LỜI CAM ĐOAN Tôi tên là Bùi Mạnh Đại, là học viên lớp Cao học Khóa 28, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của luận văn đề tài “C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
BÙI MẠNH ĐẠI
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHƯƠNG THỨC LẬP NGÂN SÁCH THEO KHUÔN KHỔ CHI TIÊU TRUNG HẠN TRƯỜNG HỢP TỈNH
BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
BÙI MẠNH ĐẠI
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHƯƠNG THỨC LẬP NGÂN SÁCH THEO KHUÔN KHỔ CHI TIÊU TRUNG HẠN TRƯỜNG HỢP TỈNH
BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Kim Quyến
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Bùi Mạnh Đại, là học viên lớp Cao học Khóa 28, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả
của luận văn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến phương thức lập ngân sách theo
khuôn khổ chi tiêu trung hạn trường hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Kim Quyến Trong luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả, các thông tin, số liệu sử dụng trong luận văn này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác, khách quan, trung thực và có thể kiểm chứng./
Học viên thực hiện
Bùi Mạnh Đại
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Phương pháp tiếp cận 2
1.4 Phạm vi của đề tài 3
1.5 Khung phân tích 4
1.6 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 5
2.1 Một số khái niệm về NSNN 5
2.1.1 Khái niệm về NSNN 5
2.1.2 Khái niệm về thu NSNN 5
2.1.3 Khái niệm về chi tiêu công 6
2.1.4 Khái niệm về quản lý chi tiêu công 6
Trang 52.1.5 Khái niệm về quy trình lập NSNN 6
2.1.6 Các phương thức soạn lập ngân sách trong quản lý chi tiêu công 7
2.2 Tổng quan về khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) 9
2.2.1 Thực trạng áp dụng MTEF trên thế giới 9
2.2.2 Khái niệm và đặc trưng của khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) 10
2.2.2.1 Khái niệm khuôn khổ chi tiêu trung hạn 10
2.2.2.2 Đặc trưng của MTEF 12
2.2.3 Mục tiêu và điều kiện triển khai MTEF 14
2.2.3.1 Mục tiêu của MTEF 14
2.2.3.2 Các yếu tố và điều kiện cơ bản để triển khai MTEF có hiệu quả 14
2.2.3.3 Mối quan hệ giữa MTEF và lập ngân sách hàng năm 16
2.2.4 Nội dung và quy trình cơ bản của MTEF 18
2.2.4.1 Định dạng khuôn khổ trung hạn 18
19
2.2.4.3 Quy trình lập ngân sách theo MTEF 23
24
2.2.5 Những yếu tố thay đổi ảnh hưởng đến dự toán MTEF 27
2.3 Kinh nghiệm áp dụng MTEF 28
2.3.1 Kinh nghiệm từ mô hình MTEF ở một số quốc gia 28
2.3.2 Kinh nghiệm từ kết quả thực hiện thí điểm MTEF ở Việt Nam 29
Trang 62.3.2.1 Những kết quả đạt được 30
2.3.2.2 Những bất cập, tồn tại đòi hỏi phải được khắc phục khi áp dụng chính thức mô hình MTEF 30
2.3.2.3 Những thách thức đối việc với việc áp dụng MTEF gồm: 31
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LẬP NGÂN SÁCH THEO MÔ HÌNH MTEF TẠI BÀ RỊA - VŨNG TÀU 32
3.1 Đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình thu chi NSNN của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 32
3.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 32
3.1.1.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn 33
3.1.1.2 Dân số và lao động 34
3.1.1.3 Giáo dục đào tạo 34
3.1.1.4 Y tế 34
3.1.2 Tình hình thu, chi NSNN trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 35
3.2 Phương pháp tiếp cận 36
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp và quy trình thu thập số liệu 37
3.2.3 Phạm vi thu thập dữ liệu 38
3.3 Cơ sở pháp lý, nội dung và quy trình lập ngân sách trung hạn theo mô hình MTEF tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 38
3.3.1 Cơ sở pháp lý 38
3.3.2 Nội dung và quy trình lập ngân sách trung hạn theo mô hình MTEF tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 39
Trang 73.3.2.1 Nội dung và quy trình lập kế hoạch tài chính 5 năm cấp tỉnh 40
3.3.2.2 Nội dung và quy trình lập kế hoạch tài chính ngân sách 3 năm cấp tỉnh 42
3.4 Kết quả nghiên cứu áp dụng MTEF tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 44
3.4.1 Kết quả thu thập số liệu thống kê từ các báo cáo: 44
3.4.2 Kết quả khảo sát 48
3.4.3 Kết quả đạt được và những tồn tại khi triển khai MTEF tại tỉnh Bà Rịa – Vũng 52
3.4.3.1 Kết quả đạt được khi thực hiện MTEF 53
3.4.3.2 Những tồn tại, hạn chế khi triển khai MTEF 54
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
4.1 Kết luận 56
4.2 Đề xuất, khuyến nghị 56
4.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý tài chính 57
4.2.2 Cải cách hành chính công 57
4.2.3 Cải cách tài chính công 58
4.2.4 Hoàn thiện các định mức chi tiêu, phân bổ ngân sách và các chỉ tiêu đo lường 59
4.2.5 Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý 60
4.2.6 Yếu tố con người 61
4.3 Hạn chế của đề tài: 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHỤ LỤC
Phụ lục 01: Tổng hợp số liệu quyết toán thu chi NSNN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2011-2018
Phụ lục 02: Phiếu khảo sát
Phụ lục 03: Kết quả khảo sát
Phụ lục 01
Phụ lục 02
Phụ lục 03
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MTEF: Khuôn khổ chi tiêu trung hạn
MTEFs: Khuôn khổ chi tiêu trung hạn ngành
MTFF: Khuôn khổ tài chính trung hạn
NSNN: Ngân sách nhà nước
NSTW: Ngân sách trung ương
NSĐP: Ngân sách địa phương
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: ập ngân sách hàng năm và MTEF ở cấp Bộ, ngành 13Bảng 2.2: Các hoạt động trong quy trình lập ngân sách theo MTEF 22Bảng 3.1: Nội dung và trình lập kế hoạch tài chính 5 năm cấp tỉnh 41Bảng 3.2: Nội dung và trình tự lập kế hoạch tài chính – ngân sách 3 năm cấp tỉnh 43
Bảng 3.3: Cơ cấu thu NSNN trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2011-2018 45
Bảng 3.4: Cơ cấu thu ngân sách địa phương được hưởng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2011-2018 45
Bảng 3.5: Quyết toán và dự toán chi đầu tư tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu giai đoạn 2011-2014 46
Bảng 3.6: Quyết toán và dự toán chi thường xuyên tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2011-2014 46
Bảng 3.7: Cơ cấu chi đầu tư và chi thường xuyên NSNN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2011-2018 47
Bảng 3.8: Chi chuyển nguồn sang năm sau tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2013-2018 47
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Nguyên tắc cuốn chiếu trong MTEF 19
Hình 2.2: Quy trình dự toán ngân sách theo MTEF 24
Hình 2.3: Các bước trong quy trình Khuôn khổ chi tiêu trung hạn 27
Hình 2.4: Những yếu tố thay đổi ảnh hưởng đến dự toán MTEF 28
Trang 12TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Phương thức lập ngân sách theo Khuôn khổ chi tiêu trung hạn đã được các quốc gia áp dụng mang lại hiệu quả trong việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính công, hạn chế được những yếu kém của phương thức lập ngân sách truyền thống Để áp dụng MTEF có hiệu quả đòi hỏi phải đảm bảo những điều kiện cơ bản
và phù hợp đặc điểm thể chế của từng quốc gia/địa phương
