- Áp dụng đúng đắn các phương pháp hạch toán chi tiết, tổng hợp NVL, tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp để ghi chép, ph
Trang 1PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất có vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia Các công trình xây dựng cơ bản thường có thời gian thi công rất dài Trong thời gian sản xuất thi công xây dựng chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực của xã hội Vì vậy, khi lập kế hoạch xây dựng cơ bản bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều phải cân nhắc, thận trọng, nêu rõ các yêu cầu về vật tư, tiền vốn, nhân công Việc quản lý theo dõi quá trình sản xuất thi công phải chặt chẽ, đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, bảo đảm chất lượng thi công công trình
Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam không ngừng đổi mới để hoà nhập với nền kinh tế thế giới như hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt của thị trường, các doanh nghiệp mà đặc biệt là các doanh nghiệp xây dựng cơ bản phải tìm ra con đường đúng đắn và phương án sản xuất kinh doanh tối ưu
để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường, dành lợi nhuận tối đa, cơ chế hạch toán đòi hỏi các doanh nghiệp phải trang trải được các chi phí bỏ ra và có lãi Mặt khác, các công trình xây dựng cơ bản hiện nay đang tổ chức theo phương thức đấu thầu nên giá trị dự toán phải được tính toán một cách chính xác và sát sao
Do vậy, các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất phải tính toán được các chi phí sản xuất bỏ ra một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời Hạch toán chính xác chi phí
là cơ sở để tính đúng, tính đủ giá thành Từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm mọi cách hạ thấp chi phí sản xuất tới mức tối đa, từ đó hạ thấp giá thành sản phẩm – biện pháp tốt nhất để tăng lợi nhuận
Trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất, khoản mục chi phí nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí của doanh nghiệp, chỉ cần một biến động nhỏ về chi phí nguyên vật liệu cũng làm ảnh hưởng đáng kể đến giá thành sản phẩm, đến thu nhập của doanh nghiệp Vì vậy, bên cạnh vấn đề trọng tâm là kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thì tổ chức tốt công tác kế toán nguyên vật liệu cũng là một vấn đề đáng được các doanh nghiệp quan tâm trong điều kiện hiện nay
tế Hu
ế
Trang 2Từ thực tiễn đó, nhận thức được tầm quan trọng của việc hạch toán nguyên vật
liệu, qua thời gian thực tập tại Xí nghiệp xây dựng 78.7 em đã lựa chọn "Thực trạng
công tác k ế toán Nguyên vật liệu tại Xí nghiệp xây dựng 78.7 – Công ty cổ phần xây dựng 78 " là đề tài luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài này bao gồm:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại các doanh nghiệp xây lắp
- Trên cơ sở lý luận chung, tìm hiểu tình tình Xí nghiệp và thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại Xí nghiệp xây dựng 78.7
- Qua quá trình nghiên cứu, đánh giá thực trạng tại doanh nghiệp, tìm ra những mặt mạnh, tồn tại để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nguyên vật liệu tại Xí nghiệp 78.7
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: đề tài được thực hiện tại Xí nghiệp xây dựng 78.7
- Phạm vi về nội dung: công tác kế toán nguyên vật liệu tại doanh nghiệp xây lắp, công trình: UBND Xã Cam Lộ
- Phạm vi về thời gian: Xí nghiệp xây dựng 78.7 tuy không có quy mô hoạt động lớn, nhưng lượng nguyên vật liệu nhập – xuất ở Xí nghiệp cũng không phải là nhỏ Bên cạnh đó thời gian thực tập tại Xí nghiệp có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ được thực hiện trong quý 3 năm 2013, đặc biệt là vào tháng 8 năm 2013
Đối tượng nghiên cứu: Là hệ thống các sổ sách, chứng từ liên quan đến phần hành kế toán nguyên vật liệu của Xí nghiệp thông qua các nguồn số liệu từ Báo cáo tài chính và một số thông tin liên quan khác từ Xí nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
- Tham khảo tài liệu: Tham khảo tài liệu trên thư viện trường, các quy định của pháp luật, tham khảo các bài báo, bài viết liên quan trên các website nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp
tế Hu
ế
Trang 3- Quan sát và phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành quan sát và trao đổi trực tiếp với nhân viên kế toán tại Xí nghiệp xây dựng 78.7 nhằm tìm hiểu các thông tin liên quan đến đề tài, đặc biệt là quy trình công tác kế toán nguyên vật liệu tại Xí nghiệp
- Phương pháp thu thập xử lý số liệu: Thu thập xử lý số liệu trên cơ sở số liệu thô
để lập bảng, phân tích số liệu làm cơ sở hoàn thiện bài luận
- Phương pháp tổng hợp: Là phương pháp tổng hợp lại những thông tin đã thu được sao cho phù hợp với đề tài nghiên cứu Từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác kế toán nguyên vật liệu tại Xí nghiệp
5 Nội dung kết cấu đề tài
Bài luận văn gồm có 3 phần:
Phần I – Đặt vấn đề
Phần II - Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 1 Cơ sở lý luận về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp Chương 2 Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại Xí nghiệp xây dựng 78.7 – Công ty cổ phần xây dựng 78
Chương 3 Một số ý kiến đóng góp nhằm cải thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Xí nghiệp xây dựng 78.7
Trang 4PHẦN II – NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1 Những vấn đề lý luận về trong doanh nghiệp xây lắp
1.1.1 Khái niệm về sản xuất xây lắp và doanh nghiệp xây lắp
- Sản xuất xây lắp: là hoạt động xây dựng mới, mở rộng, khôi phục, cải tạo lại,
hay hiện đại hóa các công trình hiện có thuộc mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân (như công trình giao thông thủy lợi, các khu công nghiệp, các công trình quốc phòng, các công trình dân dụng khác) Đây là hoạt động nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho mọi nghành trong nền kinh tế
- Doanh nghiệp xây lắp: là đơn vị kinh tế cơ sở, là nơi trực tiếp sản xuất kinh
doanh, gồm một tập thể lao động nhất định có nhiệm vụ sử dụng các tư liệu lao động
và đối tượng lao động để sản xuất ra các sản phẩm xây lắp và tạo nguồn tích lũy cho Nhà nước
(Nguồn: Giáo trình Kế toán tài chính (Phần 3-4) – NXB Giao thông vận tải 2008)
1.1.2 Khá i niệm về nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp
Nguyên liệu, vật liệu là những đối tượng lao động do doanh nghiệp xây lắp mua ngoài hay tự sản xuất hoặc nhận của bên giao thầu công trình (Bên A) dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh xây lắp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, dịch vụ
(Nguồn: Kế toán doanh nghiệp xây lắp và đơn vị chủ đầu tư – PGS.TS Võ Văn Nhị (chủ biên) – NXB Tài chính)
1.1.3 Đặc điểm của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp
NVL là đối tượng lao động, một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất,
