1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý tín dụng đối với kinh tế hộ tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện thăng bình tỉnh quảng nam

128 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý tín dụng đối với kinh tế hộ tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam
Tác giả Lê Anh Tuấn
Người hướng dẫn PGS, TS Phạm Hảo
Trường học Học Viện Chính Trị - Hành Chính Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 842,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chủ trương “Pháttriển rộng rãi các tổ chức tín dụng tập thể trong nhân dân, ngăn chặn nạn tưnhân cho vay nặng lãi” tín dụng đối với kinh tế hộ trên các lĩnh vực sản xuấtnông, lâm, ng

Trang 1

Lấ ANH TUẤN

TíN DụNG đối với KINH Tế Hộ TạI CHI NHáNH NGÂN HàNG NÔNG NGHIệP Và PHáT TRIểN NÔNG THÔN HUYệN THĂNG BìNH,

TỉNH QUảNG NAM

Chuyờn ngành: Quản lý kinh tế

Mó số : 60 34 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN Lí

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS PHẠM HẢO

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn

là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Anh Tuấn

Trang 3

1.3 Mục tiêu, nguyên tắc, cơ chế quản lý, xu hướng phát triển của tín

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ

HỘ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH

2.1 Khái quát về kinh tế hộ trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh

2.2 Tình hình hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ tại Chi nhánh

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng

2.3 Đánh giá chung về hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ tại Chi

nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH

HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

3.2 Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ

tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 4

CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 5

Bảng 2.1 Tài nguyên đất của huyện Thăng Bình năm 2009 43

Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình từ năm

Bảng 2.3 Tình hình cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng

Bảng 2.4 Dư nợ cho vay phân theo ngành kinh tế tại Chi nhánh Ngân

hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng

Bảng 2.5 Dư nợ cho vay phân theo thành phần kinh tế tại Chi nhánh

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện

Bảng 2.6 Dư nợ hộ sản xuất phân theo ngành nghề tại Chi nhánh

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện

Bảng 2.7 Dư nợ cho vay hộ sản xuất phân theo kỳ hạn tại Chi nhánh

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện

Bảng 2.8 Tình hình cho vay hộ sản xuất giai đoạn 2005-2009 tại Chi

nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Bảng 2.9 Kết quả sản xuất của huyện Thăng Bình từ 2005-2009 67

Bảng 2.10 Nợ quá hạn của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

Trang 6

Hình 1.1 Hình thức cho vay trực tiếp có sự tham gia của bên cung ứng 13

Hình 1.2 Hình thức cho vay trực tiếp có sự tham gia của bên bao tiêu 14

Hình 1.3 Mô hình quan hệ tín dụng theo Tổ hợp tác vay vốn 15

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và

Hình 2.2 Sơ đồ tăng trưởng huy động vốn từ năm 2005-2009 50

Hình 2.3 Sơ đồ tăng trưởng dư nợ từ năm 2005-2009 55

Hình 2.4 Sơ đồ tăng trưởng dư nợ ngắn hạn và dư nợ trung dài hạn từ

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta (tháng 12 năm 1986)khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước, chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lýtập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hạchtoán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Theo đó, các thành phần kinh tế, trong đó

có kinh tế cá thể, hộ sản xuất… được khuyến khích phát triển, được tiếp cậnvốn vay ngân hàng và được bình đẳng trước pháp luật Với chủ trương “Pháttriển rộng rãi các tổ chức tín dụng tập thể trong nhân dân, ngăn chặn nạn tưnhân cho vay nặng lãi” tín dụng đối với kinh tế hộ trên các lĩnh vực sản xuấtnông, lâm, ngư nghiệp được khôi phục và phát triển, ngày càng có vai trò đặcbiệt quan trọng, là một trong những đòn bẩy để tích tụ và tập trung vốn nhằmđầu tư phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển Nông nghiệp, Nôngthôn nói riêng

Cũng như các địa phương khác trong cả nước, trong những năm quakinh tế hộ Nông nghiệp ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã nhận đượcnguồn vốn tín dụng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trênđịa bàn Nhờ đó, kinh tế hộ có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, đa dạnghóa ngành nghề, nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, con vật nuôi, cungcấp ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội, thu nhập của người laođộng ngày càng tăng, đời sống ngày càng được cải thiện, nâng cao Thực tếcho thấy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tahiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam luônđồng hành cùng nông dân, với dư nợ cho vay đáp ứng trên 85% hộ vay vốnsản xuất, kinh doanh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế,xóa đói, giảm nghèo của nhân dân

Song, bên cạnh đóng góp tích cực của ngành ngân hàng cũng đặt ranhững yêu cầu mới về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Việc cho vayđối với hộ sản xuất không chỉ thông thoáng, thuận lợi, mà còn phải chặt chẽ,

Trang 8

đảm bảo hiệu quả và an toàn vốn Nếu không, chính những khoản tín dụngnày sẽ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao cho nền kinh tế của đất nước Đặc biệt, đốivới những hộ sản xuất, kinh doanh có số tiền vay lớn lên đến hàng trăm triệuđồng mà không cần thế chấp.

Là một mắt xích ở cơ sở trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn Việt Nam, trong những năm qua Chi nhánh Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã thực hiệntốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, định hướng kinh doanhcủa ngành trong việc đầu tư tín dụng có hiệu quả cho kinh tế hộ hoạt động sảnxuất, kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tạo thêm việc làm, cảithiện đời sống hộ nông dân, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế

- xã hội, tăng tích lũy, giữ vững ổn định chính trị của địa phương

Tuy nhiên, sự tăng trưởng và kết quả đạt được trên lĩnh vực đầu tư vốntín dụng cho kinh tế hộ thời gian qua chưa được như mong muốn, chưa tươngxứng với khả năng và tiềm lực của ngành, sự quan tâm của Đảng và Nhànước Đối với hoạt động tín dụng kinh tế hộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình mặc dù đã có nhiều cốgắng, song cũng còn nhiều bất cập, như hoạt động tín dụng còn tiềm ẩn nhữngyếu tố không vững chắc, dư nợ tín dụng đối với các thành phần kinh tế, hiệuquả đầu tư còn thấp và chưa bền vững, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để

mở rộng hoạt động và nâng cao khả năng cạnh tranh… với lý do trên, tôi chọn

đề tài “Tín dụng đối với kinh tế hộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài

luận văn tốt nghiệp, nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao hiệuquả hoạt động tín dụng kinh tế hộ tại địa phương

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài đã có một số công trình nghiên cứu:

- Những giải pháp quản lý cho vay vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam của Th.s Võ Văn Lâm, Tạp

chí Sinh hoạt lý luận, số 2 năm 2000

Trang 9

- Một số giải pháp đầu tư tín dụng góp phần thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo ở nước ta hiện nay của Th.s Huỳnh Ngọc Thành, Tạp chí

Sinh hoạt lý luận, số 2 năm 2000

- Tăng cường đầu tư vốn tín dụng trung và dài hạn - giải pháp quan trọng thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Phạm Thị Khanh, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 4 năm 2000.

- Một số giải pháp về tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân ở nước ta giai đoạn 2001 - 2010 của Th.s Võ Văn Lâm, Tạp chí Sinh

hoạt lý luận, số 5 năm 2001

- Sự cần thiết khách quan phải sử dụng có hiệu quả vốn vay tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo của PGS, TS Phạm Hảo, Kỷ yếu đề tài khoa học

cấp Bộ năm 2010

Các công trình nghiên cứu đã đề cập một số vấn đề cơ bản về tín dụngngân hàng và những giải pháp quản lý, cho vay vốn để phát triển kinh tế nôngnghiệp, nông thôn góp phần thực hiện các chương trình xóa đói, giảm nghèo ởnước ta hiện nay Nhưng chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu mộtcách có hệ thống tín dụng đối với kinh tế hộ ở một địa phương Do đó, việc

chọn đề tài “Tín dụng đối với kinh tế hộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” để

nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và một số giảipháp của tín dụng đối với kinh tế hộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn trong thời gian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

hộ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyệnThăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

+ Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộtại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện ThăngBình, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng tín dụng đối với kinh tế hộ tại Chinhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình, tỉnhQuảng Nam; cơ chế, chính sách của Nhà nước về tín dụng đối với kinh tế hộ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Thực tiễn công tác tổ chức, hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ trênđịa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Thời gian thu thập số liệu vàkhảo sát tình hình thực tiễn từ năm 2005 đến năm 2009

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn chủ yếu dựa vào các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các quiđịnh, các văn bản hướng dẫn và các báo của Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn Việt Nam; kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu

có liên quan đến nội dung mà luận văn đề cập

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nội dung đề ra, luận văn thực hiện cácphương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp; phương pháp toán…

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm có 3 chương, 9 tiết

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

1.1.1 Khái niệm tín dụng

Tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, nó phản

ảnh quan hệ kinh tế giữa người sở hữu và người sử dụng các nguồn vốn tiền

tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để thực hiện các kế hoạch sản xuất, kinhdoanh theo nguyên tắc hoàn trả vốn và kèm theo lợi tức khi đến hạn Có nhiềuhình thức tín dụng, nhưng trong điều kiện hiện nay ở nước ta, tín dụng ngânhàng là hình thức phổ biến và được áp dụng rộng rãi

