Thực tiễn đó đòi hỏi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có những giải pháp hợp lý, tranh thủ thời cơ, điều kiện thực tế để cách mạng đi đúng hướng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ THỊ THU HOÀI
GIAI ĐOẠN 1945 - 1946
LU ẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017
Trang 2-
NGÔ THỊ THU HOÀI
GIAI ĐOẠN 1945 - 1946
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã s ố: 60.22.03.13
LU ẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS HÀ MINH H ỒNG
THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 3đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ hết sức to lớn từ quý thầy cô, gia đình và bạn
bè Nhân đây, học viên xin phép được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
PGS.TS Hà Minh Hồng – người hướng dẫn khoa học, đồng thời là người chỉ dạy, động viên, giúp đỡ học viên không chỉ trong quá trình thực hiện luận văn mà còn trong cả cuộc sống thường ngày Với tình cảm đặc biệt đó, học viên xin gửi tới thầy lời tri ân sâu sắc
Học viên cũng xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt những năm học viên học tập tại trường
Đồng thời, xin cảm ơn gia đình, các anh chị em đồng môn, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, chia sẻ, giúp đỡ học viên trong quá trình thực hiện đề tài
Trân trọng!
Học viên thực hiện
Trang 4hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Minh Hồng Những số liệu, thông tin phục
vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau được trích dẫn và chú thích đầy đủ, có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường về sự cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Học viên
Trang 5MỤC LỤC
DẪN LUẬN 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
3.2 Phạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu tiếp cận 12
4.1 Phương pháp nghiên cứu 12
4.2 Nguồn tư liệu tiếp cận 12
5 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ CỦA GIẢI PHÁP HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN THÁNG 12/1946 14
1.1 Xu thế hòa bình của thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai
14
1.1.1 Sự hình thành trận tự thế giới mới 14
1.1.2 Mục tiêu vì hòa bình, tự do, dân chủ của các nước thế giới thứ ba.17 1.2 Yêu cầu hòa bình của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 19
1.2.1 Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời 19
1.2.2 Những khó khăn về kinh tế, văn hóa – xã hội 21
1.3 Nguy cơ chiến tranh và khả năng của giải pháp hòa bình 25
1.3.1 Thực dân Pháp âm mưu lập lại chế độ thuộc địa 25
Trang 61.3.2 Các lực lượng Đồng minh vào giải giáp quân Nhật với nhiều mưu
toan và lợi ích khác nhau 26
CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP HÒA BÌNH CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ NỘI TRỊ CỦA VIỆT NAM (1945 – 1946) 32
2.1 Xây dựng và củng cố chính quyền, thực hiện Chính phủ liên hiệp.32 2.1.1 Mở rộng Chính phủ liên hiệp 32
2.1.2 Củng cố hệ thống chính quyền nhân dân ở các địa phương 33
2.1.3 Xây dựng chính phủ hợp hiến, hợp pháp 36
2.1.4 Xây dựng, củng cố các lực lượng vũ trang 43
2.2 Mở rộng khối đoàn kết toàn dân, hóa giải mâu thuẫn quyền lợi với các thế lực phản cách mạng 46
2.2.1 Đưa Đảng Cộng sản Đông Dương vào hoạt động bí mật 46
2.2.2 Mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất 48
2.2.3 Điều đình đưa Việt Quốc, Việt Cách vào Quốc hội 51
2.2.4 Mời Bảo Đại làm cố vấn, trọng dụng các nhân sĩ trí thức 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HÒA BÌNH CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO VÀ HÓA GIẢI NGUY CƠ CHIẾN TRANH (194 – 1946) 61
3.1 Từ Cách mạng tháng Tám đến Nam bộ kháng chiến 61
3.1.1 Chủ động đón lực lượng Đồng minh 61
3.1.2 Nhân nhượng với quân Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc 62
3.1.3 Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến 64
3.2 Từ sau Nam Bộ kháng chiến đến Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) 66
Trang 73.2.1 Khai thác quan hệ Pháp – Tưởng 66
