1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người hoa ở huyện định quán, tỉnh đồng nai ;

95 200 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Về Việc Sử Dụng Ngôn Ngữ Của Cộng Đồng Người Hoa Ở Huyện Định Quán, Tỉnh Đồng Nai
Tác giả Phạm Tố Uyên, Tan Quế Doanh, Trần Phối Hoa, Trần Bảo Nghi, Phan Tuyết Quân
Người hướng dẫn TS. Hồ Minh Quang
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

37 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI TRONG MỐI QUAN HỆ TIẾP XÚC VỚI TIẾNG VIỆT .... Chính vì những lý do trên nên nhóm c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP

TRƯỜNG NĂM 2018

CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA

Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Giảng viên hướng dẫn: TS Hồ Minh Quang

Nhóm sinh viên thực hiện: Phạm Tố Uyên (chủ nhiệm)

Tan Quế Doanh

Trang 2

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

TÌM HIỂU VỀ VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ

CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA

Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

Mã số công trình: ………

(Phần này do BTC Giải thưởng ghi)

Trang 3

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

TÌM HIỂU VỀ VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ

CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA

Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

Mã số công trình: ………

(Phần này do BTC Giải thưởng ghi)

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục tiêu của đề tài 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vị nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

6 Kết cấu của đề tài 5

PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI 11

1.1 Dân cư 11

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 12

1.3 Đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 15

1.4 Đời sống văn hóa của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 17

TIỂU KẾT 19

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI 20

2.1 Các ngôn ngữ được sử dụng trong đời sống của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 20

2.2 Các yếu tố chi phối việc lựa chọn ngôn ngữ 34

TIỂU KẾT 37

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI TRONG MỐI QUAN HỆ TIẾP XÚC VỚI TIẾNG VIỆT 38

3.1 Việc bảo tồn ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 38

Trang 5

3.2 Việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán,

tỉnh Đồng Nai trong xu thế Việt hóa 47

TIỂU KẾT 49

PHẦN 4: KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 1

1 Danh sách người được phỏng vấn 1

2 Danh sách câu hỏi phỏng vấn 4

3 Biên bản gỡ băng phỏng vấn 6

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu 1 Tỉ lệ sử dụng tiếng Việt trong gia đình của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo độ tuổi 26Biểu 2 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày của thế hệ trẻ (dưới 36 tuổi) người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo đối tượng giao tiếp 30Biểu 3 Tần suất sử dụng của các ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày của nhóm người Hoa cao niên (trên 60 tuổi) ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo đối tượng giao tiếp 31 Biểu 4 Tình hình phụ nữ Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai kết hôn với người nước ngoài từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2007 ở những xã đông người Hoa 42Biểu 5 Mục đích học và cho con học tiếng Hoa Phổ thông của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 42Biểu 6 Khả năng sử dụng tiếng Hoa Phổ thông của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo độ tuổi và năng lực 43Biểu 5 Tình hình học tiếng Hoa Phổ thông của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo giới tính 44

Trang 7

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1 Tiêu đang được phơi 16Hình 2 Từ đường họ Thẩm xã Phú Vinh 18Hình 3 Tờ sớ dùng trong lễ cúng sao 33

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Di cư là hiện tượng phổ biến trong quá trình phát triển của lịch sử loài người Khi tình hình trong nước xảy ra biến động, người dân thường hay di cư sang các khu vực, quốc gia có điều kiện yên ổn hơn để sinh sống Người dân Nam Trung Hoa cũng không nằm ngoài quy luật này Họ di cư sang Việt Nam vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là nguyên nhân kinh tế và chính trị Khi sang Việt Nam, họ cư trú tại nhiều vùng lãnh thổ trên khắp đất nước, nhưng tập trung chủ yếu ở khu vực Nam Bộ, đông nhất là tại Thành phố Hồ Chí Minh và kế tiếp là ở Đồng Nai Ở Đồng Nai, người Hoa có dân số đông thứ hai chỉ sau người Kinh Huyện Định Quán chính là nơi có đông người Hoa cư trú nhất tỉnh Cũng như các cộng đồng người Hoa khác trên thế giới, cộng đồng người Hoa

ở Việt Nam nói chung và cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán nói riêng nhận được nhiều sự chú ý từ các nhà nghiên cứu bởi tính cố kết cộng đồng rất cao Bên cạnh việc ổn định cuộc sống và phát triển kinh tế, họ hòa nhập với cộng đồng người Việt nhưng vẫn không làm mất đi những nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đặc biệt là tiếng nói của tổ tiên vẫn được họ duy trì qua bao thế hệ

Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) là sự thể hiện trình độ phát triển văn hoá và

tư duy của từng dân tộc Ngôn ngữ lưu giữ quá khứ, lịch sử, truyền thống, phản ảnh quan niệm về vũ trụ, cái nhìn về cuộc sống và tương lai mà từng dân tộc đã đúc kết và xây dựng nên Vậy nên, những người Hoa di cư vẫn luôn cố gắng duy trì sử dụng ngôn ngữ cộng đồng mình như một cách gìn giữ nét văn hóa truyền thống của dân tộc

Bên cạnh đó, với tư cách là sinh viên khoa Đông phương học - khoa chuyên nghiên cứu về khu vực học, đất nước học; cụ thể là tìm hiểu về một phương Đông huyền bí với những nền văn minh lâu đời nhất của nhân loại, trong đó có nền văn minh Trung Hoa với bề dày lịch sử hàng nghìn năm, nổi bật là sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ, tác động đến nhiều nền văn minh khác trong khu vực, chúng tôi cho rằng việc tìm hiểu về tình hình sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa mà

Trang 10

sâu hơn là cách mà họ lưu giữ ngôn ngữ dân tộc chính là cánh cửa nhanh nhất để tiếp cận với nền văn hóa này

Chính vì những lý do trên nên nhóm chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài

nghiên cứu về “Tìm hiểu về việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở

huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai” nhằm tìm hiểu kĩ hơn về tình hình sử dụng

ngôn ngữ cũng như những thay đổi trong việc sử dụng này của người Hoa tại khu vực huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

2 Mục tiêu của đề tài

Nhóm chúng tôi nghiên cứu về vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng nói trong và ngoài gia đình của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai để làm rõ các vấn đề sau:

- Việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa tại địa phương hiện nay

ra sao?

- Việc sử dụng ngôn ngữ của họ đã thay đổi như thế nào trong quá trình hòa nhập với cộng đồng bản địa?

- Đăc điểm và các yếu tố chi phối việc sử dụng ngôn ngữ là gì?

- Việc bảo tồn ngôn ngữ hiện nay có đạt hiệu quả không và họ đã làm gì để bảo tồn ngôn ngữ của dân tộc mình?

Thông qua đó, nhóm chúng tôi mong muốn có thể góp phần đưa ra một số kiến nghị cho việc lưu giữ, bảo tồn ngôn ngữ cũng như những nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Hoa tại địa phương

Thêm vào đó, đề tài nghiên cứu còn là cơ hội giúp nhóm rèn luyện kỹ năng tổng hợp, phân tích, ứng dụng từ lý thuyết đã học, trau dồi và bổ sung thêm kiến thức thực tế cũng như tích lũy được những kinh nghiệm hữu ích cho quá trình học tập về sau

3 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Tìm hiểu về hiện trạng sử dụng ngôn ngữ tiếng nói trong và ngoài gia đình của cộng đồng người Hoa ở hai xã Phú Lợi, Phú Vinh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai với khách thể nghiên cứu là cộng đồng người Hoa ở xã Phú Lợi, xã Phú Vinh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, trong đó chủ yếu là người Hoa ở xã Phú Lợi

Trong đề tài này, “người Hoa” được hiểu là “những người gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán hoá di cư sang Việt Nam và con cháu của họ được sinh ra, lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hoá, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa”1

Về không gian, chúng tôi tập trung khảo sát tại hai xã Phú Lợi và Phú Vinh của huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, đặc biệt là xã Phú Lợi

Về thời gian, chúng tôi nghiên cứu tình hình sử dụng ngôn ngữ tiếng nói của cộng đồng người Hoa nơi đây từ khi định cư cho đến nay, chủ yếu là giai đoạn

1

Theo Chỉ thị của Ban Bí thư số 62-CT/TW (8/11/1995) 2007 Về tăng cường công tác người Hoa trong tình

hình mới, trong Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập - Tập 54 (1995) tr 610-618 Hà nội: nhà

xuất bản Chính trị quốc gia

Trang 12

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, bài nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về đặc điểm, thực trạng và quá trình chuyển đổi trong sử dụng ngôn ngữ tiếng nói dân tộc của cộng đồng người Hoa tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và là nguồn tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu có quan tâm, góp phần vào việc nghiên cứu ngôn ngữ của người Hoa

6 Kết cấu của đề tài

Bài nghiên cứu của nhóm chúng tôi gồm ba phần chính:

Chương 1: Tổng quan về cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Ở chương mở đầu, nhóm trình bày các thông tin cơ bản về cộng đồng người Hoa ở đây bao gồm quá trình hình thành và phát triển, tình hình kinh tế - xã hội

và đời sống văn hóa của họ Những thông tin được cung cấp ở chương này sẽ là nền tảng góp phần giải thích cho những vấn đề mà nhóm đề cập đến trong các chương sau

Chương 2: Đặc điểm việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Từ những thông tin cơ bản được đề cập ở chương 1 kết hợp với thông tin thu được từ khảo sát thực tế, chương 2 của đề tài trình bày các đặc điểm trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng nói của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Thực trạng việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa

ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai trong mối quan hệ tiếp xúc với tiếng Việt

Từ kết quả nghiên cứu được nêu ở chương 2, nhóm đi sâu vào việc tìm hiểu thực trạng sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa địa phương mà cụ thể là những thay đổi trong việc sử dụng ngôn ngữ cũng như những yếu tố đã góp phần tạo nên sự thay đổi này

Trang 13

PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Người Hoa từ lâu được biết đến như một cộng đồng có tính cố kết dân tộc cao với bề dày văn hóa lâu đời Sau nhiều lần di cư, thay đổi nơi sinh sống, họ vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc của mình Ở Việt Nam, người Hoa cư trú tại nhiều vùng trên lãnh thổ đất nước, hòa nhập với cộng đồng người Việt nhưng vẫn không mất đi những nét văn hóa đặc sắc riêng của mình Vì vậy đã có không ít các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Việt Nam

Trong các công trình nghiên cứu người Hoa ở Việt Nam, không thể không

kế đến tác phẩm “Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam” của Châu Hải

Tác phẩm tập trung nghiên cứu quá trình hình thành các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam và vai trò của họ qua các thời kỳ Bên cạnh đó, bài viết còn trình bày các loại hình liên kết và các hình thức sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa của người Hoa ở Việt Nam nói riêng và ở Đông Nam Á nói chung

Trong tác phẩm“Người Hoa ở Nam Bộ” của Phan An, tác giả đã cung cấp

những thông tin cơ bản về người Hoa ở Nam Bộ nói chung và người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Tác phẩm chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu đời sống, tín ngưỡng, tôn giáo,… của cộng đồng người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh; bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập sơ lược đến cộng đồng người Hoa ở Sóc Trăng, nhưng vẫn chưa đề cập nhiều đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở khu vực này

Trong các công trình nghiên cứu về cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai, tiêu

biểu nhất có thể kể đến công trình “Người Hoa ở Đồng Nai” Công trình trình bày

toàn diện về mọi mặt từ quá trình hình thành và phát triển cho đến kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa,… của cộng đồng người Hoa tại đây, trong đó có viết khá kĩ về cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, nơi tập trung người Hoa đông nhất tỉnh2

Tuy nhiên, tác phẩm vẫn chưa đề cập đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai, đặc biệt là cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

2

Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Nai 2009 Người Hoa ở Đồng Nai Biểu 1.9 tr 62 Đồng Nai: nhà xuất bản Đồng

Nai

Trang 14

Về đề tài việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa, đầu tiên phải kể đến tác giả Hoàng Quốc, người đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở các vùng cư trú tiêu biểu như:

Năm 2009, luận án Tiến sĩ “Những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện

tượng song ngữ tại An Giang (trên cứ liệu cảnh huống song ngữ Việt – Hoa)”đã

nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của cộng đồng người Hoa ở An Giang, cũng như đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của học sinh người Hoa và thái độ ngôn ngữ của học sinh và phụ huynh đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà trường tại nơi đây Từ đó, tác giả đưa ra kết luận trạng thái song ngữ Việt – Hoa của người Hoa ở An Giang đang yếu dần, nổi lên là trạng thái song ngữ bất bình đẳng Việt – Hoa mà trong đó tiếng Việt chiếm ưu thế

Năm 2013, bài viết “Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người Hoa ở Long

có cái nhìn tương đối tổng quan về năng lực ngôn ngữ, đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người Hoa nơi đây trong giao tiếp, từ đó chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ngôn ngữ và lý do lựa chọn sử dụng ngôn ngữ trong phạm vi giao tiếp hiện nay của người Hoa ở Long Xuyên, An Giang

Năm 2014, bài viết “Sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp: nghiên cứu

chủ yếu tập trung trình bày vấn đề sự lựa chọn ngôn ngữ trên cơ sở khảo sát năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa nơi đây

Năm 2014, bài viết“Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người Hoa ở thành phố

Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu” 5 , tương tự như bài viết “Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ

của người Hoa ở Long Xuyên, An Giang”, tác giá cũng thông qua khảo sát năng

lực sử dụng ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ trong và ngoài gia đình, từ đó rút ra kết luận về đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa nơi đây

Năm 2015, bài viết “Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của các

Hoàng, Quốc 2014 „Sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp: nghiên cứu trường hợp người Hoa ở huyện Vĩnh

Châu, tỉnh Sóc Trăng‟ Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (5): tr 71-78

5

Hoàng, Quốc 2014 „Đặc điểm sử dụng ngôn của người Hoa ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu‟ Tạp chí

Ngôn ngữ và Đời sống (8): tr 1-9

Trang 15

dân tộc thiểu số tại đồng bằng sông Cửu Long”6

đã chỉ ra được năng lực ngôn ngữ cũng như tình hình sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở đây trong gia đình, ngoài xã hội,… căn cứ trên khảo sát thực hiện tại các tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang Từ đó bài viết đưa ra kết luận về những đặc điểm trong việc sử dụng ngôn ngữ của của cộng đồng người Hoa tại đồng bằng sông Cửu Long, trong đó nổi bật là hiện tượng đa ngữ Nhưng cộng đồng người Hoa không là đối tượng nghiên cứu chính và duy nhất của bài viết, nên tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Hoa nơi đây chủ yếu được mô tả trong bức tranh tổng thể với các dân tộc khác trong khu vực như Kinh, Khmer, Chăm,… mà chưa thể đi sâu vào trình bày việc giao tiếp nội cộng đồng hay cụ thể hơn là giữa các tiểu cộng đồng người Hoa có hệ phương ngữ khác nhau

Trên cơ sở các nghiên cứu đã thực hiện, năm 2015, tác giả công bố tác phẩm

chuyên khảo “Cảnh huống song ngữ Việt – Hoa tại đồng bằng sông Cửu Long” 7

Tác phẩm đã khái quát nên bức tranh giao tiếp ngôn ngữ của người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay, là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho các đề tài nghiên cứu ngôn ngữ người Hoa về sau

Về tình hình sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở Thành phố Hồ

Chí Minh, hiện có luận văn Thạc sĩ “Giao tiếp song ngữ Hoa - Việt của người

Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh (trên ngữ liệu một số ngữ cảnh giao tiếp)” của

tác giả Nguyễn Thanh Xuân Luận văn đã khảo sát tình hình giao tiếp song ngữ Hoa – Việt của cộng đồng người Hoa nơi đây qua bốn lĩnh vực giao tiếp cơ bản (gia đình, hàng xóm; kinh doanh, buôn bán; hành chính và giáo dục) và hai góc độ (tình huống giao tiếp và đối tượng giao tiếp) Từ đó, chỉ ra được đặc điểm lựa chọn ngôn ngữ, khái quát được tình hình sử dụng ngôn ngữ trong bốn lĩnh vực đã khảo sát cũng như vị thế của từng ngôn ngữ trong từng lĩnh vực giao tiếp, và đặc biệt là chỉ ra cộng đồng người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề Việt hóa, khi thế hệ trẻ đang chuyển dần từ trạng thái song ngữ Hoa – Việt sang trạng thái đơn ngữ tiếng Việt

6

Hoàng, Quốc 2015 „Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của các dân tộc thiểu số tại đồng bằng sông

Cửu Long‟ Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (1): tr 60-68

7

Hoàng, Quốc 2015 Cảnh huống song ngữ Việt – Hoa tại đồng bằng sông Cửu Long Hà nội: nhà xuất bản

Khoa học Xã hội.

Trang 16

Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường “Tìm

hiểu tình hình bảo tồn ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng” của nhóm sinh viên Lê Thị Liên Châu, Trần Chánh Song Anh, Lương

Ngọc Oanh, La Bích Thủy đã có đề cập đến tình hình sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở địa phương nàytrong mục 2 chương 2 Thông qua khảo sát, nhóm tác giả đã đi đến kết luận rằng mức độ sử dụng tiếng Hoa có sự phân hóa theo độ tuổi (thế hệ) và cộng đồng người Hoa nơi đây đang phải đối mặt với sự suy thoái về năng lực ngôn ngữ Hoa, đặc biệt là năng lực phương ngữ riêng kèm theo là sự thu hẹp về không gian sử dụng

Tuy cùng một dân tộc nhưng cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và người Hoa ở các khu vực khác trong việc sử dụng ngôn ngữ lại có những điểm rất khác nhau Bởi tính đặc thù và phức tạp trong việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nên đây là một vấn đề cần được nghiên cứu kĩ Chính vì những lý do trên nên nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề tài để giải quyết những vấn đề mà các học giả đi trước còn bỏ ngỏ

Trang 17

PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã áp dụng những phương pháp sau:

Phương pháp tổng hợp tài liệu: phương pháp này được nhóm nghiên cứu

chúng tôi áp dụng cho cả ba chương, chủ yếu là ở chương 1, được thực hiện qua thao tác tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau như nguồn sách từ thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện địa phương, nguồn từ sách báo, nguồn trên mạng, cũng như những kiến thức nền tảng được cung cấp bởi giáo viên hướng dẫn

để có cái nhìn khái quát về cộng đồng người Hoa nơi đây, đồng thời tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước

Phương pháp điều tra phỏng vấn sâu: phương pháp này được nhóm chúng

tôi áp dụng cho chương 1, 2 và 3 nhằm đảm bảo giá trị thực tiễn của đề tài nghiên cứu, cụ thể là nhóm đã tiến hành phỏng vấn người Hoa và người dân địa phương theo danh sách câu hỏi đã soạn trước về lịch sử hình thành cộng đồng, đời sống vật chất - tinh thần, tổ chức quản lý cộng đồng,… cũng như việc sử dụng ngôn ngữ trong và ngoài gia đình để kiểm chứng những thông tin thu được từ phương pháp tổng hợp tài liệu và thu thập thêm những thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu

Phương pháp thống kê: phương pháp này được nhóm nghiên cứu áp dụng

cho chương 2 và chương 3 Trên cơ sở số liệu thu được từ phương pháp điều tra phỏng vấn sâu, chúng tôi tiến hành xử lý, phân tích và rút ra kết luận

Phương pháp so sánh hệ thống: phương pháp này được nhóm chúng tôi áp

dụng cho chương 2 và chương 3 Cụ thể ở chương 2, nhóm sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh đồng đại để chỉ ra các yếu tố chi phối việc lựa chọn ngôn ngữ tiếng nói của cộng đồng người Hoa nơi đây và ở chương 3, nhóm sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh lịch đại để chỉ rõ sự chuyển dịch trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng nói của cộng đồng người Hoa địa phương trước sự tác động mạnh

mẽ của tiếng Việt

Trang 18

PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA

Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Để hiểu thêm về cộng đồng người của một địa phương thì việc tìm hiểu về lịch

sử hình thành và phát triển cộng đồng là không thể thiếu Bên cạnh đó, yếu tố kinh tế -

xã hội, đời sống văn hóa và ngôn ngữ cũng góp phần quan trọng trong việc hình thành nên nét đặc trưng của một cộng đồng người, nhất là với cộng đồng người Hoa di cư tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Vì thế, việc tìm hiểu các yếu tố trên chính là cơ sở

để nghiên cứu sâu hơn về cộng đồng người Hoa ở nơi này

1.1 Dân cư

Nhìn chung về cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ thì Đồng Nai là khu vực có số lượng người Hoa đông thứ hai, chỉ xếp sau Thành phố Hồ Chí Minh8 Đồng thời, người Hoa cũng là tộc người có dân số đông thứ hai trong số các tộc người sinh sống tại đây, chiếm 3,83% tổng dân số toàn tỉnh9

Theo thời gian, người Hoa đã xem mảnh đất Đồng Nai như quê hương của mình Họ sinh sống, làm việc và gắn bó lâu dài với nơi này, được mảnh đất này chở che, nuôi sống; đồng thời họ cũng góp phần không nhỏ cho sự phát triển của tỉnh Đồng Nai

Nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Đồng Nai, huyện Định Quán cách thành phố Biên Hòa 85 km và Thành phố Hồ Chí Minh 115 km về hướng Tây; có diện tích tự nhiên là 966,5 km2, chiếm 16,4% diện tích toàn tỉnh; phía Bắc giáp huyện Tân Phú, phía Nam giáp huyện Thống Nhất, thị xã Long Khánh và Xuân Lộc, phía Tây giáp huyện Vĩnh Cữu, phía Đông giáp huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận.10

Toàn huyện có 26 888 người Hoa, chiếm 16% so với dân số toàn huyện11 Nơi người Hoa tập trung đông nhất ở xã

8

Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, dân số người Hoa ở Việt Nam là 823 071 người, dân

số người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai lần lượt là 414 045 ngườivà 95 162, chiếm 50,30% và 11,56% tổng số người Hoa tại Việt Nam

9

Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, dân số Đồng Nai là 2 486 154

10

Điều kiện tự nhiên, xem 22/04/2018, <http://dinhquan.dongnai.gov.vn>.

20/06/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 62-CT/TW ngày

Trang 19

Phú Hoa cũ (nay là xã Phú Lợi, Phú Vinh, Phú Tân) Hiện nay người Hoa sinh sống rải rác trên khắp 14/14 trấn, thị xã của huyện.12

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Từ Công nguyên cho đến nay, bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, các cuộc biến động kinh tế và tình hình chính trị xã hội nên việc di dân của người Hoa vào Việt Nam diễn ra mạnh mẽ Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia láng giềng có mối quan hệ lịch sử lâu đời, nên việc người Hoa chọn Việt Nam làm nơi dừng chân để bắt đầu một cuộc sống mới là điều dễ hiểu

Cùng với tiến trình lịch sử Việt Nam, lịch sử hình thành của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam được phân thành các giai đoạn sau13

:

Giai đoạn từ Công nguyên đến thế kỷ XVI: người Hoa di cư liên tục sang Việt

Nam với nhiều thành phần và vì nhiều nguyên nhân hay mục đích khác nhau, ví dụ như do tình hình trong nước bất ổn, dân buôn bán muốn tìm kiếm thị trường mới Tuy nhiên, cơ sở kinh tế còn yếu, số lượng phụ nữ trong đoàn di cư còn ít nên nội hôn tộc người chưa đủ điều kiện để thực hiện trong từng nhóm cộng đồng người Hoa riêng biệt,

do đó họ dễ dàng sống hòa hợp với cộng đồng dân cư sở tại, trừ thành phần binh lính

và quan lại sang Việt Nam với vai trò cai trị trong những năm phong kiến Trung Quốc

đô hộ Việt Nam

Giai đoạn từ thế kỷ XVII trở đi: nửa cuối thế kỷ XVII, ở Trung Quốc, triều Minh

sụp đổ, nhà Thanh lên cầm quyền Các trung thần nhà Minh do bất mãn với triều đình nhà Thanh nên đã cùng gia quyến và tùy tùng di cư sang, xin chúa Nguyễn tị nạn và lập nghiệp tại Việt Nam Hai nhóm lớn đến Việt Nam thời kỳ này là nhóm của Mạc Cửu và nhóm của Dương Ngạn Địch – Trần Thượng Xuyên

Khi di cư qua Việt Nam, cộng đồng người Hoa chia ra thành các nhóm đểsinh

Ramses, A 1998 Nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam: Các khuynh hướng, vấn đề và các thách thức TP

Hồ Chí Minh: nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM

Châu, Hải 1992 Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam Hà Nội: nhà xuất bản Khoa học Xã hội

Trang 20

sống và lập nghiệp ở những vùng đất khác nhau trên khắp lãnh thổ đất nước, từ Bắc đến Nam, cả nông thôn lẫn thành thị Tuy nhiên, sự phân bố này không đồng đều, với

đa phần người Hoa tập trung ở Nam Bộ “Năm 1908 đã có 138 284 người Hoa ở Việt

Nam Đến năm 1951 con số này lên đến 732 459 người Đa số định cư ở Nam Bộ Đến những năm cuối thập kỷ 1950, trong tổng số 14 triệu người ở miền Nam, có khoảng

tộc Hoa ở Việt Nam có 823 071 người, là dân tộc có số dân đông thứ 8, có mặt tại tất

cả 63 tỉnh và thành phố

Trong các nhóm người Hoa đã đề cập ở trên, nhóm người do tổng binh Trần Thượng Xuyên đã chọn dừng chân ở đất Trần Biên (nay là Biên Hòa, Đồng Nai) và bắt tay vào khai khẩn vùng đất Đồng Nai hoang sơ, từ đó hình thành nên cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai

Theo “Địa chí Đồng Nai” (2001), “Người Hoa ở Đồng Nai gồm nhiều nhóm cư

dân Trung Hoa đến đây vào các thời điểm khác nhau Nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình xin tị nạn chính trị, được đưa vào lập nghiệp ở vùng

Cù Lao Phố năm 1679 theo lệnh chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) là nhóm đến sớm nhất

mà sử sách ghi chép rõ Còn nhiều đợt người Hoa đến sau, vào nhiều thời điểm khác nhau, họ dần dần hòa nhập với cộng đồng các dân tộc khác khá nhanh.”

Theo bài viết “Các nhóm cộng đồng người Hoa ở tỉnh Đồng Nai - Việt Nam”

của tác giả Trần Hồng Liên từ Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần ba vào ngày 07/12/2008, cộng đồng người Hoa từ vùng Hoa Nam (Trung Quốc) đã đến Đồng Nai định cư khá sớm Những người Hoa có nguồn gốc từ các vùng thuộc tỉnh Quảng Đông (lúc bấy giờ Quảng Tây thuộc tỉnh Quảng Đông), Phúc Kiến đến Đồng Nai vì nhiều lý

04-do và thời điểm di cư cũng khác nhau, nhìn chung có thể chia thành ba đợt như sau: Đợt đầu tiên là từ năm 1679 đến đầu thế kỷ XX, một nhóm người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu với khoảng 3000 người bao gồm hầu hết là binh lính, thương nhân và quý tộc phong kiến cùng gia quyến của họ đến Biên Hòa, Đồng Nai theo Tổng lãnh binh Trần Thượng Xuyên Vì không thần phục triều đình nhà Thanh

14

Ramses, A 1998 Nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam: Các khuynh hướng, vấn đề và các thách thức TP

Hồ Chí Minh: nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM

Trang 21

nên họ đã bỏ xứ sang Việt Nam tị nạn và được chúa Nguyễn cho phép vào xứ Đồng Nai hoang vu khai khẩn