là cơ sở vật chất để hình thành nên sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp là các công trình là từng công trình, hạng mục công trình, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật, kết cấu, hình thức thích hợp, thời gian thi công dài, giá trị công trình lớn Do vậy, NVL dùng trong doanh nghiệp xây lắp rất đa dạng, phong phú về chủng loại, và có yêu cầu cao trong việc tổ chức bến bãi, kho tàng để tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, giúp cho công tác quản lý và tính giá thành chính xác
tế Hu
ế
Trang 5Về mặt hiện vật: NVL chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, không
giữ nguyên được hình thái ban đầu mà biến đổi cấu thành nên thực thể sản phẩm mới
Về mặt giá trị: giá trị NVL được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản
phẩm mới tạo ra hoặc vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Do đặc điểm này mà NVL được xếp vào loại tài sản lưu động trong doanh nghiệp
NVL là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và được thể hiện dưới dạng vật hóa như: sắt, thép… Bất kỳ một NVL nào cũng là đối tượng lao động nhưng không phải bất cứ một đối tượng lao động nào cũng là NVL mà chỉ trong một điều kiện nhất định, khi lao động của con người có thể tác động vào, biến đổi chúng để phục vụ cho sản xuất hay tái sản xuất sản phẩm mới gọi là NVL
Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, NVL tham gia vào ngay từ giai đoạn đầu của quá trình sản xuất, NVL được dùng toàn bộ và thường phân bổ một lần vào giá trị sản phẩm mới Nói cách khác, giá trị của NVL được dịch chuyển toàn
bộ một lần vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mới làm ra NVL khi được sử dụng sẽ không giữ nguyên hình thái ban đầu mà nó sẽ bị biến đổi hoàn toàn để cấu tạo nên hình thái vật chất mới của sản phẩm làm ra
1.1.4 Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
Trong ngành XDCB, giá trị NVL thường chiếm từ 60 – 70% giá trị công trình
Số lượng và chất lượng công trình đều bị quyết định bởi số lượng và chất lượng NVL tạo ra nó NVL có chất lượng cao, đúng quy cách, chủng loại phù hợp với công trình thì mới tạo ra những công trình có chất lượng cao Chi phí NVL vì vậy thường chiếm
tỷ trọng lớn trong giá thành công trình nên việc tiết kiệm, giảm bớt chi phí tiêu hao NVL nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình là yêu cầu cấp thiết của doanh nghiệp
Vì vậy việc quản lý NVL trong các doanh nghiệp lại càng quan trọng hơn, quản lý càng khoa học, cơ hội đạt hiệu quả kinh tế càng cao Với vai trò như vậy, nên yêu cầu quản lý NVL trong tất cả các khâu lại càng phải chặt chẽ
- Khâu thu mua: Mỗi loại vật liệu có tính chất lý hóa khác nhau, công dụng khác nhau, mức độ và tỷ lệ tiêu hao khác nhau Do đó, thu mua phải làm sao cho đủ số
tế Hu
ế
Trang 6lượng, đúng chủng loại, phẩm chất tốt, giá cả hợp lý, chỉ cho phép hao hụt trong định mức Đồng thời, các doanh nghiệp cần phải có kế hoạch sao có thể cung ứng đầy đủ nhằm đáp ứng kịp thời tiến độ thi công Ngoài ra phải đặc biệt quan tâm đến chi phí thu mua nhằm hạ thấp chi phí vật liệu một cách tối đa
- Khâu bảo quản: Việc bảo quản vật liệu tại kho bãi cần đảm bảo theo đúng chế
độ quy định phù hợp với tính chất lý hóa của mỗi loại vật liệu Tức là tổ chức sắp xếp những loại vật liệu có cùng tính chất lý hóa giống nhau ra một nơi riêng, tránh để lẫn lộn với nhau làm ảnh hưởng đến chất lượng của nhau Ngoài ra, cần phải có những hệ thống kho tàng, bến bãi đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, thủ kho phải có đủ phẩm chất đạo đức
và trình độ chuyên môn để quản lý NVL tồn kho Vì vậy cần tránh việc bố trí kiêm nghiệm chức năng thủ kho với tiếp liệu và kế toán vật tư để công tác quản lý NVL được rõ ràng, minh bạch
- Khâu dự trữ: Đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ tối thiểu, tối
đa, tránh tình trạng dự trữ quá ít hoặc quá nhiều một loại NVL nào đó gây ra tình trạng
ứ đọng hoặc khan hiếm NVL ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển vốn và tiến độ thi công các công trình
Định mức tồn kho còn là cơ sở để xác định kế hoạch thu mua NVL và kế hoặc tài chính của doanh nghiệp
- Khâu sử dụng: Cần sử dụng vật liệu hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức và dự
toán chi Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, tăng thu nhập, tăng tích lũy cho doanh nghiệp tuy nhiên vẫn đảm bảo được chất lượng công trình
Như vậy, quản lý NVL là một trong những nội dung quan trọng và cần thiết của công tác quản lý nói chung và quản lý sản xuất, quản lý giá thành sản phẩm nói riêng
1.1.5 Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp
Quản lý NVL và tổ chức hạch toán NVL là hai công việc quan trọng đi liền với nhau Hạch toán kế toán NVL chính xác, kịp thời và đầy đủ giúp Ban lãnh đạo nắm được chính xác tình hình thu mua, dự trữ và sử dụng NVL, so sánh thực tế với kế hoạch dự trữ Từ đó có biện pháp quản lý thích hợp, thiết thực giúp việc hạch toán giá
tế Hu
ế
Trang 7thành được chính xác Hơn nữa, giảm mức tiêu hao NVL trong một mức độ nhất định
có thể cho phép được còn là cơ sở để tăng thêm sản phảm mới cho xã hội, tiết kiệm được nguồn tài nguyên không phải là vô tận
Để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý NVL, kế toán NVL cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời, trung thực về tình hình nhập xuất và tồn kho NVL cả về mặt giá trị lẫn hiện vật Tính ra giá thành thực tế của NVL
đã thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua về mọi mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp đúng, đầy đủ kịp thời vật liệu cho quá trình kinh doanh
- Áp dụng đúng đắn các phương pháp hạch toán chi tiết, tổng hợp NVL, tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp để ghi chép, phân loại, tổng hợp, theo dõi chi tiết tình hình luân chuyển NVL trong quá trình xây lắp, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp và tính giá thành từng công trình, hạng mục công trình, đồng thời còn là để phục vụ yêu cầu lập Báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp
- Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL nhằm phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý những vật liệu thừa, thiếu, kém hoặc mất phẩm chất Tính toán, xác định tiêu hao trong quá trình thi công, xây dựng, phân bổ chính xác NVL đã tiêu hao cho từng công trình, hạng mục công trình
- Kế toán phải cùng với các bộ phận khác trong doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm kê định kỳ NVL tồn kho nhằm đảm bảo sự phù hợp với số liệu trên sổ sách kế toán với số vật tư thực tế trong kho
1.2 Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu
1.2.1 Phân loại nguyên vật liệu
NVL sử dụng trong các doanh nghiệp có nhiều loại, có vai trò công dụng khác nhau Để có thể quản lý một cách chặt chẽ và hạch toán chi phí từng loại vật liệu phục
vụ yêu cầu quản lý doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại chúng theo những tiêu thức cố định Có rất nhiều tiêu thức để phân loại NVL Tuy nhiên, trong thực tế công
tế Hu
ế
Trang 8tác quản lý và hạch toán ở các doanh nghiệp xây lắp, tiêu thức dùng để phân loại NVL thông dụng nhất là căn cứ vào nội dung kinh tế và công dụng của NVL trong quá trình sản xuất kinh doanh Theo tiêu thức này NVL được phân ra các loại sau đây:
- Nguyên vật liệu, vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu, vật liệu khi tham gia
vào quá trình sản xuất, nó cấu thành thực thể vật chất của sản phẩm xây lắp, sản phẩm công nghiệp dịch vụ Vì vậy, khái niệm NVL, vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp sản xuất cụ thể NVL, vật liệu chính cũng bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không
cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà có thể kết hợp với nguyên liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kỹ thuật, phục vụ cho quá trình lao động
- Nhiên liệu: Là một loại vật liệu phụ dùng để cung cấp nhiệt lượng cho quá trình
sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra bình thường Nhiên liệu có thể là chất rắn, chất lỏng và thể khí
- Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư dùng để sửa chữa, thay thế máy móc,
thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản xuất
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu và thiết bị được sử
dụng cho công việc xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công
cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt các công trình xây dựng cơ bản
- Vật liệu khác: Là các loại vật liệu đặc trưng của từng doanh nghiệp hoặc phế
liệu thu hồi tức là những thứ loại ra trong quá trình sản xuất có thể được sử dụng lại hoặc bán ra ngoài như gỗ, mạt cưa, sắt, thép vụn…
(Nguồn: Kế toán doanh nghiệp xây lắp và đơn vị chủ đầu tư – PGS.TS Võ Văn Nhị (chủ biên) – NXB Tài chính)
Trên thực tế, việc phân chia sắp xếp theo từng loại nói trên chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì có loại vật liệu ở doanh nghiệp này là vật liệu chính, nhưng ở doanh nghiệp
tế Hu
ế
Trang 9khác là vật liệu phụ Thậm chí, ngay trong cùng một doanh nghiệp, có loại vật liệu lúc
được sử dụng như vật liệu chính, lúc lại sử dụng như một vật liệu phụ
Ngoài ra, còn có một số cách phân loại NVL như căn cứ vào nguồn hình thành
(vật liệu mua ngoài, vật liệu sản xuất, vật liệu từ những nguồn khác) mục đích sử dụng
(vật liệu dùng cho nhu cấu sản xuất kinh doanh, vật liệu dùng cho nhu cầu khác)
Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và bài toán chi tiết của từng doanh nghiệp mà
trong từng loại vật liệu được chia thành từng nhóm một cách chi tiết hơn Cách phân
loại này là cơ sở để xác định mức tiêu hao, định mức dự trữ cho từng loại, từng thứ
NVL, là cơ sở để hạch toán chi tiết NVL trong doanh nghiệp Từ đó đề ra những biện
pháp thích hợp trong việc tổ chức, quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại vật liệu
Để thuận tiện và tránh nhầm lẫn trong công tác quản lý và hạch toán vật liệu về
số lượng và giá trị của từng thứ vật liệu thì trên cơ sở phân loại vật liệu, doanh nghiệp
có thể xây dựng “Sổ danh điểm NVL” Trong đó NVL được xem xét, đánh giá cụ thể
và đầy đủ số hiện có, tình hình biến động NVL được chia một cách chi tiết hơn theo
từng loại, từng nhóm, từng thứ, tên gọi của từng vật liệu, nhãn hiệu, quy cách vật liệu,
đơn vị đo lường, giá hạch toán của vật liệu Sổ danh điểm NVL rất cần thiết cho việc
tổ chức quản lý vật liệu, là điều kiện quan trọng để tiến hành cơ giới hóa tính toán vật
liệu, giúp cho kế toán có cái nhìn tổng quát hơn Kí hiệu, tên gọi vật liệu… ghi trong
sổ danh điểm cần phải sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp nhằm đảm bảo
cho các bộ phận có trách nhiệm tham gia quản lý vật liệu được chặt chẽ và thuận lợi
1.2.2 Đánh giá nguyên vật liệu
1.2.2.1 Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá vật tư là việc xác định giá trị của vật tư ở những thời điểm nhất định
và theo những nguyên tắc nhất định
- Nguyên tắc giá gốc: Theo chuẩn mực 02 “Hàng tồn kho”, vật liệu phải được
đánh giá theo giá gốc Giá gốc là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được
vật liệu đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại
- Nguyên tắc thận trọng: Vật liệu được đánh giá theo giá gốc, nhưng trường hợp
giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có
tế Hu
ế
Trang 10thể thực hiện được giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong trong kỳ sản xuất, kinh doanh trừ đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng
- Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán được áp dụng trong đánh giá
vật liệu phải đảm bảo tính nhất quán Tức là kế toán đã chọn phương pháp nào thì phải
áp dụng phương pháp đó trong suốt niên độ kế toán Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp đã chọn nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực, hợp lý hơn, đồng thời phải giải thích được ảnh hưởng của sự thay đổi đó
1.2.2.2 Các phương pháp đánh giá nguyên vật liệu
Trên thực tế để quản lý và kế toán hàng tồn kho nói chung và kế toán NVL nói riêng người ta có thể sử dụng hai phương pháp bao gồm phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ Việc lựa chọn phương pháp kế toán nào cho phù hợp tùy thuộc vào đặc điểm của bản thân loại NVL mà doanh nghiệp đang nắm giữ Lựa chọn phương pháp này hay phương pháp khác có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tính giá NVL, do vậy doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng để vận dụng cho tốt
- Phương pháp kê khai thường xuyên: Là phương pháp áp dụng phổ biến hiện
nay, giúp theo dõi và phản ánh một cách thường xuyên, liên tục tình hình nhập xuất, tồn kho vật liệu trên sổ kế toán sau mỗi nghiệp vụ phát sinh Theo phương pháp kế toán này, vào mọi thời điểm người ta đều có thể tính được giá trị NVL theo công thức dưới đây:
Trị giá NVL tồn cuối kỳ = Trị giá NVL tồn đầu kỳ
+ Trị giá NVL nhập trong kỳ
- Trị giá NVL xuất trong kỳ
- Phương pháp kiểm kê định kỳ: Là phương pháp kế toán NVL mà trong kỳ chỉ
theo dõi các nghiệp vụ nhập vào, cuối kỳ tiến hành kiểm kê NVL tồn kho rồi từ đó xác định giá trị NVL xuất trong kỳ theo công thức dưới đây:
tế Hu
ế
Trang 11Trị giá NVL xuất trong kỳ = Trị giá NVL tồn đầu kỳ
+ Trị giá NVL nhập trong kỳ
- Trị giá NVL tồn cuối kỳ Với đặc trưng của phương pháp kiểm kê định kỳ, chúng ta cần hết sức lưu ý cẩn thận khi tiến hành kiểm kê NVL tồn kho cuối kỳ, bởi vì nếu có sai sót gì khi kiểm kê
sẽ làm cho việc tính giá vốn NVL xuất dùng hoặc xuất bán bị sai lệch, từ dó dẫn đến việc tính sai giá thành của sản phẩm hoặc sai giá vốn hàng bán ảnh hưởng đến việc tính lãi gộp, thu nhập thuần, tài sản hiện có và vốn chủ sở hữu không những của kỳ này mà còn cho cả những kỳ tiếp theo bởi vì giá trị NVL tồn kho cuối kỳ này sẽ được kết chuyển thành giá trị NVL tồn kho đầu kỳ sau Vì lý do đó, một khuyến cáo đối với các doanh nghiệp là nên cẩn thận khi lựa chọn phương pháp kiểm kê định kỳ để kế toán NVL Trong điều kiện thủ công, nếu sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên thì có rất nhiều tính toán Tuy nhiên, với sự trợ giúp đắc lực của máy tính và phần mềm kế toán, chúng ta có thể xử lý nhanh chóng những tính toán phức tạp, do vậy phương pháp kê khai thường xuyên là nên sử dụng Phương pháp kiểm kê định kỳ chỉ nên áp dụng cho các doanh nghiệp có số lượng NVL lớn, giá trị thấp, nhiều chủng loại, quy cách Để áp dụng phương pháp này đòi hỏi phải tăng cường quản lý vật tư tại kho, quầy, bến bãi
