Văn hóa, tập quán sinh hoạt của người dân ở Cần Thơ nói riêng và Nam Bộ nói chung, có ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách về đô thị và mong muốn giảm thiểu buôn bán trên vỉa hè?. Vì C
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NHÂN HỌC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP
BỘ NĂM 2018
SỰ LỰA CHỌN DUY LÝ DƯỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA
CHÍNH SÁCH
(Nghiên cứu trường hợp TP Cần Thơ)
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân
Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Ngân
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2018
BÁN HÀNG RONG: DẤU ẤN SÔNG NƯỚC VÀ
SỰ LỰA CHỌN DUY LÝ DƯỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
(Nghiên cứu trường hợp TP Cần Thơ)
Thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ: Khoa học nhân văn
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2018
BÁN HÀNG RONG: DẤU ẤN SÔNG NƯỚC VÀ
SỰ LỰA CHỌN DUY LÝ DƯỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
(Nghiên cứu trường hợp TP Cần Thơ)
Thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ: Khoa học nhân văn
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Ngân
Số năm đào tạo: 4
Người hướng dẫn chính: PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân
Trang 4BÁN HÀNG RONG: DẤU ẤN SÔNG NƯỚC VÀ SỰ LỰA CHỌN DUY LÝ
DƯỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
(Nghiên cứu trường hợp TP Cần Thơ)
Viết tắt
Thành phố TP
Uỷ ban nhân dân UBND
Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU - 5 -
1 Lý do chọn đề tài - 5 -
2 Tình hình nghiên cứu - 6 - 2.1 Nghiên cứu trong nước - 6 - 2.2 Nghiên cứu ngoài nước - 8 -
3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu - 9 - 3.1 Câu hỏi nghiên cứu - 10 - 3.2 Giả thuyết nghiên cứu - 10 -
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài - 10 -
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn - 16 - 7.1 Ý nghĩa khoa học - 16 - 7.2 Ý nghĩa thực tiễn - 16 -
Chương I cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu - 16 -
1 Các khái niệm liên quan - 16 - 1.1 Bán hàng rong - 16 - 1.2 Chính sách - 18 - 1.3 Không gian đô thị - 19 -
2 Lý thuyết nghiên cứu - 20 - 2.1 Thuyết sinh thái nhân văn - 20 - 2.2 Thuyết sự lựa chọn duy lý - 21 -
3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu - 22 - 3.1 Dấu ấn sông nước qua văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên - 23 -
3.1.2 Nhà ở và không gian cư trú - 26 - 3.2 Dấu ấn sông nước qua văn hoá ứng xử với môi trường xã hội - 28 - 3.2.1 Đời sống tinh thần - 28 - 3.2.2 Lễ hội cộng đồng - 29 -
Trang 63.2.3 Tập quán buôn bán - 31 -
Chương II bán hàng rong ở cần thơ - 34 -
1 Thực trạng buôn bán trên vỉa hè - 34 -
2 Tác động của chính sách đến việc buôn bán của người dân trên vỉa hoạch- 38 - 2.1 Chính sách quy hoạch vỉa hè - 38 -
2.1.1 Về chính sách - 38 -
2.1.2 Điểm tích cực/điểm hạn chếcủa chính sách - 41 -
2.2 Tác động của chính sách - 43 -
Chương III sự lựa chọn duy lý của người dân trước tác động của chính sách- 46 -
1 Hành vi chấp nhận rủi ro như một sự duy lý - 46 -
2 Bán hàng rong dưới góc độ quản lý - 54 -
1 Ghi âm phỏng vấn sâu - 63 -
2 Tài liệu tham khảo - 95 -
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nam Bộ là vùng đất được biết đến với đồng bằng sông Cửu Long cùng mạng lưới sông ngòi chằn chịt, hình thành hệ sinh thái và đời sống xã hội phong phú, đa dạng thêm Khi Nam Bộ chính thức bước vào quá trình đô thị hoá, chính quyền mở rộng chính sách “bê tông hóa” các bờ kè sông thì người dân Nam Bộ bắt đầu chuyển đổi hình thức kinh doanh của họ từ trao đổi hàng hóa trên ghe, thuyền sang hình thức bán dọc các bờ kè sông Ngày nay, việc đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ cùng với phát triển du lịch toàn cầu thì việc buôn bán ngày càng được nở rộ, kèm theo đó là hiện tượng buôn bán trên vỉa hè
Tình trạng lấn chiếm vỉa hè luôn là vấn đề đang được quan tâm trong việc quản
lý đô thị và cảnh quan đô thị Trên tinh thần đó UBND TP Hồ Chí Minh đánh giá cao việc chấn chỉnh lại tình trạng vỉa hè ở Quận 1, lập lại trật tự đô thị Vào ngày 16/1/2017, UBND Quận 1 dưới sự chỉ đạo của ông Đoàn Ngọc Hải – Phó Chủ tịch UBND Quận 1 ra quân thực hiện chiến dịch “giành lại vỉa hè cho người đi bộ” với mục tiêu làm mới cảnh quan đô thị và đảm bảo trật tự an toàn giao thông, biến trung tâm Quận 1 thành “Singapore thu nhỏ” Trong vòng 6 tháng, chiến dịch này đã xử lý được nhiều trường hợp lấn chiếm vỉa hè đem lại kết quả tốt góp phần thay đổi cảnh quan đô thị trên địa bàn Quận 1 Với kết quả khả quan bước đầu, phong trào này đã lan rộng ra khắp cả nước, trong đó có các tỉnh Tây Nam Bộ Bên cạnh đó, một trong những thành phố chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất là Cần Thơ – Tây Đô của miền Tây Nam Bộ
Chính sách quản lý đô thị của nhà nước sẽ có tác động đến đời sống sinh hoạt
và văn hóa buôn bán của người dân Nam Bộ như thế nào? Văn hóa, tập quán sinh hoạt của người dân ở Cần Thơ nói riêng và Nam Bộ nói chung, có ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách về đô thị và mong muốn giảm thiểu buôn bán trên vỉa hè? Việc giữ gìn bản sắc văn hóa trong bối cảnh những tác động của đô thị hóa và toàn cầu hóa ảnh hưởng đến đời sống của người dân ở Nam Bộ và người dân đã có sự thích ứng để phù hợp với bối cảnh mới như thế nào là những lý do chính cho đề tài này
2 Tình hình nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu trong nước
Trong nghiên cứu “Sinh kế tộc người trong thời đại toàn cầu hóa (Phân tích
một mô hình sinh kế của người Dao ở Tây Bắc, Việt Nam)” của Bùi Minh Hào và Tô
Minh Hợp nêu lên được mô hình sinh kế của người Dao trong bối cảnh toàn cầu hóa trong nhiều lĩnh vực, để từ đó đưa ra những phân tích sinh kế của người Dao theo
Trang 8khung sinh kế bền vững và dựa theo đó để đưa ra những hướng phát triển cho các tộc người khác trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hóa Trong bài viết này, tác giả
đã tập trung làm rõ khái niệm “phát triển bền vững” và “sinh kế bền vững” xem con người là trung tâm của sự phát triển và sinh kế là trung tâm của những phân tích về sinh
kế bền vững, bên cạnh đó còn phải kết hợp yếu tố văn hóa như là nét đặc trưng trong việc phát triển sinh kế bền vững của một tộc người Các tác giả cho rằng phát triển sinh
kế bền vững không chỉ là dựa trên sự phân tích sáu loại “vốn” trong khung phân tích sinh kế, mà phải chú trọng vào yếu tố con người Vì con người là trung tâm của nền kinh tế trong bộ phận tộc người đó, là “chủ thể quyết định” của mọi hoạt động Do đó,
để phát triển mô hình sinh kế bền vững, không chỉ phát triển xung quanh 6 loại vốn của một xã hội, cộng đồng mà cần phải nhấn mạnh đến yếu tố con người trong cộng đồng
đó
Bài nghiên cứu về “Phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp truyền thống trong
bối cảnh toàn cầu hóa (Nghiên cứu thực tiễn từ trường hợp Việt Nam và Thái Lan)”,
tác giả Bùi Hoàng Việt cho rằng bối cảnh đô thị hóa nhanh hiện nay dẫn đến sự di cư của người nông dân và những thay đổi trong phương cách hoạt động kinh tế của họ, từ
mô hình canh tác đất nông nghiệp sang các hoạt động thương mại và dịch vụ Trong bài viết này, tác giả đã sử dụng nhiều công cụ phân tích và phương pháp đánh giá để hiểu
rõ hơn những mặt hạn chế của các làng nghề Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay và việc ứng dụng một cách hợp lý từ thực tiễn của Thái Lan trong bối cảnh là Việt Nam Dựa trên khung phân tích DPSIR, tác giả đã cho thấy được các hoạt động làng nghề truyền thống của Việt Nam hiện nay đang có xu hướng thu hẹp lại Khung phân tích này đã chỉ ra được chuỗi quan hệ nhân quả giữa hoạt động kinh tế xã hội của làng nghề và những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến các hoạt động kinh tế này Tác giả đã đưa ra thực tiễn nghiên cứu của Thái Lan trong việc giữ gìn và phát huy các làng nghề truyền thống, hướng đến tiêu chí OTOP (One Tambon One Product) mỗi làng nghề là một sản phẩm, tạo ra những đặc trưng riêng của làng nghề là một hướng ứng dụng thích hợp cho các làng nghề ở nước ta Bên cạnh đó, tác giả sử dụng công cụ SWOT (Strength – Weakness – Opportunity – Threat) để phân tích bối cảnh xã hội, những điểm mạnh cũng những cơ hội và thách thức của các làng nghề ở Việt Nam hiện nay Từ đó, tác giả kết hợp những phân tích dựa trên SWOT để đưa ra những mục tiêu, chiến lược và chương trình hành động cụ thể cho Việt Nam
Bài nghiên cứu “Biến đổi môi trường sinh thái qua tác động của người nông
dân với hoạt động sinh kế mới ở ĐBSCL” của Trần Tấn Đăng Long nêu lên vấn đề về
việc người dân ở xã Tân Chánh, huyện Cần Đước trong trong quá trình đổi mới hoạt động kinh tế nông nghiệp kết hợp nuôi tôm sú nhằm tăng thu nhập và tăng đời sống cá
Trang 9của người nông dân Việc nuôi tôm sú đã góp phần thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn của xã Tân Chánh, nhưng hình thức này vẫn còn nhiều bất cập trong chính sách, và quan trọng hơn hết là việc áp dụng kỹ thuật chưa đúng của người dân gây hại nhiều đến môi trường sinh thái Đó là quá trình xử lí tôm chết, xử lý nước thải, nước mặn trong quá trình nuôi tôm chưa được kĩ càng nên những nguồn này thải ra các con sông, kênh rạch hay bờ ruộng, gây nhiều thiệt hại cho môi trường
Tác giả đã chỉ ra được những ảnh hưởng của hoạt động kinh tế mới (nuôi tôm sú) tuy
có những chuyển biến tích cực về mặt an sinh xã hội, nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Do đó có thể thấy, mô hình phát triển kinh tế này chưa được xem
là sự phát triển sinh kế bền vững
Tác giả Lê Thị Thanh Tuyền trong bài viết “Chợ truyền thống ở TP Hồ Chí
Minh trong sự phát triển chung của cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức”
ập trung phân tích cơ hội cũng như thách thức chợ truyền thống trong nền kinh tế ASEAN Chợ truyền thống là một phần không thể thiếu của đô thị và hơn hết, trong bối cảnh TPHCM trung tâm kinh tế thương mại của cả nước, thì việc giữ gìn và phát huy chơ truyền thống là điều rất cần thiết Tác giả đã cho thấy chợ truyền thống không chỉ
là nơi trao đổi mua bán, nơi lưu giữ những nét đặc trưng trong văn hóa của người Việt trong bối cảnh hội nhập, mà chợ truyền thống còn là sự khẳng định vị trí của kinh tế không chỉ đối với người dân địa phương mà còn đối với du khách nước ngoài
1.2 Nghiên cứu ngoài nước
Trong bài viết “Buôn bán vỉa hè ở Africa: 1 góc nhìn” của tác giả Carolin
Skinner in trong Women in informal employment globalizing and organizing, WIEGO Working parper, tác giả đã xem việc buôn bán trên vỉa hè ở Africa như là
một trường hợp đặc trưng ngoại lệ với cách nhìn xuyên thời gian trong bài nghiên cứu này Bài viết này, tác giả tập trung vào bốn luận điểm chính, vấn đề đầu tiên là việc tập trung vào các tài liệu nghiên cứu và khung lý thuyết có sẵn để phân tích quá trình buôn bán trên đường phố gây nhiều tranh cãi trong những năm 1970, 1980 và tồn tại đến ngày nay Luận điểm thứ hai là việc nhìn buôn bán vỉa hè trong bối cảnh đô thị hóa, nhập cư và xu hướng phát triển kinh tế, đưa ra những bằng chứng xem đó như là một cách để tái cấu trúc lại nền kinh tế Thứ ba là các chính sách và các kế hoạch trong việc tổ chức lại việc buôn bán trên vỉa hè, và cuối cùng là xu hướng tổ chức lại các hoạt động buôn bán giữa những người buôn bán trên vỉa hè với nhau
Bài viết này chủ yếu quan tâm đến số liệu thống kê, chính sách đô thị hóa, thị trường toàn cầu và tổ chức đại diện của những người buôn bán trên vỉa hè ở Africa Đa
số những người buôn bán trên vỉa hè đều là phụ nữ, từ đó tác giả nhận thấy được vai trò quan trọng của các hình thức buôn bán này không chỉ đơn giản là những người phụ
Trang 10nữ nghèo có cách thức mưu sinh mà còn là những chính sách của chính quyền địa phương giúp cho họ học hỏi được cách tạo nên chất lượng dịch vụ tốt hơn Đó còn là việc cân bằng giữa chính sách và những đóng góp của người dân trong kinh tế địa phương, sử dụng không gian công cộng và công tác bảo vệ quản lí môi trường
Trong bài viết của E Jeffrey Popke, Richard Ballard, Dislocating modernity: Identity, space and representations of street trade in Durban, South Africa,
Geoforum 35 (2004) 99–110, tác giả tập trung nghiên cứu sự “xê dịch hiện đại” về bản
sắc, không gian và đại điện của việc buôn bán đường phố ở Durban, Nam Phi Trong đó tác giả sử dụng các câu chuyện để mô tả các thương nhân được triển khai cũng như để hiểu được các vấn đề liên quan đến thay đổi đô thị, từ việc lấn chiếm các khu định cư không chính thức đến những lo ngại về việc thực hành giết mổ nghi lễ tại các khu vực ngoại ô Trong bài viết này, những người buôn bán đường phố được coi là những mối
lo ngại trong việc thay đổi bộ mặt đô thị ở Nam Phi
Những nghiên cứu trên đã nêu lên những vấn đề hết sức cần thiết cho mối quan tâm về sinh kế của con người và qua đó có thể thấy được việc nghiên cứu sinh kế và cách thức hoạt động kinh tế của con người trong bối cảnh toàn cầu hóa ở mỗi địa phương cụ thể Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa thì vấn đề về phát triển sinh kế bền vững là điều rất cần thiết, điều này có liên hệ mật thiết với việc trong bối cảnh đô thị hóa thì sự kết hợp chặt chẽ giữa vấn đề sinh kế và chính sách của nhà nước là rất thiết yếu, nó quyết định sự phát triển của một nền kinh tế Không những thế, phát triển nghề thủ công truyền thống như việc giữ gìn truyền thống, tập quán sinh hoạt mang đậm nét văn hóa bản địa như là một hình thức phát triển du lịch của địa phương nhằm phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay Xung quanh việc phát triển kinh tế luôn là có những yếu tố tác động và ảnh hưởng, đó không chỉ là sự biến đổi khí hậu mà còn là sự đổi mới
về chính sách của chính quyền địa phương với mong muốn phát triển kinh tế toàn diện phù hợp với bối cảnh đô thị hóa và toàn cầu hóa hiện nay Từ những nghiên cứu có sẵn cho thấy, việc tìm hiểu mối liên hệ giữa tập quán sinh hoạt, văn hóa của một cộng đồng với những tác động của chính sách góp phần vào việc phát triển kinh tế phù hợp với bối cảnh của địa phương luôn là vấn đề hết sức cần thiết
2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Dấu ấn sông nước trong văn hoá của người Nam bộ là gì?
