Theo nghĩa rộng: “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THANH HÀ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới thầy giáo - ThS Trịnh Trọng Anh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu và thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin gửi lời biết ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Thăng Long, đặc biệt là các thầy cô khoa kinh tế quản lý đã truyền đạt những kiến thức quý báu là nền tảng giúp em thực hiện đề tài này
Khóa luận hoàn thành còn nhờ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám đốc và cán
bộ nhân viên phòng Tài chính – Kế toán của Công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 03 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thanh Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Thanh Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP 1
1.1 Khái quát về vốn của doanh nghiệp 1
1.1.1 Khái niệm vốn 1
1.1.2 Phân loại vốn 2
1.1.3 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp 6
1.2 Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp 7
1.2.1 Huy động từ vốn chủ sở hữu 7
1.2.2 Huy động nợ 10
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của doanh nghiệp 13
1.3.1 Nhân tố khách quan 13
1.3.2 Nhân tố chủ quan 14
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM 16
2.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 16
2.1.1 Thông tin chung về công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 16
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM 16
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 17
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 19
2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM trong ba năm từ 2010-2012 21
2.2.1 Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận 21
2.2.2 Tình hình tài sản – nguồn vốn 25
2.2.3 Các chỉ tiêu tài chính 31
2.3 Thực trạng công tác huy động vốn tại công ty CPXD HNCPM 34
2.3.1 Cơ cấu nguồn vốn của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 34
2.3.2 Các phương thức huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM 38
2.4 Đánh giá công tác huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM 42
2.4.1 Đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 42
Trang 62.4.2 Đánh giá thực trạng huy động vốn tại công ty CP XD Hà Nội CPM 43
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM 46
3.1 Định hướng phát triển của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 46
3.2 Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 46
3.2.1 Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 46
3.2.2 Bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có 48
3.2.3 Giảm vốn bị chiếm dụng 49
3.2.4 Tăng cường huy động nguồn vốn nội bộ 50
3.2.5 Phát hành trái phiếu 50
3.3 Kiến nghị đến cơ quan chức năng 51 KẾT LUẬN
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Trang
Bảng 2.1 Ngành nghề kinh doanh của công ty 18
Bảng 2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh 22
Bảng 2.3 Bảng cân đối kế toán 26
Bảng 2.4 Khả năng thanh toán của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM 31
Bảng 2.5 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM 32
Bảng 2.6 Khả năng sinh lời của Công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM 33
Bảng 2.7 Tỷ trọng nguồn vốn của công ty 35
Bảng 2.8 Tỷ trọng TSCĐ và tỷ trọng nợ DH của công ty 36
Bảng 2.9 Cơ cấu vốn nợ của công ty 37
Bảng 2.10 Cơ cấu vốn chủ sở hữu của công ty 38
Bảng 2.11 Thuế và các khoản nộp Nhà nước của công ty 41
Bảng 2.12 Tỷ trọng một số khoản phải trả khác trong tổng vốn 42
Bảng 3.1 Vốn bị chiếm dụng của công ty 49
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu vốn nợ ngắn hạn và dài hạn của công ty 36
Biểu đồ 2.3 Vay nợ ngắn hạn và dài hạn của công ty 39
Biểu đồ 2.4 Tỷ trọng tín dụng thương mại trong cơ cấu tổng nguồn vốn 40
Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng phải trả người lao động trong tổng nguồn vốn 41
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM 19
Trang 9
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo quy định của pháp luật, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn thành lập cũng cần
có một số vốn nhất định Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để tiếp tục đứng vững và phát triển, doanh nghiệp cũng cần có vốn Vốn càng lớn thì quy mô và tiềm lực của doanh nghiệp càng lớn Có thể nói, vốn là nhân tố sản xuất quan trọng, quyết định sự hình thành của doanh nghiệp, là điều kiện của sản xuất kinh doanh, là yếu tố cơ bản để doanh nghiệp cạnh tranh và tồn tại Chính vì vậy, huy động vốn trong doanh nghiệp là vấn đề được các nhà quản lý ưu tiên hàng đầu
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt cùng với cơ chế quản lý đổi mới, huy động vốn càng là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm hơn khi nhu cầu vốn mà các doanh nghiệp cần cho phục vụ sản xuất kinh doanh vượt quá khả năng đáp ứng từ nội bộ, bắt buộc phải tiến hành huy động từ các nguồn khác bên ngoài Câu hỏi được các nhà quản lý đặt ra là nên huy động vốn từ những nguồn nào? Kết hợp sử dụng các nguồn với tỷ lệ như thế nào cho phù hợp và mang lại hiệu quả tối ưu?
Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM cũng đang đứng trước vấn đề làm thế nào giải quyết tốt bài toán huy động vốn nhằm giúp công ty phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh, uy tín và thương hiệu trên thị trường Nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác huy động vốn, dưới sự giúp đỡ của Ban giám đốc và cán bộ, nhân viên công ty cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo - ThS Trịnh Trọng Anh, em đã quyết định lựa chọn
đề tài: “Nâng cao công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiệu quả công tác huy động vốn của công
ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so sánh, kết hợp các số liệu tính toán, phân tích và rút ra kết luận
6 Kết cấu khóa luận
Bố cục bài khóa luận tốt nghiệp của em gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác huy động vốn trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng
Hà Nội CPM
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về vốn của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm vốn
Vốn là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, ở các hoàn cảnh kinh tế khác nhau
có nhiều quan niệm về vốn:
Theo nghĩa hẹp: “Vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia”
Theo nghĩa rộng: “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp” Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy
đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi nước ta trình độ quản lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh
Dưới góc độ các yếu tố sản suất, nhà triết học Karl Marx cho rằng: “Vốn (tư bản)
là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất” Định nghĩa của Marx về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công… Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế, Marx chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản suất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh
tế Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Marx
David Begg đưa ra định nghĩa trong cuốn “Kinh tế học” rằng: “Vốn hiện vật là giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác Ngoài ra còn có vốn tài chính Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo” Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành và trạng thái biểu hiện của vốn
Nhà kinh tế học theo trường phái “Tân cổ điển” Paul Samuelson cho rằng: “Vốn
là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho sản xuất của một doanh nghiệp” Định nghĩa này đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp Hạn chế của quan điểm này là mới chỉ bó hẹp vốn trong quá trình sản xuất riêng biệt, là một đầu vào của quá trình sản xuất
Trang 12Một số nhà kinh tế học khác đưa ra quan điểm: “Vốn có nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư để đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai” Định nghĩa này phản ánh về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn
và biểu hiện của nguồn vốn
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa về vốn thoả mãn tất cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng
Trên cơ sở phân tích các quan điểm ở trên, ta có thể khái quát: “Vốn là phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính cá nhân, các doanh nghiệp
bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích”
Như vậy, vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới
các hình thức khác nhau Đó là nguồn nguyên vật liệu, tài sản cố định sản xuất, nhân lực, thông tin, uy tín của doanh nghiệp, được sử dụng cho mục đích sinh lợ
Vốn khác với tiền và các loại hàng hoá tiêu dùng khác Tiền tiêu dùng trong lưu thông dưới hình thức mua bán trao đổi, các vật phẩm tiêu dùng nên không được gọi là vốn Các hàng hoá được sử dụng cho tiêu dùng cũng không phải là vốn Nói cách khác, vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng phải là tiền vận động với mục đích sinh lời
1.1.2 Phân loại vốn
Phân loại vốn giúp doanh nghiệp thấy tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn để từ đó xem xét, lựa chọn hình thức huy động, quản lý hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, tránh rủi ro, nhằm bảo toàn và phát triển vốn Vốn trong doanh nghiệp được phân chia theo nhiều cách khác nhau tùy theo mục đích, giác độ tiếp cận
Phân loại vốn theo nguồn hình thành
Vốn góp ban đầu: Là nguồn vốn hình thành ban đầu do các chủ sở hữu doanh
nghiệp đóng góp, tùy thuộc vào hình thức doanh nghiệp:
Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước: Vốn đầu tư ban đầu của Nhà nước; Doanh nghiệp tư nhân: Vốn đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp;
Trang 13Công ty TNHH, liên doanh: Vốn góp do một thành viên (công ty TNHH 1 thành viên) hoặc nhiều thành viên (công ty TNHH từ hai thành viên trở lên) sáng lập cùng góp;
Công ty Cổ phần: Vốn cổ phần do các cổ đông sáng lập đầu tư;
Công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Vốn do chủ đầu tư nước ngoài bỏ ra Ngoài ra vốn góp ban đầu cũng có thể được kết hợp bởi nhiều chủ sở hữu khác nhau, chẳng hạn như vừa có vốn cấp của Nhà nước vừa có vốn góp tư nhân hay vừa có vốn của chủ đầu tư nước ngoài vừa có chủ đầu tư trong nước cùng đóng góp (công ty liên doanh)
Tỷ lệ và quy mô vốn góp của từng bên theo quy định của pháp luật Một số ngành nghề có quy định về mức vốn góp tối thiểu thì các doanh nghiệp thuộc ngành nghề này muốn thành lập phải có vốn góp ban đầu của chủ sở hữu bằng hoặc lớn hơn vốn tối thiểu đó
Lợi nhuận để lại: Là phần lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã phân bổ hết cho
các khoản cần thiết Điều kiện để có lợi nhuận để lại là doanh nghiệp phải hoạt động
có hiệu quả và có lợi nhuận
Chênh lệch đánh giá lại tài sản: Là phần chênh lệch giữa giá trị đánh giá lại
với giá trị còn lại của tài sản ghi trên sổ sách kế toán Tài sản được đánh giá lại chủ
yếu là tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư dài hạn
Các quỹ của doanh nghiệp: Là các quỹ như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự
phòng tài chính, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi Các quỹ được lập phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp do Hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp quyết định Nguồn hình thành các quỹ này là lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, tỷ lệ trích lập và sử dụng các quỹ theo quy định của pháp luật đối với từng doanh nghiệp
Phát hành cổ phiếu mới: Hình thức này chỉ áp dụng tại Công ty cổ phần để
huy động khối lượng vốn lớn Các cổ phiếu sau khi được phát hành sẽ lưu thông trên thị trường chứng khoán Giá trị nguồn vốn được tính bằng thị giá một cổ phiếu được bán ra lần đầu tiên trên thị trường nhân với số lượng cổ phiếu phát hành Phát hành cổ phiếu ở đây có thể chia ra thành phát hành cổ phiếu thường và phát hành cổ phiếu ưu đãi Tùy vào đặc điểm riêng biệt của mỗi loại cổ phiếu mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn phát hành nguồn vốn phù hợp
Nợ phải trả:
Nợ phải trả là phần vốn không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, được sử dụng với các điều kiện nhất định (thời gian, lãi suất, thế chấp ) Đây là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn
Trang 14lãi sau một thời gian nhất định Chi phí lãi vay là chi phí hợp lý do đó không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Nợ phải trả bao gồm:
Vay ngân hàng: Là nguồn vốn phổ biến nhất đối với tất cả các loại hình
doanh nghiệp Vốn vay ngân hàng được chia theo thời gian vay: vay ngắn hạn (dưới 1 năm), vay trung hạn (1-3 năm) và vay dài hạn (3 năm trở lên) Doanh nghiệp phải trả lãi khoản vay theo hợp đồng đã cam kết trước và chịu sự kiểm soát của ngân hàng đối với quá trình sử dụng phần vốn vay theo đúng mục đích ban đầu
