Thực trạng công tác quản lý và huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng chương trình nông thôn mới tại huyện Giang Thành .... Trước thực trạng này, tác giả cho rằng việc thực hiện đề tài nghiê
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG VĂN CƯỜNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Học viên
Trần Thiện Nhàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện Luận văn Thạc sỹ, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của nhiều tổ chức, tập thể và cá nhân
Đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy Tiến Sỹ Đặng Văn Cường
đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể quý Thầy, Cô - Khoa Quản lý Nhà nước
- Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn, truyềnđạt kiến thức và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian theo học, thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo: UBND huyện, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Chi cục Thống kê, UBND các xã thuộc huyện Giang Thành đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của các Anh chị học viên, người thân, bạn bè và đồng nghiệp trong thời gian học và làm Luận văn Tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trần Thiện Nhàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ x
TÓM TẮT xi
ABSTRACT xiii
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu tổng quát 4
2.2 Mục tiêu cụ thể 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Nội dung nghiên cứu 5
5 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG THUỘC CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 6
1.1 Khái niệm tổng quan 6
1.1.1 Khái niệm về vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn mới 6
1.1.2 Khái niệm về quản lý và huy động vốn trong xây dựng nông thôn mới 6 1.1.3 Nguyên tắc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 8
Trang 61.2 Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 9
1.2.1 Khái niệm về nông thôn mới 9
1.2.2 Khái niệm về xây dựng nông thôn mới 10
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và huy động nguồn vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn mới 11
1.4 Cơ cấu nguồn vốn và các phương thức huy động vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn mới 11
1.4.1 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư 12
1.4.2 Các phương thức huy động vốn đầu tư 13
1.4.3 Sự cần thiết phải huy động vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn mới 15 1.5 Bài học kinh nghiệm 16
1.5.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang 16
1.5.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của huyện Hòn đất, tỉnh Kiên Giang 20
1.5.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang 22
1.5.4 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của tỉnh Long An 25
1.5 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quản lý và huy động nguồn vốn thực hiện xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG NHẰM XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG 29
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang 29
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
2.1.1.1 Vị trí địa lý 29
Trang 72.1.1.2 Địa hình, khí hậu, thủy văn 31
2.1.1.3 Cơ cấu sử dụng đất đai 33
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 37
2.1.2.1 Dân số và lao động 37
2.1.2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng 38
2.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang 41
2.1.3.1 Thuận lợi: 41
2.1.3.2 Khó khăn: 41
2.2 Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm xây dựng NTM tại huyện Giang Thành giai đoạn 2010 - 2019 42
2.2.1 Thực trạng công tác quản lý và huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng chương trình nông thôn mới tại huyện Giang Thành 42
2.2.2 Kết quả thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành giai đoạn 2010 - 2019 45
2.2.2.1 Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới 45
2.2.2.2 Kết quả đạt được trong xây dựng nông thôn mới 47
2.2.2.3 Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Giang Thành sau 10 năm xây dựng nông thôn mới 55
2.2.3 Cơ cấu huy động nguồn vốn đầu tư cho chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành giai đoạn 2010 - 2019 57
2.2.3.1 Huy động nguồn vốn ngân sách Nhà nước 57
2.2.3.2 Huy động nguồn vốn tín dụng 61
2.2.3.3 Huy động nguồn vốn từ doanh nghiệp 63
2.2.3.4 Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư và các nguồn vốn khác 66 2.2.4 Thực trạng huy động và sử dụng nguồn vốn cho Chương trình xây dựng nông thôn mới tại 03 xã (Vĩnh Phú, Vĩnh Điều, Tân Khánh Hòa) thuộc huyện
Trang 8Giang Thành 68
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu 72
2.3.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 72
2.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 72
2.3.1.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 73
2.3.2 Kết quả điều tra, khảo sát về thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại 3 xã nghiên cứu thuộc huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang 73
2.3.2.1 Kết quả phỏng vấn các hộ dân trên địa bàn các xã Vĩnh Phú, Phú Mỹ và Tân Khánh Hòa 73
2.3.1.2 Kết quả phỏng vấn cán bộ làm công tác xây dựng NTM trên địa bàn các xã Vĩnh Phú, Phú Mỹ và Tân Khánh Hòa 76
2.4 Đánh giá công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành 79
2.4.1 Ưu điểm 79
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 80
2.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và huy động vốn đầu tư cho chương trình nông thôn mới tại huyện Giang Thành 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠNG TẦNG NHẰM XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG 86
3.1 Phương hướng nhiệm vụ 86
3.1.1 Phương hướng 86
3.1.1.1 Mục tiêu chung 86
3.1.1.2 Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2020 - 2025 86
3.1.1.3 Khả năng huy động vốn và sử dụng nguồn vốn 86
3.1.2 Nhiệm vụ 87
Trang 93.1.2.1 Điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống quy hoạch xây dựng Chương trình
nông thôn mới vùng huyện Giang Thành 87
3.1.2.2 Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành: 87
3.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm xây dựng nông thôn mới huyện Giang Thành 87
3.3 Kiến nghị 91
3.3.1 Đối với Bộ, Ngành Trung ương 91
3.3.2 Đối với địa phương 91
3.3.2.1 Đối với UBND tỉnh Kiên Giang 91
3.3.2.2 Đối với các Sở, ngành 92
3.3.2.3 Đối với UBND cấp huyện, xã 92
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
Trang 10DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
TH&THCS : Tiểu học và Trung học cơ sở
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Giang Thành năm 2020 36
Bảng 2.2: Hiện trạng dân số theo các đơn vị hành chính năm 2019 37
Bảng 2.3: Nguồn vốn huy động cho xây dựng NTM tại huyện Giang Thành,
giai đoạn 2010 - 2019 44
Bảng 2.4: Kết quả thực hiện các tiêu chí Chương trình xây dựng NTM huyện Giang Thành 2011 - 2019 54
Bảng 2.5: Tình hình kinh tế - xã hội huyện Giang Thành năm 2011-2019 56
Bảng 2.6: Cơ cấu nguồn vốn huy động từ NSNN cho xây dựng NTM tại
huyện Giang Thành giai đoạn 2010 - 2019 59
Bảng 2.7: Vốn tín dụng cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành ,
giai đoạn 2010 - 2019 62
Bảng 2.8: Vốn từ doanh nghiệp cho xây dựng NTM tại huyện Giang Thành,