- Thực trạng bán hàng rong ở Cần Thơ trong bối cảnh đô thị là gì?
- Có hay không sự tính toán dựa trên mục đích cá nhân của người bán hàng rong dưới tác động của chính sách?
Trang 11- Làm thế nào để dung hoà giữa dấu ấn sông nước và chính sách quy hoạch đô thị?
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Dấu ấn sông nước là lối sống thích nghi với điều kiện môi trường hình thành nên văn hoá của người dân Nam bộ, được thể hiện qua ứng xử hằng ngày trong đời sống của con người
- Bán hàng rong vừa là hình thức kinh tế phi chính thức, vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển du lịch địa phương qua các chính sách
- Người bán hàng rong, dưới sự tác động của chính sách, luôn có sự lựa chọn tính toán duy lý trong việc duy trì hành vi kinh tế của mình
- Qua lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu là không gian đô thị vùng sông nước, chúng tôi cho rằng những kinh nghiệm từ Thái Lan sẽ là những tham khảo có giá trị như xem hàng rong là một sản phẩm du lịch trong sự dung hoà giữa văn hoá và chính sách, và phát triển chính sách dựa trên nền tảng văn hoá địa phương
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu việc buôn bán bên bờ kè của người Nam Bộ có bị tác động bởi lối sống “nhất cận giang, nhì cận thị”, có khuynh hướng thiên về gần sông hơn là gần chợ Vì buôn bán là một nét đặc trưng trong đời sống văn hóa của người dân Nam Bộ, đặc biệt là việc buôn bán trên ghe thuyền lại trở thành biểu tượng văn hóa của người dân Nam Bộ, do đó có thể thấy việc buôn bán có
ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của họ Thay vì trước kia họ buôn bán trên thuyền thì trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi văn hóa vẫn còn được giữ nguyên nhưng hình thức thay đổi, thì việc buôn bán từ trên ghe thuyền được chuyển lên trên đất liền Bên cạnh đó tập trung tìm hiểu nếu việc quy hoạch của địa phương không cho người dân buôn bán ở bờ kè thì sự tác động của những chủ trương, chính sách đó đến đời sống của người dân ở địa bàn nghiên cứu sẽ có những ảnh hưởng như thế nào Vì Cần Thơ đang trong quá trình đô thị hóa nhằm đáp ứng mục tiêu thành phố du lịch nên sẽ có những chính sách cho việc cải thiện mỹ quan đô thị thì những chính sách này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến đời sống sinh hoạt của người dân địa phương, nên chúng tôi muốn đi sâu hơn phân tích các yếu tố ảnh hưởng và những thay đổi, thích ứng của người dân trước những chính sách của chính quyền địa phương
Từ những nghiên cứu cụ thể, dựa trên sự phân tích tổng hợp các vấn đề về quy hoạch, cải thiện mỹ quan đô thị và đời sống của người dân ở Cần Thơ, đề tài nghiên cứu đưa ra một số giải pháp đề xuất đảm bảo sinh kế của cộng đồng ở địa bàn nghiên cứu nói riêng và cho các khu đô thị có những bối cảnh văn hóa đang trong quá trình
Trang 12đô thị hóa, để từ đó giúp chính quyền địa phương có những quyết định đúng đắn trong những chính sách của mình nhằm đảm bảo chính sách được thực thi và đời sống sinh
kế của người dân ổn định và phát triển
đó, đề tài tập trung phân tích quan điểm và ý kiến của người dân là những đối tượng chịu tác động và ảnh hưởng trực tiếp từ việc lập lại trật tự đô thị
4 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian: giới hạn nghiên cứu trong phạm vi văn hóa TP.Cần Thơ, tập trung nghiên cứu ở quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ Bài nghiên cứu này lựa chọn địa bàn là TP Cần Thơ bởi vì, khi nhận thấy được chương trình “giành lại vỉa hè cho người đi bộ” ở TP Hồ Chí Minh diễn ra mạnh mẽ và có sự ảnh hưởng đến các tỉnh lân cận Một số tỉnh có sự ảnh hưởng nhưng không triệt để, chỉ mang tính hình thức Sau đó chúng tôi nhận thấy có sự tương quan trong bối cảnh xã hội và điều kiện phát triển kinh tế ở TP Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh Cùng với đó là chính sách quy hoạch đô thị tại hai địa phương, đó là lý do chọn địa bàn của chúng tôi
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: giới hạn nghiên cứu trong phạm vi văn hóa kinh doanh từ năm 1975 đến năm 2017
Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: giới hạn nghiên cứu đối tượng là các hộ gia đình sinh sống theo khu vực ven sông gần bờ kè, những người buôn bán gần khu vực
bờ kè Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn quan tâm đến những khách hàng và nhà thực thi chính sách để hiểu rõ hơn không chỉ suy nghĩ của người trong cuộc mà còn nhìn nhận trên quan điểm của người thực thi và đối tượng phục vụ
4.3 Phương pháp nghiên cứu
➢ Thư tịch: với phương pháp này, chúng tôi sẽ tích hợp các tài liệu nghiên cứu
có sẵn về văn hóa của người Nam Bộ để có những cái nhìn chuyên sâu hơn
về văn hóa trong đời sống sinh hoạt cũng như văn hóa trong kinh doanh của người dân Nam Bộ nói chung và cụ thể hơn văn hóa của người dân ở TP Cần Thơ Bên cạnh đó, tập trung phân tích những vấn đề còn bỏ ngõ như mối
Trang 13liên hệ giữa vấn đề quy hoạch đô thị và tập quán buôn bán ven sông của người Nam Bộ
➢ Quan sát tham dự: để thấy rõ hơn trong thực tế những sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của người dân Nam Bộ Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi
có cái nhìn trực quan hơn về hoạt động kinh doanh buôn bán của người dân, quá trình mua bán trao đổi của các cư dân ven sông Giả định rằng trong quá trình đô thị hóa, chính quyền địa phương có những quy hoạch về bờ kè, đổi mới bộ mặt của đô thị thì theo đó, tập quán buôn bán ven sông của người dân Nam bộ nói chung, người dân TP Cần Thơ nói riêng ít nhiều cũng đã chịu sự tác động của chính sách Phương pháp này giúp chúng tôi hiểu được bối cảnh của địa phương hiện tại và cách ứng phó của người dân nếu có đối với các chính sách lập lại trật tự bờ kè
➢ Phỏng vấn sâu: kết hợp với những quan sát, tham dự, chúng tôi sẽ tiến hành phỏng vấn sâu, tập trung vào những vấn đề cụ thể về văn hóa, về sinh hoạt hằng ngày của người dân, đặc biệt là người dân làm nghề, người dân buôn bán ẩm thực trong bối cảnh trước và sau khi có chính sách quy hoạch đô thị
Dự kiến phỏng vấn các đối tượng: người dân, người buôn bán, khách hàng, chính quyền địa phương
➢ Chúng tôi sẽ phân tích điểm mạnh, điểm yếu của chính sách quy hoạch đô thị của địa phương dựa trên bối cảnh văn hóa và tập quán buôn bán của người dân Nam bộ nói chung và Cần Thơ nói riêng, từ đó nhận thấy được cơ hội cũng như thách thức mà địa phương, người buôn bán đang gặp phải
➢ Tổng hợp: từ những dữ liệu định tính và định lượng thu thập được, kết hợp với tích hợp các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích và đưa ra những kết luận cho đề tài
5 Quan điểm tiếp cận, lý thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm tiếp cận
6.1.1 Quan điểm toàn diện
Khi nghiên cứu về văn hóa buôn bán và những tác động của chính sách đối với đời sống của người dân ở Cần Thơ, trước hết cần nhận diện văn hóa buôn bán là tập hợp hành vi và ứng xử của con người trong quá trình trao đổi hàng hóa nên tìm hiểu
vấn đề này cần đứng dưới quan điểm tiếp cận về sinh thái nhân văn Môi trường tự
nhiên là yếu tố nội sinh trong những điều kiện lịch sử cụ thể, đi kèm với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và điều kiện giao lưu tiếp xúc văn hóa với các xã hội bên ngoài sẽ chi phối hành vi trong đời sống của cộng đồng Đặt trong nghiên cứu về đời sống sinh
Trang 14hoạt và văn hóa buôn bán của người dân ở Cần Thơ thì cần quan tâm đến yếu tố môi trường và điều kiện tự nhiên vì hai yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành văn hóa của cộng đồng dân cư này, ở đây là văn hóa sông nước Vì hầu hết cuộc sống của người dân ở Cần Thơ nói riêng và Tây Nam Bộ nói chung gắn liền với sông nước, thể hiện trong từng lời nói đến suy nghĩ, hình thành nên phong cách sống mang đậm nét miền sông nước Hình ảnh người Nam Bộ gắn liền với dòng sông, con thuyền
từ bao đời nay và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Đời sống của người dân Nam Bộ gắn liền với dòng sông con nước, ngay cả trong buôn bán đều mang nét đặc trưng của môi trường sông nước, theo đó họ buôn bán chủ yếu trên thuyền, ghe Môi trường tự nhiên hình thành nên đời sống sinh hoạt
và văn hóa buôn bán của người dân Nam Bộ, nhưng khi môi trường tự nhiên thay đổi thì người dân sẽ có những cách thích nghi theo từng thời kỳ khác nhau Theo đó những chính sách và sự hỗ trợ của nhà nước cần có những thay đổi sao cho phù hợp với đời sống sinh hoạt và văn hóa địa phương, sao cho đời sống của người dân được cải thiện
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về đời sống sinh hoạt đặt trong bối cảnh toàn cầu
hóa hiện nay cũng cần chú trọng đến sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người, đặc
biệt Nam Bộ từ thời xưa là nơi “đất lành chim đậu” thu hút nhiều dân tộc đến sinh sống, là “ngã tư” trong việc giao lưu trao đổi hàng với các khu vực trong nước và các nước lân cận bằng đường sông là chính Đời sống sinh hoạt và văn hóa của người dân Nam Bộ không chỉ đơn thuần chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường được lưu truyền qua nhiều thế hệ (nội sinh), mà còn chịu sự tác động của không gian văn hóa (ngoại sinh) Chẳng hạn trong quá trình di dân đã tạo nên lớp tộc người sống xen lẫn nhau, cùng chia sẻ với nhau những giá trị văn hóa và dẫn đến quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Quá trình này là sự tiếp nhận các giá trị văn hóa tộc người khác nhau diễn ra liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đó nó sẽ tạo ra những điểm chung trong văn hóa giữa các cộng đồng dân cư Và văn hóa buôn bán được xem là một thành tố văn hóa nên sẽ có những thay đổi trong quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người học hỏi
và chia sẻ những giá trị văn hóa, với quan điểm này văn hóa buôn bán sẽ bị các yếu tố tác động làm thay đổi theo thời gian trong quá trình tộc người
6.1.2 Quan điểm so sánh/đối chiếu
Trong quá trình nghiên cứu đời sống sinh hoạt và văn hóa buôn bán của người
dân ở Nam Bộ nói chung và Cần Thơ nói riêng cần quan tâm đến sự kết hợp liên
ngành trong nghiên cứu để làm rõ tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa tộc
người vì nó tồn tại trong khuôn khổ truyền thống rộng lớn Đời sống sinh hoạt và văn hóa cộng đồng có thể thay đổi cùng với sự thay đổi của quá trình tộc người hoặc hội nhập hoặc phân li và kèm theo những yếu tố ảnh hưởng như kinh tế, lãnh thổ, nội
Trang 15hôn… tác động đến văn hóa cộng đồng Khi tìm hiểu đời sống sinh hoạt, văn hóa buôn bán cũng như những chính sách tác động đến đời sống của người dân Nam Bộ có thể tiếp cận theo chiều kích lịch đại và đồng đại
Nghiên cứu theo chiều kích lịch đại nhằm tập trung vào đời sống sinh hoạt và
văn hóa buôn bán của người dân ở Nam Bộ nói chung và trong trường hợp điển cứu ở Cần Thơ theo xu hướng của quá trình tộc người Bằng việc dựa trên những thông tin nền tảng trong một thời điểm hiện tại để phân tích sự thay đổi và liên tục trong đời sống sinh hoạt và việc buôn bán của người dân cùng với sự luân phiên của các chính sách tác động đến đời sống buôn bán của người dân ở Cần Thơ Do nhiều yếu tố khác nhau mà việc buôn bán và đời sống sinh hoạt của người dân có thể thay đổi theo thời gian, một trong những yếu tố luôn tác động đến đời sống của người dân là chính sách
và yếu tố cũng này luôn thay đổi theo thời gian để phù hợp trong từng bối cảnh xã hội
cụ thể Bằng việc tiếp cận theo chiều kích lịch đại để có thể thấy rõ yếu tố chính sách thay đổi như thế nào trong bối cảnh xã hội hiện nay và nó tác động đến nhân tố đời sống sinh hoạt và văn hóa như thế nào theo thời gian