3.2.2 Chủ trương hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng Giới Thạch về nước 70
3.2.3 Ký hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) 72
3.3 Từ sau Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) đến Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946) 78
3.3.1 Phá thế bao vây về ngoại giao 78
3.3.2 Chấp nhận mọi đàm phán 80
3.3.3 Ký Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946) 87
2.3.4 Tranh thủ thời gian hòa bình để xây dựng lực lượng chuẩn bị khi chiến tranh không tránh khỏi 91
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 117
Trang 8DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Hòa bình, độc lập, hữu nghị luôn là khát vọng chung của nhân loại, nhất
là đối với các dân tộc phải trải qua chiến tranh hay bị cai trị mới có được nền hòa bình, độc lập Đối với Việt Nam thì độc lập, hòa bình càng có giá trị bội phần
Giai đoạn 1945 – 1946 được coi là thời điểm bản lề của cách mạng Việt Nam Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa thành lập đã phải đối diện với tình thế “hiểm nghèo” trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao…Đặc biệt, thực dân Pháp ngay từ đầu đã không hề dấu giếm ý định đưa Việt Nam trở lại là thuộc địa Những khó khăn cứ chồng chất khó khăn mà theo như
nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong công trình “Từ Cách mạng tháng Tám đến
Toàn quốc kháng chiến, Tư liệu và suy nghĩ” thì: “Lịch sử đã đặt con người Việt
Nam thời bấy giờ vào một hoàn cảnh nguy ngập, ở đó chọn lựa nào cũng đầy nghiệt ngã” [100; tr.60] Thực tiễn đó đòi hỏi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có những giải pháp hợp lý, tranh thủ thời cơ, điều kiện thực tế để cách mạng đi đúng hướng
Trong những giải pháp giải quyết tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” lúc bấy giờ, giải pháp hòa bình đã trở thành một trong số những sự lựa chọn quan trọng
và thực tế đã đem lại nhiều kết quả đáng ghi nhận Cũng chính ở thời điểm thử thách lớn lao, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bộc lộ đầy đủ và sinh động
Đó là sự chủ động, linh hoạt, tự tin, nhạy bén để lựa chọn những đối sách đúng đắn, “chèo lái con thuyền cách mạng” Việt Nam vượt qua ghềnh thác, từng bước tiến lên Sau này, thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Vũ Kỳ đã nhận xét: “Suốt
16 tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng non trẻ, giữa vòng vây của kẻ thù, hết Tưởng rồi đến thực dân Pháp và các loại phản động đủ màu sắc, Bác Hồ vẫn ung dung bình tĩnh giữa dòng thác của lịch sử, trực tiếp chỉ đạo cuộc cách mạng của Việt Nam, từng bước đi lên giành thắng lợi Người rất kiên quyết nắm vững mục đích giữ vững chính quyền, giữ vững độc lập cho Tổ quốc, giữ vững tự do
Trang 9cho nhân dân Nhưng Người lại mềm dẻo trong sách lược, từng bước Người dẫn dắt chúng ta vượt qua khó khăn cho đến thắng lợi” [64; 22]
Làm rõ những giải pháp đấu tranh trong giai đoạn này sẽ góp phần làm phong phú hơn nghệ thuật chiến tranh Việt Nam, tái hiện khả năng nắm bắt tình hình, ứng phó và đưa ra sách lược hợp lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói chung Hơn nữa, giai đoạn 1945 –
1946 chứa đựng nhiều sự kiện, nhiều nút thắt làm xoay chuyển cục diện, vận mệnh dân tộc Việt Nam Việc làm rõ giải pháp đấu tranh hòa bình của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1945 – 1946 sẽ có những đóng góp khoa học, đồng thời thiết thực phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay Tuy vậy, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này với tư cách là một đối tượng
nghiên cứu độc lập, do vậy, học viên quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp hòa bình của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1946” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trong đề tài, tác giả sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, góp phần phục dựng một cách khách quan, khoa học về cuộc