Đợt thứ hai là từ đầu thế kỷ XX đến năm 1975 với số lượng di dân đông hơn đợt một Lúc bấy giờ, tình hình ở Trung Quốc đang hết sức rối ren với sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây, chủ nghĩa phát xít và tiếp sau đó là nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Cộng sản Đảng Hàng loạt sự kiện trên đã khiến nhiều người dân di cư sang các nước khác nhau, trong đó có Việt Nam, nhằm tìm một nơi yên ổn hơn để sinh sống Thời điểm năm 1945-1954, người Hoa sang Việt Nam và sinh sống tại nhiều tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, trong đó có đội quân đánh thuê cho Pháp của Voòng A Sáng - số người này có quê gốc từ Quảng Tây, Quảng Đông, với khoảng 4000 người và 1000 thân nhân Thành phần chủ yếu của nhóm này là nông dân, sống bằng nghề làm nông, làm nương, rẫy Trong khoảng thời gian cai trị, thực dân Pháp đã lập ra “xứ Nùng tự trị” với đa số là nhóm người Hoa ở đạo Hải Ninh vào năm 1947 Vì vậy nhóm này còn còn được gán cho tên gọi Hoa Nùng Đợt di dân năm 1954-1975 là đợt di dân lớn nhất, đại bộ phận là người Hoa từ xứ Nùng tự trị bị cưỡng bức di cư vào miền Nam, họ đến Sông Mao, Sông Lũy (nay thuộc địa phận xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) trước, sau đó mới bắt đầu đến Đồng Nai định

Đợt thứ ba bắt đầu từ sau ngày 30/04/1975 đến nay, chủ yếu là những người Hoa

từ các tỉnh thành khác nhau trong cả nước đến Đồng Nai lập nghiệp, sinh sống vì nhiều nguyên do khác nhau

Công trình“Người Hoa ở Đồng Nai” của Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Nai cũng

đồng quan điểm với ý kiến trên, và đồng thời khẳng định thêm hơn 80% người Hoa trên địa bàn là nhóm di cư trong đợt hai Chính nhóm người Hoa này đã góp phần tạo nên tính đặc thù cho cộng đồng người Hoa ở tỉnh Đồng Nai khi đem so với cộng đồng người Hoa ở những nơi khác

Theo Báo cáo Sơ kết 05 năm thực hiện Kết luận số 07-KL/TW ngày 20/06/2011

của Ban Bí thư Trung ương Đảng của Ban Thường vụ Huyện ủy Định Quán thì

“Người Hoa trên địa bàn huyện đa số là dân di cư từ các tỉnh phía Bắc, trong đó có tỉnh Quảng Ninh vào cư trú tại Sông Mao (tỉnh Bình Thuận) trước và sau Cách mạng

Trang 22

Tháng Tám 1945 Sau năm 1954, họ chuyển đến Định Quán sinh sống, lập nghiệp, tập trung đông ở xã Phú Hoa (cũ), nay là xã Phú Lợi, Phú Vinh và Phú Tân.”

Theo khảo sát từ cư dân người Hoa tại địa phương, người Hoa ban sơ đến cư trú tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai sớm nhất là người gốc Triều Châu từ Thành phố

Hồ Chí Minh nhưng số lượng rất ít Còn phần lớn người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai hiện nay có nguồn gốc là người Hoa (Khách Gia) ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) Họ sang Việt Nam và định cư ở các tỉnh miền Bắc như Quảng Ninh, đến khoảng năm 1945-1954 mới di cư tới miền Nam nhưng chưa sinh sống ổn định tại một địa bàn nhất định mà di chuyển giữa nhiều nơi khác nhau như Đức Trọng (Lâm Đồng), Sông Mao (Bình Thuận),… trong đó có huyện Định Quán (Đồng Nai).Đến khoảng thập niên 70, họ mới dần ổn định cuộc sống tại nơi này

1.3 Đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Người Hoa đến Đồng Nai làm ăn, sinh sống cư trú ở khắp nơi từ thị trấn, thị xã đến nông thôn Họ làm nhiều nghề khác nhau, tuy nhiên, do địa bàn định cư của họ là nơi có nhiều rừng, nhiều đất tốt cho việc làm rẫy, làm lúa, thêm vào đó, do thành phần người Hoa ở đây chủ yếu có xuất thân là nông dân nên khi sang Việt Nam, đa số họ vẫn tiếp tục sống bằng nghề nông Ở huyện Định Quán, số hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn vẫn chiếm tỉ lệ cao, đạt 87%.15

Theo sự tìm hiểu của nhóm và thông tin cung cấp bởi người Hoa tại địa phương, trước năm 1993, người dân ở nơi này chủ yếu làm nông, trồng thuốc, bắp, đậu xanh, sau năm 1993 cho đến nay thì họ trồng các loại cây như cà phê, tiêu, điều là chủ yếu

15

Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Nai 2009 Người Hoa ở Đồng Nai tr 73 Đồng Nai: nhà xuất bản Đồng Nai

Trang 23

Hình 1 Tiêu đang được phơi

(Nguồn: Tác giả)

Tuy trước đây tại huyện có khoảng 800 hộ thiếu đất hoặc không có đất canh tác

và sản xuất, nhưng tình hình này đã được cải thiện căn bản, hộ ít đất canh tác nhất cũng đạt được từ 1 đến 2 ha16

Nhờ biết ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lý, các sản phẩm nông nghiệp đều đạt năng suất và chất lượng cao Tuy nhiên, do giá cả thị trường, các loại nông sản chủ lực trên không ổn định, có lúc giá xuống thấp, không bù đắp được chi phí sản xuất nên nhiều

hộ giảm đầu tư, thậm chí chuyển sang các loại cây trồng khác

Những năm gần đây, ngày càng có nhiều hộ người Hoa tại huyện Định Quán chuyển qua kinh doanh, làm nghề thủ công Nhiều doanh nghiệp tư nhân ra đời, như Doanh nghiệp Lợi Huê, Doanh nghiệp vàng bạc Thanh Bình, Kim Liên, một số doanh nghiệp kinh doanh vật tư xây dựng, thu mua hàng nông sản và các dịch vụ khác được Nhà nước cho phép hoạt động bình thường, đúng quy định pháp luật Hiện có 14% hộ tiểu thương và tiểu thủ công nghiệp, 1% hộ là chủ doanh nghiệp.17

Việc mở rộng và phát triển các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ, tiểu thủ công

Trang 24

nghiệp gắn liền với sản xuất nông nghiệp đã hỗ trợ tích cực cho đời sống, sản xuất của người Hoa tại địa phương Ngoài ra còn có thêm nguồn thu từ “người đi làm ăn xa gửi về” cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ18 Nhìn tổng quát, nguồn thu này đang chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu thu nhập của đồng bào người Hoa tại đây, chứng tỏ đã và đang

có nhiều hộ gia đình có người thân tạm xa gia đình để đi làm ăn xa Chẳng hạn như ở

xã Phú Lợi có trên 200 hộ có nguồn tài trợ về kinh tế của người thân từ nước ngoài, xã Phú Vinh có 156 hộ với 470 khẩu, hàng năm đều có một lượng lớn người trong độ tuổi lao động sang Đài Loan làm thuê để có thu nhập cao hơn19

Đi đôi với việc đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống, đồng bào người Hoa ở huyện Định Quán đã tích cực xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa giao thông nông thôn, đến nay đã có 70% các tuyến đường liên ấp liên xã được mở rộng và nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển vật tư cũng như nông sản nhằm phục vụ mục đích sản xuất, giao thông khu phố cũng được nhựa hóa 90%, từ đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội.20

1.4 Đời sống văn hóa của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Văn hóa là những giá trị được tạo ra trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của một tộc người, thế nên, dù có sinh sống ở nơi nào, người Hoa vẫn luôn có ý thức duy trì và gìn giữ những nét văn hóa của mình Khi người Hoa di cư sang vùng đất mới, tính cố kết cộng đồng của họ được thể hiện rất rõ, tiêu biểu là việc hình thành các bang, hội ngày xưa và ngày nay là vai trò của các dòng họ trong cộng đồng người Hoa.Các tổ chức dòng họ tuy có quy mô nhỏ hơn các bang, nhưng có tính liên kết xuyên địa bàn, với nội dung hoạt động chính là chăm lo chuyện thờ cúng, mồ mả trong gia tộc cũng như tương thân tương ái với nhau, như từ đường nhà họ Thẩm, họ Lý, họ Lâm ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai vẫn được duy trì cho đến hiện tại

Trang 25

Hình 2 Từ đường họ Thẩm xã Phú Vinh

(Nguồn: Đặng Yến Nhi)

Thêm vào đó, họ còn nhận thức sâu sắc đượctầm quan trọng của việc giữ gìn văn hóa truyền thống Họ lưu giữ hầu như tất cả các giá trị văn hóa truyền thống nhờ vào các thiết chế văn hóa - xã hội như bang, dòng họ, gia đình, các cơ sở văn hóa - tín ngưỡng như hội quán, đình, chùa, miếu,… thông qua các sinh hoạt cộng đồng, phong tục, tập quán, lễ hội Người Hoa ở Đồng Nai còn giữ những phong tục tập quán gắn liền với vòng đời như lễ đầy tháng, lễ thôi nôi, lễ cưới hỏi, ma chay, lễ thượng thọ, Khi cư trú ở Đồng Nai, người Hoa tham gia sinh hoạt cùng người Kinh và các tộc người sống lân cận, vậy nên nền văn hóa của họ cũng có sự giao lưu, tiếp nhận với văn hóa những tộc người khác Ngày nay, nhờ tiếp nhận văn hóa tộc người khác nên nhiều phong tục, tập quán cổ truyền đã có sự thay đổi đáng kể về mặt hình thức lẫn nội dung

theo chiều hướng tích cực hơn.21Những phong tục lạc hậu, tốn kém đã được loại bỏ Ví như việc tổ chức đám cưới, đám tang ngày xưa phải thật linh đình dù hoàn cảnh gia đình đó ra sao; đám cưới diễn ra trong hai ngày, đến ngày rước dâu phải có heo quay, một gánh bánh hồng, và nhiều nghi lễ cầu kì phức tạp khác Song ngày này những điều