Dưới chiều kích đồng đại để thấy rõ hơn trong cùng một khu vực thì đời sống
sinh hoạt và văn hóa buôn bán có thể khác nhau do nhiều yếu tố tác động khác nhau Hoặc có thể với cùng một chính sách đưa ra nhưng trên khu vực khác nhau thì sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau tùy theo đặc điểm bối cảnh xã hội trong mỗi khu vực Dựa vào chiều kích đồng đại để có thể thấy rõ nét tương đồng và dị biệt trong đời sống sinh hoạt và văn hóa buôn bán của người dân ở Nam Bộ nói chung và trong trường hợp nghiên cứu ở Cần Thơ nói riêng trong cùng một thời điểm cụ thể hoặc đa thời điểm, từ đó có sự so sánh làm nổi bật lên sự kết nối và tác động hỗ tương giữa các khu vực
6.2 Lý thuyết nghiên cứu
Trong phần tổng quan về địa bàn nghiên cứu, chúng tôi sử dụng lý thuyết Sinh thái văn hoá để miêu tả đặc trưng trong đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của người Nam Bộ nói chung và người Cần Thơ nói riêng Với điều kiện tự nhiên phú cho Nam bộ sự dồi dào và đa dạng tài nguyên thiên nhiên, hình thành nên phong cách sống của người Nam Bộ được thể hiện trong cung cách ứng xử hằng ngày Họ có sự thích nghi với môi trường và thích ứng với tự nhiên để hình thành nên văn hoá của vùng Nam Bộ Bên cạnh đó, người Cần Thơ cũng đã có sự khéo léo trong việc tiếp thu điều mới trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ đó phát triển kinh tế địa phương dựa trên nền tảng văn hoá sẵn có
Qua chương II và chương III, chúng tôi vận dụng lý thuyết Sự lựa chọn duy lý
để giải thích người buôn bán trên vỉa hè ở Cần Thơ, trong bối cảnh với sự tác động của
Trang 16chính sách đã có hành vi lựa chọn một hình thức kinh tế cho mình Hoặc là thay đooir sinh kế, hoặc là duy trì hình thức sinh kế sẵn có của họ nhưng thay đổi mô thức kinh doanh Sự lựa chọn của họ một phần dựa trên sự tính toán duy lý, để đảm bảo sinh kế của mình trước sự thay đổi môi trường kinh doanh và sự tác động của chính sách Bên cạnh đó, phần nào thể hiện nhận thức của người dân về các chính sách ảnh hưởng đến việc buôn bán họ, ngược lại, từ phía những người làm chính sách sẽ có nhận thức trong việc quản lý không gian công cộng ở Cần Thơ Trong chương II, chúng tôi tập trung nhấn mạnh vào sự lựa chọn duy lý của người bán hàng rong theo hai quan điểm của James Scott (1976) trong sự lựa chọn “an toàn là trên hết” và theo Samuel L Popkin (1979) trong việc “chấp nhận rủi ro” như là một sự duy lý của người bán hàng rong Qua đó thấy được lựa chọn của những người bán hàng rong trong việc hoặc là duy trì việc buôn bán của mình, hoặc là chuyển đổi nghề nghiệp đều mang tính “chấp nhận rủi ro” hơn là đảm bảo sự “an toàn là trên hết”
Chương III sử dụng lý thuyết Kinh tế chính trị nhấn mạnh đến sự thay đổi của các tổ chức chính trị trong tiến trình phát triển và vai trò của văn hoá trong việc giải thích sự phát triển của kinh tế và xã hội tại địa phương Bên cạnh đó nhằm giải thích
sự thay đổi trong nhận thức của người dân khi có sự ảnh hưởng của chính sách và những tác động đến sinh kế của họ
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
- Cập nhật về đời sống sinh hoạt, văn hóa của người dân Nam Bộ
- Đối chiếu với những lý thuyết nghiên cứu như đặc thù luận lịch sử, sinh thái nhân văn, kinh tế chính trị, sinh kế bền vững để lý giải những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Khẳng định tầm quan trọng của văn hóa địa phương và các chính sách trong chiến lược phát triển bền vững của các đô thị nông thôn trong bối cảnh hiện nay
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra những giải pháp cụ thể giúp cho các cấp chính quyền thành phố ở địa phương nói riêng và các tỉnh Nam Bộ nói chung có những dữ liệu phân tích từ thực tiễn, từ đó có những quyết định đúng đắn trong chính sách dựa trên nền tảng của văn hóa địa phương và quy hoạch đô thị trong thời gian tới, trong đó có những định hướng về phát triển du lịch nhưng vẫn mang những giá trị văn hóa riêng
- Là tài liệu tham khảo cho sự quan tâm nghiên cưu về Nam bộ: đời sống sinh hoạt và văn hóa của người Nam bộ, là tập quán buôn bán và sự tác động của các chính sách trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1 Các khái niệm liên quan
1.1 Bán hàng rong
Bán hàng rong được xem là một lĩnh vực trong nền kinh tế phi chính thức và có
sự phát triển mạnh mẽ ở một số khu vực Bán hàng rong, thường không được nhìn nhận như một hoạt động tạo ra thu nhập cho một cá nhân hay cộng đồng Khác với kinh tế chính thức: chủ doanh nghiệp đã đăng ký, những người làm việc theo lương, có hợp đồng lao động và được bảo vệ bởi luật lao động Họ có thể tự làm chủ hoặc làm cho những chủ sở hữu nhỏ mà không đăng ký hay không theo hợp đồng như các doanh nghiệp lớn Bán hàng rong, theo nghĩa rộng nhất thương lái đường phố, là những người thuộc về nền kinh tế phi chính thức và buôn bán trên đường phố [Lund, Nicholson, Skinner 2000:10; Lund 2000; Mwasinga 2013:17], hay bán hàng rong là một hoạt động kinh tế phi chính thức diễn ra trong không gian đô thị với các hình thức hoạt động và quan hệ xã hội đa dạng [Satterthwaite 2003, Yankson 2000; Mwasinga 2013:17]
Người bán hàng rong có một số đặc điểm nhận dạng nhất định thông qua độ tuổi và hình thức buôn bán của họ Độ tuổi trung bình của người bán hàng rong có thể
từ 25 đến 49 Họ có khả năng đọc viết tiếng mẹ đẻ, trình độ học vấn cao ở những người trẻ, và giảm dần khi độ tuổi tăng [Lund, Nicholson, Skinner 2000:12] Hay ở độ tuổi trung bình từ 40 đến 60 là những người có trình độ giáo dục cơ bản, một số người bán hàng rong trên 60 tuổi thường không biết chữ [Tangworamongkon 2014:16] Người bán hàng rong thường bán ở một phần của vỉa hè công cộng, bên cạnh một con đường tấp nập hoặc đường trong phố Một số người bán hàng rong có thể sử dụng chiếc ô lớn hoặc những mái nhà của những ngôi nhà gần đó như nơi trú ẩn để tránh mưa và nắng Thông thường, người bán hàng rong thường bị ô nhiễm không khí, tiếng
ồn và làm việc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt Bản chất công việc của họ đôi khi đòi hỏi phải mang theo đồ vật nặng [Tangworamongkon 2014:25] Vị trí buôn bán thường là những nơi ít người và gần chỗ ở của họ, hay ngược lại là những nơi đông đúc [Tangworamongkon 2014:18]
Bán hàng rong là một hoạt động kinh tế phi chính thức vì nó không được đảm bảo về lực lượng lao động, quyền lao động, không gian lao động mà cả về thời gian lao động Người bán hàng rong không có thời gian làm việc cụ thể hay theo quy định,
mà chính người bán hàng rong tự quy định thời gian buôn bán của mình Thời gian làm việc của người bán hàng rong thường bị ảnh hưởng thời gian bận bịu của họ, loại
Trang 18hàng hoá mà họ bán và sự chuẩn bị cho việc buôn bán đó Thời gian làm việc bao gồm
cả thời gian chuẩn bị, mua nguyên liệu và dọn dẹp sau khi buôn bán Thường thì thời gian làm việc của họ vượt quá thời gian lao động hợp pháp của một người làm việc bình thường [Tangworamongkon 2014:19] Mặc dù họ lao động cật lực, dành nhiều thời gian trong một ngày để chuẩn bị cho việc buôn bán của mình, nhưng khó mà tính toán được khoản tiền thu nhập trung bình của họ, thường họ chỉ nói được mức trung bình trong một ngày [Tangworamongkon 2014:23]
Nguyên nhân chủ yếu khiến một số người chuyển sang bán hàng rong là bởi vì
họ cần thu nhập để nuôi gia đình nhưng không bị giới hạn nguồn vốn của bản thân họ
Về kinh nghiệm bán hàng, thì thường người bán hàng rong có kinh nghiệm từ 10 năm trở nên, lâu hơn là 20 năm [Tangworamongkon 2014:16] Hình thức lao động là tự thuê mình, bán hàng rong là nguồn thu nhập chính của họ Hầu hết những người bán hàng rong trở thành bán người bán hàng rong bởi vì họ phải làm như vậy, không phải bởi vì họ muốn Không được gia nhập vào kinh tế chính thức và thiếu tay nghề là lý do chính buộc họ phải kinh tế phi chính thức Một số phụ nữ thì không thể tìm được công việc nên họ bắt đầu buôn bán trên đường phố Lợi ích của người bán hàng rong không phụ thuộc vào người thuê và thời gian linh động [Lund, Nicholson, Skinner 2000:16]
Nhìn chung, việc bán rong trên đường phố rõ ràng là một nguồn giảm nghèo quan trọng vì nó cung cấp việc làm cho những người có sự hạn chế, bao gồm người có trình độ học vấn thấp, người già và cung cấp thêm thu nhập cho nông dân thất nghiệp theo mùa [Tangworamongkon 2014:35] Nhưng những hoạt động kinh tế phi chính thức như bán hàng rong và các hoạt động có liên quan thường ảnh hưởng đến bản chất môi trường và cảnh quan đô thị, do đó thu hút sự quan tâm nhất định của chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách đô thị [Suharto 2004, Pena 2000, Mwasinga 2013:17]
1.2 Chính sách
Các chính sách bắt nguồn từ các mục tiêu quản lý và xác định hành vi mong muốn của các hệ thống, ứng dụng và sự phân tán không đồng nhất [Wies 1994:2] Phân loại hệ thống chính sách theo Wies (1994:4) dựa trên các yếu tố chính sau đây:
- Thời gian tồn tại: thời hạn của chính sách có thể được mô tả bằng cách áp dụng ngắn, trung bình hoặc dài hạn (tức là thực thi và giám sát) Việc xem xét chi tiết hơn về điều này có thể dựa trên việc tách biệt thực thi chính sách và giám sát chính sách
- Chế độ kích hoạt: việc liên tục và hoạt động liên tục được lặp đi lặp lại theo định kỳ trong một khoảng thời gian cụ thể, hay là mối quan hệ của một chính sách với các chính sách khác
Trang 19- Hoạt động: chính sách chỉ có thể giám sát hoặc thực thi các hành động đối tượng mục tiêu hoặc phản ứng lại với một sự kiện
- Chế độ: Các chính sách có thể là một hạn chế hoặc một sự trao quyền Chúng ta
sẽ sử dụng sự phân biệt giữa một nghĩa vụ, một sự cho phép, và một lệnh cấm
- Tiêu chí địa lý: với tiêu chí này, các chính sách được nhóm lại theo vị trí mà chính sách được áp dụng như toà nhà, khu vực, thành phố
- Tiêu chí tổ chức: Nhóm các chính sách này phản ánh cấu trúc tổ chức của môi trường
- Loại mục tiêu: bao gồm các mục tiêu hướng đến trong một chính sách
- Chức năng của các mục tiêu: tất cả các chính sách áp dụng cho một vấn đề với một bộ chức năng chung
- Kịch bản quản lý: Các chính sách có thể được kết hợp với một kịch bản quản lý
cụ thể như quản lý mạng, quản lý hệ thống, hoặc quản lý ứng dụng
Dựa trên mô hình phân loại hệ thống chính sách có thể lấy ví dụ về chính sách “lập lại trật tự đô thị” của quận Ninh Kiều như: “Kế hoạch phối hợp lập lại trật tự đô thị, trật tự công cộng trên địa bàn quận Ninh Kiều (từ ngày 10/3/2017 đến 10/4/2017)1”
- Thời gian: từ ngày 10/03/2017 đến 10/04/2017
- Chế độ kích hoạt: lặp lại theo tháng
- Hoạt động: lập lại trật tự đô thị, trật tự công cộng
- Chế độ: như một lệnh cấm các hoạt động ảnh hưởng đến trật tự đô thị
- Tiêu chí địa lý: quận Ninh Kiều
- Tiêu chí tổ chức: trong địa bàn quận
- Loại mục tiêu: lập lại trật tự đô thị, trật tự công cộng
- Chức năng: đổi mới không gian đô thị, không gian công cộng
- Kịch bản quản lý: tuyên truyền và loại bỏ các hoạt động ảnh hưởng đến mục tiêu, quản lý hệ thống
Với phân loại hệ thống của Wies (1994) chỉ xác định được những mô thức chung nhất của chính sách dựa trên một chính sách đã ban hành hay có thể đưa ra một chính sách tuỳ vào các yếu tố trong sự phân loại
Đối với chính sách quy định về việc bán hàng rong thường đi với mục tiêu quản
lý về mặt môi trường và không gian đô thị công cộng Sự phát triển thích hợp của các chợ thương mại đã được đưa vào chương trình nghị sự của chính phủ Việt Nam từ đầu những năm 2000 Các chính sách mới đã được ban hành trong các lĩnh vực quy hoạch mạng lưới phân phối, các quy định về thị trường chung và quản lý, và tư nhân hoá việc