Tín dụng thương mại: Là nguồn vốn doanh nghiệp chiếm dụng của người
bán, hay là khoản tín dụng thương mại người bán cung cấp cho doanh nghiệp, được hình thành trong hoạt động mua trả chậm hay trả góp Tuy nhiên giá trị khoản vay này thường không lớn và chỉ chiếm dụng được trong thời gian ngắn
Phát hành trái phiếu: Trái phiếulà một chứng nhận nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định Khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp cần chú ý đến độ hấp dẫn của trái phiếu dựa trên: uy tín của doanh nghiệp, lãi suất trái phiếu, mệnh giá trái phiếu…
Các khoản nợ khác: Các khoản nợ như: nợ vay tổ chức tín dụng, vay cá nhân
v.v… và các khoản vốn chiếm dụng khác như: phải trả công nhân viên, phải trả phải nộp ngân sách v.v… Khoản nợ này có thể được duy trì và bổ sung hằng năm, nhưng giá trị thường không lớn, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Phân loại vốn theo vai trò và tính chất luân chuyển
là số vốn đầu tư ứng trước vì nếu được sử dụng hiệu quả, số vốn này sẽ không mất đi
mà được thu hồi sau khi doanh nghiệp hoàn thành tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ
Quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố định, ảnh hưởng đến trình độ trang bị kĩ thuật công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Song ngược lại, đặc điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình
sử dụng lại có ảnh hưởng chi phối, quyết định đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn
cố định Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì tài sản cố định của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài Vốn cố định được luân chuyển giá trị
Trang 15dần dần từng phần Khi tham gia vào quá trình sản xuất thì tài sản không bị thay đổi hình dáng hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng của nó cũng bị giảm đi Vốn cố định được tách làm hai phần sau:
Một phần tương ứng với giá trị hao mòn được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản phẩm, hàng hoá được tiêu thụ Quỹ khấu hao này dùng để tái sản xuất tài sản cố định nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp;
Phần còn lại của vốn cố định được “cố định” trong hình thái hiện vật của tài sản cố định ngày càng giảm đi trong khi phần vốn luân chuyển càng tăng lên tương ứng với sự suy giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định Kết thúc quá trình vận động
đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển
Vốn lưu động:
Vốn lưu động là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động hay nguồn vốn mà doanh nghiệp dùng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Tài sản lưu động tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ ), sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt trong giai đoạn lưu thông Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho
Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Vì vậy giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển
Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng
1.1.2.3.
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể phân chia nguồn vốn doanh nghiệp thành hai loại: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
Trang 16Nguồn vốn thường xuyên:
Là nguồn vốn từ một năm trở lên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dành cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn tạm thời:
Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm), gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác Đây là nguồn vốn giúp đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều có một nhu cầu vô cùng quan trọng không thể thiếu chính là nhu cầu vốn Nó là tiền đề cho quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp Bởi thế, vốn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp
Trước tiên, vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp Theo quy
định, một doanh nghiệp muốn có giấy phép sản xuất kinh doanh bắt buộc phải có số vốn ban đầu không nhỏ hơn vốn pháp định – mức vốn tối thiểu pháp luật quy định riêng cho mỗi ngành nghề Không chỉ vậy, trong suốt quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải đảm bảo lượng vốn theo điều kiện mà luật pháp quy định, nếu không doanh nghiệp sẽ bị thu hồi giấy phép hay phải giải thể, phá sản hoặc sáp nhập… Như vậy, có thể xem vốn là một trong những cơ sở quan trọng đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật
Thứ hai, vốn đóng vai trò đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành Xét hàm sản xuất cơ bản một doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh có dạng:
Q= f(K,L,T)
Trong đó: Q: sản lượng đầu ra K: vốn
Là một trong các yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất, bên cạnh yếu tố lao động
và công nghệ, vốn được coi là điều kiện đầu tiên và quyết định của quá trình sản xuất Khi có vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng để thuê lao động và mua công nghệ Đây là tất cả những điều kiện cần có để một doanh nghiệp có thể tiến hành sản xuất kinh doanh thường xuyên, liên tục và duy trì các hoạt động cuả mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra
Trang 17Cuối cùng, vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Khi doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì doanh nghiệp có khả năng chủ
động trong hình thức kinh doanh, thay đổi nâng cấp máy móc, trang thiết bị hiện đại, đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu thị trường, quảng cáo, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh cả về chiều rộng và chiều sâu Điều này mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế như: cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao động… Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp giúp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường
Tóm lại, vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện không thể thiếu để thành lập, tiến hành sản xuất, tái sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Bởi vậy, để đứng vững và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp cần có quy mô vốn đảm bảo khả năng tài chính vững mạnh Trên cơ sở
tự chủ về tài chính, doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, đúng mức đồng vốn bỏ ra, phải làm sao phát huy được tối đa giá trị của đồng vốn bỏ ra Hiệu quả sản xuất kinh doanh
và uy tín của doanh nghiệp sẽ là tiền đề để tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc huy động vốn
1.2 Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp
Huy động vốn là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Để
có được vốn hoạt động thì doanh nghiệp phải thực hiện huy động từ nhiều nguồn khác nhau Mặc dù trên thực tế có nhiều cách phân loại nguồn vốn khác nhau nhưng khóa luận này tập trung vào cách phân loại vốn theo nguồn hình thành để huy động
ra Đối với các công ty cổ phần là do cổ đông đóng góp và mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty, họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ Vốn góp ban đầu này được ghi trong điều lệ công ty do đó còn được gọi là vốn điều lệ Vốn điều lệ có thể tăng thêm trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Vốn điều lệ không nhất thiết phải góp đủ khi quyết định thành lập doanh nghiệp mà có thể góp sau một thời gian Nếu sau thời gian quy định mà không góp đủ thì phải ghi giảm vốn điều
lệ hoặc thay đổi hình thức doanh nghiệp
Trang 18Huy động từ lợi nhuận để lại (RE)
1.2.1.2.
