Tôi đã lên chuyên đề dạy Toán 3 tiết 48 về giải toán bằng hai phép tính, đưa áp dụng kinh nghiệm này vào bài dạy đã được các bạn đồng nghiệp trong tổ khối và chuyên môn đánh giá xếp loại[r]
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI : GIẢNG DẠY HỌC SINH YẾU VỀ GIẢI TOÁN
CHƯƠNG TRÌNH LỚP 3
………o0o………
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀTÀI :
Chương trình Tiểu học là một chương trình đồng bộ được mở rộng và khắc sâu kiến thức môn toán nói chung và phương pháp giải toán nói riêng Chương trình toán lớp 3 là chương trình chuyển tiếp giữa lớp 1,2 và lớp 3,4 Học sinh được củng cố, mở rộng phép tính cộng, trừ và làm phép nhân, chia Đồng thời rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh : 4 phép tính + - x : trong phạm vi 100 000 và các dạng toán điển hình Trong những điều kiện sống
và học tập như nhau, có học sinh có thể nắm kiến thức toán học rất nhanh chóng
và sâu sắc mà không cần một sự cố gắng đặc biệt nào, trong khi các em khác lại không thể đạt được kết quả như vậy, mặc dù cố gắng rất nhiều, đó chính là các
em học sinh yếu kém về môn toán Vì vậy trong từng tiết học để học sinh yếu kém giải toán đúng quả là khó khăn cả về trả lới lẫn tính toán
Hưởng ứng cuộc vận động “Nói không với tiêu cực, bệnh thành tích trong giáo dục”, để đảm bảo mặt bằng chung về chất lượng học tập được đồng đều và
xoá đi rào cản giúp các em yếu học toán hơn Tôi chọn đề tài “Giảng dạy học sinh yếu về giải toán chương trình lớp 3”.
II/ THỰC TRẠNG VỀ HỌC SINH YẾU KÉM TRONG GIẢI TOÁN :
Các em có nhiều lỗ hổng kiến thức : lên lớp 3 mà đọc còn chậm, nhiều khi còn đánh vần, một số em học đến lớp 2 rồi mà cộng trừ trong phạm vi 10 còn phải bấm ngón tay
Các em tiếp thu kiến thức, hình thành kỹ năng chậm, phương pháp học tập chưa tốt, chưa thuộc lý thuyết đã làm bài tập năng lực tư duy yếu, các em gặp khó khăn khi phải chuyển từ hình thức tư duy, thao tác này sang hình thức
tư day khác.Chẳng hạn khi nghe giáo viên hướng dẫn phân tích một bài toán các
em thường lúng túng không móc nối được hai quá trình phân tích và tổng hợp,
vì thế không biết giải toán phải bắt đầu từ đâu
Kết quả thi chất lượng đầu năm học 2008 – 2009 lớp 3C về môn toán :
III/ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN :
Trang 21/ Điều tra phân loại học sinh yếu toán :
Bước vào nhận lớp công việc đầu tiên là tìm hiểu hoàn cảnh học sinh, lắng nghe, quan sát mức độ tiếp thu của các em, kết hợp với việc chấm chữa bài
để có kế hoạch cho việc giảng dạy
Qua bài làm hằng ngày cũng như kết quả bài thi giữa kỳ 1 tôi nhận thấy mức độ giải toán có lời văn ở lớp như sau :
Tổng số
học
sinh
Giải đúng
Hiểu cách giải, làm đúng phép tính nhưng diễn đạt lời giải sai
Hiểu nhưng không diễn đạt được lời giải, tính toán sai
Giải sai hoàn toàn
Tâm lý các em giải toán còn yếu thường sợ giải loại toán này, bởi các em không biết giải, hay trả lời sai, tính toán không đúng Trách nhiệm của người giáo viên, tôi thường gần gũi, động viên các em “cố gắng lên” chăm chỉ học tập, tích cực làm bài, tự tin vào khả năng của chính mình để suy nghĩ, phán đoán tìm
ra cách giải đúng
Thường xuyên kiểm tra bài làm của các em Chấm chữa bài, sửa tại chỗ cho các em để củng cố kiến thức Nếu các em cố gắng (mặc dù chưa đạt yêu cầu) nhưng tôi vẫn tuyên dương hoặc khen thưởng bằng điểm số để các em phấn khởi học tập, xoá đi ấn tượng sợ giải toán
