ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TÊN ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA KINH DOANH ĐA CẤP ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TÊN ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA KINH
DOANH ĐA CẤP ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GVHD: ThS Hoàng Trọng Tuân
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành báo cáo nghiên cứu khoa học này, nhóm tác giả đã nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn và góp ý tận tình của quý thầy cô trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Đầu tiên, nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Phòng Quản lý Khoa học –
Dự án đã tạo một môi trường học thuật giúp nhóm tác giả có cơ hội được tiếp cận với công việc nghiên cứu khoa học – một trong những nhiệm vụ quan trọng của sinh viên trường
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Địa Lý, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp lửa cũng như động viên các sinh viên của khoa tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học
Cuối cùng, nhóm tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến ThS Hoàng Trọng Tuân khoa Địa lý đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nhóm tác giả một cách tận tình, cụ thể và tạo điều kiện tốt nhất để nhóm tác giả hoàn thành báo cáo nghiên cứu khoa học này một cách hoàn thiện nhất
Mặc dù nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng hoàn thiện kết quả nghiên cứu khoa học bằng tất cả sự nhiệt tính và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2017
Chủ nhiệm đề tài
Đinh Lương Chính Thiện
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học của riêng nhóm tác giả Các dữ liệu được trình bày trong báo cáo nghiên cứu khoa học này là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể Các kết quả của đề tài nghiên cứu chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2017
Chủ nhiệm đề tài
Đinh Lương Chính Thiện
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Danh sách các công ty KDĐC thuộc địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh
27
2 Bảng 3.1 Giới tính của sinh viên tham gia KDĐC 32
3 Bảng 3.2 Trình độ học vấn của sinh viên tham gia KDĐC 32
11 Bảng 3.10 Trạng thái tâm lý khi tham gia KDĐC 55
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3 Biểu đồ 3.3 Thời gian dành cho kinh doanh đa cấp trong 1 ngày 37
5 Biểu đồ 3.4 Mục đích sử dụng thu nhập từ KDĐC (%) 39
6 Biểu đồ 3.5 Thời gian lên lớp so với trước khi tham gia KDĐC
7 Biểu đồ 3.6 Kết quả học tập so với trước khi tham gia KDĐC 44
8 Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ sinh viên bị kỷ luật vì lý do có liên quan đến
9 Biểu đồ 3.8 Mức độ hỗ trợ của KDĐC cho việc học 48
10 Biểu đồ 3.9 Những kỹ năng giao tiếp trang bị cho sinh viên khi 49
Trang 5tham gia KDĐC
11 Biểu đồ 3.10 Mức độ mở rộng các mối quan hệ khi tham gia
12 Biểu đồ 3.11 Mức độ dành thời gian cho các quan hệ xã hội so
13 Biểu đồ 3.12 Thái độ của bạn bè khi biết anh/chị tham gia
14 Biểu đồ 3.13 Nguyên nhân khiến sinh viên cảm thấy vui vẻ, thoải
15 Biểu đồ 3.14 Nguyên nhân khiến sinh viên cảm thấy mệt mỏi, áp
16 Biểu đồ 3.15 Thời gian dành cho hoạt động giải trí của sinh viên
17 Biểu đồ 3.16 Thời gian tập thể dục của sinh viên sau khi tham
4 Hình 4 Sơ đồ phản ứng dây truyền theo cấp số nhân 19
5 Hình 5 Sơ đồ mô hình trả thưởng bậc thang (li khai) 20
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHKHTN: Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHKHXHNV: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn ĐHQG TP.HCM: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
KDĐC : Kinh doanh đa cấp NXB: Nhà xuất bản PVS: Phỏng vấn sâu TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ/ HÌNH iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Tổng quan đề tài nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Nội dung nghiên cứu 8
4.2 Khách thể nghiên cứu 8
4.3 Địa bàn nghiên cứu 8
4.4 Thời gian nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Phương pháp thu thập thông tin 9
5.1.1 Thu thập thông tin định tính 9
5.1.2 Thu thập thông tin định lượng 9
5.2 Phương pháp xử lý thông tin 10
Trang 85.2.1 Xử lý thông tin định tính 10
5.2.2 Xử lý thông tin định lượng 10
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
6.1 Ý nghĩa khoa học 11
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 11
7 Kết cấu đề tài 11
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP 12 1.1 Các khái niệm liên quan 12
1.1.1 Khái niệm về kinh doanh đa cấp 12
1.1.2 Khái niệm về sinh viên 13
1.1.3 Khái niệm về đời sống 13
1.2 Các lý thuyết tiếp cận 15
1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 15
1.2.2 Nguyên lý mối liên hệ phổ biến của Karl Marx 16
1.3 Tác động của KDĐC đến đời sống sinh viên 17
1.3.1 Tác động đến đời sống vật chất 17
1.3.2 Tác động đến đời sống tinh thần 17
1.4 Đặc điểm của kinh doanh đa cấp 18
1.4.1 Nguyên lý phát triển của hệ thống kinh doanh đa cấp 18
1.4.2 Các mô hình của kinh doanh đa cấp 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP 23
Trang 92.1 Lịch sử hình thành và phát triển kinh doanh đa cấp 23
2.2 Thực tiễn kinh doanh đa cấp ở Việt Nam 25
2.3 Thực tiễn kinh doanh đa cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 29
CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA KINH DOANH ĐA CẤP ĐẾN ĐỜI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH 30
3.1 Khái quát Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh 30
3.2 Khái quát mẫu nghiên cứu 31
3.3 Tác động của việc tham gia kinh doanh đa cấp đến đời sống sinh viên Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh 34
3.3.1 Tác động về mặt vật chất 34
3.3.1.1 Tác động về việc làm 34
3.3.1.2 Tác động về thu nhập 37
3.3.2 Tác động về mặt tinh thần 41
3.3.2.1 Tác động đến hoạt động học tập 41
3.3.2.2 Tác động đến các mối quan hệ xã hội 50
3.3.2.3 Tác động đến trạng thái tâm lý 55
3.3.2.4 Tác động đến thể chất 60
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 62
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ 63
1 Kết luận 63
1.1 Kết quả đạt được 63
1.2 Hạn chế 64
2 Khuyến nghị 64
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC 79
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh xã hội với xu hướng hội nhập phát triển như ngày nay thì việc các công ty kinh doanh bán hàng đa cấp du nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều là một điều không thể nào tránh khỏi Điều đó diễn ra vì theo như ông Bạch Văn Mừng – Cục trưởng Cục Quản lý Cạnh tranh – người đứng đầu đơn vị trực tiếp
quản lý hoạt động Kinh Doanh Đa Cấp (KDĐC) cho biết “Nghị định số 42 đã nâng cao các điều kiện đăng ký hoạt động so với trước đây để thanh lọc các doanh nghiệp yếu kém Tuy nhiên, nghị định không giới hạn số lượng doanh nghiệp được đăng ký hoạt động, đồng thời cũng quy định rất rõ ràng, minh bạch các điều kiện đảm bảo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký Theo đó, doanh nghiệp nào đáp ứng đủ các điều kiện đều được đăng ký hoạt động”
(Trung tâm Báo chí và Hợp tác truyền thông Quốc tế, 2016)