giai đoạn 2010 - 2019 65
Bảng 2.9: Vốn từ đóng góp của cộng đồng cho xây dựng NTM tại huyện
Giang Thành, giai đoạn 2010 - 2019 67
Bảng 2.10: Tình hình huy động vốn cho xây dựng NTM giai đoạn 2010 -
2019 tại 03 xã lấy phiếu khảo sát 69
Bảng 2.11: Kết quả huy động vốn theo các lĩnh vực đầu tư của các xã giai
đoạn 2010 - 2019 70
Bảng 2.12: Tổng hợp kết quả phỏng vấn các hộ dân 74
Bảng 2.13: Tổng hợp kết quả phỏng vấn cán bộ 77
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Giang Thành - tỉnh Kiên Giang 30
Đồ thị 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động cho xây dựng NTM tại huyện Giang Thành, giai đoạn 2010 - 2019 43
Đồ thị 2.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động cho chương trình NTM tại huyện Giang Thành giai đoạn 2010 - 2020 60
Trang 13TÓM TẮT
Phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị, là sự nghiệp của toàn thể nhân dân Huyện Giang Thành đã và đang thực hiện việc đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện Sau thời gian thực hiện, chương trình này bước đầu đã mang lại thành tựu cho địa phương, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thách thức trong quá trình quản lý dòng vốn đầu tư xây dựng cơ bản vào hạ tầng nông thôn của địa phương
Cụ thể như là thu nhập của người dân nông thôn chưa thực sự bền vững, giá các mặt hàng nông sản không ổn định gây bất lợi cho người nông dân, sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, thiếu tập chung, chưa quy hoạch cụ thể từng vùng nguyên liệu theo cơ cấu vụ mùa, cơ cấu cây trồng, nhất là vùng trồng lúa chất lượng cao, trồng cây màu chuyên canh, luân canh, vùng cây ăn trái trên nền đất lúa để tạo điều kiện cho nông dân mạnh dạn đầu tư sản xuất theo quy hoạch Liên kết sản xuất giữa nông dân với nông dân còn hạn chế, lỏng lẻo thiếu sự liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia vào đầu tư sản xuất trong lĩnh vực Nông nghiệp, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn để phát triển sản xuất Trước thực trạng này, tác giả cho rằng việc thực hiện đề tài nghiên cứu về các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang là cần thiết
Luận văn hướng đến việc thực hiện mục tiêu phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc “Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành Kết hợp với các nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm từ các địa phương khác, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý, tăng cường huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc “Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới
Trang 14Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua thu thập dữ liệu thứ cấp từ 2017 – 2019 tại huyện Giang Thành
và tiến hành khảo sát dữ liệu sơ cấp nhằm bổ sung minh chứng thực nghiệm làm cơ
sở phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu Kết quả cho thấy, những hạn chế còn tồn tại chủ yếu gồm: khó khăn trong công tác quản lý, điều hành còn lúng túng do các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo; Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực của một số cán bộ, công chức ở cơ sở còn hạn chế, do đó còn lúng túng trong quá trình thực hiện từ đó dẫn đến kết quả đạt được không cao; Nhu cầu về vốn để thực hiện xây dựng NTM là rất lớn, trong khi nguồn lực từ NSNN thì có giới hạn;… Từ đó, luận văn đưa ra các giải pháp cho địa phương nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới
Ngoài ra, luận văn còn một số hạn chế về thời gian thực hiện, dữ liệu khảo sát, phương pháp nghiên cứu,… và đây cũng là vấn đề có thể thực hiện các nghiên cứu mở rộng về sau
Trang 15is small, lack of concentration, no specific planning each material area according to crop structure, crop structure, especially high-quality rice growing areas, specialized crops, rotation, fruit tree areas on the rice ground to create conditions for farmers to
be strong boldly invest in production according to planning Production linkages between farmers and farmers are limited and loose there is a lack of links between production and consumption, and has not attracted many businesses to invest in production in the Agriculture sector People still face many difficulties in accessing capital sources for production development Facing this situation, the author said that the implementation of research projects on solutions to improve the management of investment in infrastructure construction under the New Rural Construction Program in Giang Thanh District, Kien Giang Province is necessary
Thesis aims to analyze and assess the management of infrastructure
construction investment under the "New Rural Construction Program" in Giang Thanh district Combined with theoretical studies and experiences from other localities, from there proposing solutions to improve management, increase mobilization of investment capital for infrastructure construction under the
“Program building a new countryside” in Giang Thanh district, Kien Giang province in the coming time To achieve the research objectives, the thesis uses qualitative research methods through the collection of secondary data from 2017 to
Trang 162019 in Giang Thanh district and conduct a survey of primary data to supplement empirical evidence as a basis for analyzing the current state of the research problem The results show that the main shortcomings include: difficulties in management and administration, confusion due to documents guiding and directing; The professional qualifications, skills and capabilities of a number of grassroots cadres and civil servants are limited, so they are confused in the implementation process, resulting in not high results; The need for capital to implement the construction of the NTM is very large, while the resources from the state budget are limited; Since then, the thesis offers local solutions to perfect the management of construction investment Infrastructure under the New Rural Construction Program
In addition, the thesis still has a number of limitations on implementation time, survey data, research methods, and this is also a problem that can be performed later on
Trang 17TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1 Sự cần thiết của đề tài
Huyện Giang Thành được thành lập theo Nghị quyết 29/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ trên cơ sở tách huyện Kiên Lương cũ thành huyện Kiên Lương (mới) và thành lập huyện Giang Thành Huyện Giang Thành có diện tích tự nhiên 41.284,35 ha, có 5 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã Tân Khánh Hòa, Phú Lợi, Phú Mỹ, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú, với 29 ấp, có đường biên giới dài 42,8 Km, với dân số 30.157 khẩu (trong đó, dân tộc Khmer có 1.485 hộ với 5.840 khẩu chiếm 19,36%, dân số huyện); tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 0,97%; toàn huyện có 650 hộ nghèo, với 2.507 khẩu, chiếm tỷ lệ 8,31%; Hộ cận nghèo có 574 hộ, với 2.130 khẩu, chiếm 7,52% Huyện có 01 cửa khẩu quốc gia Giang Thành và 03 đường tiểu ngạch (Nha Sáp, Chợ Đình, Cây Dương)
Chính sách giáo dục và đào tạo luôn được cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo thường xuyên, toàn huyện có 16 điểm trường (01 THPT, 03 THCS, 02 TH&THCS, 05 TH, 05 MN), tỷ lệ tốt nghiệp THPT, đậu cao đẳng, đại học hàng năm đạt khá (học sinh tốt nghiệp THPT đạt 99-100%, đậu Đại học, Cao đẳng đạt tỷ