đấu tranh của nhân dân Việt Nam giai đoạn 1945 – 1946 nói chung cũng như những giải pháp đấu tranh hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng trong giai đoạn này, trên cơ sở đó cho thấy vai trò, phương pháp, tác dụng và hiệu quả của những giải pháp này
Thứ hai, phân tích, đánh giá về bối cảnh khu vực và thế giới tác động đến
cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, từ đó cho thấy những khó khăn, thách thức
mà nước Việt Nam phải đối diện, đồng thời lập trường của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết những vấn đề đó
Thứ ba, khái quát quá trình giải quyết các yêu cầu cách mạng trên tinh
thần hòa bình giai đoạn 1945 – 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Chính phủ
vn Dân chủ Cộng hòa mà Hồ Chí Minh là người đứng đầu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 10Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam trong những năm 1945 – 1946, đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ở những mức
độ khác nhau đến những giải pháp đấu tranh hòa bình của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói chung cũng như của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng, có thể kể một số công trình như:
* Các công trình nghiên cứu giai đoạn 1945 – 1946
- Công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân ở Việt Nam trong những năm 1945 – 1946 của Nguyễn Tố Uyên Công trình đã trình bày một
cách tương đối đầy đủ, có hệ thống về công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân ở Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1946 Tác giả đã trình bày, phân tích khá cụ thể đặc điểm, tình hình cách mạng Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
Từ đó chỉ ra, trong giai đoạn này, quá trình bảo vệ và xây dựng chính quyền nhân dân phải gắn với việc thực hiện những nhiệm vụ cấp bách, khắc phục những khó khăn chống chất của đất nước; gắn với cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm rút ra từ công cuộc bảo
vệ và xây dựng chính quyền nhân dân trong những năm 1945 – 1946 cho công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền những giai đoạn sau này
- Tại sao Việt Nam? (Why Vietnam?) của A Patti Đây là một công
trình khá công phu của A Patti – một nhân chứng lịch sử, có mặt trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam Cuốn sách đã cung cấp những cách nhìn nhận khá mới về cuộc chiến ở Việt Nam Trong đó có đề cập đến Việt Nam giai đoạn 1945 – 1946 cũng như sách lược nhân nhượng, mềm dẻo của Chính phủ Hồ Chí Minh trong quan hệ với các thế lực chiếm đóng ở Việt Nam giai đoạn đó
- Pari – Saigon - Hanoi là công trình của Philippe Devillers, công bố
năm 1988 sưu tập tư liệu về cuộc chiến tranh Việt – Pháp giai đoạn 1944 – 1947 Trong đó, tác giả công bố những thư tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Pháp và
nỗ lực xây dựng quan hệ thân thiện với phương Tây của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm vãn hồi hòa bình trong những năm 1944-1947
Trang 11- Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, là cuốn sách bao gồm
hai tập hồi ức “Từ nhân dân mà ra” và “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp Tác phẩm có đề cập tới hai thời kỳ đấu tranh cách mạng có quan hệ đến sự tồn vong của Tổ quốc đó là thời kỳ từ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa đến Tháng Tám năm 1945, và tiếp đó là thời kỳ từ ngày thành lập nước (2/9/1945) đến ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) Là một nhân chứng lịch sử đã từng tham gia vào những sự kiện trọng đại của đất nước qua những năm tháng đầy khó khăn, thử thách, tác giả đã dựng lên một bức tranh lịch sử của đất nước những ngày đầu thành lập - đầy khó khăn nhưng cũng đầy tự hào
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về những giai đoạn lịch sử này được công bố dưới nhiều dạng như sách chuyên khảo, hồi ký, biên niên…có thể liệt kê ra một số ở đây:
- Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và đường lối hòa bình thống nhất đất nước, NXB Sự thật, 1962
