý việc cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam được ban hành khá nhiều nhằm quản lý tốt việc cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn những thiếu sót, sơ hở trong các quy định, công tác tổ chức thực hiện pháp luật còn chồng chéo.v.v Dẫn đến người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại một số địa phương chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật Xã hội phát triển, các văn bản pháp luật cần được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tế, nên việc nghiên cứu về việc quản lý tạm trú đối với người nước ngoài đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu có liên quan nhưng chủ yếu tập trung làm rõ các quy định của pháp luật, chưa nêu bật được những mặt thuận lợi và khó khăn trong áp dụng những quy định trên, công tác thực hiện pháp luật vào quản lý tạm trúđối với người nước ngoài tại Việt Nam ở các khu công nghiệp

Trang 11

Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ có nền kinh tế - xã hội phát triển, là cửa ngõ giao thương kinh tế của vùng và là một trong những địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp đi đầu cả nước, thu hút một lượng lớn lao động, chuyên gia, người quản lý, người điều hành doanh nghiệp đến các khu công nghiệp

để làm việc Những năm qua, tỉnh Bình Dương đã nhận thức được những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CP TPP), Hiệp định Thương mại tư do giữa Việt Nam và Liên minh Châu âu Để chuẩn bị các nguồn lực, điều kiện đón đầu làn sóng đầu tư, một trong những bước chuẩn bị đó là thông qua việc hình thành và phát triển các Khu công nghiệp để tạo hệ thống hạ tầng thông thoáng, hiện đại, quỹ đất “sạch” phục vụ thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, định hướng phát triển ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian tới là thu hút các ngành nghề với hàm lượng khoa học - kỹ thuật, công nghệ cao

Với thuận lợi là địa phương nhận được sự quan tâm, đầu tư từ nhiều quốc gia trên thế giới, một lượng lớn lao động người nước ngoài cùng đến điều hành, quản lý doanh nghiệp, lao động và cư trú tại Bình Dương ngày càng nhiều Từ đó cũng nẩy sinh nhiều vướng mắc, khó khăn, bất cập về việc quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại Bình Dương Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương

có những đặc trưng riêng và giúp chúng ta hiểu rõ và có cái nhìn toàn diện về tình hình công tác quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp qua một địa phương cụ thể

Việc nghiên cứu về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài là vấn đề rất rộng Do đó, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ này tác giả chỉ đề cập đến những quy định của pháp luật và thực tiễn trong thực hiện về việc quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương Chính vì vậy, tác

giả lựa chọn đề tài cho việc nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình là: “Pháp luật về

quản lý tạm trú người nước ngoài và thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý

Trang 12

tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương”

2 Tình hình nghiên cứu

Công tác quản lý tạm trúđối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp không phải là một vấn đề pháp lý mới Nhưng với sự phát triển nhanh của nền công nghiệp như hiện nay, cùng với đó là sức hút một lượng lớn lao động người nước ngoài chuyển đến làm việc cư trú tại các khu công nghiệp của các địa phương, nẩy sinh nhiều vấn đề phức tạp, công tác quản lý tạm trúđối với người nước ngoài ở những địa phương có người nước ngoài tạm trú còn nhiều thiếu sót và bất cập cần

có những biện pháp khắc phục, quản lý Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý về quản

lý tạm trú đối với người nước ngoài vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu mà chỉ mới đề cập một cách khái quát, quản lý cư trú do đó chưa làm rõ được tính cấp thiết của vấn đề Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiếp cận được một số công trình có liên quan đến đề tài như sau:

Luận án Tiến sĩ “Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài ở các

thành phố trực thuộc Trung ương phía Nam Việt Nam” tác giả Vũ Thành Luân học

viện Hành chính Quốc gia,năm 2016, tác giải có nhưng phân tích chuyên sâu về khái niệm quản lý nhà nước về cư trú đối với người nước ngoài ở Việt Nam và quốc

tế Đồng thời luận án đã nêu ra giải pháp hoàn thiện trong thực tiễn trong phạm vi

cả nước

Luận văn thạc sĩ “Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý người

nước ngoài tại khu công nghiệp” của tác giả Hồ Anh Tuấn, Đại học Luật thành phố

Hồ Chí Minh 5/2018, tác giả phân tích những bất cập quy định của pháp luật về quản lý cư trú, lao động đối với người nước ngoài làm việc ở các khu công nghiệp, mối quan hệ chồng chéo giữa Luật Lao động và Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại các khu công nghiệp Việt Nam và đề xuất hướng hoàn thiện

Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về quản lý cư trú đối với người nước ngoài qua

thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” của tác giả Mai Thị Hồng Tiến, Luận văn

Trang 13

thạc sĩ, Đại học kinh tế TP.HCM, năm 2019 Tác giả nêu cơ sở pháp lý về quản lý

cư trú và phân tích những hạn chế các quy định của pháp luật quản lý cư trú người nước ngoài và đề ra kiến nghị hoàn thiện

Bên cạnh đó một số tờ tạp chí cũng được các tác giả nói, bình luận, đề xuất kiến nghị nhiều về vấn đề có liên quan đến người nước ngoài cư trú cụ thể một số tạp chí tiêu biểu như sau:

Bài báo “Pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước

ngoài tại Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế” của tác giả Phạm Hoàng Linh

đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số định kỳ 64 trang tháng 12/2014, tác giả bài viết đã nêu ra những thay đổi trong các quy định của pháp luật ở nước ta về vấn

đề nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam

Bài báo “Một số bất cập của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của

người nước ngoài tại Việt Nam” của tác giả Cao Thị Nga – học viện chính trị

CAND đăng trên tạp chí Cảnh sát nhân dân tháng 8/2019, tác giả bài viết đã nêu ra những bất cập trong quy định của Luật 47 như: Quy định về thị thực điện tử, quy định thị thực cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, giải quyết cho người nước ngoài thường trú, các trường hợp được mời, bảo lãnh người nước ngoài

Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ trình bày các nội dung về quản lý cư trúvà làm việc đối với người nước ngoài tại Việt Nam một cách khái quát chưa đi sâu phân tích các nội dung về quản lý tạm trúđối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp ở một địa phương cụ thể, nhất định

Qua quá trình tìm hiểu của cá nhân, tác giả thấy rằng vấn đề quản lý tạm trúđối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp là vấn đề quan trọng ở thời điểm hiện tại nhưng vẫn chưa được tác giả nghiên cứu một cách chuyên sâu về mặt

lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, số lượng công trình nghiên cứu về vấn đề này còn khá khiêm tốn mặc dù quy định pháp luật về vấn đề này không phải là mới Do

vậy, so với các công trình trước đây, đề tài “Pháp luật về quản lý tạm trú đối với

người nước ngoài và thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương” sẽ đề

Trang 14

cập một cách toàn diện những nội dung mang tính pháp lý cũng như thực tiễn về vấn đề quản lý tạm trúđối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn một địa phương cụ thể

3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi sau đây:

- Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài? Có khác biệt gì với quản lý tạm trú công dân Việt Nam?

- Thực tiễn thực hiện pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương có phát sinh những bất cập, hạn chế nào?

