1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại chi cục thuế quận 10 qua công tác thanh tra kiểm tra thuế

83 26 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại chi cục thuế quận 10 qua công tác thanh tra kiểm tra thuế
Tác giả Nguyễn Thị Kim Huyền
Người hướng dẫn TS. Võ Tất Thắng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố mức phạt, số năm kinh doanh của doanh nghiệp có tác động nghịch biến đến mức độ không tuân thủ thuế.. Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phân t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

NGUYỄN THỊ KIM HUYỀN

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ KHÔNG TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CHI

CỤC THUẾ QUẬN 10 QUA CÔNG TÁC THANH TRA KIỂM TRA THUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

NGUYỄN THỊ KIM HUYỀN

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ KHÔNG TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CHI

CỤC THUẾ QUẬN 10 QUA CÔNG TÁC THANH TRA KIỂM TRA THUẾ

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 8310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VÕ TẤT THẮNG

TP Hồ Chí Minh - Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài “Các yếu tố tác động đến mức

độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Chi cục thuế Quận 10 qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế” là công trình nghiên cứu khoa học do chính tôi thực hiện

Những số liệu và thông tin được sử dụng trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác cho tới thời điểm hiện tại

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2020

Học viên

Nguyễn Thị Kim Huyền

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT - ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 3

1.4 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5

2.1 Lược khảo lý thuyết 5

2.1.1 Khái niệm về thuế 5

2.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế 5

2.1.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp 7

2.1.4 Tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đến nền kinh tế 8

2.2 Không tuân thủ thuế 9

2.2.1 Khái niệm về không tuân thủ thuế 9

2.2.2 Động cơ trốn thuế của doanh nghiệp 10

2.3 Các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN của doanh nghiệp ……….……11

2.3.1 Mức phạt 11

2.3.2 Thuế suất 12

2.3.3 Thanh khoản tài chính của doanh nghiệp 13

Trang 5

2.3.4 Doanh thu của doanh nghiệp 14

2.3.5 Số thuế phải nộp của doanh nghiệp 15

2.3.6 Quy mô của doanh nghiệp 15

2.3.7 Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp 16

2.3.8 Loại hình doanh nghiệp 17

2.3.11 Giới tính của người đại diện doanh nghiệp 20

2.4 Các nghiên cứu trước về không tuân thủ thuế 21

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Quy trình nghiên cứu 26

3.2 Mô hình nghiên cứu 28

3.2.1 Mô hình kinh tế lượng 28

3.2.2 Giải thích và đo lường biến 28

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 35

3.3.1 Phân tích hồi quy đa biến 35

3.3.2 Hiện tượng đa cộng tuyến 35

3.4.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 35

3.4.4 Kiểm định sự ảnh hưởng của biến độc lập lên biến phụ thuộc 35

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

4.1 Tổng hợp kết quả khảo sát 37

4.1.1 Mức phạt 37

4.1.2 Thuế suất 37

4.1.3 Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp 38

4.1.4 Loại hình của doanh nghiệp 38

4.1.5 Số năm kinh doanh của doanh nghiệp 39

4.1.6 Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ đại lý thuế 39

4.1.7 Giới tính chủ doanh nghiệp 40

4.2 Phân tích thống kê mô tả 40

4.3 Phân tích tương quan 41

4.4 Phân tích kết quả hồi quy 44

Trang 6

4.4.3 Kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu 45

4.5 Tóm tắt kết quả phân tích 54

CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp 57

5.2.1 Ý nghĩa thực tiễn 57

5.2.2 Kiến nghị một số giải pháp để áp dụng kết quả nghiên cứu 57

5.3 Giới hạn của đề tài và gợi ý nghiên cứu khác 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TNCT: Thu nhập chịu thuế

TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

OLS: Phương pháp bình phương tối thiểu thông thường

(Ordinary Least Squares)

VIF: Hệ số phóng đại phương sai

(Variance Inflation Factor)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng mô tả các biến và kỳ vọng dấu 37

Bảng 4.1 Thống kê về mức phạt 40

Bảng 4.2 Thống kê về mức thuế suất 40

Bảng 4.3 Thống kê về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp 41

Bảng 4.4 Thống kê loại hình doanh nghiệp 41

Bảng 4.5 Thống kê tình hình doanh nghiệp sử dụng dịch vụ đại lý thuế 42

Bảng 4.6 Thống kê về giới tính của chủ doanh nghiệp 43

Bảng 4.7 Thống kê mô tả các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN của doanh nghiệp 44

Bảng 4.8 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 46

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy Mô hình 1 47

Bảng 4.10 Kết quả hồi quy Mô hình 2 48

Bảng 4.11 Kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu 48

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.3 Mô hình lý thuyết về hành vi gian lận 14 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 22 Hình 4.1 Khảo sát về số năm kinh doanh của doanh nghiệp 42

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TNCT: Thu nhập chịu thuế

TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

OLS: Phương pháp bình phương tối thiểu thông thường

(Ordinary Least Squares)

VIF: Hệ số phóng đại phương sai

(Variance Inflation Factor)

Trang 11

TÓM TẮT

Với mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp để đề xuất gợi ý các chính sách nhằm cải thiện mức

độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài xây

mô hình hồi quy mức độ không tuân thủ thuế với phương pháp phân tích định lượng

và phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu thông thường (OLS) Số liệu được lấy từ Chi cục thuế Quận 10, giai đoạn từ 2012 – 2014 Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố mức phạt, số năm kinh doanh của doanh nghiệp có tác động nghịch biến đến mức độ không tuân thủ thuế Các yếu tố về quy mô doanh nghiệp, doanh thu, số thuế phải nộp, doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ đại lý thuế có tác động đồng biến với mức độ không tuân thủ thuế Từ những kết quả này cơ quan thuế có thể đưa ra các giải pháp nhằm phát huy tốt hơn công tác quản lý thuế như tăng cường tuyên truyền, đôn đốc, nhắc nhở đối với những doanh nghiệp có khả năng vi phạm thuế cao; phối hợp kiến nghị với các cơ quan chức năng ban hành các chính sách thuế kịp thời để hỗ trợ tối đa người nộp thuế trong việc khắc phục hành vi và mức độ vi phạm thuế

Từ khóa: không tuân thủ thuế, thu nhập chịu thuế, mức phạt

Trang 12

ABSTRACT

The aim of research is to find out the factors affecting the level of tax compliance of enterprises to propose policies to improve the tax compliance level of enterprises in Ho Chi Minh City Thisstudy of building a regression model of tax non-compliance with quantitative analysis method and ordinary least squares method (OLS) Data are collected from the Tax Department of District 10, in the period 2012 – 2014 The research results show that the factors of the penatly, experience have a negative impact on the level of tax-compliance The factors of firm, revenue, tax, and the enterprise using tax agent services have positive effects with the level of tax non-compliance From these study, the tax authoritise will have practical suggestions for better tax administration

non-Keywords: non-compliance, income taxes, penatly

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Thuế là nguồn thu chính của ngân sách quốc gia Trong tổng thu NSNN, khoản thu từ thuế luôn chiếm tỷ trọng lớn Theo quyết toán thu NSNN năm 2017, thuế chiếm 83,56% tổng số thu NSNN; năm 2018 con số này là 84,22% Nếu xét trên góc độ đóng góp của thuế với tổng GDP cả nước, tổng thu ngân sách của Việt Nam giai đoạn 2012-2018 đạt trên 28% GDP (Ủy ban kinh tế của Quốc Hội, 2018)

Để đảm bảo ổn định kinh tế xã hội phát triển bền vững lâu dài, ngành Thuế ngoài việc tham mưu ban hành các chính sách thuế hợp lý thúc đẩy sự phát triển nền kinh

tế còn phải sử dụng các biện pháp hiệu quả để đảm bảo nguồn thu ngân sách Hiện nay, công tác quản lý thuế được thực hiện theo cơ chế tự khai tự nộp Theo cơ chế này, căn cứ vào kết quả kinh doanh trong kỳ kê khai và các quy định của pháp luật thuế, đối tượng nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai nộp thuế vào NSNN và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai Cơ chế này được thực hiện dựa trên cơ sở sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, giúp nâng cao trách nhiệm pháp lý của người nộp thuế Đây được xem là

cơ chế quản lý thuế hiện đại, hiệu quả, cho phép cơ quan thuế phân bổ nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, thực hiện chuyên sâu trong quản lý Thực hiện cải tiến các quy trình quản lý nhằm tăng sự minh bạch trong quản lý thuế, giảm bớt chi phí quản lý để thúc đẩy cải cách hành chính thuế