(Nguồn: Giáo trình nguyên lý kế toán – Phan Thị Minh Lý (chủ biên)- NXB Đại học Huế)
Có nhiều cách đánh giá vật liệu nhập, xuất kho nhưng chúng ta có thể chia ra thành hai phương pháp chính:
• Đánh giá NVL theo giá thực tế
• Đánh giá NVL theo giá hạch toán
1.2.2.2.1 Đánh giá nguyên vật liệu theo giá thực tế
a Xác định trị giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho
Theo quy định hiện hành, giá nguyên liệu, vật liệu mua vào là giá thực tế hình thành giá mua từ các nguồn khác nhau
tế Hu
ế
Trang 12Giá thực tế của NVL là loại giá được hình thành trên cơ sở chứng từ hợp lệ, chứng minh các khoản chi hợp pháp của doanh nghiệp để tạo ra NVL hay đó là toàn
bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được NVL đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại Giá trị của vật liệu trên các sổ sách kế toán, trên các báo cáo tài chính nhất thiết phải theo giá trị thực tế
Tức là kế toán NVL phải được thực hiện theo nguyên tắc giá gốc quy định trong Chuẩn mực 02 “Hàng tồn kho” Nội dung trị giá gốc của nguyên liệu, vật liệu được xác định tuỳ theo từng nguồn nhập
- Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu mua ngoài, bao gồm: Giá mua ghi trên hoá đơn, thuế nhập khẩu phải nộp, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu phải nộp (nếu có), chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân loại, bảo hiểm, nguyên liệu, vật liệu từ nơi mua về đến kho của doanh nghiệp, công tác phí của cán bộ thu mua, chi phí của bộ phận thu mua độc lập, các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc thu mua nguyên vật liệu và số hao hụt tự nhiên trong định mức (nếu có):
o Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật liệu dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì giá trị của nguyên liệu, vật liệu mua vào được phản ánh theo giá mua chưa có thuế GTGT Thuế GTGT đầu vào khi mua nguyên liệu, vật liệu và thuế GTGT đầu vào của dịch vụ vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, chi phí gia công được khấu trừ và hạch toán vào Tài khoản 133 “Thuế GTGT được khấu trừ” (1331)
o Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật liệu dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, hoặc dùng cho hoạt động sự nghiệp, phúc lợi,
dự án thì giá trị của nguyên liệu, vật liệu mua vào được phản ánh theo tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ (nếu có)
o Đối với nguyên liệu, vật liệu mua bằng ngoại tệ thì phải được quy ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi tăng giá trị nguyên liệu, vật liệu nhập kho
tế Hu
ế
Trang 13- Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu tự chế biến, bao gồm: Giá thực tế của nguyên liệu xuất chế biến và chi phí chế biến
- Giá gốc của nguyên liệu, vật liệu thuê ngoài gia công chế biến, bao gồm: Giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu xuất thuê ngoài gia công chế biến, chi phí vận chuyển vật liệu đến nơi chế biến và từ nơi chế biến về đơn vị, tiền thuê ngoài gia công chế biến
- Giá gốc của nguyên liệu nhận góp vốn liên doanh, cổ phần: Là giá thực tế được các bên tham gia góp vốn liên doanh thống nhất đánh giá chấp thuận
(Nguồn: Luật kế toán – Hệ thống chuẩn mực kế toán – NXB Tài chính)
b Xác định trị giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho
NVL được nhập từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau, cho nên giá thực tế của từng lần nhập kho là không giống nhau Do đó, khi xuất kho, tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động, yêu cầu, trình độ quản lý và điều kiện trang bị phương tiện kỹ thuật tính toán ở từng doanh nghiệp mà lựa chọn một trong các phương pháp sau để xác định giá trị thực tế NVL xuất kho:
Theo Chuẩn mực 02 “Hàng tồn kho”, có 4 phương pháp tính giá xuất kho sau đây, doanh nghiệp lựa chọn phương pháp nào thì phải đảm bảo tính nhất quán trong cả niên độ kế toán:
- Phương pháp giá đích danh: giá trị hàng tồn kho xuất ra thuộc lần nhập kho
nào thì lấy đích danh giá nhập kho của lần nhập kho đó làm giá xuất kho Phương pháp này được áp dụng cho những doanh nghiệp có ít chủng loại vật tư, giá trị của từng loại NVL tương đối lớn, có thể nhận diện được từng lô hàng
(Nguồn:Giáo trình nguyên lý kế toán – Phan Thị Minh Lý (chủ biên) – NXB Đại học Huế)
o Ưu điểm: Công tác tính giá NVL được thực hiện kịp thời, ngoài ra thông qua việc tính giá NVL xuất kho, kế toán có thể theo dõi được thời hạn bảo quản của từng lô NVL
tế Hu
ế
Trang 14o Nhược điểm: Áp dụng phương pháp này đòi hòi những điều kiện khắt khe, chỉ có thể áp dụng được khi NVL có thể phân biệt, chia tách ra thành từng loại, từng thứ riêng lẻ
- Phương pháp bình quân gia quyền (liên hoàn, cả kỳ): Vào cuối mỗi kỳ kế toán
phải xác định đơn giá bình quân của NVL đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá xuất kho theo công thức sau đây:
Giá thực tế của Số lượng NVL Đơn giá
NVL xuất kho = xuất kho × bình quân
trong kỳ
Đơn giá Trị giá NVL tồn kho đầu kỳ + Trị giá NVL nhập trong kỳ
bình quân =
cả kỳ Số lượng NVL tồn đầu kỳ + Số lượng NVL nhập trong kỳ
Ngoài ra, người ta còn có thể tính đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập hoặc có thể tính đơn giá bình quân của NVL cuối kỳ trước
(Nguồn:Giáo trình nguyên lý kế toán – Phan Thị Minh Lý (chủ biên) – NXB Đại học Huế)
o Ưu điểm: Giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết NVL so với phương pháp LIFO và FIFO, không phụ thuộc vào số lần nhập, xuất của từng danh điểm NVL đối với phương pháp tính giá bình quân cả kỳ Tính giá NVL xuất kho kịp thời đối với phương pháp tính giá bình quân sau mỗi lần nhập
o Nhược điểm: Đối với phương pháp tính giá bình quân cả kỳ, thì phải dồn công việc tính giá NVL vào cuối kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu
kế toán khác Còn đối với phương pháp tính giá bình quân sau mỗi lần nhập thì khối lượng công việc tính toán quá nhiều, đồng thời phương pháp này cũng đòi hỏi phải tính giá theo từng danh điểm NVL Vì vậy, phương pháp này chỉ sử dụng được ở những doanh nghiệp có ít danh điểm NVL và số lần nhập mỗi loại là không nhiều
- Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO): NVL xuất ra được tính theo giá
của lô hàng nhập trước nhất, nếu không đủ về mặt số lượng thì lấy tiếp giá của lô hàng nhập vào tiếp theo theo thứ tự từ trước đến sau
tế Hu
ế
Trang 15Như vậy, nếu giá cả có xu hướng tăng lên thì giá trị NVL tồn kho sẽ cao và giá trị vật liệu xuất dùng sẽ nhỏ nên giá thành sản phẩm sẽ giảm, lợi nhuận tăng Ngược lại, nếu giá cả có xu hướng giảm thì chi phí vật liệu trong kỳ sẽ lớn dẫn đến giá thành sản phẩm cao và lợi nhuận sẽ giảm
Vì vây, có thể nói phương pháp này thích hợp trong thời kỳ lạm phát và áp dụng đối với những doanh nghiệp có ít danh điểm vật tư, số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều
(Nguồn:Giáo trình nguyên lý kế toán – Phan Thị Minh Lý (chủ biên) – NXB Đại học Huế)