lệ so với học sinh đậu tốt nghiệp 66,28% -70%)
Công tác y tế, chăm lo sức khỏe nhân dân: Huyện có 01 trụ sở tạm trung tâm
y tế với 40 giường bệnh, tỷ lệ bao phủ thẻ BHYT hiện nay đạt 89,67%
Do điều kiện đất đai rộng lớn, vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông hậu, trên địa bàn huyện có một con sông (sông Giang Thành) và hệ thống kênh, rạch chằng chịt, thuận lợi cho việc tưới tiêu và giao thông đi lại
Huyện Giang Thành có tiềm năng, thế mạnh về phát triển kinh tế nông nghiệp sản xuất lúa, hoa màu và nuôi trồng thủy sản Diện tích gieo sạ hàng năm là 29.500 ha, Sản lượng lương thực hàng năm bình quân đạt gần 188.000 tấn, bình quân 6,37 tấn/ha, với diện tích nuôi trồng thủy sản 3.600 ha, sản lượng hàng năm bình quân 7.630 tấn (Trong đó: Tôm 7.230 tấn, cá 300 tấn, cua 100 tấn)
Phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng NTM là nhiệm vụ chính trị trọng
Trang 18tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị, là sự nghiệp của toàn thể nhân dân Để quán triệt “Nghị quyết số 26/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)”, Chính phủ đã xây dựng “Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”, đề ra 19 tiêu chí trên tất cả các mặt đời sống, kinh tế -
xã hội ở nông thôn, nhằm cải thiện và chăm lo đời sống nhân dân, phát triển kinh tế
- xã hội bền vững trên địa bàn nông thôn
Huyện Giang Thành có vị trí quan trọng về quốc phòng - an ninh, có thế mạnh về phát triển nông nghiệp, chế biến nông sản và phát triển về du lịch - dịch
vụ Trong quá trình phát triển, các thế mạnh nêu trên đã từng bước được khai thác
và phát huy, nhìn chung kinh tế còn thuần nông, công nghiệp và dịch vụ còn chậm phát triển, thương mại qua biên giới còn hạn chế; cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, nghèo nàn, mật độ dân số thấp, đời sống người dân trong huyện còn nhiều khó khăn
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, “Nghị quyết số NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X” đã xác định quan điểm chỉ đạo “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
26-có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, gìn vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt”
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới” và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các ngành, các cấp và sự đồng thuận của người dân trong toàn huyện Chương trình đã đạt được nhiều kết quả như: Kết cấu kinh tế hạ tầng xã hội ở nông thôn đã có sự chuyển biến rõ rệt, ngày một đổi mới hiện đại đặc biệt là giao thông, trường học, cơ sở vật chất văn hoá đã góp
Trang 19phần thay đổi rõ nét vùng nông thôn, kinh tế nông nghiệp phát triển, tăng năng xuất, tăng thu nhập cho người dân, từ đó đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn từng bước được cải thiện
Tính đến cuối năm 2019, toàn huyện có 2/5 xã được UBND tỉnh công nhận
xã đạt chuẩn NTM (Tân Khánh Hòa, Phú Mỹ), các xã còn lại như: Vĩnh Điều đạt 17 tiêu chí, Vĩnh Phú đạt 14 tiêu chí, Phú Lợi Đạt 13 tiêu chí; Thu nhập bình quân khoảng 46,09 trđ/người/năm; Hiện nay, có 5/5 xã lập và được phê duyệt quy hoạch xây dựng NTM, đạt tỷ lệ 100%;
Giao thông được cứng hóa 344/404km đường giao thông nông thôn; Hệ thống thủy lợi hiện có 47 trạm bơm điện, bờ bao và kênh thủy lợi được nạo vét và xây dựng đảm bảo chống ngập úng cho 29.500 ha đất sản xuất lúa; Điện đến nay đã hoàn thành 7,2/53,2km điện vùng lõm, người dân sử dụng điện thường xuyên an toàn đạt 98,60%; Hệ thống trường học được quan tâm đầu tư xây dựng, hiện có 15/15 trường có cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn quốc gia Phấn đấu đến năm 2025 có 5/5 xã đạt chuẩn NTM Phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người dân là nhiệm vụ trọng tâm mang tính quyết định cho sự thành công và bền vững của Chương trình, cũng như sự hài lòng của người dân
Bên cạnh những kết quả đạt được từ Chương trình thì vẫn còn không ít những khó khăn, thách thức, nhất là thu nhập của người dân nông thôn chưa thực sự bền vững, giá các mặt hàng nông sản không ổn định gây bất lợi cho người nông dân, sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, thiếu tập chung, chưa quy hoạch cụ thể từng vùng nguyên liệu theo cơ cấu vụ mùa, cơ cấu cây trồng, nhất là vùng trồng lúa chất lượng cao, trồng cây màu chuyên canh, luân canh, vùng cây ăn trái trên nền đất lúa
để tạo điều kiện cho nông dân mạnh dạn đầu tư sản xuất theo quy hoạch Liên kết sản xuất giữa nông dân với nông dân còn hạn chế, lỏng lẻo thiếu sự liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia vào đầu tư sản xuất trong lĩnh vực Nông nghiệp, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn để phát triển sản xuất Vì vậy, cần có những giải pháp như: Chính sách liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa nông dân và doanh
Trang 20nghiệp, có những chính sách nhằm thu hút được sự đầu tư của doanh nghiệp vào các lĩnh vực như: Đưa khoa học, kỹ thuật và công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp,
Xuất phát từ tình hình trên và những yêu cầu thực tiễn, tình hình hoạt động ảnh hưởng đến đời sống của người dân, nên tôi thấy sự cần thiết phải nghiên cứu Đề
tài về “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Luận văn hướng đến mục tiêu phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc “Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành Kết hợp với các nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm từ các địa phương khác, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý, tăng cường huy động nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc “Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích, đánh giá thực trạng về “công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang
- Đề xuất các “giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng và “giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang
Trang 213.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang
- Phạm vi về thời gian:
+ Thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2019
+ Thu thập số liệu sơ cấp năm 2020
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý, huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình xây dựng NTM
- Thực trạng công tác quản lý, huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc “Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành
- Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc “Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý, huy động vốn đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc “Chương trình xây dựng nông thôn mới” tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm có 3 Chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc “Chương trình xây dựng nông thôn mới”
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng nhằm xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG THUỘC CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Khái niệm tổng quan
1.1.1 Khái niệm về vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn mới
Theo Lê Văn Việt (2017) thì “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp để thực hiện các hoạt động đầu tư, là toàn bộ những chỉ tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định, thường được thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động”