Nguồn vốn góp từ lợi nhuận để lại chính là một phần lợi nhuận dùng để tái đầu
tư Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì sẽ có điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn Lợi nhuận không chia đối với các loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau:
Đối với doanh nghiệp tư nhân: RE = lợi nhuận sau thuế
Đối với công ty cổ phần: RE = lợi nhuận sau thuế sau khi đã chia cổ tức
Việc huy động vốn bằng nguồn lợi nhuận để lại có những lợi ích và hạn chế nhất định Đây là hình thức huy động vốn không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền kiểm soát doanh nghiệp và không phải hoàn trả Phương pháp này giúp doanh nghiệp không phụ thuộc vào thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn, ví dụ như chi phí lãi vay Vì nguồn lợi nhuận để lại thuộc vốn chủ sở hữu nên nó cũng giúp doanh nghiệp gia tăng mức độ tự chủ Tuy nhiên, việc huy động từ lợi nhuận để lại chỉ
áp dụng với các doanh nghiệp lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn, không thể áp dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông Hay nói cách khác, việc doanh nghiệp có được bao nhiêu vốn bằng lợi nhuận để lại còn phụ thuộc vào tỷ lệ chi trả cổ tức cho cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Công thức để tính tỷ lệ lợi nhuận để lại và tỷ lệ chi trả cổ tức được trình bày như dưới đây:
Tỷ lệ lợi nhuận để lại = Mức thu nhập giữ lại
Thu nhập sau thuế
Tỷ lệ chi trả cổ tức = Tổng giá trị cổ tức
Thu nhập sau thuế Như vậy, tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn doanh nghiệp sẽ chậm, dẫn đến giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông dẫn đến thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp bị giảm
Huy động từ phát hành cổ phiếu mới
1.2.1.3.
Hình thức huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu chỉ có ở công ty cổ phần Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích sở hữu hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với vốn của tổ chức phát hành Người nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp gọi là cổ đông, giá trị cổ phiếu người đó nắm giữ gọi là cổ phần và phần thu nhập công ty trả cho cổ đông vào cuối mỗi năm theo cổ phần được gọi là cổ tức Tại Việt Nam, theo luật chứng khoán 2006 và luật sửa đổi bổ sung 2010, doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu phải có các điều kiện sau:
Trang 19Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng kí phát hành
cổ phiếu tối thiểu 10 tỷ đồng Việt Nam tính trên giá trị ghi trên sổ kế toán;
Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng kí phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí chào bán;
Có phương án phát hành và sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội cổ đông thông qua
Một công ty cổ phần có thể phát hành ra công chúng hai loại cổ phiếu, đó là: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông):
Là loại cổ phiếu được phát hành bằng lợi nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác và không có sự ưu tiên đặc biệt nào trong chi trả cổ tức hay thanh
lý tài sản khi doanh nghiệp phá sản Thời hạn của cổ phiếu là vĩnh viễn, cổ tức không
ổn định theo từng năm, phụ thuộc vào lợi nhuận sau thuế và chính sách của công ty
Cổ đông có quyền bỏ phiếu bầu ra người điều hành, được quyền chuyển nhượng quyền
sở hữu cổ phần và là người cuối cùng nhận tài sản khi công ty phá sản
Cổ phiếu ưu đãi:
Là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường Cổ phiếu phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phiếu ưu đãi, trong khi cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông theo quyết định của Đại hội cổ đông Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi có cổ tức xác định trước, tức là dù lợi nhuận sau thuế là bao nhiêu thì cổ đông vẫn nhận được một khoản cổ tức không đổi Người sở hữu cổ phiếu này có quyền thanh toán lãi trước các cổ đông thường Việc chi trả cho cổ đông thường chỉ sau khi đã chi trả hết cho cổ đông năm giữ cổ phiếu ưu đãi, vì thế được ưu tiên chia vốn khi công ty phá sản hoặc hết thời gian hoạt động Cổ phiếu ưu đãi bao gồm: cổ phiếu ưu đãi cổ tức (cổ phiếu ưu đãi tham dự và không tham dự chia phần, cổ phiếu ưu đãi tích lũy và không tích lũy, cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi,…), cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và cổ phiếu ưu đãi biểu quyết
Nhìn chung, giống như lợi nhuận để lại, việc doanh nghiệp huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu cũng giúp gia tăng mức độ tự chủ cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, hình ảnh và uy tín của công ty được tăng lên do được quảng bá rộng rãi Tuy nhiên, do
cổ tức chi trả cho cổ đông không nằm trong chi phí để giảm thuế nên nó không tạo ra
lá chắn thuế thu nhập cho doanh nghiệp Đồng thời, khi phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp phải công khai thông tin và áp dụng chết độ kế toán, kiểm toán và báo cáo theo quy định; quy mô vốn và lượng cổ đông tăng lên làm cho việc quản lý, điều hành phức
Trang 20tạp hơn; cơ cấu quyền sở hữu không ổn định bởi nhu cầu giao dịch cổ phiếu hàng ngày của các cổ động và có nguy cơ bị mất quyền kiểm soát công ty
Đây là phương thức huy động vốn trong cả ngắn, trung và dài hạn Vay nợ ngân hàng giúp doanh nghiệp huy động nguồn vốn lớn nhanh chóng, mức độ rủi ro thấp hơn (ngân hàng sẽ gia hạn nếu đến kỳ thanh toán chưa trả được nợ, sự giúp đỡ của phía Nhà nước…) Tuy nhiên hình thức này cũng có nhược điểm nhất định Đó là các hạn chế về điều kiện tín dụng, quy mô nguồn vốn vay, kiểm soát của ngân hàng và chi phí
Quy mô vốn vay phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn Quy mô này bị hạn chế
do quy định hạn mức tín dụng của ngân hàng, giá trị tài sản thế chấp, tính hiệu quả và khả thi của dự án v.v… Đối với các doanh nghiệp lớn có thể sử dụng uy tín của mình
để vay tín chấp Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi tài sản thế chấp không đủ
có thể nhờ bên thứ ba bảo lãnh, tham gia vào quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa
Trang 21thuế chính là 10% Nếu lãi suất quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp
Huy động từ tín dụng thương mại
1.2.2.2.