o Ưu điểm: Cho phép kế toán tính giá NVL xuất kho kịp thời Trong thời
kỳ lạm phát, phương pháp này sẽ làm lợi nhuận tăng do đó có lợi cho các công ty, đặc biệt là công ty cổ phần khi báo cáo kết quả hoạt động trước cổ đông làm cho giá cổ phiếu của công ty tăng lên
o Nhược điểm: Không đáp ứng được nguyên tắc phù hợp, tức là chi phí hiện hành không phù hợp với doanh thu hiện hành, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp không phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL
- Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO): NVL xuất ra được tính theo giá của
lô hàng nhập sau cùng, nếu không đủ về mặt số lượng thì lấy tiếp giá của lô hàng nhập trước lô hàng nhập sau cùng và cứ như vậy tính ngược lên theo thời gian
Phương pháp này cũng được áp dụng với các doanh nghiệp ít danh điểm vật tư
và số lần nhập kho của mỗi danh điểm là không nhiều Ngược lại với phương pháp FIFO thì phương pháp này thích hợp trong thời kỳ giảm phát
(Nguồn:Giáo trình nguyên lý kế toán – Phan Thị Minh Lý (chủ biên) – NXB Đại học Huế)
o Ưu điểm: Đảm bảo nguyên tắc phù hợp, làm cho thông tin về doanh thu
và chi phí của doanh nghiệp trở nên chính xác hơn Tính theo phương pháp này thì một mặt nào đó cũng có thể nói doanh nghiệp sẽ có lợi về thuế
tế Hu
ế
Trang 16o Nhược điểm: Phương pháp này làm cho thu nhập thuần của doanh nghiệp giảm trong thời kỳ lạm phát và giá trị của vật liệu có thể bị đánh giá giảm trên bảng cân đối kế toán so với giá trị thực của nó
1.2.2.2.2 Đánh giá nguyên vật liệu theo giá hạch toán
Đối với những doanh nghiệp sử dụng vật tư có số lượng lớn, nhiều chủng loại khác nhau, giá cả biến động, các nghiệp vụ nhập – xuất NVL diễn ra thường xuyên, hàng ngày thì việc hạch toán theo giá trị thực tế sẽ gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp Để đơn giản, giảm bớt khối lượng ghi chép, tính toán, ghi chép hàng ngày nhưng vẫn có thể phản ánh kịp thời biến động giá trị các loại NVL thì doanh nghiệp có thể dùng giá hạch toán, tức là giá cố định để hạch toán tình hình nhập – xuất NVL, cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý
Giá hạch toán là giá do doanh nghiệp tự xây dựng, có thể là giá kế hoạch hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được Giá hạch toán được sử dụng thống nhất trong toàn doanh nghiệp và tương đối ổn định lâu dài Nếu có sự biến động lớn về giá cả, doanh nghiệp cần phải xây dựng lại hệ thống giá hạch toán
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng việc sử dụng giá hạch toán chỉ mang tính chất tạm thời trong kỳ kế toán, vì vậy giá hạch toán chỉ được sử dụng trong hạch toán chi tiết NVL, còn trong hạch toán tổng hợp vẫn phải sử dụng giá thực tế Đến cuối kỳ kế toán phải tiến hành điều chỉnh theo giá thực tế, tức là cuối kỳ kế toán phải tính Hệ số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của nguyên liệu, vật liệu để tính giá thực
tế của nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trong kỳ theo công thức:
Giá hạch toán của nguyên liệu, vật liệu tồn kho đầu kỳ +
Giá hạch toán của nguyên liệu, vật liệu nhập kho trong
Trang 17*
Hệ số chênh lệch giữa giá thực tế và giá hạch toán của nguyên liệu, vật liệu (1)
(Nguồn:Chế độ kế toán doanh nghiệp (Quyển 2) – Báo cáo tài chính chứng từ và sổ kế toán, sơ đồ kế toán – NXB Tài chính)
Giá hạch toán chỉ được sử dụng cho yêu cầu quản lý nội bộ đơn vị Bản thân việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế chính là biểu hiện tuân thủ nguyên tắc giá gốc
1.3 Kế toán chi tiết tình hình nhập xuất nguyên vật liệu
Hạch toán chi tiết NVL là việc hạch toán kết hợp giữa thủ kho và phòng kế toán trên cùng một cơ sở chứng từ, nhằm đảm bảo theo dõi chặt chẽ số liệu và tình hình biến động từng loại, từng nhóm, từng thứ vật liệu về số lượng và giá trị Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết và vận dụng phương pháp hạch toán chi tiết NVL phù hợp để quản lý vật tư được tốt hơn
1.3.1 Chứng từ nhập xuất nguyên vật liệu
Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành ngày 20/03/2006, các doanh nghiệp sẽ sử dụng một số chứng từ sau:
- Phiếu nhập kho: Mẫu số 01 – VT
- Phiếu xuất kho: Mẫu số 02 – VT
- Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm hàng hóa: Mẫu 05 – VT
- Hóa đơn GTGT nếu doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ: Mẫu số
tế Hu
ế
Trang 18thể sử dụng “Phiếu nhập kho vật tư theo hạn mức” Phiếu này lập một lần nhưng có thể xuất và lĩnh vật tư nhiều lần trong suốt cả tháng Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các chứng từ khác hay chứng từ riêng tùy theo nhu cầu của doanh nghiệp
Các chứng từ phải lập kịp thời, đúng mẫu quy định và đầy đủ các yếu tố nhằm đảm bảo tính pháp lý để ghi sổ kế toán Người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lý của các chứng từ Việc luân chuyển chứng từ cần phải có kế hoạch cụ thể nhằm đảm bảo việc ghi chép kế toán được lập kịp thời, đầy đủ
1.3.2 Sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Trên cơ sở chứng từ kế toán hợp lý, hợp pháp, sổ kế toán chi tiết NVL phục vụ cho việc hạch toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến NVL Tùy thuộc vào phương pháp kế toán áp dụng trong doanh nghiệp mà sử dụng các sổ kế toán chi tiết sau:
- Sổ (thẻ) kho
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết NVL
- Sổ đối chiếu luân chuyển
- Sổ số dư
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể mở thêm các Bảng kê mua hàng, Bảng phân
bổ nguyên liêu, vật liệu, CCDC, Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn vật liệu phục vụ cho việc ghi sổ kế toán và báo cáo tình hình chi tiết về việc luân chuyển NVL cho Ban quản trị được kịp thời
1.3.3 Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Tổ chức tốt kế toán chi tiết vật liệu có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo quản vật liệu và công tác kiểm tra tình hình cung cấp, sử dụng vật liệu Kế toán chi tiết vật liệu vừa được thực hiện ở kho, vừa được thực hiện ở phòng kế toán
Kế toán chi tiết vật liệu được thực hiện theo 1 trong 3 phương pháp sau: phương pháp thẻ song song, phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển và phương pháp sổ
số dư Tùy vào từng điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp lựa chọn áp dụng những phương pháp khác nhau
tế Hu
ế
Trang 191.3.3.1 Phương pháp thẻ song song
Theo phương pháp này, việc ghi chép diễn ra song song cả ở kho và phòng kế toán Về nguyên tắc, ở kho theo dõi vật liệu về mặt số lượng trên thẻ kho, ở phòng kế toán theo dõi vật liệu về mặt số lượng và giá trị trên thẻ (sổ) kế toán chi tiết vật liệu
- Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép Thẻ kho được mở cho từng danh
điểm vật liệu
Hằng ngày, căn cứ vào chứng từ nhập xuất để ghi số lượng vật liệu vào thẻ kho
và cuối ngày tính ra số tồn kho của từng loại vật liệu trên thẻ kho
- Ở phòng kế toán: Mở thẻ (sổ) chi tiết vật liệu tương ứng với thẻ (sổ) kho mở ở
kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn của từng loại vật liệu cả về mặt số lượng lẫn giá trị