- Diễn biến lịch sử 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (2011), NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội
* Các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh giai đoạn 1945 – 1946
- Đồng chí Hồ Chí Minh của Ép-ghê-nhi Cô-bê-lép Cuốn sách là
nguồn tư liệu lịch sử, văn hóa quý giá, làm sống lại hình ảnh “Đồng chí Hồ Chí Minh”, về các hoạt động cách mạng của Người, trong đó có giai đoạn 1945-1946
- Hồ Chí Minh – A life – William J Duiker, xuất bản năm 2000, với
dung lượng gần 700 trang, đây được cho là công trình của một học giả nước ngoài nghiên cứu sâu rộng về con người và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh Qua những mô tả tương đối chi tiết về tiểu sử, cuộc đời và hoạt động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tác giả đã đưa ra nhận định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào cộng sản quốc tế, nhưng luôn là một người theo chủ nghĩa dân tộc, cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết
Trang 12- Bộ sách Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử của Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội ấn hành năm 2006 Đây là một công trình lịch sử được trình bày dưới hình thức biên niên Đây là một công trình lớn, chứa đựng khoảng một vạn sự kiện về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ thời niên thiếu đến lúc qua đời Công trình chính là cơ sở để xác minh những hoạt động của Hồ Chí Minh – người đứng đầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những năm 1945 – 1946
Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm chủ nhiệm đề tài và viện nghiên
cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ quan chủ trì Công trình này trình bày một cách có căn cứ khoa học, toàn diện những vấn đề lý luận
cơ bản, về tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam Làm rõ và
có những đóng góp mới về quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, trình bày một cách hệ thống những luận điểm sáng tạo lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối và phương pháp, về chiến lược và sách lược cách mạng,
về tổ chức các lực lượng cách mạng, về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh, phương pháp luận Hồ Chí Minh Nhìn chung đây là một công trình nghiên cứu lớn có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đánh dấu một bước phát triển mới trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ
sở để tiếp tục nghiên cứu toàn diện và sâu sắc hơn nữa về tư tưởng của Người
- Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, của Nguyễn Dy Niên được xuất
bản năm 2008 bởi Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã đề cập một cách khái quát, có tính hệ thống và tổng kết tư tưởng, phương pháp, phong cách tư duy, phong cách ứng xử và phong cách diễn đạt trong ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh
* Các công trình khác có đề cập sâu đến giai đoạn 1945 – 1946 và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 13- Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt – Pháp thời kỳ 1945 – 1946
của tác giả Lê Kim Hải (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội , 2005) đã tái hiện được những ứng phó linh hoạt, mềm dẻo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với từng
kẻ thù mà chính phủ của Người phải đối diện trong giai đoạn này Qua đó cho thấy, ngoại giao là một mặt trận, là một phương cách mà Hồ Chí Minh đã sử dụng cách hiệu quả, hợp lý cho mục đích đấu tranh bằng phương pháp hòa bình của mình
- Từ Cách mạng tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến, Tư liệu và Suy nghĩ là một công trình công phu do nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh tuyển chọn,
chỉnh lý và giới thiệu được công bố năm 2015 Công trình gồm 2 tập, dày dặn cả