Từ đó có thể thấy, Nhà Nước ta đã cố gắng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động theo lĩnh vực đa cấp này được nhanh chóng đi vào hoạt động vì những lợi ích mà loại hình này mang lại Chẳng hạn như với việc thực hiện KDĐC,
nó như một phương thức tiếp thị sản phẩm kinh doanh giúp bán được sản phẩm trực tiếp đến tay người tiêu dùng, họ có thể trực tiếp đến mua hàng tại công ty hoặc thông qua một nhà phân phối duy nhất mà không phải thông qua các đại lý hay cửa hàng bán lẻ
Bên cạnh đó, sinh viên nói chung và sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh (ĐHQG TP.HCM) nói riêng với bản tính năng động, nhanh nhẹn, ham học hỏi và đặc biệt là luôn có ước muốn nhanh chóng làm giàu, sớm gặt hái được thành công nên thường được các công ty KDĐC nhắm đến như một đối tượng khách hàng tiềm năng Với mục đích bản chất của việc KDĐC cộng với bản tính của sinh viên thì tưởng chừng đây là một sự kết hợp hoàn chỉnh để đem lại lợi ích cho cả hai nếu như các công ty KDĐC hoạt động đúng theo các quy tắc do Nhà Nước quy định theo nghị định 42/2014/NĐ-CP Tuy nhiên, với việc các công ty đa cấp ngày càng nhiều lên khiến cho việc kiểm soát hoạt động kinh doanh này còn
Trang 12khá lỏng lẻo và trở nên không thật sự hiệu quả Cụ thể, theo Giám Công ty Luật
Hợp Danh Thiên Thanh – Luật sư Nguyễn Thế Truyền cho rằng “Ngay cả ở Mỹ, nơi đẻ ra loại hình đa cấp đã tồn tại mấy chục năm nay nhưng tới giờ chỉ có khoảng
40 công ty hoạt động theo mô hình này được cấp phép Trong khi đó, KDĐC mới vào Việt Nam từ đầu những năm 2000 nhưng tới nay đã có khoảng 80 công ty được cấp phép” (Trịnh Tuyết, 2016)
Từ đó ngày càng có nhiêu công ty KDĐC biến tướng, bỏ qua đạo đức kinh doanh, sử dụng mọi thủ đoạn nhằm thu về lợi nhuận nhanh nhất thông qua thực hiện KDĐC mang tính chất lừa đảo trên mô hình tháp ảo Cùng với đó thì số người bị hại liên quan đến các công ty KDĐC mang hình thức lừa đảo cũng ngày càng tăng lên nhanh chóng, vào tháng 09 năm 2015 số người tham gia đa cấp đã đạt đến khoảng 1,16 triệu người, trong khi con số này năm 2006 chỉ đạt khoảng 235 nghìn người
(Kiều Diễm, 2016) Nếu như trước đây, đối tượng chủ yếu của các công ty đa cấp là
những người nghèo, tham gia để mong được đổi đời thì đến nay những người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp còn có trí thức, giáo viên, công nhân và đặc biệt hơn hết là đối tượng sinh viên
Dường như, sự biến tướng mang tính chất lừa đảo này đã khiến cho sinh viên ngày càng lún sâu vào con đường KDĐC, buộc họ phải cố gắng duy trì theo loại hình KDĐC này một cách bắt buộc để hy vọng lấy lại số vốn ban đầu hoặc thực hiện ước mơ làm giàu Điều này có một sự ảnh hưởng rất lớn trực tiếp đến đời sống của sinh viên từ gia đình, bạn bè, học hành cho đến sinh hoạt hằng ngày Vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, việc thực hiện nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết nhằm phân tích và chỉ ra các tác động tích cực và tiêu cực của việc tham gia KDĐC đến đời sống của sinh viên ĐHQG TP.HCM Qua đó đưa ra những kết luận và khuyến nghị cần thiết cho các sinh viên/ tổ chức/ cơ quan liên quan Đây cũng là lý
do khiến nhóm tác giả quyết định chọn đề tài “Tác động của việc tham gia kinh
doanh đa cấp đến đời sống của sinh viên ĐHQG TP.HCM” làm chủ đề nghiên
cứu
Trang 132 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra những tác động của việc tham gia KDĐC đến đời sống vật chất, tinh thần của sinh viên ĐHQG TP.HCM
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3 Tổng quan đề tài nghiên cứu
KDĐC là loại hình kinh doanh tiếp thị qua mạng lưới đã du nhập vào Việt Nam được một thời gian Đối tượng thường chiếm ưu thế của loại hình này là sinh viên và trong đó có sinh viên ĐHQG TP.HCM Do đó, Nhà nước cũng đã đưa ra một số nghị định, luật lệ nhất định nhằm quản lý, duy trì và kiểm soát hoạt động kinh doanh này một cách hiệu quả nhất, điển hình như Nghị định 42/2014/NĐ-CP
Chính vì những lý do đó, đã có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề này mà dưới đây tác giả đề tài xin được tổng quan qua quá trình nghiên cứu
Robert T.Kiyosaki & Sharon L Lechter (2010), tác giả Dạy con làm giàu
(tập 11) đã chỉ ra những tác động tích cực mà kinh doanh tiếp thị mạng lưới đem lại
cho người dân Mỹ Theo đó, ông cho rằng lợi ích nhất mà kinh doanh thương mại mạng lưới mang lại chính là những khóa học rèn luyện kĩ năng bán hàng, cách thức
để đạt đến sự giàu có thật sự mà những người tham gia vào mạng lưới này sẽ được những lãnh đạo cấp trên hướng dẫn và đào tạo để giúp họ có thể đạt được những
Trang 14điều đó Và theo tác giả, đó cũng chính là mục đích cao cả nhất của kinh doanh thương mại mạng lưới
Bạn bè cũng là một trong những yếu tố quyết định việc tham gia vào một mạng lưới kinh doanh tiếp thị Tác giả đã vẽ ra một Kim tứ đồ:
Tương ứng với từng góc phần tư khác nhau “ L – là người làm công ; T – người làm tư, có cơ sở làm ăn nhỏ hoặc người làm chuyên môn; C – là chủ doanh nghiệp lớn; Đ – là người đầu tư” Tưng ứng với từng góc phần tư sẽ có những nhóm bạn bè khác nhau Nếu đa số bạn bè nằm trong góc phần tư C và Đ, tức là những người có cùng chí hướng kinh doanh tiếp thị mạng lưới thì đó sẽ như một nguồn động lực thúc đẩy bạn tham gia vào kinh doanh tiếp thị mạng lưới
Phan Thanh Lưu (2010), Tìm hiểu về việc tham gia bán hàng đa cấp của sinh
viên ĐHQG TP.HCM Các tác giả cũng đã phân tích khá cụ thể về các hình thức,
các dạng mô hình kinh doanh của KDĐC Đề tài trên làm rõ được những ưu điểm tốt nhất của KDĐC đến nhiều khía cạnh Về mặt người tiêu dùng với lợi ích có nhiều lựa chọn, cơ hội được sử dụng hàng hóa chất lượng cao, có quyền kinh doanh các sản phẩm chất lượng Mặt xã hội, giúp huy động được sức lao động và nguồn vốn nhàn rỗi kích thích tiêu dùng, tăng khoản thu ngân sách nhà nước, tăng phúc lợi
xã hội Đối với doanh nghiệp phân phối hàng hóa theo hình thức kinh doanh thương mại giúp loại bỏ được khâu trung gian tạo ra một mạng lưới khách hàng trung thành Đối với thành viên tham gia mạng lưới này, giúp có được một khoản thu nhập tương đối đáng kể, được quyền tự do chọn đối tác đồng nghiệp, có nhiều cơ hội phát triển cá nhân Đặc biệt, đề tài làm rõ “Mô Hình Tháp Ảo” – là mô hình biến tướng
mà các công ty KDĐC có khuynh hướng lừa đảo hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng Tuy nhiên, đề tài chưa làm rõ những nguyên nhân, tác động của loại hình
Hình 1: Sơ đồ kim tứ đồ
Trang 15kinh doanh này đến sinh viên ĐHQG TP.HCM Các tác giả chỉ dừng lại ở việc khảo sát mức độ hài lòng
Lê Hoàng Vũ (2010), Những tình huống bán hàng đa cấp bất chính tại Việt
Nam, đã nghiên cứu một cách chi tiết về bán hàng đa cấp từ định nghĩa, lịch sử đến
nguyên lý phát triển, đồng thời còn phân tích cụ thể ưu điểm và nhược điểm của loại hình kinh doanh này, so sánh giữa bán hàng truyền thống và bán hàng đa cấp Đặc biệt, đề tài này đã chỉ ra sự khác biệt giữa bán hàng đa cấp bất chính và bán hàng đa cấp hợp pháp; giúp những người tiêu dùng và những ai muốn tham gia vào loại hình này có nhận biết mà đề phòng, hoạt động đúng đắn; giúp chính phủ để ra những biện pháp thích hợp để kiểm soát cũng như ngăn chặn hoạt động của các công ty đa cấp bất chính kịp thời Mặc dù chỉ ra các đặc điểm cụ thể của bán hàng đa cấp,