- Làm sao để khắc phục những hạn chế trong thực tiễn quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương; đồng thời nghiên cứu thực tiễn tổ chức lực lượng thực hiện, áp dụng các quy định này trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài trong các khu công nghiệp Bình Dương bao gồm: Luật số 47/204/QH13, Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014; Luật số 51/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm

2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành về quản lý người nước ngoài cư trú và làm việc các khu công nghiệp từ năm 2014 - 2019 Ngoài ra, tác giả sẽ liên hệ với thực tiễn công tác quản lý người nước ngoài tạm trú tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014 - 2019 Nghiên cứu công tác quản lý tạm trú đối với người nước ngoài do lực lượng CAND thực hiện trên địa bàn các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương để chỉ ra những điểm tích cực cũng như các hạn chế còn tồn tại để đưa ra các giải pháp hoàn thiện

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp được sử dụng tại chương I của Luận văn khi nhằm làm rõ cơ sở của việc quản lý tạm trú người nước ngoài tại các khu công nghiệp

- Phương pháp hệ thống hoá, phân tích quy phạm pháp luật, so sánh luật học được thực hiện nhằm làm rõ quy định của pháp luật trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau có điều chỉnh về hoạt động quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp

- Phương pháp thống kê, phân tích tình huống pháp lý nhằm làm rõ thực tiễn

áp dụng pháp luật về quản lý tạm trú người nước ngoài tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương

- Phương pháp đánh giá tác động và dự báo nhằm đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp tại Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Trên cơ sở các vấn đề mang tính pháp lý và thực trạng công tác quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương,

đề tài làm rõ các quy định của pháp luật cũng như những hạn chế ở góc độ pháp lý

và thực tiễn thực thi pháp luật về vấn đề này Qua đó, đề tài góp phần giúp cho người đọc, người làm công tác chuyên môn đặc biệt là các cơ quan có chức năng quản lý người nước ngoài tại các khu công nghiệp (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Lực lượng Công an, Sở Lao động thương binh và xã hội, Ban quản lý các khu công nghiệp.v.v) có cái nhìn tổng quát, toàn diện hơn về vấn đề quản lý tạm trú người nước ngoài tại các khu công nghiệp Qua đó sử dụng các giải pháp, biện pháp được

đề xuất trong đề tài để giải quyết những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong công tác quản lý tạm trú người nước ngoài tại các khu công nghiệp nhằm nâng cao

Trang 16

hiệu quả quản lý nhà nước về tạm trú đối với vấn đề này trong thực tiễn

Giá trị ứng dụng

Đề tài có thể sử dụng để làm tư liệu, tài liệu tham khảo cho các nhà làm luật, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và những chủ thể áp dụng pháp luật

7 Cấu trúc luận văn

Đề tài với tiêu đề: “Pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài và thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương” được chia làm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm 2 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý tạm trú đối với người nước ngoài

Chương 2 : Thực trạng áp dụng của pháp luật về quản lý tạm trú người nước ngoài tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương và những kiến nghị hoàn thiện

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ TẠM TRÚ ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC

NGOÀI

1.1 Khái quát chung về quản lý tạm trú người nước ngoài

1.1.1 Khái niệm người nước ngoài

Trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, dấu hiệu quốc tịch luôn được xem là đặc trưng riêng để xác định NNN và làm căn cứ để xác định người đó là công dân nước nào hoặc là người không thuộc công dân nước nào (người không có quốc tịch) Do đó theo một nghĩa hẹp hơn, NNN được hiểu rằng người đã có quốc tịch nhưng không có quốc tịch của nước mà họ đang cư trú Mặc

dù có rất nhiều quan điểm khác nhau, nhưng trong khoa học pháp lý của nước ta từ trước đến nay đã đồng nhất quan điểm về NNN theo hướng là người không có quốc tịch Việt Nam (trừ người không có quốc tịch)

Khái niệm NNN trước đây cũng đã được Việt Nam đề cập và theo quy định tại Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối

với người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam như sau: “NNN gọi tắt

là ngoại kiều là những người cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam, có quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch” 1 Người nước ngoài theo quy định tại Khoản 5,

Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998; khoản 1 Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 Cả 2 Luật Quốc tịch và Luật NCXCQCCT năm 2014 đều được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam

Theo quy định, tại khoản 5 Điều 3, Luật Quốc tịch Việt Nam định nghĩa như

sau: “NNN cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch

thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam 2 ” Luật Quốc tịch không đặt ra trực tiếp khái

1 Điều 1 Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú

và làm ăn sinh sống ở Việt Nam

2 Khoản 5 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008

Trang 18

niệm người nước ngoài mà chỉ đặt ra khái niệm NNN cư trú ở Việt Nam để thu hẹp phạm vi điều chỉnh của Luật

Luật NCXCQCCT năm 2014, người nước ngoài “là người mang giấy tờ xác

định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam 3 ” Như vậy, ởLuật NCXCQCCT năm 2014 xác định

NNN dựa trên 02 dấu hiệu, gồm dấu hiệu quốc tịch và dấu hiệu hành vi “nhập cảnh,

xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam” Như vậy, theo hệ thống luật pháp Việt

Nam, NNN ở Việt Nam phải có đủ hai điều kiện sau:

+ Một là, người có một hay nhiều quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch Việc xác định một người có quốc tịch hay không có quốc tịch nước ngoài được căn cứ vào giấy tờ của họ xác định quốc tịch nước ngoài, mà theo Luật

NCXCQCCT năm 2014 quy định “Giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài là loại

giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền quản lý của nước ngoài hoặc Liên Hợp Quốc cấp, gồm hộ chiếu hoặc các giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu (sau đây gọi chung là

Cần phân biệt, xác định rõ NNN và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Vì,

“người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài5” Trong số những người này, có trường hợp họ còn quốc tịch là công dân Việt Nam; có trường hợp thôi quốc tịch Việt Nam và nhập quốc tịch nước ngoài; có trường hợp đã nhập quốc tịch nước

3 Khoản 1 Điều 3 Luật NCXCQCCTnăm 2014

4 Khoản 2 Điều 3 Luật NCXCQCCTnăm 2014

5 Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Trang 19

ngoài mà vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam Trong các trường hợp này, căn cứ để xác định quốc tịch của họ khi họ xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và cư trú ở Việt Nam

là dựa vào giấy tờ, hộ chiếu xác định quốc tịch mà họ xuất trình, khai báo

1.1.2 Khái niệm quản lý tạm trú người nước ngoài

Cư trú là một trong những quyền cơ bản của con người, được tự do cư trú là một trong những quyền con người được Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận Là một trong những quyền cơ bản của công dân mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận và thực thi quản lý nhà nước về cư trú Cùng với xu thế hội nhập, giao thương kinh tế, văn hóa, xã hội mạnh mẽ của các quốc gia trên thế giới như hiện nay thì việc quản lý cư trú của công dân và NNN là một nhiệm vụ tất yếu, khách quan

Theo Từ điển Tiếng Việt, tạm trú được hiểu là “việc một người ở thường ngày

tại một nơi 6 ” Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, gọi tắt là Luật Cư

trú) quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã,

phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú 7 ” Theo quy định của Luật

cư trú thì nội hàm cư trú gồm hai bộ phận hợp thành:

Một là, cư trú là hoạt động sinh sống tại một địa điểm nhất định, trong một

khoảng thời gian cụ thể của con người

Hai là, Cư trú được phân loại thành hai dạng hình thức đó là tạm trú và thường

trú Thường trú được hiểu là hành vi hoạt động cư trú thường xuyên, liên tục tại một địa điểm cố định trong một khoảng thời gian dài Trái lại, tạm trú là hành vi cư trú tạm thời, không thường xuyên và liên tục tại một nơi cố định Đây là hai hình thức giống nhau cùng về bản chất nhưng khác nhau về thời gian, một bên là sự liên tục kéo dài, bên kia là tạm thời, ngắt quãng, trong khoảng thời gian ngắn Pháp luật Việt Nam quy định về cư trú cũng phân định thành hai hình thức hợp thành khái niệm cư trú và quy định cách thức quản lý từng hình thức, quy định trình tự, thủ tục

cụ thể

6Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển bách khoa, 2010

7 Điều 1 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)

Trang 20

Như vậy việc tạm trú của người nước ngoài được hiểu là hành vi sinh sống của NNN trong một khoảng thời gian cụ thể, tại một địa điểm nhất định trên lãnh thổ nước Việt Nam Luật 47 về NCXCQCCT năm 2014 của người nước ngoài tại Việt