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tíndụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân, nó là một nghiệp vụ kinh doanhtiền tệ của ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vốn và có lãi.Đây cũng là hình thức tín dụng kinh tế hộ, là khoản cho vay của ngân hàngnông nghiệp và phát triển nông thôn đối với hộ nông dân trên từng địa bàn đểphát triển sản xuất, kinh doanh, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăngthu nhập, cải thiện đời sống của người lao động

Khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng Vì vậy, tuỳ theogóc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này

Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh Credit có nghĩa là một sự tínnhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin Trong thực tế cuộc sốngthuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan

hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nộidung riêng Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau:

- Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệmsang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyểndịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay

Trang 13

- Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một quan hệ giao dịch

về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể Như một công ty côngnghiệp hoặc thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trongtrường hợp này người bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thờigian nhất định theo thoả thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán Phổ biếnhơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với cácdoanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàngcấp tiền cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanhtoán cả gốc lẫn lãi

- Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tàichính cung cấp cho khách hàng [5, tr.18]

Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượnlẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc lẫn lãi

Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đivay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hìnhthức tiền tệ hoặc hàng hoá Quá trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn sau:

- Thứ nhất, phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạn

này, giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bênnhận được giá trị, và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị

- Thứ hai, sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Người đi

vay sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó

để thoả mãn nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của mình.Tuy nhiên, người đi vay chỉ được sử dụng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh mà không được quyền sở hữu về giá trị đó

- Thứ ba, đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng,

sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình tháitiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại người cho vay

Nhà kinh tế Pháp, ông Louis Baudin đã định nghĩa tín dụng như là

“một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”

Trang 14

Từ những phân tích trên, luận văn rút ra định nghĩa: Thực chất tín dụng

là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mốiquan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị Vốn tín dụng được biểuhiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hoá từ người cho vay chuyển sang người

đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với lượnggiá trị lớn hơn ban đầu

1.1.2 Tín dụng đối với kinh tế hộ

Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, gia đình có vai trò quantrọng, vì nó không chỉ là tế bào của xã hội, mà còn là đơn vị sản xuất và mộtđơn vị hay một chủ thể tiêu dùng rất cơ bản với những nhu cầu rất đa dạng,phong phú để đảm bảo cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình

Nhưng trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chónghiện nay, phải nhận rõ những khó khăn trong việc phát triển mô hình kinh tế

hộ gia đình, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn

- Tính đặc thù của kinh tế hộ

+ Kinh tế hộ sử dụng lao động, đất đai của từng hộ gia đình

+ Quy mô sản xuất nhỏ lẻ

+ Mối liên kết của kinh tế hộ thiếu chặt chẽ

Kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản của nền nông nghiệp và hơn thế nữa

nó còn là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm của nông nghiệp,bởi nó có những đặc trưng sau đây:

* Kinh tế hộ có sự gắn bó chặt chẽ giữa quan hệ sở hữu, quan hệ quản

lý và quan hệ phân phối

* Các thành viên của kinh tế hộ đều là người trong một gia đình, cóchung lợi ích, làm chung, ăn chung, cùng chia sẻ thuận lợi, khó khăn, thànhcông hay rủi ro trong cuộc sống và trong lao động sản xuất Chính vì vậy, ýthức trách nhiệm của mỗi thành viên trong quá trình lao động sản xuất rất cao

và tự giác; họ có ý thức của người chủ đối với ruộng đất, với cây trồng, vậtnuôi, với kết quả của quá trình sản xuất Xét về sự phù hợp với đặc thù sinh

Trang 15

học của sản xuất nông nghiệp thì kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản phù hợpnhất, khó có hình thức kinh tế nào có thể thay thế tốt hơn được

* Kinh tế hộ có khả năng tự điều chỉnh rất cao, do có sự thống nhất vềlợi ích trong gia đình nên việc điều chỉnh giữa tích luỹ và tiêu dùng được thựchiện một cách linh hoạt, có khi dành cả một phần sản phẩm tất yếu để đầu tư

và mở rộng sản xuất Tính linh hoạt này làm cho kinh tế hộ có khả năng thíchứng với sự thay đổi đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất Trong cơ chế thịtrường, gặp điều kiện thuận lợi, hộ có khả năng mở rộng sản xuất để có nhiềunông sản hàng hoá và khi các điều kiện không thuận lợi, sản xuất gặp khókhăn, hộ có thể điều chỉnh cho phù hợp hoặc chuyển một phần sản phẩm tấtyếu thành sản phẩm thặng dư, có thể lấy công làm lãi để bảo toàn vốn sảnxuất, mặc dù có thể giảm tối đa nhu cầu tiêu dùng

Mặt khác, kinh tế hộ có quy mô sản xuất tương đối nhỏ, phù hợp với khảnăng lao động và quản lý của gia đình, vì vậy nó là một đơn vị sản xuất gọnnhẹ, linh hoạt, thích ứng với sản xuất nông nghiệp trong cơ chế thị trường

Đối với kinh tế hộ, có thể dễ dàng điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cải tiến kỹthuật, sản xuất theo nhu cầu của thị trường hơn là những đơn vị kinh tế có quy

mô lớn như các nông trường, các xí nghiệp nông nghiệp, lâm trường… kinh tế

hộ có khả năng tận dụng thời gian nông nhàn để tham gia vào các hoạt độngsản xuất phi nông nghiệp để tăng thêm thu nhập.Vì vậy, nhìn chung tính hiệuquả của kinh tế hộ là tương đối cao, nó quy định sự tồn tại khách quan, lâu dàicủa hình thức kinh tế nông hộ trong sản xuất nông nghiệp, nhất là nền nôngnghiệp sản xuất nhỏ, còn mang năng tính tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoáchậm phát triển

Là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ nhưng nó không hoạt động một cáchriêng biệt, không phải chỉ là kinh tế cá thể, mà nó có khả năng tồn tại vớinhiều hình thức sở hữu khác nhau, có thể là thành viên của các tổ chức hợptác hay liên kết với các tổ chức kinh tế nhà nước để làm tăng năng lực sảnxuất kinh doanh của mình

Trang 16

Sản xuất của nông hộ luôn gắn liền với quy mô và đặc điểm môi trườngsinh thái, đặc biệt là khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn Kinh tế hộ chưathể khắc phục được những bất lợi của thiên nhiên đem đến cho mình Do vậy,kết quả sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ thường hay gặp rủi ro Sản phẩmtạo ra có thời hạn sử dụng ngắn, chủ yếu mang tính chất tươi sống, cho nêntrong sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với chế độ bảo quản, vận chuyển, chếbiến thích hợp và phải có thị trường tiêu thụ để giải quyết đầu ra cho sản phẩm,nhất là đối với những sản phẩm hàng hoá có khối lượng lớn, có giá trị kinh tếcao Ngoài ra, còn có một số đặc thù khác như kinh tế hộ vừa là đơn vị sảnxuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng, kinh tế hộ là đơn vị tự nhiên, tự tạo nguồnlao động… Do những đặc trưng như vậy mà nông hộ từ xa xưa cho đến nay, ởtất cả các nước luôn là đơn vị kinh tế cơ bản của nền sản xuất nông nghiệp.

Từ một số đặc trưng nêu trên, cho thấy kinh tế hộ là một đơn vị kinh tế

tự chủ, là một bộ phận hợp thành nền kinh tế nhiều thành phần, trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Vì vậy, hộđược giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để sản xuất kinh doanh, có cơ cấusản xuất đa dạng, quy mô sản xuất phù hợp với nhiều ngành nghề dựa trên cơ

sở lao động, vốn của gia đình Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các hộthường có nhu cầu quan hệ hợp tác với nhau và với các thành phần kinh tếkhác nhằm làm tăng thêm năng lực cho mình

- Tín dụng đối với kinh tế hộ

Tín dụng đối với kinh tế hộ là số vốn của ngân hàng cho hộ nông dânvay để phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, xóađói, giảm nghèo Tín dụng đối với kinh tế hộ chủ yếu trong lĩnh vực nôngnghiệp, nông thôn

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì quá trình sản xuất đượcliên tục, đòi hỏi vốn của người sản xuất phải đảm bảo cho các giai đoạn nhưsản xuất, dự trữ và lưu thông Do vậy, hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thờiluôn xảy ra đối với kinh tế hộ Vì vậy, tín dụng ngân hàng đã góp phần điềutiết các nguồn vốn, tạo đều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của kinh tế

Trang 17

hộ không bị gián đoạn Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng làmột trong những nguồn vốn hình thành vốn lưu động và vốn cố định củadoanh nghiệp Từ nguồn vốn này, ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vaytheo yêu cầu của kinh tế hộ nhằm bổ sung cho nguồn vốn tự có để thoả mãngnhu cầu sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ trong từng thời gian nhất định,nhất là vào thời vụ sản xuất nông nghiệp, người nông dân rất cần vốn để muasắm tư liệu sản xuất, mua vật tư, giống cây trồng, vật nuôi và chi trả các dịch

vụ có liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh Do đó, tín dụng đối vớikinh tế hộ đã góp phần quan trọng giúp cho kinh tế hộ giải quyết những khókhăn về vốn mà bản thân họ không thể đáp ứng được