Hằng ngày hoặc định kỳ, khi nhận được các chứng từ nhập xuất vật liệu được thủ kho chuyển lên, kế toán phải tiến hành kiểm tra, ghi giá và phản ánh vào các sổ chi tiết
Cuối tháng kế toán cộng thẻ hoặc sổ tính ra tổng số nhập, tổng số xuất và tổng
số tồn của từng thứ vật liệu rồi đối chiếu với thẻ kho, lập báo cáo tổng hợp nhập xuất tồn kho về giá trị để đối chiếu với bộ phận kế toán tổng hợp NVL
Phương pháp thẻ song song đơn giản, dễ thực hiện và tiện lợi khi được xử lý bằng máy tính Hiện nay phương pháp này được áp dụng phổ biến ở các doanh nghiệp
Công việc kế toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song được tóm tắt trong
tế Hu
ế
Trang 20Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng hoặc định kỳ
Quan hệ đối chiếu kiểm tra
Sơ đồ 1.1 – Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song
(Nguồn: Kế toán doanh nghiệp xây lắp và đơn vị chủ đầu tư – PSG.TS Võ Văn Nhị (chủ
biên) – NXB Tài chính)
1.3.3.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Ở kho: Thủ kho vẫn sử dụng các thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn
của từng loại vật liệu về mặt số lượng
- Ở phòng kế toán: Để theo dõi từng loại vật liệu nhập, xuất, tồn về số lượng và
giá trị, kế toán sử dụng sổ đối chiếu luân chuyển Đặc điểm ghi chép là chỉ thực hiện ghi chép một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, xuất trong tháng và mỗi danh điểm vật liệu được ghi một dòng trên sổ đối chiếu luân chuyển Sau
đó tính ra số tồn kho cuối tháng và ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển Cuối tháng tiến
hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và số liệu của kế toán tổng hợp
Tuy phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện nhưng thường ít áp dụng trong thực tế vì số lượng ghi chép của kế toán dồn vào cuối tháng quá nhiều có thể ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc cung cấp thông tin kế toán cho những đối tượng kế toán khác nhau
Thẻ kho
Chứng từ nhập
Chứng từ xuất
Sổ chi tiết VL
Bảng tổng hợp nhập xuất tồn
tế Hu
ế
Trang 21Bảng kê nhập
Bảng kê xuất Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng hoặc định kỳ
Quan hệ đối chiếu kiểm tra
Sơ đồ 1.2 – Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu
- Ở kho: Thủ kho vẫn sử dụng thẻ kho để ghi chép số lượng vật liệu nhập, xuất,
tồn trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất Ngoài ra, vào cuối tháng thủ kho còn phải căn
cứ vào số tồn của vật liệu trên thẻ kho để ghi vào sổ số dư do phòng kế toán lập và gửi xuống cho thủ kho vào ngày cuối tháng để ghi sổ
Các chứng từ nhập, xuất sau khi đã ghi vào thẻ kho phải được thủ kho phân loại theo chứng từ nhập, chứng từ xuất của từng loại vật liệu để lập phiếu giao nhận chứng
từ và chuyển giao cho phòng kế toán kèm theo các chứng từ nhập, xuất
- Ở phòng kế toán: Nhân viên kế toán vật liệu có trách nhiệm theo định kỳ xuống
kho kiểm tra, hướng dẫn việc ghi chép của thủ kho và xem xét các chứng từ nhập, xuất
đã được thủ kho phân loại Sau đó ký nhận vào phiếu giao nhận chứng từ, thu nhận
tế Hu
ế
Trang 22phiếu này kèm theo các chứng từ nhập xuất có liên quan Căn cứ vào các chứng từ nhập, xuất nhận được kế toán phải đối chiếu với các chứng từ có liên quan, sau đó căn
cứ vào giá hạch toán đang sử dụng để ghi giá vào các chứng từ và vào cột số tiền của phiếu giao nhận chứng từ Từ phiếu giao nhận chứng từ, kế toán tiến hành ghi vào bảng lũy kế nhập, xuất, tồn vật liệu
Bảng lũy kế nhập, xuất, tồn được mở riêng cho từng kho và mỗi danh điểm vật liệu được ghi riêng một dòng Vào cuối tháng, kế toán tổng hợp số tiền nhập, xuất
trong tháng và tính ra số dư cuối tháng cho từng loại vật liệu trên bảng lũy kế
Số dư trên bảng lũy kế phải khớp với số tiền được kế toán xác định trên sổ số
dư do thủ kho chuyển về
Trong điều kiện thực hiện kế toán bằng phương pháp thủ công thì phương pháp
sổ số dư được coi là phương pháp có nhiều ưu điểm: hạn chế ghi chép trùng lắp giữa kho và phòng kế toán, cho phép kiểm tra thường xuyên công việc ghi chép ở kho, đảm bảo số liệu kế toán được chính xác, kịp thời
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng hoặc định kỳ
Quan hệ đối chiếu kiểm tra
Sơ đồ 1.3 – Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ số dư
(Nguồn: Kế toán doanh nghiệp xây lắp và đơn vị chủ đầu tư – PSG.TS Võ Văn Nhị (chủ biên) – NXB Tài chính)
Mỗi phương pháp phải được tiến hành trong những điều kiện nhất định thì mới
có thể phát huy được các ưu điểm và hạn chế các nhược điểm Chính vì vậy khi hạch
Bảng lũy kế nhập xuất tồn
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
tế Hu
ế
Trang 23toán NVL các doanh nghiệp cần có sự nghiên cứu để từ đó lựa chọn phương pháp thích hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong công tác quản lý NVL
1.4 Kế toán tổng hợp tình hình nhập, xuất vật liệu
1.4.1 Tài khoản sử dụng
Kế toán tổng hợp tình hình nhập, xuất vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên thường sử dụng chủ yếu những tài khoản sau:
- TK 151 “Hàng mua đang đi đường”: Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị
vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp đã mua nhưng cuối tháng vẫn chưa về đến doanh nghiệp Kết cấu TK này như sau:
Bên Nợ: Trị giá hàng đã mua đang đi trên đường tăng lên
Bên Có: Trị giá hàng đã mua đã về đến doanh nghiệp
Dư Nợ: Trị giá hàng đã mua hiện còn đang đi trên đường
- TK 152 “Nguyên liệu, vật liệu”: Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị vật liệu
nhập, xuất và tồn kho Kết cấu tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Trị giá vật liệu nhập kho và tăng lên do các nguyên nhân khác
Bên Có: Trị giá vật liệu xuất kho và giảm xuống do các nguyên nhân khác
Dư Nợ: Trị giá vật liệu tồn kho
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng những tài khoản liên quan khác như:
- TK 13 3 “Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ”: Tài khoản này dùng trong các
đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp không sử dụng tài khoản này, vì trong giá mua đã bao gồm cả thuế GTGT đầu vào
- TK 331 “Phải trả người bán”: Để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản
nợ phải trả của doanh nghiệp cho người bán vật tư, hàng hóa, người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng đã ký kết; tình hình thanh toán các khoản nợ phải trả cho người nhận thầu xây lắp chính phụ
TK 331 không mở tài khoản cấp 2 mà mở chi tiết theo từng đối tượng
tế Hu
ế
Trang 241.4.2 Kế toán vật liệu nhập kho
Khi mua vật liệu về nhập kho, kế toán phản ánh các nội dung
1) Giá mua vật liệu, thuế GTGT nộp khi mua vật liệu và số tiền thanh toán cho người bán
Nợ TK 152 – Giá chưa có thuế
Nợ TK 111, 112, 331
Có TK 515 5) Khoản thuế nhập khẩu nộp cho nhà nước đối với vật liệu nhập khẩu được tính vào giá nhập
tế Hu
ế
Trang 25Nợ TK 152
Có TK 3333 “Thuế xuất nhập khẩu”
6) Khoản thuế GTGT phải nộp đối với số vật liệu nhập khẩu nhưng được khấu trừ
Nợ TK 133
Có TK 33312 “Thuế GTGT hàng nhập khẩu”