Nam cũng chia cư trú: “Cư trú là việc người nước ngoài thường trú hoặc tạm trú

tại Việt Nam 8 ” Trong quy định đó thường trú là việc NNN cư trú, làm ăn, sinh sống

lâu dài, không có thời hạn tại Việt Nam; tạm trú là hành vi người nước ngoài cư trú trong thời gian ngắn tại một nơi trên lãnh thổ Việt Nam Trong chuyên đề nghiên cứu “Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị” của Trung tâm nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp đã đề

cập: “Sự kiện pháp lý về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam xuất hiện từ sau

khi người đó nhập cảnh và phải thực hiện các thủ tục đăng ký tạm trú hoặc thường trú tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cư trú của người nước ngoài được xác định từ sau khi nhập cảnh vào Việt Nam đến khi họ xuất cảnh qua cửa khẩu 9 ” Theo nghiên cứu đó,

người nước ngoài được xem là cư trú hợp pháp ở Việt Nam khi và chỉ khi họ nhập cảnh vào Việt Nam và hoàn tất thủ tục đăng ký thường trú hoặc tạm trú theo quy định tại một địa điểm nhất định trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu vực mà pháp luật không cho phép người nước ngoài cư trú

Người nước ngoài khi đến Việt Nam dù bằng hình thức nào hay mục đích nào cũng phải buộc trải qua các giai đoạn: nhập cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại và sinh sống, cuối cùng là xuất cảnh Do đó, để đảm bảo các hành vi trên được diễn ra xuyên suốt, không đứt quãng và hợp pháp, pháp luật nước ta quy định cụ thể các trình tự, thủ tục và thẩm quyền quản lý để tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan chức năng thực hiện quản lý nhập cảnh, quản lý quá cảnh, quản lý cư trú, quản lý hoạt động, quản lý xuất cảnh của người nước ngoài tại Việt Nam Có thể thấy rằng, khi một người thực hiện các thủ tục để nhập cảnh vào Việt Nam, bước tiếp theo chính là cư

trú hoặc quá cảnh Do đó, “việc quản lý cư trú đối với người nước ngoài đi liền

8 Khoản 9 Điều 3 Luật NCXCQCCTnăm 2014

9Viện nghiên cứu lập pháp, Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị”,

chuyên đề nghiên cứu khoa học, 2013, tr 6

Trang 21

ngay sau quản lý nhập cảnh, nối tiếp giữa các khâu tạo thành chuỗi hoạt động quản

lý người nước ngoài tại Việt Nam liên tục, chặt chẽ 10 ” Trong bài viết: “Quản lý cư

trú – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Đại Quang có phân tích

rõ khái niệm quản lý cư trú như sau: “Quản lý cư trú là quá trình cơ quan có thẩm

quyền trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú và các biện pháp nghiệp

vụ ngành Công an để tiến hành đăng ký, quản lý thường trú, tạm trú, tạm vắng, lưu trú của công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ về cư trú theo quy định của pháp luật; đồng thời góp phần phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác về trật tự an toàn xã hội 11

Dù đây là khái niệm về quản lý cư trú chung chung nhưng nội hàm phân tích của nó

đã chỉ ra được nhiều nội dung tươngđồng về quản lý cư trú đối với NNN Bản chất vấn đề của quản lý cư trú đối với NNN là tổ chức việc thực hiện pháp luật về cư trú của người nước ngoài nhằm mục đích đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Namtrong lĩnh vực cư trú và thời gian cư trú Việc quản lý cư trú với người nước ngoài đóng vai trò, nhiệm vụ rất quan trọng trong lĩnh vực quản lý đối với NNN tại Việt Nam Thông qua kết quả của quản lý cư trú đối với người nước ngoài, các cơ quanchức năng có thể kịp thời nắm bắt được các hành vi, hoạt động của NNN tại mỗi địa phương cụ thể, từ đó đưa ra những phương án thu hút lao động, đầu tư, du lịch, lao động, phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời đề xuất, kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý

Tóm lại,Công tác QLTT đối với NNN là một hoạt động quản lý nhà nước

được thực hiện bởi các cơ quan chức năng có thẩm quyền nhằm tác động, theo dõi, điều chỉnh hoạt động tạm trú của NNN trên lãnh thổ Việt Nam với mục đích bảo đảm cho hoạt động tạm trú của NNN tại Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tạm trú, đồng thời đảm bảo an ninh quốc

10Phạm Đức Chính, Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội, 2018, tr 11

11Trần Đại Quang, Quản lý cư trú – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Công an nhân dân, 2017, tr.8

Trang 22

gia và trật tự an toàn xã hội, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và phù hợp pháp luật quốc tế

1.1.3 Đặc điểm quản lý tạm trú người nước ngoài

Quản lý tạm trú đối với NNN là một hoạt động mang tính chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước, QLTT có những đặt điểm chung của quản

lý hành chính nhà nước:

Một là, bản chất QLTT đối với NNN là sự tác động và điều chỉnh bằng

quyền lực nhà nước của chủ thể quản lý (cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó

cơ quan Công an chủ trì và giữ vai trò chuyên trách), mang quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách của cơ quan Nhà nước để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của NNN nhằm duy trì sự ổn định trật tự của xã hội Nhà nước, bằng quyền lực của mình thông qua các cơ quan quản lý thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, tiến hành hoạt động quản lý NNN về vấn đề tạm trú trên cơ sở thể chế hóa những chủ trương, chính sách của Đảng

Hai là, Chủ thể QLTT đối với NNN là tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao

quyền tiến hành quản lý, kiểm tra, tác động, điều chỉnh quá trình cư trú của NNN tại Việt Nam Bao gồm Chính phủ, Bộ Công an là cơ quan trực tiếp thực hiện QLTT

NNN tại Việt Nam Bộ Công an là cơ quan nòng cốt, “chịu trách nhiệm trước

Chính phủ, chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thực hiện quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam12” Theo quy định của Luật NCXCQCCT năm 2014

Ngoài ra theo Luật NCXCQCCT năm 2014 còn có nhiều chủ thể khác: Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan nhà nước địa phương như: UBND tỉnh, Công an tỉnh, sở lao động thương binh và xã hội, phòng PA08, Công an cấp huyện, cấp xã, Đồn, Trạm, Các tổ chức, cá nhân được nhà nước giao quyền v.v theo sự ủy quyền của nhà nước, có trách nhiệm quản lý, giáo dục, hướng dẫn người nước ngoài hoạt động đúng pháp luật Việt Nam và thực

12 Khoản 1 Điều 47 Luật NCXCQCCTnăm 2014

Trang 23

hiện các biện pháp phù hợp với quyền hạn nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của NNN tại Việt Nam

Ba là, đối tượng quản lývề tạm trú đối với NNN, có ý nghĩa rất quan trọng, giúp

chủ thể quản lý triển khai thực hiện các hoạt động quản lý phù hợp, tránh bỏ sót và không để xảy ra tình trạng quản lý tràn lan, kém hiệu quả Theo lý luận chung, đối tượng quản lý trong QLTT là những đối tượng tiếp nhận sự tác động, điều chỉnh của chủ thể quản lý và vận động theo sự tác động, điều chỉnh ấy để hướng tới việc đạt được những mục tiêu mà chủ thể quản lý đặt ra

Bốn là, mục đích QLNN về tạm trú đối với NNN nhằm phục vụ yêu cầu bảo vệ

an ninh; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài, đảm bảo trật tự pháp lý liên quan người nước ngoài, góp phần phục vụ việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại, hội nhập và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đồng thời còn nhằm phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật

Công tác quản lý tạm trú đối với người nước ngoài vừa là một bộ phận của quản

lý hành chính nhà nước đối với NNN vừa là một hình thức của quản lý cư trú Do vậy, quản lý tạm trú đối với người nước ngoài mang đầy đủ đặc trưng của hoạt động quản lý cư trú như tính quyền lực nhà nước; được tiến hành theo địa giới hành chính; có sự phân công, chỉ đạo, phân cấp trách nhiệm và đa dạng về nội dung, đối tượng, hình thức quản lý

1.1.4 Nội dung quản lý tạm trú đối với người nước ngoài

Nội dung QLTT đối với NNN tại Việt Nam cũng gồm những nội dung cơ bản trong quản lý về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam Lực lượng Công an nhân dân với tư cách là chủ thể trực tiếp, chuyên trách, chủ trì, tham mưu trong công tác QLTT đối với NNN, thực hiện theo những mặt hoạt động sau:

- Xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật quản lý nhà nước về tạm trú đối

Trang 24

với người nước ngoài

- Tổ chức bộ máy quản lý, thực hiện phân công, phân cấp và phối hợp các lực lượng trong công tác QLTT đối với NNN

- Tổ chức thu thập, xử lý thông tin, tài liệu liên quan đến tạm trú của người

- Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật nói chung và pháp luật liên quan đến tạm trú cho người nước ngoài và người sử dụng lao động nước ngoài

- Tham gia và phối kết hợp với các cơ quan chức năng thực hiện QLTT đối với người nước ngoài theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an

- Tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về tạm trú đối với NNN có liên quan đến an ninh, trật tự và người sử dụng NNN

- Thống kê báo cáo về tạm trú; hợp tác quốc tế

1.1.5 Sự cần thiết phải quản lý tạm trú người nước ngoài

Thực tiễn cho thấy trong quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới đã gia tăng nhanh chóng trong những năm gần dây, đóng góp không nhỏ gồm chuyên gia, nhà quản lý, điều hành vào sự phát triển của đất nước, trong đó có sự đóng góp của các nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào Việt Nam, kéo theo một lực lượng nguồn nhân lựcchuyên gia nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, có kinh nghiệm trong chuyên môn, trong quản

lý, lao động sản xuất Qua việc sử dụng nguồn nhân lực từ nước ngoài, lao động

Trang 25

Việt Nam cũng học hỏi, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ, có sự chuyển biến mạnh về tác phong làm việc công nghiệp

Bên cạnh kết quả ấy, việc NNN đến tạm trú cùng xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp về an ninh như: một số NNN đến Việt Nam và ở lại làm việc khi chưa đáp ứng các yêu cầu của pháp luật Việt Nam; trong công tác QLTT đối vớiNNN, sinh hoạt, làm việc tại Việt Nam còn bất cập, hạn chế,yếu kém; Cơ chế phối hợp trong QLTT giữa các Bộ, ngành ở trung ương với các địa phương chưa có sự chặt chẽ và chưa đồng bộ, thống nhất; thiếu sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật,ở nhiềuđịa phương công tác quản lý tạm trú người nước ngoài còn yếu kém do trình độ của người làm công tác quản lý, có trường hợp ở địa phương vì thu hút đầu tư mà nới lỏng các thủ tục trong công tác QLTT Ngoài ra cũng có số cá nhân, tổ chức chưa thực hiện tốt việc khai báo tạm trú đối với NNN làm cho hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tạm trú NNN chưa cao, trong nhiều trường hợp tạo ra kẽ hở, chưa đáp ứng được tình hình thực tế của xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, phục vụ quản lý xã hội trong tình hình hiện nay Xác định công tác đăng ký, QLTT đối với NNN là một trong những nhiệm vụ quan trọng, lực lượng Công an nhân dân làm nòng cốt, đã nắm bắt và quản lý số lượng người nước ngoài tạm trú trên địa bàn lãnh thổ; nắm rõ tình hình tạm trú NNN để thực hiện công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định, quyết định những chính sách, phục vụ nhu cầu xã hội, phát triển kinh tế xã hội, phát hiện phòng ngừa, ngăn chặn đấu tranh làm thất bại âm mưu phá hoại của những thế lực thù địch, đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội

1.2 Quy định của pháp luật về quản lý tạm trú của người nước ngoài

1.2.1 Quy định của pháp luật về chứng nhận tạm trú

Chứng nhận tạm trú là việccơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam xác định thời hạn NNN được phép tạm trú tại Việt Nam13

13 Khoản 12 Điều 3 Luật NCXCQCCTnăm 2014

Trang 26

1.2.1.1 Về chủ thể được chứng nhận tạm trú

Theo quy định đơn vị kiểm soát nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú cho NNN nhập cảnh vào Việt Nam Nghĩa là, người nước ngoài khi nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam là chủ thể sẽ được chứng nhận tạm trú (trừ trường hợp có thẻ tạm trú hoặc thẻ thường trú còn hiệu lực theo quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều 31Luật

NCXCQCCT năm 2014) “NNN ở đây được hiểu là người có mang giấy tờ xác định

quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch 14 ” Các trường hợp đã có thẻ tạm

trú hoặc thẻ thường trú còn hiệu lực, còn giá trị sử dụng thì khi NNN nhập cảnh vào Việt Nam được xác định:

Đầu tiên, người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài, với trường hợp này, khi NNN nhập cảnh vào Việt Nam, họ phải xuất trình hộ chiếu, giấy tờ đi lại quốc tế ( đối với người không quốc tịch) còn giá trị sử dụng với đơn vị kiểm soát nhập cảnh để được xác nhận và thực hiện quản lý theo quy định của pháp luật Hộ chiếu còn hiệu lực sử dụng của NNN khi nhập cảnh vào Việt Nam phải cóthị thực với NNN không được miễn thị thực hoặc không cần thị thựcđối với người đã được miễn thị thực theo quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên Trường hợp NNN không xuất trình được hộ chiếu thì phải xuất trình thị thực rời, Theo quy định tại Điều 11Luật NCXCQCCT năm 2014 Trong đó, thị thực rời được cấp trong các trường hợp: Là hộ chiếu không còn trang cấp thị thực; hộ chiếu của quốc gia chưa có quan hệ ngoại giao với Việt Nam; những giấy tờ có giá trị đi lại quốc tếvì lý do ngoại giao, quốc phòng và an ninh Hai là, những người không có quốc tịch xuất trình hộ chiếu còn hiệu lực hoặc thị thực rời Tương tự như đối với trường hợp đầu tiên, người không quốc tịch khi nhập cảnh vào Việt Nam phải xuất trình hộ chiếu còn hiệu lực sử dụng đã được cấp thị thực, nếu hộ chiếu không còn hiệu lực sử dụng và không được cấp thị thực vào

hộ chiếu đó nửa thì người không có quốc tịch phải đảm bảo thực hiện các thủ tục để được cấp thị thực rời Như đã phân tích, điều kiện theo quy định để được cấp thị thực rời là phải có các giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế Theo quy định tại khoản 3

14 Khoản 1 Điều 3 Luật NCXCQCCTnăm 2014

Trang 27

Điều 3Luật NCXCQCCT năm 2014, “giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế là loại giấy tờ

do cơ quan có thẩm quyền của một nước cấp cho người không có quốc tịch đang cư trú tại nước đó và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận” 15 Chính

vì lẽ đó, người không có quốc tịch sẽ sử dụng các giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế để thực hiện các thủ tục xin cấp thị thực rời nhập vào Việt Nam và sử dụng thị thời rời

đó để nhập cảnh, tạm trú tại Việt Nam

1.2.1.2 Về thẩm quyền chứng nhận tạm trú

Luật NCXCQCCT năm 2014 quy định “cơ quan chức năng có thẩm quyền

chứng nhận tạm trú là đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh Đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh, là cơ quan chuyên trách với nhiệm vụ kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài tại cửa khẩu”16