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu áp dụng MTEF ở những phạm vi và cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên đến nay chưa có đề tài nghiên cứu về MTEF tại tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu, do đó tác giả lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến phương
thức lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn trường hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu thực trạng áp dụng MTEF, xác định
các yếu tố ảnh hưởng đến MTEF, từ đó đề xuất khuyến nghị giải pháp áp dụng
MTEF có hiệu quả tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Để đạt được mục tiêu của đề tài, tác giả tiến hành hệ thống lý thuyết về MTEF Đề tài sử dụng phương pháp định tính để xây dựng câu hỏi khảo sát kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích, so sánh số liệu thứ cấp thu thập được với khung lý thuyết để đánh giá thực trạng áp dụng MTEF, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến MTEF, từ đó đề xuất khuyến nghị một số giải pháp để áp dụng MTEF mang lại hiệu quả tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, để áp dụng MTEF có hiệu quả cần phải hoàn thiện các yếu tố về môi trường pháp lý, hành chính, tài chính công, hệ thống thông tin quản lý và tư duy quản lý điều hành Đề tài có ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo địa phương, các đơn vị hoạch định chính sách, các đơn vị có liên quan trong quy trình MTEF Giúp cho các nhà lãnh đạo có tầm nhìn trung hạn về nguồn lực của địa phương để dự báo, phân bổ và sử dụng nguồn lực có hiệu quả
Từ khóa: MTEF, Khuôn khổ chi tiêu trung hạn, Tài chính công, Kế hoạch tài
chính trung hạn
Trang 13ABSTRACT
Medium-Term Expenditure Framework budgeting has been adopted by countries effectively in the allocation and use of public financial resources, eliminating the weaknesses of traditional budgeting system Effective application
of the MTEF requires ensuring the basic conditions and matching the institutional characteristics of each country / locality
There have been many research projects applying MTEF in different ranges and approaches However, up to now, there is no research topic on MTEF in Ba Ria
- Vung Tau province, so the author chose the topic "Factors affecting the budgeting
method according to the medium-term expenditure framework in the case of the province BA Ria Vung Tau" The objective of the thesis is to study the current
situation of applying MTEF, identify the factors that affect the MTEF, and then propose solutions to apply MTEF effectively in Ba Ria Vung Tau province
To achieve the goals of the topic, the author implements the theoretical system of MTEF The thesis uses qualitative methods to build survey questions combining descriptive statistical methods, analysis, and comparison of collected secondary data with theoretical frameworks to assess the current situation of applying MTEF determine the factors affecting the MTEF, then propose a number
of solutions to effectively apply the MTEF in Ba Ria - Vung Tau province
Research results show that, in order to apply the MTEF effectively, it is necessary to improve the elements of the legal environment, administration, public finance, management information systems and management thinking The topic is meaningful to local leaders, policy makers, and relevant agencies in the MTEF process Helps leaders have a medium-term view of local resources to forecast, allocate and use resources effectively
Keywords: MTEF, Medium-term Expenditure Framework, Public Finance,
Medium-term Financial Planning
Trang 14CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Cải cách tài chính công là một trong 6 nhiệm vụ của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ Mục tiêu cải cách tài chính công nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công Hiệu quả quản lý chi tiêu chính công vừa phản ánh năng lực của bộ máy nhà nước, vừa có tác động thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Ngân sách là công cụ chính để biến chính sách quốc gia thành hành động và là công cụ để đảm bảo trách nhiệm của chính phủ được thực thi Để ngân sách phục vụ cho chính sách phát triển, việc soạn lập ngân sách theo tầm nhìn trung hạn phải đảm bảo phân
bổ ngân sách phản ánh các ưu tiên chính sách, đảm bảo chi tiêu nhất quán với ngân sách đã được duyệt Trong điều kiện ngân sách nhà nước có hạn trong khi nhu cầu chi tiêu của chính phủ thì rất lớn, do đó cần phải lập kế hoạch ngân sách một cách tối ưu cho một khoảng thời gian dài
Trong quy trình ngân sách nhà nước bao gồm ba bộ phận nối tiếp nhau là lập, chấp hành và quyết toán Trong đó, lập ngân sách nhà nước là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quy trình quản lý ngân sách Lập ngân sách quyết định chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính, là căn cứ quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát ngân sách nhà nước
Đã có các đề tài nghiên cứu ứng dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn trong quản lý chi tiêu công ở những phạm vi và cách tiếp cận khác nhau Theo báo cáo Ngân hàng Thế giới năm 2013, thì vào cuối năm 2008 đã có khoảng 2/3 quốc gia và vùng lãnh thổ triển khai khuôn khổ tài chính ngân sách trung hạn Tùy điều kiện cụ thể của từng quốc gia/vùng lãnh thổ, việc triển khai khuôn khổ tài chính ngân sách trung hạn có khác nhau, song đều đạt những kết quả chung nhất định về: i) tăng cường kỷ luật tài khóa; ii) tăng cường vai điều tiết, ổn định nền kinh tế của Chính phủ; iii) cải thiện công tác quản lý, phân bổ nguồn ngân sách, tập trung vào các ưu
Trang 15tiên của nền kinh tế; tăng cường hiệu quả chi tiêu ngân sách, hướng tới các kết quả thực hiện nhiệm vụ, đầu ra của các khoản chi tiêu
Từ năm 2003, Bộ Tài chính bắt đầu triển khai thí điểm xây dựng kế hoạch tài chính và kế hoạch chi tiêu trung hạn giai đoạn 2004-2009 tại một số Bộ tổng hợp,
Bộ quản lý ngành và các địa phương Luật NSNN năm 2015 đã quy định chính thức
áp dụng lập ngân sách trung hạn tại các bộ ngành và địa phương cấp tỉnh từ năm ngân sách 2018
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu áp dụng MTEF ở những phạm vi và cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên đến nay chưa có đề tài nghiên cứu về MTEF tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, do đó tác giả lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến phương thức lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn trường hợp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng MTEF, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng MTEF, từ đó đề xuất khuyến nghị giải pháp áp dụng MTEF có hiệu quả tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, đồng thời cũng là
đề tài cho uận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế của tác giả
1.2 Mục tiêu của đề tài
Qua nghiên cứu lý thuyết về khuôn khổ chi tiêu trung hạn và phân tích thực trạng soạn lập ngân sách trung hạn tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2020, luận văn hướng đến những mục tiêu:
1 Hệ thống cơ sở lý thuyết về khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF)