trong đó nhấn mạnh mô hình “hình tháp ảo” là chính nhưng tác giả chưa đề cập và
phân tích đến các mô hình khác như mô hình bậc thang , mô hình ma trận, mô hình chiều ngang, mô hình nhị phân dựa theo sự phân chia mô hình của Nguyễn Trung Toàn (2011) Có nhiều cách cơ bản được sử dụng trong hầu hết các sơ đồ trả thưởng bán hàng đa cấp, do các công ty đã sáng tạo ra rất nhiều kế hoạch trả tiền cho mạng lưới tiếp thị đa cấp Vì thế, việc chỉ ra các mô hình này là cần thiết Nó giúp chúng
ta hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của các công ty đa cấp Từ việc tìm hiểu về định nghĩa, lịch sử, đặc điểm,… của các công ty đa cấp ở các nước trên thế giới cùng với sự hiểu biết về sự du nhập của bán hàng đa cấp, các quy định của pháp luật
về bán hàng đa cấp ở Việt Nam, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về hoạt động KDĐC ở nước ta Nhưng chú trọng hơn cả là hoạt động của các công ty đa cấp bất chính Theo đó, “bán hàng đa cấp bất chính xuất hiện ở Việt Nam dưới các tên gọi khác nhau như kinh doanh mạng lưới trực tiếp, hợp tác tiêu thụ đa
tầng, nhưng tất cả đều là biến tường của “hình tháp ảo” Những mô hình “hình tháp ảo” này đang hoạt động công khai, thách thức dư luận và ngày càng phổ biến
rộng rãi, hoạt động sôi nổi Thậm chí, chúng còn lấn át, gây ảnh hưởng rất lớn đối với các công ty đa cấp hợp pháp Một ưu điểm đáng chú ý trong đề tài này là tác giả
đã cụ thể hoá các công ty đa cấp bất chính ở Việt Nam dựa vào việc điều tra khái quát về tình hình và cách thức hoạt động của ba công ty: công ty Sao Việt – Savicom, công ty Colony và công ty Sinh Lợi Song, tác giả chưa đề cập đến sự
Trang 16tương đồng của ba công ty này để có thể vạch trần khuynh hướng hoạt động chung của hầu hết các công ty đa cấp bất chính ở nước ta để mục “bài học kinh nghiệm” thêm phần thuyết phục và mục “giải pháp” ở cuối đề tài thêm phần thực tế, hữu dụng
Trần Thị Hương Huế (2009), Hoạt động Marketing đa cấp công ty TNHH Nonivina – thực trạng và giải pháp phát triển Tác giả đã đề cập đến khía cạnh tích
cực, bộ mặt khả quan của các công ty đa cấp khi du nhập vào Việt Nam Dù không
cùng hướng nghiên cứu với Lê Hoàng Vũ (2010) trong đề tài Những tình huống bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam, nhưng cả hai đều thống nhất nguyên lý phát
triển của các công ty đa cấp Đó là nguyên lý chia sẻ và nguyên lý cấp số nhân Điểm mới của đề tài của Trần Thị Hương Huế (2009) là chỉ ra những mô hình đa cấp Hơn nữa, đề tài này còn phân biệt mô hình bán hàng đa cấp với mô hình kinh
doanh “hình tháp ảo” dựa trên các tiêu chí sản phẩm, chi phí đầu vào, hứa hẹn thu
nhập Đây có thể xem là điểm nổi bật của đề tài, bởi theo Lê Hoàng Vũ (2010,
tr.24): “Marketing đa cấp ngày càng phát triển rộng rãi, được nhiều người ủng hộ nhưng cũng không ít người phản đối Một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến nghi ngờ hoặc phản đối là sự lẫn lộn giữa marketing đa cấp, dạng hợp pháp với hình tháp ảo là dạng lừa đảo đang bị cấm ở các nước đang phát triển”
Tuy nhiên, đề tài của Trần Thị Hương Huế (2009) chưa làm rõ thực trạng các công ty đa cấp ở Việt Nam Đặc biệt là chưa tìm được xu hướng phát triển của loại hình bán hàng đa cấp ở nước ta để có thể định hướng được sự phát triển của công ty mình đang nghiên cứu Hướng chính của đề tài này là chủ yếu phân tích hoạt động
và giải pháp khắc phục hạn chế để phát triển của công ty đa cấp hợp pháp, cụ thể là công ty TNHH Nonivina – nhà phân phối của tập đoàn Tahitian Noni International mang tầm uy tín và nổi tiếng trên thế giới Qua đó, đề tài mang lại cái nhìn tích cực
và toàn diện hơn trong bức tranh tổng thể về hoạt động đa cấp ở Việt Nam
Xét về phương diện đời sống sinh viên, hầu như những nghiên cứu về đời sống thanh niên, trong đó có sinh viên đều là nghiên cứu mở nhưng Đặng Cảnh
Khanh (2006), trong cuốn Xã hội học Thanh Niên đã tiếp cận vấn đề đời sống
thanh niên dựa trên ba định hướng Thứ nhất, nghiên cứu vị trí, vai trò của thanh niên trong sự vận động và phát triển đất nước cũng như ảnh hưởng của những vấn
Trang 17đề xã hội đến nhận thức và hành vi của thanh niên Thứ hai, nghiên cứu, phân tích
và lý giải vấn đề tâm lý, tâm trạng nhu cầu và hành vi của họ Thứ ba là nghiên cứu những hoạt động phong trào cũng như tổ chức chăm sóc, rèn luyện, giáo dục thanh niên Bàn về vấn đề tác động của nền kinh tế thị trường đối với thanh niên Đặng Cảnh Khanh đã chỉ ra rằng sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã tạo ra nghịch
lý đáng buồn Nếu không được nghiên cứu và điều chỉnh kịp thời thì sự tăng trưởng kinh tế nhanh có thể kéo theo những sự suy thoái tương ứng về văn hóa, đạo đức, xã hội của thanh niên Trước mắt họ là một khối lượng ngày càng lớn những thông tin cần phải xem xét và xử lý những chiều tốt – xấu, sáng – tối khác nhau tác động đến
họ một cách khách quan Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến nhận định của G.Mead – nhà xã hội học đặt nền móng quan điểm “tương tác biểu trưng” trong tư duy xã hội Ông cho rằng sự hình thành nên bản thân nhân cách một con người không phải chỉ yếu tố tự thân con người mà là kết quả của quá trình tương tác liên tục: “Cái tôi (I)
= Cái tôi thuần túy (Self) + Cái người khác trong tôi (Me)” (Đặng Cảnh Khanh,
2006, tr.158)
Như vậy, dựa vào công thức trên, ta có thể kết luận môi trường sống cũng như sự định hướng và nỗ lực mà mỗi cá nhân lớn lên và trưởng thành có ảnh hưởng đến cái tôi mỗi người Cụ thể hơn, theo tác giả, nhóm thanh niên đã tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội thì phương thức xã hội hóa của họ có hướng nghiêng về hội nhập và thực tiễn Cuộc sống của họ trở nên chín chắn, dày dặn hơn nhờ được tiếp thu được kinh nghiệm và kiến thức từ những va chạm với cuộc sống Ngược lại, với nhóm thanh niên chỉ học ở nhà trường mà không tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa thì việc xã hội hóa nghiêng về lĩnh hội những kiến thức lý luận và trựu tượng từ khoa học và sách vở Tuy nhiên, tác giả chưa đưa
ra những tác động tiêu cực của việc tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đến đời sống thanh niên, đặc biệt là sinh viên mà chỉ dừng lại ở việc khái quát hóa quá trình xã hội hóa của họ rồi đưa ra những giải pháp chung nhất cho mỗi vấn đề
Lê Thị Yên Di và Hoàng Công Thảo (2003), Nghiên cứu hoạt động học tập, làm thêm, đời sống tình cảm và giải trí của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn hiên nay Các tác giả đã tiếp cận đời sống đó trên nhiều khía cạnh từ
hoạt động học tập, việc làm thêm, đời sống tình cảm đến hoạt động giải trí Về hoạt
Trang 18động học tập, tác giả quan tâm đến thời gian nghe giảng bài, làm việc nhóm, tần suất lên thư viện, Từ đó, các tác giả đưa ra kết luận rằng sinh viên ĐHKHXHNV rất tích cực trong việc học Thời gian mà mỗi sinh viên tự học khá nhiều Vì vậy, ngoài thời gian lên lớp, sinh viên còn chủ động tìm tòi tài liệu, học hỏi những kiến thức chuyên sâu hơn trong ngành học của mình Còn về việc làm thêm, tác giả chú
ý đến số giờ làm thêm, mục đích cũng như sự phù hợp chuyên môn giữa công việc làm thêm với chuyên ngành đang theo học Theo nghiên cứu của tác giả, 45,9 sinh viên trong mẫu nghiên cứu làm thêm Những công việc sinh viên có thể làm trong thị trường việc làm phần lớn không phù hợp với chuyên môn của sinh viên Ngoài việc học hỏi thêm kinh nghiệm thực tiễn trong việc làm thêm, sinh viên còn muốn