ấy đã được thay đổi, đám cưới, đám tang đã được tổ chức đơn giản phù hợp hơn với

21

Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Nai 2009 Người Hoa ở Đồng Nai tr 129-138 Đồng Nai: nhà xuất bản Đồng Nai

Trang 26

hoàn cảnh xã hội

Bên cạnh đó, tín ngưỡng tôn giáo luôn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Hoa Ở Định Quán có năm cơ sở tín ngưỡng- tôn giáo, người Hoa ở đây thờ nhiều thần như Thiên Hậu Nương Nương, Quan Thánh Đế Quân, Quan Âm, Thành hoàng, Đặc biệt việc thờ Xã Vương và Thủy Khẩu Đại Vương chỉ được thờ trong cộng đồng người Hoa huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mà không được thờ ở các cộng đồng người Hoa tại nơi khác.Ngoài ra, người dân Định Quán còn tổ chức các lễ hội thờ cúng, tiêu biểu như lễ Tả tài phán tại miếu Quan Âm

Hộ Quốc hàng năm

Nhìn chung, đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam ở huyện Định Quán vô cùng đặc sắc, phong phú, đã và đang có sự thay đổi phù hợp với tình hình xã hội

TIỂU KẾT

Sơ lược về quá trình hình thành của cộng đồng người Hoa tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và những đặc trưng về tình hình dân cư, kinh tế,văn hóa - xã hội của được nhóm trình bày ở chương 1 đã phần nào cho thấy cái nhìn tổng quan về cộng đồng người Hoa nơi đây Đây là tiền đề cho việc nghiên cứu những vấn đề liên quan

về sau

Trang 27

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ

CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA

Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Chương 2 tập trung tìm hiểu về đặc điểm trong việc sử dụng trong cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và các yếu tố chi phối việc lựa chọn ngôn ngữ của cộng đồng này, cụ thể là tìm hiểu số lượng ngôn ngữ được sử dụng, bối cảnh sử dụng và tần suất, mức độ sử dụng từng ngôn ngữ trong giao tiếp của người Hoa ở nơi này, từ đó chỉ ra lý do lựa chọn sử dụng ngôn ngữ trong các phạm vi giao tiếp hiện nay của cộng đồng người Hoa tại địa phương

2.1 Các ngôn ngữ được sử dụng trong đời sống của cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

Dựa theo những quan sát và thông tin thu thập được từ người dân tại hai xã Phú Vinh, Phú Lợi, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, nhìn chung cộng đồng người Hoa nơi đây có khả năng sử dụng bốn loại ngôn ngữ: tiếng Ngái, tiếng Pạc Và, tiếng Hoa Phổ thông và tiếng Việt Để làm rõ vấn đề, chúng tôi sẽ phân loại các ngôn ngữ được cộng đồng người Hoa ở đây sử dụng trong đời sống từ hai góc độ, là:

- Theo loại ngôn ngữ (nguồn gốc)

- Theo chức năng sử dụng

2.1.1 Phân loại theo loại ngôn ngữ (nguồn gốc)

Cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nhìn chung có khả năng sử dụng bốn loại ngôn ngữ: tiếng Ngái, tiếng Pạc Và, tiếng Hoa Phổ thông và tiếng Việt.Theo loại ngôn ngữ, bốn loại ngôn ngữ trên thuộc hai hệ ngữ: Hán – Tạng (tiếng Ngái, tiếng Pạc Và, tiếng Hoa Phổ Thông) và Nam Á (tiếng Việt) Trong đó, tiếng Ngái, tiếng Pạc Và và tiếng Hoa Phổ thông là ngôn ngữ dân tộc của cộng đồng người nơi đây Còn tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia ở nơi đây

Ngôn ngữ của người Hoa về mặt học thuật tuy được gọi là “tiếng Hán”, nhưng có

lẽ để thống nhất với tộc danh, ngôn ngữ dân tộc của người Hoa thường được gọi là

“tiếng Hoa” ở Việt Nam Ngôn ngữ dân tộc của người Hoa có lịch sử phát triển lâu đời,

Trang 28

được sử dụng trong một phạm vi rộng lớn nên có sự phân hóa thành nhiều hệ phương ngữ khác nhau, mỗi hệ phương ngữ lại bao gồm nhiều nhánh phương ngữ, mỗi nhánh phương ngữ lại bao gồm nhiều thổ ngữ Tuy có cùng hệ thống văn tự là chữ Hán, nhưng giữa các biến thể ngôn ngữ của tiếng Hán lại có sự khác biệt nhất định trên ba bình diện còn lại, đặc biệt là bình diện ngữ âm Quan hệ nguồn gốc giữa các ngôn ngữ càng xa thì rào cản trong giao tiếp càng lớn, ví dụ: sự khác biệt giữa tiếng Quảng Châu

và tiếng Phật Sơn (cùng thuộc hệ phương ngữ Việt) sẽ ít hơn sự khác biệt giữa tiếng Quảng Châu và tiếng Hạ Môn (thuộc hệ phương ngữ Mân) Xét về mặt lịch đại, “tiếng Hán” có thể chia thành hai loại là “tiếng Hán cổ đại” và “tiếng Hán hiện đại” Xét về mặt đồng đại , “tiếng Hán” phổ biến tồn tại dưới hai dạng là “ngôn ngữ chuẩn” và

“phương ngữ” Những người Hán thuộc các hệ phương ngữ khác nhau sẽ giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ chuẩn là tiếng Phổ thông và nội bộ mỗi hệ phương ngữ lại có phương ngữ chuẩn để những người Hán nói các thổ ngữ khác nhau giao tiếp với nhau

Vì vậy, có thể nói “tiếng Hán” hay “tiếng Hoa” là khái niệm có nội hàm rộng lớn, bao gồm cả ba ngôn ngữ được sử dụng trong cộng đồng người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai là tiếng Ngái, tiếng Pạc Và và tiếng Hoa Phổ thông Nhưng trong đề tài này, để thuận tiện cho việc phân với tiếng biệt (trong đối lập với tiếng Việt), “tiếng Hoa” sẽ được chúng tôi dùng để chỉ chung cho tiếng Ngái và tiếng Pạc Và

Tiếng Ngái là một nhánh của hệ phương ngữ Khách Gia (Hakka) Hệ phương ngữ Khách Gia là một trong bảy hệ thống phương ngữ lớn của tiếng Hán22 Đây là ngôn ngữ giao tiếp của người Khách Gia sống tập trung ở Đông Nam Trung Quốc và hậu duệ của họ sống rải rác khắp khu vực Đông Á, Đông Nam Á cũng như trên toàn thế giới Tiếng Khách Gia có nhiều thổ âm được sử dụng ở các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tây, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Quý Châu và các đảo Hải Nam, Đài Loan Nhánh tiếng Khách Gia ở vùng phía tây nam tỉnh Quảng Đông, phía nam tỉnh Quảng Tây còn được gọi là tiếng Ngái Đây chính là tiếng mẹ đẻ của đa số người Hoa tại huyện Định Quán

Có ý kiến cho rằng, “Pạc Và” chính là “Bạch Thoại” (Hán tự: 白話, là tên gọi

22

Theo chúng tôi tìm hiểu, về phân chia hệ thống phương ngữ tiếng Hán, giới học thuật có nhiều quan điểm khác nhau Ở đây, chúng tôi sử dụng cách chia theo 陈阿宝主编 2002 《现代汉语概论》 北京:北京语言文化大

学出版社 - Trần, A Bảo (chủ biên) 2002 Khái luận tiếng Hán hiện đại, Bắc Kinh: nhà xuất bản Đại học Ngôn

ngữ và Văn hóa Bắc Kinh

Trang 29

thông tục của tiếng Quảng Đông) đọc theo âm của người Hoa tại địa phương Do cư trú gần tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nên tổ tiên của cộng đồng người Hoa ở nơi này đã nảy sinh nhu cầu học nói tiếng Quảng Đông để giao tiếp nhằm phục vụ cho các hoạt động đời sống như buôn bán, trao đổi hàng hóa,… và tiếng Pạc Và là sản phẩm của quá trình học nói tiếng Quảng Đông ấy

Cũng có giả thuyết cho rằng, khi mới di cư đến nơi này, người Hoa chỉ sử dụng tiếng Ngái, cho đến thời kỳ kinh tế mới (sau năm 1975), một bộ phận người Hoa từ Thành phố Hồ Chí Minh – nơi tiếng Quảng Đông là ngôn ngữ chung của cộng đồng người Hoa, đến đây sinh sống23, do những người Hoa này không nói được tiếng Ngái nên hai nhóm người Hoa đã dùng tiếng Quảng Đông để giao tiếp với nhau Tiếng Pạc

Và có thể xem như một biến thể của tiếng Quảng Đông, đã xuất hiện trong quá trình nhóm người Hoa chỉ biết tiếng Ngái học tiếng Quảng Đông để giao tiếp với nhóm người Hoa đến sau này