1.1.3 Đặc điểm của tín dụng đối với kinh tế hộ

Khu vực nông nghiệp, nông thôn có nhiều đặc điểm về sản xuất, đờisống rất đặc trưng, khác biệt với các khu vực sản xuất công nghiệp và thànhthị Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng và hình thànhnên các đặc trưng của tín dụng ngân hàng trong khu vực này Đó là:

- Về thị trường

Thứ nhất, khu vực nông nghiệp, nông thôn ở nước ta có thị trường rất

rộng lớn, chiếm trên 80% dân số và gần 70% lao động của cả nước Với sốlượng lao động đông nhưng thu nhập của lao động ở khu vực này lại thấp hơncác khu vực khác, nên mức tích luỹ của người nông dân rất hạn chế, thậm chínhiều hộ gia đình sau mỗi vụ thu hoạch thu không đủ chi, rất khó khăn trongsản xuất và đời sống Từ thực tế đó cho thấy, trong xã hội nhu cầu tín dụngcủa khu vực này có ý nghĩa quan trọng nhằm phục vụ cho 2 mục đích: tiêudùng và đầu tư phát triển sản xuất Thực tế cho thấy, các khoản vay để đáp

ứng nhu cầu tiêu dùng khẩn cấp hầu hết là “vay nóng” trên thị trường phi chính thức của những người cho vay năng lãi với lãi suất cao ở mức “cắt cổ”.

Các nhu cầu khác sẽ có thể được đáp ứng bởi tín dụng ngân hàng, chính vìvậy có thể khẳng định thị trường tín dụng của khu vực này là rất rộng lớn Do

đó, các ngân hàng có cơ sở để thâm nhập và phát triển thị trường này

Trang 18

Thứ hai, khách hàng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn phân bố

khá phân tán, mật độ khách hàng theo lãnh thổ không cao Chính vì vậy, cácngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn về phân bố các chi nhánh nếu muốn tiếp cậnthị trường đầy tiềm năng này Điều này đòi hỏi mức đầu tư ban đầu về cơ sởvật chất, trụ sở, đội ngũ cán bộ nhân viên rất lớn mà không phải mọi ngânhàng đều có khả năng và sẵn sàng đầu tư phát triển các chi nhánh ở mọi nơi,mọi lúc

Thứ ba, đa phần khách hàng thuộc khu vực nông nghiệp, nông thôn có

trình độ học vấn không cao và đang quen với nếp sinh hoạt khép kín củangười tiểu nông, làm ăn nhỏ lẻ Nhiều người trong số họ có tâm lý khôngmuốn tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là tín dụng do e ngại rằngngân hàng không khác gì những người cho vay nặng lãi Một số khác lại suynghĩ tín dụng ngân hàng như là một mức trợ cấp, cho không của Chính phủ.Những yếu tố tâm lý này ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức triển khai

và các hình thức sản phẩm tín dụng của ngân hàng

- Về mức độ rủi ro

Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp chịu sự chi phối của nhiều yếu tố bất

khả kháng như mùa vụ, thiên tai Mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng tiến

bộ đã giúp cho bà con nông dân rất nhiều trong sản xuất nhằm dự báo vàphòng tránh những biến cố bất lợi phát sinh như hạn hán, bão lụt, dịchbệnh… nhưng rủi ro trong sản xuất nông nghiệp vẫn rất cao và diễn ra trêndiện rộng Cùng với tâm lý và trình độ còn hạn chế của bà con nông dân,tín dụng ngân hàng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn được đánh giá là

có mức độ rủi ro rất cao

Thứ hai, tuy mức độ cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng trong thị

trường nông nghiệp, nông thôn không cao nhưng các hình thức tín dụng phichính thức, cho vay nặng lãi lại khá phát triển ở khu vực này Việc thâm nhậpcủa các ngân hàng khác vào thị trường này tuy rất khó nhưng để rút lui khỏithị trường cũng không phải là dễ

Trang 19

- Về qui mô và chất lượng của các khoản tiền vay, tiền gửi

Các khoản tín dụng thuộc khu vực nông nghiệp, nông thôn khá phân tán

và nhỏ lẻ Thực tế cho thấy, đối tượng khách hàng chủ yếu của ngân hàng ở khuvực này là kinh tế hộ Với kiểu sản xuất đa số là nhỏ lẻ như hiện nay, ngườinông dân chỉ có khả năng tích luỹ những khoản tiết kiệm nhỏ để gửi ngân hàng.Những người khác có nhu cầu vay vốn để sản xuất thì qui mô dự án cũng khônglớn, qui mô của vốn vay do đó cũng bé vì người vay chỉ cần và chỉ có khả năng

sử dụng từng ấy tiền Chính vì vậy, mặc dù số lượng khách hàng rất lớn nhưngcác món vay và các món tiền gửi lại rất nhỏ Trong khi đó ngân hàng phải triểnkhai một mạng lưới chi nhánh kèm theo các chi phí hoạt động khác ở các đị bàn.Điều này dẫn đến chi phí hoạt động của ngân hàng ở khu vực nông thôn thườngcao hơn so với thành thị Chi phí tín dụng cao lại ảnh hưởng trực tiếp đến ngườivay vốn, bởi tỷ suất lợi nhuận bình quân của khu vực nông nghiệp, nông thônluôn thấp hơn khu vực công nghiệp và dịch vụ Một khi hiệu quả sử dụng vốnkhông cao, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ

- Tín dụng trực tiếp

Tín dụng trực tiếp là quan hệ tín dụng trong đó khách hàng có nhu cầu

về vốn giao dịch trực tiếp với ngân hàng để vay vốn và trả nợ

Hình 1.1: Hình thức cho vay trực tiếp có sự tham gia của bên cung ứng

(1) Thoả thuận tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng

(2) Cung cấp vật tư, hàng hoá

(3) Ngân hàng thanh toán tiền cho tổ chức cung ứng

(4) Trả nợ

Tổ chức cung ứng

Trang 20

Với thể thức cấp song phương, ngân hàng giải ngân thu nợ trực tiếp vớikhách hàng vay Với thể thức đa phương, hợp đồng tín dụng có nhiều bêntham gia, trong đó bên thứ ba (ngoài ngân hàng và khách hàng vay) là những

tổ chức có trách nhiệm cung ứng vật tư, hàng hoá thuộc đối tượng vay và tiềnvay sẽ được ngân hàng giải ngân để thanh toán trực tiếp cho các tổ chức này,hoặc bên thứ ba là các đơn vị bao tiêu mà họ có trách nhiệm thanh toán nợcho các ngân hàng nhân danh khách hàng đi vay

Hình 1.2: Hình thức cho vay trực tiếp có sự tham gia của bên bao tiêu

(2) (1)

(1) Thoả thuận cho vay

(2) Ngân hàng cấp tiền vay

(3) Khách hàng giao sản phẩm cho tổ chức bao tiêu

(4) Tổ chức bao tiêu trả nợ cho ngân hàng

Phương thức cho vay này còn tạo điều kiện cho ngân hàng giám sát chặtchẽ việc sử dụng vốn vay Thông thường ngân hàng áp dụng phương thức nàyđối với các hộ vay trung và dài hạn để trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ănquả, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản , đối với các trang trại, hay cácdoanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp

- Tín dụng bán trực tiếp

Từ những đặc điểm của kinh tế hộ như đã nêu ở phần trên cho thấy,trong điều kiện nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phụ thuộc nhiều vào thiênnhiên thì ngân hàng cần phải đa dạng hoá các phương thức cho vay nhằm đápứng kịp thời các nhu cầu vốn theo tính chất thời vụ của hộ sản xuất Vì thế

Tổ chức bao tiêu

Trang 21

việc tìm kiếm một phương thức tổ chức cho vay phù hợp là rất cần thiết Trênthế giới phương thức cho vay bán trực tiếp được áp dụng lần đầu tiên tạiBangladesh và đến nay đã được mở rộng ở nhiều nước châu Á Ở Việt Nam,phương thức này thường được thực hiện dưới những tên gọi như cho vay theo

tổ liên danh, liên đới, tổ hợp tác vay vốn

+ Cho vay theo tổ hợp tác vay vốn

Theo phương thức này, khoản từ 10-40 hộ nông dân lập thành 1 Tổhợp tác vay vốn Để trở thành thành viên của tổ, các thành viên phải gầngũi nhau ở một số mặt như cùng thôn xóm, cùng canh tác, nuôi trồng mộtloại cây, con hoặc giống nhau về mục đích vay vốn Tổ phải được thành lậptrên cơ sở tự nguyện của các thành viên và bình bầu tổ trưởng để đại diệnpháp lý trong giao dịch với ngân hàng Trên cơ sở các qui định của ngânhàng, mỗi hộ làm giấy đề nghị vay vốn, tổ tiến hành họp xét theo các điềukiện và nhất trí kiến nghị số tiền được vay của từng hộ Sau đó, tổ trưởnggửi giấy đề nghị vay cho cả tổ tới ngân hàng cùng các giấy tờ khác có liênquan Tiếp đó, nhân viên cho vay sẽ tiến hành thẩm định hồ sơ, và thôngbáo quyết định số tiền vay của từng hộ, cũng như cho cả tổ Tổ trưởng làngười trực tiếp nhận tiền, theo dõi nợ vay và thu nợ để chuyển trả cho ngânhàng Có thể xem sơ đồ sau:

Hình 1.3: Mô hình quan hệ tín dụng theo Tổ hợp tác vay vốn

Trang 22

từng nhu cầu và điều kiện của mỗi hộ và từng hộ phải chịu trách nhiệm trựctiếp về hoàn trả số tiền được vay Tính gián tiếp thể hiện ở chỗ ngân hàngkhông trực tiếp làm việc với từng khách hàng - hộ mà thông qua người đạidiện là tổ trưởng tổ hợp tác, các thành viên trong tổ gián tiếp chịu trách nhiệm

về tính hợp lý của khoản vay và khả năng hoàn trả nợ của những thành viênkhác Vì thế đây cũng là hình thức biến tướng của những phương thức tổ chứccho vay trực tiếp

+ Cho vay theo tổ liên danh, liên đới vay vốn

Về cách thức thành lập tổ liên danh, liên đới cũng tương tự như cáchthành lập Tổ hợp tác vay vốn Tuy nhiên, theo kiểu tổ chức này mỗi thànhviên trong tổ phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước việc hoàn trả nợ đúng hạncủa các thành viên còn lại trong tổ Trong trường hợp các thành viên trong tổkhông trả nợ đúng hạn thì các thành viên khác phải chịu liên đới trách nhiệm.Trong trường hợp chưa trả dứt nợ cũ ngân hàng sẽ không cho tổ vay mónmới Phương thức này thường được áp dụng cho những món vay tương đốilớn, thường là nhu cầu trung, dài hạn; đòi hỏi phải tập trung vốn như chươngtrình cho vay tôn tạo và xây dựng nhà tại một số ngân hàng ở vùng đồng bằngsông Cửu Long

- Tín dụng gián tiếp

Trong phương thức cho vay gián tiếp, ngân hàng cấp tín dụng cho tổchức sản xuất (hộ gia đình, trang trại) thông qua một tổ chức trung gian.Những tổ chức trung gian này thường là các doanh nghiệp chuyên chế biến,kinh doanh những mặt hàng nông sản hoặc các đơn vị cấp vật tư Cụ thể:

Cho vay tổ chức trung gian để ứng vốn cho các hộ sản xuất

Các tổ chức trung gian trong trường hợp này là các công ty chế biếnnông sản, phương thức cho vay được thực hiện như sau: ngân hàng cho cáccông ty trung gian vay, các công ty này ứng vốn cho các hộ sản xuất (HSX),đến vụ thu hoạch các công ty trung gian mua sản phẩm của HSX, đồng thờithu các khoản nợ đã ứng từ đầu vụ sản xuất

Trang 23

Hình 1.4: Mô hình cho vay theo tổ vay vốn

(3) Sau khi thu hoạch HSX trả nợ cho công ty

(4) Công ty trả nợ cho ngân hàng

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ

1.1.4.1 Nhân tố khách quan

- Môi trường pháp lý

Đây là nền tảng và khuôn khổ để ngân hàng có thể triển khai hoạt độngtín dụng Nếu hệ thống pháp lý đầy đủ và đồng bộ, ngân hàng sẽ dễ dàng triểnkhai và phát triển các hoạt động Ngược laị, với một hệ thống các văn bảnpháp quy rườm rà, không sát với thực tế và thiếu đồng bộ sẽ khó cho người đivay lẫn người cho vay, người nhận gửi lẫn người gửi tiền Hệ thống pháp lýliên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng (TDNH) trong khu vực nôngnghiệp, nông thôn rất đa dạng và do nhiều chủ thể ban hành và điều chỉnh Từluật hoạt động tín dụng đến các qui định về năng lực hành vi của luật dân sự,

từ các qui định về cây, con, được nuôi trồng, sản xuất đến định hướng ngànhnghề, quy hoạch phát triển của khu vực nông nghiệp, nông thôn Các quy địnhnày nếu không có sự nhất quán và đồng bộ thì sẽ rất khó cho ngân hàng khi

Trang 24

muốn triển khai hoạt động tín dụng Do đó, môi trường pháp lý càng chặt chẽ

và cụ thể sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng phát huy được tính chủ động củamình trong kinh doanh, nhất là trong việc xử lý mối quan hệ giữa ngân hàngvới các doanh nghiệp và hộ sản xuất, các tổ hợp tác vay vốn

- Môi trường tự nhiên Đây là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thiên tai, dịch bệnhthường xuyên xảy ra Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến một số ngành,đặc biệt là những ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hàng hải Vìthế, việc đầu tư của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Namvào những ngành này có thể dẫn đến những rủi ro do môi trường tự nhiên gây ra,làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả và kết quả hoạt động kinh doanh của ngânhàng Đương nhiên, môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanhcủa kinh tế hộ và ngân hàng có cả mặt tích cực và tiêu cực Đất đai màu mỡ, thờitiết khí hậu thuận lợi, mưa thuận gió hoà là điều kiện lý tưởng cho sản xuất nôngnghiệp để có những vụ mùa bội thu, cho năng suất và sản lượng cao, làm tăngthu nhập cho kinh tế hộ, người nông dân có điều kiện trả nợ ngân hàng đúnghạn Ngược lại, đất đai cằn cỗi, lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra sẽ gây nhiềukhó khăn cho sản xuất nông nghiệp, mùa màng thất bát, nhiều hộ nông dân đứngtrước nguy cơ thiếu đói không có khả năng trả nợ vay ngân hàng Điều này cũngđồng nghĩa với việc hoạt động tín dụng ngân hàng gặp khó khăn, rủi ro cao Do

đó, để giảm thiểu rủi ro trong cho vay tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ,ngoài việc nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng, đòi hỏi phải

có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ và có trách nhiệm giữa các ngành, các tổ chức

có liên quan trong việc thực hiện các hợp đồng tín dụng sử dụng vốn vay vàomục đích sản xuất, kinh doanh đối với từng vùng, từng địa phương và từng hộgia đình

- Nhận thức của người dân về tín dụng ngân hàng

Trang 25

Thực chất tín dụng ngân hàng là khoản cho kinh tế hộ vay để phát triểnsản xuất theo nguyên tắc người đi vay phải trả hoàn trả cả gốc và lãi cho ngânhàng Nhưng trong thực tế, một số người dân nhận thức về khoản vay nàykhông đầy đủ nên không giám tiếp cận với các khoản tín dụng vì sợ lãi suấtcao hoặc coi khoản tín dụng ngân hàng như một khoản hỗ trợ không hoàn lạidẫn đến việc sử dụng vốn không đúng mục đích, hiệu quả sản xuất kinh doanhkém, vừa ảnh hưởng đến đời sống của kinh tế hộ, vừa ảnh hưởng đến hoạtđộng của ngân hàng

- Cơ chế, chính sách của Nhà nước và của ngành ngân hàng: Cơ chế,chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến khu vực nông nghiệp,nông thôn Nó là động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, động viên,khuyến khích người nông dân an tâm, phấn khởi sản xuất, đầu tư các nguồnlực để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội Trong điều kiện hiện nay,

cơ chế, chính sách của Nhà nước và của ngành ngân hàng về hoạt động tíndụng đối với kinh tế hộ là phải thông thoáng, tạo thuận lợi cho người dânđược tiếp cận với các nguồn vốn ở mọi lúc, mọi nơi Có như vậy mới đáp ứngđược nhu cầu sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ, nhất là đối với những hộ cónăng lực và kinh nghiệm sản xuất nhưng thiếu vốn Chính vì vậy, cơ chế,chính sách có vai trò quan trọng đối với sản xuất kinh doanh nói chung, đốivới hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng

1.1.4.2 Nhân tố chủ quan

Là một chủ thể trong mối quan hệ giao dịch với khách hàng, các yếu tốnội tại của ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc mở rộnghoạt động tín dụng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn

Nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi nên cơ chế và chínhsách cũng đang trong quá trình thay đổi và hoàn thiện Chính sách tín dụng trongthời gian qua có những đổi mới cơ bản theo cơ chế thị trường nên đã góp phầnquan trọng trong việc thực thi chính sách tín dụng của Đảng và Nhà nước, gópphần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát có hiệu quả Nó có ý

Trang 26

nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của một NHTM Một chínhsách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năngsinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, chủtrương, chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội Điều đó cũng cónghĩa là chất lượng hoạt động tín dụng phụ thuộc vào việc xây dựng chính sáchtín dụng có đúng đắn hay không Bất cứ NHTM nào muốn có chất lượng hoạtđộng tín dụng tốt đều phải có chính sách tín dụng rõ ràng, thích hợp của ngânhàng mình Hoạt động kinh doanh của ngân hàng là thu lợi nhuận và chủ yếu thu

từ hoạt động tín dụng, nên chính sách tín dụng tốt sẽ là một nhân tố quan trọngtác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Hệ thống các chi nhánh ngân hàng được phân bổ hợp lý theo mật độdân cư se tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể tiếp cận được các dịch

vụ của ngân hàng Người dân sẽ rất khó giao dịch nếu ngân hàng ở quá xa khuvực sinh sống và sản xuất của họ Tuy nhiên, để có thể mở một chi nhánh,ngân hàng phải bỏ ra rất nhiều chi phí Do vậy, ngân hàng cần thiết phải thiếtlập sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích

Các yếu tố về đội ngũ nhân lực Đây là nhân tố quan trọng nhất quyếtđịnh sự thành công hay thất bại, mở rộng hay thu hẹp hoạt động của một ngânhàng nói chung Với đội ngũ nhân viên có phẩm chất đạo đức tốt được đàotạo bài bản, nắm vững và vận dụng linh hoạt qui trình tín dụng, am hiểu lĩnhvực sản xuất, tâm lý, tập quán của người dân thì hoạt động tín dụng sẽ có cơhội phát triển, các rủi ro được kiềm chế Với tinh thần hợp tác và thái độ phục

vụ tận tình, chu đáo, tất cả vì khách hàng, các nhân viên sẽ góp phần tạo dựngmột hình ảnh tốt đẹp về ngân hàng trong lòng khách hàng mà đa số trong họ

có những suy nghĩ thiếu thiện cảm về ngân hàng Ngược lại, nếu đội ngũ nhânviên có trình độ nghiệp vụ yếu, tinh thần làm việc thiếu tích cực, kỷ luật laođộng không nghiêm, xử lý công việc chậm chạp, bê trễ và không có đạo đứcnghề nghiệp thì hoạt động tín dụng không chỉ gặp nhiều khó khăn, thậm chí

có thể bị đổ vỡ, mà còn hạn chế đến khả năng mở rộng tín dụng

Trang 27

Mặc dù là ngân hàng phục vụ khu vực nông nghiệp, nông thôn nhưngkhông thể phủ nhận vai trò của công nghệ ngân hàng đối với triển vọng mởrộng hoạt động tín dụng Với hệ thống các thiết bị và công nghệ hiện đại, cácthao tác và qui trình sẽ được rút ngắn, tạo điều kiện thoả mãn ngày càng tốthơn chu cầu của khách hàng, từ đó giảm thiểu chi phí hoạt động ngân hàng.Công nghệ còn giúp cho việc báo cáo tình hình, điều chuyển vốn dư thừahoặc thiếu giữa các chi nhánh trong hệ thống trở nên thuận lợi hơn, góp phầnvào việc mở rộng hoạt động tín dụng.

Công nghệ ngân hàng càng được hiểu rộng hơn ở khía cạnh sự linhhoạt và đa dạng của các sản phẩm tín dụng Các thông số của sản phẩm về kỳhạn, cho vay, phương thức nhận gửi, thanh toán nếu được thiết kế phù hợpvới nhu cầu của khách hàng thì sẽ góp phần quyết định tác động đến nhu cầu

sử dụng dịch vụ của khách hàng, từ đó tạo điều kiện để mở rộng hoạt động tíndụng của ngân hàng Ngược lại nếu chủ quan áp đặt những sản phẩm, ngânhàng có nguy cơ đánh mất khách hàng, thậm chí dẫn đến rủi ro tín dụng

Trong bối cảnh hiện nay, năng lực tài chính cũng là một yếu tố ảnhhưởng đến khả năng huy động và cấp tín dụng của các NHTM Để đảm bảo

an toàn trong hoạt động, pháp luật qui định ngân hàng chỉ được phép huyđộng và cho vay số tiền tối đa theo tỷ lệ với vốn tự có Tuỳ mỗi quốc gia mà

tỷ lệ này có thể khác nhau Lý thuyết quản trị ngân hàng hiện đại đã đưa ra hệ

số Cook, là tỷ lệ giữa vốn tài sản và tổng tài sản của ngân hàng Hệ số này làmột tiêu chí để đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động của ngân hàng.Trong khi đó, uy tín và độ an toàn trong hoạt động của ngân hàng lại là mộttiêu chí quyết định đến tâm lý của người gửi tiền Lý thuyết và thực tiễn đềucho thấy, những người gửi tiết kiệm ngân hàng là những người không ưa mạohiểm vì họ sẵn sàng chấp nhận một mức lãi suất thấp hơn các hình thức đầu tưkhác nhưng không ổn định Chính vì thế họ sẽ chọn ngân hàng nào hoạt động

có hiệu quả để gửi tiền Cũng theo qui định của pháp luật, quy mô một mónvay không được quá 15% vốn tự có của ngân hàng Do đó, nếu năng lực tài

Trang 28

chính thấp, ngân hàng sẽ không đáp ứng được những khoản vay trung và dàihạn có qui mô lớn của khách hàng.

Với đối tượng khách hàng thuộc khu vực nông nghiệp, nông thôn, mốiquan hệ giữa ngân hàng với các tổ chức chính quyền, xã hội ở địa phương có

ý nghĩa hết sức quan trọng Các tổ chức này là đối tác, là một kênh để ngânhàng triển khai các sản phẩm của mình và tiếp cận với người dân Nếu xâydựng được mối quan hệ hiệu quả, ngân hàng sẽ có cơ hội giảm thiểu chi phíhoạt động và tiếp cận đầy đủ các đối tượng khách hàng trong địa bàn ngânhàng hoạt động

1.2 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ

1.2.1 Đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh đối với kinh tế hộ

Trước hết, tín dụng ngân hàng góp phần hình thành thị trường tài chính

ở nông thôn - công cụ kinh tế để thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thônphát triển

Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, trên 80% dân số sống bằng nôngnghiệp và tập trung ở ngành trồng trọt, trong ngành trồng trọt chủ yếu là trồngcây lương thực; chăn nuôi, ngành nghề ở nông thôn chậm phát triển, nhiềulàng nghề truyền thống bị mai một Do sản xuất chỉ dựa vào ngành trồng trọt,

mà ngành này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên nên thu nhập và đờisống của người nông dân ở mức thấp, còn ở ngưỡng đói nghèo, không có điềukiện tích lũy vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,chuyển sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Một mặt,

do hạn chế về tư duy kinh tế của người tiểu nông, sản xuất nông nghiệp chỉ bóhẹp ở ngành sản xuất truyền thống là trồng trọt, ít quan tâm đến việc pháttriển ngành nghề, đa dạng hóa sản phẩm, sản xuất những loại cây trồng, vậtnuôi có giá trị kinh tế cao Mặt khác, đa phần kinh tế hộ do thiếu vốn đầu tưnên vẫn nằm trong cái vòng luẩn quẩn, không tìm được lối ra để tạo nhữngbước đột phá trong sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, nguồn vốn tín dụngngân hàng có vai trò rất lớn đối với phát triển kinh tế hộ, tạo điều kiện cho họ

Trang 29

mở rộng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, chuyển từ trồng cây lươngthực, nhất là cây lúa sang các loại cây công nghiệp ngắn ngày, các loại rauđậu đem lại thu nhập cao trên một đơn vị diện tích canh tác.Ngoài ra, cònphát triển các làng nghề, các hoạt động dịch vụ ở nông thôn, vốn còn mới mẻđối với người nông dân, từ đó giải quyết được việc làm cho người lao động,tăng thu nhập cho kinh tế hộ Cụ thể là:

- Tín dụng ngân hàng cung cấp vốn đến từng hộ sản xuất Việc cungcấp vốn trực tiếp đến từng hộ sản xuất sẽ giúp cho kinh tế hộ chủ động được

kế hoạch sản xuất, kinh doanh, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng về laođộng, đất đai, cơ sở vật chất, kỹ thuật trong nông nghiệp, nông thôn Đối vớinhững hộ nghèo, những hộ có nhu cầu vay vốn để mở rộng quy mô sản xuấtthì việc cung cấp vốn tín dụng cho từng hộ sản xuất có vai trò quan trọng đểgiúp họ tháo gỡ khó khăn, tăng thêm nguồn lực phát triển kinh tế hộ mà tựbản thân họ không thể giải quyết được Với việc tiếp cận vốn vay ngân hàng,người nông dân sẽ yên tâm sản xuất, không phải lo “Bán lúa non” như trướcđây mà họ đã từng đi vay của những người cho vay nặng lãi, thu nhiều lợinhuận từ tiền cho vay trên sự nghèo khổ của người nông dân

- Tín dụng ngân hàng giúp kinh tế hộ duy trì các ngành nghề truyềnthống, phát triển các ngành nghề mới, tạo việc làm cho lao động, tăng thunhập, cải thiện đời sống

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân thiếu vốnđầu tư nên ở nhiều vùng, nhiều địa phương, kinh tế hộ chủ yếu tập trung ởngành trồng trọt với suất đầu tư thấp, khó có điều kiện thâm canh để tăngnăng suất cây trồng và năng suất lao động nông nghiệp và họ cũng không cókhả năng phát triển ngành nghề, các hoạt động dịch vụ Điều đó không chỉlàm cho kinh tế nông thôn trở nên đơn điệu, phụ thuộc vào nhiều điều kiện tựnhiên, mà còn khó có khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nôngthôn, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động Trong điềukiện đó, sự hiện diện của tín dụng ngân hàng trở thành trợ thủ đắc lực giúp

Trang 30

kinh tế hộ phát triển sản xuất, không chỉ đầu tư vào ngành trồng trọt, chănnuôi, mà còn có cơ hội để khôi phục các làng nghề truyền thống và phát triểnmột số ngành nghề mới có khả năng thu hút lao động, khai thác và sử dụngnguyên vật liệu tại chỗ mà nhiều địa phương có lợi thế.