2 Phân tích thực trạng lập ngân sách theo mô hình MTEF tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, những yếu tố ảnh hưởng đến MTEF còn tồn tại, hạn chế cần hoàn thiện
3 Đề xuất một số khuyến nghị giải pháp để áp dụng MTEF mang lại hiệu quả
1.3 Phương pháp tiếp cận
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả đã hệ thống lý thuyết về khuôn khổ chi tiêu trung hạn, sử dụng phương pháp định tính để xây dựng câu hỏi khảo sát thông
Trang 16qua ý kiến của các chuyên gia, tiến hành khảo sát ý kiến của các chuyên gia, tổng hợp số liệu khảo sát và số liệu thu thập trong các báo cáo từ đó so sánh với khung lý thuyết trong luận văn để đưa ra nhận định đánh giá
Trả lời câu hỏi thứ nhất, tác giả trình bày tổng quan lý thuyết về MTEF và thực tiễn áp dụng MTEF, các khái niệm và các quy định về soạn lập ngân sách theo MTEF
Trả lời câu hỏi thứ hai, tác giả tiến hành thu thập số liệu từ các báo cáo thu chi NSNN tại địa phương và tiến hành khảo sát các chuyên gia để thu thập thông tin
về phương thức soạn lập ngân sách thông qua các cơ quan chuyên môn, các đơn vị
sử dụng NSNN tại địa phương, thống kê các văn bản hướng dẫn về công tác lập dự toán ngân sách hàng năm tại địa phương Tổng hợp các kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội, dự toán thu chi ngân sách nhà nước hàng năm, báo cáo quyết toán thu chi ngân sách nhà nước hàng năm Phân tích, so sánh số liệu thứ cấp từ các báo cáo quyết toán thu chi NSNN giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2018, Báo cáo kế hoạch tài chính ngân sách 3 năm giai đoạn 2018-2020, từ đó đánh giá thực trạng soạn lập ngân sách, chỉ ra những yếu tố tồn tại, hạn chế chủ yếu
Trả lời câu hỏi thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng, những tồn tại, hạn chế
so với khung lý thuyết về MTEF, từ đó đề xuất khuyến nghị một số giải pháp để áp dụng MTEF vào lập ngân sách mang lại hiệu quả tại địa phương
1.4 Phạm vi của đề tài
- Đối tượng của đề tài: Phương thức soạn lập ngân sách theo mô hình MTEF tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Số liệu: Thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2019, nguồn
số liệu được lấy từ các báo cáo kế hoạch tài chính ngân sách 3 năm giai đoạn
2018-2020, báo cáo quyết toán thu chi NSNN giai đoạn 2011-2018, báo cáo kế hoạch đầu
tư công trung hạn và số liệu khảo sát
Trang 17- Phiếu khảo sát: Thu thập từ các cá nhân làm việc tại các cơ quan chuyên môn về lập dự toán ngân sách, các đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
1.5 Khung phân tích
Hệ thống lý thuyết về MTEF để xây dựng khung phân tích khuôn khổ chi tiêu trung hạn; Khảo sát ý kiến chuyên gia, xây dựng bảng câu hỏi khảo sát, tiến hành khảo sát và thu thập số liệu từ đó so sánh với khung lý thuyết để phân tích đánh giá thực trạng soạn lập ngân sách của địa phương, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lập ngân sách theo MTEF từ đó đánh giá nhận xét và đề xuất khuyến nghị giải pháp áp dụng MTEF mang lại hiệu quả
1.6 Kết cấu của đề tài
Tóm tắt
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận
Chương 3: Phân tích thực trạng lập ngân sách theo MTEF tại Bà Rịa Vũng Tàu
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
Trong chương này, trình bày lý thuyết về ngân sách nhà nước, quản lý chi tiêu công, MTEF và mối quan hệ liên quan của MTEF đến cải cách quản lý chi tiêu công Các mục tiêu, nguyên tắc, nội dung và quy trình và các điều kiện cần thiết để triển khai MTEF So sánh cách soạn lập ngân sách hàng năm với MTEF Các lợi ích của MTEF trong quy trình ngân sách
2.1 Một số khái niệm về NSNN
2.1.1 Khái niệm về NSNN
Theo Alexander Hamilton (2013): “Ngân sách của một số nước không chỉ dừng lại ở việc tính toán các con số, mà nó còn phản ánh về tính chất ưu tiên, những nhu cầu, cam kết của Chính phủ đối với các chương trình đã, đang và sẽ thực hiện”
Theo Lê Chi Mai (2011): “Ngân sách là một kế hoạch về những gì chính phủ
dự định làm trong năm ngân sách, đề xuất các nguồn lực và việc sử dụng các nguồn lực đó cho các mục đích đề ra Ngân sách là một công cụ tiềm năng nhất của chính phủ để thực hiện các chính sách của mình Ngân sách phân bổ nguôn lực thường là khan hiếm giữa các nhu cầu mang tính cạnh tranh nhau nhằm đáp ứng các lợi ích công cộng của xã hội ngân sách phản ánh một cách đầy đủ nhất các ưu tiên của chính phủ”
Theo uật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 định nghĩa về NSNN như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán
và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
2.1.2 Khái niệm về thu NSNN
uật NSNN số 83/2015/QH13 năm 2015 định nghĩa: “Thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản thu từ các hoạt động dịch
vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu được từ hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công
Trang 19lập và các doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật”
Về bản chất, thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội
2.1.3 Khái niệm về chi tiêu công
Lê Chi Mai (2011) định nghĩa khái quát, “chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chính phủ trung ương, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân và xã hội dân sự khi trang trải kinh phí hoạt động do chính phủ quản lý Theo nghĩa hẹp, chi tiêu công là các khoản chi tiêu từ ngân sách nhà nước và các quỹ tiền tệ khác của chính phủ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính phủ Đây là các khoản chi phí cho việc cung cấp hàng hóa
và dịch vụ công thông qua ngân sách nhà nước và các quỹ tiền tệ do chính phủ quản lý”
Theo Sử Đình Thành (2005): “Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát
và tài trợ của chính phủ”
2.1.4 Khái niệm về quản lý chi tiêu công
Theo Sử Đình Thành (2005): “Quản lý chi tiêu công là một khái niệm phản ánh hoat động của tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công nhằm cung cấp hàng hóa công tốt nhất cho xã hội”
2.1.5 Khái niệm về quy trình lập NSNN
Trang 20Theo Lê Chi Mai (2011): “ ập ngân sách nhà nước thực chất là quá trình đưa
ra kế hoạch ngân sách cho năm tài khóa và xác lập các biện pháp chủ yếu về kinh tế tài chính để đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu đề ra Quy trình ngân sách nhà nước là toàn bộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển sang ngân sách mới Quy trình ngân sách nhà nước bao gồm ba bộ phận nối tiếp nhau là lập, chấp hành và quyết toán Trong đó, lập ngân sách nhà nước là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quy trình quản lý ngân sách ập ngân sách quyết định chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính,
là căn cứ quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát ngân sách nhà nước”
Sử Đình Thành (2008) cho rằng “lập ngân sách là một công cụ quan trọng của quản lý chi tiêu công, nó tạo nền tảng chi việc quản lý, phân bổ một cách khôn ngoan các nguồn lực hạn hẹp của quốc gia và đảm bảo việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực này nhằm đạt được kết quả theo chiến lược mong muốn của Chính phủ”