về số trang và số lượng tư liệu được đề cập đến Với khối lượng tư liệu đồ sộ, công trình bước đầu cung cấp một cái nhìn cụ thể, chân thực và có hệ thống về các sự kiện lịch sử ở Việt Nam trong thời gian từ Cách mạng Tháng Tám (8/1945) đến Toàn quốc kháng chiến (12-1946) Công trình gồm 700 tư liệu và cụm tư liệu – là
Việt từ tháng 8/1945 đến tháng 12/1945 – được chia làm hai phần Phần I (Tư liệu lịch sử) gồm 600 văn kiện chính trị, văn bản pháp luật, hiệp định ngoại giao, bản tin, phóng sự, xã luận… Phần II (Tư liệu văn học nghệ thuật) gồm 100 tác phẩm văn nghệ (Thơ, ca dao mới, hát xẩm, truyện ngắn, ký sự, hồi ký, tranh vẽ, ca khúc, dịch phẩm…) Về cơ bản, đây là công trình cung cấp nhiều tư liệu để dựng lại bức tranh về lịch sử Việt Nam ở một giai đoạn nhất định, nhưng công trình chỉ dừng lại ở giới thiệu tư liệu mà chưa có nhận định, đánh giá về những sự kiện xoay quanh tư liệu đó
* Một số công trình luận án, luận văn, tạp chí chuyên ngành có đề cập đến đề tài:
1 Cụ thể bảy tờ báo đó là: Việt Nam Quốc dân công báo; Tạp chí Sự thật; Báo Cứu quốc; Báo Quốc hội; Báo
Độc lập; Báo Trung Bắc chủ nhật và Báo Nam Kỳ
Trang 14- Luận án: Ngô Chơn Tuệ (2014), Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam
chống âm mưu chia cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam của thực dân Pháp giai đoạn
1945 – 1949, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh
- Luận văn: Trần Minh Ngọc (2013), Cách ứng xử của Hồ Chí Minh với
các nước lớn – Lịch sử và bài học (1945 – 1969), Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Quan hệ Quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội; Nguyễn Văn Trí (2014), Cuộc vận động quốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), Luận văn Thạc sĩ Lịch
sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Thị
Thu Ba (2015), Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh trong đường lối cách mạng
Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Tường Duy (2008),
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, Luận văn Thạc sĩ triết học, Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, Tp Hồ Chí Minh; Nguyễn Quang Hùng (2013), Hoạt
động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn từ: tháng 8-1945 đến 12-1946, Luận văn Thạc sĩ Hồ Chí Minh học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
19-văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Hương (2013), Phong cách ngoại giao
Hồ Chí Minh qua hoạt động thực tiễn của Người (1945 – 1969), Luận văn Thạc
sĩ Quan hệ quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Các bài báo khoa học trên tạp chí chuyên ngành như: “Vài nét về phong
trào diệt giặc dốt ở Việt Nam trong 5 năm đầu kháng chiến chống Pháp (1945 – 1950)” của tác giả Nguyễn Trọng Cổn, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số
186 năm 1979; Trần Huy Liệu với bài “Từ cách mạng tháng Tám đến cuộc đấu
tranh chống Mỹ cứu nước hiện nay là quá trình liên tục của một giai đoạn lịch sử” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 77 năm 1965; Lưu Trần Luân với bài:
“Quốc hội khóa I – Sự ra đời và những hoạt động chủ yếu” đăng trên Tạp chí Lịch
Trang 15sử Đảng số 6 năm 2001; Vũ Dương Ninh với bài: “Hành trình tìm kiếm hòa bình
đi qua 9 năm chiến tranh (1945 – 1954)” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số
7 năm 2014; Lê Hữu Nghĩa với bài: “Ý nghĩa lịch sử của cuộc tổng tuyển cử đầu
tiên và bài học phát huy quyền dân chủ của nhân dân” đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1 năm 2001; tác giả Văn Tạo với bài: “Cách mạng tháng Tám đôi điều
về nhận thức khoa học cần trao đổi”, Tạp chí Lịch sử Đảng số 4 năm 1998; Tác
giả Song Thành với bài: “Hồ Chí Minh hiện thân của văn hóa hòa bình” được in trên Tạp chí Xưa và Nay số 64 năm 1999; Tác giả Trần Trọng Trung với các bài:
“Chặng đường dẫn đến Hiệp định Sơ bộ 6 – 3 – 1946” số 3 năm 2006; “Hội nghị Phôngtenblô” số 8 năm 1996; “Cuộc đối thoại trước ngày nổ súng” số 12 năm
2001; “86 ngày Hồ Chí Minh ở Pari” số 5 năm 1996; “Chuẩn bị hậu cần bước