Đây là hình thức huy động nợ ngắn hạn Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hóa Là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền Khi doanh nghiệp mua hàng hóa chưa phải trả tiền ngay, mà được nhà cung cấp cho vay Đến thời hạn thỏa thuận, doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn và lãi cho doanh nghiệp bán dưới hình thức tiền tệ
Chi phí của tín dụng thương mại chính là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền ngay Thông thường các nhà cung cấp đưa ra điều khoản khuyến khích người mua trả tiền sớm, ví dụ: “2/10 net 40” tức là người mua hàng sẽ được chiết khấu 2% nếu thanh toán trong vòng 10 ngày, nếu không sẽ phải trả đầy đủ sau 10 ngày và được trả chậm trong vòng 40 ngày Khi đó chi phí của tín dụng thương mại là chi phí khi người mua không thanh toán được trong thời hạn hưởng chiết khấu
Tỷ lệ chi phí = 360 x i
(100-i) x (n-t)
Trong đó: i là tỷ lệ chiết khấu
n là số ngày mua chịu
t là số ngày hưởng chiết khấu
Tỷ lệ chi phí/ năm với điều khoản 2/10 net 40 = 360 x 2 = 24,49%
(100-2) x (40-10) Như vậy, chi phí cho khoản tín dụng này khá cao Đây là nguồn huy động dễ dàng, đơn giản và tiện dụng, không phải chịu sự giám sát của ngân hàng nhưng chỉ chiếm dụng được trong thời gian ngắn, hạn chế về quy mô tín dụng và lãi suất ngầm
ẩn cao hơn so với lãi suất có kỳ hạn tương đương của vốn vay từ ngân hàng
Phát hành trái phiếu
1.2.2.3.
Đây là hình thức vay nợ trong trung và dài hạn Trái phiếu là một công cụ nợ quy định nghĩa vụ chủ thế phát hành (người vay) phải trả cho trái chủ (người cho vay) một khoản tiền nhất định (lãi vay) trong một thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản vốn ban đầu khi đáo hạn Doanh nghiệp chỉ được phát hành một lượng trái phiếu nhất định dưới sự cho phép của Ủy ban chứng khoán Nhà nước Lãi suất trái phiếu thông thường thấp hơn lãi suất cho vay của ngân hàng và lợi tức cổ phiếu thường Khác với cổ
Trang 22phiếu, người sở hữu trái phiếu (trái chủ) không có quyền tham gia và biểu quyết các vấn đề của doanh nghiệp Hằng năm, doanh nghiệp thanh toán lãi theo phương thức trả lãi trước hoặc trả sau theo kỳ hạn sáu tháng hoặc một năm và chỉ trả gốc vào cuối kỳ nên nguồn vốn này rất “cuốn hút” doanh nghiệp Chi phí nợ vay trước thuế được tính như sau:
Tỷ lệ chi phí = D
Po - F
Trong đó: D: Trái tức chia vào cuối năm
Po: Thị giá trái phiếu tại thời điểm phát hành F: Chi phí phát hành
Ví dụ: Công ty phát hành trái phiếu với mệnh giá $100/trái phiếu Lãi suất cố định 10%/năm Giá bán dự kiến trên thị trường là $110/trái phiếu Chi phí phát hành
$1/trái phiếu
Tỷ lệ chi phí = 100*10% = 9,17%
110-1 Một doanh nghiệp có thể phát hành các loại trái phiếu sau:
Trái phiếu có lãi suất cố định: đây là loại trái phiếu phiếu phổ biến nhất Để cạnh
tranh với trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của các công ty khác, doanh nghiệp phải đưa ra một mức lãi suât hấp dẫn Lãi suất cao sẽ thu hút người đầu tư nhưng chi phí trả lãi lớn;
Trái phiếu có lãi suất thả nổi: loại trái phiếu mà doanh nghiệp trả lãi suất thả nổi
theo lãi suất thị trường;
Trái phiếu có thể thu hồi: loại trái phiếu doanh nghiệp được phép thu hồi sớm
hơn thời hạn;
Trái phiếu chuyển đổi: chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành Đây là loại
trái phiếu cho phép trái chủ chuyển đổi sang cổ phiếu phổ thông ở một mức giá xác định trong một thời gian xác định Việc chuyển từ trái phiếu sang cổ phiếu làm giảm vốn nợ, tăng vốn chủ sở hữu, có thể khiến doanh nghiệp khó kiểm soát cấu trúc vốn do quyền lựa chọn chuyển đổi thuộc về trái chủ;
Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: cho phép trái chủ được mua thêm một số
lượng cổ phiếu thường với mức giá xác định trong thời gian xác định;
Trái phiếu có tài sản đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng tài sản của doanh
nghiệp hoặc của bên thứ ba Các tài sản đảm bảo này thường là bất động sản, nhà xưởng, máy móc… Tổng giá trị trái phiếu phát hành không được vượt quá giá trị tài sản đảm bảo;
Trang 23Trái phiếu không có tài sản đảm bảo: đây là loại trái phiếu doanh nghiệp phát
hành khá phổ biến, có lãi suất huy động cao Thường chỉ các doanh nghiệp lớn, có uy tín mới phát hành thành công loại trái phiếu này
Như vậy, trái phiếu, dù không phải vô thời hạn như cổ phiếu nhưng thường có thời gian đáo hạn dài hơn vay ngân hàng, lãi suất cũng thường được cố định trong suốt quá trình vay Đây chính là ưu điểm quan trọng cho những doanh nghiệp cần vốn đầu
tư vào những dự án dài hạn và có dòng tiền ổn định Ngoài ra, vì là công cụ nợ nên các chi phí liên quan đến trái phiếu (lãi suất, chi phí phát hành, bảo hiểm) đều được trừ thuế như chi phí vốn vay ngân hàng Điều này giúp doanh nghiệp có thể giảm bớt gánh nặng về thuế
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của doanh nghiệp
Tùy thuộc vào từng thời điểm mà việc huy động vốn của doanh nghiệp có thể được tiến hành thuận lợi hay không Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp
và khả năng của mình Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo những ngành nghề mà doanh nghiệp
đã lựa chọn và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô Vì vậy, chỉ một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp như: việc quy định trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản chính sách về thuế Nói chung, sự thay đổi cơ chế và chính sách của nhà nước sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp Song nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những thay đổi và thích nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường và có điều kiện để phát triển và mở rộng kinh doanh, phát huy khả năng sáng tạo trong quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Các chính sách, bộ luật Nhà nước ban hành như luật đầu tư, luật xây dựng, luật đất đai, luật thuế, … sẽ là công cụ giúp khuyến khích, đảm bảo thu hút vốn đầu tư vào các dự án, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
Môi trường kinh tế
1.3.1.2.