Tuy nhiên, mặt hạn chế của cơ chế tự khai tự nộp là nguy cơ trốn thuế, thất thoát nguồn thu xảy ra rất cao do trình độ, ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế chưa cao và biện pháp quản lý của cơ quan thuế chưa phù hợp Do

đó, song song với công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp, công tác thanh tra kiểm tra việc chấp hành thuế của doanh nghiệp được xem là rất quan trọng Đây được xem là công cụ vừa góp phần chống thất thu thuế, tăng thu cho NSNN nhằm ngăn chặn, phòng ngừa người nộp thuế gian lận, trốn thuế, tránh nghĩa vụ thuế vừa

là công cụ thực hiện công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế thực hiện tốt các

Trang 14

chính sách, pháp luật thuế Qua công tác thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế sẽ phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những sai phạm của doanh nghiệp, áp dụng các biện pháp

xử phạt, cưỡng chế theo luật định đảm bảo công bằng trong việc thi hành pháp luật thuế

Từ thực tế công tác kiểm tra, các hành vi mà người nộp thuế thường xuyên vi phạm là: gian lận trong kê khai doanh thu nộp thuế do người dân khi mua hàng hóa, dịch vụ thường không có thói quen yêu cầu người bán xuất hóa đơn; gian lận trong

sử dụng hóa đơn bất hợp pháp; khai khống chi phí để giảm thu nhập chịu thuế Một

số hình thức gian lận khác mà người nộp thuế cũng thực hiện như: chuyển đổi mô hình từ hộ kinh doanh cá thể sang doanh nghiệp; phổ biến tình trạng một địa điểm kinh doanh vừa đăng ký thành lập doanh nghiệp, vừa đăng ký theo hình thức khoán thuế của hộ cá thể; doanh nghiệp kinh doanh lỗ nhiều năm nhưng vẫn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh; giá bán của doanh nghiệp thấp hơn các sản phẩm cùng loại trên thị trường … Trong thời gian qua, cơ quan thuế tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp qua việc xây dựng các chuyên đề: chuyên đề xây dựng, bất động sản; chuyên đề quảng cáo truyền thông; chuyên đề doanh nghiệp rủi ro có giao dịch đáng ngờ qua ngân hàng …Việc triển khai thực hiện thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề trên đã đạt được những hiệu quả tích cực, việc xử lý vi phạm theo hướng toàn diện, thống nhất, không bỏ sót nguồn thu đặc biệt đối với những lĩnh vực, ngành nghề được xã hội quan tâm

Công tác cải cách hành chính thuế nhằm tạo hành lang thông thoáng cho hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, thông qua việc cởi mở trong công tác kê khai thuế, doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật thuế và mức độ không tuân thủ thuế từ đó cũng có chiều hướng gia tăng Với nguồn nhân lực được đánh giá là thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, trình độ cán bộ thực hiện công tác kiểm tra không đồng đều, công tác kiểm tra tại Chi cục Thuế Quận 10 còn nhiều hạn chế, tỷ lệ hồ sơ kiểm tra trên tổng số doanh nghiệp quản lý chỉ đạt khoảng 25%, hiệu quả quản lý qua công tác thanh tra kiểm tra thuế chưa đạt kết quả như mong đợi

Trang 15

Vấn đề được đặt ra cho công tác quản lý thuế là làm thế nào nhận diện những doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm và rủi ro trong công tác kê khai, chấp hành pháp luật thuế? Trên cơ sở đó, cơ quan thuế sẽ có những giải pháp hỗ trợ thiết thực, tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao việc tuân thủ thuế tự nguyện của mình nhằm giảm bớt các chi phí quản lý cho nhà nước, hướng đến nền hành chính văn minh, hiệu quả

Đề tài “Các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 10 qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế” ra đời nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý thuế Với dữ liệu được thu thập qua kết quả công tác thanh tra, kiểm tra từ năm 2012 đến năm 2014, đề tài mong muốn mang đến những kết quả mang tính khoa học, thuyết phục, góp phần nhỏ vào tài liệu của cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Thứ nhất, xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 10

Thứ hai, từ kết quả nghiên cứu đề xuất gợi ý các giải pháp nhằm cải thiện mức độ tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 10

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Yếu tố nào tác động đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 10?

Những giải pháp nào là cần thiết để cải thiện mức độ không tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 10?

1.3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp trên địa bàn Quận 10 Số liệu được lấy từ các hồ sơ đã được quyết toán thuế TNDN từ niên độ 2012 đến 2014 trên địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm khảo sát mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn Đối tượng nghiên cứu là hành vi không tuân thủ thuế thu nhập doanh

Trang 16

nghiệp của các doanh nghiệp trên địa bàn quận 10 được kiểm tra quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp từ năm 2012 đến 2014

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phân tích tác động của chính sách thuế, đặc điểm và hành vi của doanh nghiệp đến mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp, cụ thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Sử dụng phương pháp chọn mẫu bao gồm 345 hồ sơ đã được quyết toán thuế TNDN từ niên độ 2012 đến 2014 trên địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm khảo sát mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn

- Sử dụng phương pháp thống kê để đánh giá sự tương quan giữa các biến số, phương pháp so sánh giữa các nhóm doanh nghiệp có mức độ tuân thủ thuế khác nhau

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trong phân tích dữ liệu Dữ liệu được thu thập từ kết quả Biên bản thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế;

từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lưu trữ tại Chi cục Thuế Quận 10 và từ các chương trình ứng dụng phục vụ công tác quản lý thuế Phương pháp định lượng được tiến hành bằng cách hồi quy

1.4 Cấu trúc luận văn

Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương với nội dung cụ thể như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1 Lược khảo lý thuyết

2.1.1 Khái niệm về thuế

Thuế là một công cụ tài chính vô cùng quan trọng, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước mà bất cứ quốc gia nào cũng sử dụng công cụ thuế để tham gia vào việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình Thuyết thuế ước khẳng định

“thuế là đối giá của hàng hóa và dịch vụ công cộng chính phủ cung cấp” Thuyết tương đẳng phát biểu “thuế là một phần tài sản của công dân đóng góp để yên hưởng phần còn lại” (Lê Quang Cường & ctg., 2012)

Thuế là một khoản thu của chính phủ đối với các tổ chức và thành viên trong

xã hội, khoản thu mang tính chất bắt buộc không hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định (Nguyễn Thuấn, 2004).Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp, do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực, nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước (Khúc Đình Nam và ctg., 2012)

2.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế

Thuế nhằm huy động nguồn tài chính, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Theo Luật Quản lý thuế (2006), “thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước” Lê Quang Cường & ctg (2012) nhận định về vai trò huy động của thuế:

“đây là vai trò mang tính lịch sử, gắn với sự ra đời của thuế” Để thực hiện tốt vai trò này, khi xây dựng chính sách thuế cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Thuế phải bao quát các nguồn thu có khả năng động viên cho Ngân sách Nhà nước Thuế phải đảm bảo bao trùm lên mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi khoản thu nhập của xã hội

Chính sách thuế phải tác động tích cực lên các yếu tố giúp tăng trưởng nền kinh tế xã hội, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển các hoạt động kinh doanh, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã hoạch định

Trang 18

Phải chú trọng đến khía cạnh công bằng trong điều tiết thu nhập khi xây dựng và thực hiện các chính sách thuế, thực hiện sự bình đẳng giữa tất cả các đối tượng chịu sự điều tiết thu nhập của thuế.Theo Khúc Đình Nam & ctg (2012), thuế

là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.Thứ hai, thuế góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội: điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế; thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý; thuế điều chỉnh tích lũy tư bản; thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước bằng cách thay đổi thuế suất hoặc các biện pháp ưu đãi thuế (Khúc Đình Nam & ctg., 2012) Lê Quang Cường & ctg (2012) nhận định, bằng cách sử dụng công cụ thuế, Chính phủ có thể bày tỏ quan điểm, chủ trương và hành động của mình đối với các chương trình phát triển kinh tế xã hội:

Chính sách thuế góp phần định hướng cho đầu tư trong nước, thực hiện chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế

xã hội của nhà nước

Thông qua thuế suất, miễn giảm hay quy định về các trường hợp chịu thuế, không chịu thuế, chính sách thuế có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh, góp phần vào việc xác lập quan hệ cân đối giữa cung – cầu hàng hóa, dịch

vụ, tác động đến cân bằng thị trường

Góp phần thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước trong từng thời kỳ, nhằm mục tiêu phát triển nền kinh tế khi gia nhập nền kinh tế khu vực và toàn cầu

Chính sách thuế giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư vốn bị phân hóa bởi nền kinh tế thị trường Chính sách thuế xác lập sự công bằng về trách nhiệm, nghĩa vụ nộp thuế giữa các tổ chức

và cá nhân Việc điều hòa thu nhập xã hội chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống chính sách thuế trực thu

Trang 19

2.1.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp

Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu (2005); Lê Quang Cường & ctg (2012) đã nêu các khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, còn gọi là thuế thu nhập công ty Đối tượng của thuế TNDN là thu nhập của tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), được xác định trên cơ sở doanh thu trừ đi các chi phí có liên quan đến việc hình thành doanh thu đó Thuế TNDN là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế (TNCT) của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế

Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của

cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Xét theo quan điểm pháp luật thuế, tính chất trực thu của loại thuế này nghĩa là người nộp thuế cũng là người chịu thuế

Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của đối tượng nộp thuế nên mức động viên vào ngân sách nhà nước chịu sự tác động trực tiếp từ kết quả kinh doanh của đối tượng nộp thuế Nếu cơ sở kinh doanh tạo ra nhiều thu nhập, nhà nước có

cơ sở thu thuế nhiều và ngược lại Do đó, số thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp chịu

sự tác động từ nhiều chính sách kinh tế xã hội Hiện nay, thuế TNDN được xem là một trong những sắc thuế quan trọng nhất khi đóng góp khoảng 30% tổng số thu NSNN

Thuế TNDN điều tiết trực tiếp thu nhập của doanh nghiệp nên có tác động đến lợi ích kinh tế và khả năng tái đầu tư vốn Vì vậy, khi xây dựng luật thuế phải chú trọng đến mức độ điều tiết thu nhập cũng như mức độ ổn định của chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của mình một cách bền vững

Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân nên loại thuế này cũng được xem như là một biện pháp quản lý thuế thu nhập cá nhân Tuy thuế TNDN là thuế trực thu nhưng nó không gây phản ứng mạnh mẽ bằng thuế thu nhập

cá nhân vì nó khá mơ hồ đối với người chịu thuế

Trang 20

2.1.4 Tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đến nền kinh tế

Đối với thị trường hàng hóa về lý thuyết thì thuế TNDN đánh trên thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Tuy nhiên, vì thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là một loại chi phí nên doanh nghiệp có xu hướng đẩy chi phí này vào trong giá thành hàng hóa, dịch vụ làm gia tăng giá thành và đẩy giá bán lên cao Lúc đó một phần gánh nặng về thuế TNDN đã được chuyển cho người tiêu dùng hàng hóa Mức phân chia gánh nặng về thuế giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng lúc đó sẽ phụ thuộc vào độ

co giãn của cung và cầu hàng hóa (Hanlon et al., 2007) Theo Gruber (2010), thuế TNDN đánh vào nhà sản xuất sẽ được chuyển cho người tiêu dùng nếu cầu hàng hóa đó hoàn toàn không co giãn Về lâu dài, khi người tiêu dùng có khả năng điều chỉnh việc mua hàng của họ, nhu cầu sẽ trở nên đàn hồi và người tiêu dùng sẽ chịu thuế ít đi

Đối với thị trường lao động theo Hanlon et al (2007), với gánh nặng thuế TNDN, doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm chi phí tiền lương của người lao động

để hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Điều này sẽ tác động làm thu nhập của người lao động giảm xuống Trong trường hợp này, một phần gánh nặng về thuế TNDN đã được chia cho người lao động Gruber (2010) chỉ ra xu hướng của các doanh nghiệp nộp thuế là sẽ chuyển chi phí này cho người lao động bằng việc trả tiền lương thấp hơn Trong thị trường lao động có cầu lao động hoàn toàn không co giãn thì toàn bộ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp đã chuyển sang cho người lao động

Đối với thị trường vốn thì thuế TNDN là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Như vậy, thuế thu nhập sẽ tác động làm giảm lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, làm giảm cổ tức của cổ đông Với hành vi không tuân thủ thuế, doanh nghiệp sẽ giảm bớt gánh nặng về thuế, và cổ đông sẽ được hưởng nhiều hơn Trong trường hợp này gánh nặng về thuế thu nhập doanh nghiệp đã được chia cho các cổ đông của doanh nghiệp (Hanlon et al., 2007)

Gruber (2010) cho rằng, trong ngắn hạn, cung vốn cho khu vực doanh nghiệp

là tương đối không co giãn Tuy nhiên, về lâu dài cung vốn sẽ bị ảnh hưởng nhiều

Trang 21

do luồng vốn di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ nơi có mức sinh lời thấp sang nơi có mức sinh lời cao hơn Với gánh nặng thuế TNDN, các nhà đầu tư sẽ di chuyển vốn sang khu vực không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (Noncorporate sectors) Sự di chuyển vốn sẽ làm tăng cung vốn dẫn đến hạ thấp tỷ lệ lợi nhuận cho khu vực đó Sự dịch chuyển sẽ diễn ra cho đến khi có sự cân bằng về tỷ lệ lợi nhuận giữa các khu vực Theo Metcalf & Fullerton (2002), vốn có tính lưu động, nên cung vốn là co giãn, vì vậy gánh nặng thuế đối với vốn không chỉ ở quốc gia sở tại mà còn trên toàn thế giới

2.2 Không tuân thủ thuế

2.2.1 Khái niệm về không tuân thủ thuế

Tuân thủ thuế là sự tự nguyện tuân theo pháp luật thuế của cá nhân hoặc công ty Để cải thiện sự tuân thủ thuế, Chính phủ cần phải giảm số thuế trốn (amount of tax evasion) Gruber (2010) Hoặc việc tuân thủ thuế nên được định nghĩa là sự sẵn lòng của người nộp thuế chấp hành pháp luật về thuế để có được trạng thái cân bằng nền kinh tế của một quốc gia (Andreoni et al., 1998)

Đã có rất nhiều nghiên cứu đề cập đến không tuân thủ thuế Jackson & Milliron (1986), Slemrod et al (2001), Brown & Mazur (2003), Hanlon et al (2005) cho rằng hành vi không tuân thủ thuế được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau, nhưng về cơ bản, không tuân thủ được xem xét dưới ba hình thức là không tuân thủ về đăng ký thuế, không tuân thủ về kê khai thuế và không tuân thủ về nộp thuế Hành vi không tuân thủ thuế được hiểu là sự thất bại trong việc tuân thủ các quy định thuế hoặc do chủ quan hoặc do khách quan Kasipillai et al (2006) khái quát hành vi không tuân thủ thuế gồm: không nộp tờ khai thuế trong thời gian quy định, kê khai thiếu doanh thu, kê khai thừa chi phí và không nộp thuế đúng hạn định

Tương tự như vậy, tuân thủ thuế cũng được xác định bởi một số cơ quan thuế như khả năng và sự sẵn sàng của người nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật thuế, kê khai thu nhập chính xác trong mỗi năm và nộp thuế đúng hạn (Internal

Trang 22

Revenues Services, 2009, Australian Tax Office, 2009, Inland Revenue Board,

2009 trích bởi Nguyễn Hoàng Quân, 2012)

Theo Luật Quản lý thuế số 78 (2006), nghĩa vụ người nộp thuế được quy định như sau: “Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật; Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế; Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm”

Không tuân thủ thuế trong đề tài này được hiểu là việc vi phạm pháp luật trong kê khai thuế thuế Đó là hành vi kê khai sai dẫn đến thiếu số thuế TNDN phải nộp, bằng cách ghi giảm doanh thu, ghi tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế

2.2.2 Động cơ trốn thuế của doanh nghiệp

Theo Donald R.Cressey (1972), hành vi gian lận chỉ được thực hiện trên cơ

sở hội đủ 3 yếu tố: áp lực (động cơ), cơ hội, khả năng hợp lý hóa hành vi

Hình 2.3 Mô hình lý thuyết về hành vi gian lận

(Nguồn: Donald R.Cressey, 1972)

Donald R.Cressey cho rằng khởi nguồn của việc thực hiện hành vi gian lận là

do người thực hiện có những động cơ hay chịu áp lực nào đó Các áp lực có thể bắt nguồn từ những bế tắc trong cuộc sống, tổn thất về tài chính, thiếu hụt tiền bạc, các khoản nợ cá nhân, các áp lực về tinh thần Ngoài ra, cơ hội là cánh cửa để cá nhân thực hiện hành vi gian lận Một khi có những áp lực hoặc động cơ thúc đẩy mà không có sự kiểm soát hoặc hệ thống kiểm soát kém hiệu quả thì lúc đó cơ hội đã đến, hành vi gian lận sẽ dễ dàng được thực hiện Người thực hiện hành vi vi phạm

Trang 23

luôn có xu hướng biện minh cho hành động của mình nên khả năng hợp lý hóa hành

vi cũng là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định thực hiện hành vi gian lận

Khi thực hiện hành vi gian lận thuế, doanh nghiệp cũng có những động cơ thúc ép như: khó khăn trong tài chính, gánh nặng thuế quá cao hoặc các khoản lợi ích nhận được từ việc trốn thuế Doanh nghiệp trốn thuế thành công sẽ tiết kiệm chi phí, giảm giá thành và có mức giá sản phẩm thấp hơn sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp không trốn thuế Áp lực cạnh tranh sẽ là động cơ để các doanh nghiệp khác cũng thực hiện hành vi trốn thuế (Hanlon et al., 2007)

Vấn đề về mối liên hệ giữa trốn thuế và đầu tư? Câu hỏi đặt ra là một doanh nghiệp trốn thuế thành công sẽ có mức đầu từ gia tăng nhiều hơn hay không? Việc ngăn chặn hành vi không tuân thủ thuế có thể làm giảm việc đầu tư của doanh nghiệp không? Câu trả lời là tùy thuộc vào khi doanh nghiệp tránh được gánh nặng

về thuế, chi phí biên của doanh nghiệp sẽ giảm xuống thì giá trị đầu tư của doanh nghiệp có thực sự tăng lên? Nghiên cứu của Slemrod et al (2005) cho rằng phần giá trị đạt được do trốn thuế - khoản “bonus depreciation” sẽ có tác động trong việc đầu

tư của doanh nghiệp Hanlon et al (2007) lại tìm ra bằng chứng rằng hành vi không tuân thủ thuế sẽ cung cấp những khoản trợ cấp ngầm để doanh nghiệp đạt doanh thu cao hơn thông qua hoạt động đầu tư Vậy có thể hiểu, mục tiêu gia tăng đầu tư cũng

là động cơ để doanh nghiệp thực hiện trốn thuế

2.3 Các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN của doanh nghiệp

2.3.1 Mức phạt

Hành vi gian lận chỉ được thực hiện khi lợi ích từ việc gian lận mang đến cao hơn chi phí để thực hiện điều đó Trong quản lý hành chính nói chung và quản lý hành chính về thuế nói riêng, một trong các biện pháp hữu hiệu được sử dụng để chế tài hành vi vi phạm pháp luật là mức phạt và hình thức phạt Có nhiều phát biểu cho rằng việc gia tăng mức phạt hoặc phạt nặng sẽ là phương thức hữu hiệu ngăn chặn động cơ gian lận thuế Nghiên cứu của Allingham & Sandmo (1972) thừa nhận rằng với công cụ của mình, Chính phủ có thể hạn chế xu hướng trốn thuế

Trang 24

bằng cách gia tăng mức phạt Palil & Mustapha (2011); Helhel & Ahmed (2014) đưa ra bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa mức phạt và mức độ không tuân thủ trong khai báo thuế Mức phạt cao sẽ khiến người nộp thuế hạn chế hành vi trốn thuế Ngược lại Kamdar (1997), Yusof et al (2013) lại không tìm thấy bằng chứng thống kê nào hỗ trợ cho rằng mức phạt tăng lên sẽ giúp giảm không tuân thủ thuế

Năm 2012, mức phạt cho hành vi kê khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp được quy định là 10% (Chính phủ, 2007) Kể từ năm 2013, với mục đích chế tài, mức phạt cho hành vi này tăng lên 20% (Chính phủ, 2013) Mức phạt tăng lên, người nộp thuế phải cân nhắc khi thực hiện hành vi khai sai với mục đích làm giảm

số thuế phải nộp Phần lợi ích trước mắt do trốn thuế mang lại trở nên nhỏ hơn khi rủi ro bị cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra rất lớn Một trong những trọng tâm trong công tác quản lý thuế những năm gần đây là tăng về số lượng và chất lượng hồ sơ thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp Tần suất doanh nghiệp bị thanh tra, kiểm tra thuế trở nên dày hơn Kế thừa kết quả từ mô hình A-S (1972), Palil & Mustapha (2011); Helhel & Ahmed (2014) là mức phạt gia tăng sẽ làm hạn chế mức độ trốn thuế của người nộp thuế, giả thuyết 1 được nêu ra là có mối quan hệ ngược chiều giữa mức phạt và mức độ không tuân thủ thuế TNDN

2.3.2 Thuế suất

Thuế thu nhập doanh nghiệp được tính bằng thu nhập chịu thuế nhân thuế suất Như vậy, thuế suất là yếu tố tác động trực tiếp đến nghĩa vụ thuế mà doanh nghiệp phải thực hiện Bằng nhận định trực quan, dễ dàng kết luận rằng nếu thuế suất thấp thì tiền thuế nộp sẽ thấp, gánh nặng về thuế TNDN sẽ giảm và doanh nghiệp sẽ ít có động cơ để trốn thuế và ngược lại Tuy nhiên, bằng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, một số nghiên cứu về tác động này lại cho những kết quả khác nhau

Các nghiên cứu trước cho thấy có sự tác động hỗn hợp giữa hai yếu tố này

Lý thuyết kinh tế răn đe (Allingham & Sandmo, 1972), còn gọi là mô hình lý thuyết chống tội phạm, cho thấy có sự tác động rõ ràng của thuế suất đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế Thuế suất tăng làm tăng gánh nặng thuế, do đó họ có xu hướng

Trang 25

thực hiện hành vi gian lận thuế bằng cách kê khai ít đi thu nhập chịu thuế Palil & Mustapha (2011), Helhel & Ahmed (2014) cũng cho kết quả tương tự, mức độ gian lận sẽ gia tăng nếu thuế suất tăng Shukla và ctg (2011) cho rằng không có bằng chứng chắc chắn nào chứng minh thuế suất cao sẽ đem lại doanh thu thuế cao hơn Nhưng có một thực tế mà các nhà quản lý thuế đều biết là thuế suất cao sẽ chỉ càng khuyến khích việc trốn thuế và dẫn đến doanh số thuế thu thấp hơn Ngược lại các kết quả trên, Kamdar (1997); Hanlon et al (2007) nêu lên không có mối liên hệ thuận giữa thuế suất và mức độ không tuân thủ thuế Điều này có thể do doanh nghiệp đã không trung thực về số liệu trong báo cáo tài chính Có nghiên cứu lại cho thấy mối quan hệ giữa hai yếu tố này là chưa rõ ràng, cần bổ sung thêm một số nhấn tố khác để thấy rõ hơn mối liên hệ giữa thuế suất và hành vi không tuân thủ thuế (Jackson & Milliron,1986) Trong thực tế, để kích thích sự phát triển của doanh nghiệp trong tái đầu tư và sự gia tăng trong phân chia lợi nhuận, thuế suất có

xu hướng giảm

Những kết quả đa chiều về sự tác động của thuế suất đến hành vi vi phạm thuế của các nghiên cứu trên cho thấy tầm quan trọng và sự tranh cãi của vấn đề này Xác định đây là yếu tố then chốt trong nghiên cứu không tuân thủ thuế, dựa trên kết quả từ mô hình A-S (1972) và lập luận của Shukla và ctg (2011), giả thuyết thứ 2 được nêu ra là có mối quan hệ cùng chiều giữa thuế suất và mức độ không tuân thủ thuế TNDN