tự trang trải học phí, đặc biệt là những sinh viên đến từ nông thôn Tương tự, đời sống tình cảm của sinh viên được thể hiện qua các mối quan hệ gia đình, bạn bè và tình yêu Còn hoạt động giải trí được nhận định qua các hoạt động đọc sách, nghe nhạc, xem ti vi,… Song, không chỉ dừng lại ở việc mô tả, đưa ra các số liệu nói về đời sống sinh viên mà tác giả còn chỉ sự tương quan, mối quan hệ giữa những vấn
đề trên với kết quả học tập của sinh viên ĐHKHXHNV
Từ những nghiên cứu nêu trên, có thể thấy, nghiên cứu về ảnh hưởng của hoạt động KDĐC đến đời sống của sinh viên ĐHQG TP.HCM là vấn đề còn bỏ ngỏ
và cần được làm rõ
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Nội dung nghiên cứu
Những tác động của KDĐC đến đời sống của sinh viên ĐHQG TP.HCM
4.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên ĐHQG TP.HCM tham gia mạng lưới KDĐC Cụ thể là các sinh viên đang còn theo học tại trường từ năm thứ nhất đến năm thứ 4
4.3 Địa bàn nghiên cứu
- Tại các trường đại học thuộc ĐHQG TP.HCM (điển cứu: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn)
- Các công ty đa cấp đang hoạt động kinh doanh trên địa bàn TP.HCM
Trang 194.4 Thời gian nghiên cứu
- Dữ liệu thứ cấp: nhóm tác giả tổng hợp các đề tài nghiên cứu về vấn đề tài kinh doanh đa cấp trong và ngoài nước trong khoảng thời gian từ 2003 đến nay
- Dữ liệu sơ cấp: nhóm tác giả tiến hành thu thập số liệu khảo sát thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Nhưng đóng vai trò chính là nguyên cứu định lượng, nghiên cứu định tính góp phần giải thích và làm rõ các kết quả nghiên cứu định lượng
5.1 Phương pháp thu thập thông tin
5.1.1 Thu thập thông tin định tính
Thông tin định tính được thu thập chủ yếu thông qua phương pháp phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi bán cấu trúc Cụ thể, đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 8 sinh viên tham gia KDĐC Số sinh viên được chia đều ở hai khối tự nhiên và xã hội nhân văn thuộc hai nhóm sinh viên năm 1,2 và sinh viên năm 3,4 Bảng hỏi được trình bày tại phụ lục 1 của đề tài
5.1.2 Thu thập thông tin định lượng
- Dữ liệu thứ cấp: thu thập dữ liệu qua các thống kê, báo cáo số liệu chuyên ngành có sẵn, các đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu vấn đề liên quan
- Dữ liệu sơ cấp: thu thập thông qua công cụ bảng bảng hỏi cấu trúc
+ Phương pháp chọn mẫu: ở đây, đề tài kết hợp cách chọn mẫu phán đoán và phương pháp chọn mẫu tăng nhanh (còn gọi quả bóng tuyết - snowball sampling) vì khách thể của đề tài ở dạng khó tiếp cận
Chọn mẫu phán đoán: các tác giả lựa chọn mẫu dự trên phán đoán về trường đang theo học (dựa vào địa bàn nghiên cứu), giới tính, số năm đang theo học (dựa vào hình dạng, trang phục)
Chọn mẫu tăng nhanh: do khách thể nghiên cứu của đề tài mang tính chất tương đối nhạy cảm và khó tiếp cận, tìm kiếm
Cụ thể, khi tiến hành khảo sát thử bằng các phương pháp khác,
Trang 20nhóm tác giả đã không nhận được sự hợp tác cũng như rất khó khăn trong việc tìm kiếm các đối tượng tham gia KDĐC với thời gian cần thiết, phù hợp với mục đích của đề tài Do đó, nhóm tác giả đã quyết định sử dụng phương pháp chọn mẫu tăng nhanh
Cụ thể, trước hết, nhóm nghiên cứu chọn một số đối tượng để phỏng vấn sau đó nhờ họ giới thiệu những người khác mà họ quen biết
5.2.2 Xử lý thông tin định lượng
Đối với bảng hỏi: tác giả tiến hành nhập dữ liệu, làm sạch dữ liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Kết quả số liệu sau khi xử lý sẽ được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả và kiểm định mối tương quan giữa các biến Cụ thể dùng phương pháp kiểm định T-test để kiểm định biến định tính và định lượng; kiểm định Chi-square để kiểm định hai biến định tính với nhau; dùng kiểm định person để kiểm định 2 biến định lượng với nhau Nếu Sig ≤ 0,05 và số ô trong bảng chéo ≤ 20% tức giữa hai biến có mối quan hệ với nhau
Hình 2: Sơ đồ số lượng mẫu theo trường
Trang 216 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở phân tích tác động của KDĐC đến đời sống sinh viên ĐHQG TP.HCM sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn dữ liệu tham khảo về những vấn
đề có liên quan đến đến mối liên hệ giữa KDĐC và đời sống của sinh viên
Đề tài cũng là nguồn tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm và mong muốn nghiên cứu trên những lĩnh vực kinh doanh đa cấp
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất được một số kiến nghị, định hướng cụ thể để sinh viên có thể lựa chọn được cho mình cách giải quyết tốt nhất trước vấn đề sự ảnh hưởng của KDĐC đến đời sống của sinh viên ĐHQG TP.HCM
7 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP
Chương 2 THỰC TIỄN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA KINH DOANH ĐA CẤP ĐẾN ĐỜI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 22PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm về kinh doanh đa cấp
Thuật ngữ “Muti Level Marketing” được hiểu với nghĩa là “KDĐC” Ngoài
ra, thuật ngữ này còn được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau như “kinh doanh theo mạng”, “bán hàng đa cấp”, “tiếp thị theo tầng”,… Song, chúng đều chỉ phương thức bán hàng trực tiếp mà cơ cấu nhiều tầng bao gồm những cá nhân riêng biệt hoạt động lưu hành, bán và phân phối sản phẩm một cách độc lập
Theo Richard (2005, tr.39 – 40) định nghĩa “Kinh doanh theo mạng là bất kì một phương pháp kinh doanh nào mà cho phép một cá thể kinh doanh độc lập tiếp nhận vào công việc của mình các cá thể kinh doanh khác và lấy ra được các khoản hoa hồng từ các công việc kinh doanh của các cá thể mà họ thu hút được” Như vậy,
theo quan điểm này, những người tham gia vào KDĐC để có thể thu được những lợi ích cho bản thân họ thì cần phải thu hút những người khác vào công việc này Những người khác cũng phải tìm những người tiếp theo, cứ thế tạo thành một mạng lưới Người nào tìm được càng nhiều người vào mạng lưới thì lợi ích họ thu được càng cao
Trong Nghị định về giám sát hoạt động bán hàng đa cấp do Chính phủ Việt
Nam ban hành, tại Điều 2 cũng đã đề cập đến lợi ích của những người tham gia
KDĐC thông qua định nghĩa: “Bán hàng đa cấp là một phương thức tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp thông qua nhiều cấp khác nhau, trong đó người tham gia
sẽ được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng và/ hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng hóa của mình và của người khác trong mạng lưới do người đó tổ chức ra
và được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận”(Chính phủ, 2005) Định nghĩa
này cũng khá tương đồng với định nghĩa của Richard nhưng cụ thể hơn Khái niệm
“Cá thể kinh doanh độc lập” đã được cụ thể hóa thành “các doanh nghiệp” Và lợi ích của người tham gia vào KDĐC không chỉ dừng lại ở những tiền hoa hồng từ những người mà họ thu hút được mà đã được mở rộng bằng cả số tiền hoa hồng, tiền thưởng từ kết quả bán hàng của chính bản thân họ