Do kiến thức chuyên môn có hạn, nhóm nghiên cứu xin được nêu ra cả hai luồng

ý kiến kể trên và không thiên về bất cứ nhận định nào Nhưng dù là nguyên nhân nào, thì tiếng Pạc Và đều là một dạng ngôn ngữ trung gian (interlanguage) giữa tiếng Ngái (ngôn ngữ 1) và tiếng Quảng Đông (ngôn ngữ 2), tức là sản phẩm của quá trình học tiếng Quảng Đông của người Hoa nơi đây

Dù một bộ phận người Hoa tại địa phương không xem tiếng Pạc Và là tiếng mẹ

đẻ của dân tộc mình, nhưng theo sự khảo sát của chúng tôi, thực tế loại ngôn ngữ này được họ học từ nhỏ và sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày, do vậy ở một góc độ nào đó, tiếng Pạc Và vẫn được hiểu là tiếng mẹ đẻ thứ hai của người Hoa ở nơi đây Một minh chứng cho việc này chính là một bộ phận người Hoa tại địa phương còn gọi tiếng Pạc Và là tiếng Hak (“Hak” trong “Hakka”, nghĩa là “Khách Gia”) Có thể hiểu rằng, họ đã sử dụng tiếng Pạc Và thường xuyên đến mức quên đi loại ngôn ngữ này vốn dĩ không phải là tiếng mẹ đẻ của họ và gọi nó là tiếng của dân tộc mình (tiếng Hak - tiếng của người Khách Gia)

23

Ban Dân vận Tỉnh ủy Đồng Nai 2009 Người Hoa ở Đồng Nai tr 59 Đồng Nai: nhà xuất bản Đồng Nai

Trang 30

Tiếng Phổ thông (Hán tự:普通话, còn được gọi là tiếng Quan Thoại24

hoặc tiếng Quốc ngữ25

) là ngôn ngữ chung của dân tộc Hán hiện đại Ở Việt Nam, tiếng Phổ thông còn được biết đến với tên gọi tiếng Trung, tiếng Hoa,… Trong đề tài này, để tránh nhầm lẫn và đảm bảo tính thống nhất trong bài nghiên cứu, nhóm chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “tiếng Hoa Phổ thông” thay cho “tiếng Phổ thông” Tiếng Hoa Phổ thông là ngôn ngữ quốc gia của Trung Quốc và có thể xem là công cụ giao tiếp giữa những nhóm người Hoa có tiếng mẹ đẻ thuộc các hệ phương ngữ khác nhau Ngoài ra, tiếng Hoa Phổ thông còn là ngôn ngữ chung được sử dụng trong hoạt động giáo dục – văn hóa Kế tục truyền thống ở Trung Quốc, tại địa phương, tiếng Hoa Phổ thông được giảng dạy và truyền thụ cho các thế hệ sau một cách tương đối bài bản với hệ thống giáo trình đa phần được biên soạn bởi những người Hoa có trình độ nhất định, hiện tại, giáo trình được điều chính dựa trên tiêu chuẩn của Sở Giáo dục và Đào tạo Việt Nam hoặc sử dụng giáo trình từ Trung Quốc26 Có thể nói, tiếng Hoa Phổ thông là ngôn ngữ được duy trì có mục tiêu, có truyền thống nhất trong cộng đồng người Hoa tại đây Trên địa bàn huyện Định Quán hiện có các trung tâm, cơ sở Hoa văn, như Cơ sở Hoa văn Định Quán (Trường Dân lập Việt Hoa) ở xã Phú Vinh, Cơ sở Hoa ngữ Thời Lập ở

xã Phú Lợi,… được thành lập nhằm mục đích đào tạo, giảng dạy tiếng Hoa Phổ thông cho cộng đồng người Hoa tại địa phương

Ngoài những ngôn ngữ được kể trên, tiếng Việt cũng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của người Hoa tại địa phương Đóng vai trò là ngôn ngữ giao tiếp chung của 54 dân tộc đang sinh sống trên khắp mọi miền lãnh thổ Việt Nam, được sử dụng một cách rộng rãi, trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống, việc cộng đồng người Hoa học và biết nói tiếng Việt là điều tất yếu trong quá trình họ chung sống và hòa nhập với người dân bản địa

Vậy, người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai sẽ sử dụng 2 loại ngôn ngữ

dụng trong cộng đồng người Hoa hải ngoại ở thời kỳ đầu

người Hoa ở Đông Nam Á khi chính quyền Đài Loan tài trợ kinh phí, nguồn lực cũng như giáo trình cho sư nghiệp giáo dục của họ

Trang 31

sau trong cuộc sống hằng ngày của họ: ngôn ngữ dân tộc (tiếng Ngái, tiếng Pạc Và, tiếng Hoa Phổ thông) và ngôn ngữ bản địa (tiếng Việt) Trong đó, tiếng Ngái và tiếng Pạc Và là tiếng mẹ đẻ hay gọi chung là tiếng Hoa đối lập với tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức của đất nước Việt Nam

2.1.2 Phân loại theo chức năng sử dụng

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp thông dụng và tiện lợi nhất của con người Mỗi loại ngôn ngữ đều có những quy tắc riêng về phát âm, từ vựng, ngữ pháp và chữ viết Vì thế, một cá nhân muốn đạt được trạng thái đa ngữ không phải là điều dễ dàng Vậy, tại sao cộng đồng người Hoa có thể làm được điều này? Thứ nhất, ba ngôn ngữ: tiếng Ngái, tiếng Pạc Và, tiếng Phổ thông tuy có sự khác biệt nhất định về ba bình diện phát âm, từ vựng, ngữ pháp nhưng đồng thời cũng đủ tương đồng để người Hoa nơi đây có thể tiếp thu một cách thuận lợi Thứ hai, họ vốn đã quen với việc sống trong môi trường đa ngữ từ lúc còn ở Trung Quốc nên khi sang Việt Nam họ vẫn duy trì tốt trạng thái đa ngữ của mình trong một thời gian dài Và cuối cùng, đồng thời cũng là yếu tố quan trọng nhất, chính là ý thức giữ gìn truyền thống dân tộc, đặc biệt là ngôn ngữ Ý thức này được thể hiện thông qua nguyên tắc đặc biệt trong giáo dục ngôn ngữ của họ, đó là, môi trường khác nhau thì sử dụng ngôn ngữ khác nhau Tức là mỗi ngôn ngữ có chức năng riêng, ứng với bối cảnh giao tiếp của nó Vì vậy, việc bóc tách và xem xét chức năng của từng loại ngôn ngữ trong cộng đồng là một vấn đề cần thiết để làm rõ tình hình sử dụng ngôn ngữ của họ

2.1.2.1 Ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình

Tình hình giao tiếp đa ngữ xảy ra trong hầu hết các gia đình người Hoa tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Khả năng đa ngữ của các thành viên trong gia đình tương đối cao, đặc biệt là ở những gia đình thường xuyên tiếp xúc với môi trường bên ngoài hoặc cha mẹ có trình độ đa ngữ tốt và con cái được cho đi học theo chương trình song ngữ Tuy nhiên, tỉ lệ sử dụng giữa các ngôn ngữ của các thế hệ trong gia đình không giống nhau và có độ chênh lệch nhất định

Với tiếng Ngái, đây là ngôn ngữ được thế hệ thứ nhất – thế hệ ông bà ở địa phương sử dụng nhiều nhất trong gia đình Họ thành thạo tiếng Ngái nhất vì đây chính

Trang 32

là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ và đã được truyền dạy từ thế hệ đi trước Khi di cư đến Việt Nam, nhằm để giao tiếp với những người Hoa không biết tiếng Ngái, họ bắt đầu học

và sử dụng tiếng Pạc Và, do đó thế hệ này cũng nói tốt được cả tiếng Pạc Và Tuy nhiên, phần lớn nhóm đối tượng này chủ yếu dùng tiếng Ngái để giao tiếp trong gia đình vì đây là ngôn ngữ mẹ đẻ - ngôn ngữ họ thông thạo và tự tin khi sử dụng nhất Trường hợp dùng tiếng Ngái trộn lẫn tiếng Pạc Và là có, nhưng tỉ lệ tiếng Ngái được

sử dụng vẫn chiếm ưu thế hơn Đối với nhóm đối tượng ở độ tuổi cao niên này, có thể nói rằng tiếng Ngái giữ vai trò chủ đạo và gần như là ngôn ngữ giao tiếp chính trong gia đình

Tiếng Ngái cũng là ngôn ngữ được thế hệ cha mẹ – nhóm người Hoa ở lứa tuổi trung niên, sử dụng chính trong gia đình Họ thường giao tiếp với thế hệ ông bà bằng ngôn ngữ này và dùng tiếng Ngái lẫn tiếng Pạc Và khi trò chuyện với nhau

Tuy vậy, với thế hệ con cháu, thì tiếng Ngái gần như rất hiếm khi được sử dụng Nhóm đối tượng người Hoa trẻ tuổi này sẽ có khả năng nói tiếng Ngái nếu được sống cùng thế hệ đầu tiên, tuy nhiên, khả năng sử dụng ngôn ngữ này của họ cũng sẽ khá hạn chế và chỉ dừng ở mức những câu giao tiếp thông dụng thường ngày Giữa thế hệ con cháu và thế hệ ông bà có một khoảng cách nhất định, do họ không gần gũi với ông

bà nhiều bằng cha mẹ nên cơ hội học tiếng Ngái của họ cũng ít hơn hẳn thế hệ thứ hai Tất nhiên, vẫn có những thanh niên người Hoa tại đây nói tốt tiếng Ngái, nhưng số lượng này không nhiều Họ cũng sử dụng tiếng Ngái lẫn với tiếng Pạc Và khi giao tiếp với những thành viên không rành tiếng Việt trong nhà