Trong công tác chủ nhiệm, tôi thường lên kế hoạch “kèm cặp hướng dẫn phương pháp giải toán” cụ thể rõ ràng Chẳng hạn “những ngày chẵn là kèm toán, kèm vào 15 phút đầu giờ Khi làm giáo viên cho các em yếu ngồi riêng ra Qua từng dạng toán đều chốt lại cách giải
Ở nhà yêu cầu các em làm các bài tập vừa giải ở lớp để các em yếu hoặc trung bình nắm vững cách giải (có thể giải đi giải lại) để lần sau gặp lại dạng toán này các em làm được
Những buổi họp phụ huynh yêu cầu cha mẹ phối hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn, nhắc nhở con cái học ở nhà, hoàn thành bài tập
cô giao
Ngoài ra đến lớp tôi thường phân công những em giỏi toán kèm bạn học yếu Tổ chức “đôi bạn cùng tiến” ngay từ đầu năm bằng cách kiểm tra bài làm của bạn Nếu bạn giải sai, hướng dẫn bạn giải lại Khi giao bài về nhà những em yếu không giao nhiều Thỉnh thoảng có những bài toán vui gắn với thực tế giúp các em bớt căng thẳng
Ví dụ : Một bà cụ hái 6 quả bưởi đi chợ bán Đến giữa đường bà gặp
thằng cháu ngoại mừng quá Bà tặng cháu 13 số bưởi đó Hỏi bà đã tặng cháu ngoại bao nhiêu quả bưởi
Trang 32/ Rèn kĩ năng từ khó đến từ kiến thức cũ sang kiến thức mới :
a/ Ở lớp 1 :
Các em giải các bài tập đơn giản chỉ giải bằng một phép tính Tuy nó đơn giản nhưng cũng phải củng cố các em nắm vững thì mới làm được các bài toán ở lớp trên
Ví dụ : An có 10 quyển vở, chị cho An thêm 6 quyển vở nữa Hỏi An có
tất cả mấy quyển vở ?
Nhà em có 16 con gà, số con gà nhiều hơn số con vịt 4 con Hỏi nhà em
có mấy con vịt ?
Đây là các bài toán có dữ kiện cụ thể các em cần suy nghĩ làm tính cộng hoặc trừ là đúng Chú ý dựa vào câu hỏi để trả lời ch đúng
b/ Ở lớp 2 :
Tôi sẽ ôn lại dạng toán 1 và một số dạng toán điển hình ở lớp 2 như : bài toán nhiều hơn, Bài toán ít hơn, … với các số trong phạm vi 1 000
Ví dụ : Bình cân nặng 27 kg, Hải nặng hơn Bình 5 Kg Hỏi Hải cân nặng
bao nhiêu Kg ?
Mỗi chuồng có 5 con thỏ Hỏi 4 chuồng như thế có mấy con thỏ ?
Giúp các em hiểu mối quan hệ giữa các đối tượng với các dữ kiện đơn giản của bài toán Từ đó hình thành tư duy toán cho học sinh, giúp các em phân tích, tổng hợp giải được các dạng toán chính xác
c/ Hình thức rèn luyện :
Học sinh nhận xét dữ kiện, tìm ra cách giải Với cách làm này học sinh mạnh dạn, tự tin vào bản thân
Vai trò người thầy cũng rất quan trọng Muốn các em tiếp thu bài tốt, giáo viên phải nhẹ nhàng khéo léo, tạo được không khí lớp đầm ấm, vui vẻ để các em có sự cởi mở, chia sẻ và phát huy tối đa khả năng của mình Lời phát biểu của các em dù đúng hay sai giáo viên cũng phải có lời nhận xét tế nhị hoặc động viên hợp lí Nếu các em phát biểu sai, giáo viên động viên “gần đúng rồi,
em cần suy nghĩ thêm nữa thì sẽ đúng hơn … “Giúp các em suy nghĩ làm bằng được chứ không nên nói “sai rồi” hoặc “không đúng” làm mất hứng của học sinh, ức chế học sinh tự ti, chán học
Bước này cũng là bước quan trọng giúp học sinh không sợ giải toán, thi nhau làm để khẳng định mình, từ đó có kĩ năng giải toán vững chắc với lời giải thông thường ở lớp 1, 2, …
3/ Định hướng cho học sinh giải được các bài tập có dữ liệu cụ thể sang giải các dạng toán điển hình của lớp 3.