Từ nghiên cứu trên, vốn đầu tư cho xây dựng NTM là toàn bộ những chi phí đầu tư để hình thành nên tài sản cố định, hàng tồn kho, tài sản vô hình sử dụng trong xây dựng NTM
1.1.2 Khái niệm về quản lý và huy động vốn trong xây dựng nông thôn mới
“Cơ chế quản lý vốn đầu tư và xây dựng là các quy định của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền về các nội dung quản lý làm chế tài để quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng Nếu cơ chế quản lý vốn đầu tư và xây dựng mang tính đồng bộ cao sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh hoạt động đầu tư xây dựng, tiết kiệm trong hoạt động sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN, ngược lại nếu chủ trương đầu tư thường xuyên bị thay đổi sẽ gây ra những lãng phí to lớn đối với nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN
Huy động vốn là một quá trình trong đó có sử dụng các cách thức nhất định nhằm phát huy tối đa các nguồn lực tài chính phục vụ mục tiêu phát triển” (Lê Văn Việt, 2017)
* Cơ chế huy động vốn
Theo “Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011, chương trình MTQG xây dựng NTM quy định về cơ chế huy động vốn như sau: (Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Kế hoạch và đầu tư, Tài chính, 2011)
Trang 23(1) Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn, bao gồm: Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông thôn và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo và vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của chương trình xây dựng NTM - bao gồm cả vốn trái phiếu Chính phủ (nếu có)
(2) Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai chương trình HĐND tỉnh quy định tỷ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền
sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã (sau khi đã trừ đi chi phí) để lại cho ngân sách xã, ít nhất 70% thực hiện các nội dung xây dựng NTM, nhưng không vượt quá tổng mức đầu tư theo đề án được cấp
có thẩm quyền phê duyệt
(3) Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ngân sách nhà nước
hỗ trợ sau đầu tư và được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật
(4) Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể, do HĐND xã thông qua
(5) Các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư
(6) Các nguồn vốn tín dụng:
- Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được Trung ương phân bổ cho các tỉnh, thành phố theo chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn và theo danh mục quy định tại Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 của Chính phủ và các văn bản sửa đổi, bổ sung thay thế (nếu có)
- Vốn tín dụng thương mại theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn và Thông tư số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 của Ngân hàng Nhà nước
Trang 24hướng dẫn thực hiện Nghị định này
(7) Huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác”
1.1.3 Nguyên tắc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Trong công tác quản lý các nguồn vốn
đầu tư XDCB thì nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả là mục tiêu, phương hướng, tiêu chuẩn để đánh giá trình độ, năng lực Nội dung chủ yếu của nguyên tắc này là quản
lý nguồn vốn đầu tư sao cho lợi ích đạt được ở mức cao nhất Nguyên tắc tiết kiệm
và hiệu quả phải được xem xét, nhân rộng trên các lĩnh vực như: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và trên phạm vi toàn xã hội
Nguyên tắc tập trung, dân chủ: Trong công tác quản lý vốn đầu tư XDCB
theo nguyên tắc này thì tất cả các nguồn vốn phải được quản lý một cách tập trung, dân chủ và thống nhất theo cơ chế của Nhà nước thông qua các quy trình, chỉ tiêu, tiêu chuẩn, định mức, quy định về kỹ thuật một cách rành mạch và nhất quán Trong phân
bổ, bố chí vốn đầu tư XDCB phải có kế hoạch và quy hoạch tổng thể
Tính tập trung, dân chủ là đảm bảo công khai, minh bạch cho mọi người biết và cùng tham gia vào công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB theo phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Phát huy dân chủ sẽ tạo ra sự thi đua, nỗ lực, cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động sử dụng vốn đầu tư XDCB
Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích: Trong công quản lý vốn đầu tư
XDCB theo nguyên tắc này thì phải đảm bảo được sự hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, tập thể, doanh nghiệp và người lao động Theo nguyên tắc này, việc thanh toán cho
các nhà thầu phải thực hiện kịp thời, tránh tình trạng xảy ra nợ đọng vốn đầu tư
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng: Trong công
tác quản lý các nguồn vốn đầu tư XDCB theo ngành trước tiền là phải theo các tiêu chuẩn, định mức, quy định về kỹ thuật do các Bộ quản lý chuyên ngành và Bộ Xây dựng ban hành Quản lý theo vùng, lãnh, lãnh thổ, địa phương cơ bản là xây dựng đơn giá nhân công, ca máy, vật liệu theo tính đặc thù của từng địa phương
Nguyên tắc công khai, minh bạch: “Các dự án đầu tư và xây dựng có sử
Trang 25dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước được cơ quan có thẩm quyền quyết định giao
kế hoạch vốn đầu tư của Nhà nước trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đều phải thực hiện công khai tài chính, bao gồm các dự án được đầu tư 100% bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và các dự án được hỗ trợ đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước hàng năm cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, phải tiến hành công khai theo các nội dung sau:
Công khai việc phân bổ vốn đầu tư hàng năm cho các dự án đầu tư Công khai
về tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán được duyệt của dự án đầu tư Công khai kết quả lựa chọn nhà thầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Công khai số liệu quyết toán vốn đầu tư theo niên độ ngân sách hàng năm của dự án đầu tư Công khai số liệu quyết toán vốn đầu tư khi dự án đầu tư hoàn thành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt” (Bộ tài chính, 2005)
1.2 Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Khái niệm về nông thôn mới
“Theo Phạm Minh Quân (2016) thì NTM trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ” (Phạm Minh Quân, 2016)
Theo “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010) thì nông thôn được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008) đưa ra mục tiêu “Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo
Trang 26quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 2008)
Như vậy, NTM trước tiên được hiểu là nông thôn, khác với nông thôn truyền thống hiện nay và có những đặc điểm sau: (1) có cơ sở hạ tầng văn minh, hiện đại; (2) sản xuất phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa liên kết, bền vững; (3) đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện theo hướng nâng cao; (4) bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn, bảo tồn và phát triển; (5) xã hội nông thôn an ninh trật tự tốt, thể hiện sự công bằng, dân chủ
1.2.2 Khái niệm về xây dựng nông thôn mới
Theo Trịnh Thị Kim Dung (2015) thì “Xây dựng NTM mới là cuộc vận động toàn thể dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);