Theo Điều 47Luật NCXCQCCT năm 2014 quy định về trách nhiệm của Bộ Công an và Điều 49 Luật này cũng quy định về trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, đo

đó công tác kiểm soát xuất nhập cảnh thuộc quyền hạn của Bộ Công an và Bộ Quốc

phòng trực tiếp quản lý Cụ thể, theo “Thông tư liên tịch số

03/2016/TTLT-BCA-BQP ngày 24/6/2016 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về hướng dẫn việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài và kiểm tra, kiểm soát, giám sát phương tiện vận tải hàng hóa nước ngoài vào, ra khu kinh tế cửa khẩu và cảng biển thuộc khu kinh tế,” thì đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh được xác định là lực lượng

Quản lý xuất nhập cảnh (thuộc Bộ Công an) và lực lượng Bộ đội biên phòng (thuộc

Bộ Quốc phòng) Hai lực lượng này tùy theo từng trường hợp cụ thể có thẩm quyền chứng nhận tạm trú vào hộ chiếu hoặc thị thực rời của NNN nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam qua các cửa khẩu

1.2.1.3 Về hình thức chứng nhận tạm trú

Tại khoản 1 Điều 31Luật NCXCQCCT năm 2014 quy định, bằng hình thức đóng dấu vào hộ chiếu hoặc đóng dấu vào thị thực rời, NNN nhập cảnh vào Việt Nam sẽ được đơn vị kiểm soát nhập cảnh cấp chứng nhận tạm trú xác nhận bằng

15 khoản 3 Điều 3 Luật NCXCQCCT năm 2014

16 Khoản 16 Điều 3 Luật NCXCQCCT năm 2014

Trang 28

hình thức như trên Chỉ đơn vị, cơ quan kiểm soát nhập cảnh mới được đóng dấu chứng nhận tạm trú, làm cơ sở để chứng nhận một người có giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch đã nhập cảnh vào Việt Nam và thực hiện các bước tiếp theo của nhập cảnh đó chính là quá cảnh, tạm trú, lưu trú

tháng,02 năm, 05 năm Theo quy định tại Điều 31Luật NCXCQCCT năm 2014: “thị

thực của NNN còn bao nhiêu ngày thì thời hạn chứng nhận tạm trú cho người nước ngoài đó tương ứng bấy nhiêu ngày còn lại17” Tuy vậy, luật có quy định những trường hợp ngoại lệ cần phải lưu ý khi cơ quan, đơn vị chức năng cấp tạm trú cho NNN, tại Khoản 1 Điều 31 Luật NCXCQCCT năm 2014 “trường hợp thị thực còn thời hạn không quá 15 ngày thì cấp tạm trú 15 ngày; trường hợp thị thực có ký hiệu

ĐT, LĐ thì cấp tạm trú không quá 12 tháng và được xem xét cấp thẻ tạm trú”

Với NNN được miễn thị thực theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành

viên thì thời hạn tạm trú được cấp theo quy định của điều ước quốc tế đó, “nếu như

điều ước quốc tế đó không quy định thì cấp tạm trú 30 ngày 18 ” “Đối với người dân của nước được Việt Nam đơn phương miễn thị thực thì cấp tạm trú 15 ngày 19 ”

“Đối với NNN được cho phép miễn thị thực vào khu kinh tế cửa khẩu thì cấp tạm

17 Điều 31 Luật NCXCQCCT 2014năm 2014

18 Điểm b khoản 1 Điều 31 Luật NCXCQCCTnăm 2014

19 Điểm d khoản 1 Điều 31 Luật NCXCQCCTnăm 2014

Trang 29

trú 15 ngày, còn vào đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt thì cấp tạm trú 30 ngày 20 ”

Những người nước ngoài có quyền tạm trú, sinh hoạt tại Việt Nam sau khi nhập cảnh và chỉ được tạm trú trong thời hạn mà chứng nhận tạm trú được cấp Khi hết thời hạn tạm trú NNN phải thực hiện thủ tục xuất cảnh để xuất cảnh hoặc thủ tục để gia hạn tạm trú tiếp theo Trong trường hợp hết thời hạn tạm trú mà không xuất cảnh thì cơ quan quản chức năng chuyên môn có quyền ra quyết định buộc xuất cảnh đối với NNN21 Buộc xuất cảnh là chế tài đặc thù chỉ sử dụng trong chuyên môn về quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, tạm trú, cư trú của NNN tại Việt Nam Xét về bản chất thì hình thức buộc xuất cảnh và hình thức xử lý trục xuất

là tương đồng nhau, đều là biện pháp buộc người nước ngoài đã vi phạm pháp luật Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất định

Dù vậy, buộc xuất cảnh là biện pháp xử lý vi phạm pháp luật Việt Namchỉ áp dụng đối với NNN khi vi phạm pháp luật về việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, cụ thể khi đã hết thời hạn tạm trú nhưng NNN không xuất cảnh thì bị cơ quan quản lý xuất nhập cảnh buộc xuất cảnh; hoặc vì lý

do quốc phòng, an ninh - trật tự, an toàn - xã hội thì Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là chủ thể đại diện có thẩm quyền quyết định buộc xuất cảnh người đó

Thời hạn tạm trú được quy định đối với NNN mặc dù đã rõ ràng và được ghi

rõ trong chứng nhận tạm trú nhưng vẫn có thể bị rút ngắn lại hoặc hủy bỏ trong trường hợp NNN đó vi phạm pháp luật Việt Nam

1.2.1.5 Về khai báo tạm trú

Người nước ngoài sau khi đã nhập cảnh vào Việt Nam, được đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh Việt Nam chứng nhận tạm trú vào hộ chiếu hoặc thị thực rời, phải thực hiện giai đoạn kế tiếp trong chuỗi các hoạt động của NNN tại Việt Nam, đó là

cư trú Khi đó, người nước ngoài (trừ các trường hợp NNN đó đã có thẻ tạm trú

20 Điểm c khoản 1 Điều 31 Luật NCXCQCCTnăm 2014

21 Điểm a khoản 2 Điều 30 Luật NCXCQCCT năm 2014

Trang 30

hoặc thẻ thường trú), phải tiến hành khai báo cơ sở lưu trú của mình gửi đến cơ quan chức năng có thẩm quyền QLTT, khai báo tạm trú dưới hai hình thức là: Khai báo trực tiếp bằng phiếu khai báo tạm trú và khai báo qua trang thông tin điện tử Với trường hợp NNN thay đổi nơi đăng ký tạm trú hoặc tạm trú khác với địa chỉ đã ghi trong thẻ thường trú thì buộc phải thực hiện lại việc khai báo tạm trú NNN được tạm trú ở nhiều khu vực trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các khu vực cấm, khu vực đang tạm dừng các hoạt động trong biên giới ở đất liền; vùng cấm, khu vực hạn chế hoạt động trong khu vực biên giới biển22

Theo quy định Luật NCXCQCCT năm 2014, quy định rất rõ ràng và cụ thể về khai báo tạm trú.Các cơ sở lưu trú là nơi tạm trú của NNN trên lãnh thổ Việt Nam,

Trong đó, gồm “cơ sở lưu trú du lịch, nhà khách, khu nhà ở dành cho người nước

ngoài làm việc, học tập, lao động, thực tập, cơ sở khám và chữa bệnh, là nhà riêng hoặc các cơ sở lưu trú khác theo quy định của pháp luật 23 ” Người nước ngoài khi

khai báo tạm trú với cơ quan chức năng quản lý “phải thông qua người trực tiếp

quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú để khai báo tạm trú với Công an xã, phường, thị trấn hoặc đồn, trạm Công an nơi có cơ sở lưu trú24”