vào kháng chiến toàn quốc” số 3 năm 1997 đều đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng
Tác giả Nguyễn Mạnh Tùng với các bài “Chiến dịch diệt giặc dốt đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” và “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công cuộc chống giặc dốt ngay sau cách mạng tháng Tám” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
giáo dục lần lượt trên các số 281 năm 1995 và số 288 năm 1996;
Có thể thấy, đã có rất nhiều công trình đề cập đến lịch sử Việt Nam nói chung và cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng trong giai đoạn 1945-1946 Các công trình này đã góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề liên quan đến một thời
kỳ nhất định của dân tộc, tuy vậy, trong khả năng tìm hiểu, tác giả chưa thấy có công trình nào nghiên cứu về giải pháp hòa bình với tư cách là một đối tượng nghiên cứu độc lập, do vậy, trong phạm vi đề tài này, tác giả mong muốn phần nào được tiệm cận gần đến những nội dung cơ bản xoay quanh vấn đề: giải pháp hòa bình của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1946
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những giải pháp hòa bình của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1946
Trang 163.2 Phạm vi nghiên cứu
thuẫn giữa các đảng phái, tổ chức chính trị trong nước và Việt Nam trong mối
quan hệ với nước ngoài, đặc biệt là Trung Hoa Dân Quốc và thực dân Pháp
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu tiếp cận
4.1 Phương pháp nghiên cứu
nguồn sử liệu xác thực nhằm đánh giá đúng tiến trình lịch sử, những diễn biến, cột mốc quan trọng của lịch sử dân tộc giai đoạn 1945-1946
kiện lịch sử, từ đó khái quát hóa, rút ra những đặc điểm, tính chất trong giải pháp hòa bình của Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng thêm các phương pháp bổ trợ như thống
kê, mô tả, so sánh
4.2 Nguồn tư liệu tiếp cận
Để thực hiện đề tài, tác giả đã tiếp cận tư liệu chủ yếu từ các nguồn sau:
Hồ Chí Minh tiểu sử Đây là nguồn tư liệu cung cấp những thông tin, dữ liệu quan trọng, đáng tin cậy
ngoài có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung luận văn đã được công bố trên các sách, báo trong và ngoài nước, bao gồm: các công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung, giai đoạn 1945 – 1946 nói riêng
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Trang 17Chương 1: Những cơ sở của giải pháp hòa bình ở Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám đến tháng 12/1946
Chương 2: Giải pháp hòa bình của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết các vấn đề nội trị
Chương 3: Giải pháp hòa bình của Hồ Chí Minh trong vấn đề ngoại giao và hóa giải nguy cơ chiến tranh
Trang 18CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ CỦA GIẢI PHÁP HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM
Trước hết là các nước tư bản ở châu Âu Hàng triệu người dân và người tị nạn châu Âu bị mất nhà cửa Nền kinh tế cả châu lục bị ảnh hưởng nặng nề, phần lớn các hạ tầng công nghiệp bị phá hủy
Trong khi đó, Mỹ bước ra khỏi Chiến tranh thế giới thứ hai với vị thế là nước tư bản giàu mạnh nhất thế giới Nước Mỹ ở xa chiến trường, không bị chiến tranh tàn phá Mỹ giàu lên trong chiến tranh do được yên ổn phát triển sản xuất và bán vũ khí, hàng hoá cho các nước tham chiến Do vậy, sau chiến tranh, Mỹ đã vươn lên chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản Năm 1945, Mỹ chiếm 40% xuất cảng hàng hóa, trở thành nước cung cấp hàng hóa cho các nước châu Âu, đồng thời là chủ nợ lớn của các nước này Năm 1946, Mỹ chiếm 62% sản lượng công nghiệp thế giới tư bản Ngoài ra, với ưu thế lớn về quân sự, nắm độc quyền về vũ khí nguyên tử, Mỹ đã khiến các nước trên thế giới phải kiêng nể Với những lợi thế như vậy, Mỹ đã lôi kéo, chi phối các nước với ý đồ bá chủ toàn cầu Lợi dụng khó khăn của các nước tư bản sau chiến tranh thế giới, Mỹ âm mưu tranh giành ảnh hưởng của mình đối với các khu vực trên thế giới, trong đó có các nước là thuộc địa của các nước tư bản châu Âu