Lưu ý: Những doanh nghiệp không thuộc diện nộp thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ thì thuế GTGT nộp khi mua vật liệu được tính vào giá nhập kho
Khi nhập vật liệu mà phát hiện có vật liệu thiếu hoặc thừa, kế toán phải phản ánh 1) Đối với vật liệu thiếu do hao hụt trong định mức cho phép kế toán phản ánh trị giá vật liệu nhập kho theo trị giá mua đã ghi trên hóa đơn
Nợ TK 152 – Giá mua
Nợ TK 133 – Thuế GTGT
Có TK 331 – Số tiền thanh toán 2) Nếu vật liệu thiếu không nằm trong định mức cho phép và chưa xác định được nguyên nhân, kế toán phản ánh
Nợ TK 152 – Trị giá thực nhập
Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 331, 111… Số tiền thanh toán
Có TK 3381 “Tài sản thừa chờ giải quyết” – Trị giá thừa Trường hợp vật liệu thừa được doanh nghiệp giữ hộ cho bên bán, kế toán chỉ ghi đơn bên Nợ TK 002 “Vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công” Sau đó khi bên bán nhận lại sẽ ghi đơn bên Có TK 002
tế Hu
ế
Trang 264) Khi nhận NVL của bên giao thầu (bên A) ứng trước để thực hiện khối lượng xây lắp nhận thầu
- Đơn vị nhận thầu chính nhận ứng trước NVL của bên giao thầu ghi
Nợ TK 152
Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1331) (nếu có)
Có TK 131- Phải thu của khách hàng
- Đơn vị trực thuộc nhận ứng trước NVL của bên giao thầu để thực hiện khối lượng xây lắp giao khoán nội bộ ghi
- Đối với giá trị thiết bị bên A giao hoặc ủy quyền cho bên B mua để lắp đặt vào công trình (trừ trường hợp nhận thầu theo hình thức chìa khóa trao tay), bên B không được hạch toán giá trị thiết bị này vào giá thành sản xuất xây lắp của công trình XDCB nhận thầu Khi nhận số thiết bị này bên B phải ghi
Nợ TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu (1526)
Có TK 331 – Phải trả người bán Khi bàn giao lại số thiết bị này cho bên A, bên B phải ghi bút toán ngược lại và tiến hành quyết toán riêng về số thiết bị này
- Khi nhận thiết bị XDCB do bên A giao hoặc khi mua thiết bị XDCB do bên A
ủy quyền mua, ghi
Nợ TK 152– Nguyên liệu, vật liệu (1526)
Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1331) (nếu có)
Có TK 331 – Phải trả cho người bán (do bên A giao)
Có TK 111, 112, 131 … (Mua theo ủy quyền)
- Khi bàn giao khối lượng xây lắp hoàn thành (toàn bộ hoặc từng phần), ghi
tế Hu
ế
Trang 27Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng (1311)
Có TK 511 – Doanh thu bán hàng
Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331)
Khi nhận vật liệu từ các nguồn khác kế toán phản ánh như sau
1) Do tự sản xuất ra: căn cứ vào giá thành thực tế của vật liệu được sản xuất để ghi
Nợ TK 152
Có TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
2) Nhập vật liệu thuê ngoài chế biến hoàn thành
- Trị giá vật liệu xuất giao cho người nhận chế biến
Nợ TK 152
Có TK 711 “Thu nhập khác”
Có TK 111, 112… - Các khoản chi phí có liên quan
1.4.3 Kế toán vật liệu xuất kho
Vật liệu trong doanh nghiệp được xuất ra để sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau cũng như cho các hoạt động khác như sửa chữa TSCĐ…
Do vậy để có căn cứ ghi sổ cũng như phản ánh đúng đắn các chi phí vật liệu sử dụng cho từng đối tượng thì bên cạnh các chứng từ gốc có liên quan, kế toán có thể sử dụng
bảng phân bổ vật liệu sử dụng cho các đối tượng
Căn cứ vào các chứng từ sử dụng vật liệu kế toán phản ánh
tế Hu
ế
Trang 28Nợ TK 621 “Chi phí NVL trực tiếp” – vật liệu sử dụng để trực tiếp sản xuất sản phẩm
Nợ TK 623 “Chi phí sử dụng máy thi công” – vật liệu dùng cho máy thi công
Nợ TK 627 “Chi phí sản xuất chung” – vật liệu dùng ở phân xưởng (đội thi công)
Nợ TK 641 “Chi phí bán hàng” – vật liệu dùng cho bộ phận bán hàng
Nợ TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp” – vật liệu dùng cho bộ phận quản
lý doanh nghiệp
…
Có TK 152 – trị giá vật liệu xuất sử dụng
Khi xuất vật liệu để cấp cho đơn vị trực thuộc hoặc để cho vay, mượn trong nội
tế Hu
ế
Trang 29Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 711 1.5 Kế toán một số trường hợp khác về vật liệu
1.5.1 Kế toán kiểm kê vật liệu
Kiểm kê vật liệu là công việc cần thiết để bảo vệ an toàn cho vật liệu và phát hiện kịp thời những sai sót và vi phạm trong quản lý, sử dụng vật liệu
Khi kiểm kê phát hiện có vật liệu bị thiếu, kế toán phản ánh:
1) Nếu trị giá thiếu nằm trong hao hụt cho phép thì tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 642
Có TK 152 2) Nếu trị giá thiếu không nằm trong hao hụt cho phép và chưa xác định được nguyên nhân, kế toán sẽ ghi
Nợ TK 1381 – “Tài sản thiếu chờ xử lý”
Có TK 152 Sau đó, kế toán căn cứ vào quyết định xử lý để phản ánh
Nợ TK 1388 – Bắt bồi thường
Nợ TK 811 – Tính vào chi phí khác
…
Có TK 1381 – “Tài sản thiếu chờ xử lý”
Khi kiểm kê phát hiện có vật liệu thừa, kế toán phản ánh:
1) Nếu thừa do nhầm lẫn trong tính toán, ghi chép thì kế toán căn cứ vào tình hình thực tế được xác định để ghi
Nợ TK 152
Có các TK có liên quan 2) Nếu thừa nhưng chưa xác định được nguyên nhân, kế toán căn cứ trị giá thừa
Trang 30Sau đó căn cứ vào quyết định xử lý để phản ánh
Nợ TK 3381 – “Tài sản thừa chờ giải quyết”
Có TK 711,642,…
1.5.2 Kế toán đánh giá lại vật liệu
Khi đánh giá lại làm tăng giá trị của vật liệu, kế toán căn cứ vào khoản chênh lệch tăng để ghi
Nợ TK 152
Có TK 412 – “Chênh lệch đánh giá lại tài sản”
Khi đánh giá lại làm giảm giá trị vật liệu, căn cứ vào khoản chênh lệch giảm để ghi
Nợ TK 412
Có TK 152
1.5.3 Kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho
- Theo quy định, nếu các loại vật liệu hiện có vào cuối niên độ có khả năng bị giảm giá ở niên độ sau thì doanh nghiệp được lập khoản dự phòng giảm giá
- Kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho sử dụng TK 159 “Dự phòng giảm giá hàng tồn kho”
Kết cấu của TK này như sau:
Bên Nợ: Khoản dự phòng giảm giá được hoàn nhập
Bên Có: Khoản dự phòng giảm giá được lập
Dư Nợ: Khoản dự phòng giảm giá hiện có
- Nội dung phản ánh
1) Cuối niên độ, khi xác định khoản dự phòng giảm giá cần phải lập, sẽ ghi
Nợ TK 632
Có TK 159 2) Cuối niên độ sau, nếu số cần lập dự phòng > số đã lập dự phòng hiện có thì lập
Trang 31Còn nếu số lập dự phòng < số đã lập dự phòng hiện có thì tiến hành hoàn nhập
để ghi giảm giá vốn khoản chênh lệch thừa
Trang 32CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI XÍ NGHIỆP
XÂY DỰNG 78.7 – CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG 78
2.1 Giới thiệu khái quát về Xí nghiệp xây dựng 78.7
2.1.1 Tình hình chung của đơn vị
Xí nghiệp xây dựng 78.7 tiền thân là Xí nghiệp xây dựng và trang trí nội thất được chính thức thành lập theo quyết định số: 2267/TCT - TCLĐ ngày 31/10/2000 trực thuộc Công ty xây dựng và sản xuất gỗ MDF COSEVCO - Tổng công ty xây dựng Miền Trung - Bộ xây dựng
Trong quá trình hình thành và phát triển Xí nghiệp đã có một số thay đổi về tên gọi và cơ cấu tổ chức
Khi mới thành lập Xí nghiệp có tên gọi là Xí nghiệp xây dựng và trang trí nội thất
Năm 2005 Xí nghiệp xây dựng và trang trí nội thất đổi tên thành Xí nghiệp xây dựng 78.7
Xí nghiệp xây dựng 78.7 được chính thức thành lập theo quyết định số: 10/QĐ - TCCP-HĐQT ngày 07/5/2007 trực thuộc Công ty Cổ phần Xây dựng 78 - Tổng công