2.3.3 Thanh khoản tài chính của doanh nghiệp

Tài chính là yếu tố cần thiết, đóng vai trò then chốt, quyết định đến sự duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn lực tài chính dồi dào, ổn định, thanh khoản tốt sẽ là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả Thanh khoản tài chính là thước đo đánh giá khả năng linh hoạt trong thanh toán của doanh nghiệp Bloomquist (2003) cho rằng, căng thẳng trong vấn đề thanh khoản tài chính là một trong những áp lực của người nộp thuế Với nguồn tài chính hạn hẹp và áp lực thanh toán các khoản nợ đến hạn, người nộp thuế

dễ bị xúi giục dẫn đến hành vi không tuân thủ thuế Sự lành mạnh trong tài chính sẽ

Trang 26

giúp các cá nhân có xu hướng thực hiện các quy định pháp luật về thuế tốt hơn những cá nhân có tình tài chính xấu Carroll (1986) cũng cho thấy tình trạng thiếu tiền thúc đẩy cá nhân tìm thời cơ để vi phạm pháp luật Mohani Abdul (2001); Palil (2010) nêu kết quả doanh nghiệp khó khăn về tài chính sẽ trốn thuế nhiều hơn các doanh nghiệp không có khó khăn về tài chính

Trong nghiên cứu của Alabede et al (2011) được mở rộng từ mô hình Fisher, yếu tố tài chính được bổ sung vào mô hình để xem xét tác động gián tiếp của yếu tố này đến các yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế Qua kiểm tra ý nghĩa của mô hình cho thấy, mô hình có biến tài chính tương tác có ý nghĩa cao hơn, giải thích rõ ràng hơn về hành vi tuân thủ thuế ở Nigeria Tuy nhiên, mô hình của Yusof et al (2013) cho rằng yếu tố thanh khoản về tài chính không tác động đến mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp, những công ty với nguồn lực tài chính mạnh mẽ vẫn không tuân thủ thuế tốt hơn

Trong nghiên cứu này, thanh khoản tài chính là chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp Thanh khoản tài chính được tính bằng tỷ lệ Vốn lưu động/ tổng tài sản Tỷ lệ này càng lớn thể hiện năng lực thanh toán của doanh nghiệp càng tốt Với lập luận thanh khoản tốt sẽ giúp doanh nghiệp tuân thủ thuế tốt hơn, giả thuyết thứ 3 được nêu ra là thanh khoản tài chính của doanh nghiệp có tác động ngược chiều đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN

2.3.4 Doanh thu của doanh nghiệp

Theo Luật thuế TNDN, doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng (Quốc Hội, 2008)

Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra doanh thu hay không? Doanh thu thể hiện tiềm lực, bản lĩnh, vị thế và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó Việc tạo

ra doanh thu giúp doanh nghiệp có nguồn vốn để trang trải các khoản chi phí, thực

Trang 27

hiện tái sản xuất mở rộng, tạo công ăn việc làm cho người lao động, thực hiện nghĩa

vụ thuế đối với Nhà nước Do đó doanh thu được xem là một trong những yếu tố tác động đến khả năng và mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Quân (2012) đưa yếu tố doanh thu vào mô hình tuân thủ thuế xét khía cạnh nộp thuế đúng hạn của các DNTN trên địa bàn quận 10 Kết quả là không

có số liệu thống kê cho thấy có mối quan hệ giữa doanh thu và hành vi nộp thuế đúng hạn Tuy nhiên, xét dưới góc độ kê khai thuế, việc gia tăng doanh thu kéo theo

sự gia tăng chi phí Chi phí phát sinh càng nhiều thì rủi ro trong tuân thủ các quy định thuế trở nên nhiều hơn Với cơ sở lập luận như trên, giả thuyết thứ 4 được nêu

ra là doanh thu của doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với mức độ không tuân thủ thuế TNDN

2.3.5 Số thuế phải nộp của doanh nghiệp

Bằng nghiên cứu thực nghiệm, Friedland (1978) chỉ ra người ta ít tuân thủ khi số thuế phải nộp cao Tương tự như thế, Somasundram (2003) cho rằng từ khi hình thành cơ chế tự khai tự nộp, tuân thủ thuế trở thành một vấn đề quan trọng trong hệ thống thuế Nghiên cứu khẳng định, tổng số thuế phải nộp phụ thuộc nhiều vào mức độ tuân thủ thuế Người nộp thuế phải chấp nhận sự rủi ro trong việc

không tuân thủ thuế và xác suất bị kiểm tra thuế

Số thuế phải nộp được tính bằng thu nhập chịu thuế nhân với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Trong đó, thuế suất là một hằng số, không thể thay đổi theo

ý muốn của doanh nghiệp, được quy định một cách chặt chẽ, chi tiết theo Luật và các văn bản dưới Luật Muốn giảm số thuế phải nộp, người nộp thuế chỉ có thể khai

ít đi thu nhập chịu thuế bằng cách gia tăng các khoản chi phí không hợp lệ Do đó, gánh nặng về thuế sẽ là nguyên nhân dẫn đến hành vi không tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp, giả thuyết thứ 5 được nêu ra là số thuế phải nộp của doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với mức độ không tuân thủ thuế TNDN

2.3.6 Quy mô của doanh nghiệp

Giles (2000) cho rằng khi doanh nghiệp có sự gia tăng về quy mô (dù quy

mô được đo lường như thế nào) thì vấn đề tuân thủ thuế của doanh nghiệp cũng sẽ

Trang 28

tốt lên Những doanh nghiệp có quy mô nhỏ sẽ thực hiện hành vi trốn thuế nhiều hơn Bằng nghiên cứu của mình, Tedds (2007) cũng cho kết quả tương tự khi mô hình chỉ ra rằng những doanh nghiệp quy mô nhỏ và có 3 đối thủ cạnh tranh trở lên

có xu hướng không tuân thủ thuế bằng các doanh nghiệp quy mô lớn và không có đối thủ cạnh tranh Nghiên cứu về đặc điểm của các doanh nghiệp gian lận trong kê khai báo cáo tài chính, Ahmad et al (2010) có chứng cứ cho thấy quy mô doanh nghiệp có tác động tiêu cực đến việc gian lận trong kê khai báo cáo tài chính Các doanh nghiệp nhỏ thường dễ gian lận trong việc kê khai thuế Điều này được giải thích là do các doanh nghiệp quy mô lớn được quản trị doanh nghiệp tốt hơn (good corporate governence practice) Hanlon et al (2007), Yusof et al (2013) nghiên cứu hành vi không tuân thủ thuế qua số liệu của kiểm toán, kết quả cho thấy hành vi không tuân thủ theo quy mô của doanh nghiệp giống như mô hình hình chữ U Trong đó, doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ sẽ có tỷ lệ không tuân thủ thuế thấp nhất, doanh nghiệp nhỏ sẽ có mức độ không tuân thủ thuế cao hơn

Trong nghiên cứu này, quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng giá trị tổng tài sản cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán Giá trị tổng tài sản càng lớn thì quy mô doanh nghiệp càng lớn Khi doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động của doanh nghiệp sẽ được đầu tư tốt hơn về vốn, kỹ thuật và nhân lực; công tác quản trị và điều hành doanh nghiệp sẽ trở nên hiệu quả hơn, giúp khả năng tuân thủ thuế của doanh nghiệp được cải thiện, giả thuyết thứ 6 được nêu ra là quy mô của doanh nghiệp tác động ngược chiều đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN

2.3.7 Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp quy định, doanh nghiệp được kinh doanh bất cứ ngành nghề gì nếu pháp luật không cấm Doanh nghiệp sẽ thực hiện kinh doanh ngành nghề đã được đăng ký theo giấy phép kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Thông thường, trên Giấy phép kinh doanh, để thuận tiện trong hoạt động, các doanh nghiệp thường đăng ký hoạt động đa ngành nghề Lúc này, ngành nghề kinh doanh

sẽ được xác định từ lĩnh vực tạo ra nguồn doanh thu chủ lực cho hoạt động của doanh nghiệp