Hoạt động huy động và sử dụng vốn bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các chỉ tiêu kinh
tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, tình trạng thất nghiệp, lạm phát… Khi huy động vốn, doanh nghiệp cần phân tích kỹ các chỉ tiêu đó và tính đến các rủi ro liên quan như
Trang 24rủi ro về mệnh giá, tỷ suất, hối đoái… Khi tình hình nền kinh tế ổn định, các nhà đầu
tư sẽ mở rộng đầu tư, quan tâm đến nhiều lĩnh vực Từ đó doanh nghiệp dễ dàng kêu gọi đầu tư, vay vốn của các đối tác Ngược lại nếu thị trường diễn biến theo chiều hướng xấu, đầu tư cũng bị thu hẹp, các doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc vay vốn bên ngoài, đồng thời thị trường tiêu thụ hẹp đi cũng làm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp giảm sút đồng nghĩa nguồn vốn nội bộ giảm khiến khả năng huy động vốn bị ảnh hưởng
Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường tài chính và các tổ chức tài chính cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế Hiện nay, các phương thức huy động vốn mới từ phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu ra thị trường nước ngoài hay thu hút đầu tư từ các quỹ đầu tư nước ngoài chưa được các doanh nghiệp xem xét sử dụng một cách phù hợp Do đó, việc huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn, quy mô vốn chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng phát triển của doanh nghiệp Ở nước ta hiện nay thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh, các chính sách công cụ nợ trung và dài hạn còn hạn chế, giá của vốn chưa thực sự biến động theo giá thị trường mà chủ yếu là giá áp đặt Đây là điều hết sức khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện chính sách đầu tư trong trường hợp có vốn nhàn rỗi
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.2.2.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ảnh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, từ đó quyết định khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Đánh giá tình trạng tài chính doanh nghiệp tại thời điểm cần huy động bằng việc tính toán các chỉ căn bản như: khả năng thanh toán, chỉ số nợ, chỉ số hoạt động, chỉ số doanh lợi Đồng thời tính toán lại các chỉ tiêu theo phương án huy động khác nhau Trên cơ sở đó lựa chọn mục tiêu, phương án huy động cụ thể Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp càng thu hút được nhiều nhà
Trang 25đầu tư quan tâm chú ý Trái lại, khi sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu thông thì doanh nghiệp khó có khả năng huy động vốn vì không tạo được niềm tin về khả năng thanh toán đối với những người cho vay
Mối quan hệ của doanh nghiệp với ngân hàng và các tổ chức tài chính 1.3.2.3.
Doanh nghiệp có uy tín và mối quan hệ tốt với các ngân hàng và các tổ chức tài chính thì việc vay vốn sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn như được hưởng ưu tiên trong lãi suất, không cần tài sản thế chấp khi vay vốn… Điều này sẽ giúp giảm thiểu các chi phí trong việc huy động vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng tối đa toàn nguồn lực, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trình độ quản lý của doanh nghiệp
1.3.2.4.
Đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Một bộ máy quản lý tốt có trình độ quản lý cao sẽ giúp cho hoạt động của doanh nghiệp đạt kết quả cao và ngược lại Do đó doanh nghiệp phải nâng cao trình độ quản
lý đặc biệt là đối với cán bộ quản lý tài chính về chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm để đảm bảo an toàn về tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh Từ
đó tạo uy tín trên thị trường cũng như là nền tảng cho công tác huy động vốn
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM 2.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM
2.1.1 Thông tin chung về công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM
Tên tiếng Anh: HANOI CPM CONSTRUCTION CORPORATION
Tên viết tắt: HA NOI CPM CORP
Địa chỉ trụ sở chính: P1106 - Nhà 17T5 - Khu đô thị Trung Hòa Nhân Chính, Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
Địa chỉ giao dịch: VP 8B - Tầng 8 Tòa Nhà Sông Đà, Km 10 Đường Nguyễn Trãi, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM
Công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM (tên gọi cũ là công ty Cổ phần Xây dựng và Tư vấn quản lý dự án Hà Nội) là doanh nghiệp trẻ, kinh doanh độc lập được thành lập ngày 02/10/2004 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103005609
do Sở kế hoạch Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 12/10/2004 Ngày 05/08/2013 công ty chính thức đổi tên thành công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM Trong thời buổi kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để tồn tại và phát triển bền vững là một việc làm khó khăn và là thử thách lớn cho các doanh nghiệp, không ít doanh nghiệp đã phải đóng cửa vì không thể phát triển được Tuy nhiên, công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM không những đã tồn tại mà còn phát huy được thế mạnh của mình, tạo được chỗ đứng vững chắc, thương hiệu uy tín trong lĩnh vực cung cấp, lắp đặt khung nhôm kính, kính tấm lớn, tấm ốp hợp kim nhôm, lan can cầu thang, vách dùng Spider, buồng tắm kính…, tư vấn giám sát công trình xây dựng, tư vấn quản lý
dự án xây dựng, xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh… Với đội ngũ quản