Trang 23Như vậy, từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu KDĐC là hình thức kinh doanh hàng hóa trực tiếp, sử dụng những mạng lưới những nhà phân phối, hoạt động độc lập với công ty để phân phối hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng mà không cần thông qua các đại lý nào khác Chính vì thế, các số tiền như chi phí trung gian, chi phí quảng cáo, tiếp thị,… có thể loại bỏ khá đáng kể
và được góp vào các khoảng tiền hoa hồng Khoản tiền hoa hồng những người phân phối sản phẩm được hưởng là từ sản phẩm mình bán được và ăn phần trăm trên hoa hồng của hệ thống dưới mình
1.1.2 Khái niệm về sinh viên
Với khái niệm “sinh viên” được bắt nguồn từ một từ gốc Latinh: “Students” với nghĩa là người làm việc, học tập, tìm hiểu, khai thác tri thức Theo Lê Hữu Thảo,
Trần Văn Nam (2007, tr.268), Từ điển Hán – Việt có định nghĩa “Sinh viên là người học ở bậc đại học” Còn theo Quy chế Học sinh Sinh viên trong các trường
đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: “sinh viên” là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng mà cụ thể trong đề tài này nhóm tác đang muốn hướng đến đối tượng sinh viên đang tham gia kinh doanh đa cấp thuộc ĐHQG TP.HCM ở khối Khoa học tự nhiên và Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.1.3 Khái niệm về đời sống
Trong đề tài Đời sống công nhân nhập cư tại TP.HCM, Nguyễn Tất Thành (2014, tr.32-33) có đề cập đến khái niệm đời sống Theo đó, đời sống “để chỉ tổng hợp hiện tượng phát sinh do tác động lẫn nhau của các cá thể và cộng đồng tồn tại trong không gian nhất định và thời gian nhất định, là tổng thể xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của con người, thông qua các hoạt động của các bộ phận cấu trúc xã hội, mỗi cá nhân bằng nỗ lực của mình tạo dựng cuộc sống riêng” Khi mở rộng nội
hàm, khái niệm này còn dùng để chỉ các hiện tượng thích nghi lẫn nhau trong quá trình sống Sở dĩ có môi trường sống là do sự tồn tại cùng nhau, sự tương tác lẫn nhau của những thành phần trong môi trường đó
Còn trong “Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam” (Nguyễn Lân, 2003), định nghĩa
khái niệm đời sống với bốn nghĩa Thứ nhất, là tình trạng tồn tại của sinh vật chẳng hạn như đời sống của cây cỏ, đời sống của súc vật, đời sống của con người Thứ hai,
Trang 24là sự hoạt động của người ta trong từng lĩnh vực Thứ ba, là phương tiện để sống Thứ tư, là lối sống của cá nhân hay tập thể
Trong số những định nghĩa trên, đề tài nghiên cứu này tiếp cận khái niệm đời sống với góc nghĩa thứ hai, nghĩa là sự hoạt động của sinh viên ĐHQG TP HCM trong từng lĩnh vực Cụ thể ở đây nhóm tác giả phân chia khái niệm đời sống thành đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Vật chất là hiện thực khách quan, tồn tại bên ngoài ý thức của con người và
đối lập với ý thức Đời sống vật chất đáp ứng nhu cầu ăn ở, đi lại và nhu cầu về thể xác con người (Minh Tâm, 1998) Đề tài này dùng những chỉ tiêu về (1) việc làm, (2) thu nhập, (3) chi tiêu để làm rõ nguyên nhân, thực trạng việc tham gia KDĐC của sinh viên ĐHQG TP.HCM cũng như phản ánh đời sống vật chất của những sinh viên đang làm công việc này Dựa vào những chỉ tiêu này, ta có thể rút ra những nhu cầu vật chất cơ bản mà sinh viên có được Từ đó, nhóm nghiên cứu tiến hành đánh giá những mặt lợi và mặt hại của KDĐC đến đời sống vật chất của sinh viên ĐHQG TP.HCM
Tinh thần nói chung là những hoạt động liên quan đến đời sống nội tâm của
con người, nói riêng là tổng thể ý nghĩ, tình cảm, tâm tư của con người Chính những thái độ, ý nghĩ đó có ý nghĩa quyết định hành động và thực hiện hành vi của con người (Minh Tâm, 1998) Trong đề tài này, sử dụng những chỉ tiêu về trạng thái tâm lý (gồm 5 mức độ: vui vẻ, thoải mái; bình thường, áp lực, mệt mỏi), hoạt động giải trí và hoạt động thể chất để đánh giá đời sống tinh thần của sinh viên đang tham gia bán hàng đa cấp Tương tự như đời sống vật chất, nhóm nghiên cứu dựa vào những kết quả thu được từ những biến này để đưa ra kết luận những tác động tích cực cũng như tác động tiêu cực của việc KDĐC đến đời sống tinh thần sinh viên ĐHQG TP.HCM
Sinh viên là đối tượng năng động, trẻ trung, sáng tạo và luôn hướng đến cái mới Trong bối cảnh hội nhập với quốc tế, đời sống của sinh viên có nhiều biến đổi vừa theo hướng tích cực (tiếp thu giá trị mới, hiện đại) và vừa theo hướng tiêu cực (có những biểu hiện không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, giá trị truyền thống
Trang 25dân tộc) do ảnh hưởng từ nhiều tác động khác nhau trong đó có việc tham gia KDĐC của một số bộ phận sinh viên
1.2 Các lý thuyết tiếp cận
1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970) là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông được xem là cha đẻ của tâm lý học nhân văn và được cả thế giới biết đến thông qua Thuyết nhu cầu – một lý thuyết nghiên cứu và phân loại các nhu cầu của con người thành các cấp bậc khác nhau Thuyết nhu cầu của ông cho đến nay vẫn còn được áp dụng rộng rãi phổ biến ở hầu hết các lĩnh vực
Theo A.H Maslow (1943), ông cho rằng hành vi của con người bắt nguồn
từ nhu cầu của họ Ông phân chia nhu cầu của con người thành 5 bậc thang khác nhau tương ứng với 5 nhu cầu từ cơ bản đến nâng cao của con người và khi các nhu cầu cấp dưới được thoả mãn đến một giới hạn nhất định thì sẽ nảy sinh những nhu cầu kế tiếp ở mức độ đòi hỏi cao hơn điều đó đồng nghĩa với việc muốn thoả mãn nhu cầu ở mức độ cao hết thì trước hết những nhu cầu ở cấp độ thấp phải được thoả mãn trước Thang nhu cầu của A H Maslow gồm 5 bậc:
Bậc 1 Những nhu cầu về sinh lý (The physicological needs): là bao gồm
những nhu cầu căn bản và thiết thực nhất của con người nhằm mục đích duy trì sự sống và thoả mãn bản chất của một con người như: ăn, uống, ngủ, tình dục, không khí để thở, nhiệt độ ổn định của máu, protein, … Đây là những nhu cầu sinh lý không thể thiếu cho sự tồn tại của con người Nó được xem như là nhu cầu nền tảng của các loại nhu cầu còn lại
Bậc 2 Những nhu cầu về an toàn (The safety needs): gồm những nhu cầu
được an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản,… Trong những tình huống mang tính chất nguy hiểm thì chính nhu cầu về an toàn này sẽ thúc đẩy các hành vi của con người với mục đích đảm bảo sự an toàn của họ
Bậc 3 Những nhu cầu tình cảm và được trực thuộc (The love needs): là
những nhu cầu về mặt trao đổi tình cảm, được yêu thương, chia sẻ, được trực thuộc một tổ chức xã hội nào đó, vì con người là một bộ phận của xã hội nên họ muốn được chấp nhận Điều này cho thấy con người có nhu cầu “giao tiếp” để có thể hoà nhập vào xã hội để phát triển và hoàn thiện bản thân mình (Đào Phú Quý, 2010)
Trang 26Bậc 4 Nhu cầu cần được tôn trọng (Esteem needs): khi đã trở thành một
thành viên được trực thuộc một tổ chức nào đó trong xã hội thì con người thường có nhu cần cần được mọi người đánh giá, tôn trọng, tin tưởng, …
Bậc 5 Nhu cầu được thể hiện bản thân (Self actualization): đây được xem là
nhu cầu cao nhất của con người, mong muốn hoàn thiện, phát triển toàn diện cả về các mặt chân, thiện, mỹ, sáng tạo,… “Thuyết nhu cầu của A.Maslow là thuyết đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Việc sắp xếp nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao cho thấy độ “dã man” của con người giảm dần và độ “văn minh” của con người tăng dần.”