ty xây dựng Miền Trung - Bộ xây dựng
Xí nghiệp xây dựng 78.7 là doanh nghiệp Nhà nước có đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản phù hợp với phương thức hạch toán được tổ chức và hoạt động theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty và theo điều lệ riêng của Xí nghiệp do Giám đốc Công ty ban hành thực hiện đầy đủ các chính sánh chế độ và pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành và địa phương
Từ đó đến nay Xí nghiệp hoạt động với cái tên gọi chính thức này
- Tên đơn vị: XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG 78.7
- Tên giao dịch: Xí nghiệp xây dựng 78.7
- Trụ sở: 51 Trần Hưng Đạo, TP Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị
- Tài khoản: 5401000000445-1 tại NH ĐTPT Quảng Trị
Trang 33- Mã số thuế: 3200139131008
- Hình thức sở hữu vốn: 51% vốn nhà nước, 49% vốn tư nhân
- Quy mô hoạt động: vừa, với tổng số vốn 15 tỷ đồng
- Chế độ kế toán áp dụng theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, ngày 20/03/2006 của Bộ Tài Chính
+ Các báo cáo tài chính của Doanh nghiệp được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành
+ Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc ngày 31/12 năm dương lịch
+ Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán: Đồng Việt Nam
+ Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: Theo giá gốc
+ Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho: Theo giá đích danh
+ Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Theo phương pháp kê khai thường xuyên và hạch toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song
+ Phương pháp tính thuế GTGT đơn vị áp dụng theo phương pháp khấu trừ
- Lĩnh vực hoạt động: xây dựng cơ bản
Một số chỉ tiêu phản ánh quá trình phát triển:
Tình hình sản xuất kinh doanh cũng là một yếu tố quan trọng đối với một doanh nghiệp Nó quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay, Xí nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn về nguồn vốn, cơ sở vật chất còn hạn chế nhưng trong thời gian vừa qua Xí nghiệp cũng đã không ngừng nỗ lực vươn lên Toàn bộ tình hình sản xuất kinh doanh trong ba năm gần đây của Xí nghiệp được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu trong bảng sau:
tế Hu
ế
Trang 34Bảng 2.1 – Tình hình sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp qua 3 năm từ
Đây là dấu hiệu cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp đã có những dấu hiệu khả quan
- Chỉ tiêu tổng doanh thu: Doanh thu của Xí nghiệp chủ yếu là số tiền thu được
từ việc bàn giao các công trình xây dựng hoàn thành Đây là chỉ tiêu quan trọng trong nhóm chỉ tiêu tài chính
Doanh thu của Xí nghiệp năm 2012 tăng nhanh so với năm 2011, tăng tới 1.100.084.789 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 92,42%, đến năm 2013 thì tăng lên tới 281.526.300 đồng Sự tăng lên này chủ yếu là do Doanh thu bán hàng và cung cấp
tế Hu
ế
Trang 35dịch vụ tăng lên đáng kể qua 3 năm Đặc biệt, trong năm 2013 còn có thêm khoản tăng
từ thu nhập khác (51.803.000 đồng)
- Chỉ tiêu tổng chi phí: tuy tổng doanh thu của Xí nghiệp có kết quả khả quan,
nhưng chi phí của Xí nghiệp là quá lớn, chủ yếu là do chỉ tiêu giá vốn hàng bán, năm
2011 chỉ tiêu này (1.198.584.870 đồng) còn cao hơn cả Doanh thu thuần về bán hàng
và cung cấp dịch vụ (1.188.925.454 đồng) Đặc biệt, cả 3 năm, chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn còn quá lớn, và vẫn tiếp tục tăng qua các năm, doanh thu làm ra không đủ
để bù đắp khoản chi phí này
Điều này cho thấy, Xí nghiệp đã không kiểm soát tốt chi phí đầu vào, tuy chi phí cho quản lý doanh nghiệp tăng nhưng lại không hiệu quả Đơn vị cần xây dựng những định mức các chi phí, dựa trên việc tính toán giá trị của các hợp đồng
- Chỉ tiêu lợi nhuận: do chi phí của đơn vị chưa được kiểm soát tốt dẫn tới cả 2
năm 2011 và năm 2012, Xí nghiệp đều bị thua lỗ Tuy năm 2012 và năm 2013, giá vốn hàng bán đã được kiểm soát tốt hơn, nhưng do chi phí quản lý doanh nghiệp quá lớn nên năm 2012 vẫn bị lỗ Năm 2013, Xí nghiệp có lợi nhuận dương chủ yếu là do có một khoản lợi nhuận khác bù đắp, chứ Xí nghiệp vẫn chưa thực sự kiểm soát tốt về chi phí
Nói chung, tuy các năm vừa qua Xí nghiệp không đạt được lợi nhuận như mong muốn nhưng việc lợi nhuận có những chuyển biến khá khả quan trong năm vừa rồi, thoát khỏi tình trạng thua lỗ cũng đã cho thấy những nỗ lực rất lớn của đơn vị Ban lãnh đạo Xí nghiệp cần có những biện pháp chiến lược tốt nhằm đưa Xí nghiệp về lại quỹ đạo hoạt động sản xuất của mình, thu hút nguồn đầu tư cũng như sự tín nhiệm của khách hàng trong năm tới
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của đơn vị
2.1.2.1 Chức năng
- Chuyên thi công xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp
- Xây dựng cầu đường, thuỷ lợi, thuỷ điện, các khu công nghiệp
Ngoài ra Xí nghiệp còn khai thác chế biến kinh doanh các loại cát, đá vật liệu xây dựng
tế Hu
ế
Trang 362.1.2.2 Nhiệm vụ
- Thi công các công trình dân dụng và công nghiệp
- Thực hiện các hợp đồng xây lắp đã ký kết với Chủ đầu tư, đảm bảo đúng tiến
độ thi công, đạt chất lượng và đảm bảo kỹ - mỹ - thuật cho công trình
- Chấp hành tốt các chính sách chế độ của Nhà nước
- Thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động, phân phối thu nhập một cách hợp
lý, chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
- Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh theo đúng chế độ, đảm bảo kinh tế và bảo toàn vốn
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của đơn vị
- Xí nghiệp có một bộ máy kiện toàn và nhạy bén trong sản xuất kinh doanh
- Trụ sở làm việc nằm trên trục đường chính của thành phố Đông Hà nên rất thuận lợi cho công việc
2.1.4 Đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của Xí nghiệp
2.1.4.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Xí nghiệp
Tổ chức bộ máy quản lý là một vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Xí
tế Hu
ế
Trang 37nghiệp xây dựng 78.7 luôn quan tâm đến việc tổ chức bộ máy quản lý sao cho phù hợp với năng lực sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp
Bộ máy quản lý của Xí nghiệp được thiết kế theo phương pháp trực tuyến chức năng, từ Giám đốc Xí nghiệp đến các phòng, phân xưởng, đội Gồm 4 phòng chức năng quản lý nghiệp vụ ở văn phòng: Phòng Kế toán – tài vụ, Phòng Kế hoạch vật tư, Phòng kế hoạch kỹ thuật thi công, Phòng tổ chức – hành chính và 3 đội xây dựng: ở Vĩnh Linh, Lao Bảo, Đông Hà
Qua đó, chức năng quản lý được chuyên môn hóa, tận dụng được năng lực của cán bộ chuyên viên đầu ngành trong từng lĩnh vực Các quyết định của bộ phận chức năng chỉ có ý nghĩa về mặt hành chính đối với các bộ phận trực tuyến khi đã thông qua người lãnh đạo cao nhất hay người được ủy quyền Các tổ, đội thực hiện nhiệm vụ xây dựng các công trình, hạng mục công trình do Xí nghiệp giao
Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ có trình độ linh hoạt với cơ chế thị trường, bộ máy quản lý của Xí nghiệp được khái quát theo sơ đồ sau:
Ghi chú : Quan hệ trực tuyến