có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn, đảm bảo thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp, xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh” (Trịnh Thị Kim Dung, 2015)
Theo “Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Trung ương”, NTM có năm nội dung cơ bản như sau: “(i) nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại (ii) sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa (iii) đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao (iv) bản sắc văn hóa dân tộc được giữ vững và phát triển (v) xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ” (Ban chấp hành Trung ương Đảng 2008)
Những nội dung trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong quá trình triển khai thực hiện phải đồng bộ, toàn diện nhằm phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của người dân trong xây dựng NTM
Trang 271.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và huy động nguồn vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn mới
- Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý trong xây dựng NTM còn thiếu rất nhiều; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức xã còn hạn chế, nhất là trong quy hoạch (do họ chưa từng được đào tạo về chuyên môn trong công tác này), chưa có kinh nghiệm trong công tác quản lý và thực hiện việc xây dựng quy hoạch nông thôn Vì vậy, chưa thể đáp ứng được các yêu cầu trong công tác quy hoạch xây dựng NTM Việc tham gia của người dân và Ban quản lý cấp xã trong xây dựng NTM còn hạn chế, việc người dân chưa được tham gia vào quản lý với nhiều lý do khác nhau Từ đó dẫn đến chất lượng trong quy hoạch xây dựng NTM, nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra và hiệu quả chưa cao
- Các cơ chế chính sách trong sử dụng vốn của nhà nước: Mặc dù, nhà nước
có chủ trương cho sử dụng 40% ngân sách cho xây dựng NTM, nhưng do tình hình kinh tế đất nước đang bị ảnh hưởng lớn từ kinh tế thế giới, nên ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
- Các cơ chế chính sách trong việc thực hiện các hợp đồng vay tín dụng: hiện nay để tiếp cận được các nguồn vốn vay rất khó khăn do thủ tục vay còn rườm rà và vấn đề lãi xuất của các ngân hàng đưa ra luôn vượt mức trần quy định do họ phải tăng mức lãi xuất huy động Đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tín dụng theo
“Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ và Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn” còn gặp nhiều khó khăn, thì việc sử dụng nguồn vốn này vào mục đích đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho xây dựng NTM còn khó khăn hơn
- Thu nhập người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến việc huy động vốn trong cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng
1.4 Cơ cấu nguồn vốn và các phương thức huy động vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn mới
Trang 281.4.1 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư
* Các nguồn vốn thực hiện chương trình nông thôn mới
Theo “Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011”, Chương trình xây dựng NTM được đầu tư bằng 6 nguồn vốn như sau:
“(1) Vốn ngân sách (Trung ương và địa phương), bao gồm:
- Vốn từ các chương trình MTQG và các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn
- Vốn bố trí trực tiếp cho chương trình để thực hiện các nội dung theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
(2) Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (nếu có): Để đầu tư các dự án, chương trình theo Nghị quyết của Quốc hội
(3) Nguồn vốn tín dụng, bao gồm: Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn tín dụng thương mại
(4) Vốn đầu tư của doanh nghiệp
(5) Các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân trong xã; vốn huy động từ cộng đồng (các khoản đóng góp tự nguyện và viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước)
(6) Các nguồn vốn hợp pháp khác
(Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Kế hoạch và Đầu tư - Tài chính, 2011)”
* Cơ cấu nguồn vốn
Theo “Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ, tỷ lệ vốn góp từ các nguồn được quy định như sau: Nguồn vốn ngân sách chiếm khoảng 40% tổng nguồn vốn đầu tư cho Chương trình MTQG xây dựng NTM, vốn tín dụng khoảng 30%, vốn từ các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp khoảng 20% và khoảng 10% từ việc huy động đóng góp của cộng đồng dân cư”
Theo “Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 của Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình MTQG
Trang 29xây dựng NTM (2019), Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 và 10 năm triển khai Chương trình MTQG xây dựng NTM thì cả nước đã huy động được 2.418.474 tỷ đồng, trong đó, vốn ngân sách Trung ương 49.037 tỷ đồng, chiếm 2,1%; vốn ngân sách địa phương 250.287 tỷ đồng, chiếm 10,7%; vốn lồng ghép 314.235 tỷ đồng, chiếm 13,4%; vốn tín dụng 1.420.941 tỷ đồng, chiếm 60,5%; vốn doanh nghiệp 120.357 tỷ đồng, chiếm 5,1%; vốn cộng đồng 192.917 tỷ đồng, chiếm 8,2%” (Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình MTQG xây dựng NTM, 2019)
Như vậy, có thể thấy cơ cấu vốn thu được thực tế là không cân đối so với quy định So với Quyết định số 800/QĐ-TTg thì nguồn lực huy động từ NSNN và doanh nghiệp không đạt so với mục tiêu, trong khi đó vốn tín dụng đạt cao hơn
Theo “Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020, gồm 4 nguồn chính và phân theo tỷ lệ: (i) Ngân sách nhà nước (gồm ngân sách Trung ương
và ngân sách địa phương, phân thành vốn trực tiếp cho chương trình và vốn lồng ghép) khoảng 30%; (ii) Vốn tín dụng khoảng 45%; (iii) Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác khoảng 15%; (iv) Vốn đóng góp của cộng đồng dân cư khoảng 10%” (Thủ tướng Chính phủ, 2016)
1.4.2 Các phương thức huy động vốn đầu tư
Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 theo
“Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 và Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 của Chính phủ về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, theo đó các phương thức huy động vốn được đa dạng hóa các nguồn Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình MTQG; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn tỉnh, bao gồm: (Thủ tướng Chính phủ, 2010, 2012)
(1) Vốn từ các chương trình MTQG, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông thôn và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo gồm: chương trình giảm nghèo; chương trình quốc gia về việc làm;
Trang 30chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; chương trình phòng, chống tội phạm; chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình; chương trình phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh nguy hiểm và HIV/AIDS; chương trình thích ứng biến đổi khí hậu; chương trình về văn hóa; chương trình giáo dục đào tạo; chương trình 135; dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; hỗ trợ đầu tư trụ sở xã; hỗ trợ chia tách huyện, xã; hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi…; đầu
tư kiên cố hóa trường, lớp học; kiên cố hóa kênh mương; phát triển đường giao thông nông thôn; phát triển cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, làng nghề…
(2) Vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của chương trình này, bao gồm cả trái phiếu Chính phủ (nếu có)