Áp dụng lý thuyết: Do hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ, nên nhóm nghiên cứu cho rằng việc sinh viên quyết định tham gia KDĐC cũng xuất phát từ việc nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của bản thân Vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định sử dụng lý thuyết này để tìm hiểu các nhu cầu là nguyên nhân ảnh hưởng đến việc quyết định tham gia vào KDĐC Và những nhu cầu thoả mãn được sau khi tham gia KDĐC sẽ tác động như thế nào đến đời sống của sinh viên
1.2.2 Nguyên lý mối liên hệ phổ biến của Karl Marx
Karl Marx (1818 – 1883) là một nhà tư tưởng Đức nổi tiếng người Do thái
Ông đã để lại những công trình nghiên cứu mang tầm ảnh hưởng lớn ở nhiều lĩnh vực Và một trong những nguyên lý của ông cho đến ngày nay vẫn còn được áp
Hình 3: Sơ đồ tháp nhu cầu Maslow
Trang 27dụng rộng rãi đó chính là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Theo Karl Marx, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến được phát biểu như sau:
Một là, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới đều tồn tại trong
muôn vàn mối liên hệ ràng buộc qua lại lẫn nhau
Hai là, trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của sự vật, hiện tượng,
quá trình trong thế giới có những mối liên hệ phổ biến Mối liên hệ phổ biến là mối liên hệ tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng, mọi lĩnh vực (Nguyễn Viết Thông, 2016)
Đối với đề tài của nhóm nghiên cứu, nguyên lý mối liên hệ phổ biến của Karl Marx cho thấy:
- Khi nghiên cứu một đối tượng phức tạp như tác động của việc KDĐC đến đời sống của sinh viên thì phải xem xét chúng một cách toàn diện Phải chú ý tới tất cả các mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố, các mặt bên trong sự vật, hiện tượng và mối liên hệ giữa đối tượng đang nghiên cứu với các tượng khác
- Phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải thấy rõ vai trò của từng loại liên hệ đối với sự tồn tại, biến đổi của đối tượng nghiên cứu Từ đó tìm ra các quy luật giữa các mối liên hệ phổ biến xung quanh đối tượng nghiên cứu
1.3 Tác động của KDĐC đến đời sống sinh viên
1.3.1 Tác động đến đời sống vật chất
Về đời sống vật chất của sinh viên, nhóm tác giả đánh giá tác động thông qua
2 khía cạnh về việc làm và học tập dựa trên việc đo lường và phân tích các biến số như: thời gian tham gia, thu nhập, chi tiêu, vốn đầu tư
1.3.2 Tác động đến đời sống tinh thần
Về đời sống tinh thần của sinh viên, nhóm tác giả đánh giá tác động ở các khía cạnh như học tập, quan hệ xã hội, tâm lý, hoạt động giải trí và hoạt động thể chất bằng các thang đo likert
Trang 281.4 Đặc điểm của kinh doanh đa cấp
1.4.1 Nguyên lý phát triển của hệ thống kinh doanh đa cấp
Bán hàng trực tiếp là hình thức phân phối hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng mà không qua bất kỳ trung gian nào KDĐC cũng có những đặc điểm đó nên kinh doanh đa cấp là một hình thức phát triển của hệ thống bán hàng trực tiếp Để thực hiện được nhiệm vụ bán hàng không qua trung gian đó, kinh doanh đa cấp đòi hỏi cần có một mạng lưới những người bán hàng trực tiếp Thế nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ như các công ty kinh doanh theo mạng Amway, Avon, … không qua đội ngũ nhân viên mà qua một hệ thống, mạng lưới các nhà phân phối độc lập
Một khi những nhà phân phối độc lập đó xây dựng được mạng lưới riêng của mình thì thu nhập của họ có thể tăng trưởng theo cấp số nhân Để có được mạng lưới, kinh doanh đa cấp sử dụng kết hợp cả hai nguyên lý phát triển
- Nguyên lý thứ nhất gọi là nguyên lý chia sẻ:
Nguyên lý chia sẻ hay còn gọi là quảng cáo truyền miệng là hình thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm dựa vào tâm lý của con người Khi chúng ta dùng một sản phẩm hay một dịch vụ nào tốt và chúng ta cảm thấy hài lòng, chúng ta thường có thói quen kể lại, chia sẻ lại, truyền miệng lại cho những người bạn, đồng nghiệp và gia đình chúng ta Tâm lý chung của con người là như vậy Đến một lúc nào đó, khi
có nhu cầu về sản phẩm hay dịch vụ đó thì người thân, bạn bè sẽ nhớ tới lời chia sẻ, quảng cáo của chúng ta, họ sẽ tới nơi có hàng hoá và dịch vụ tốt mà ta giới thiệu để mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ
Trong mô hình kinh doanh đa cấp, các nhà phân phối sẽ mua sản phẩm Sau khi dùng thử thì họ sẽ đánh giá chúng và chia sẻ những mặt tốt của sản phẩm đó cho người quen Những người khác cũng tương tự, tức là sau khi dùng thử, thấy tốt rồi chia sẻ thông tin đến người khác Cứ như thế, một mạng lưới khách hàng hay cũng chính là nhà phân phối của công ty được hình thành
- Nguyên lý thứ hai gọi là nguyên lý phát triển theo cấp số nhân :
Trang 29Khi người đầu tiên của hình tháp (tầng 1) tìm được 5 người cùng tham gia (tầng 2), sau đó mỗi người này lại tìm thêm 5 người nữa (tầng 3) Vậy hình tháp đã
có 31 người Sau đó mỗi người ở tầng 3 lại tìm đươc 5 người nữa cùng tham gia (tầng 4) Đến đây hình tháp đã có 156 người… Trên thực tế thì con số này lớn hơn rất nhiều
Quá trình này có thể kéo dài đến vô tận Hệ thống hình thành từ các nhà phân phối tự do muốn xây dựng những nhóm phân phối (mạng lưới) của mình, trong đó các thành viên cũng không phụ thuộc lẫn nhau Mỗi khách hàng đều có thể trở thành nhà phân phối và người đỡ đầu, tức là phát triển các nhóm những nhà phân phối đứng dưới mình Công việc bao gồm việc tuyển dụng nhà phân phối mới, dạy
họ cách bán hàng và phát triển mạng lưới và cách đào tạo người mới Thế nên, kinh doanh đa cấp đòi hỏi cần phải bỏ ra rất nhiều tiền và công sức để cạnh tranh cũng như cần có sự cần cù lao động và đam mê để tìm kiếm những người tích cực trong mạng lưới của mình
1.4.2 Các mô hình của kinh doanh đa cấp
Có nhiều mô hình để kinh doanh đa cấp hoạt động và nhiều hình thức trả thưởng được sáng tạo ra trong hơn một thập kỷ qua Theo sự phân chia mô hình của Nguyễn Trung Toàn (2011) , nhóm tác giả đưa ra bốn mô hình phổ biến sau:
Hình 4: Sơ đồ phản ứng dây truyền theo cấp số nhân
Trang 30Mô hình bậc thang
Tính li khai giúp tạo nên sự khác biệt của mô hình này với những mô hình khác Cụ thể hơn, mô hình này có sự li khai với tuyến trên Nhờ vào điều này, doanh số sản phẩm của người đã li khai và tuyến dưới của họ không còn được tính vào doanh số nhóm tuyến trên mà sẽ bắt đầu theo dõi doanh số nhóm riêng của mình Tùy vào nhóm li khai mà có doanh số hoa hồng khác nhau Có thể là 5% trên
nhóm li khai cấp thứ nhất - tầng 1 (nhóm trực tiếp dưới người đỡ đầu), 4% trên nhóm li khai cấp thứ 2 - tầng 2 (nhóm li khai dưới nhóm cấp thư nhất),…
Vấn đề tồn kho và quản lý số liệu trong mô hình này khá đơn giản nên thường được các công ty áp dụng Không có máy vi tính thì sẽ không thể theo dõi hàng trăm ngàn nhà phân phối, do đó các công ty đã không theo dõi hết được Những công ty lớn nhất và lâu đời nhất như Amway và Tupperware sử dụng mô hình trả tiền thưởng này
Một ưu điểm nữa là mô hình này có thể dễ dàng thay đổi phần trăm lợi nhuận
Có thể thay đổi thưởng nhiều hơn cho những người phân phối hoặc thưởng ít hơn cho những người phân phối ở cấp cao hơn
Tuy nhiên với những ưu điểm trên, các phương thức li khai không hẳn là những kế hoạch ưu việt nhất cho mọi người Mô hình này khá khó đối với những người tham gia KDĐC bán thời gian
Tóm lại, cấu trúc li khai vẫn là một phương thức phổ biến hiện nay
Hình 5: Sơ đồ mô hình trả thưởng bậc thang (li khai)