Việc khôi phục, duy trì các làng nghề truyền thống và phát triển cácngành nghề mới ở nông thôn sẽ tạo điều kiện cho kinh tế hộ khai thác tốt cáctiềm năng, lợi thế của từng địa phương, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, cungcấp nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội Đây cũng là cơ hội giải quyết việclàm cho người lao động, tạo sự phát triển ổn định, bền vững trong nôngnghiệp, nông thôn

- Thực hiện đi vay để cho vay, tín dụng ngân hàng là người bạn đồnghành với kinh tế hộ trong phát triển nông nghiệp, nông thôn

Với chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng ngân hàng, một mặt tiếp cậnnguồn vốn của Nhà nước để thực hiện cho vay ưu đãi đối với kinh tế hộ, mặtkhác mở rộng phạm vi huy động vốn đến các tổ chức, cá nhân, các chươngtrình, dự án để tăng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, huyđộng tiền tiết kiệm hoặc tiền nhàn rỗi trong dân cư, trong các doanh nghiệp đểđưa vào lưu thông nhằm đảm bảo cung cấp vốn kịp thời cho kinh tế hộ, nhất

là đối với những hộ có nhiều khó khăn về vốn đầu tư Như vậy, đi vay để chovay phát triển sản xuất, giúp cho hộ nông dân có điều kiện vươn lên trongcuộc sống, tín dụng ngân hàng thật sự là người bạn đồng hành với kinh tế hộtrong phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện có hiệu quả cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn

- Tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ góp phần giảm thiểu nạn đầu

cơ trục lợi của những kẻ cho vay nặng lãi

Do thiếu hiểu biết về thị trường tài chính, nhất là trong lĩnh vực vayvốn ngân hàng và do công tác tuyên truyền cho người dân về sử dụng vốn tíndụng ngân hàng còn hạn chế nên nhiều hộ dân không tiếp cận được vốn vay,trong khi họ cần vốn để sản xuất nên buộc phải đi vay của những người cho

Trang 31

vay nặng lãi với lãi suất cao gấp nhiều lần lãi vay tín dụng ngân hàng Thựctrạng này không giúp người nông dân giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, màcòn khó khăn hơn trong việc trả nợ vay, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống,thậm chí nhiều hộ phải “Bán lúa non” với giá rẻ để trả tiền vay với lãi suấtcao cho chủ nợ Do đó, sự tham gia của tín dụng ngân hàng vào thị trường tàichính ở nông thôn là công cụ quan trọng nhằm giúp kinh tế hộ vừa có vốn đểsản xuất một cách an toàn, vừa khắc phục được nạn cho vay nặng lãi ở nôngthôn đã khiến cho nhiều hộ nông dân khó khăn trong sản xuất và đời sống.

1.2.2 Thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

1.2.2.1 Tín dụng ngân hàng giúp hộ nghèo làm quen và từng bước thực hiện hạch toán kinh tế, sử dụng vốn có hiệu quả

Tín dụng ngân hàng, ngoài việc kinh doanh tiền tệ, còn hướng dẫn người

đi vay sử dụng đồng vốn như thế nào cho đúng mục đích và có hiệu quả Đối vớikinh tế hộ, khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng phải biết đầu tư vào đâu, trồngloại cây gì, nuôi con vật gì, phát triển ngành nghề nào là có lợi nhất để cho nhiềusản phẩm hàng hóa, có giá trị kinh tế cao Điều đó đòi hỏi người nông dân phảibiết suy nghĩ, tính toán cách làm ăn theo phương thức mới, phương thức kinhdoanh, nghĩa là không phải sản xuất bằng bất cứ giá nào theo kiểu tự cấp tự túc,lấy công làm lãi như trước, mà phải tính toán đầu vào, đầu ra sao cho có lợi trêntừng đồng vốn đầu tư, từng đơn vị diện tích canh tác, từng loại cây trồng, vậtnuôi… Từ đó có sự đối chiếu, so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả sản xuất thuđược để xác định kết quả và hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong một thời giannhất định (một vụ mùa, một năm sản xuất) Chính việc tính toán đầy đủ chi phíđầu vào, đầu ra trong sản xuất sẽ giúp người nông dân dần thích nghi với nềnkinh tế thị trường, từng bước thực hiện hạch toán kinh tế, qua đó nâng cao hiệuquả sử dụng vốn vay vào sản xuất, kinh doanh

Trang 32

1.2.2.2 Tín dụng ngân hàng giúp kinh tế hộ tiếp cận

và mở rộng sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn

Việc đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất đối với kinh tế hộ sẽ tạo điều kiệnchuyển sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Người nông dânkhông còn sản xuất theo tập quán cũ, lạc hậu mà có sự chuyển hướng trongtrồng trọt, chăn nuôi, phát triển ngành nghề nhằm sử dụng các tiềm năng, điềukiện hiện có mà lâu nay họ chưa khai thác được, như lao động, đất đai, kinhnghiệm sản xuất Có không ít hộ nông dân vì thiếu vốn đầu tư nên chỉ quanhquẩn với những cây trồng, vật nuôi truyền thống và một phương thức sản xuấtlạc hậu theo kiểu quảng canh, ít quan tâm đến các biện pháp kỹ thuật nênnăng suất cây trồng, vật nuôi rất thấp; sản phẩm làm ra khối lượng khôngnhiều chỉ đủ cung cấp cho gia đình, không có sản phẩm thặng dư nên khôngthoát ra được tình trạng đói nghèo Vì vậy, tiếp cận vốn tín dụng, một mặt,kinh tế hộ có vốn đầu tư mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu, cả vềquy mô và cơ cấu sản xuất Mặt khác, họ có điều kiện tiếp thu những kiếnthức mới, những tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh nhằmđem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao Điều đó cho thấy, tín dụngngân hàng từ chỗ đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ đã có tác động tích cựcđến sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, kinh tế hộ không chỉsản xuất bó hẹp trong ngành trồng trọt, chăn nuôi theo kiểu tự túc tự cấp mà

có sự thay đổi về quy mô và cơ cấu sản xuất cả trong trồng trọt, chăn nuôi,ngành nghề Đây là bước quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn theo hướng tiến bộ, tạo điều kiện giải quyết việc làm cholao động nông thôn, chuyển lao động trồng trọt sang các ngành nghề khác,giảm áp lực lao động nông thôn đổ về thành thị để tìm kiếm việc làm, ảnhhưởng đến công tác quản lý xã hội ở các đô thị

Trang 33

1.2.2.3 Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhànước ta chủ trương thực hiện một số chương trình phát triển kinh tế - xã hội ởnông thôn, miền núi như chương trình 327, 135, 134, 120 nhằm mục đíchphát triển kết cấu hạ tầng, xóa nhà tạm, xóa đói, giảm nghèo, tạo điều kiệncho người dân nông thôn, miền núi, đặc biệt là ở những huyện, những xã cònkhó khăn có điều kiện vươn lên trong cuộc sống Những chương trình, dự án

đó được hưởng các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, của các tổ chức trong vàngoài nước, trong đó phải kể đến vai trò của tín dụng ngân hàng đã góp phầncung cấp các khoản tín dụng để thực hiện các chương trình, dự án, nhất lànhững dự án về phát triển kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn nhưgiao thông, thủy lợi và trên thực tế các chương trình, dự án nêu trên đã đem lạihiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho người dân nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt qua từng năm, số hộkhá, giàu ngày càng tăng, khoảng cách giàu nghèo ở nông thôn được rút ngắn

1.2.3 Tín dụng ngân hàng góp phần thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.2.3.1 Tín dụng ngân hàng góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội ở nông thôn, tạo điều kiện cho kinh tế hộ tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh

Xây dựng kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn là một trongnhững tiền đề quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuynhiên, đây cũng là bài toán khó đối với nông nghiệp, nông thôn hiện nay do

sự hạn chế của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước Song, không vì thế

mà để cho kết cấu hạ tầng nông thôn trong tình trạng lạc hậu sẽ ảnh hưởngđến việc phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa

Trang 34

Xuất phát từ tình hình đó, ngày 31/3/1999 Thủ tướng Chính phủ đã banhành Quyết định số 67/QĐ-TTg về một số chính sách tín dụng ngân hàngphục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Quyết định này đã tạo cơ sở pháp

lý cho ngân hàng đầu tư vào lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là điện,đường, nước sạch, nhà ở nhằm tạo điều kiện phát triển nông nghiệp, nôngthôn một cách bền vững Cùng với nguồn vốn ngân sách Nhà nước và cácnguồn vốn xã hội thì vốn tín dụng ngân hàng là nguồn vốn bổ sung cần thiết

để phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn Giải quyết được vấn đề kết cấu hạtầng ở nông thôn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế nông thôn nói chung,kinh tế hộ nói riêng có cơ hội tiếp thu những tiến bộ khoa học, công nghệ vàosản xuất, vừa giải phóng sức sản xuất, vừa nâng cao năng suất, chất lượng vàhiệu quả trong sản xuất, kinh doanh