Trang 27lý nhiều kinh nghiệm, các chuyên gia ngành nhôm kính và các cán bộ kỹ sư được đào tạo lâu năm, công ty đang từng bước khẳng định thương hiệu của mình và trở thành đối tác tin cậy và uy tín đối với các chủ đầu tư, nhà tư vấn thiết kế, các đối tác Việt Nam và quốc tế
Từ khi thành lập đến nay, công ty đã không ngừng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, xây dựng và hoàn thiện dần bộ máy tổ chức quản lý; trang bị thêm máy móc, thiết bị trong dây chuyền thi công xây dựng, đảm bảo năng lực và chất lượng thi công công trình Vì vậy công ty đã trúng thầu và được chỉ định thầu nhiều công trình xây dựng Địa bàn hoạt động của công ty rất rộng, rải rác từ các tỉnh miền Bắc như Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang đến các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An… Với mong muốn công ty ngày càng phát triển lớn mạnh, cán bộ nhân viên không ngừng phấn đấu, hoàn thành tốt các chỉ tiêu đề ra, mạnh dạn đưa ra ý kiến cải thiện, khắc phục khó khăn, sáng tạo trong thi công nhằm phát triển công ty
Hiện nay, công ty Cổ phần xây dựng Hà Nội CPM đang là đơn vị cung cấp thi công lắp đặt và nhà phân phối độc quyền sản phẩm nhôm JMA tại Việt Nam Một số công trình tiêu biểu mà công ty đã thi công thực hiện như: khách sạn Mường Thanh –
Hạ Long (hạng mục: kính mặt dựng, tấm ốp, kính tấm lớn); khách sạn Hà Nội Plaza (hạng mục: mái sảnh tấm ốp, mái xuống tầng hầm); trung tâm thương mại Grand Plaza (hạng mục: kính tấm lớn); tòa nhà văn phòng công ty Vinaconex 2 (hạng mục: nhôm kính, vách kính tấm lớn, mái sảnh, lam chắn nắng, tấm ốp nhôm); khách sạn Siwiss Attixs 5 Stars (hạng mục: kính phản quang, tấm ốp nhôm), nhà máy Honda Vĩnh Phúc (hạng mục: vách kính tấm lớn, cửa thủy lực)… cùng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên toàn quốc Một số dự án công ty đã tham gia tư vấn và quản lý như: chung cư Nàng Hương – Hà Đông, Khu đô thị Xa La, trung tâm kinh doanh đồng bộ 3 chức năng Toyota Mỹ Đình, chợ Thái – thành phố Thái Nguyên…
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM
Với nhiều năm kinh nghiệm, công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM là một trong những công ty hàng đầu về lĩnh vực tư vấn, quản lý dự án, thiết kế, cung cấp giải pháp tổng thể và lắp đặt hoàn thiện hệ thống nhôm kính kiến trúc, hệ thống tấm ốp trang trí nội ngoại thất cho các tòa nhà, văn phòng và trụ sở làm việc Từ khi thành lập đến nay, công ty đã mở rộng kinh doanh, đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác Ngành nghề kinh doanh của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM được trình bày trong bảng sau đây:
Trang 28Bảng 2.1 Ngành nghề kinh doanh của công ty STT Tên ngành Mã ngành
1 Kiểm tra và phân tích kỹ thuật: nén tĩnh cọc, PDA, PIT, siêu âm và
2
Hoạt động thiết kế chuyên dụng: thiết kế kiến trúc và kết cấu công
trình công nghiệp (nhà, xưởng sản xuất, nhà kho,…), công trình dân
dụng (nhà ở và công trình công cộng)
7410
3 Hoàn thiện công trình xây dựng: lắp đặt, hoàn thiện và trang trí nội
4 Kinh doanh bất động sản: cho thuê văn phòng, nhà ở, nhà xưởng,
5 Xây dựng công trình công ích: thi công các công trình điện, trạm
6
Gia công cơ khí, xử lý, tráng phủ kim loại: sản xuất, gia công, lắp
đặt các sản phẩm từ gỗ, nhựa, kim loại; sản xuất, gia công, mua bán,
sửa chữa các sản phẩm cơ khí xây dựng; gia công, lắp đặt khung
nhôm kính, tấm ốp trang trí ngoài nhà, lợp mái, hệ thống cách âm,
cách nhiệt, hệ thống kết cấu mái
2592
7 Sản xuất máy khai thác mỏ và xây dựng: mua bán, sản xuất máy
móc, thiết bị, vật tư, vật liệu ngành xây dựng 2824
8
Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác: xây dựng công trình
dân dụng, công nghiêp, giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước, khu du
lịch sinh thái, các công trình văn hóa, thể thao, công trình thương
mại (siêu thị, chợ, khu triển lãm), hạ tầng cơ sở, san lấp mặt bằng
4290
9 Lắp đặt hệ thống xây dựng: thi công chống thấm, sàn công nghiệp 4392
10 Đại lý, môi giới, đấu giá: đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa 4610
12
Hoạt động dịch vụ hỗ trợ kinh doanh: lập dự toán và tổng dự toán
các công trình dân dụng, công nghiệp, cầu , đường bộ, thông tin liên
lạc, hạ tầng kỹ thuật, văn hóa, tôn giáo; lập và đánh giá hồ sơ mời
thầu; tư vấn lập dự án đầu tư, tư vẫn quy hoạch và quản lý các dự án
(không bao gồm tư vấn pháp luật và tài chính); tư vấn thẩm tra thiết
kế trong phạm vi chứng chỉ đã đăng ký kinh doanh; dịch vụ quản lý
nhà chung cư, công trình dân dụng và công nghiệp; xuất nhập khẩu
các mặt hàng công ty kinh doanh; tư vấn giám sát công trình xây
dựng; tư vấn xây dưng không bao gồm dịch vụ thiết kế công trình
8299
(Nguồn: Phòng Kế toán)
Trang 292.1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM
(Nguồn: Phòng Hành chính – Nhân sự)
Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công
ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc quyền của Đại Hội đồng cổ đông Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị: quyết định các chiến lược phát triển công ty; quyết định phương án đầu tư; giải pháp phát triển thị trường; kiến nghị loại cổ phần và cổ phiếu được chào bán; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc và những cán bộ quản lý khác, quyết định
lương và lợi ích khác
Chủ tịch Hội đồng quản trị: Là người lập trình kế hoạch hoạt động của Hội
đồng quản trị, triệu tập và chủ toạ cuộc họp Hội đồng quản trị, tổ chức việc thông qua quyết định của Hội đồng quản trị, giám sát quá trình tổ chức thực hiện các quyết định
của Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc: Là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công