1 Theo Báo cáo Kết quả thực hiện kế hoạch phối hợp lập lại trật tự đô thị, trật tự công cộng trên địa bàn quận Ninh Kiều (từ ngày 10/3/2017 đến 10/4/2017) [Số:67/BC-CAQ]
Trang 20xây dựng, cải tạo và nâng cấp thị trường [Endres 2013:357] Cụ thể hơn, các yếu tố đề cập trong chính sách thường là: người bán hàng rong không được cản trở sự lưu thông của giao thông và người đi bộ; xe tự do di chuyển trong tình trạng khẩn cấp; phải giữ sạch sẽ nơi buôn bán; không kinh doanh trong các khu vực không cho phép [Lund, Nicholson, Skinner 2000:48] Nhìn chung các chính sách thường không khuyến khích phát triển hình thức kinh tế phi chính thức này, mà có xu hướng loại bỏ chúng Những
đề án phát triển gắn liền với việc quản lý không gian đô thị, thường bỏ qua hoạt động
bán hàng rong của người dân
1.3 Không gian đô thị
Trong quy hoạch đô thị, không gian đô thị còn được miêu tả như là “không gian mở”, như đường phố, công viên, khu vui chơi giải trí hay không gian sỡ hữu công cộng chung [Tonnelat 2010:1] Không gian công cộng khi được đặt trong bối cảnh đô thị còn được xem là không gian đô thị, được hiểu như là một không gian có sự tiếp cận công chúng, chứ không phải là không gian mang tính chất sở hữu công của nhà nước
Xã hội học chú ý đến các khái niệm các địa điểm trong thành phố và sự tương tác của người dân Không gian công cộng được tính dựa trên sự tiếp cận của người dân Khái niệm này mở rộng phạm vi tiếp cận công khai bất kỳ không gian nào mà không bị giới hạn bởi ở một số thành viên nhất định [Joseph 1998, Tonnelat 2010:2]
Không gian đô thị không chỉ bao gồm phần đường, vỉa hè mà còn là yếu tố môi trường Đối với bán hàng rong, không gian đô thị còn có thể được hiểu như khu vực buôn bán của họ Trong đó, khu vực cấm buôn bán: là khu vực không cho phép luôn bán Khu vực hạn chế buôn bán: cho phép buôn bán nhưng hạn chế số lượng người bán hàng rong Hầu hết đều tập trung vào trung tâm thương mại mà bị hạn chế buôn bán [Lund, Nicholson, Skinner 2000:49]
Tóm lại, bán hàng rong là hình thức kinh tế phi chính thức, người bán hàng rong ở độ tuổi trung niên thường tập trung buôn bán ở bên vỉa hè Nơi buôn bán của họ hoặc là nơi đông người để có sự thu hút của người mua hàng, hoặc là những nơi ít được chú ý bởi chính quyền địa phương Chính sách về quản lý trật tự đô thị luôn hướng tới mục tiêu quản lý đến đối tượng người bán hàng rong là chủ yếu và hướng đến cải thiện hệ thống giao thông đường bộ Thách thức đối với nhà quy hoạch và nghiên cứu là việc tiếp cận hai khái niệm: không gian công cộng và không gian tiếp cận công cộng [Tonnelat 2010:2] Không gian công cộng được tiếp cận dựa trên sự đối thoại và tranh luận và chú ý tới tính dân chủ có sự tham gia Còn không gian tiếp cận công cộng là việc di chuyển sự tiếp xúc trong không gian đó hướng đến quyền tự do cá nhân dưới hình thức có sự định hình của chính sách [Lefebvre, 1968; Mitchell 2003; Tonnelat 2010:2]
2 Lý thuyết nghiên cứu
Trang 212.1 Thuyết sinh thái nhân văn
Thuyết sinh thái nhân văn (sinh thái văn hoá) của Julian Steward (1955) cho rằng sự thích nghi với một môi trường sinh thái nhất định hình thành nên văn hoá của cộng đồng đó J Steward nhấn mạnh rằng các cộng đồng sinh sống ở những khu vực địa lý khác nhau nhưng môi trường giống nhau thì văn hoá giống nhau Ông nhấn mạnh đến phân tích những đặc tính chung mang tính quy luật trong sự biến đổi văn hoá theo sự chuyển đổi qua từng thời đại, giai đoạn khác nhau J Steward nhấn mạnh đến yếu tố kỹ thuật trong quá trình khai thác môi trường dẫn đến việc hình thành nên văn hoá của địa phương đó Sự thích nghi của một cộng đồng với môi trường sinh thái được thể hiện qua hạt nhân văn hoá, nghĩa là văn hoá cốt yếu của cộng đồng đó Yếu
tố văn hoá cốt yếu này sẽ ít bị thay đổi do yếu tố môi trường ít bị biến đổi
Theo đó, J Steward nhấn mạnh đến ba bước trong nghiên cứu sinh thái văn hoá: 1 Xem xét các kỹ thuật và phương pháp được dùng để khai thác môi trường, sinh sống trong môi trường đó; 2 Nhận diện được những phương thức ứng xử văn hoá của con người liên quan đến môi trường; 3 Từ đó đánh giá sự tác động của những phương thức ứng xử trên bình diện khác của văn hoá, như đời sống – xã hội Qua đó, phương pháp này hướng đến việc làm rõ mối quan hệ giữa văn hoá và môi trường từ góc độ xem con người là thực thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hoá Và sau
đó văn hoá sẽ chịu tác động như thế nào đến các loại tài nguyên môi trường mà con người sử dụng
Bài báo cáo này sử dụng thuyết sinh thái văn hoá để giải thích mối quan hệ giữa môi trường sông nước và văn hoá của người dân Nam bộ Qua khảo tả dân tộc học ở Cần Thơ, trong cách con người thích nghi với môi trường để tạo ra văn hoá của họ Người dân Nam bộ sử dụng những con sông, kênh rạch như thế nào, để hình thành nên văn hoá đặc trưng, được thể hiện trong đời sống sinh hoạt của họ Người dân nơi đây
đã có những cách thức ứng xử văn hoá đặc trưng gắn liền với môi trường, đặc biệt là môi trường sông nước Nhưng trong quá trình sử dụng và khai thác các nguồn tài nguyên từ môi trường thì yếu tố môi trường cũng có sự tác động ngược lại đối với đời sống văn hoá của người dân, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hoá hiện nay
2.2 Thuyết sự lựa chọn duy lý
Khi tiếp cận lý thuyết về sự lựa chọn duy lý, hai quan điểm nổi bật nhất là quan điểm kinh tế đạo đức của James Scott (1976) và kinh tế chính trị của Samuel L Popkin (1979) Kinh tế đạo đức mà J Scott tiếp cận dựa trên ba yếu tố chính là an toàn trên hết, làng và mối quan hệ giữa người bảo trợ và người được bảo trợ Người nông dân luôn được xem là những người toan tính chỉ để đảm bảo sự sinh tồn của mình chứ không quan tâm đến yếu tố thị trường Họ không chấp nhận những rủi ro sẽ làm nguy
Trang 22hiểm đến ngưỡng sinh tồn của mình, nên họ luôn duy trì sự an toàn trong các hoạt động kinh tế và không dám đầu tư mạo hiểm Để đảm bảo sự sinh tồn của mình, người nông dân khi sinh sống trong cùng một làng, họ sẽ có những sự giúp đỡ nguồn lực và sức lao động từ những người trong cùng một cộng đồng Những người cùng làng với nhau sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong những lúc khó khăn về nguồn lực và sức lao động của
họ
Kinh tế đạo đức thuộc phạm trù đạo đức sinh tồn của người nông dân nghèo nhằm để chỉ sự đảm bảo quyền sinh tồn, nhu cầu tối thiểu của các thành viên trong cộng đồng được hỗ tương, ở đây là người nông dân nghèo và thiết chế, người bảo trợ Tác giả dùng khái niệm “kinh tế đạo đức”, khi nghiên cứu về người nông dân, để chỉ mối quan hệ giữa giai cấp cầm quyền và người nông dân nghèo trong bối cảnh kinh tế, nhằm đảm bảo sự sinh tồn và đặt trong bối cảnh xã hội sinh tồn dựa trên đạo đức Có nghĩa là giới cầm quyền và người nông dân nghèo trong vai trò hỗ trợ lẫn nhau, giới cầm quyền không được bóc lột phần dự trữ sinh tồn của người nông dân nghèo để họ
đi đến bước đường nghèo hơn, mà nên có “bổn phận đạo đức” cưu mang người nông dân trong bối cảnh đói kém, đó là về mặt kinh tế để đảm bảo sự sinh tồn của người nông dân Về mặt xã hội, tác giả muốn đề cập tới việc sự hỗ trợ của giới cầm quyền trong các vấn đề về y tế, trợ cấp … cho người nông dân nghèo khi họ đứng bên ngưỡng sinh tồn Có nghĩa là thay vì đàn áp và bóc lột họ trong điều kiện làm việc không có bảo hiểm tai nạn hay trong môi trường nghèo “bất an” thì giới cầm quyền nên hỗ trợ cho cuộc sống của họ về mặt phúc lợi xã hội
Theo Samuel L Popkin (1979) về sự lựa chọn duy lý của người nông dân không chỉ là việc duy trì “an toàn là trên hết”, mà người nông dân có tính duy lý trong việc “chấp nhận rủi ro” thông qua việc họ đầu tư hay liên kết các mạng lưới xã hội Nhóm nông dân không nổi dậy ngay cả khi đối mặt với sự khủng hoảng sinh tồn ngắn hạn trầm trọng Kinh tế chính trị xem các khủng hoảng sinh tồn là cùng một dạng giống như khủng hoảng ngắn hạn, tức là gạt bỏ những khác biệt trong khả năng đưa ra yêu cầu và gạt bỏ những cách thức làm thay đổi các mức sinh tồn [L Popkin 1979: Bùi Trung Dũng 261]
Dưới góc độ phân tích về sự lựa chọn duy lý, nhằm giải thích liệu người bán hàng rong ở đô thị đang lựa chọn sự “an toàn là trên hết” hay họ đang “chấp nhận rủi ro” tiếp tục duy trì việc buôn bán của mình Từ các nghiên cứu thực tế về đời sống buôn bán của người dân để thấy được người bán hàng rong cũng có sự lựa chọn dựa trên quan điểm cá nhân của họ chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách Một mặt, họ bị tác động nhiều bởi quá trình đô thị hoá, mặt khác, họ tận dụng không gian
đô thị như là một cách chấp nhận rủi ro hay đảm bảo sự an toàn sinh kế của họ Qua
Trang 23phân tích theo quan điểm về sự lựa chọn duy lý sẽ thấy rõ hơn thực trạng bán hàng rong của người Cần Thơ nói riêng và Nam bộ nói chung
3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Để làm rõ hơn dấu ấn sông nước được thể hiện như thế nào trong văn hoá của người Nam Bộ, bài viết này tập trung phân tích dấu ấn sông nước qua văn hoá ứng phó với môi trường tự nhiên và văn hoá ứng xử với môi trường xã hội Bên cạnh đó, qua phân tích góc nhìn của sinh thái nhân văn để làm rõ hơn mối quan hệ giữa môi trường sông nước và văn hoá của người dân Nam Bộ Thông qua phân tích sự thích nghi của con người với môi trường để thấy được nền văn hoá xuất hiện như thế nào
3.1 Dấu ấn sông nước qua văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên2
3.1.1 Ẩm thực
Với điều kiện tự nhiên đặc trưng là sông nước nên nguồn thức ăn dồi dào phong phú từ thủy sản cho đến lúa gạo Nét chính trong thành phần bữa ăn hàng ngày của người dân Cần Thơ bao gồm ba yếu tố: cơm – canh – cá Thực phẩm chính hàng ngày thường là cá, thịt chế biến bằng cách nấu canh, xào, hấp nướng chiên khô, từ những động vật có sẵn, bắt trực tiếp từ sông, kênh… như lươn, cá rô, cá lóc, tôm, cua… Đây
là những loại thực phẩm ít đạm dễ tiêu nhưng vẫn đầy đủ chất dinh dưỡng Các món
ăn nổi tiếng mang đậm bản sắc ẩm thực của Cần Thơ nói riêng và Tây Nam bộ nói chung như cá lóc nướng rơm, tôm nhúng dấm, lẩu lươn, cá rô kho tộ… không chỉ có sức hấp dẫn với người dân địa phương mà còn với khách du lịch đến với Cần Thơ
Nguyên liệu để nấu cơm là gạo tẻ, hay gạo nếp… được trồng tại địa bàn Với nhiều giống lúa mùa như Ba Thiệt, Chệt Cục, Trắng Tép, Đuôi Trâu nổi tiếng cho hạt
cơm ngon “Lúa mùa trước kia có một giống lúa nổi tiếng là OM (phát triển từ vùng
đất Ô Môn, Cần Thơ), có OM1, OM2 nhưng hiện nay đã có lúa cao sản thay thế cho các giống lúa này” [PVS #3] Đặc biệt, món ăn mà người dân Cần Thơ ưa thích trong
các bữa ăn là canh chua và cá kho tộ, món ăn được nấu theo nhiều kiểu loại khác nhau
từ nguyên liệu đến gia vị thêm vào trong món ăn hay nước chấm sao cho món ăn thêm hấp dẫn Chỉ đơn giản là nấu canh chua nhưng cũng có hàng chục thứ cá có thể nấu như cá kèo, ba sa, bông lau, cá sặc, chẽm, cá hô… Thể hiện sự trù phú ở vùng sông Hậu và sự ưu đãi của thiên nhiên đối với người dân nơi đây Về phần gia vị gọi là rau độn nấu canh chua thì có nhiều loại để nấu thêm vào như bông súng, rau muống, rau nhúc, giá, bạc hà, bông so đũa… Chất làm chua có me trái, me muối, cơm mẻ, trái
2 Văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên bao gồm ăn, mặc, ở [theo Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam], nhưng trong bài báo cáo này tập trung phân tích ăn và ở nhằm thấy được sự thích nghi văn hoá gắn liền với môi trường sông nước của người dân Nam bộ nói chung và Cần Thơ nói riêng “Ăn theo thuở, ở theo thời” nhấn mạnh đến yếu tố thích nghi cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của môi trường, từ đó quy định văn hoá của một cộng đồng