Trang 29

OECD (2014) cho rằng ngành nghề kinh doanh có tác động đến hành vi và mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp Nghiên cứu của Yusof et al (2013) cho thấy ngành xây dựng thường không tuân thủ thuế hơn các ngành nghề khác Tuy nhiên, nghiên cứu của Yusof et al (2012) lại chỉ ra rằng các doanh nghiệp sản xuất

có hành vi tuân thủ thuế thấp hơn các ngành nghề còn lại Điều này có thể được giải thích do quy trình tạo ra thành phẩm qua nhiều giai đoạn, việc tập hợp hóa đơn chứng từ, hạch toán kế toán và phân bổ chi phí tương đối phức tạp, từ đó dẫn đến khả năng sai sót trong kê khai thuế Lại có nghiên cứu tìm thấy kết quả là không có bằng chứng cho thấy ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp tác động đến hành

vi tuân thủ thuế (Lai et al., 2013)

Nghiên cứu này đề cập đến ba loại ngành nghề kinh doanh cơ bản: sản xuất, xây dựng, thương mại và dịch vụ Theo lập luận của OECD, 2004 và kết quả các nghiên cứu của Yusof et al (2012; 2013), giả thuyết thứ 7 được nêu ra là doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề khác nhau có mức độ không tuân thủ thuế TNDN khác nhau

2.3.8 Loại hình doanh nghiệp

Luật doanh nghiệp (2005) quy định rõ về quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, …Mỗi loại hình doanh nghiệp có những quy định riêng về góp vốn, tài sản, quyền và nghĩa vụ khác nhau Theo đó, công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Sở hữu các cổ phần được gọi là cổ đông Các cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Cổ đông

có nhiều quyền, trong đó có quyền được nhận cổ tức theo Quyết định của Đại hội cổ đông Về cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát Với những đặc điểm trên, hoạt động của công ty cổ

Trang 30

phần đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Ngoài

ra, công ty cổ phần phải công khai báo cáo tài chính cho toàn bộ cổ đông nên độ trung thực của Báo cáo tài chính được đánh giá là tốt hơn

Hanlon et al (2007) cho thấy có mối liên hệ giữa loại hình doanh nghiệp với hành vi không tuân thủ thuế Cụ thể doanh nghiệp tư nhân sẽ có mức độ không tuân thủ thuế cao hơn các doanh nghiệp khác, điều này được lý giải bởi các doanh nghiệp tư nhân sẽ ít bị chi phối bởi động cơ phải báo cáo với lợi nhuận cao cho công chúng như các công ty đại chúng khác

Theo phân cấp quản lý, tại Chi cục Thuế Quận 10 quản lý các loại hình doanh nghiệp như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân Trong đó, công ty cổ phần được xem là doanh nghiệp có quy mô hơn hẳn 2 loại hình doanh nghiệp còn lại do hoạt động của công ty cổ phần được giám sát chặt chẽ bởi Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Từ các lập luận trên, giả thuyết thứ 8 được nêu ra là Công ty cổ phần có mức độ không tuân thủ thuế TNDN ít hơn các loạihình doanh nghiệp khác

2.3.9 Kinh nghiệm (số năm kinh doanh của doanh nghiệp)

Theo OECD (2004), kinh nghiệm hoặc kiến thức về thuế có tác động rõ nét đến hành vi tuân thủ thuế Người có trình độ kiến thức cao có xu hướng hiểu rõ, dễ tiếp cận các quy định của chính sách thuế, và do đó việc tuân thủ thuế trở nên tốt hơn Tại Malaysia, hình thức doanh nghiệp tự kê khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm (self assessment system- SAS) được xem là chìa khóa quan trọng trong việc thực hiện cải cách hành chính về thuế Bước đi này hướng đến trách nhiệm của người nộp thuế trong việc kê khai thu nhập và xác định số thuế phải nộp Kết quả nghiên cứu của Palil & Mustapha (2011) khẳng định tầm quan trọng của kiến thức thuế trong việc quyết định hành vi tuân thủ thuế Chính sách thuế đơn giản, dễ hiểu, ít thay đổi sẽ là mục tiêu hướng đến của các nhà làm Luật khi xây dựng chính sách thuế Đồng quan điểm như trên, Houston & Tran (2001) cho rằng người có trình độ đại học trở lên ít trốn thuế hơn những người có trình độ học vấn từ lớp 12 trở xuống

Trang 31

Nghiên cứu này đề cập đến chỉ tiêu kinh nghiệm, được đo lường bằng số năm kinh doanh của doanh nghiệp từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, với mục đích làm rõ hơn tác động của yếu tố này đến hành vi và mức độ không tuân thủ thuế Doanh nghiệp kinh doanh càng lâu sẽ càng có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động quản lý cũng như việc chấp hành pháp luật thuế hơn những doanh nghiệp khác, giả thuyết thứ 9 được nêu ra là kinh nghiệm kinh doanh của doanh nghiệp có tác động ngược chiều với mức độ không tuân thủ thuế TNDN

2.3.10 Dịch vụ đại lý thuế (doanh nghiệp sử dụng dịch vụ đại lý thuế hoặc không sử dụng dịch vụ đại lý thuế)

Thuật ngữ “đại lý thuế” nhằm nói đến các tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 là văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến loại hình dịch vụ này Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài Chính quy định “Trường hợp người nộp thuế ký hợp đồng dịch vụ làm thủ tục về thuế với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, gọi chung là đại lý thuế, thì người đại diện theo pháp luật của đại lý thuế ký tên, đóng dấu vào phần đại diện hợp pháp của người nộp thuế trên văn bản, hồ sơ giao dịch với cơ quan thuế; Người nộp thuế phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế biết về việc sử dụng dịch vụ làm thủ tục về thuế và gửi kèm theo bản chụp hợp đồng dịch vụ làm thủ tục về thuế có xác nhận của người nộp thuế” Ưu điểm của loại hình dịch vụ này là giúp doanh nghiệp yên tâm tập trung vào kinh doanh, không phải lo lắng về thủ tục kê khai, nộp thuế Bên cạnh đó, sử dụng dịch

vụ đại lý thuế sẽ hạn chế tình trạng kế toán thiếu nghiệp vụ, ít cập nhật thông tư thuế khiến các doanh nghiệp đôi khi phải giải quyết phát sinh với cơ quan thuế, gây tốn kém và mất thời gian

Sử dụng dịch vụ đại lý thuế ngày nay đã trở nên phổ biến với những tiện ích của nó mang lại, lỗi sai sót trong kê khai thuế sẽ ít đi, khả năng cập nhật chính sách thuế mới tốt hơn, giúp các doanh nghiệp cải thiện được mức độ tuân thủ trong việc chấp hành chính sách, pháp luật thuế, giả thuyết thứ 10 được nêu ra là doanh nghiệp

Trang 32

sử dụng dịch vụ đại lý thuế có mức độ không tuân thủ thuế ít hơn những doanh nghiệp khác

2.3.11 Giới tính của người đại diện doanh nghiệp

Các nghiên cứu thường cho thấy rằng phụ nữ thường tuân thủ thuế tốt hơn nam giới (OECD, 2004, Kastlunger et al., 2010) Điều này được giải thích do tố chất của người phụ nữ như: chuẩn mực về đạo đức, lối sống bảo thủ (conservative life pattern) Tuy nhiên, một số lại cho rằng cuộc sống hiện đại khiến người phụ nữ độc lập hơn, yếu tố truyền thống không còn nhiều và khoảng cách về sự tuân thủ giữa nữ giới và nam giới gần lại (Grasmick, Finley & Glaser, 1984 trích bởi Jackson & Milliron, 1986) Kasippilain (2006); Al-Mamum et al ( 2014) lại cho thấy không có sự khác biệt trong hành vi tuân thủ thuế của nam và nữ Kết quả này cũng giống với nghiên cứu của Jackson & Milliron (1986) Tuy nhiên, nghiên của Houston & Tran (2001) cho rằng giới tính có mối quan hệ đến mức độ tuân thủ thuế, tuy nhiên đây là tác động ngược chiều Kết quả cho thấy nữ giới không tuân thủ tốt bằng nam giới, họ thường hay giấu bớt thu nhập và kê khai thừa các khoản giảm trừ