1.2.3.2 Tín dụng ngân hàng góp phần phát triển kinh

tế hộ, kinh tế trang trại, khai thác có hiệu quả lao động, đất đai trong nông nghiệp, nông thôn

Tình trạng thiếu vốn đầu tư của kinh tế hộ hiện nay mang tính phổ biến,một mặt, do biến động của giá cả vật tư, nguyên liệu, mặt khác, do có sự thayđổi về quy mô sản xuất cũng như cơ cấu ngành nghề ở nông thôn nên rất cầnđến sự giúp đỡ của ngân hàng Cũng vì thiếu vốn nên mức đầu tư thấp và chỉ

bó hẹp trong ngành trồng trọt, không có điều kiện đầu tư chiều sâu, mở rộngquy mô sản xuất, phát triển ngành nghề để tăng năng suất lao động, đa dạnghóa sản phẩm, tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa Do đó, việc tiếp cận vốntín dụng ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho kinh tế hộ mở rộng quy mô sản xuất,nâng cao mức đầu tư, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, thayđổi tập quán sản xuất, thay đổi cách nghĩ, cách làm của người nông dân theohướng tiến bộ, văn minh Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng đối với phát triểnkinh tế hộ, giúp họ vượt qua những khó khăn trong sản xuất mà tự họ khôngthể giải quyết được Chính sự thay đổi về tâm lý và tập quán sản xuất củangười nông dân đã tác động tích cực đến việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ

Trang 35

cấu đầu tư, tạo điều kiện cho kinh tế hộ khai thác có hiệu quả lao động, đấtđai và các nguồn lực khác trong nông nghiệp, nông thôn, tăng thu nhập, cảithiện đời sống cho người lao động.

1.2.3.3 Tín dụng ngân hàng là công cụ đắc lực để xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội

Suy cho cùng, sản xuất có ý nghĩa quyết định đến mọi mặt của đời sống

xã hội Mà nói đến sản xuất, một trong những nguồn lực quan trọng là vốnđầu tư, trong đó phải kể đến nguồn vốn tín dụng ngân hàng Sự hỗ trợ vốn tíndụng đối với kinh tế hộ đã góp phần giải quyết được cái gốc của vấn đề đóinghèo ở nông thôn là đẩy mạnh sản xuất, phát triển nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đờisống trong các tầng lớp dân cư, giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo ở nôngthôn Một khi sản xuất phát triển, thu nhập của kinh tế hộ tăng lên, kinh tếnông thôn có nhiều khởi sắc sẽ đem lại sự phồn vinh cho đất nước, làm thayđổi cả đời sống vật chất tinh thần và cả địa vị xã hội của những hộ nghèo,những người dễ bị tổn thương trong cuộc sống, trên cơ sở đó thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội, tạo cơ hội cho người nghèo, hộ nghèo được hưởng đầy

đủ các dịch vụ và phúc lợi xã hội như mọi thành viên khác trong xã hội

1.3 MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC, CƠ CHẾ QUẢN LÝ, XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ

Trang 36

kinh tế hộ cũng vậy, trước hết phải đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngânhàng và hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ Điều đó có nghĩa là,tín dụng ngân hàng vừa thực hiện tốt nghiệp vụ cho vay đối với kinh tế hộ,tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển, vừa đảm bảo kinh doanh cóhiệu quả, bảo toàn được vốn, giảm thiểu rủi ro trong cho vay

Đối với kinh tế hộ, mục đích đi vay là để phát triển sản xuất, sử dụngtốt các nguồn lực của gia đình và của xã hội nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hànghóa, gia tăng giá trị sản xuất, làm cho đồng vốn sinh sôi nảy nở, tăng thunhập, xóa đói, giảm nghèo, có điều kiện trả nợ vay ngân hàng và tích lũy đểđầu tư mở rộng sản xuất Đây cũng là mục tiêu, vừa là mong muốn của kinh

tế hộ để họ có thể cải thiện cuộc sống, không chỉ thoát nghèo, mà còn phấnđấu vươn lên trở thành những hộ khá và giàu, có của ăn, của để

1.3.1.2 Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế hộ

Cho vay tín dụng đối với kinh tế hộ ngoài mục tiêu đảm bảo hoạt độngkinh doanh của ngân hàng và hoạt động sản xuất, kinh doanh của kinh tế hộcòn nhằm thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối vớikinh tế hộ là làm cho đơn vị kinh tế này thực sự trở thành động lực phát triểncủa nông nghiệp và kinh tế nông thôn Bởi, chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước ta về phát triển nông nghiệp, nông thôn là đảm bảo an ninhlương thực quốc gia, đưa nền nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuấthàng hóa, làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng tiến bộ, văn minh, ngườinông dân có cuộc sống ngày càng được cải thiện, nâng cao rút ngắn khoảngcách về mức sống giữa nông thôn và thành thị Do đó, tín dụng ngân hàng đốivới kinh tế hộ cũng phải góp phần thực hiện tốt mục tiêu trên Có như vậy,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mới trở thành hiện thực trongcuộc sống của người nông dân, mới phát triển nông nghiệp, nông thôn theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.3.2 Nguyên tắc

Trang 37

1.3.2.1 Tín dụng đối với kinh tế hộ phải tuân thủ các quy định của Nhà nước và của ngành ngân hàng

Các quy định của Nhà nước và của ngành ngân hàng trong hoạt độngtín dụng đối với kinh tế hộ là những khuôn khổ pháp lý, tạo hành lang an toàncho việc thực hiện các nghiệp vụ kinh tế, như thời hạn cho vay, lãi suất tiềngửi, tiền cho vay đối với từng món vay kinh tế hộ; việc xử lý rủi ro, giảm nợ,khoanh nợ, xóa nợ đối với một số trường hợp đặc biệt Đây là những vấn

đề có tính nguyên tắc mà trong hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ đòi hỏicác bên có liên quan (ngân hàng, hộ gia đình hoặc các tổ chức, cá nhân bảolãnh tín dụng) phải thực hiện đầy đủ, chặt chẽ và nghiêm túc Không vì một lý

do khách quan hay chủ quan nào đó mà vi phạm các quy định đã ban hành sẽảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và hoạt động sản xuấtkinh doanh của kinh tế hộ Trường hợp xảy ra những rủi ro trong sản xuất dothiên tai gây ra như hạn hán, bão lụt, dịch bệnh mùa màng bị thất thu, đờisống nông dân gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, khó có khảnăng trả nợ, dẫn đến nợ xấu, nợ khó đòi thì các bên có liên quan lập báo cáogiải trình cụ thể, kèm theo xác nhận của tổ chức, chính quyền địa phương, trên

cơ sở đó đề nghị ngân hàng xem xét cho giảm nợ, khoanh nợ, thậm chí có thểxóa nợ đối với những hộ đặc biệt khó khăn, mất khả năng trả nợ ngân hàng

1.3.2.2 Tín dụng đối với kinh tế hộ phải bảo toàn và phát triển nguồn vốn

Đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động tín dụng, nếu không thì ngânhàng không thể tồn tại và phát triển được Thực chất của hoạt động tín dụngđối với kinh tế hộ là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ, là đi vay để cho vaytheo nguyên tắc đảm bảo thu hồi đủ số tiền gốc bỏ ra cộng với một khoản lãisuất cho vay theo một tỷ lệ nhất định nhằm tạo điều kiện cho kinh tế hộ pháttriển Vì vậy, tín dụng đối với kinh tế hộ phải tuân thủ nguyên tắc bảo toàn vàphát triển nguồn vốn để duy trì hoạt động kinh doanh và có khả năng cho vaynhững món lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn vay của kinh tế hộ Điều đó chothấy, bảo toàn và phát triển nguồn vốn không chỉ nhằm đảm bảo hoạt động

Trang 38

kinh doanh của ngân hàng diễn ra thường xuyên, liên tục, mà còn thúc đẩykinh tế hộ phát triển Nhờ vốn vay tín dụng ngân hàng mà đa số hộ nông dân

mở rộng được quy mô sản xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, xóa đói,giảm nghèo, vươn lên khá giả

1.3.3 Cơ chế hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ

1.3.3.1 Vừa chặt chẽ, vừa thông thoáng nhằm tạo thuận lợi cho kinh

tế hộ tiếp cận được vốn tín dụng

Cơ chế quản lý hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ có vai trò quantrọng trong quá trình sản xuất, kinh doanh của cả ngân hàng và kinh tế hộ.Chính vì vậy mà trong cơ chế thị trường hiện nay, Nhà nước và ngành ngânhàng luôn quan tâm đến việc đổi mới cơ chế quản lý để tạo môi trường kinhdoanh thuận lợi cho các thành phần kinh tế, nhất là đối với kinh tế hộ Một cơchế quản lý phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động tín dụng phát triển,ngân hàng huy động được nhiều nguồn vốn và cho vay đến nhiều hộ nôngdân Ngược lại cơ chế không phù hợp sẽ gây khó khăn cho việc huy động vàcho vay vốn của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh củangân hàng và đến sản xuất của kinh tế hộ, cho nên để đảm bảo tốt quan hệgiữa tín dụng ngân hàng và kinh tế hộ thì cơ chế hoạt động tín dụng phải vừachặt chẽ, vừa thông thoáng nhằm tạo thuận lợi cho kinh tế hộ tiếp cận nguồnvốn tín dụng

Một mặt, cơ chế hoạt động tín dụng phải được xây dựng trên nhữngquan điểm và nguyên tắc kinh doanh của ngân hàng trong cơ chế thị trường.Không vì những khó khăn trước mắt hay vì một lý do nào đó mà hạn chế điềukiện hoạt động hoặc bỏ qua những quy định có tính bắt buộc trong kinh doanhcủa ngân hàng, mà tất cả những thay đổi trong cơ chế quản lý phải bám sát mụctiêu hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ Mặt khác, cơ chế hoạt động tín dụngcũng phải thông thoáng, không làm bó tay ngân hàng và cũng không gây khókhăn cho kinh tế hộ Phải tạo điều kiện cho ngân hàng được quyền tự chủ, tự

Trang 39

chịu trách nhiệm trong kinh doanh, trong việc giải quyết các quan hệ giao dịchvới kinh tế hộ, với các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế.