Trang 24giác, lá dấm, đặc biệt, người Cần Thơ còn dùng trái bần để tạo độ chua cho món canh
Có thể thấy vùng đất miệt vườn với đầy đủ các loại rau trái đã hòa quyện và gắn liền với đời sống ẩm thực của người dân Cần Thơ3
Khi nhắc đến miền Nam Bộ thường nghĩ rằng người Nam ăn ngọt, nhưng mỗi vùng miền lại ăn nhiều vị ngọt khác nhau Người Cần Thơ đặc biệt ăn ngọt hơn so với các vùng khác, nếu như nồi canh chua thì phải có đủ cả vị ngọt của đường và vị chua
“Ăn ở mỗi tỉnh thành nó cũng khác nhau nữa Như hỏi về chính gốc ở Cần Thơ thì người ta sẽ nêm cái khẩu vị nó ngọt hơn, làm tăng cái độ ngọt Còn ở Trà Vinh, Sóc Trăng thì nó nhạt hơn, người Cần Thơ thì ăn nó đậm đà hơn” [PVS #3]
Hơn thế nữa, trong quá trình cộng cư lâu dài nên có sự giao lưu giữa ba dân tộc Việt, Hoa và Khmer trong chế biến món ăn Cả ba dân tộc ở Cần Thơ đều thích ăn mắm, là món ăn không thể thiếu Mắm được chế biến từ những loại cá như cá lóc, cá sặc, cá trê dùng để dự trữ khi thắt ngặt, mùa màng đói kém, tùy theo tập quán của mỗi dân tộc thì có cách chế biến mắm khác nhau Người Cần Thơ có nhiều cách chế biến thức ăn từ mắm khác nhau như ăn mắm sống, mắm chưng, mắm kho4 Trong đó, lẩu mắm ngày nay tương tự món mắm kho của người Khmer, có mắm cá làm nước lèo ăn chung với bún và rau Lẩu mắm là sự kết hợp giữa mắm cá sặc của người Việt, nấu thành nước lèo ăn bún của người Khmer và nấu thành lẩu được ăn nóng của người Hoa, tạo thành một món ăn đặc sản của vùng Nam Bộ Người Cần Thơ ở chợ nổi Cái Răng thuần thục trong việc làm lẩu mắm từ độ mặn, màu sắc đến mùi thơm của nồi lẩu đều hài hoà với nhau5 Hay như món bún mắm được kết hợp từ bún ăn thường ngày của người Việt, nước lèo làm từ mắm kho của người Khmer và thịt heo quay, xá xíu của người Hoa
Cần Thơ, còn được gọi là Tây Đô, được biết đến là đô thị của vùng Tây Nam bộ nên ở đây có hầu hết các món ăn của các tỉnh trong khu vực như bún nước lèo Sóc Trăng, bún mắm Trà Vinh Nên khi nói về nét đặc trưng trong văn hoá ẩm thực của người Cần Thơ, thường hay nhắc đến một số nghề truyền thống Như người Cần Thơ
có tài làm các loại bánh như bánh bèo, bánh thửng, bánh bông lan bắt đường Cần Thơ vẫn có nhiều món ăn đã trở thành biểu tượng của vùng đất này như bánh xèo Mười Xiềm, bánh đa Vĩnh Thành, bánh Tét lá cẩm của gia tộc họ Huỳnh, bánh hỏi Mặc Võng, Phong Điền, bánh tằm tép Thới Long bởi hương vị và hình thức mang nét đặc trưng của vùng Điển hình như bánh tét lá cẩm của gia tộc họ Huỳnh có nhân là thịt
Trang 25http://www.vacne.org.vn/da-dang-sinh-hoc-trong-mot-mon-an-2-lau-mam-mien-tay-nam-mỡ, hột vịt muối và đậu xanh cùng với nếp rặt được xào bằng nước lá cẩm với với cốt dừa để tạo màu tím Lá cẩm, thịt và nếp rặt là bí quyết tạo nên hương vị độc đáo của bánh tét lá cẩm ở Bình Thuỷ, Cần Thơ Hay như bánh tằm tép Thới Long khác với bánh tằm tép ở những vùng khác:
“Bánh tằm sợi trắng tròn dài nó bự hơn cọng bún, rồi thường ăn với củ sắn bằm, tép bằm, rồi người ta bỏ gạch tôm hơi đỏ đỏ ăn cùng với giá rau sống, chan cùng với nước dừa Cái đó là bánh tằm phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long, đi đâu cũng
ăn hết, gói trong cái lá chuối mình ăn Bánh tằm tép Thới Long thì cái sợi của nó nhỏ gần như sợi của bánh hỏi, cũng ăn với củ sắn bằm tép, đặc biệt là tép rong nó sẽ ăn với nước mắm chua ngọt chứ không ăn với nước cốt dừa như những vùng khác” [PVS
#3]
Bánh hỏi Mặc Võng Phong Điền là bánh hỏi ăn kèm với thịt nướng Kim Tiền của người Hoa, thể hiện sự giao lưu văn hoá trong ẩm thực giữa hai dân tộc Việt và
Hoa “Bánh hỏi ở những vùng khác người ta ăn với thịt heo quay, bánh hỏi ở Cần Thơ
ăn với thịt nướng Kim Tiền Đó, cái món thịt nướng này trước đây người Hoa làm món
ăn trong mấy cái đám tiệc cưới, rồi người Việt ăn thấy ngon về cũng có những cách biến tấu đi nữa Ví dụ như cái món thịt nướng Kim Tiền này có nhiều cách biến tấu lắm Nhà mà không thích ăn mỡ thì người ta sử dụng một miếng củ sắn nhỏ vầy nè (bằng ngón tay út), thịt người ta ướp với mật ong gia vị rồi cuốn trong miếng củ sắn người ta nướng Nhưng mà một số người lại nói nướng như vậy không ngon, tại vì cái
mỡ bên trong nó tiết ra nó sẽ làm cho thịt bên ngoài nó mềm và nó béo Nên sẽ có người sắc một miếng mỡ thiệt mỏng, cuốn vào, đem nướng trên lửa than” [PVS #3]
Do đó hằng năm mỗi độ Tết đến xuân về thì Cần Thơ thường có tổ chức lễ hội bánh dân gian thu hút hàng chục gian hàng trưng bày đủ các loại bánh khác nhau trên địa bàn thành phố Cần Thơ điển hình như chương trình “Sắc xuân miệt vườn” để bảo tồn làng nghề trình diễn những làng nghề đặc trưng đó
Ngày nay trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá, ẩm thực hằng ngày của người dân có nhiều thay đổi bên cạnh những nét đặc trưng văn hoá truyền thống Có
sự phân tầng trong lựa chọn đồ ăn, uống dựa trên chênh lệch về tuổi tác, chẳng hạn nhiều loại thức ăn mới được du nhập và buôn bán rộng rãi trở thành những món ăn
quen thuộc của giới trẻ như bánh tráng, trà sữa “Người Cần Thơ thích ăn đồ chiên
như chuối chiên, khoai mỡ chiên, cá viên chiên” [PVS #3] Ở độ tuổi trung niên vẫn
am hiểu và yêu thích các món ăn dân dã truyền thống của vùng nhưng “mùa nào thức nấy”, các món ăn phụ thuộc theo mùa Bên cạnh đó các món ăn mang nét đặc trưng của vùng đã trở thành đặc sản rất được khách du lịch ưa chuộng trong du lịch sinh thái Tóm lại ẩm thực ở Cần Thơ có nhiều nét đặc trưng phong phú là sự kết hợp giữa thức
Trang 26ăn truyền thống gắn liền với môi trường tự nhiên và sự giao lưu tiếp biến văn hoá giữa các vùng với nhau
3.1.2 Nhà ở và không gian cư trú
Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nơi đây vốn được biết đến bởi hình ảnh các dòng sông, kênh rạch Nằm ở trung tâm vùng ĐBSCL, Cần Thơ chịu ảnh hưởng mạnh từ sông Hậu (một nhánh của sông Cửu Long), sông Hậu với tính “hào sản” vốn có đã bồi đắp nên vùng Cần Thơ những mảnh đất màu mỡ, nguồn thủy sản dồi dào quanh năm Từ khi khai khẩn đến khi an cư lạc nghiệp, sông nước luôn gắn liền với đời sống của người dân ở đây Người dân Nam Bộ sinh sống lẫn trên mặt đất và trên sông, trước kia, khi có sự giao lưu giữa các dân tộc, học theo người Hoa nên địa điểm lựa chọn để ở của người dân là “nhất cận thị, nhị cận giang” để mua bán kiếm lời chứ Bên cạnh đó, sông nước thuận tiện cho việc đi lại và
là nguồn sống nên “cận giang” trở thành tiêu chuẩn đầu tiên để định cư [Trần Ngọc Thêm;2013:tr149] Qua đó, tạo tiền đề cho sự gắn bó ngay lập tức của những “lưu dân” đầu tiên đến với Cần Thơ thế kỉ XVIII, và cũng nhờ vào đó mà sợi dây gắn bó tiếp tục được siết chặt giữa những thế hệ ngày nay với vùng đất Cần Thơ6
Người Cần Thơ nói riêng và người Nam Bộ nói chung thường ở theo chòm xóm nhiều người tụ lại với nhau cộng cư lâu đời, rồi đến lập chợ và dựng đình, chùa, miếu Các cư dân đông đúc thường tập trung ở các đầu mối giao thông thủy bộ, thuận tiện cho việc làm ăn sinh sống Sau đó, yếu tố chọn nơi cư trú từ “cận thị” chuyển sang
“nhất cận giang, nhì cận lộ” chỉ lối chọn địa điểm sinh sống của người Việt ở Cần Thơ (Nam bộ nói chung)
Có sự liên quan mật thiết trong việc thích nghi với môi trường theo cách thức văn hoá của cộng đồng đó [Steward 1955:328] Người Nam Bộ phần lớn là nông dân nên mô hình cư trú chủ yếu là “trước sông sau ruộng”, sau đó mới là “trước đường sau sông” Tư duy về việc chọn nơi ở có sự thay đổi dần theo thời gian, từ sông đến đường rồi mới đến ruộng “Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lân, tứ cận lộ, ngũ cận điền” [Trần Ngọc Thêm;2013:150] Nhưng với người Cần Thơ nói riêng, sau khi tách khỏi Hậu Giang thì nghề làm ruộng không còn nhiều, ruộng đất thuộc về Hậu Giang nhiều hơn so với Cần Thơ Cần Thơ vươn mình phát triển thành đô thị mới, nên tiêu chí lựa chọn nơi ở cũng có nhiều thay đổi “nhất cận thị, nhị cận lộ” Người dân thường làm nhà, sinh sống ở các vùng đầu sông thuận tiện cho việc giao thông đi lại, điều kiện
“sông sâu nước chảy” còn phục vụ nguồn nước cho hoạt động canh tác nông nghiệp (vườn rẫy, ruộng lúa) và cả thương nghiệp Ở vùng Bình Thủy, Phong Điền (Cần Thơ)
6 Sơn Nam (2004), Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn, NXB Trẻ Thành phố Hồ
Chí Minh (tập biên khảo)
Trang 27được xem là một điển hình với hằng loạt ngôi nhà các điền chủ nề nếp tạo nên cho khu vực sự tấp nập đông vui trong sinh hoạt hằng ngày lẫn hoạt động kinh tế, mang dấu ấn văn minh miệt vườn Nam Bộ Chính vì thế, nhà cửa của người dân tại Cần Thơ thường tập trung với nhau gắn liền với một nhánh kênh, con sông lớn Trong quá khứ, hướng mặt chính của nhà thường nhìn ra phía sông để nhận những cơn gió sông mát mẻ, hiện nay tuy không còn giữ được đặc trưng này nhưng vẫn có thể thấy rõ được mối liên hệ khắng khít của người dân Cần Thơ với dòng sông
Còn khi sống trên sông, thì người dân thường chọn địa bàn ở nơi giao của các dòng sông vì đó là nơi giáp nước lý tưởng Các nhánh sông khi đổ về cùng một hướng sông thì nơi giáp nước là chỗ đổi con nước, thường ngay khúc ngã ba, ngã tư, ngã năm, ngã bảy [Trần Ngọc Thêm, 2013:149] Người dân ở đây nắm rõ được những quy luật tự nhiên của thiên nhiên để tổ chức vào đời sống hằng ngày của mình và họ nhận thức rõ đặc tính của dòng sông, “con nước” khi nào “nước lớn” hay khi nào
“nước rong” [Trần Ngọc Thêm, 2013:147], để có những ứng phó trong đời sống của mình
Với mô hình cư trú dọc theo dòng chảy của dòng sông đã tạo nên một không gian rộng rãi thoáng mát trong sinh hoạt hằng ngày của người dân nơi đây Chính sông nước đã hình thành nên phong cách sinh hoạt của người dân không chỉ trong việc làm nhà mà còn trong đời sống hằng ngày Điển hình chợ nổi Cái Răng đã trở thành biểu tượng văn hoá tập quán nơi cư trú của người Cần Thơ và việc buôn bán tụ họp ngay trên sông hoặc bên bờ sông Trong quá trình đổi mới nông nghiệp, công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nhà nước bắt đầu cho xây dựng các bờ kè sông, bê tông hoá các con sông Ban ngày dọc theo bến Ninh Kiều là công viên cây xanh thoáng mát, ban đêm là hội chợ buôn bán, là nơi tụ họp người dân du ngoạn vào buổi tối và thưởng thức âm nhạc trên những chiếc du thuyền trên sông
Cần Thơ nói riêng là một trong những đô thị có sự tác động mạnh mẽ của đô thị hoá và kinh tế thị trường, đưa đến nhiều sự thay đổi trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân Nhưng ăn sâu trong tiềm thức vẫn là lối suy nghĩ mang dấu ấn sông nước Được thể hiện qua tính cách của người dân từ khi bắt đầu khai hoang đến khi phát triển cuộc sống như hiện nay
3.2 Dấu ấn sông nước qua văn hoá ứng xử với môi trường xã hội
3.2.1 Đời sống tinh thần
Trong phạm vi cộng đồng dân tộc Việt Nam, do đặc điểm những người đến khai phá vùng Nam bộ này đều từ miền Nam Trung bộ, họ có chung cảnh ngộ “tha hương cầu thực”, mong muốn tìm vùng đất mới để sinh sống bền vững Nên khi khai phá Nam Bộ, vùng đất hoang sơ nhiều hiểm nguy từ thiên nhiên “muỗi kêu như sáo
Trang 28thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”, trên rừng có cọp beo, dưới nước sấu lội… đã tạo nên sự đoàn kết cao độ giữa các nhóm người đi khai khẩn đất hoang Đi tới đâu, họ lập xóm giềng đến đó nhằm hạn chế các rủi ro từ thiên nhiên và cùng nhau chí hướng mần ăn Cần Thơ trước khi được khai khẩn là vùng đất của thú dữ, cọp beo, dưới nước sấu lội được thể hiện qua sự tích, câu chuyện dân gian về nguồn gốc địa phương, hay thông qua những cái tên gọi như Đầu Sấu (đầu cá sấu), chợ nổi Cái Răng, Cái Da, Cái Cui (đọc trại từ cái đuôi)