Đối với các bài toán giải đều yêu cầu đọc kĩ đề, suy nghĩ từng cụm từ trong bài toán, cho biết những gì và hỏi gì ?
Trang 4Ví dụ : Lan cân nặng 30 kg Mai cân nặng hơn Lan 4 kg Hỏi :
a/ Bạn Mai cân nặng bao nhiêu kg ?
b/ Cả hai bạn cân nặng bao nhiêu kg ?
Giáo viên gợi ý : Bài toán bày có hai câu hỏi thì phải giải tương ứng với
yêu cầu từng câu hỏi, mỗi câu hỏi là một đáp số
Giải :
Bạn Mai cân nặng với số kg là :
30 + 4 = 34 (kg)
Số kg cả hai bạn cân nặng là :
30 + 34 = 64 (kg)
Đáp số : a/ 34 kg
Với các yêu cầu giải bài toán thông thường :
+ Nhiều hơn : làm tính cộng
+ Nhiều gấp một số lần : làm tính nhân
+ Kém một số lần : làm tính chia
Sau khi rèn luyện một số bài toán điển hình, để phát huy tư duy học sinh Tôi nâng cao lên một bước bằng cách thông qua bài toán “gốc” có dạng trên nâng cao tư duy lên một bước với những dữ kiện trên, cách giải lại làm tính ngược lại
+ Có ít hơn : làm tính cộng
+ Nhiều hơn : làm tính trừ
+ Có từ gấp : làm tính chia
Ví dụ : Bình có 24 nhãn vở Bình có ít hơn Hoa 3 cái Hỏi cả hai bạn có
bao nhiêu nhãn vở ?
Giải :
Số nhãn vở của Hoa có là :
24 + 3 = 27 (cái)
Số nhãn vở của hai bạn :
24 + 27 = 51 (cái)
Đáp số : 51 cái
Trang 5Hoặc : lớp 2A trồng được 21 cây hoa Lớp 3A trồng được gấp 3 lần số
cây lớp 2A Hỏi cả hai lớp trồng được bao nhiêu cây ?
Giải :
Số cây lớp 2A trồng được :
21 : 3 = 7 (cây)
Số cây cả hai lớp trồng được :
21 + 7 = 28 (cây)
Đáp số : 28 cây Với cách làm này các em được nâng trình độ tư duy lên một bước Từ đó biết chọn cách giải đúng, chính xác và hình thành được kỹ năng giải toán có lời văn rõ ràng
4/ Từ tư duy đúng, tìm ra cách giải đúng, giúp các em trình bày bài giải đúng.
Hợp lí về lời giải, về phép tính, cách ghi tên đơn vị và đáp số để hoàn thiện bài toán
Bước này tuy đơn giản nhưng tương đối khó đối với học sinh Đó là lời văn ngắn gọn, chính xác, đúng nội dung bài để trả lời (phép tính tìm gì ?) theo thứ tự, lời giải - phép tính - lời giải - phép tính - đáp số
Ví dụ : Có 40 kg gạo đựng đều vào 8 bao Hỏi 15 kg gạo đựng trong mấy
bao như thế ?