Trong khoảng thời hạn mười hai giờ (hai bốn giờ đối với trường hợp vùng sâu, vùng xa) kể từ khi NNN đến làm thủ tục tạm trú tại cơ sở của mình thì người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú phải hỗ trợ, điền đầy đủ các nội dung trong mẫu phiếu khai báo tạm trú cho NNN Mẫu phiếu khai báo tạm trú được

ký hiệu là NA17 và được quy định tại Thông tư số 04/2015/TT-BCA ngày 05/01/2015 của Bộ Công an quy định về mẫu giấy tờ liên quan đến việc nhập cảnh, xuất cảnh, tạm trú, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Sau khi đã điền đầy

đủ các thông tin trong Mẫu NA17, người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của

cơ sở lưu trú đó có trách nhiệm chuyển đến Công an xã, phường, thị trấn hoặc đồn,

trạm Công an nơi có cơ sở lưu trú đó “Phiếu khai báo tạm trú ( mẫu NA17) có thể

gửi trước qua fax hoặc thông báo thông tin qua điện thoại đến trực ban Công an

22 Khoản 2 Điều 34 Luật NCXCQCCTnăm 2014

23 Điều 32 Luật NCXCQCCTnăm 2014

24 Khoản 1, Điều 33 Luật NCXCQCCTnăm 2014

Trang 31

cấp xã trước khi chuyển phiếu khai báo tạm trú theo thời gian quy định tại khoản 2 điều này 25 ”

Theo Luật NCXCQCCT năm 2014 quy định các cơ sở lưu trú du lịch là khách sạn phải có kết nối mạng Internet hoặc mạng máy tính với đơn vị, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để gửi đi những thông tin khai báo tạm trú của NNN tại cơ sở lưu trú Các cơ sở lưu trú khác còn lại

có mạng Internet có thể gửi trực tiếp thông tin khai báo tạm trú của NNN vào hộp thư điện tử công khai của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trên cơ sở quy định của Luật NCXCQCCT năm 2014 này,

Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 53/2016/TT-BCA ngày 26/12/2016 quy định

về quy cách thực hiện khai báo,tiếp nhận thông tin của NNN tạm trú tại Việt Nam Trong đó, có quy định, hướng dẫn cụ thể và khuyến khích, khuyến nghị việc khai báo tạm trú của NNN thông qua Trang thông tin điện tử của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đặt cơ sở lưu trú Các quy định về áp dụng công nghệ thông tin vào hệ thống quản lý nhà nước nói chung và QLTT đối với người nước ngoài nói riêng là những nội dung trọng tâm cải cách hành chính Việc này đã tạo những điều kiện thuận lợi cho NNN, các cơ sở lưu trú và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tạm trú của NNN tại Việt Nam, đã góp phần mang lại hiệu quả tích cực, tiết kiệm thời gian, công sức cũng như chi phí phát sinh Bên cạnh đó, thông tin khai báo cũng sẽ được gửi và tiếp nhận kịp thời, nhanh chóng, chính xác, thông qua đó tạo lập một hệ thống, hành lang kỹ lưỡng cho việc QLTT của người nước ngoài, tránh những sai sót không đáng có xuất phát từ nguyên nhân chủ quan con người, bên cạnh đó còn nâng cao công tác phối hợp giữa các cơ quan hữu quan, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và giữa các địa phương khi có yêu cầu

Đối với những trường hợp “NNN tạm trú tại các khu, cụm công nghiệp, các

khu chế xuất, các khu kinh tế cửa khẩu, các khu kinh tế ven biển thì vẫn phải thực

25 hoản 3 Điều 7 Thông tư số 53/2016/TT-BCA

Trang 32

hiện khai báo tạm trú như đã phân tích ở trên26” Người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú tại các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp, các khu chế xuất, các khu kinh tế cửa khẩu, các khu kinh tế ven biển có trách nhiệm khai báo đầy đủ các thông tin theo mẫu và gửi đến Đồn Công an (nếu chưa có Đồn công

an quản lý Khu công nghiệp thì khai báo tại Công an cấp xã nơi quản lý về an ninh trật tự của doanh nghiệp trú đóng) thông qua Trang thông tin điện tử hoặc bằng Phiếu khai báo tạm trú NA17 trong thời gian 12 giờ (24 giờ đối với trường hợp vùng sâu, vùng xa) kể từ khi NNN đến tạm trú tại cơ sở lưu trú Theo Điều 29 Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/05/2018 của Chính phủ quy định về việc quản lý các

khu công nghiệp và các khu kinh tế có quy định: “Trong trường hợp cần thiết, NNN

(gồm các quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia) được phép tạm trú tại doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất theo quy định của UBND cấp tỉnh 27 ” Vậy, có thể thấy những quy định của Luật NCXCQCCT năm 2014 và quy định của

Nghị định 82/2018/NĐ-CP có chồng chéo nhau về trường hợp NNN tạm trú ở khu công nghiệp, tạo sự không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật

Đối với các trường hợp NNN tạm trú tại các cơ sở lưu trú ở khu vực biên giới hoặc thị trấn, thị xã, thành phố, khu du lịch, dịch vụ, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, các khu kinh tế khác có liên quan đến khu vực biên giới thì phải khai báo như đối với những quy định tại Điều 33Luật NCXCQCCT năm 2014 đã phân tích ở trên Cơ quan tiếp nhận khai báo tạm trú của những trường hợp như trên có trách nhiệm thông báo cho Đồn biên phòng nơi có cơ sở lưu trú để phối hợp quản lý, kiểm tra, kiểm soát

1.2.1.6 Về gia hạn tạm trú

Quy định tại Điều 35 Luật NCXCQCCT năm 2014 về gia hạn tạm trú đối với

NNN ở Việt Nam:“Người nước ngoài khi làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam

được đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh của Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng đóng dấu chứng nhận tạm trú với các loại thời hạn cụ thể theo quy định của pháp luật

26 Khoản 1 Điều 34 Luật NCXCQCCTnăm 2014

27 Điều 29 Nghị định 82/2018/NĐ-CP

Trang 33

Việt Nam,các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên 28 ” Sau đó, khi có nhu

cầu gia hạn tạm trú của mình, NNN đang tạm trú tại Việt Nam phải thực hiện đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân, cơ sở lưu trú bảo lãnh làm thủ tục tại cơ quan quản

lý xuất nhập cảnh hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Ngoại giao

Thẩm quyền được cho gia hạn tạm trú được Luật NCXCQCCT năm 2014 giao cho Bộ Ngoại giao và cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an NNN thuộc các trường hợp được quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 8,Luật NCXCQCCT năm

2014 khi muốn gia hạn tạm trú phải đề nghịcơ quan, tổ chức, cá nhân mời, cơ sở lưu trú bảo lãnh trực tiếp gửi văn bản đề nghịđể gia hạn tạm trú, kèm theo hộ chiếu hoặc những giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế của người này tại cơ quan có thẩm quyền của

Bộ Ngoại giao Theo Điều 3 Thông tư số 04/2016/TT-BNG ngày 30/6/2016 của Bộ Ngoại giao về hướng dẫn các thủ tục cấp thị thực, gia hạn thời gian tạm trú, cấp thẻ tạm trú cho NNN tại Việt Nam thuộc thẩm quyền của Bộ Ngoại giao (sau đây gọi tắt là Thông tư số 04/2016/TT-BNG), thì thẩm quyền gia hạn tạm trú cho NNN được cấp thị thực có các ký hiệu NG1, NG2, NG3, NG4 là của Cục Lãnh sự và Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài 4 trường đã nêu, các trường hợp được cấp thị thực còn lại với ký hiệu LV1, LV2,ĐT, DN, NN1, NN2,NN3, DH, HN, PV1,PV2,LĐ, DL, TT, VR và SQ khi muốn gia hạn tạm trú thì phải đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhânmời, bảo lãnh làm thủ tục tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh -

Bộ Công an hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

1.2.2 Quy định của pháp luật về cấp thẻ tạm trú người nước ngoài

“Thẻ tạm trú là loại giấy tờ do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh hay cơ quan

có thẩm quyền của Bộ Ngoại giao cấp cho NNN được phép tạm trú có thời hạn tại Việt Nam và có giá trị thay thị thực29”

28 Điều 35 Luật NCXCQCCTnăm 2014

29 Khoản 13 Điều 3 Luật NCXCQCCTnăm 2014

Trang 34

1.2.2.1 Về chủ thể được cấp thẻ tạm trú

Người nước ngoài khi nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam tùy theo nhu cầu, mục đích mà được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp thẻ tạm trú Thẻ tạm trú là loại giấy tờchứng nhận được pháp luật quy định để giảm bớt những thủ tục hành chính khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NNN nhập cảnh, xuất cảnh và tạm trú tại Việt Nam trong một thời hạn nhất định, để NNN dễ dàng làm việc, cư trú Bên cạnh đó, không phải NNN nào cũng được xét cấp thẻ tạm trú mà người được cấp thẻ tạm trú phải được liệt kê rõ ràng tại Điều 36 Luật NCXCQCCT năm 2014, gồm:

(1) NNN là thành viên các cơ quan đại diện ngoại giao, các cơ quan lãnh sự, các cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, tổ chức liên chính phủ tại Việt Nam và vợ, chồng, con dưới 18 tuổi, những người giúp việc cùng đi theo nhiệm kỳ của người họ;

(2) NNN được cấp thị thực theo ký hiệu LV1,LV2, ĐT, NN1, NN2,DH, PV1,

LĐ, TT30

Theo quy định Luật số 51/2019/QH14, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật NCXCQCCT năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung thêm một số trường hợp thị thực

có ký hiệu ĐT1, ĐT2, ĐT3 ( thay thế ĐT), LĐ1, LĐ2 ( thay thế LĐ) và LS

Như vậy, có thể thấy được rằng pháp luật nước ta đã ưu tiên đặc biệt, tạo điều kiện cho những NNN tạm trú tại Việt Nam từ yêu cầu thiết yếu mục đích nhập cảnh, nghề nghiệp, công việc liên quan đến công tác ngoại giao, kể cảđối với những người thân, có quan hệ đi cùng nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho công việc và cuộc sống của người đó, cho phép họ ra, vào, tạm trú tại Việt Nam Trong đó Luật sửa đổi đã cụ thể hóa cho phép một số trường hợp có thời gian tạm trú dài hơn so với những chủ thể thông thường khác như ĐT1 được cấp thẻ tạm trú có thời hạn không quá 10 năm

1.2.2.2 Về thẩm quyền giải quyết cấp thẻ tạm trú

Theo quy định tại khoản 2 Điều 37Luật NCXCQCCT năm 2014 quy định về

cơ quan có thẩm quyền giải quyết cấp thẻ tạm trú như sau:

30 Điều 36 Luật NCXCQCCTnăm 2014

Trang 35

Cơ quan chức năng có thẩm quyền của Bộ ngoại giao có trách nhiệm cấp thẻtạm trú đối với những trường hợp NNN là thành viên cơ quan đại diện ngoại giao, các cơ quan lãnh sự, các cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức liên chính phủ tại Việt Nam và vợ, chồng, con dưới 18 tuổi, người giúp việc cùng đitheo nhiệm kỳ của họ Theo Khoản 2, Khoản 3, Điều 3 Thông tư

số 04/2016/,TT-BNG, Cục Lễ tân Nhà nước (Bộ Ngoại giao) là cơ quan tiếp nhận

và giải quyết những đềnghị cấp thẻ tạm trú cho NNN thuộc diện trên (trừ thành viên của cơ quan lãnh sự nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh và vợ, chồng, con dưới

18 tuổi, người giúp việc cùng đi theo nhiệm kỳ của thành viên này); Sở Ngoại vụ Thành phốHồ Chí Minh tiếp nhận và giải quyết những đề nghị cấp thẻ tạm trú cho NNN là thành viên cơ quan lãnh sự nước ngoài được đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh và vợ, chồng, con dưới 18 tuổi, người giúp việc cùng đi theo nhiệm kỳ của

họ

Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh bao gồm Cục Quản lý xuất nhập cảnh thuộc

Bộ Công an và Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền giải quyết những đề nghị cấp thẻ tạm trú đối với người nước ngoài có thị thực các ký hiệu là LV1,LV2, LS, ĐT1, ĐT2,ĐT3, NN1,NN2, DH, PV1, LĐ1, LĐ2, TT

Như vậy ta thấy rằng, thẩm quyền cấp thẻ tạm trú và thẩm quyền chứng nhận tạm trú dành cho NNN tại Việt Nam có sự khác nhau Thẩm quyền chứng nhận tạm trú thuộc về cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an và lực lượng Bộ đội Biên phòng thuộc Bộ Quốc phòng Trong khi đó, thẻ tạm trú được cấp cho NNN do

cơ quan quản lý xuất nhập cảnh,Cục Lễ tân Nhà nước và Sở Ngoại vụ Thành phố

Trang 36

ủy quyền của NNN (là thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao,các cơ quan lãnh

sự, các cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, tổ chức liên chính phủ tại Việt Nam và vợ, chồng, con dưới 18 tuổi, người giúp việc cùng đi theo nhiệm kỳ) khi đó gửi hồ sơ đề nghị để cấp thẻ tạm trú ký hiệu NG3 tại Cục Lễ tân Nhà nước hoặc Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh;

Theo khoản 2 Điều 37 Luật NCXCQCCT năm 2014, luật sửa đổi bổ sung một

số điều Luật Luật NCXCQCCTquy định “các cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, cơ sở

lưu trú bảo lãnh trực tiếp nộp hồ sơ đề nghị được cấp thẻ tạm trú ký hiệu tương ứng cho NNN đó có thị thực với các ký hiệu LV1, LV2, LS, ĐT1, ĐT2, ĐT3, NN1, NN2,

DH, PV1, LĐ1, LĐ2, TT tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi cơ quan, tổ chức mời, cơ sở lưu trú bảo lãnh đặt trụ sở hoặc nơi cá nhân mời, bảo lãnh cư trú 31 ”.Hồ sơ đề nghị cấp thẻ tạm trú đối với NNN thuộc diện

được cấp thẻ tạm trú tại Việt Nam quy định tại Khoản 2 Điều 4 thông tư 31/2015/TT-BCA bao gồm: Văn bản đề nghị của cơ quan, tổ chức ( mẫu NA 6), cá nhân ( mẫu NA7) làm thủ tục mời, cơ sở lưu trú bảo lãnh; tờ khai đề nghị được cấp thẻ tạm trú có dán ảnh (mẫu NA 8); hộ chiếu; giấy tờ chứng minh của người nước ngoài xin được tạm trú thuộc trường hợp được cấp thẻ tạm trú được quy định tại Điều 36Luật NCXCQCCT năm 2014

1.2.2.4 Về thời hạn thẻ tạm trú

Theo quy định tại Điều 38Luật NCXCQCCT năm 2014 và khoản 4 Điều 4

Thông tư 31/2015/TT-BCA quy định:“thời hạn thẻ tạm trú được cấp phù hợp với

mục đích nhập cảnh và đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân 32 ”.Thời hạn thẻ tạm

trú từ 01 đến 05 năm Thời hạnđược cấp thẻ tạm trú phải ngắn hơn thời hạn còn lại của hộchiếu ít nhất là 30 ngày và được chia làm nhiều thời hạn khác nhau phụ thuộc

ký hiệu của thẻ tạm trú Thẻ tạm trú có ký hiệu NG3,LV1, LV2,ĐT, DH có thời hạn tạm trú không quá 05 năm Đối với các thẻ tạm trú ký hiệu NN1, NN2, TT thì có