(3) Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chương trình Hội đồng nhân dân tỉnh quy định tăng tỷ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã (sau khi đã trừ đi chi phí) để lại cho ngân sách xã, ít nhất 70% thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới
(4) Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ngân sách nhà nước
hỗ trợ sau đầu tư và được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật;
(5) Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể, do HĐND xã thông qua;
(6) Các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng: Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được trung ương phân bổ cho các tỉnh, thành phố theo chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn và theo danh mục quy định tại Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ; Vốn tín dụng thương mại theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính
Trang 31sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn
(7) Huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác”
1.4.3 Sự cần thiết phải huy động vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn mới
Huyện Giang Thành là một trong những huyện nghèo nằm trong Chương trình 135 của Chính phủ, đa số người dân sống bằng nghề nông nghiệp, nhưng lĩnh vực này lại phát triển không ổn định, do thiếu sự liên kết trong sản xuất Nhận thức
rõ những khó khăn nội tại, huyện đã tập trung nguồn lực để xây dựng NTM trở thành phong trào có sự thay đổi về chất Các phong trào phát triển sản xuất theo mô hình, có sự liên kết, hoặc kinh tế tập thể được khuyến khích, tạo thành phong trào sôi nổi ở các địa phương
Trong quá trình thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM huyện Giang Thành còn gặp không ích những khó khăn, vướng mắc, nhất là thiếu vốn đầu tư, để khắc phục hạn chế này, giải pháp căn cơ nhất và đồng thời cũng là hướng đi được
đề cao, chú trọng, đó là huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư
Việc huy động mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng NTM là chủ trương quan trọng của Đảng, Nhà nước, đây là việc làm đúng đắn, đúng ý Đảng, hợp lòng dân, nên được sự ủng hộ nhiệt tình của người dân Trong những năm qua cả nước đã và đang triển khai tích cực việc huy động vốn đầu tư cho xây dựng NTM và đạt được nhiều thắng lợi Nhất là nhận thức của cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân
về Chương trình ngày càng được nâng lên; kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách, công tác lập đề án và quy hoạch được tổ chức một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, phát triển sản xuất, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và tăng thu nhập cho người dân, góp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo ở các địa bàn nông thôn; việc huy động vốn cho xây dựng NTM ngày càng tiến bộ; công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên; vai trò, trách nhiệm của nhân dân được nâng lên, hệ thống chính trị ở cơ sở được vững mạnh; ANTT trên địa bàn được đảm bảo
Việc đưa khoa học, công nghệ vào phục vụ sản xuất nông nghiệp cần được
Trang 32triển khai nhanh và khẩn trương, nhất là việc lai tạo giống cây trồng, vật nuôi cho năng xuất chất lượng cao; việc tưới tiêu, thâm canh cần đưa cơ giới, công nghệ hiện đại vào thực hiện Bên cạnh đó cần phải có những cách làm hay, sáng tạo, có những chính sách để thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp như: Công nghiệp, du lịch, dịch vụ,… từ đó có thể giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động nông thôn, chuyển dịch lao động đang làm trong lĩnh vực nông nghiệp sang làm công nghiệp, dịch vụ, nhằm tăng thu nhập cho người dân nông thôn, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn
Bên cạnh việc đầu tư từ NSNN thì công tác xã hội hóa cũng cần được quan tâm, nhằm huy động có hiệu quả các vốn từ xã hội để đầu tư vào xây dựng NTM, nhất là đầu tư vào các lĩnh vực như: GTNT, thủy lợi, điện, y tế, giáo dục… Cần quan tâm đến công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm, lồng ghép và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho Chương trình xây dựng NTM và phát triển kinh
tế - xã hội ở các địa phương
Giải pháp để huy động có hiệu quả các vốn cho xây dựng NTM là: Cần quan tâm đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền nhân dân nâng cao nhận thức, tích cực và chủ động tham gia vào xây dựng NTM và sự quan tâm của toàn xã hội; có các cơ chế đặc thù cho xây dựng NTM và tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách
ở các vùng khó khăn, trọng điểm; công tác xây dựng NTM phải được đẩy nhanh tiến độ; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cần được quan tâm, có sự phân công, phân nhiệm cụ thể và thường xuyên kiểm tra, nhắc nhỡ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM; kịp thời động viên, khen thưởng các cá nhân, tổ chức có nhiều thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ
1.5 Bài học kinh nghiệm
1.5.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Trong giai đoạn 2010-2019, tổng vốn huy động cho Chương trình là 1.450.868 trđ, trong đó: Vốn NSNN 52.364 trđ chiếm 3,61%; vốn tín dụng 42.858 trđ, chiếm 2,95%; vốn doanh nghiệp 32.007 trđ, chiếm 2,21%; vốn cộng đồng
Trang 331.009.947 trđ, chiếm 69,61%; vốn lồng ghép 313.629 trđ, chiếm 21,61%
Trong 10 năm qua, các công trình XDCB tiếp tục được quan tâm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tuân thủ các quy định của Luật đầu tư công, các công trình chỉ được phê duyệt đầu tư khi xác định được nguồn vốn đầu tư, hạn chế việc đầu tư dàn trải gây nợ động trong XDCB Cụ thể:
- Giao thông nông thôn: Tổng vốn đầu tư 149.456 trđ Tỷ lệ 100% km đường GTNT từ huyện đến trung tâm xã được nhựa hóa, bê tông hóa đảm bảo ôtô đi lại thuận tiện
- Thuỷ lợi: Được đầu tư, nâng cấp các trạm bơm, các kênh mương nội đồng được kiên cố hoá và nạo vét thường xuyên phục vụ tốt cho việc tưới tiêu Tỷ lệ cống đập, trạm bơm được kiên cố hoá đạt 80,4%, việc chủ động tưới tiêu trong nông nghiệp đạt 90%
- Điện: Nguồn vốn địa phương đầu tư 02 công trình với 5,9km đường dây hạ thế và 1,2km đường dây trung thế, tổng dung lượng trạm biến áp 945 kVA, các công trình đã nghiệm thu đưa vào sử dụng phục vụ cấp điện cho 875 hộ dân Nguồn vốn Nghị định số 35/2015/NĐ-CP đầu tư cho 12 công trình phát triển lưới điện phục vụ bơm tát Tỷ lệ hộ có điện sử dụng chiếm 99,6%
- Giáo dục - Đào tạo: Toàn huyện có 55 đơn vị trường học trực thuộc, và 05
cơ sở Mầm non tư thục, công tác phổ cập giáo dục được đảm bảo Học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học THPT (THPT, bổ túc, học nghề) chiếm trên 90% Học sinh tốt nghiệp THCS và THPT hằng năm đạt trên 95% Đến nay có 10 trường đạt chuẩn quốc gia (THPT 04, THCS 06) đạt tỷ lệ 18,2%
Trang thiết bị, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu dạy và học Cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giáo viên được tăng cường Chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT, THCS, hoàn thành chương trình bậc tiểu học hằng năm đều tăng; Hoàn thành phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi, công tác phổ cập giáo dục TH&THCS được duy trì Công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề nghiệp, phân luồng học sinh sau THCS