Đối với học sinh yếu, trung bình thì giáo viên phải đưa ra một số câu hỏi gợi ý để các em suy đoán lựa chọn cách giải đúng
Trước tiên phải yêu cầu học sinh toám tắt bài toán
Tóm tắt :
Giải :
Số gạo một bao cân nặng :
40 : 8 = 5 (kg)
Số bao để đựng hết 15 kg gạo :
15 : 5 = 3 (bao)
Đáp số : 3 bao Sau khi học sinh giải xong Giáo viên thường hỏi : em nào có câu lời giải khác ?
Trang 6Khuyến khích học sinh bình luận cách giải của bạn tự rút kinh nghiệm hoàn chỉnh cách giải của mình
Đây là bài tập liên quan đến rút về đơn vị giải bằng hai phép tính chia, tên đơn vị của hai phép tính khác nhau Phép tính trên có đơn vị của đại lượng 1 phép tính dưới có tên đơn vị đại lượng 2 (đại lượng phải đi tìm chính là đơn vị bài toán)
5 / Rèn kỹ năng giải toán bằng phương pháp trực quan :
Việc giải toán đã khó nay gặp những bài tập với những con số lớn (chục nghìn) các em càng thấy hoang mang Để giúp các em, bước đầu tôi động viên các em đọc đi đọc lại đề bài toán, suy nghĩ bài toán cho biết gì ? hỏi gì ? có thể cho học sinh tóm tắt và suy nghĩ giải
Nếu giải không được, tôi bắt đầu thay bài tập đó bằng một bài toán đơn giản (nhưng không làm thay đổi biến dạng nội dung) và làm theo vật thật để minh hoạ Từ đó học sinh hiểu và lần ra cách giải
Ví dụ : Một kho muối có 4 720 kg Lần đầu chuyển đi 17 000 kg, lần sau
chuyển đi 2 000 kg Hỏi trong kho còn lại bao nhiêu kg muối ?
- Tôi sẽ chuyển thành bài toán : Cô có 6 viên phấn, lần đầu cô cho bạn A
2 viên, lần sau cô cho bạn B 3 viên Hỏi cô còn lại mấy viên phấn (vừa nêu bài toán vừa dùng vật thật minh hoạ)
Học sinh sẽ tóm tắt :
Giải :
Số muối hai lần chuyển đi :
1 700 + 2 000 = 3 700 (kg)
Số muối trong kho còn lại :
4 720 - 3 700 = 1 020 (kg)
Đáp số : 1 020 kg
Em nào còn có cách giải khác ? Rồi gọi học sinh lên bảng giải
6/ Tìm cách giaỉ đúng chưa đủ, giáo viên còn giúp học sinh tìm nhiều cách giải để tìm cách hợp lí nhất, ngắn gọn nhất, phát huy trí lực học sinh, tạo điều kiện cho tư duy toán phát triển :
4 720 kg
Trang 7Bước này đối với học sinh yếu, trung bình giải toán là khó khăn Song người giáo viên phải hướng dẫn gợi mở giúp học sinh thể hiện được khả năng giải toán của mình là cần thiết
Ví dụ : Hà cắt được 12 lá cờ Vy cắt được gấp đôi số cờ của Hà Hỏi cả
hai bạn cắt được bao nhiêu lá cờ ?
- Việc đầu tiên là đọc kỹ đề toán
- Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng
- Tìm ra cách giải đúng
Tóm tắt :
Hà :
Vy :
Giải :
Số lá cờ Vy cắt được :
12 x 2 = 24 (lá cờ)
Số lá cờ cả hai bạn cắt được :
12 + 24 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
- Các em sẽ giải như sau :
Số lá cờ hai bạn cắt đuợc là :
12 x 2 + 12 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu : Thực ra cách này cũng chính là cách 1 giải gộp 2 phép tính trên mà thôi Sau đó giáo viên gợi ý quan sát sơ đồ tìm cách giải khác
- Số lá cờ của Hà biểu thị bằng mấy đoạn thẳng ?
- Số lá cờ của Vy được biểu thị bằng mấy đoạn thẳng ?
- Số lá cờ của hai bạn biểu thị bằng mấy đoạn thẳng ?