2.1.6 Các phương thức soạn lập ngân sách trong quản lý chi tiêu công
Trong quản lý chi tiêu công có các phương thức lập ngân sách: ập ngân sách theo khoản mục, lập ngân sách theo chương trình, lập ngân sách thực hiện, lập ngân sách theo đầu ra và lập ngân sách theo kết quả, lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn
2.1.6.1 Lập ngân sách theo khoản mục
Theo Sử Đình Thành (2005) thì “lập ngân sách theo khoản mục là phương thức lập dự toán ngân sách dựa trên việc phân loại các khoản chi theo khoản mục Theo đó nhà quản lý ngân sách hoặc đơn vị thụ hưởng sẽ dự kiến số lượng các loại đầu vào và tính toán ra số tiền từng hạng mục chi để đáp ứng hoạt động hay hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị trong một năm ngân sách Hàng năm, khi lập ngân sách nhà quản lý ngân sách hoặc đơn vị thụ hưởng sẽ thêm vào số tiền cho mỗi dòng chi theo nhu cầu sử dụng và như thế việc sử dụng nguồn lực theo quán tính ở bước dự kiến và ít thay đổi danh mục các dòng chi khi thực hiện Cách lập ngân sách này gắn liền với yếu tố đầu vào và những nguyên tắc quản lý ngân sách cứng nhắc”
Trang 212.1.6.2 Lập ngân sách theo công việc thực hiện
Theo Sử Đình Thành (2005): “lập ngân sách theo công việc thực hiện là một dạng lập ngân sách thể hiện mục đích, mục tiêu của việc tài trợ yêu cầu, chi phí cho chương trình và hoạt động liên quan để đạt được mục tiêu đó, các yếu tố đầu ra được sản xuất hay dịch vụ được cung ứng dưới mỗi chương trình Một ngân sách thực hiện toàn diện phải định lượng được toàn bộ chuổi kết quả như đầu vào/ đầu vào trung gian, đầu ra (kết quả trực tiếp), những tác động (kết quả lâu dài)”
2.1.6.3 Lập ngân sách theo chương trình
Theo Sử Đình Thành (2005): “Ngân sách theo chương trình là một cách lập ngân sách trên cơ sở hiệu quả hoạt động và các chương trình đã được xác định theo các mục tiêu chính sách của chính phủ Với ngân sách chương trình, các khoản chi được sắp xếp theo từng hoạt động hoặc chương trình, mục đích hoạt động của mỗi chương trình được xác định và những chỉ số hiệu quả hoạt động được thiết lập cho mỗi chương trình hoặc hoạt động”
2.1.6.4 Lập ngân sách theo kết quả đầu ra
Sử Đình Thành (2005) cho rằng: “ ập ngân sách theo đầu ra là phương thức soạn lập ngân sách dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân bổ và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển của chính phủ một cách hiệu quả và hiệu lực ập ngân sách theo kết quả đầu ra bao hàm một chiến lược tổng thể nhằm đạt được những thay đổi quan trọng trong việc quản lý và đo lường công việc thực hiện của các cơ quan nhà nước so với mục tiêu đề ra Nó bao gồm nhiều công đoạn như: thiết lập mục tiêu, lựa chọn các chỉ số và kết quả nhắm tới, giám sát công việc thực hiện, phân tích và báo cáo những kết quả này so với mục tiêu đề ra
ập ngân sách theo kết quả đầu ra yêu cầu các cơ quan nhà nước và chính phủ phải thiết lập hệ thống thông tin quản lý liên quan đến phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính như: các đầu ra, các đầu vào, chi phí tài trợ và mối quan hệ giữa các đầu ra với các yếu tố đầu vào và những tác động (ảnh hưởng hay hiệu lực) của
Trang 22các yếu tố này đến kết quả mong muốn của chính phủ và phù hợp với mục tiêu chính sách”
2.1.6.5 Lập ngân sách theo MTEF
Theo Ngân hàng Thế giới1 (1998), “Khuôn khổ chi tiêu trung hạn bao gồm
tổng nguồn lực được giới hạn theo con đường “từ trên xuống”; và việc ước tính chi
phí dự toán năm hiện hành và giai đoạn trung hạn cho chính sách đang tồn tại và sau cùng, một sự đối chiếu giữa dự toán chi tiêu và nguồn lực sẳn có trong nội dung tiến trình ngân sách hàng năm” Tổng nguồn lực về cơ bản dựa trên mô hình kinh tế
vĩ mô để đưa ra các mục tiêu tài khóa và ước tính nguồn thu và tổng chi tiêu, bao
gồm nghĩa vụ tài chính của Chính phủ Các ngành cam kết trong “tiến trình từ dưới
lên” xem xét lại những chính sách và hoạt động của ngành với quan điểm tối ưu hóa
trong phân bổ nguồn lực”
2.2 Tổng quan về khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF)
2.2.1 Thực trạng áp dụng MTEF trên thế giới
Mô hình về khuôn khổ chi tiêu trung hạn được các quốc gia áp dụng đối với việc dự toán các khoản chi tiêu từ ngân sách nhà nước Các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD2) đã bắt đầu chuẩn bị phương thức soạn lập ngân sách trung hạn trong tiến trình lập và phê chuẩn ngân sách như: New Zealand, Anh, Úc, Canada, Đức, Đan Mạch,… từ những năm đầu thập niên 80
Đến cuối thập niên 90, phương thức soạn lập ngân sách trung hạn này lại được các nước đang phát triển áp dụng ngày càng lan rộng với những cấp độ khác nhau như: 25 nước thuộc châu Phi, châu Á, châu Mỹ a tinh và Đông Âu Tài liệu ngân sách được nghiên cứu mô tả cách tiếp cận này dưới những dạng khác nhau như là “Dự báo và kế hoạch chi tiêu”, “ ập ngân sách đa niên”, ước tính trung hạn,khuôn khổ chi tiêu trung hạn Dự báo bao gồm những nguồn lực ước tính trong
Trang 23tương lai và cả những nhu cầu chi tiêu, trong khi việc lập kế hoạch là cách thức xác định mục tiêu và chính sách
Từ năm 1997, một số nước thành viên iên minh Châu Âu đã áp dụng cách tiếp cận ngân sách trung hạn dẫn đến những thay đổi về tính bền vững tài khóa là yêu cầu quan trọng trong Hiệp ước tăng trưởng ổn định; Những công cụ dự báo kinh tế trung hạn; kiểm soát cơ chế tạo nguồn thu; lập ngân sách theo tiến trình từ dưới lên, phân bổ ngân sách theo tiến trình từ trên xuống, trách nhiệm và phối hợp giữa các bộ ngành
Theo báo cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế năm 2011 và Ngân hàng Thế giới năm
2013, thì vào cuối năm 2008 đã có khoảng 2/3 quốc gia và vùng lãnh thổ triển khai khung tài chính ngân sách trung hạn
Tại Việt Nam, từ năm 2003, Bộ Tài chính bắt đầu triển khai thí điểm xây dựng KHTC và kế hoạch chi tiêu trung hạn Giai đoạn 2004-2009 tham gia thí điểm
có 2 bộ tổng hợp gồm: Bộ Tài chính và Kế hoạch và Đầu tư; 4 bộ quản lý lĩnh vực gồm: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn; 3 địa phương gồm Hà Nội, Vĩnh Long và Bình Dương Với sự trợ giúp của chuyên gia tư vấn quốc tế và trong nước đã xây dựng và ban hành các tài liệu về kế hoạch tài chính và kế hoạch chi tiêu trung hạn cấp quốc gia giai đoạn 2006- 2008, đến giai đoạn 2007- 2009 xây dựng và ban hàng kế hoạch tài chính và kế hoạch chi tiêu trung hạn cấp tỉnh Luật NSNN năm 2015 đã quy định chính thức lập kế hoạch tài chính trung hạn tại các bộ ngành và địa phương cấp tỉnh
từ năm ngân sách 2018
2.2.2 Khái niệm và đặc trƣng của khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF) 2.2.2.1 Khái niệm khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Theo Ngân hàng Thế giới3
(1998), “Khuôn khổ chi tiêu trung hạn bao gồm
tổng nguồn lực được giới hạn theo con đường “từ trên xuống”; và việc ước tính chi
3
Public Expenditure Managemet Handbook – WB, 1998
Trang 24phí dự toán năm hiện hành và giai đoạn trung hạn cho chính sách đang tồn tại và sau cùng, một sự đối chiếu giữa dự toán chi tiêu và nguồn lực sẳn có trong nội dung tiến trình ngân sách hàng năm” Tổng nguồn lực về cơ bản dựa trên mô hình kinh tế