và THPT được quan tâm thường xuyên Phong trào khuyến tài, khuyến học, xã hội
Trang 34hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập được đẩy mạnh và phát triển
Nhìn chung hệ thống trường lớp toàn huyện cơ bản đảm bảo về cơ sở vật chất phục vụ tốt cho dạy và học
- Giảm nghèo và an sinh xã hội: Công tác hỗ trợ hộ nghèo, chăm lo gia đình chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn được huyện thực hiện tốt Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được quan tâm, mở 217 lớp nghề cho 6.578 lao động Phối hợp với tỉnh tổ chức tốt phiên giao dịch việc làm và xuất khẩu lao động, hàng năm tư vấn giải quyết việc làm cho trên 1.000 lao động Từ đó, kinh tế xã hội được nâng lên, thu nhập bình quân đạt 46 trđ/người/năm (năm 2010 là 20,3 trđ năm 2010 tăng 25,7 trđ); tỷ lệ hộ nghèo 3,12% ( so với năm 2011 là 6,58%, giảm 3,46 %)
- Về xây dựng hệ thống chính trị, an minh trật tự: Cấp ủy, chính quyền các
xã đều có Nghị quyết, kế hoạch xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và đảm bảo ANTT, đến nay có 10/10 xã đạt tiêu chí 19 về ANTT
Có 10/10 xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy đinh Có 10/10 xã đạt Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”
Công tác đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ xã, ấp được quan tâm, cán bộ xã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí công việc, đến nay toàn huyện có 10/10 xã đạt tiêu chí về hệ thống chính trị
Công tác cải cách thủ tục hành chính đạt kết quả khá tốt, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp
Tình hình ANTT ở nông thôn: Được cấp ủy, chính quyền địa phương, thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức tham gia phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; chấp hành luật an toàn giao thông; phòng chống bạo lực gia đình, việc thực hiện quy ước của địa phương có nhiều chuyển biến, tiến bộ; ngoài ra còn nhiều mô hình phụ nữ xây dựng gia đình “5 không - 3 sạch”, tổ nhân dân tự quản “3 không”, Đội dân phòng nữ, mô hình xứ đạo
an toàn, cổng rào ANTT… đã mang lại nhiều hiệu quả trong phong trào “xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và giữ gìn an ninh trật tự địa phương”
Để có được kết quả trên, trong quá trình lãnh đạo thực hiện xây dựng NTM,
Trang 35huyện Tân Hiệp rút ra được những kinh nghiệm sau:
Một là: Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt của các cấp ủy, chính
quyền về xây dựng NTM, biết kế thừa và phát huy sự đoàn kết nhất quán trong hệ thống chính trị, đặc biệt là việc vận động, truyên truyền, cho người dân hiểu và ủng
hộ chủ trương xây dựng NTM của Đảng, Nhà nước là việc làm của địa phương, của cộng đồng dân cư, lấy sức dân lo cho dân, không trông chờ ỷ lại cấp trên
Hai là: Việc cụ thể hóa các kế hoạch, Nghị quyết và lộ trình xây dựng NTM,
phải bám sát với quy hoạch và đề án xây dựng NTM toàn huyện, trong quá trình chỉ đạo phải vận dụng tình hình thực tế của từng địa phương, cân nhắc công việc nào ưu tiên làm trước để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nguồn vốn
Ba là: Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, tận dụng mọi
nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Ngoài nguồn lực đầu tư từ NSNN; cần phát huy hết vai trò, trách nhiệm của Mặt trận và các đoàn thể trong công tác vận động các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội, kiều bào, tôn giáo
và người dân, phát huy tối đa nội lực để xây dựng NTM
Bốn là: Tiếp tục phát huy có hiệu quả trong xây dựng NTM thông qua 12
việc của ấp và tổ nhân dân tự quản cần làm gắn với vận động nhân dân tích cực thực hiện 15 việc hộ gia đình cần làm, xem đây là những giải pháp, biện pháp hữu hiệu nhất đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM, trong đó chú trọng việc vận động hướng dẫn nhân dân hiểu rõ những công việc nào cần làm trước, làm sau và làm ngay trong điều kiện khả năng của mình
Năm là: Chọn chi bộ ấp làm nồng cốt hạt nhân lãnh đạo trực tiếp phong trào
xây dựng NTM Phương châm chỉ đạo sâu sát cơ sở ấp và tổ nhân dân tự quản; định
kỳ quý, 6 tháng, năm có sơ kết rút kinh nghiệm, kịp thời động viên, biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể tích cực và mô hình tiêu biểu; quan tâm kiểm tra uốn nắn kịp thời những lệch lạc trong quá trình thực hiện (UBND huyện Tân Hiệp, 2019)
Trang 361.5.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của huyện Hòn đất, tỉnh Kiên Giang
Trong giai đoạn 2010 - 2019, Tổng vốn huy động là 2.332.616 trđ, trong đó: Vốn NSNN: 692.150 trđ, chiếm 29,67%; vốn lồng ghép: 748.676 trđ, chiếm 32,10; vốn tín dụng: 656.048 trđ, chiếm 28,13%; vốn doanh nghiệp: 218.683 trđ, chiếm 9,38%; vốn dân 17,059 trđ, chiếm 0,73%
- Hệ thống GTNT được huyện ưu tiên đầu tư xây dựng, đường đến trung tâm
xã được nhựa hóa ôtô đi lại thuận tiện 12/12 xã, xây dựng 607,7/883km đường GTNT, đạt 68,82% so với Nghị quyết giai đoạn 2015-2020 và xây dựng 61 cây cầu, với kinh phí khoảng 354.713 triệu đồng Có 09/12 xã đạt tiêu chí này
- Thủy lợi: Toàn huyện có khoảng 1.553 km kênh cấp II, cấp III và nhiều tuyến kênh nội đồng Hàng năm được tỉnh, huyện quan tâm đầu tư nạo vét đào mới phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa Trong 10 năm qua đã thực hiện 481 công trình bằng 1.769 km với tổng kinh phí gần 338,5 tỷ đồng, gồm 358 công trình nạo vét và làm đê bao, 01 công trình đào mới, 55 trạm bơm điện, 94 khu đê bao với 51.380 ha Trong đầu tư xây dựng thủy lợi đã gắn kết việc nạo vét kênh mương với xây dựng đê bao làm nền hạ xây dựng đường GTNT Hệ thống kênh mương, đập, cống hở, trạm biến áp được UBND huyện quan tâm đầu tư từ các nguồn vốn như: Cấp bù miễn thủy lợi phí, Nghị định 35/2015/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ đất trồng lúa Hệ thống thủy lợi nội đồng đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất, phòng, chống thiên tai và dân sinh
Trang 37cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị sản xuất Xác định phát triển sản xuất là trọng tâm nhằm nâng cao thu nhập, đời sống cho nông dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thu nhập bình quân đạt trên 42,8 trđ/người/năm Toàn huyện có 10/12 xã đạt tiêu chí này
- Hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới của huyện là 4,88%, trong đó thấp nhất là xã Mỹ Lâm (2,78 %), cao nhất là xã Bình Giang (12,38%), có 09/12 xã đạt tiêu chí này (dưới 4%)
- Lao động có việc làm: Mở 168 lớp với 5.550 học viên dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, kinh phí khoảng 6,85 tỷ đồng, hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 4.000 lượt lao động tỷ lệ lao động trong độ tuổi có việc làm đạt trên 90%
- Giáo dục và đào tạo: Hệ thống trường, lớp học, trang thiết bị được quan tâm đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, xây mới 373 phòng học, với kinh phí khoảng 157,87 tỷ đồng Đến nay có 23 trường đạt chuẩn quốc gia, 40 trường đạt trường học thân thiện, học sinh tích cực Cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu việc dạy
và học, chất lượng giáo dục nâng lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 51,7 %
- Y tế: Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, thái độ phục vụ của cán bộ
y tế ngày càng được nâng lên Có 12/12 trạm y tế xã đạt chuẩn; tỷ lệ bao phủ thẻ BHYT đạt 88,46%, trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống còn 6,4 % Đến nay, có 07/12 xã đạt tiêu chí này