Trong quá trình lao động nơi đây, những người dân đầu tiên đã tạo nên một loại hình nghệ thuật đặc sắc, đó chính là loại hình đờn ca tài tử Nam bộ Việc hình thành nên loại hình nghệ thuật này, trước tiên cần phải kể đến đặc điểm canh tác nông nghiệp Đó là tính chu kì của nghề nông, trong năm thời gian làm lúa không khéo dài liên tục mà có khoảng nghỉ giữa các mùa vụ kế tiếp, thời gian này được gọi “nông nhàn” Chính trong lúc “nông nhàn” này mà những “nhạc sĩ nông dân” đã tập trung lại với nhau, sinh hoạt hát hò… dần dần hình thành nên hệ thống bài bản đờn ca như hiện nay
Xét về nguồn gốc của loại hình nghệ thuật này, vai trò nguồn cội chắc chắn phải bắt nguồn từ Huế Bởi sự tương đồng trong các đặc điểm cơ bản về người hát, đàn, các loại đàn, thể loại bài bản ứng dụng Nhưng ở Đờn ca tài tử Nam bộ có nét tiến
bộ hơn so với nhã nhạc cung đình Huế Đờn ca tài tử mất hẳn tính chất phong kiến, khuôn khổ của nhã nhạc cung đình Huế Bởi người hát, người nhạc sĩ không phải nhạc
sĩ triều đình mà chỉ là người nông dân chất phác, họ không chơi theo bài theo bản mà chơi nhạc theo “cảm hứng”, hứng lên lúc nào là cần đàn lên và hát Và đối tượng mà
họ hướng tới là những người trong cộng đồng, cùng cảnh ngộ, ngang hàng với họ chứ không phải một ông quan, ông vua nào cả Cho nên, tính tôn ti trật tự bị xóa bỏ, thay thế vào đó là tính cởi mở trong lối tư duy chơi nhạc Đờn ca tài tử Nam Bộ là sản phẩm nghệ thuật có ảnh hưởng từ nhã nhạc cung đình Huế, nhưng những ảnh hưởng
đó không nổi bật bởi sự sáng tạo của người nông dân Nam bộ Chính những sáng tạo
đó đã tạo tiền đề cho sự lan tỏa và phát triển của đờn ca tài tử hiện nay Đờn ca tài tử ở Cần Thơ nói riêng xuất phát từ hò Cần Thơ, một số soạn giả nổi tiếng ở Cần Thơ như Điêu Huyền, Bảy Nhiêu, Cô Năm Cần Thơ
Hiện tại, nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ chính là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ Tại Cần Thơ, từ trong nhà ra đến tận các quảng trường, công viên… ta đều thấy loại hình nghệ thuật này Những chiếc radio hát liên tục từ sáng đến tối của chị tiểu thương chợ bến Ninh Kiều, loa phát thanh truyền tải đến từng
vở cải lương từ nhiều năm qua vẫn tiếp tục hát Đặc biệt, nghệ thuật đờn ca tài tử này đang được ứng dụng mạnh mẽ vào việc quảng bá quê hương, phục vụ du lịch thông
Trang 29qua tiếng đàn cất lên trên những chiếc du thuyền lớn cạnh công viên bến Ninh Kiều Ở
đó, các nghệ nhân vẫn sử dụng các bản đàn từ trước giờ để hát các bài hát mời gọi người bốn phương đến thưởng thức vẻ đẹp của văn hóa sông nước Cần Thơ Có thể thấy, đờn ca tài tử chính là thương hiệu đặc trưng của vùng Nam bộ (nói chung) và Cần Thơ (nói riêng), năm 2013 UNESCO đã chính thức công nhận nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới
3.2.2 Lễ hội cộng đồng
Có thể chia lễ hội ở Cần Thơ thành hai mục chính là lễ hội dân gian được hình thành trong cộng đồng địa phương và lễ hội do nhà nước quản lý Cả hai loại hình lễ hội này đều hướng đến mục đích bảo tồn và phát huy làng nghề và lễ hội truyền thống, nhưng theo hai nguồn gốc phát sinh khác nhau Lễ hội dân gian ở Cần Thơ nổi bật có
lễ Kỳ Yên của người Việt Người Việt ở Cần Thơ nói riêng rất coi trọng đình làng Thời xưa khi khai khẩn đất đai để ổn định cuộc sống thì để thờ những vị nhân sinh tiền
có công mở đất lập làng ổn định cuộc sống địa phương, người dân lập đình thờ các vị Tiền hiền, Hậu hiền Đình ở Cần Thơ thờ các vị thần linh như thần “Thành Hoàng Bổn Cảnh” cùng với các vị có công với làng xã đánh đuổi giặc ngoại xâm Như Đình Bình Thủy thờ Bùi Hữu Nghĩa, Đinh Công Chánh, Phan Văn Trị… Bên cạnh đó còn thờ các
vị thần theo tín ngưỡng dân gian: thần Hổ, thần Nông, thần Bạch Hổ, thần Thổ Địa, thờ Ngũ Hành Nương Nương, bà Chúa Xứ, Quan Công… Hằng năm các đình ở Cần Thơ chọn 3 ngày trong lễ Thượng điền hoặc Hạ điền làm lễ Kỳ Yên Lễ Kỳ Yên có nghi lễ thỉnh sắc thần Thành Hoàng Bổn Cảnh về dinh, lễ mở sắc thần, lễ Túc Yết, lễ Chánh Tế, lễ Tế Tiên Hiền, Hậu Hiền và các danh hữu công khác Nếu lễ Kỳ Yên được tổ chức chung với lễ Thương điền hoặc Hạ điền thì có nghi thức tế thần Nông và thần Hổ [Địa chí Cần Thơ p501]
Lễ Chol Thnam Thmay của người Khmer, Lễ Vía Quan Thánh Đế của người Hoa Tết mùng 5 tháng 5 còn được gọi là Tết Đoan Ngọ được tổ chức vào ngày mùng
5 tháng 5 âm lịch hằng năm theo sự tích Khuất Nguyên trầm mình của người Hoa Lễ Cholchnam Thmay của người Khmer còn gọi là “lễ chịu tuổi”, tính theo Phật lịch kéo dài 3 ngày, thường trong khoảng tháng 4 dương lịch hằng năm Lễ Đôn Ta của người Khmer là lễ cúng ông bà tổ tiên được tổ chức 3 ngày trong năm từ ngày 29 tháng 8 đến
1 tháng 9 [Địa chí Cần Thơ p503]
Mỗi dịp trong năm đều có các lễ hội cộng đồng theo mỗi dịp, ngành nghề và tôn giáo Các lễ hội đều được công nhận trong cộng đồng và được phổ biến phát triển qua nhiều năm Chẳng hạn, tết Nguyên đán là lễ hội của dân tộc, theo phong tục của người Việt và Hoa nhưng đến nay người Khmer cũng tham gia sinh hoạt như ngày Tết dân tộc Đây là thời điểm bắt đầu một năm mới, mọi người thường hoàn thành các hoạt
Trang 30động của năm cũ để chào đón một năm mới tốt đẹp hơn Các hoạt động thường diễn ra trong ngày Tết là dịp họp mặt gia đình người thân cúng ông bà tổ tiên, mừng thọ ông
bà cha mẹ, chúc những điều tốt đẹp nhất đến với mọi người Tết Nguyên đán thường diễn ra trong 3 ngày từ mùng 1 tháng giêng đến hết mùng 3 tháng giêng, nhưng trước
đó gia đình đều lo sắm sửa chuẩn bị đầy đủ thức ăn, trái cây để cúng kiến, hoa kiểng
để trang trí cho ngôi nhà của mình Ngoài ra, người dân ở Cần Thơ nói chung còn có tín ngưỡng thờ ông bà tổ tiên, các gia đình còn có thờ cúng ông Táo, Thổ Địa, Thần Tài
Bên cạnh đó, các lễ hội được nhà nước tổ chức như lễ hội bánh dân gian nhằm bảo tồn các làng nghề làm bánh truyền thống ở Cần Thơ Hay lễ hội Sắc Xuân Miệt Vườn được Bảo Tàng TP Cần Thơ tổ chức hằng năm trước mỗi dịp Tết Nguyên đán, nhằm mục đích bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể dân gian Đây là dịp tái hiện lại các nghề thủ công truyền thống của địa phương như làm bánh, đan lát, chạm khắc, thư pháp Bên cạnh đó còn có các món ăn truyền thống của các dân tộc, như bánh xèo, bánh tét, bánh in của người Việt; bánh thốt nốt, bánh bí, bánh kèn của người Khmer; bánh củ cải, hồng đào của người Hoa
3.2.3 Tập quán buôn bán
Vùng đất Nam bộ được phù sa bồi đắp bởi con sông Hậu chảy dài qua các tỉnh, tạo nên sự màu mỡ nhờ được phù sa bồi đắp Đời sống sinh hoạt của người dân Cần Thơ gắn liền với sông nước, người dân thường lấy nơi hợp lưu của các ngã sông để gặp gỡ, giao lưu buôn bán từ đó bắt đầu hình thành thị tứ, chợ búa Chính điều kiện tự nhiên đã tạo hình thành nên tập quán buôn bán của người dân nơi đây Đối với dân thương hồ họ nắm rất rõ quy luật mối quan hệ giữa con nước và khoảng cách không gian, cứ 25km sông thì thời gian con nước di chuyển cách nhau một giờ đồng hồ Việc tính toán này còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như độ quanh co khúc khuỷu, sông rộng hay hẹp và độ dốc của đoạn sông [Trần Ngọc Thêm 2013:148] Nhờ có sự hiểu biết nắm rõ quy luật của mùa nước nổi, người Cần Thơ mới có thể sống chung và tận dụng môi trường sống trên sông này Thường thì ở chỗ giáp nước nơi giao nhau của các dòng sông sẽ thấy một cái chợ lớn hoặc nhỏ, hay xóm có vài hàng quán, vì đây là chỗ đổi con nước Người thương hồ trước kia trong quá trình đi buôn, khi đến chỗ giao nhau giữa các dòng sông thì dòng nước sẽ đứng lại, trong lúc nghỉ ngơi hay chờ đổi con nước thì các thương hồ bắt đầu trao đổi hàng hoá với nhau Dần về sau, có những ghe thuyền neo lại buôn bán thức ăn, đồ dùng, cà phê, trà cho những người nghỉ chân
ở nơi giáp nước, từ đó hình thành lên chợ nổi trên sông [Nguyễn Hiến Lê 2002, Trần Ngọc Thêm 2013:149] Có thể thấy, các hành vi gắn với môi trường có ảnh hưởng đến văn hoá [Steward 1955:331] và các xã hội có cùng trang bị kỹ thuật có thể biểu hiện
Trang 31các mô hình xã hội khác nhau bởi vì môi trường khác nhau sẽ dẫn đến thích nghi văn hoá khác nhau [Steward 1955:329]
Đặc biệt, nếu là cư dân vùng đất sông nước này thì sẽ dễ dàng nhận biết được đâu là ghe chở hàng, đâu là ghe buôn bán trên các con sông, trong đó ghe bán phục vụ cho những người sống trên sông như tạp hoá thu nhỏ trên sông thường là ghe hàng lớn
có mui Loại hình chợ nổi là đặc trưng riêng của vùng Nam bộ mà không tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác Hình thức buôn bán, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ăn uống được thực hiện ngay ở trên mặt nước giữa dòng sông Mỗi quầy hàng được bày bán và dự trữ trên thuyền Quy mô của mỗi chiếc thuyền có thể trữ ít nhất khoảng nữa tấn hàng hóa trở lên bởi mỗi chiếc thuyền thường đậu lại buôn bán trong một thời gian dài Chợ nổi là nơi tập trung nhiều ghe hàng hóa, rau củ ở một vị trí nhất định, thường có sự chuyên môn hóa trong buôn bán bởi mỗi ghe hàng chỉ cung cấp một loại hàng hóa nhất định Để biết được ghe nào bán hàng gì thường người bán sẽ dùng cây sào dài làm bằng tre, gọi là “cây bẹo” để treo loại hàng mà bọ bán lên Đó là bản sắc văn hóa của vùng sông nước Nam bộ, chỉ riêng Nam bộ mới có
Điển hình là chợ nổi Cái Răng ở Cần Thơ, được xem là nét đặc trưng cho văn hoá buôn bán trên sông của người dân miền sông nước Chợ nổi Cái Răng hiện nay là địa điểm du lịch thu hút hàng trăm lượt khách du lịch mỗi năm ở Cần Thơ Chợ hoạt động vào buổi sáng sớm tầm từ 4 đến 9 giờ sáng đã tan chợ, chủ yếu buôn bán các loại trái cây, nông sản Bên cạnh đó, còn có các ghe bán các món ăn như bún riêu, bún nước lèo, bún mắm, hay bán nước uống như cà phê, trà đá, chủ yếu buôn bán cho những người sống trên ghe thuyền trên sông là chính yếu, bên cạnh đó là khách du lịch Chợ nổi Cái Răng là khu chợ nổi sầm uất, nổi tiếng trong giới thương hồ từ nhiều thập kỉ qua Hiện tại, chợ nổi vẫn tiếp tục hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa có kèm theo hình thức tham quan du lịch
Hình thức buôn bán ven sông/trên sông của cư dân vùng ĐBSCL cũng như người dân Cần Thơ thể hiện sự thích nghi với môi trường tự nhiên sông nước Khi mà
hệ thống đường bộ chưa phát triển trong khi hệ thống đường thủy chằn chịt trong vùng, loại hình buôn bán trao đổi hàng hóa thường thực hiện trực tiếp trên đường thủy Quả thực, trong thời kì ban đầu vai trò của các hệ thống kênh rạch, sông ngòi đối với việc phát triển ngoại thương vô cùng quan trọng Sự quan trọng đó đã được chính quyền Pháp nhận thức từ rất sớm, với việc sử dụng các phương tiện cơ giới tân tiến lúc bấy giờ để hoàn thành Kênh Xáng Xà No (7/1903) nối liền Cần Thơ với vùng Hậu Giang và cả vùng biển phía Tây (Kiên Giang)7 Chính công trình này đã thể hiện được
7 Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, NXBTrẻ
Trang 32vị thế của mạng lưới thủy lợi trong sự phát triển của toàn Nam bộ Thương nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đều gắn chặt với môi trường sông nước và trong chính môi trường đó đã hình thành nên một nét văn hóa tiêu biểu của tiểu vùng văn hóa Nam bộ
Trong cùng một môi trường con người sẽ có sự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với môi trường Với việc xây dựng các dãy bờ kè dọc các sông lớn nhằm tạo cảnh quan đô thị, chống sạt lở, tạo không gian xanh cho đô thị tại trung tâm thành phố Cần Thơ được thực hiện một cách đồng bộ Kết quả của quá trình “đô thị hóa các dòng sông” này đã đạt được nhiều tích cực, nhưng vấn đề buôn bán ven sông đang trở thành vấn đề khó giải quyết Vốn dĩ trước đây, khi chưa có bờ kè người dân sinh sống nơi đây vẫn tận dụng diện tích đất này để buôn bán, kinh doanh các mặt hàng nông nghiệp… kể từ khi có bờ kè việc buôn bán, kinh doanh vẫn diễn ra như trước, điều này