vĩ mô để đưa ra các mục tiêu tài khóa và ước tính nguồn thu và tổng chi tiêu, bao
gồm nghĩa vụ tài chính của Chính phủ Các ngành cam kết trong “tiến trình từ dưới
lên” xem xét lại những chính sách và hoạt động của ngành với quan điểm tối ưu hóa
trong phân bổ nguồn lực”
Từ đó, Ngân hàng Thế giới đã đề xuất việc sử dụng mô hình xác lập các khoản chi tiêu của Chính phủ không chỉ trong thời gian 01 năm, mà tính toán dài hơn, thường là từ 3 năm đến 5 năm Mô hình này gọi là MTEF, một hình thức của khuôn khổ tài chính trung hạn, gọi tắt là MTEF
Tài liệu nghiên cứu cải cách ngân sách các nước OECD (2003) cho rằng:
“Thật ra, khuôn khổ trung hạn là một tài liệu sống Khuôn khổ trung hạn 3 năm được đặt ra không có nghĩa là không có sự thay đổi Tuy nhiên, điều bắt buộc rằng tất cả những thay đổi như vậy phải được mô tả và giải thích rõ ràng: Có phải những thay đổi này là kết quả của tình trạng kinh tế thay đổi hay từ những quyết định chính sách mới”
Theo Sử Đình Thành (2018) “Chiến lược quản lý chi tiêu công nhằm tạo ra một hệ thống ngân sách hiệu quả đó là: i) kỷ luật tài chính tổng thể; ii) phân bổ và
sử dụng nguồn lực dựa trên chiến lược ưu tiên; iii) tính hiệu quả và hiệu lực của các chương trình cung cấp hàng hóa công”
Theo Dương Thị Bình Minh (2005) “MTEF là một phương thức lập ngân sách theo mục tiêu và dựa trên mâu thuẫn giữa sự hữu hạn của nguồn thu và sự vô hạn các tham vọng của Chính phủ MTEF là cấp độ thứ ba trong ba cấp độ khuôn khổ trung hạn: Khuôn khổ tài chính trung hạn là tập hợp các mục tiêu của chính sách và kế hoạch tài chính trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô trung hạn, khuôn khổ ngân sách trung hạn là bước phát triển tiếp theo của khuôn khổ tài chính trung hạn trên cơ sở phát triển các dự toán ngân sách cho mỗi đơn vị thụ hưởng và khuôn khổ
Trang 25chi tiêu trung hạn là bước hoàn thiện khuôn khổ ngân sách trung hạn bằng cách bổ sung các yếu tố lập ngân sách dựa trên hoạt động và kết quả”
Theo Sử Đình Thành (2005): “MTEF là một phương pháp soạn lập ngân sách được xác định trong một giai đoạn dài hơn một năm, trong đó nó giới hạn nguồn lực tổng thể từ trên xuống và kết hợp với các dự toán kinh phí từ dưới lên hợp thành chính sách chi tiêu được phân bổ phù hợp với các ưu tiên chiến lược đã được Chính phủ chấp nhận”
uật NSNN định nghĩa: “Kế hoạch tài chính trung hạn là một phần của phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn, nhằm xây dựng chính sách tài chính trên cơ sở dự báo kinh tế vĩ mô, xác định nguồn lực và ưu tiên
phân bổ nguồn lực (theo quy trình từ trên xuống) và Kế hoạch chi tiêu trung hạn là
một phần của phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn
(theo quy trình từ dưới lên”)
Như vậy, chúng ta có thể hiểu MTEF là một phương pháp lập ngân sách trung hạn, có tính minh bạch Trong đó, tổng nguồn lực được giới hạn theo con đường từ trên xuống Việc tính toán chi phí dự toán cho việc thực hiện các hoạt động cụ thể được tính toán và đệ trình từ dưới lên Chúng hợp thành dự toán
kế hoạch và chiến lược phát triển của quốc gia, của ngành và lãnh thổ cũng như ưu tiên đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận
2.2.2.2 Đặc trƣng của MTEF
Khi đề cập đến việc quản lý chi tiêu công theo MTEF, Quỹ Tiền tệ quốc tế cho rằng mô này hướng đến 6 nguyên tắc cơ bản, đó là: “i) Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình; ii) Tính toàn vẹn của NSNN; ii) Tính khả năng dự đoán về nguồn lực và chính sách; iv) Tính chất linh hoạt của các hoạt động; v)Tính chất có thể kiểm tra các khoản mục; vi) Tính tồn tại và chia sẻ thông tin về tài chính”
Để thấy rõ đặc trưng của MTEF, cần phải so sánh giữa lập ngân sách hàng năm và MTEF ở cấp Bộ, ngành theo những chỉ tiêu như sau: (Xem Bảng 2.1)
Trang 26Bảng 2.1: Lập ngân sách hàng năm và MTEF ở cấp Bộ, ngành
Chỉ tiêu Ngân sách hàng năm Khuôn khổ chi tiêu trung hạn
ưu tiên mà chính phủ đề
ra
ựa chọn chính sách được chi phối chặt chẽ bởi thực tế nguồn lực có sẳn Vì vậy, mối liên kết giữa chính sách, kế hoạch
và ngân sách chặt chẽ hơn Chi tiêu phản ánh được các ưu tiên đề ra của Chính phủ
dịch vụ
Các khuyến khích tạo ta đầu ra và kết quả thường
là thấp vì tập trung kiểm soát đầu vào, thiếu hệ thống chi tiêu đo lường, giám sát và đánh giá
Nhấn mạnh đầu ra và kết quả đã đề ra với mức nguồn lực sẳn có Các khuyến khích được đề ra nhằm tăng nhu cầu vầ bằng chứng (thiết lập chỉ tiêu đo lường, giám sát và đánh giá) Do vậy, cung cấp dịch vụ được cải thiện
Tính tự chủ
của các bộ
ngành
Thấp vì phải đảm bảo tính tuân thủ khi ngân sách hàng năm tập trung vào việc kiểm soát đầu vào
Cao vì MTEF coi trọng việc tạo ra các đầu ra và kết quả Phân bổ nguồn lực để thực hiện những ưu tiên chiến lược do các bộ, ngành đảm trách, do đó các nhà quản lý có nhiều lựa chọn cách thức đạt được các đầu ra và kết quả
Nguồn: Tài chính công Phần III: Phương pháp soạn lập ngân sách theo MTEF ( Nguyễn Thị Huyền, 2011)
Trang 272.2.3 Mục tiêu và điều kiện triển khai MTEF
2.2.3.1 Mục tiêu của MTEF
Theo Ngân hàng Thế giới (1998): Mục tiêu của MTEF bao gồm 6 mục tiêu
và thể hiện đầy đủ yêu cầu lẫn kết quả của cách tiếp cận ngân sách trung hạn là:” i) Cải thiện cân đối kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kỹ luật tài khóa; ii) Phân bổ nguồn lực tốt hơn giữa các ngành, khu vực; iii) Dự báo ngân sách tốt hơn và giới hạn nguồn lực cho các bộ, ngành hợp lý hơn; iv) Sử dụng đồng tiền ngân sách hiệu quả hơn; v) Trách nhiệm giải trình về kết quả của các khoản chi tiêu công có ý nghĩa hơn; vi)
Có sự tín nhiệm về việc ra quyết định ngân sách hoặc kiềm chế quyết định có tính chính trị”
Sổ tay Quản lý chi tiêu công của Ngân hàng Thế giới (1998) ghi nhận những nước áp dụng MTEF đã mang lại kết quả tương ứng với mục tiêu cải cách chi tiêu công, đó là: “i) Đảm bảo kỹ luật tài khóa tổng thể thông qua việc duy trì ràng buộc ngân sách cứng, cả cấp độ tổng thể lẫn từng bộ, ngành chi tiêu; ii) Phân bổ nguồn lực theo ưu tiên chiến lược giữa các ngành và trong nội bộ ngành; iii) Sử dụng nguồn lực hiệu suất và hiệu quả nhất, đảm bảo rằng Chính phủ cung cấp dịch vụ với chi phí thấp nhất cho công chúng và cho phép đạt được những mục tiêu của Chính phủ”
2.2.3.2 Các yếu tố và điều kiện cơ bản để triển khai MTEF có hiệu quả
Theo Ngân hàng Thế giới (1998), các điều kiện cơ bản để triển khai MTEF bao gồm:
“i) Có chính sách kinh tế vĩ mô tốt, kỷ năng và phương pháp phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô tốt để làm cơ sở xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn
ii) Có chính sách và công cụ tài chính thích ứng; khuôn khổ chi tiêu trung hạn dựa trên mối liên kết chặt chẻ giữa chính sách và kế hoạch kinh tế vĩ mô với chính sách tài khóa; các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong tương lai cần được dựa trên các dự đoán hợp lý về nguồn lực tương lai