- Hệ thống tổ chức chính trị: Tiếp tục được củng cố, kiện toàn, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng được nâng lên Cán bộ, công chức được thường xuyên đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, công tác bình đẳng giới được tăng cường
Để có được những kết quả trên, trong quá trình lãnh đạo thực hiện xây dựng NTM, huyện Hòn Đất rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là: Phát huy tốt dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân
tham gia đóng góp ý kiến, bàn bạc, quyết định, trực tiếp thực hiện và giám sát các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm sẽ đưa đến sự
Trang 38đồng thuận của người dân thì hiệu quả mang lại sẽ cao hơn
Hai là: Phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM là một nhiệm vụ thường
xuyên và lâu dài, nên phải thực hiện kiên trì bền bỉ, các giải pháp chỉ đạo phải đồng
bộ, không nóng vội, không chạy theo thành tích, làm tới đâu người dân phải tin tưởng, thấy được thì mới huy động được mọi nguồn lực trong cộng đồng và xã hội phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp Phải có sự phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng cấp từng ngành để nâng cao vai trò, trách nhiệm trong quá trình thực hiện
Ba là: Tổ chức phát triển sản xuất phải theo quy hoạch và đề án xây dựng
NTM, phải gắn chặt công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, liên kết chặt chẽ giữa các vùng trong và ngoài huyện Đồng thời rà soát, điều chỉnh bổ sung kịp thời các quy hoạch, chương trình, dự án, kế hoạch phù hợp với thực tế từng thời gian làm cho địa bàn nông thôn phát triển năng động hơn
Bốn là: Chú trọng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát huy tối đa hiệu
quả các nguồn lực cả bên trong, bên ngoài mà trước hết là nguồn lực tại chỗ của người dân để đầu tư kết cấu hạ tầng Đồng thời chỉ đạo thực hiện tốt những việc xã,
ấp, tổ nhân dân tự quản và nhân dân phải làm để xây dựng NTM
Năm là: Phải có sự lãnh đạo quyết tâm và vào cuộc quyết liệt, có kiểm tra,
đôn đốc thường xuyên của các cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể, phải đoàn kết - chung sức - chung lòng - tích cực - tự giác - sáng tạo tìm biện pháp chủ động trong thực hiện công việc thì mới có được những kết quả thiết thực Quan tâm bồi dưỡng, đào tạo cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở có đủ trình độ, năng lực trong chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng, đáp ứng được mọi yêu cầu nhiệm vụ được phân công (UBND huyện Hòn Đất, 2019)
1.5.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang
Trong giai đoạn 2010 - 2019, Tổng vốn huy động là 2.424.407 trđ, trong đó: vốn NSNN là 588.518 trđ, chiếm 24,27%; vốn nhân dân là 661.180 trđ, chiếm 27,27%; vốn lồng ghép là 460.698 trđ, chiếm 19,00%; vốn doanh nghiệp là 22.965 trđ, chiếm 0,95%; vốn tín dụng là 691.046 trđ, chiếm 28,50%
Trang 39Qua gần 10 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM, các tuyến đường từ huyện đến xã được bê tông hóa, nhựa hóa đạt 100% đảm bảo ôtô đi lại thuận tiện thường xuyên; các tuyến đường trục ấp, liên ấp được cứng hóa đạt 217km/271km, đạt 80,1%; hệ thống đường ngõ, xóm trục chính nội đồng cơ bản được cứng hóa, thuận tiện cho việc đi lại vào mùa mưa
- Thủy lợi: Hệ thống cống ngăn mặn, xổ phèn và thủy lợi nội đồng cơ bản đáp ứng được các nhu cầu về dân sinh và sản xuất; tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được chủ động tưới, tiêu đạt trên 80%
- Điện: Hệ thống điện cơ bản đạt chuẩn theo quy định, tỷ lệ sử dụng điện là 16.956/17.267 hộ, đạt tỷ lệ 98,2%, tăng 6,74% so với năm 2011
- Nhà ở dân cư: Hằng năm các ban, ngành trong huyện phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả các Chương trình, dự án Đặc biệt, quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm lo gia đình chính sách; xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa, đẩy mạnh cuộc vận động “Vì người nghèo”, cất nhà đại đoàn kết, Qua đó,
đã hỗ trợ cho các gia đình thuộc hộ nghèo, cận nghèo gia đình chính sách về nhà ở; đến nay có 04/06 xã đã xóa hết nhà tạm, dột nát, tiêu chí về nhà ở dân cư, đạt 66,7%
- Thu nhập: Tập trung đẩy mạnh triển giao khoa học công nghệ, kỹ thuật, nhân rộng các mô hình tiên tiến, có hiệu quả nhằm nâng cao trình độ sản xuất cho người dân, nhất là khai thác tốt các đối tượng cây trồng, vật nuôi có tiềm năng, thế mạnh, các nhãn hiệu tập thể có giá trị hàng hóa của huyện như: cá đồng, chuối, lúa, các loại rau màu, mật ong, mắm cá lưỡi trâu, qua đó thu nhập của người dân ở nông thôn củng được tăng lên, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện Thu nhập bình quân đạt 43,3 trđ/người/năm, tăng 14,1 trđ/người/năm so với năm 2015, toàn huyện có 06/06 đạt tiêu chí này
- Hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của toàn huyện là 7,08%, giảm 5,4% so với năm 2011
- Lao động có việc làm: Từ năm 2011 đến nay đã tổ chức được 179 lớp dạy nghề cho 4.992 lao động, tỷ lệ lao động trong độ tuổi có việc làm đạt 92,5%
Trang 40- Giáo dục và đào tạo: Phổ cập giáo dục mầm non, TH&THCS đạt chuẩn, tiếp tục duy trì xóa mù chữ; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học THPT chiếm trên 89%; tỷ lệ lao động qua đào tạo có việc làm đạt 31,25%
- Y tế: Tỷ lệ bao phủ thẻ BHYT đạt 87,35%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 11,4%
- Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật: Hệ thống chính trị củng cố và kiện toàn, đội ngũ cán bộ, công chức được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức xã ngày được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; hiện tại, 06/06 xã đạt chuẩn theo quy định Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân được chú trọng thông qua các cuộc họp, hội nghị của các ban, ngành, mặt trận, đoàn thể, ấp, tổ; đầu tư nhiều loại sách cho các thư viện, tủ sách tại các trường học, trung tâm văn hóa xã, nhà văn hóa ấp, Thực hiện tốt công tác phòng chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới
- Quốc phòng và an ninh: Công tác quốc phòng, quân sự địa phương được củng cố, tăng cường Xây dựng lực lượng DQTV, DBĐV theo quy định Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát an ninh trật tư, an toàn xã hội và đấu tranh, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, gắn với phong trào “toàn dân bảo vệ an ninh
tổ quốc”, duy trì và nhân rộng các mô hình như: “Tổ nhân dân tự quản không tội phạm và tệ nạn xã hội”, “Cổng rào an ninh trật tự”, Các cấp chính quyền đã giải quyết tốt các yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, đơn thư khiếu nại, phản ánh của người dân Qua đó, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
Có được kết quả trên, trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới, huyện U Minh Thượng rút ra những kinh nghiệm sau:
Một là: Phải thường xuyên vận động, tuyên truyền cả về chiều sâu và chiều
rộng để nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và quần chúng về mục tiêu, nội dung, phương pháp, trong quá trình thực hiện các cơ chế chính sách của nhà nước
về xây dựng NTM, từ đó nêu cao ý thức xây dựng NTM và tạo được sự đồng thuận đại đa số người dân Xác định xây dựng NTM là trách nhiệm của người dân, dân