đã trở thành lối sống của phần lớn người dân sống ven sông Có thể xem cách thức buôn bán này thuộc về bản sắc sinh tồn của người dân Cần Thơ, hơn thế nữa nó còn là văn hóa kinh doanh của cộng đồng tộc người trên địa bàn
Hiện nay, cách gánh hàng rong trên bờ có đặc điểm chủ yếu là gọn và nhẹ để tiện cho việc di chuyển nhiều nơi của người bán Trước kia, người dân chủ yếu tập trung ở khu vực Nhà Lồng chợ cổ Cần Thơ Trải qua nhiều năm, nhà lồng chợ bên dòng sông Hậu đã trở thành biểu tượng trong đời sống kinh tế của người Cần Thơ Nhà Lồng chợ đã được tồn tại gần 100 năm từ thời thực dân Pháp cho xây dựng cùng với các trụ sở hành chính như công viên, cầu tàu lục tỉnh, khu nghỉ dưỡng… Nơi đây trở thành trung tâm giao thương trao đổi hàng hóa của Cần Thơ Nhưng hiện nay, bán hàng rong của người dân Nam bộ đã trở thành biểu tượng văn hoá không chỉ riêng ở Cần Thơ mà là của cả một quốc gia, mang nét đặc trưng theo từng vùng và từng khu vực khác nhau
Tiểu kết chương 1
Tóm lại, với đặc trưng của môi trường là hệ thống sông ngòi chằng chịt, đã hình thành nên những nét văn hoá của người Nam bộ nói chung và Cần Thơ nói riêng
Đó là văn hoá ứng phó với môi trường tự nhiên thông qua cách ăn, cách ở Trong món
ăn tuỳ mỗi vùng mà có hững cách chế biến món ăn khác nhau, có những món ăn đã trở thành thương hiệu của vùng Như bánh pía Sóc Trăng, mắm An Giang trong đó Cần Thơ cũng có các món ăn như bánh tằm tép Thới Long, bánh tét lá cẩm Về nhà ở, đã
có sự hoà hợp với thiên nhiên “nhất cận thị, nhị cận giang”, sau đó trong quá trình thích ứng với môi trường xã hội, người Nam Bộ khéo léo thay đổi quan điểm lựa chọn nơi ở của mình tuỳ thuộc vào môi trường tự nhiên “nhất cận thị, nhị cận lộ” Bên cạnh
đó, qua cách ăn, cách ở còn thấy được sự giao lưu văn hoá giữa cá dân tộc, đặc biệt ở
Trang 33Cần Thơ là sự giao lưu giữa ba dân tộc Việt, Hoa, Khmer Trong quá trình sinh sống cộng cư đã trao đổi và hoà hợp sao cho phù hợp với cộng đồng và điều kiện tự nhiên
Đối với văn hoá ứng xử với môi trường xã hội, người dân trong lúc khai khẩn hay nông nhàn đã tụ tập lại với nhau giải trí bằng việc đàn hát, từ đó nảy sinh ra loại hình nghệ thuật mang đậm nét cộng đồng là đờn ca tài tử Bên cạnh đó, phong tục tập quán cũng có sự tiếp thu học hỏi từ các dân tộc trong quá trình cộng cư, như thờ Phật của người Việt, thờ Quan Công của người Hoa và chùa của người Khmer trong cùng một khu vực Tuỳ vào điều kiện tự nhiên và môi trường, trong quá trình sinh sống người dân đã có những lễ hội gắn liền với cộng đồng như lễ hội dân gian: lễ Kỳ Yên của người Việt, lễ Chocholnam Thomay của người Khmer, lễ Vía Quan Thánh Đế của người Hoa; hay lễ hội được nhà nước tổ chức nhằm bảo lưu các làng nghề truyền thống và phát huy giá trị văn hoá của khu vực: lễ hội Sắc Xuân Miệt Vườn, lễ hội bánh dân gian Một trong những tập quán của người Nam bộ gắn liền với môi trường tự nhiên từ thuở hoang sơ cho đến ngày nay là việc buôn bán trên sông/ven sông Đặc biệt ở Cần Thơ, việc buôn bán trên sông đã trở thành biểu tượng văn hoá của vùng như chợ nổi Cái Răng, thể hiện đời sống sinh hoạt của người dân gắn liền với sông nước Bên cạnh đó, trong quá trình đô thị hoá tác động đến đời sống xã hội của người dân địa phương thì việc buôn bán ven sông ngày càng được giảm đi, nhưng xuất hiện những gánh hàng rong trên bờ không nhận được sự hỗ trợ và đảm bảo từ những chính sách địa phương Có thể nói, buôn bán trên sông hay hàng rong trên đường đều là nét đặc trưng văn hoá của một vùng đất, nó tạo nên hình ảnh cho một địa phương, đặc biệt là trong phát triển du lịch
Chợ nổi Cái Răng hiện nay đã trở thành địa điểm được đầu tư phát triển trong
du lịch, thu hút rất nhiều lược khách tham quan Nhưng cùng là tập quán buôn bán, nhưng bán hàng rong hiện nay được xem là vấn đề trong việc quy hoạch đô thị của một thành phố, nhưng nếu nhìn theo góc độ khác thì hàng rong có thể được xem là nguồn lực trong khai thác phát triển kinh tế về du lịch Để hiểu rõ hơn hiện trạng buôn bán hàng rong hiện nay ở Nam Bộ nói chung, phần tiếp theo xin khái sơ lược thực trạng bán hàng ở Cần Thơ để có cái nhìn sơ lược nhất Bên cạnh đó, nêu lên những tác động của chính sách đến việc buôn bán của người dân trên vỉa hè trong quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay ở Cần Thơ
Trang 34CHƯƠNG II BÁN HÀNG RONG Ở CẦN THƠ
1 Thực trạng buôn bán trên vỉa hè
Đặt trong bối cảnh vào những năm 1986 khi đất nước đang trong quá trình đổi mới, người dân bắt đầu di cư từ vùng này sang vùng khác sinh sống tìm cơ hội mới Trong đó có một số tầng lớp người dân sinh sống chủ yếu bằng các nghề thủ công hay buôn bán là chủ yếu Ở Cần Thơ nói riêng việc buôn bán chủ yếu tập trung ở gần trung tâm hay dọc theo các con sông Đây đã trở thành nét đặc trưng trong văn hoá sinh hoạt của người dân ở vùng sông nước
Ngày nay, trong quá trình đô thị hoá, khu vực ven sông bắt đầu được bê tông hoá, bờ kè được xây dựng, công viên, khu vui chơi, trung tâm mua sắm, chợ được quy hoạch và đầu tư phát triển Cùng với đó, việc thay đổi cảnh quan đô thị đồng nghĩa với việc đẩy những người buôn bán ven sông buôn bán ở nhiều nơi khác trên địa bàn thành phố Có người tiếp tục buôn bán theo hộ gia đình, hay được tập trung vào các chợ, trung tâm, hay phố chuyên doanh Nhưng cũng có một nhóm người dân vẫn không tìm được chỗ ổn định buôn bán, họ thường tập trung ở các vỉa hè hay các khu vực bên đường hình thành nên những gánh hàng rong trên vỉa hè Quá trình hiện đại hoá không ngừng thúc đẩy sự thay đổi bộ mặt đô thị của thành phố, những chính sách được đề ra nhằm cải thiện, hoặc hơn nữa là xoá bỏ việc buôn bán hàng rong trên phố Những chính sách này ít nhiều đã tác động và ảnh hưởng đến đời sống sinh kế của người dân trên địa bàn thành phố, và phần nào đó dần làm mất đi một nét văn hoá của vùng đất, những gánh hàng rong và thay thế mô hình bán tại chợ Turner & Schoenberger 2012:1028
Trước vấn đề phát triển kinh tế, du lịch chính quyền địa phương luôn có những chính sách nhằm cải thiện tình trạng mỹ quan đô thị vừa đảm bảo sinh kế cho người dân Có thể chia người buôn bán trên vỉa hè hiện nay trên địa bàn quận Ninh Kiều, phường Tân An, Thới Bình nói riêng, thành hai nhóm theo xuất phát điểm khác nhau Đầu tiên, trước năm 1975 chợ Nhà Lồng được xem là nơi trao đổi, giao thương tấp nập
ở TP Cần Thơ và trên địa bàn phường Tân An nói riêng Nhưng hiện nay, trong quá trình quy hoạch đổi mới, chợ Nhà Lồng trở thành nơi chú trọng phát triển du lịch Quá trình quy hoạch đã khiến nhiều người hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, buôn bán ngay tại gia đình hoặc buôn bán ở những khu vực vỉa hè trong địa bàn phường, nay đây mai đó Những người chuyển đổi nghề nghiệp từ buôn bán trong chợ Nhà Lồng thành nhiều nghề khác nhau, mà phổ biến nhất hiện nay dễ dàng nhận thấy là bán vé số Chỉ cần dọc theo bến Ninh Kiều vào buổi sáng đến xế chiều thì đã có độ chục người tuổi trung
Trang 35niên bán vé số Đây là một hình thức chuyển đổi nghề nghiệp dễ dàng nhất và không
bị ràng buộc bởi những chính sách, ít rủi ro hơn8
Nhưng bên cạnh đó, cũng có một số người duy trì nghề nghiệp buôn bán của mình Có thể nói những người buôn bán thức ăn như bún mắm, bánh, nước ngọt, hay những xe đẩy trái cây dọc trên đường là những người buôn bán ở chợ Nhà Lồng trước đây Họ là những người đã gắn bó lâu dài với nghề nghiệp buôn bán của mình, khi được hỏi, nếu không làm nghề hiện tại là buôn bán trên vỉa hè thì họ không biết làm gì khác vì đã có thâm niên gắn bó với nghề, hay tuổi cũng đã cao
“Ngồi đại à con ơi Hồi xưa là mạnh ai nấy ngồi à, chứ đâu bắt bớ gì đâu Bây giờ là mới bắt đầu trật tự nhiều nè Từ lúc đập Nhà Lồng tới bây giờ ngồi ở ngoài đường thì trật tự mới nhiều thôi… giờ không bán lấy gì sống con? Bây giờ nếu mà con đã sống vào cái nghề như dị rồi con hổng bán lấy gì sống đây, mấy chục năm nó đã như vậy rồi Rủi như mà công an nó bắt bớ rồi thì mình cũng nói là du di cho dân con đường sống vậy đó con, chứ nếu mà làm quá thì lấy gì sống đây Nghề mấy chục năm vậy rồi, hổng cho bán lấy gì sống Như giờ con suy nghĩ tuổi của cô không đi bán đi làm mướn ai mà mướn” [PVS #2]
Việc chuyển đổi nghề nghiệp là không thể đối với người dân buôn bán đã lâu ở chợ nhà Lồng trong bối cảnh hiện nay, buộc những người dân phải tiếp tục mưu sinh bằng nghề của mình nhưng trong tình cảnh bấp bênh do ảnh hưởng của chính sách Chính người dân cũng nhận thấy được sự cảm thông của cán bộ thực thi chính sách đối với người dân khi bắt gặp họ buôn bán trên vỉa hè, đó là sự thông cảm và “làm ngơ” đi tình cảnh của họ Sự bấp bênh còn thể hiện khi cán bộ thẳng thắn xử lý các trường hợp
vi phạm, người buôn bán trên vỉa hè luôn trong tâm thế chuẩn bị “bưng gánh mà chạy”, khi nào qua rồi thì họ tiếp tục buôn bán
“Bữa nào êm êm thì bày binh bố trận, bữa nào dẹp quá thì gọn gọn Nó tới thì mình quoải gánh lên mình chạy Bữa nó rượt chạy ẹo cái lưng nay còn chưa hết nè Nó rượt vậy khi nào qua tua thì mình bán” [PVS #2]
“Người ta đuổi thì mình dẹp thôi, người ta đang thi hành công vụ thì mình dẹp chút xíu chừng một hai tiếng rồi mình ra bán người ta cũng thôi, người ta làm căn quá thì mình nghỉ một hai ngày Bữa nào có ngày lễ hay mấy ông lớn về nó đuổi là mình phải dẹp, tại vì ở trên gửi xuống mấy người mà đi làm mấy cái này họ cũng bảo không muốn, họ bảo vì ở trên gửi xuống nên họ mới đi làm thôi chứ họ cũng không muốn, chứ không ai muốn thấy dân chúng đói khổ ai mà muốn” [PVS #4]
8 Trong bài viết này chỉ tập trung vào hình thức buôn bán chưa được quy hoạch (không ổn định) và những hộ buôn bán đã được quy hoạch tập trung trong một khu vực (ổn định)
Trang 36“Ngồi chứ không có dám bưng đi xuống dưới, sợ mấy ổng rượt chạy không kịp Nay lớn tuổi rồi, ngồi chỗ nào quen hay ngồi gần nhà, ngồi chỗ người ta kêu mình đi rồi mình dời lại Lúc bán khúc đầu trên á, rồi dời xuống đây rồi bán cũng được” [PVS #1]
Từ việc “bỏ chạy” hay “cảm thông” đối với những người làm chính sách là cách mà người dân phản ứng lại với các chính sách này Nghĩa là những vấn đề mà người bán hàng rong đối mặt, như tiếp cận không gian đô thị, các tác động sinh kế mà chính sách đã loại bỏ và làm họ phản ứng lại với những cách tiếp cận này của chính sách [Roever & Skinner 2016:6] Chính những người bán hàng trên vỉa hè họ nhận thấy được đó là hành vi không đúng theo quy định của pháp luật, nhưng vì sinh kế, cơm áo nên buộc họ phải duy trì nghề nghiệp và buôn bán trên những vỉa hè Thực tế những người buôn bán vẫn muốn ổn định nghề của họ, buôn bán ở nơi cố định hoặc nơi được phép buôn bán Nhưng chi phí thuê mặt bằng, phí gửi đồ, phí vệ sinh… cũng
đủ để tiêu hết số tiền mà người bán kiếm được trong một ngày
Mỗi một người buôn bán trên vỉa hè là mỗi câu chuyện riêng về cuộc sống mưu sinh của họ, khi chính sách, quy định của nhà nước ngày càng gắt gao thì việc buôn bán càng khó khăn hơn bao giờ hết Có những trường hợp, việc chuyển đổi từ bán nước mía sang bán nước ngọt trên vỉa hè đã khiến cho cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn Những thay đổi của chính sách như đánh dấu vào mốc chuyển đổi sinh kế của họ, vào sự chuyển tiếp từ bấp bênh này sang bấp bênh khác Nhưng sự cần thiết về mặt kinh tế là động lực trong việc duy trì sinh kế của người bán hàng rong [Turner & Schoenberger 2012:1034]