Trang 28iii) Xác lập rõ ràng trong tư duy ưu tiên nguồn lực Khuôn khổ chi tiêu trung hạn tạo ra một cơ chế tốt hơn cho việc sắp xếp hợp lý các khoản ngân sách phù hợp với các chính sách ập kế hoạch ngân sách thực chất là việc bố trí ngân sách chi tương lai theo kiểu dàn trãi, dàn đều hay có lựa chọn ưu tiên Khuôn khổ chi tiêu trung hạn là công cụ giúp làm cho việc bố trí ngân sách từ ưu tiên thấp sang ưu tiên cao hơn, từ tầm nhìn ngắn hạn, phân tán, rời rạc sang tầm nhìn trung hạn, có liên kết
và gắn kết tốt với mục tiêu
iv) Chấp hành kỷ luật ngân sách Các khoản phân bổ ngân sách cần phải dựa trên giới hạn về tổng mức ngân sách khả dụng, các bộ chuyên ngành phải bằng lòng với những khoản ngân sách được thông báo và tiến hành phân bổ trong giới hạn đó
v) Thể chế tốt, phù hợp và không thiên lệch Một khuôn khổ chi tiêu trung hạn đòi hỏi phải có một cơ sở thể chế có khả năng làm chỗ dựa cho các đối tượng khác nhau sử dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn như là một khuôn khổ, nền tảng cho việc đề ra các quyết định về chi tiêu Các nhà quyết định chính trị phải chấp nhận một khuôn khổ chi tiêu trung hạn như là một phương tiện để phân bổ nguồn lực
vi) Có các thông số thích hợp Thiết kế một khuôn khổ chi tiêu trung hạn đòi hỏi phải xác định được các thông số kỹ thuật như xác định tổng mức chi tiêu, mối quan hệ giữa phân chia theo lĩnh vực và cơ cấu tổ chức của Chính phủ, nội dung gói chi tiêu, cơ sở giá cả hợp lý cho việc dự toán các khoản chi tiêu trong tương lai, cơ chế điều phối với quy trình ngân sách hàng năm, mức độ linh hoạt theo các bối cảnh khác nhau
vii) Bảo đảm tính minh bạch Minh bạch về tài chính và chính sách sẽ nâng cao trách nhiệm giải trình của các đối tượng tham gia quy trình khuôn khổ chi tiêu trung hạn Minh bạch tài chính là việc công khai cơ cấu và chức năng của chính phủ, các ý định chính sách tài chính, các tài khoản thu chi của khu vưc công và những dự báo tài chính Minh bạch về chính sách là việc công khai những ý định của chính phủ trong một lĩnh vực chính sách cụ thể, những kết quả sẽ phải đạt được,
Trang 29và các chi phí để đạt được các kết quả đó Minh bạch gắn liền với trách nhiệm giải trình, là việc báo cáo các kết quả thực hiện các chính sách, kế hoạch, chiến lược với những con số cụ thể về số lượng, chất lượng của các đầu ra và kết quả đạt được; Không đơn thuần là đã thu được bao nhiêu, đã chi được bao nhiêu mà quan trọng hơn là việc thu, chi ngân sách đã giải quyết được những vấn đề gì, với những kết quả như thế nào, được đo đếm bằng các số liệu cụ thể”
ê Chi Mai (2011) cho rằng: “Để xây dựng và thực thi khuôn khổ chi tiêu trung hạn có hiệu quả cần đảm bảo các yếu tố sau đây: i) Phân tích và dự báo kinh
tế vĩ mô tốt; ii) Hệ thống thể chế phù hợp; iii) Hệ thống thông tin tốt; iv) Bảo đảm tính minh bạch; v) Sự tham gia, phối hợp và phân công trách nhiệm rõ ràng; vi) Trách nhiệm giải trình; vii) Tính tự chủ của các đơn vị thụ hưởng ngân sách”
Nguyễn Thị Huyền (2011) cho rằng: “Quản lý hiệu quả ngân sách đòi hỏi phải có sự phân chia rõ ràng trách nhiệm giữa các bộ phận và cần có một bộ phận chịu trách nhiệm đưa ra các dự báo trong báo cáo lập kế hoạch chi tiêu trung hạn
i) Ở cấp quốc gia, Bộ Tài chính là bộ chịu trách nhiệm điều phối kết hợp các quan điểm của các cơ quan có liên quan, Các Bộ quản lý ngành sẽ chịu trách nhiệm lập MTEF cấp ngành với phạm vi gồm Bộ quản lý ngành, các đơn vị chi tiêu ngân sách ngành thuộc Bộ quản lý; các đơn vị chi tiêu ngân sách ngành thuộc Bộ, cơ quan Trung ương khác và tập hợp các hạng mục chi tiêu của ngành từ các đơn vị chi tiêu ngân sách ngành do địa phương quản lý Các thông tin liên quan đến ngành, cấp
độ địa phương do các Sở quản lý ngành chịu trách nhiệm tổng hợp, cung cấp kịp thời và đúng mẫu biểu
ii) Ở cấp độ địa phương, MTEF được xây dựng ở cấp tỉnh như là khuôn khổ tài chính trung hạn Vì vậy, cấp huyện phải cung cấp thông tin cần thiết để phục vụ lập khuôn khổ chi tiêu trung hạn ngành”
2.2.3.3 Mối quan hệ giữa MTEF và lập ngân sách hàng năm
ập ngân sách theo MTEF được tính toán trong khoảng từ 3-5 năm, sau mỗi năm thực hiện điều chỉnh và cập nhật thêm 1 năm, còn lập ngân sách hàng năm tính
Trang 30toán nhu cầu chi tiêu trong 1 năm là một bộ phận cấu thành MTEF Giữa hai phương thức trên có mối quan hệ chặt chẻ với nhau
MTEF tính toán ngân sách dài hơn, trong MTEF đã bao gồm ngân sách hàng năm, là định hướng để xây dựng ngân sách hàng năm, mục đích là phục vụ tốt cho việc lập ngân sách hàng năm, tạo sự bền vững ngân sách trong trung hạn
Mặt khác, ngân sách hàng năm được xây dựng tốt, tạo cơ sở để xác định MTEF chuẩn xác hơn, có tính khả thi hơn, ngân sách hàng năm là phương tiện giúp thực hiện MTEF
Có thể nhận thấy giữa MTEF và lập ngân sách hàng năm có mối quan hệ ràng buộc đó là: MTEF không thể thực hiện được nếu không dựa vào ngân sách hàng năm, và MTEF không có tính khả thi nếu vượt quá nguồn lực ngân sách từng năm Do đó, khi lập ngân sách theo MTEF không được tách biệt với quá trình lập ngân sách hàng năm mà phải dựa ngân sách hàng năm để phân kỳ MTEF cho phù hợp
Ngược lại, khi xây dựng ngân sách hàng năm, cần quan tâm đến việc phân bổ kinh phí cho các chương trình trong MTEF bảo đảm cho MTEF thực hiện đúng kế hoạch đề ra Khi có biến động, ngân sách hàng năm không bố trí đủ cho MTEF đã phân kỳ thì điều chỉnh giảm các chương trình trong MTEF hoặc kéo dài thời hạn hoàn thành MTEF Ngược lại, khi thu ngân sách hàng năm cao hơn dự kiến, cũng điều chỉnh MTEF theo hướng tăng nguồn lực hàng năm và rút ngắn thời gian cho phù hợp với ràng buộc ngân sách hàng năm
Có thể rút ra phương pháp xây dựng dự toán gắn kết giữa hai phương thức
Đó là, khi xây dựng dự toán hàng năm, ưu tiên bố trí để gắn kết giữa thực hiện một phần MTEF Đồng thời, khi xây dựng MTEF, cần tính đến ràng buộc ngân sách và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên để có thể đưa vào ngân sách hàng năm, đạt được mức độ phù hợp và cân đối giữa nhu cầu chi tiêu và khả năng ngân sách MTEF có khả thi hay không thì phụ thuộc vào ngân sách hàng năm, ngân sách hàng năm là phương
Trang 31tiện để thực hiện MTEF, giữa 2 phương thức có mối quan hệ mật thiết, cần kết hợp
cả hai phương thức chặt chẻ đảm đảm phân bổ NSNN một cách tối ưu
2.2.4 Nội dung và quy trình cơ bản của MTEF
2.2.4.1 Định dạng khuôn khổ trung hạn
Ngân hàng Thế giới (1998) cho rằng: “Mặc dù mức độ chi tiết của MTEF có
sự khác nhau ở mỗi quốc gia, nhưng nhìn chung MTEF phản ánh định dạng ngân sách chi tiết tương tự như ngân sách hàng năm Có sự ràng buộc ngân sách cứng cho mỗi ngành, địa phương trong trung hạn 3-5 năm trừ năm hiện hành Nguyên tắc
“cuốn chiếu” (xem Hình 2.1) thể hiện: năm N+1 trong khuôn khổ trở thành nền tảng cho ngân sách và năm 3 mới được thêm vào Một cách tiếp tiếp cận thông thường
hơn là cuốn chiếu những ước tính trung hạn 1 năm 1 lần Điều này gia tăng tính
hiệu quả của việc lập kế hoạch và làm cho tiến trình ngân sách hàng năm được dễ dàng hơn Tuy nhiên, khuôn khổ này không được ban hành thành luật Có thể nói khuôn khổ chi tiêu trung hạn là tài liệu mà chính phủ, các bộ ngành, địa phương xây dựng nhằm phản ánh các cam kết chính trị hướng đến kỷ luật tài khóa”