Yếu tố giới tính trong nghiên cứu đề cập đến giới tính của người đại diện pháp luật, là người đại diện cho một cá nhân hay tổ chức nào đó thực hiện các giao dịch và hành vi dân sự, hành chính được pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép Người đại diện pháp luật là một cá nhân, có những đặc điểm riêng của cá nhân đó như trình độ, khả năng, tính cách, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo,

Do đó, suy nghĩ, hành động của người đại diện pháp luật sẽ chịu sự tác động bởi những đặc điểm trên Nghiên cứu đưa biến giới tính của người đại diện doanh nghiệp vào mô hình nhằm xác định có hay không sự tác động của giới tính đến mức

độ tuân thủ thuế Với lập luận nữ giới với tính cách kỹ lưỡng, cẩn thận, chu đáo, ngại sai phạm, giả thuyết thứ 11 được nêu ra là doanh nghiệp có người đại diện pháp luật là nữ có mức độ không tuân thủ thuế ít hơn doanh nghiệp có người đại diện pháp luật là nam

Trang 33

2.4 Các nghiên cứu trước về không tuân thủ thuế

Allingham & Sandmo (1972) xây dựng mô hình lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế (còn gọi là mô hình A-S) Bằng cách xem xét một số khía cạnh tĩnh và động các yếu tố tác động đến việc trốn thuế thu nhập, đây được xem là mô hình lý thuyết

cơ bản, phản ánh cấu trúc vấn đề về tình trạng trốn thuế của người nộp thuế, và cũng được xem là tiền đề để phát triển các nghiên cứu cả về lý thuyết và thực tiễn sau này Theo Andreoni & ctg (1998) và Kamdar (1997), A-S (1972) là mô hình kinh tế răn đe, mô hình kinh tế chống tội phạm hoặc mô hình lý thuyết trò chơi Mô hình A-S gồm 3 yếu tố cơ bản tác động đến tuân thủ thuế: mức phạt, xác suất bị kiểm tra, thuế suất Kết quả cho thấy mức phạtvà xác suất bị kiểm tra càng cao sẽ khiến cho người nộp thuế tuân thủ thuế tốt hơn

Cho rằng nghiên cứu A&S chỉ mang tính lý thuyết khi chưa xem xét sự tác động của các yếu tố xã hội học và tâm lý học trong mô hình, sử dụng 4 phương pháp nghiên cứu: điều tra phỏng vấn, phân tích, thực nghiệm, hồi quy, Jackson & Milliron (1986) đã đưa vào mô hình 14 yếu tố chính tác động đến hành vi không tuân thủ thuế như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, mức thu nhập, nguồn thu nhập, nghề nghiệp, tác động ngang hàng (peer influence), dân tộc, sự công bằng, sự phức tạp của luật thuế, giao tiếp với cơ quan thuế, xác suất bị kiểm tra, mức phạt và thuế suất Kết quả cho thấy có sự tác động của các yếu tố như: giới tính, độ tuổi, trình

độ, tôn giáo của người nộp thuế và sự sự phức tạp của luật thuế đến hành vi tuân thủ thuế

Alabede và cộng sự (2011) dựa trên mô hình của Fisher, sử dụng yếu tố tài chính làm biến tương tác để đánh giá tác động các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế ở Nigeria Bằng phương pháp hồi quy, nghiên cứu cho thấy điều kiện tài chính của người nộp thuế có tác động gián tiếp đến mối quan hệ giữa cấu trúc hệ thống thuế, nghề nghiệp của người nộp thuế đến hành vi tuân thủ thuế; đồng thời chưa có bằng chứng để thấy tác động gián tiếp của yếu tố tài chính về mối quan hệ giữa nguồn thu nhập, mức thu nhập và thái độ về trốn thuế của người nộp thuế đến vấn đề tuân thủ thuế

Trang 34

Kết quả còn cho thấy mô hình có sự tác động của nhóm biến tình hình tài chính có ý nghĩa hơn mô hình không có biến tài chính tương tác Điều này cho thấy yếu tố tài chính có ý nghĩa đến hành vi tuân thủ thuế

Nguyễn Hoàng Quân (2012) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp tư nhân Quận Tân Bình – Xét khía cạnh nộp thuế đúng hạn Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, mẫu bao gồm 170 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động trên địa bàn quận Tân Bình, trong khoảng thời gian năm 2009 đến năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi tuân thủ thuế thông qua khả năng nộp thuế đúng hạn bị chi phối bởi các các yếu tố như lợi nhuận trước thuế (EBT), Tổng số thuế phải nộp (Tax), Ngành nghề kinh doanh (CR) và Giới tính (Sex)

Lê Thanh Trường (2014) nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh Với dữ liệu gồm 300 mẫu được thu thập từ các doanh nghiệp kê khai thuế trên địa bàn quận 1, 3, 5, 10, được xử lý bằng kỹ thuật phân tích độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach ‘Alpha, Phân tích nhân tố khám phá EFA và mô hình hồi quy tuyến tính Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố tác động đến tuân thủ thuế tại Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh gồm Kiến thức thuế; Công tác kiểm tra thuế, Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế, Nhận thức tích cực về tính công bằng của thuế, Hình phạt; Tính đơn giản của việc kê khai thuế và Nhận thức tích cực về chi tiêu chính phủ

Giles (2000) nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp ở New Zealand qua số liệu đã được kiểm tra thuế Mẫu được thu thập từ 51.356 doanh nghiệp được kiểm tra giai đoạn 1993 – 1995, nguồn dữ liệu từ “ORACLE” của New Zealand Inland Revenue Department (IRD) Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Logit đa thức nhằm ước lượng khả năng tuân thủ thuế, trốn thuế và tránh thuế của doanh nghiệp Các biến độc lập trong mô hình gồm: loại hình doanh nghiệp, tài sản, chi phí, doanh thu, chi phí khấu hao, chi phí lãi vay, nợ xấu, thiệt hại do tranh chấp, thuế truy thu qua kiểm tra Kết quả cho thấy, doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp hoạt động hiệu quả sẽ tuân thủ thuế tốt hơn các doanh nghiệp khác Ngoài

Trang 35

ra, những doanh nghiệp làm trong các lĩnh vực khác nhau thì khả năng tuân thủ thuế cũng khác nhau

Hanlon et al (2007) sử dụng số liệu từ kết quả kiểm tra của IRS (Internal Revenue Service) để nghiên cứu hành vi không tuân thủ thuế của doanh nghiệp Mức độ không tuân thủ được đo lường bằng tỷ lệ số thuế phải nộp chênh lệch qua kiểm tra/ Tổng tài sản cuối năm (hoặc tổng doanh thu trong năm) Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp có quy mô lớn và vừa có thực hiện kiểm tra thuế Mẫu được thu thập từ 21.141 quan sát

Mô hình hồi quy của Hanlon et al (2007)

Deficiency/Scale = α0 + α1LogAssets (or LogSales) + α2CIC + α3Public + α4FCC + α5Multinational + α6- α12Sector + ε

Trong đó: (Deficiency) Giá trị chênh lệch qua kiểm tra (số liệu thu thập từ VCBLM – Voluntary Compliance Baseline Measurement); (Scale) Tổng tài sản cuối năm hoặc tổng doanh thu trong năm; (LogAssets or LogSales) Logarit tổng tài sản cuối năm (hoặc tổng doanh thu trong năm) tính bằng triệu USD; (CIC) Là thành viên của CIC; (Public); (FCC) Chủ sở hữu là nước ngoài; (Multinational) Có hợp tác quốc tế; (Sector) Ngành nghề kinh doanh

Kết quả cho thấy sự tương quan giữa quy mô doanh nghiệp và hành vi không tuân thủ có hình chữ U, có nghĩa là doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ không tuân thủ (số thuế không kê khai/số thuế phải kê khai) là 13%, trong khi đó doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ sẽ có mức độ không tuân thủ cao hơn 13% Mô hình còn chỉ ra rằng lợi ích đạt được từ việc không tuân thủ thuế của bất kỳ doanh nghiệp nào

sẽ là yếu tố cạnh tranh để các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành nghề khác theo đuổi thực hiện