- Vậy nhìn vào sơ đồ em hãy tìm ra cách giải
Giải :
Số đoạn thẳng của Hà và Vy cắt được là :
1 + 2 = 3 (đoạn thẳng )
}
12 lá cờ
lá cờ ?
lá cờ ?
Trang 8Số lá cờ của hai bạn Hà và Vy cắt được :
12 x 3 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ Các em phải chú ý tên đơn vị của mỗi phép tính Từ đó học sinh tìm được cách giải toán triệt để bằng nhiều cách giải khác nhau Học sinh nắm chắc đề toán, hiểu kỹ năng để tìm câu lời giải chính xác và tìm nhiều cách giải khác nhau, phát triển tư duy toàn diện
7/ Rèn luyện kỹ năng tính toán đúng giúp học sinh giải toán đúng :
Trong quá trình giải toán nhiều em biết cách giải nhưng tính toán sai dẫn đến kết quả bài làm sai Do :
+ Các em không thuộc bảng nhân chia, không thuộc quy tắc
+ Thiếu cẩn thận, làm sơ sài, làm ẩu
Vậy để làm tốt khâu này, tôi thường tổ chức trò chơi hái hoa, thi đố nhau
ở tiết sinh hoạt nhằm kiểm tra bảng nhân, chia hoặc công thức và tất nhiên tất cả học sinh trong lớp đều thuộc
Trong cách làm bài, tôi cũng hay chú trọng đến cách trình bày, cách viết các chữ số và thường nhắc nhở nếu với số quá lớn ta nên đặt cột dọc để tính kết quả Nên làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả đúng mới viết vào bài làm Cần rèn luyện kỹ năng tính nhẩm, tính viết trong quá trình giải toán để hoàn thiện bài giải
IV/ HIỆU QUẢ :
Trong năm học vừa qua tôi đã thực hiện những biện pháp này giúp học sinh yếu, trung bình về giải toán, các em đã tiến bộ rõ rệt trong giải toán Từ chỗ
sợ học toán, ngại giải toán nay các em không còn sợ học toán nữa mà tự tin, vui
vẻ, mạnh dạn khẳng định khả năng chính mình trước lớp
Đến nay, các em yếu toán ở lớp tôi có khả năng phân tích, tổng hợp để tìm ra cách giải và có nhiều tiến bộ đáng kể
* Kết quả cuối năm (Cuối tháng 4/2009) lớp 3C về môn toán:
* Riêng phần giải toán có lời văn :
Sĩ số Giải đúng Viết phép tính đúng, lời giải sai Giải sai
Trang 9Với những con số trên đã thể hiện phần nào áp dụng kinh nghiệm của tôi trong việc bồi dưỡng học sinh yếu toán Bên cạnh sự sáng tạo tìm tòi trong giảng dạy và tính cần cù chịu khó, tôi tin chắc rằng đến cuối năm học không còn em nào yếu toán nữa
V/ KHẢ NĂNG PHỔ BIẾN :
Tôi đã lên chuyên đề dạy Toán 3 tiết 48 về giải toán bằng hai phép tính, đưa áp dụng kinh nghiệm này vào bài dạy đã được các bạn đồng nghiệp trong tổ khối và chuyên môn đánh giá xếp loại tốt đồng thời được cả tổ áp dụng Kết quả: Học sinh yếu, kém nằm trong diện có khả năng lưu ban tiến bộ rõ rệt
Kết quả theo dõi từ đầu năm đến nay đối với học sinh có khả năng lưu ban trong khối 3 về môn Toán :
Tổng số HS Điểm KT lần
1
Điểm KT lần
1
Điểm KT lần
1
Ghi chú
TB trở lên
trở lên
trở lên
Yếu
Hàm Mỹ, ngày 22 tháng 4 năm 2009
Người viết
Đặng Thị Thuý
Trang 10XÉT DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CÁC CẤP :
Ý kiến của Hội đồng Khoa học trường Tiểu học Hàm Mỹ 1 :
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Ý kiến của Hội đồng Khoa học Phòng Giáo dục & Đào tạo Hàm Thuận Nam ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……… ………