Khuôn khổ trung hạn thường là từ 3 đến 5 năm Khuôn khổ trung hạn 5 năm phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi Nhưng kinh nghiệm thực tiễn cho thấy nếu ngân sách lập ở thời gian 4,5 năm thì chất lượng dự toán ở các năm sau có hạn, thời gian và chi phí lập sẽ tốn kém hơn
so với thời gian 3 năm
Tài liệu của OECD (2003) cho rằng: “Thật ra, khuôn khổ trung hạn là một tài liệu sống, khuôn khổ trung hạn 3 năm được đặt ra không có nghĩa là không có sự thay đổi Tuy nhiên, điều bắt buộc rằng tất cả những thay đổi như vậy phải được mô
tả và giải thích rõ ràng: có phải những thay đổi này là do kết quả của tình trạng kinh
tế thay đổi hay từ những quyết định chính sách mới”
Trang 322.2.4.2 Nội dung của phương thức soạn lập ngân sách theo MTEF
Theo Nguyễn Thị Huyền (2011): “Nội dung của phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ trung hạn bao gồm nội dung của việc xây dựng khuôn khổ tài chính trung hạn (MTFF) và việc xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn cấp ngành (MTEFs) theo cách tiếp cận trung hạn và theo nguyên tắc cuốn chiếu”
Nội dung trọng tâm của MTFF là xác định, dự kiến nguồn lực tài chính tổng thể trên cơ sở dự báo kinh tế vĩ mô, xác định chính sách tài khóa tổng thể, phân bổ
và cân đối thu chi liên quan đến mọi ngành Nội dung trọng tâm của MTEFs là xác định lĩnh vực và mức chi tiêu trên cơ sở đã biết giới hạn nguồn lực tài chính cho ngành ở cấp quốc gia hoặc địa phương Hay nói khác đi, MTEFs là bản dự toán chi
Khuôn khổ chi tiêu trung hạn giai đoạn (N+1, N+3)
Dự toán NSNN
năm N+1
Khuôn khổ chi tiêu trung hạn gian đoạn (N+2, N+4)
Dự toán trung hạn năm N+2
Dự toán trung hạn năm N+3
Dự toán NSNN năm N+2
Dự toán trung hạn năm N+3 Dự toán trung hạn năm N+4
Quốc hội phê
Trang 33ngân sách của một Bộ quản lý ngành hoặc sở quản lý ngành Như vậy, MTEFs gắn trực tiếp với ngành, địa phương hoặc đơn vị thụ hưởng ngân sách
Về cơ cấu thu chi, MTFF và MTEFs đều có các nguồn lực tài chính trong trung hạn và các khoản chi tiêu bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư, nhưng MTFF có phạm vi bao quát hơn, liên quan đến cân đối thu chi NSNN ở cấp quốc gia MTFF phải được xây dựng trước để xác định giới hạn trần về nguồn lực tài chính dành cho ngành, trong khi MTEFs chỉ được xây dựng khi biết giới hạn nguồn lực tài chính mà Chính phủ, chính quyền địa phương phân bổ cho ngành mình
MTFF là kế hoạch ngân sách ở cấp quốc gia hoặc địa phương, mô tả tình hình tài khóa, khả năng cân đối thu chi, dự kiến và mục tiêu của chính dựa trên những phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô trong giai đoạn trung hạn MTFF cung cấp cho chính phủ hoặc chính quyền địa phương một khuôn khổ tài khóa nhằm xây dựng dự toán chi tiêu trung hạn Mục tiêu của MTFF là xác lập các giới hạn nguồn lực tài chính tổng thể cho việc phân phối nguồn lực trong thời gian 3-5 năm
Theo Ngân hàng Thế giới (1998): “Nội dung trọng tâm của MTFF là xác định, dự kiến nguồn lực tài chính tổng thể ở cấp quốc gia hoặc địa phương trên cơ
sở dự báo kinh tế vĩ mô; xác định chính sách tài khóa, phân bổ và cân đối thu chi liên quan đến mọi ngành Việc xây dựng một MTFF ở mỗi quốc gia được thực hiện theo những mẫu biểu riêng nhưng về nội dung cơ bản thì một MTFF cần phải hoàn thành các nội dung cơ bản sau:
i) Đánh giá bối cảnh kinh tế, tài chính tầm quốc gia hoặc địa phương Dự báo các xu hướng và các triển vọng kinh tế của quốc gia hoặc địa phương
ii) Phân tích, dự báo về tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn trung hạn, từ đó dự báo nguồn lực tài chính
iii) Dự kiến những thay đổi trong chính sách, cơ cấu thu, cải cách trong quản
lý thu, dự báo chỉ tiêu thu NSNN theo lĩnh vực, theo sắc thuế Đánh giá, ước tính tổng thu, tổng chi ngân sách quốc gia hoặc địa phương
Trang 34iv) Dự kiến mức dư nợ Chính phủ, dư nợ quốc gia, phân tích, dự báo các tác động tới chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Nhận diện và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khuôn khổ tài khóa tổng thể cũng như chủ động xác định nợ và thâm hụt ngân sách
dự kiến và phương án huy động bù đắp thâm hụt trong kỳ trung hạn
v) Định hướng ưu tiên và cách thức lựa chọn ưu tiên của các chính sách, chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Phân bổ và sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước cho các ưu tiên chiến lược phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của quốc gia hoặc địa phương
vi) Đánh giá ước tính nguồn thu của năm hiện tại (ước thực hiện), năm lập
dự toán ngân sách và hai năm ngân sách tiếp theo
vii) Rà soát và tổng hợp các chính sách quan trọng về kinh tế xã hội, tài chính, ngân sách và tài khoá của quốc gia hoặc của địa phương năm hiện hành, tiếp tục những chính sách có tác dụng trong năm tới và các năm tiếp theo”
Theo Ngân hàng Thế giới (1998): “Nội dung trọng tâm của MTEFs là xác định lĩnh vực và mức chi tiêu trên cơ sở đã biết giới hạn nguồn lực tài chính cho ngành ở cấp quốc gia hoặc địa phương Hay nói khác đi, MTEFs là bản dự toán chi ngân sách của một Bộ quản lý ngành hoặc sở quản lý ngành Như vậy MTEFs gắn trực tiếp với ngành, địa phương hoặc đơn vị thụ hưởng ngân sách Một MTEFs cần phải hoàn thành các nội dung cơ bản sau:
i) Dự kiến thay đổi về chính sách, chế độ của nhà nước liên quan đến ngành, địa phương Xác định phạm vi của bản dự toán ngành, địa phương
ii) Xác định bối cảnh, xu hướng phát triển kinh tế xã hội, tài chính ngân sách, các mục tiêu chính sách, ưu tiên chiến lược trong giai đoạn, các chương trình, hoạt động trong phạm vi ngành, địa phương
iii) Xác định tổng nguồn tài chính của ngành, địa phương xác định mức nợ cho ngành
Trang 35iv) Phân bổ ngân sách gắn với việc thực hiện các mục tiêu chính sách, ưu tiên chiến lược
v) Ước tính tổng chi của năm hiện tại, năm lập dự toán ngân sách và 2 năm ngân sách tiếp theo Xác định tổng chi của ngành, địa phương trong đó chi cho chính sách hiện hành và chi cho các chính sách, sáng kiến mới
vi) Tóm tắt các tác động tài chính từ những thay đổi chính sách trong chu kỳ của khuôn khổ chi tiêu trung hạn
vii) Xử lý giữa trần ngân sách và nhu cầu chi, kiến nghị biện pháp để xử lý viii) Các tài liệu phân bổ, phụ lục, thuyết minh và những đề nghị khi có chênh lệch giữa nguồn lực và nhu cầu chi tiêu”
Theo ê Chi Mai (2011), các hoạt động chính trong quy trình lập ngân sách theo MTEF như sau: (xem Bảng 2.2)
Bảng 2.2: Các hoạt động trong quy trình lập ngân sách theo MTEF
Đưa ra số dự báo thực tế về tổng nguồn lực sẳn có trong thời kỳ trung hạn để phân bổ cho các chương trình chi tiêu
Hoạch định và lên chi
phí thực hiện các kế
hoạch chi tiêu ngành,
địa phương
Các Bộ chuyên ngành hoạch định các chương trình chi tiêu ngành, địa phương
Chia ra các mục tiêu, chương trình và hoạt động ngành, địa phương và chi phí dự kiến của chúng Cân đối nguồn lực sẳn
có với các kế hoạch chi
phương
Các nhà ra quyết định cân đối giới hạn từ trên xuống với nhu cầu chi tiêu từ dưới lên