Về tiếng Pạc Và, hầu hết những người Hoa lớn tuổi ở địa phương đều có thể nghe-nói tương đối tốt và có sử dụng khi giao tiếp trong nhà, nhưng không nhiều bằng tiếng Ngái Đối với thế hệ cha mẹ - nhóm đối tượng ở độ tuổi trung niên, tiếng Pạc Và

là ngôn ngữ được họ sử dụng chủ yếu khi giao tiếp với các thành viên trong gia đình

Có những nhà rất chú trọng trong việc lưu giữ và giữ gìn ngôn ngữ dân tộc nên đã truyền dạy ngôn ngữ này cho con cháu ngay từ nhỏ Những gia đình này cho con em

họ học chương trình tiếng Việt và cho phép dùng tiếng Việt ở bên ngoài, đồng thời vẫn yêu cầu con cháu phải nghe hiểu và sử dụng chủ yếu tiếng Pạc Và khi giao tiếp ở nhà Nhưng càng về sau, yêu cầu này cũng có phần lơi lỏng hơn, dẫn tới khả năng giữ gìn

Trang 33

ngôn ngữ mẹ đẻ của các hộ gia đình cũng không còn được như những năm trước đây nữa

Xét đến tiếng Việt, trong những năm gần đây, mức độ sử dụng của ngôn ngữ khi giao tiếp trong gia đình đang có chiều hướng tăng dần

Biểu 1 Tỉ lệ sử dụng tiếng Việt trong gia đình của cộng đồng người Hoa ở

huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo độ tuổi

(Nguồn: Tác giả)

Sự chuyển biến này thể hiện rất rõ rệt ở thế hệ thứ ba – nhóm người Hoa trẻ tuổi tại địa phương Do được đi học tiếng Việt và tiếp xúc nhiều với bạn bè, thầy cô người Kinh nên khả năng tiếng Việt của lớp trẻ người Hoa ở trình độ tương đương hoặc tốt hơn tiếng Pạc Và Tình trạng sử dụng tiếng Việt nhiều và thành thạo hơn tiếng Pạc Và

dù được tiếp xúc với tiếng Pạc Và trước của thế hệ này một phần nảy sinh từ việc cộng đồng người Kinh và số người biết nói tiếng Việt đã xuất hiện và định cư tại địa phương đông hơn trước Chính vì tần suất sử dụng tiếng Việt của lớp người trẻ tuổi này khá thường xuyên đã dẫn đến hiện tượng họ dùng cả tiếng Việt trong gia đình Đối với anh, chị, em – những người đồng trang lứa trong gia đình, hầu hết nhóm đối tượng này đều chỉ dùng tiếng Việt khi giao tiếp Nhóm chúng tôi cũng cho rằng, thái độ của nhóm thế hệ này cũng ảnh hưởng tới trình độ sử dụng ngôn ngữ của họ Do hàng ngày

sử dụng tiếng Việt nhiều và nhận thấy dân cư xung quanh cũng ưa chuộng tiếng Việt, nên họ có một sự thiên vị nhất định với ngôn ngữ này và có phần từ chối việc sử dụng

Trang 34

những ngôn ngữ khác cho dù được các thế hệ trên yêu cầu Có thể nói rằng, tiếng Việt

là ngôn ngữ chính được thế hệ này sử dụng khi giao tiếp trong gia đình, tiếng Pạc Và

là phụ Đối với họ, tiếng Ngái chỉ được dùng trong trường hợp bắt buộc – ví dụ như khi ông bà chỉ biết tiếng Ngái, và không có tính ứng dụng cao trong đời sống hàng ngày

Trong khi đó, nhóm người Hoa ở độ tuổi trung niên vẫn nói được tiếng Việt do

có cơ hội được tiếp cận với giáo dục tiếng Việt trong điều kiện thuận lợi hơn thế hệ đi trước Họ có sử dụng ngôn ngữ này khi giao tiếp với thế hệ con cháu trong nhà nhưng không nhiều, một trong những nguyên nhân chủ yếu là nhằm mục đích duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, gìn giữ tiếng mẹ đẻ của mình

Xét đến thế hệ đầu tiên, họ di cư sang Việt Nam và định cư tại Định Quán vào giai đoạn Việt Nam mới giải phóng (khoảng thập niên 70-80), ở thời điểm này, cộng đồng người Hoa là một cộng đồng tương đối khép kín, gần như không tiếp xúc với người Việt nào trên địa bàn sinh sống.27 Chính vì lý do trên nên vốn tiếng Việt của nhóm đối tượng này rất hạn chế, có người hoàn toàn không biết tiếng Việt, do không

có nhu cầu sử dụng Một yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng và trình độ giao tiếp bằng tiếng Việt của thế hệ một là do nhiều nguyên nhân khách quan như bối cảnh đất nước chưa ổn định, gia cảnh khó khăn, phải bươn chải nhiều… khiến họ không có điều kiện cũng như thời gian để học tiếng Việt qua trường lớp Trình độ tiếng Việt của nhóm đối tượng này cũng chỉ dừng lại ở các câu giao tiếp thông dụng, từ ngữ đơn giản,

27

Phỏng vấn sâu người dân tại địa phượng Trích "Biên bản gỡ băng phỏng vấn số 05"

Trang 35

chồng không giỏi tiếng Việt

Về tiếng Hoa Phổ thông, như đã đề cập, đây là ngôn ngữ có chức năng hỗ trợ giao tiếp giữa các nhóm người Hoa có tiếng mẹ đẻ thuộc các hệ phương ngữ khác nhau tại Trung Quốc Vì thế, khi cộng đồng người Hoa này sang Việt Nam, tiếng Hoa Phổ thông vẫn tiếp tục được duy trì đào tạo và giảng dạy cho cộng đồng người Hoa tại các trung tâm, cơ sở Hoa văn tại địa phương Tuy vậy, người Hoa ở nơi đây chủ yếu xuất thân nông dân, nên đa phần những người thuộc thế hệ đầu tiên khi vừa từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam đều không có điều kiện học cũng như không thành thạo tiếng Hoa Phổ thông Số lượng người Hoa thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba được học tiếng Hoa Phổ thông có tăng lên, nhưng thời gian học cũng như trình độ của họ không giống nhau và không phải ai cũng có điều kiện học đến nơi đến chốn Thêm vào đó, tiếng Hoa Phổ thông tuy là ngôn ngữ quốc gia của Trung Quốc, nhưng đối với cộng đồng người Hoa đã di cư sang Việt Nam thì “ngôn ngữ quốc gia” đã được thay thế bằng tiếng Việt Chính vì vậy, có thể nói rằng tiếng Hoa Phổ thông ở địa phương chỉ đóng vai trò là một “ngôn ngữ trường học” - được sử dụng nhiều trong khuôn viên các trường dạy, là phương tiên để người Hoa học chữ Hán, dùng trong giao tiếp khi gặp gỡ với những người gốc Hán từ các nơi khác, hoặc để đáp ứng nhu cầu của những đối tượng muốn sang Trung Quốc, Đài Loan hay các công ty nước ngoài để học tập và làm việc Ngôn ngữ này gần như không có tính ứng dụng trong giao tiếp trong gia đình

Có thể kết luận, hiện tại, trong các ngôn ngữ được cộng đồng người Hoa tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai sử dụng để giao tiếp trong gia đình, tiếng Pạc Và là ngôn ngữ được dùng phổ biến nhất Đây là thứ tiếng mà các thế hệ trong gia đình đều

có khả năng sử dụng tương đối tốt, sau đó là tiếng Ngái và tiếng Việt Bên cạnh đó, cũng có hiện tượng sử dụng luân phiên hai hoặc ba thứ tiếng bằng cách trộn mã, chuyển mã và xảy ra nhiều ở thế hệ hai và ba, tức cha mẹ và con cháu Khi nói chuyện,

họ sẽ sử dụng từ vựng của hai, thậm chí là ba ngôn ngữ để tạo thành câu Theo nhận định của nhiều người được phỏng vấn, lý do của việc này là vì họ cảm thấy có nhiều từ chỉ có thể biểu đạt tốt bằng một loại ngôn ngữ, hoặc bản thân họ không nắm nhiều từ vựng của một ngôn ngữ nhất định để biểu đạt nên thường phải sử dụng từ của ngôn ngữ thứ hai mà họ biết để chèn vào Yếu tố đa ngữ trong gia đình thể hiện rõ nhất ở thế

hệ hai vì việc sử dụng và lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp với các thành viên trong gia

Trang 36

đình của thế hệ này là linh hoạt nhất, nhóm đối tượng này có khả năng nghe-nói được tiếng Ngái, thành thạo tiếng Pạc Và và khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt cũng tương đối trôi chảy, lưu loát