ty, thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh trong công ty; quyết định
Hội Đồng Quản Trị
Tổng Giám Đốc Chủ Tịch HĐQT
Phòng
Kế Toán
Phòng Hành Chính Nhân sự
Phòng Kinh Doanh
Xưởng
Sản Xuất
Đội Thi Công
Ban Quản Lý
Dự Án
Phó Tổng Giám Đốc
Trang 30lương, phụ cấp đối với người lao động trong công ty Tổng giám đốc chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật
về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
Phó tổng giám đốc: Là người quản lý tổ chức và chỉ đạo công tác kinh doanh
của công ty, là người giúp đỡ Tổng giám đốc về giao dịch ký kết hợp đồng với khách
hàng, tuyển dụng lao động và các giao dịch khác khi Tổng giám đốc đi vắng
Ban quản lý dự án: Tìm hiểu, tiếp cận và giao dịch với các ngành, các tổ chức,
cá nhân có kế hoạch đầu tư mới; xây dựng kế hoạch, biện pháp cụ thể trình lên Chủ tịch Hội đồng quản trị duyệt; duy trì quan hệ với các đối tác truyền thống tạo cơ hội có thêm hợp đồng mới để ổn định và gia tăng doanh số; phối hợp với phòng kỹ thuật triển
khai hợp đồng, tổ chức bàn giao thanh lý hợp đồng
Phòng thiết kế: Nhận các công trình từ phòng kinh doanh và tiến hành thiết kế
bản vẽ, bóc tách sơ bộ bản vẽ thi công; cập nhật những thông tin mới về bóc tách dự toán để có thiết kế tiết kiệm nhất; thiết kế bản vẽ đảm bảo hợp lý, đảm bảo tiết kiệm
nguyên vật liệu
Phòng kỹ thuật: Kiểm tra thực tế công trường, kiểm tra bản vẽ thi công; thi
công nhanh gọn, đảm bảo tính kỹ thuật, thẩm mỹ cao; báo cáo Tổng giám đốc khi có
yêu cầu từ chủ đầu tư như thay đổi thiết kế, phát sinh thêm…
Phòng vật tƣ: Cung ứng vật tư kịp thời, đầy đủ cho các công trình; tìm kiếm thị
trường vật tư, những vật tư thay thế, vật tư cùng chức năng có giá thành hạ; báo cáo Tổng giám đốc các thông tin có liên quan tới thị trường giá cả
Phòng kế toán: Căn cứ nhiệm vụ sản xuất lập kế hoạch tài chính của công ty kể
cả kế hoạch đầu tư ngắn hạn và dài hạn; quản lý sử dụng vốn và tài sản công ty chặt chẽ, an toàn và có hiệu quả; hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ công tác kế toán cho các đội công trình; thực hiện đôn đốc thanh toán, đối chiếu công nợ, vay trả trong và ngoài công ty; thực hiện báo cáo tài chính năm, quý, tháng một cách chính xác và đầy đủ,
kịp thời; thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước
Phòng hành chính - nhân sự: Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc bố trí cán
bộ công nhân, đảm bảo cho bộ máy quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật quản lý, tay nghề cho các cán bộ nhân viên; tổ chức công tác bảo vệ trị an công ty, quản lý xe con và sắp xếp bố trí việc đi công tác cho cán bộ trong công ty; bố trí sắp xếp nơi làm việc và trang thiết bị văn
phòng; quản lý con dấu và thực hiện các nhiệm vụ văn thư
Trang 31Phòng kinh doanh: Là bộ phận quan trọng nhất, chịu trách nhiệm về hoạt động
của công ty, bao gồm:
Nghiên cứu thị trường, cập nhật các thông tin về thị trường, giá cả các loại sản phẩm và dịch vụ công ty đang kinh doanh;
Tìm hiểu đối tác kinh doanh và đề xuất các biện pháp để chăm sóc khách hàng duy trì quan hệ với khách hàng hiện tại, phát triển mở rộng khách hàng mới tìm kiếm khách hàng tiềm năng, đề xuất các giải pháp để khuyếch trương hình ảnh của công ty trên thương trường, đề xuất các chính sách thương mại để khuyến khích bán hàng gia tăng doanh số;
Tìm hiểu một số thông tin về đối thủ cạnh tranh;
Xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng tháng hàng năm và các giải pháp cụ thể;
Tiếp nhận, xử lý thực hiện các đơn đặt hàng của các tổ chức;
Tìm hiểu khai thác nguồn hàng đáp ứng nhu cầu của khách, tham gia đàm phán ký kết các hợp đồng kinh tế
Xưởng sản xuất và Đội thi công: Công ty hiện có một phân xưởng gia công với
nhiệm vụ cơ bản là gia công sản phẩm theo thiết kế bản vẽ phục vụ cho đội thi công tại công trình, gia công nguyên vật liệu đảm bảo đúng chất lượng, số lượng, chủng loại,
thẩm mỹ sao cho phù hợp với thiết kế bản vẽ và yêu cầu thực tế tại công trình
2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM trong ba năm từ 2010-2012
Để nắm rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần xây dựng
Hà Nội CPM, chúng ta có thể xem xét một cách tổng quát kết quả kinh doanh của công ty thông qua các báo cáo tài chính trong một vài năm trở lại đây
2.2.1 Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của công ty được phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Các số liệu trên báo cáo cho biết thông tin tổng hợp về kết quả sử dụng vốn, lao động kỹ thuật và kinh nghiệm của công ty Sau đây là báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Cổ phần xây dựng Hà Nội CPM trong
ba năm 2010-2011-2012
Trang 32Bảng 2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh
Đơn vị tính: Đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1 Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ 50.519.863.712 29.113.893.813 46.355.000.373
3 Doanh thu thuần 50.519.863.712 29.113.893.813 45.752.865.433
4 Giá vốn hàng bán 46.784.405.548 24.059.492.098 40.322.761.938
5 Lợi nhuận gộp 3.735.458.164 5.054.401.715 5.430.103.495
6 Doanh thu hoạt động tài chính 14.808.524 20.774.065 10.625.894
7 Chi phí tài chính 929.684.396 1.847.952.749 2.189.644.209 Trong đó: Chi phí lãi vay 819.375.779 1.836.187.426 2.180.416.427
8 Chi phí bán hàng 479.625.530 500.680.033 674.096.725
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 2.417.236.174 2.615.293.833 2.629.529.230
10 Lợi nhuận thuần (76.306.412) 111.249.165 (52.540.775)