Yusof et al (2013) xây dựng mô hình các yếu tố then chốt tác động đến mức

độ không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Malaysia năm 2011 Dữ liệu được thu thập từ IRBM (Inland Revenue Board of Malaysia) Mẫu được thu thập ngẫu nhiên từ 509 trường hợp được kiểm tra quyết toán thuế năm 2011, trong đó loại bỏ 12 trường hợp không phát sinh thu nhập chịu

Trang 36

thuế, 114 trường hợp không phải là doanh nghiệp vừa và nhỏ, 101 trường hợp không phát sinh số thuế phải nộp qua công tác thanh tra, kiểm tra, cuối cùng mẫu nghiên cứu còn 282 trường hợp

Mô hình hồi quy của Yusof et al (2013)

Log (CTNC) = β0 + β1 PEN + β2 MRT + β3 LIQ + β4 FORE + β5 Log ASSETS + β6 MAN + β7 CON + β8 WSALE + β9 SER + ε

Trong đó:

CTNC là mức độ không tuân thủ thuế TNDN, được đo lường bằng tỷ lệ Thu nhập chịu thuế TNDN chênh lệch qua kiểm tra/Thu nhập chịu thuế TNDN thực tế phải khai báo; (PEN) Mức phạt là biến giả, quy ước các mức phạt từ 10%-45%nhận giá trị (1), mức phạt trên 45% nhận giá trị (0); (MRT) Thuế suất biên, đo lường bằng mức thuế suất biên theo quy định; (LIQ) Thanh khoản tài chính, đo lường bằng tỷ lệ vốn lưu động/tổng tài sản = [(tài sản hiện có- nợ phải trả)/tổng tài sản]; (FORE) Doanh nghiệp có chủ sở hữu nước ngoài nhận giá trị 1, còn lại nhận giá trị 0; (SIZE) Quy mô của doanh nghiệp, được tính bằng Logarit Tổng tài sản; (MAN) Biến giả cho doanh nghiệp kinh doanh ngành sản xuất; (CON) Biến giả cho doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng; (WSALE) Biến giả cho doanh nghiệp kinh doanh ngành thương mại - bán sỉ; (SER) Biến giả cho ngành dịch vụ

Kết quả mô hình cho thấy thuế suất biên (marginal tax rate) và quy mô của doanh nghiệp (size) có tác động đến mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp; trong khi đó mức phạt (penalty), thanh khoản tài chính (financial liquidation), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (foreign ownership) và loại hình kinh doanh của doanh nghiệp (manufacturing, construction, wholesale & trade, service) là những yếu tố không có tác động đến mức độ tuân thủ thuế

Tóm lại các nghiên cứu trước tìm hiểu về không tuân thủ thuế thông qua phương pháp khảo sát, trả lời bảng câu hỏi bằng cảm nhận, đánh giá mang tính chủ quan Phần lớn các nghiên cứu nước ngoài tập trung vào vấn đề không tuân thủ thuế của các cá nhân người nộp thuế Một số ít các nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề tuân thủ thuế của doanh nghiệp, tuy nhiên chỉ dừng ở các số liệu mang tính số hóa,

Trang 37

chưa đánh giá toàn diện các yếu tố tác động đến việc vi phạm pháp luật thuế của doanh nghiệp Với mong muốn đánh giá mức độ không tuân thủ thuế bằng số liệu được thu thập thực tế qua công tác thanh tra, kiểm tra, có lồng ghép các vấn đề về tâm lí học như giới tính của người chủ doanh nghiệp, kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp, tác động của việc sử dụng các đại lý thuế, tư vấn thuế đến việc tuân thủ thuế, đề tài sẽ giúp người đọc có cái nhìn đa chiều hơn khi doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thuế

Trang 38

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tổng quan lý thuyết trong chương 2 và các nghiên cứu trước của các tác giả nước ngoài đã hình thành nên các giả thuyết nghiên cứu Mục tiêu của Chương 3 là

hệ thống các nội dung cơ bản liên quan đến mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các biến được sử dụng, cách đo lường biến và nguồn thu thập dữ liệu

3.1 Quy trình nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 10 qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện như sau: xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu, dựa trên khung lý thuyết

về thuế, động cơ gian lận thuế, tìm hiểu các nghiên cứu trước về không tuân thủ thuế của DN tiến hành xây dựng các giả thuyết nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở các giả thuyết nghiên cứu, kết hợp với nguồn dữ liệu có thể tiếp cận và thu thập tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu Phân tích dữ liệu thu thập được qua phần mềm phân tích dữ liệu nghiên cứu SPSS phiên bản 18: phân tích tần số, thống kê mô tả các biến, phân tích tương quan và thực hiện hồi quy Sau đó kiểm định độ phù hợp của mô hình, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu từ kết quả thu được Nếu kết quả phù hợp thì ứng dụng mô hình hồi quy để xây dựng và kiến nghị giải pháp cho mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, hồi quy OLS để đo lường sự tác động của các yếu tố đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN của doanh nghiệp Dựa vào mục tiêu và cơ sở lý thuyết được xây dựng, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu, quy trình, cách thu thập dữ liệu Mẫu được thu thập theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, được thu thập tại Đội Kê khai kế toán thuế, Đội kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế Quận 10

Trang 39

Quy trình nghiên cứu được tóm tắt theo sơ đồ sau

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Đề xuất của tác giả

Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp, phạm vi, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu chính thức

Kết quả nghiên cứu Thống kê mẫu quan sát Phân tích tương quan Phân tích hồi quy

Cơ sở lý thuyết, Các nghiên

cứu trước;

Phân tích, đánh giá và xây

dựng mô hình nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu và nguồn

dữ liệu thu thập liên quan đến

mô hình nghiên cứu

Kết quả kiểm định của mô hình nghiên cứu

Kiến nghị, giải pháp, gợi ý chính sách

Trang 40

3.2 Mô hình nghiên cứu

3.2.1 Mô hình kinh tế lượng

Để phân tích các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 10 qua kết quả thanh tra, kiểm tra, nghiên cứu chủ yếu dựa trên mô hình của Yusof et al (2013) Tuy nhiên, nghiên cứu có bổ sung, điều chỉnh một số biến để phù hợp với đặc trưng của doanh nghiệp tại địa bàn Quận 10, đồng thời làm tăng tính chặt chẽ của mô hình Mô hình hồi quy có dạng: Log(CTNC)= α + β1PEN + β2TAXRATE + β3LIQ + β4LNREV + β5LNTAX + β6LNASSETS + β7TRA.SER + β8MAN + β9JSC + β10EXP

+ β11TAXSER + β12MALE + εi

3.2.2 Giải thích và đo lường biến

Biến phụ thuộc CTNC đo lường mức độ không tuân thủ thuế TNDN của doanh nghiệp Không tuân thủ thuế trong đề tài là việc doanh nghiệp ghi giảm doanh thu, ghi tăng chi phí trong kỳ, làm phát sinh tăng thu nhập chịu thuế qua thanh tra, kiểm tra Mức độ không tuân thủ được tính bằng công thức:

CTNC = Thu nhập chịu thuế TNDN chênh lệch qua thanh tra, kiểm tra/ Thu nhập chịu thuế TNDN thực tế phải khai báo

Trong đó:

Thu nhập chịu thuế TNDN chênh lệch qua thanh tra, kiểm tra = Thu nhập chịu thuế TNDN thực tế phải khai báo (số kiểm tra) - Thu nhập chịu thuế TNDN kê khai (số kê khai) Giá trị Y càng lớn chứng tỏ mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp càng cao

Chỉ tiêu “Thu nhập chịu thuế TNDN chênh lệch qua kiểm tra” và chỉ tiêu

“Thu nhập chịu thuế TNDN thực tế phải khai báo” được thu thập từ kết quả Biên bản kiểm tra trong hồ sơ thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp đó Tài liệu này mang tính nội bộ và được lưu giữ tại Chi cục Thuế Quận 10 Tương tự như nghiên cứu của Yusof et al (2013), do hạn chế về mặt xử lý số liệu, nghiên cứu chỉ chọn những hồ sơ thanh tra, kiểm tra mà doanh nghiệp có hành vi kê khai sai dẫn đến thiếu (làm phát sinh tăng) số thuế TNDN phải nộp

Ngày đăng: 20/04/2021, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w