31 Khoản 1 Điều 34 Luật NCXCQCCT năm 2014

32 Điều 38 Luật NCXCQCCT năm 2014 và khoản 4 Điều 4 Thông tư 31/2015/TT-BCA

Trang 37

thời hạn không quá 03 năm và thẻ tạm trú ký hiệu như LĐ, PV1 có thời hạn không quá là 02 năm

Khắc phụ và tạo điều kiện cho NNN được tạm trú Luật 51/2019/QH14, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật NCXCQCCT người nước ngoài tại Việt Nam

đã bổ sung thêm một số trường hợp thị thực có ký hiệu ĐT1, ĐT2, ĐT3 ( thay thế ĐT), LĐ1, LĐ2 ( thay thế LĐ) và LS Thời hạn thẻ tạm trú người nước ngoài có thị thực ký hiệu ĐT1 thời hạn thẻ tạm trú không quá 10 năm Thẻ tạm trú có ký hiệu NG3, LV1, LV2, LS, ĐT2 và DH có thời hạn không quá 05 năm Thẻ tạm trú có ký hiệu NN1, NN2, ĐT3, TT có thời hạn không quá 03 năm Thẻ tạm trú có ký hiệu LĐ1, LĐ2 và PV1 có thời hạn không quá 02 năm.Thẻ tạm trú khi hết hạn được xem xét cấp thẻ mới Theo quy định thời hạn của Luật 51/2019/QH14 có sự thay đổi về thời gian kéo dài hơn so với Luật 47/2014/QH13 và cho phép chuyển đổi mục đích, tạo điều kiện cho người nước ngoài được cấp thẻ tạm trú và khai báo tạm trú

1.3 Quy định pháp luật về đăng ký, quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại khu công nghiệp

Hiện nay những quy định pháp luật điều chỉnh về đăng ký và quản lý tạm trú đối với người nước ngoài tại các khu công nghiệp được thực hiện theo Luật NCXCQCCT 2014; Luật số 51/2019/QH14 sửa đổi bổ sung một số điều Luật NCXCQCCT người nước ngoài tại Việt Nam và một số văn bản hướng dẫn thi hành Trong đó hoạt động đăng ký, quản lý tạm trú người nước ngoài trong khu công nghiệp được pháp luật quy định như sau:

1.3.1 Các điều kiện để được tạm trú trong khu công nghiệp

Theo Luật NCXCQCCT 2014 quy định chỉ cho phép người nước ngoài cư trú

đề làm việc tại các KCN dưới hình thức tạm trú, không được cư trú dưới hình thức

thường trú Cụ thể, Khoản 1Điều 34 Luật NCXCQCCT 2014 quy định: “NNN được

tạm trú ở cơ sở lưu trú tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu, khu

Trang 38

kinh tế ven biển và thực hiện việc khai báo tạm trú theo quy định tại Điều 33 Luật NCXCQCCT năm 2014 33 ”

Mặc khác tại Khoản 3 Điều 29Nghị định 82/2018/NĐ-CP quy định:“ Trong

trường hợp cần thiết người nước ngoài gồm nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia được phép tạm trú tại doanh nghiệp trong khu công nghiệp 34 ” Như

vậy,chỉ cho phép NNN được tạm trú tại cơ sở lưu trú của doanh nghiệp trong các KCN để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp dưới các hình thức như: Nhà quản lý, giám đốc điều hành và với tư cách chuyên gia của doanh nghiệp mà không được tạm trú với các mục đích khác như du lịch, thăm thân,

du học, luật sư Đây là một trong những quy định đặc trưng về tạm trú của NNN ngoài tại các KCN so với các trường hợp tạm trú ở nơi khác

Người nước ngoàiđược tạm trú và khai báo tạm trú trong khu công nghiệp với

mục đích làm “ quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia phục vụ hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp” Các đối tượng được tạm trú trong khu công

nghiệp được pháp luật Lao động xác định “Nhà quản lý” là quản lý doanh nghiệp

theo quy định tại khoản 18 Điều 4, Luật Doanh nghiệp hoặc là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức 35 ; “Giám đốc điều hành” là người

đứng đầu và trực tiếp điều hành đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp 36 ; “Chuyên gia” là lao động nước ngoài thuộc một trong các trường hợp

sau: Có văn bản xác nhận là chuyên gia của cơ quan, tổ chức doanh nghiệp tại nước ngoài hoặc có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công việc

mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việt tại Việt Nam; trường hợp đặc biệt

do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định 37

Để được tạm trú tại các KCN thì NNN phải đủ các điều kiện nhất định theo

quy định “ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh; không kèm theo gia đình, người

33 Khoản 1 Điều 34 Luật NCXCQCCT năm 2014

34 Khoản 3 Điều 29 Nghị định 82/2018/NĐ-CP

35 Điểm a Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP

36 Điểm b Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP

37 Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 11/2016/NĐ-CP

Ngày đăng: 20/04/2021, 10:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Viện nghiên cứu lập pháp, Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cư trú, điều kiện cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị
25. Cao Vũ Minh (2012), “Bàn về những nghịch lý trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật”, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về những nghịch lý trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật”, "tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2012
26. Đinh Thị Minh Tuyết (2013), “Một số quy định đối với lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam”, tạp chí Quản lý nhà nước số 208 (5/2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quy định đối với lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam”, "tạp chí Quản lý nhà nước
Tác giả: Đinh Thị Minh Tuyết
Năm: 2013
27. Nguyễn Thị Kim Huệ (2018), “Thể chế quản lý lao động người nước ngoài - Một số vấn đề từ thực tiễn”, tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 01/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế quản lý lao động người nước ngoài - Một số vấn đề từ thực tiễn”, "tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Huệ
Năm: 2018
28. Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
29. Nguyễn Thảo, Nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và một số giải pháp, Ban Nội chính Trung ương, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam – Thực trạng và một số giải pháp
30. Nguyễn Thị Thiện Trí (chủ biên) (2013), Quyền tự do cư trú của công dân trong giai đoạn hiện nay, Nxb. Dân Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tự do cư trú của công dân trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thiện Trí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Dân Trí
Năm: 2013
31. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với người nước ngoài tại Việt Nam”, tạp chí Quản lý nhà nước số 258 (7/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với người nước ngoài tại Việt Nam”, "tạp chí Quản lý nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Năm: 2017
32. Trần Đại Quang, Quản lý cư trú – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Công an nhân dân, năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý cư trú – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
33. Phạm Hoàng Linh (2014), “Pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế”, tạp chí Dân chủ và pháp luật, số định kỳ tháng 12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế”, "tạp chí Dân chủ và pháp luật
Tác giả: Phạm Hoàng Linh
Năm: 2014
34. Phạm Đức Chính, Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội
35. Vũ Thành Luân (2017), “Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam”, tạp chí Quản lý nhà nước số 260 (9/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam”, "tạp chí Quản lý nhà nước
Tác giả: Vũ Thành Luân
Năm: 2017
36. Vũ Thành Luân, Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài ở các thành phố trực thuộc Trung ương phía Nam Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về cư trú của người nước ngoài ở các thành phố trực thuộc Trung ương phía Nam Việt Nam
37. Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
4. Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Luật số: 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014 Khác
5. Luật số: 51/2019/QH14 ngày 25/11/2019 Sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Khác
7. Pháp lệnh Số: 24/2000/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 28/4/2000 về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (hết hiệu lực) Khác
8. Nghị định 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam (hết hiệu lực) Khác
9. Thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT-BCA-BNG ngày 12/5/2009 của Bộ Ngoại giao, Bộ Công an hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam Khác
10. Nghị định số 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/8/2013 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w