Nhìn chung, khi xét trong phạm vi gia đình, ngôn ngữ được ưu tiên sử dụng nhất giữa các thế hệ đã dần chuyển từ tiếng Ngái, sang đến tiếng Pạc Và và sau đó là tiếng Việt Tỉ lệ sử dụng tiếng Việt của lớp người trẻ người Hoa trong gia đình tại đây đang

có chiều hướng tăng lên, kéo theo đó là phạm vi sử dụng tiếng Pạc Và và tiếng Ngái đang dần thu hẹp lại Tuy vậy, trong khi tiếng Pạc Và vẫn còn được gìn giữ khá tốt do thế hệ thứ ba vẫn còn được học từ cha mẹ, thì tiếng Ngái từ ngôn ngữ giao tiếp chính trong gia đình đã trở thành ngôn ngữ chỉ còn được sử dụng trong tình huống bất đắc dĩ – khi thế hệ một không nói sõi tiếng Việt và chỉ nghe hiểu được tiếng Ngái Ngôn ngữ này đã đánh mất vị trí quan trọng thuở ban đầu trong cộng đồng người Hoa tại đây và đang có nguy cơ bị mất đi nếu không được truyền dạy cho các thế hệ sau này

2.1.2.2 Ngôn ngữ giao tiếp ngoài xã hội

Trong phần này, chúng tôi phân loại ngôn ngữ theo hai phạm vi là sử dụng trong đời sống hàng ngày và trong các trường hợp mang tính lễ nghi Khi giao tiếp hàng ngày, con người không bị trói buộc bởi các quy định và nghi thức gắn liền với nhiều lớp ý nghĩa sâu xa khác nhau nên sự lựa chọn ngôn ngữ tương đối tự do Ngược lại với điều đó, trong một buổi lễ hay nghi thức cộng đồng, ta buộc phải tuân theo những trình

tự và quy tắc nhất định để bảo vệ và bày tỏ sự tôn trọng với những giá trị xưa

2.1.2.2.1 Trong đời sống hàng ngày

Đối với lớp thanh niên người Hoa tại địa phương, có thể nói rằng tiếng Việt là lựa chọn ưu tiên nhất và có tác động mạnh mẽ nhất đến ý thức của nhóm đối tượng này trong việc quyết định ngôn ngữ để sử dụng cho từng phạm vi hoạt động Lớp người trẻ tuổi ở đây cho biết rằng họ có xu hướng thích sử dụng hoàn toàn bằng tiếng Việt khi giao tiếp ngoài xã hội do có sở hữu vốn từ phong phú, đa dạng hơn nhờ được đi học tiếng Việt từ nhỏ, trong khi tiếng mẹ đẻ chỉ dừng ở mức giao tiếp cơ bản, thông thường hoặc kém hơn tùy từng hộ gia đình Khi hai người Hoa trẻ tuổi gặp nhau, dù đều là người dân tộc Hoa và biết nói tiếng mẹ đẻ, họ vẫn sẽ chọn sử dụng tiếng Việt để

Trang 37

giao tiếp là chủ yếu.28

Hiện tượng này phổ biến nhất ở những người trẻ đã và đang đi học và làm xa nha, tức là rời xa môi trường giao tiếp đông người Hoa, thường xuyên

sử dụng tiếng việt, nên dần dà họ thói quen sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp ngay cả khi trở lại quê hương

Tình hình

Đối tƣợng

giao tiếp

Chỉ sử dụng tiếng Việt

Sử dụng cả tiếng Việt

và tiếng Hoa

Chỉ sử dụng tiếng Hoa

Biểu 2 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày của thế hệ trẻ (dưới

36 tuổi) người Hoa ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai theo đối tượng giao tiếp

(Nguồn: Tác giả)

Một bộ phận thanh niên người Hoa ở đây cho biết rằng “gặp đối tượng nói được

tiếng gì thì họ sẽ dùng tiếng đó”, tuy vậy tiếng Việt của họ được sử dụng nhiều hơn vì

đây là ngôn ngữ họ thành thạo nhất Mặt khác, trong quá trình giao tiếp bằng tiếng Việt, có đôi khi họ vẫn sẽ nói một vài từ bằng tiếng mẹ đẻ của mình và dùng trộn lẫn trong câu nếu không tìm được từ thích hợp hoặc tương đương trong tiếng Việt Vậy đới với thế hệ trẻ, khi giao tiếp trong phạm vi ngoài gia đình – nội cộng đồng, thì giao tiếp đa ngữ là hiện tượng phổ biến, trong đó tiếng Việt có tỉ lệ sử dụng cao trong cuộc đối thoại

Đối với những người làm nghề kinh doanh, buôn bán, do thường xuyên tiếp xúc với nhiều người Kinh nên tiếng Việt của họ khá trôi chảy, khả năng nghe-nói ở mức độ tương đối tốt, nhờ đó mà họ khá tự tin khi sử dụng thứ tiếng này khi giao tiếp với người Kinh

Xét đến nhóm người Hoa cao tuổi tại địa phương, có thể nói rằng khả năng sử dụng tiếng Việt của nhóm đối tượng này là rất hạn chế Hầu như họ chỉ dùng đến tiếng Việt khi con cháu trong nhà không thành thạo tiếng mẹ đẻ hoặc chỉ nghe-hiểu nhưng không biết nói, khi đi chợ mua hàng, hoặc để giao tiếp đôi ba câu đơn giản khi gặp người Kinh Đối với nhóm người Hoa này, tiếng Việt không là công cụ giao tiếp được

ưu tiên hàng đầu và được sử dụng nhiều hơn cả khi tiếp xúc với đối tượng người Kinh

28

Phỏng vấn sâu người dân tại địa phượng Trích "Biên bản gỡ băng phỏng vấn số 01"

Trang 38

Họ đương nhiên sẽ dùng tiếng Việt nếu đối tượng người Kinh không thể nghe-hiểu tiếng Pạc Và hoặc tiếng Ngái, trong trường hợp người Kinh thành thạo tiếng Pạc Và hoặc tiếng Ngái, thì tần suất sử dụng tiếng mẹ đẻ của nhóm người Hoa này sẽ nhiều hơn tiếng Việt trong giao tiếp giữa đôi bên Với đối tượng giao tiếp là người Hoa, nhóm người này sẽ lựa chọn sử dụng tiếng Pạc Và là chủ yếu vì đây có thể xem là ngôn ngữ chung của cộng đồng người Hoa tại địa phương

Ngôn ngữ Đối tƣợng

giao tiếp

Tiếng Ngái Tiếng Pạc

Tiếng Hoa Phổ thông Tiếng Việt

Trong khi đó, tiếng Pạc Và là ngôn ngữ được thế hệ người Hoa ở tuổi trung niên

sử dụng khi giao tiếp với bên ngoài là chính, đi kèm với tiếng Việt Họ có xu hướng sử dụng tiếng Pạc Và với người Hoa hoặc trộn lẫn hai thứ tiếng với nhau nhưng tỉ lệ tiếng Pạc Và vẫn vượt trội hơn Khác với tư tưởng thích dùng tiếng Việt của lớp trẻ, khi hai người Hoa ở lứa tuổi trung niên gặp nhau, họ vẫn dùng tiếng Pạc Và là chủ yếu để trò chuyện vì đối với nhóm người này, tiếng Pạc Và vừa thuận tiện, dễ dàng trong việc sử dụng, đồng thời cũng là một cách để gìn giữ ngôn ngữ mẹ đẻ của mình

Với lớp người ở độ tuổi cao niên, tuy rằng họ thành thạo tiếng Ngái nhất, nhưng không phải đối tượng nào cũng biết nói và nói tốt ngôn ngữ này, bên cạnh đó, độ phổ biến của tiếng Ngái đang ngày càng giảm so với tiếng Pạc Và nên nhóm đối tượng này đang bị mất dần đối tượng giao tiếp Song song đó, vì vốn tiếng Việt của những người Hoa ở thế hệ đầu tiên rất hạn chế nên có thể nói rằng, công cụ giao tiếp chủ yếu của nhóm người này là tiếng Pạc Và Tuy nhiên, nhận định trên cũng không tránh khỏi có phần gượng ép, bởi tiếng Pạc Và không phải ngôn ngữ họ thông thạo nhất, nói chính xác, đây là ngôn ngữ thích hợp nhất để họ sử dụng khi tiếp xúc với môi trường bên ngoài Còn đối với thế hệ thứ ba, họ cho biết sẽ sử dụng tiếng Pạc Và khi gặp người Hoa lớn tuổi hoặc người Hoa không giỏi nói tiếng Việt, tuy vậy, có lúc họ vẫn sẽ trộn

Trang 39

lẫn thêm tiếng Việt trong quá trình giao tiếp do vẫn còn gặp một chút hạn chế về vốn

từ

Tiếng Ngái hầu như rất hiếm khi được sử dụng trong giao tiếp ngoài xã hội, do không phải người Hoa nào cũng có thể nói được và sử dụng thành thạo ngôn ngữ này Trong khi đó, đa phần người Hoa ở mọi lứa tuổi tại địa phương đều có thể giao tiếp tốt bằng một ngôn ngữ chung – đó là tiếng Pạc Và

Như đã đề cập, có thể xem tiếng Ngái và tiếng Pạc Và là ngôn ngữ mẹ đẻ của cộng đồng người Hoa ở nơi này, còn tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia và giữ vai trò ngày càng quan trọng trong việc chung sống, hòa nhập vào cộng đồng người Kinh của

họ Còn tiếng Hoa Phổ thông thường chỉ được người Hoa tại địa phương sử dụng khi

họ gặp khách nước ngoài (Trung Quốc, Đài Loan) hoặc đáp ứng nhu cầu học và làm việc tại nước ngoài chứ không được dùng đến trong đời sống hàng ngày

Trang 40

Hình 3 Tờ sớ dùng trong lễ cúng sao

(Nguồn: Thoòng Sềnh Cắm)

Ngày đăng: 19/04/2021, 23:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w