Thống nhất về các chương trình chi tiêu trung hạn
Thông báo cho các Bộ, địa phương về giới hạn chi tiêu
Trang 36Công bố hạn mức chi
tiêu ngành, địa phương
cho năm thứ nhất của
MTEF
Soạn lập ngân sách nhà nước hàng năm Thống nhất giữa ngân sách của các Bộ, địa phương với
các chương trình chi tiêu ngành, địa phương đã được thông qua
Thực hiện ngân sách
phù hợp với các ý định
ngân sách
Áp dụng chế độ kế toán, báo cáo và kiểm soát chi tiêu trong quá trình thực hiện ngân sách hàng năm
Đảm bảo ngân sách hàng năm không sai lệch quá lớn
so với MTEF
Đảm bảo việc đạt được
các kết quả mong đợi
Các khuyến khích đối với công chức kiểm toán và đánh giá sau khi thực hiện
Hài hòa các khuyến khích đối với công chưc và các nhà hoạch định chính sách với các mục tiêu chung của Nhà nước
Nguồn: Quản lý chi tiêu công (Lê Chi Mai, 2011, trang 304-305)
2.2.4.3 Quy trình lập ngân sách theo MTEF
Quá trình soạn lập ngân sách trung hạn không chỉ thực hiện MTFF hoặc MTEFs mà phải thực hiện đồng thời cả hai MTEF là toàn bộ nội dung lập ngân sách trung hạn bao gồm: xác định nguồn lực, phân bổ và quản lý nguồn lực phù hợp với chính sách kế hoạch và ưu tiên chiến lược trong giai đoạn 3-5 năm trên phạm vị địa phương hoặc quốc gia (xem Hình 2.2)
Trang 37Theo Ngân hàng Thế giới (1998): “việc lập ngân sách theo khuôn khổ chi
tiêu trung hạn luôn theo trình tự:
i) Xác lập khuôn khổ kinh tế vĩ mô và chính sách quốc gia trong trung hạn; xây dựng ưu tiên chiến lược trong kỳ trung hạn, các chỉ tiêu và dự báo phát triển kinh tế xã hội của quốc gia
ii) Xây dựng MTFF trên cơ sở xác lập các chỉ tiêu tài chính vĩ mô, các giới hạn nguồn lực và kỷ luật tài chính tổng thể
iii) Xây dựng MTEF cho ngành ở cấp quốc gia hoặc và địa phương
Hình 2.2: Quy trình dự toán ngân sách theo MTEF
Năm ngân
sách N
Thay đổi thông số và chính sách
Dự toán ngân sách năm N+1
Dự toán trung hạn năm N+2
Dự toán trung hạn năm N+3
Năm ngân sách N+1
Dự toán ngân sách năm N+2
Dự toán trung hạn năm N+3
Dự toán trung hạn năm N+4
Năm ngân sách N+2
Thay đổi thông số và chính sách
Dự toán ngân sách năm N+3
Dự toán trung hạn năm N+4
Nguồn: Vận dung phương thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong quản lý chi tiêu công của Việt Nam (Sử Đình Thành, 2005)
Trang 38Quy trình chính của MTEF chính là nó bao gồm một tiến trình phân bổ nguồn lực từ trên xuống và một tiến trình ước tính từ dưới lên của các khoản chi phí trung hạn của các chính sách hiện tại nhằm xác định không gian tài chính, đảm bảo
sự an toàn trong toàn bộ nền tài chính, tránh xảy ra những biến động lớn có thể ảnh
hưởng đến dòng tiền chung của một quốc gia
Quy trình cơ bản của phương thức soạn lập ngân sách theo MTEF có thể tóm
tắt với hai tiểu quy trình: từ trên xuống và từ dưới lên (xem Hình 2.3)
i) Tiểu quy trình từ trên xuống bao gồm: Thiết lập trần chi tiêu sơ bộ cho các ngành trên cơ sở phù hợp với những ưu tiên của chính phủ; Thông báo giới hạn trần chi tiêu và hướng dẫn chuẩn bị lập ngân sách cho các bộ, ngành Bộ Tài chính đóng vai trò dẫn dắt trong giai đoạn này nhưng vẫn tham khảo ý kiến của Chính phủ về những quyết định chính sách then chốt
ii) Tiểu quy trình từ dưới lên bao gồm: xây dựng và tính toán chi phí cho các chương trình chi tiêu của ngành và chuẩn bị ngân sách cho ngành trong phạm vi giới hạn trần chi tiêu Các bộ quản lý ngành chịu trách nhiệm soạn lập ngân sách ở giai đoạn này”
Theo tổ chức OECD, “MTEF sẽ được lập theo trình tự gồm 7 bước như sau:
Bước 1: Ước tính nguồn lực Chính phủ Đây là bước dự đoán về ngân sách
theo một góc nhìn từ 3 đến 5 năm xuất phát từ việc ước tính trên tổng số thu nội địa
và dự đoán thông qua dòng hỗ trợ phát triển quốc gia từ các đơn vị, các tổ chức khác nhau
Bước 2: Xác định giới hạn nguồn lực theo khu vực trong trung hạn Quá trình
này cần phải đánh giá được chi phí của các chương trình và chính sách hiện hành đã được cam kết, thứ tự ưu tiên của từng khu vực trong Chính phủ, tiến hành điều chỉnh để cho có sự phù hợp và tương xứng giữa mức ưu tiên và chính sách, sau đó nộp lên cho các bộ trước khi bắt đầu một chu kỳ ngân sách
Trang 39Bước 3: Soạn thảo chương trình cho từng khu vực Khi lập kế hoạch trung
hạn cho từng khu vực của một quốc gia, cần phải xem xét đến mục tiêu, kết quả đạt được, đầu ra của quá trình, các hoạt động dự kiến sẽ diễn ra Qua đó xác định những thay đổi có liên quan đến chương trình mới và các chi phí cho từng mục tiêu cụ thể
để chứng minh về tính khả thi và mức độ đáp ứng
Bước 4: Rà soát và xem xét chương trình cho từng khu vực Công việc rà
soát và cải tiến chất lượng cho các hoạt động của từng khu vực thông qua việc tập trung vào các vấn đề mang tính chất lượng mở rộng; làm rõ tính nhất quán giữa các mục tiêu xác lập, chi tiêu của các khu vực với phạm vi tổng thể toàn Chính phủ; mức chi tiêu trong phạm vi dài hạn Nếu như trong quá trình xác định giá trị, mức chi tiêu này vượt quá giới hạn cho phép thì giai đoạn này sẽ hỗ trợ cho các khu vực điều chỉnh chi phí đó cho phù hợp trên cơ sở ước tính
Bước 5: Trình mức giới hạn đã điều chỉnh cho các bộ, ngành có liên quan
Bộ Tài chính là cơ quan công bố mức giới hạn nhiều năm đối với chi tiêu của từng khu vực Sau khi xác định sẽ trình cơ quan cấp cao để xét duyệt và hình thức cấp phát dựa trên cơ sở thực tế của từng đơn vị và các khoản ước tính chi đã thiết lập
Bước 6: Quyết toán ngân sách và trình Quốc hội Báo cáo tổng quát ngân
sách theo mô hình MTEF sẽ cung cấp một khuôn khổ theo từng đơn vị với từng nội dung chi tiêu khác nhau Từng đơn vị sẽ dựa vào đó để lập ngân sách và trình cho
Bộ Tài chính hay cơ quan tài chính trực thuộc xem xét Trong báo cáo này thể hiện các mức phân bổ và giới hạn của từng nội dung theo chu kỳ trung hạn Cơ quan tài chính sẽ thảo luận và thống nhất với những nội dung mà những cơ quan đó đã nộp hoặc sẽ có sự điều chỉnh cần thiết, tiếp theo là có sự cân nhắc giữa cấp cao hơn, sau
đó đến Quốc hội là cấp cuối cùng
Bước 7: Xem xét và luân chuyển vòng quay năm ngân sách Đây là giai đoạn
sau khi được phê duyệt thì các cơ quan sẽ duy trì những thông tin ngân sách cùng các ước tính chỉ tiêu đã tính toán hoàn tất hiện hành Nếu có những thông tin phát sinh bất thường, cần tiến hành điều chỉnh theo những tín hiệu chính sách tại thời
Trang 40điểm cụ thể đó; trong niên độ tài chính tiếp theo sẽ sử dụng các ước tính chi tiêu đã được cập nhật đó trong bối cảnh cân nhắc những thay đổi trong thứ tự ưu tiên của toàn Chính phủ Đây là cơ sở để xác định mức nguồn lực mới của Chính phủ”
Hình 2.3: Các bước trong quy trình Khuôn khổ chi tiêu trung hạn
Nguồn: Tài chính công Phần III: Phương pháp soạn lập ngân sách theo MTEF ( Nguyễn Thị Huyền, 2011)
2.2.5 Những yếu tố thay đổi ảnh hưởng đến dự toán MTEF
Sử Đình Thành (2005) cho rằng, trong tiến trình cuốn chiếu để lập ngân sách trung hạn kế tiếp, những yếu tố thay đổi ảnh hưởng đến việc lập các bản dự toán trung hạn như: (xem Hình 2.4)
i) Thông số kinh tế vĩ mô: lạm phát, tỷ giá, mức lương tối thiểu,…
Dự toán và
ưu tiên hóa hoạt động chỉ tiêu
Lập dự toán thống nhất 3 năm
6
4
3