“Không, bán chạy đó cưng, cất lô là chỉ mới mấy năm nay thôi Lúc dì bị ép nước mía vào tay là lúc đó dì 65 tuổi là lúc đó người ta có lô, năm nay là 69”
[PVS #1]
Nhìn chung, chính sự cần thiết về kinh tế động lực giúp những người bán hàng rong này duy trì hoạt động buôn bán của mình, khiến cho cuộc sống của người dân buôn bán trên vỉa hè khó khăn hơn Có thể do nhiều yếu tố tác động như lạm phát cao hơn, chi phí sinh hoạt, phí mặt bằng, thuế môn bài, hay những chính sách quy hoạch, cấm buôn bán trên các tuyến đường Đây là những nguyên nhân tác động đến đời sống của người dân có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Chẳng hạn, khi địa phương đang trong quá trình phát triển kinh tế và du lịch nên cần cải thiện đô thị, sẽ đưa đến nhiều người bán trên vỉa hè không được phép bán, hoặc họ di chuyển đến nơi khác bán, hay thuê mặt bằng nhưng chi phí lại cao so với thu nhập hằng ngày của họ, hoặc là chuyển đổi nghề nghiệp Bên cạnh đó cũng có một số người “bán chạy”, khi nào lực lượng kiểm tra đến thì họ chạy đi chỗ khác bán, hết rồi thì họ quay lại tiếp tục bán Đó chính
Trang 37là tình hình chung của những người bán hàng rong trên vỉa hè hiện nay ở TP Cần Thơ trong quá trình quy hoạch đô thị
“Nó (lực lượng kiểm tra) muốn đi giờ nào đi Nhiều khi con biết không, 10 giờ khuya còn đi, 10 11 giờ khuya còn đi hốt Mấy người mà không có lô là vất vả lắm Bán mà cứ hồi hộp, mà mình dì còn đỡ, để cũng không đến nổi chứ để xe
là nó hốt liền luôn Để xe là nó không biết của ai hết nó hốt liền luôn Để gì thì mình còn giấu được chứ để mấy cái xe như xe xanh xanh đó là nó hốt liền luôn.” [PVS #1]
Nhóm đối tượng thứ hai buôn bán và hành nghề trên vỉa hè là nhóm đã được hỗ trợ cho phép buôn bán trên một số tuyến đường theo nghề, hay những tụ điểm đã được cho phép bán hàng Hiện nay trên một số tuyến đường ở địa bàn phường Tân An cho phép một số nghề được buôn bán, như dọc trên đường Trần Quốc Toản, phường Tân
An là thợ sửa đồng hồ vào ban ngày, đường Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là các quán ăn, thức uống vào ban đêm Các khu vực này thường là những tuyến đường ít người qua lại, có thềm vỉa hè rộng, được tập trung lại để buôn bán và có sự quản lí của chính quyền về việc buôn bán các mặt hang Người buôn bán không phải đóng tiền thuê mặt bằng nhưng phải đóng thuế cho chính quyền, như thuế hoa chi, thuế môn bài…
Người buôn bán trên vỉa hè ở những khu vực được chính quyền cho phép thường không bị ảnh hưởng bởi các chính sách quy hoạch đô thị, vì bản thân những tuyến đường này đã được quy hoạch rồi Nhưng chính sách quy hoạch đưa ra trong một khoản thời gian và quy mô nhất định nên sẽ nhiều người dân buôn bán sau này khi muốn tham gia vào thì đã quá thời hạn hay không còn đủ chỗ để họ bán trong khu vực được quy hoạch Chẳng hạn, phường Tân An đã tập trung những người buôn bán thức
ăn vào ban đêm trên tuyến đường Hai Bà Trưng, Ngô Quyền thành khu ẩm thực ban đêm trên đường Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Việc tập trung này được thực hiện vào năm 2013, có hơn 70 hộ đăng ký tham gia kinh doanh trên khu vực này gồm quần
áo, thức ăn, đồ dùng… Nhưng sau đó, có nhiều hộ phát sinh thêm thì không thể bổ sung họ vào, trừ khi người đã đăng kí nghỉ bán và nhượng lại mặt bằng Nên tình trạng buôn bán trên vỉa hè chỉ giải quyết được cho một nhóm, cho đến hiện nay, vẫn còn tồn tại nhiều quán ăn, nước uống bán trên vỉa hè vào ban đêm
Tóm lại, việc buôn bán hàng rong trên vỉa hè tập trung ở hai nhóm đối tượng Nhóm được quy hoạch kinh doanh trên một số tuyến đường và nhóm tự phát buôn bán rải rác ở nhiều nơi khác nhau Đối với nhóm tự phát buôn bán rải rác trên vỉa hè được cho là gây mất mỹ quan trật tự đô thị, thì họ thường có tâm lý phòng hờ các lực lượng tuần tra của chính quyền Họ buôn bán trong tâm thế lo sợ sẽ bị bắt, và sẵn sàng
Trang 38“chạy” khi có lực lượng kiểm tra Cuộc sống của họ thường bấp bênh hơn nhóm kinh doanh trong một khu vực cố định Các hộ kinh doanh tự phát sau này có trường hợp tương tự, họ tự bán trên những khu vực vỉa hè thông thoáng, tần suất người qua lại trung bình và thường thì đó là nơi họ đã buôn bán trong khoảng thời gian dài
2 Tác động của chính sách đến việc buôn bán của người dân trên vỉa hoạch
2.1 Chính sách quy hoạch vỉa hè
Trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển theo hướng kinh tế thị trường thì bán hàng rong, kinh tế phi chính thức - là biểu tượng của kinh tế lạc hậu, không những thế
nó còn là mối nguy hiểm trong giao thông [Turner & Schoenberger 2012:1038] Về chính sách quy hoạch và quản lý đô thị được thể hiện rõ trong kế hoạch “phối hợp lập lại trật tự đô thị trên địa bàn quận Ninh Kiều” Kế hoạch này đã có từ lâu và luôn được thực hiện, nhưng đến tháng 1/2016 khi có chương trình “giành lại vỉa hè cho người đi bộ” thì ở Cần Thơ bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch này Kế hoạch được đẩy mạnh thực hiện
từ tháng 4/2017 đến tháng 9/2017 Với mục đích lập lại trật tự đô thị công cộng nhằm đảm bảo an toàn giao thông và vệ sinh môi trường, giảm bớt tình trạng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi kinh doanh buôn bán, từ đó đưa các công tác quản lý trật tự kỷ cương đô thị đi vào nề nếp
Theo quy định của nhà nước cấm buôn bán hàng rong trên vỉa hè, hay lấn chiếm lòng lề đường Trong đó theo Nghị định số 46/2016/NĐ-CP về việc xử phạt hành chính về vi phạm kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, trong đó có xử lý việc bán hàng rong hoặc án hàng hóa nhỏ lẻ trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng Việc buôn bán của người dân dọc theo các tuyến
Trang 39đường trọng điểm của thành phố vừa vi phạm pháp luật, vừa làm mất đi mỹ quan đô thị của thành phố du lịch Chương trình khi đề ra luôn được tuyên truyền cho người dân, nếu không chấp hành thì sẽ bị xử phạt theo đúng pháp luật Vấn đề về buôn bán hàng rong trên vỉa hè, lòng lề đường đã xử lý nhiều trường hợp nhưng không triệt để
do sự phát sinh sau chương trình
Nghiên cứu này tập trung vào hai phường Tân An và phường Thới Bình, nơi tập trung các tuyến đường chính Bên cạnh đó, đây là địa bàn đang trong quá trình phát triển kinh tế nên cần có nhiều sự cải thiện và biến đổi về mặt đô thị nên các kế hoạch được thực thi hiệu quả nhất Mặt khác, trung tâm thương mại của quận Ninh Kiều như bến Ninh Kiều, chợ Nhà Lồng, cầu đi bộ và các tuyến đường được quy hoạch dành cho buôn bán vỉa hè đều tập trung ở phường Tân An và Thới Bình Ngoài ra, chúng tôi
có sự so sánh về quá trình thực thi chính sách ở nhiều phường khác nhau để có nhiều góc nhìn về vấn đề lặp lại trật tự đô thị trên địa bàn quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Theo báo cáo về công tác của quận đã có sự chỉ đạo trong việc thống nhất công tác từ quận đến phường và các cấp để tuyên truyền việc chấp hành các quy định về trật
tự đô thị, vệ sinh môi trường và mỹ quan đô thị Trong quá trình thực thi kế hoạch thì công tác tuyên truyền đóng vai trò quan trọng hơn hết Địa phương luôn thực hiện các công tác tuyên truyền thông qua báo đài, tờ rơi, hay vận động các hộ kinh doanh thực hiện kế hoạch trong việc đảm bảo trật tự đô thị, không lấn chiếm vỉa hè lòng đường làm nơi kinh doanh, buôn bán gây mất mỹ quan đô thị Sau khi thực hiện công tác tuyên truyền thì địa phương phối hợp với các cơ quan thực hiện việc tuần tra kiểm soát thì vẫn còn nhiều hộ kinh doanh vi phạm như chiếm dụng hè phố để buôn bán hay kinh doanh thức ăn trên hè phố, dựng các vật che trên vỉa hè… Đa số các vật tịch thu được từ các hộ vi phạm là các xe hàng tự chế, bàn ghế, dù dùng để buôn bán thức ăn
Kế hoạch nhận được sự quan tâm của các cơ quan tổ chức trong việc ra quân lập lại trật tự kỷ cương đô thị trên địa bàn các phường, nhằm giải quyết các trường hợp
về mua bán lấn chiếm vỉa hè, họp chợ… đem lại mỹ quan đô thị cho địa phương Bên cạnh đó còn nhận được sự hợp tác của người dân khi được tuyên truyền thì một số hộ dân đã tự giác chấp hành như tháo dỡ các vật kiến trúc trước vỉa hè, mái che có lấn chiếm vỉa hè Nhưng bên cạnh đó vẫn có một số trường hợp tái lấn chiếm vỉa hè làm nơi mua bán kinh doanh mặc dù đã có sự nhắc nhở nhiều lần của lực lượng tuyên truyền và xử lý Theo kết quả báo cáo thì những trường hợp vi phạm thường là các hộ buôn bán nhỏ lẻ, lao động nghèo nên việc xử phạt hành chính đối với họ còn nhiều khó khăn
Trên thực tế, qua đợt cao điểm từ tháng 3/2017 đến tháng 6/2017 khi chính quyền đẩy mạnh giải quyết vấn đề buôn bán hàng rong trên địa bàn quận thì những tụ
Trang 40điểm bán hàng rong đã có phần giảm đi so với trước Những người bán hàng rong, khi được tuyên truyền hoặc có thể đã bị xử phạt, họ tiếp tục buôn bán ở chỗ khác, hay tới nhà dân thuê mặt bằng bán trong nhà, hoặc thuê trong các khu vực nhà nước cho phép
và hỗ trợ cho buôn bán hàng rong Thực tế, chương trình “lập lại trật tự mỹ quan đô thị” nhằm mong muốn người dân chấp hành nghiêm chỉnh việc buôn bán trên vỉa hè
và lòng lề đường Chính quyền luôn có những chương trình hỗ trợ cho người dân mong muốn chuyển đổi nghề nghiệp từ buôn bán hàng rong sang nghề khác, hay tạo điều kiện, khu vực cho họ tập trung buôn bán thành tụ điểm
Có thể nói, việc buôn bán hàng rong trước kia tập trung nhiều ở tuyến đường Ngô Quyền và Hai Bà Trưng thuộc địa bàn phường Tân An, chủ yếu là buôn bán dưới lòng lề đường Phường Tân An chú trọng phát triển du lịch nên việc giữ gìn mỹ quan
đô thị và vệ sinh môi trường là yếu tố cần thiết Việc buôn bán có thể được tập trung
về các khu chợ, như chợ Nhà Lồng, nhưng vẫn có khu vực phát sinh xung quanh chợ Khi lực lượng kiểm tra nhắc nhở thì người bán hàng dẹp vào, khi lực lượng đi rồi thì
họ dọn ra bán Về lâu về dài khi người dân không chấp hành thì việc xử lý mang tính răn đe hơn Nhưng càng răn đe thì càng làm ảnh hưởng đến việc mưu sinh kiếm sống của người dân Dẫn đến những tình trạng bất cập trong mối quan hệ giữa chính quyền
và người dân trong chính sách quản lý đô thị
Nhìn chung trong bối cảnh phát triển kinh tế và du lịch, TP Cần Thơ nói riêng nhằm cải thiện mỹ quan đô thị và vệ sinh môi trường, sẽ có những chính sách đối với việc quản lý đô thị Mặt khác những chính sách này sẽ có ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống sinh hoạt cũng như việc mưu sinh kiếm sống của người dân buôn bán trên vỉa hè
Có thể thấy trước tình hình chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác lập lại trật tự
đô thị, hạn chế việc bán hang rong trên các khu vực sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của người dân trên địa bàn Trước việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền và xử lý của chính quyền sẽ có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân mặc dù đã có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương Do đó để đảm bảo cho sự phát triển bền vững ở TP Cần Thơ thì cần có sự cân bằng giữa chính sách và hiện thực đời sống của người dân, không chỉ thực hiện tốt sự phát triển kinh tế và du lịch mà còn đảm bảo sinh kế ổn đinh cho người dân trên địa bàn
2.1.2 Điểm tích cực/điểm hạn chếcủa chính sách
Khi quá trình hiện đại hoá ngày càng được đẩy mạnh thì chính sách ngày càng
đề cao các yếu tố về sự phát triển bên cạnh duy trì và bảo tồn yếu tố văn hoá Với mong muốn cải thiện mỹ quan đô thị và quan cảnh thành phố, thì TP Cần Thơ đã có những chương trình, kế hoạch đã đi vào thực hiện, một trong số đó là dẹp bỏ việc buôn bán hàng rong trên vỉa hè Nhưng muốn giảm thiểu tình trạng buôn bán trên vỉa hè,