1.3.3.2 Phân cấp mạnh cho các tổ chức tín dụng

Việc phân cấp mạnh cho các tổ chức tín dụng không ngoài mục đíchphát huy quyền tự chủ của các tổ chức này trong kinh doanh Theo đó, các tổchức tín dụng có thể được giao nhiều quyền hạn hơn trong việc quyết địnhnhững nghiệp vụ kinh tế có liên quan đến việc huy động và cho vay vốn, đếnviệc xử lý một số vốn vay đối với kinh tế hộ mà không phải chờ xin ý kiến chỉđạo hoặc phê duyệt của chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn Sự phân cấp đó sẽ tạo nhiều thuận lợi cho các tổ chức tín dụng trongkinh doanh, nâng cao được tinh thần trách nhiệm, dám làm, dám chịu tráchnhiệm, đồng thời phát huy được tính sáng tạo trong chuyên môn, nâng caotính chuyên nghiệp trong công vụ, nhất là trong việc mở rộng đối tượng chovay đối với kinh tế hộ

1.3.4 Xu hướng phát triển của tín dụng đối với kinh tế hộ

1.3.4.1 Vốn huy động ngày càng đa dạng, phong phú

Hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ chủ yếu diễn ra trên địa bàn nôngthôn Đây là địa bàn rộng lớn có số dân và số lao động chiếm tỷ lệ cao trong

cả nước nên một khi nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển, đời sốngngười nông dân được cải thiện thì khả năng tích lũy vốn của họ cũng tăng lên

Do đó, một bộ phận kinh tế hộ ngoài việc dùng một phần vốn đầu tư cho sảnxuất, kinh doanh, họ còn có một khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụngđến Đây là nguồn vốn tiềm tàng ở nông thôn mà các tổ chức tín dụng có thểhuy động được để phát triển nguồn vốn của mình Như vậy, tín dụng đối vớikinh tế hộ không chỉ là cho vay, mà còn huy động động vốn của họ ngay tạiđịa bàn để cho vay, mở ra khả năng kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp

và phát triển nông thôn trên từng địa bàn Từ đó cho thấy, việc huy động vốntín dụng ngày càng đa dạng, phong phú với nhiều đối tượng tham gia Nhờ

Trang 40

đó, ngân hàng có thể thực hiện tốt quá trình đi vay đối với kinh tế hộ ngaytrên địa bàn nông thôn.

1.3.4.2 Đối tượng, phạm vi hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ ngày càng được mở rộng

Do nhu cầu phát triển của sản xuất nông nghiệp nói chung, kinh tế hộnói riêng nên đối tượng, phạm vi hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ cũngngày càng được mở rộng Ngân hàng không chỉ cho vay đối với những hộthuần nông với mục đích xóa đói, giảm nghèo, mà còn mở rộng đối tượng đốivới những hộ ngành nghề, những hộ trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, những

hộ có nhu cầu vay vốn lớn để mở rộng sản xuất, phát triển ngành nghề, tạocông ăn việc làm cho lao động tại chỗ Đặc biệt, để tăng năng suất cây trồng,vật nuôi, tăng năng suất lao động, tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa, nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường, nhiều hộ giađình có nhu cầu vay vốn để đầu tư mua sắm phương tiện, máy móc, công cụsản xuất, dẫn đến nhu cầu vay vốn ngày càng tăng, làm cho đối tượng vàphạm vi hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ ngày càng được mở rộng Vàđây cũng là xu hướng của nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở nước ta hiệnnay Vì vậy, ở nông thôn ngày càng xuất hiện nhiều hộ gia đình kinh doanhgiỏi, có quy mô lớn trong trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề, có thu nhập lênđến hàng trăm triệu đồng mỗi năm Khác với kinh tế tự cấp tự túc trước đây,sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào cây lúa nên nhu cầu vay vốnkhông lớn và thu nhập của kinh tế hộ cũng không cao Ngày nay, nền nôngnghiệp hàng hóa và cơ chế thị trường đòi hỏi kinh tế hộ phải chuyển đổi cơcấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nên nhu cầu sử dụng vốnđối với kinh tế hộ ngày càng tăng, do đó, họ cần sự hỗ trợ vốn của ngân hàng

để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện

và nâng cao cuộc sống

Ngày đăng: 20/04/2021, 07:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PTS.Nguyễn Văn Bích - KS. Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PTS.Nguyễn Văn Bích - KS. Chu Tiến Quang (1996), "Chính sách kinh tếvà vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn ViệtNam
Tác giả: PTS.Nguyễn Văn Bích - KS. Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
2. Chính phủ (2009), Nghị quyết 48/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2009 về cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản và thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2009)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
3. TS. Phạm Hồng Cờ (1996), Đổi mới hoạt động quản lý tín dụng Ngân hàng cấp cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, Luận án PTS khoa học kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Phạm Hồng Cờ (1996), "Đổi mới hoạt động quản lý tín dụng Ngân hàngcấp cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn
Tác giả: TS. Phạm Hồng Cờ
Năm: 1996
4. PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc (2003), Ngân nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc (2003), "Ngân nghiệp nông thôn Việt Nam thờikỳ đổi mới
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
5. TS Hồ Diệu (2000), Tín dụng Ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Hồ Diệu (2000), "Tín dụng Ngân hàng
Tác giả: TS Hồ Diệu
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
6. Đảng bộ huyện Thăng Bình (2010), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thăng Bình tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ huyện Thăng Bình (2010)
Tác giả: Đảng bộ huyện Thăng Bình
Năm: 2010
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. PGS, TS Phạm Hảo (2010), Sự cần thiết khách quan phải sử dụng có hiệu quả vốn vay tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS, TS Phạm Hảo (2010), "Sự cần thiết khách quan phải sử dụng cóhiệu quả vốn vay tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo
Tác giả: PGS, TS Phạm Hảo
Năm: 2010
11. PTS. Cao Sỹ Kiêm (1995), Đổi mới chính sách tiền tệ - tín dụng ngân hàng trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PTS. Cao Sỹ Kiêm (1995), "Đổi mới chính sách tiền tệ - tín dụng ngânhàng trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta
Tác giả: PTS. Cao Sỹ Kiêm
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1995
12. Cao Sỹ Kiêm (1993), "Tín dụng ngân hàng trong cơ chế thị trường", Tạp chí Cộng sản, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng ngân hàng trong cơ chế thị trường
Tác giả: Cao Sỹ Kiêm
Năm: 1993
13. Phạm Thị Khanh (2000), "Tăng cường đầu tư vốn tín dụng trung và dài hạn - giải pháp quan trọng thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường đầu tư vốn tín dụng trung và dàihạn - giải pháp quan trọng thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn pháttriển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Thị Khanh
Năm: 2000
14. Th.S Võ Văn Lâm (2000), “Những giải pháp quản lý cho vay vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th.S Võ Văn Lâm (2000), “Những giải pháp quản lý cho vay vốn để pháttriển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”,"Tạp chí Sinh hoạt lý luận
Tác giả: Th.S Võ Văn Lâm
Năm: 2000
15. Th.S Võ Văn Lâm (2001), "Một số giải pháp về tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân ở nước ta giai đoạn 2001 - 2010", Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp về tín dụng Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân ở nước ta giai đoạn 2001 -2010
Tác giả: Th.S Võ Văn Lâm
Năm: 2001
16. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình năm (2006, 2007, 2008, 2009, 1010), Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh từ năm 2005 đến 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình năm(2006, 2007, 2008, 2009, 1010)
17. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2001), Cẩm nang tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2001), "Cẩmnang tín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Năm: 2001
18. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2004), Sổ tay tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2004), "Sổ taytín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Năm: 2004
19. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2006), Báo cáo tổng kết 15 năm cho vay kinh tế hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2006)
Tác giả: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Năm: 2006
20. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2010), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định 67/1999/QĐ-TTg và các giải pháp triển khai Nghị định số 41/2010/NĐ-CP “về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2010), "Báocáo tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định 67/1999/QĐ-TTg và cácgiải pháp triển khai Nghị định số 41/2010/NĐ-CP “về chính sáchtín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w