Trang 31Mô hình ma trận
Trong những năm 80, mô hình này tương đối phát triển, và được áp dụng phổ biến trên các nước có hệ thống KDĐC Đặc điểm của một sơ đồ ma trận là nó
có một hình dạng cố định Hình dạng cố định này có sự ảnh hưởng nhất định đến tính qui mô của một tuyến dưới mà nhà phân phối thu được lợi Nó giới hạn đóng khung cách bố trí mạng lưới là đặc điểm thứ hai của mô hình này
Mặc dù mô hình này xuất hiện từ khá lâu nhưng nhiều công ty ra đời sau này vẫn đang sử dụng các sơ đồ trả thưởng ma trận với nhiều hình thức như 5x7, 2x12, 3x3 và nhiều hình thức khác Nhờ vào tính đơn giản của mô hình này mà thu hút nhiều người tham gia
Mô hình chiều ngang (đơn cấp - đều tầng)
Mô hình này còn được gọi là sơ đồ một tầng – là sơ đồ chỉ có một cấp độ, mặc dù chính nó thật ra không phải là sơ đồ một tầng Các sơ đồ này khá giống với
mô hình ma trận nhưng nó có đặc trưng là không có giới hạn về số lượng cũng như mật độ người tham gia
Việc trả thưởng theo mô hình chiều ngang sẽ không tạo sức ép đối với những người tham gia Cũng chính vì nguyên nhân này mà nó dễ dàng lôi kéo người mới
từ những công ty khác Các công ty khác hứa với phân phối viên không có sự li khai, nhờ đó nhà phân phối không bị mất đi lợi nhuận từ người rời khỏi nhóm Hơn thế nữa, chúng có thể nhanh chóng mang lại thu nhập cho những người mới vào nghề
Hình 6: Sơ đồ mô hình trả thưởng ma trận
Trang 32Mô hình nhị phân
Nhược điểm của mô hình đơn cấp ở trên là không có sự phát triển theo chiều sâu nên khó tồn tại lâu dài Sau khi tìm kiếm được những tư vấn viên ở trong những khoảng thời gian đầu, rồi từ từ thay thế bằng sơ đồ khác hoặc kết hợp với sơ đồ khác
Mô hình nhị phân xuất hiện là để khắc phục những nhược điểm trên của mô hình đơn cấp Ở kế hoạch Nhị phân (Binary Plan), mỗi cấp độ chỉ được có tối đa hai nhánh con Còn số tiền hoa hồng dựa tính dựa trên “chu kỳ”, khi nào mỗi nhánh đạt được một số lượng hàng bán nhất định thì người phân phối được trả một khoản cố định Khi khối lượng hàng bán ở mỗi nhánh cân xứng, tiền hoa hồng sẽ được trả thêm
Phân phối viên tuy không được phép đỡ đầu nhiều hơn hai người ở tầng một của mình nhưng lại có được lợi thế khác, đó là đăng ký lại một lần nữa vào hệ thống
để kiếm thêm thu nhập từ khoản hoa hồng gián tiếp Nguồn lợi nhuận thu được từ
mô hình này là khá lớn, người đỡ đấu được hưởng lợi từ doanh số của nhiều cấp bên dưới
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VỀ KINH DOANH ĐA CẤP
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển kinh doanh đa cấp
Theo Đại học Đông Á (2011), sự ra đời của phương thức KDĐC gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ Carl Rehnborg (1887-1973) Công ty "Vitamins California" và mô hình "phân phối một tầng"
Năm 1927, Carl Rehnborg khởi nghiệp bằng việc chế biến các chất bổ sung dinh dưỡng khác nhau dựa trên cỏ linh lăng, là một loại cỏ chứa nhiều vitamin, khoáng chất, đạm và nhiều thành phần có ích khác Giai đoạn đầu, để giải quyết khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, ông nảy ra ý tưởng đề nghị bạn bè của mình quảng bá thông tin về chất bổ sung dinh dưỡng này cho người quen của họ và nếu những người quen này mua sản phẩm, ông sẽ trả hoa hồng cho người giới thiệu Không dừng lại ở đó, ông còn quyết định trả hoa hồng cho những người quen của bạn mình nếu những người này tiếp tục giới thiệu sản phẩm trong các mối quan hệ của họ Kết quả thật bất ngờ: thông tin về các chất bổ sung dinh dưỡng có lợi bắt đầu được truyền bá rộng rãi Doanh thu bán hàng của công ty tăng vượt quá mức tưởng tượng, mọi người đề nghị gặp ông để tham khảo về thông tin sản phẩm mới này Đây chính là thời điểm đánh dấu sự ra đời của phương thức kinh doanh KDĐC trên thế giới
Năm 1934, Carl Rehnborg sáng lập ra công ty "Vitamins California" và nhờ phương thức phân phối hàng hóa mới mẻ này, khi người tiêu dùng cũng trở thành người tiếp thị sản phẩm, công ty của ông đã nhanh chóng đạt doanh số 7 triệu USD
mà không hề mất một đồng quảng cáo nào Cuối năm 1939 đầu năm 1940, Carl Rehnborg đổi tên công ty thành "Nutrilite Products" theo tên sản phẩm và vẫn giữ nguyên phương thức tiêu thụ Những cộng tác viên của ông tìm người mới, chỉ cho những người đó đây đủ thông tin về sản phẩm và dạy cho họ phương thức xây dựng mạng lưới bắt đầu từ những người quen của mình Công ty đảm bảo cho tất cả các nhà phân phối độc lập có đủ sản phẩm và nhận hoa hồng không chỉ lượng sản phẩm
họ bán ra mà còn trả hoa hồng cho lượng sản phẩm được bán ra bởi những người do
họ trực tiếp tìm ra Trong nhiều tài liệu thì năm 1940 là năm khởi đầu chính thức
Trang 34của phương thức KDĐC và Carl Rehnborg được coi là ông tổ của phương thức kinh doanh này
Lịch sử tiếp theo của phương thức KDĐC gắn liền với tên tuổi của hai cộng tác viên của "Nutrilite Products" là Richard De Vos và Jey Van Andel Sau một thời gian làm việc có hiệu quả với công ty hai ông đã nhận thấy sức mạnh to lớn của phương thức bán hàng mới mẻ này và đã sáng lập ra công ty riêng của mình mang tên American Way Corporation, viết tắt là AMWAY và hiện nay AMWAY đã trở thành một công ty KDĐC hàng đầu thế giới với chi nhánh tại trên 125 quốc gia khác nhau
Vào những năm đầu của thập kỷ 70, KDĐC phải chịu nhiều sức ép lớn Năm
1975 trong Hội đồng thương mại liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commission) có những ý kiến phản đối KDĐC và quy kết nó với Hình tháp ảo - là hình thức bất hợp pháp bị cấm tại Hoa Kỳ Đây là đòn đánh đầu tiên của Chính phủ vào phương thức kinh doanh KDĐC và từ đây đã bắt đầu cuộc chiến của các công ty KDĐC đã khẳng định tính đúng đắn và hợp pháp của mình Công ty AMWAY, từ 1975-1979, suốt 4 năm liền hầu tòa Cuối cùng Tòa án thương mại liên bang Hoa Kỳ đã công nhận phương thức kinh doanh của AMWAY không phải là Hình tháp ảo và nó đã được công nhận về mặt luật pháp Từ đó bộ luật đầu tiên về KDĐC đã ra đời tại Hoa Kỳ
KDĐC xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1998 Doanh nghiệp đầu tiên áp dụng phương thức kinh doanh này là Incomex (bán sản phẩm máy chăm sóc sức khỏe), tiếp theo là Thế giới mới (thực phẩm dinh dưỡng) Sinh Lợi (máy chăm sóc sức khỏe), Lô Hội, Vision (thực phẩm dinh dưỡng) Đáng tiếc những năm đầu kể từ khi phương thức KDĐC du nhập vào thị trường Việt Nam, đã có những tai tiếng liên quan đến vụ kiện tụng của khách hàng và nhà phân phối với một số công ty lợi dụng
mô hình này để kinh doanh bất chính Đây là những công ty đã biến tướng mô hình KDĐC cùng với sự thiếu sót của pháp luật trong việc chậm trễ đưa ra các văn bản pháp quy điều chỉnh và sự thiếu hiểu biết của người dân để thực hiện những hành vi lừa đảo gây tổn thất cho xã hội và ảnh hưởng đến uy tính của KDĐC chân chính Bên cạnh đó xuất hiện ở thị trường Việt Nam không ít những công ty nổi tiếng thế giới có uy tín và gây được những dấu ấn tốt đẹp trong dư luận xã hội như Amway
Trang 35(đồ dùng gia đình), Avon, Oriflame (Mỹ phẩm) Các công ty đã giới thiệu những sản phẩm tốt đến người tiêu dùng thị trường Việt Nam và tạo được công ăn việc làm cho nhiều lao động
2.2 Thực tiễn kinh doanh đa cấp ở Việt Nam
- Theo Điều 48 Luật Cạnh tranh 2004, bán hàng đa cấp bất chính được quy
định như: "Cấm Doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:
+ Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
+ Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
+ Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; + Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để
dụ dỗ người khác tham gia"
Có thể thấy, dấu hiệu khách quan của hành vi bán hàng đa cấp bất chính là việc thực hiện một trong bốn hành vi được liệt kê trên; và dấu hiệu chủ quan của nó
là mục đích thu lợi bất chính mà doanh nghiệp bán hàng đa cấp mong muốn đạt được
Quốc hội (2004), Luật cạnh tranh của Việt Nam xác định sự bất chính dựa
vào mục đích của các hành vi vi phạm là nhằm thu lợi bất chính Mặc dù Luật đã xác định tương đối rõ ràng về hành vi vi phạm và bản chất bất chính của nó, song lại chưa làm rõ được thế nào là nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp
Chính phủ (2014), Nghị định 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng
đa cấp không quy định rõ hành vi KDĐC bất chính mà chỉ đưa ra những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp tại Điều 5:
Trang 36 “ Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng
Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;…”
Có thể nhìn thấy sự hạn chế tại Điều 5 của Nghị định 42/2014/NĐ-CP, cũng như tại điều 48 Luật Cạnh tranh, quy định này chỉ đưa ra tính liệt kê đối với hành vi
bị cấm mà chưa đưa ra được quy định mang tính khái quát đối với hành vi vi phạm bán hàng đa cấp bất chính dẫn đến những doanh nghiệp KDĐC bất chính có thể lách luật một cách dễ dàng
Trong quy định đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp còn bộc lộ nhiều hạn chế Tại Nghị định 42/2014/NĐ-CP của chính phủ về quản lý bán hàng đa cấp, có thể thấy nguyên tắc để đăng ký tổ chức KDĐC vẫn là nguyên tắc truyền thống được áp dụng cho thủ tục đăng ký doanh nghiệp hay thủ tục đăng ký kinh doanh thông thường
Bên cạnh đó, quy định số vốn pháp định tối thiểu là 10 tỷ đồng (Điều 8, Nghị định 42/2014/NĐ-CP) và số tiền ký quỹ bằng 5% số vốn điều lệ nhưng không thấp hơn 5 tỷ đồng (Khoản 1 Điều 29 Nghị định 42/2014/NĐ-CP) so với tổng doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp đa cấp lên đến hàng trăm tỷ đồng một năm là không đáng kể Với những quy định như vậy, nhà nước chỉ có thể đánh giá doanh nghiệp về mặt tài chính mà không thể xác thực liệu chương trình đào tạo, chương trình trả thưởng và nguyên tắc hoạt động… của công ty liệu có chính xác và đúng với cam kết
Trang 37Nghị định số 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và Luật Cạnh tranh Trong đó có điều khoản đề cập việc một người có thể sở hữu nhiều vị trí KDĐC Điều này cũng có nghĩa sản phẩm không ra khỏi hệ thống, một người gom nhiều hàng để trông chờ hoa hồng thu lợi cao, tạo nên con số ảo Luật cũng quy định không được trích thưởng quá 40 nhưng thực tế con số này đã được đẩy lên cao
2.3 Thực tiễn kinh doanh đa cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Dưới đây là danh sách các công ty KDĐC đăng ký địa chỉ công ty thuộc địa bàn TP.HCM theo thống kê của Cục Quản lý cạnh tranh (2017)
Bảng 2.1: Danh sách các công ty KDĐC thuộc địa bàn TP.HCM
1 Công ty TNHH Thương Mại Việt Nam Quốc
4 Công ty TNHH Organo Gold Việt Nam Số 39, đường Lý Chính Thắng, Phường
08, Quận 3, TP.HCM, Việt Nam
5 Công ty TNHH Homeway Việt Nam
2-05 & 2-06, tầng 2, cao ốc Flemington,
182 Lê Đại Hành, Phường 15, Quận 11, TP.HCM, Việt Nam
6
Công ty TNHH Nhượng Quyền Toàn Thắng 19 Đông Xoài, Phường 13, Quận Tân
Bình, TP.HCM, Việt Nam
7 Công ty TNHH Phong Cách Sống Kim
Cương Việt Nam
227 Nguyễn Đình Chính, phường 11, quận Phú Nhuận, TP.HCM, Việt Nam
8 Công ty TNHH Người Lái Xe Mặt Trời Việt
Nam
Phòng 1108A, Tầng 11, Tòa nhà Mê Linh Point, số 2 đường Ngô Đức Kế, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM
9 Công ty Cổ Phần Everrichs 402 Phạm Văn Hai, Phường 5, Quận Tân
Bình, Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
10 Công ty TNHH Best World Việt Nam (tên Số 152 + 150/4, đường Võ Thị Sáu,
Trang 38STT Tên Công ty Địa chỉ
cũ: Công ty TNHH Một Thành Viên Liên Kết
Triển Vọng)
phường 8, Quận 3, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
11
Công ty TNHH MTV New Image Việt Nam Tầng 4, số 04 Nguyễn Đình Chiểu,
Phường Đa Kao, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
12
Công ty TNHH Thương Mại Tiến Thịnh Phát 284A Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8,
Quận 3, TP.HCM, Việt Nam
13 Công ty TNHH CNI Việt Nam 39 Trần Đình Xu, Phường Cầu Kho, Quận
15 Công ty TNHH Một Thành Viên Thương Mại
Dịch Vụ Hoằng Đạt
Tầng 5, tòa nhà Scetpa, số 19A đường Cộng Hòa, Phường 12, Quận Tân Bình, TP.HCM, Việt Nam
16 Công ty Cổ Phần VISI Việt Nam 39B Trường Sơn, Phường 4, Quận Tân
Bình, TP.HCM, Việt Nam
17 Công ty TNHH Total Swiss Việt Nam Số 89, Đường Xuân Hồng, Phường 12,
Quận Tân Bình, TP.HCM, Việt Nam
18
Công ty TNHH Perfect Global (Việt Nam) Địa chỉ: Tòa nhà Agrex Tower, số 58,
đường Võ Văn Tần, Phường 6, Quận 3, TP.HCM
19
Công ty TNHH Một Thành Viên Herbalife
TP.HCM
20 Công ty TNHH Elken International Việt Nam 117 Điện Biên Phủ, P Đa Kao, Quận 1,
TP.HCM, Việt Nam
21
Công ty TNHH Nu Skin Enterprises Việt
Phường 7, Quận 3, TP.HCM, Việt Nam
22 Công ty TNHH Thương Mại Lô Hội 199 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P7, Quận 3, TP
Hồ Chí Minh, Việt Nam
23 Công ty TNHH Unicity Marketing Việt Nam Số 19, đường Cộng Hòa, phường 12,
Trang 39STT Tên Công ty Địa chỉ
Quân Tân Bình, TP.HCM
24 Công ty TNHH Mỹ phẩm Thường Xuân
100-102 Nguyễn Văn Trỗi, phường 8, quận Phú Nhuận, TP.HCM
Nghiên cứu của Lê Bí Bo (2017) cho rằng nhiều công ty KDĐC ở TP.HCM
sử dụng mô hình “Nhị phân” hoặc “Nhị phân biến tướng” để trả thưởng Tuy nhiên, đây lại là mô hình tiềm ẩn nhiều yếu tố lừa dối và gây thiệt hại cho người tiêu dùng
Vì theo các nhà nghiên cứu và chuyên gia, việc trả tiền theo mô hình này buộc các công ty phải nâng giá bán lên gấp nhiều lần so với giá thực tế nên dẫn đến hiện trạng các công ty này sẽ chiếm đoạt một phần khoảng tiền thưởng từ các nhà phân phối Cụ thể, giữa 2 nhánh con trong cùng cấp độ phải có cùng tổng doanh thu trong
1 kỳ trả thưởng Nếu doanh thu ở hai nhánh con này không bằng nhau thì chỉ trả thưởng theo doanh thu của nhóm nhỏ Đồng thời, số tiền thưởng của nhánh lớn sẽ thuộc về công ty
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
- Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển KDĐC trên thế giới
- Tìm hiểu các bộ luật, thông tư, nghị định về KDĐC của Việt Nam, đặc biệt làm rõ những điều kiện để bán hàng đa cấp cũng như những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động KDĐC
- Nêu ra các công ty KDĐC đang hoạt động trên địa bàn TP HCM, đồng thời áp dụng phần mô hình KDĐC ở chương 1 để xác định các công ty đó thuộc mô hình nào
Trang 40CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAM GIA KINH DOANH ĐA CẤP ĐẾN ĐỜI SỐNG SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
3.1 Khái quát Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học
và nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến được thành lập vào ngày 27 tháng 1 năm 1995 theo Nghị định 16/CP gồm 8 trường đại học thành viên và chính thức ra mắt vào ngày 06 tháng 02 năm 1996
Hiện nay, ĐHQG TP.HCM có 7 đơn vị thành viên: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Bách Khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc tế, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Công nghệ Thông tin và Viện Môi trường – Tài nguyên
Hình 7: Sơ đồ khu đô thị ĐHQG TP.HCM