Trong khi đó, có thể thấy sau thế chiến II, hòa bình trở thành một xu thế cần thiết để các nước khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, ổn định xã hội Mỗi quốc gia đều có những kế hoạch, những bước đi riêng để đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi hậu quả của chiến tranh
Trang 19Đối với Liên Xô – bước ra khỏi chiến tranh thế giới với tư cách là một nước thắng trận nhưng lại là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với thiệt hại đối với nền kinh tế lên đến 30%, khoảng 27 triệu người chết, 1710 thành phố, hơn
70000 làng mạc bị thiêu hủy, hơn 90000 nông trang, gần 32000 nhà máy, xí nghiệp
bị tàn phá Tổng số tổn thất có thể ước tính hơn 679 tỉ rúp, tương đương tài sản quốc dân cả nước Chính phủ buộc phải thi hành chế độ bao cấp Thực phẩm, y phục, …đều được đặt dưới chế độ phân phối nghiêm ngặt Đời sống nhân dân vô cùng khó khăn Nạn đói, thất nghiệp, bệnh tật, vấn đề chỗ ở…đe dọa cuộc sống của người dân Tuy vậy, Liên Xô lại có vai trò hết sức to lớn trong việc cho mở rộng và phát triển mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa thành một hệ thống Một loạt các nước Đông Âu, Châu Á và khu vực Mỹ Latinh sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đã tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội cùng với Liên Xô Như thế, chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước để trở thành một hệ thống thế giới Ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội ngày càng lớn, nó đã thật
sự là chỗ dựa tin cậy của phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Chủ nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất chi phối nền chính trị thế giới
Ngay sau chiến tranh, thế giới đã diễn ra nhiều sự kiện dồn dập, cục diện hai khối tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa xuất hiện đã tạo tiền đề để hình thành trật tự thế giới hai cực với vai trò của hai siêu cường: Mỹ và Liên Xô Sự trái ngược, đối chọi gay gắt về đường lối, phương châm chiến lược, quan hệ kinh
tế - sản xuất, về quyền và lợi ích giữa Mỹ - một nước đại diện cho chủ nghĩa tư bản với Liên Xô - một nước đại diện cho chủ nghĩa xã hội ngày càng có xu hướng lên cao
Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới hai cực, quan hệ giữa hai phe Mỹ - Liên
Xô là vừa đấu tranh gay gắt với nhau lại vừa chung sống hòa bình và hợp tác, mặc
dù mâu thuẫn, nhưng vẫn phụ thuộc và kiềm chế nhau, đều thực hiện chiến lược
Trang 20phòng ngự, đều tránh đụng đầu trực tiếp với nhau Chính điểm này đã ảnh hưởng đến chiến lược của hai phe trong việc giải quyết các vấn đề chung của thế giới Và hai bên đều chủ trương tránh xung đột và gây chiến tranh trên diện rộng
Bên cạnh đó, ngay khi chiến tranh thế giới thứ hai vẫn đang diễn ra, việc giải quyết các nước thuộc địa sau chiến tranh đã trở thành một vấn đề được các nước lớn quan tâm và đưa ra bàn trong các hội nghị đa phương Chính những hội nghị này là cơ sở để xác lập cục diện thế giới ở những năm tiếp đó
- Hội nghị Yalta: Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai sắp
kết thúc, nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách đặt ra trước các cường quốc Đồng minh, như việc nhanh chóng đánh bại phát xít, tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, hay phân chia thành quả chiến thắng Chính vì vậy, Mỹ, Anh và Liên Xô đã tiến hành Hội nghị Yalta để thỏa thuận việc giải quyết những vấn đề bức thiết trên và hình thành một trật tự thế giới mới sau chiến tranh Hội nghị đã diễn ra trong không khí căng thẳng và quyết liệt, nhất là vấn đề thống nhất thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc và thông qua Hiến chương Liên Hiệp Quốc trong tương lai, vấn đề Liên Xô tham chiến (có điều kiện kèm theo) ở Châu Á - Thái Bình Dương Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là việc giải giáp quân đội Phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng của các cường quốc, chủ yếu là giữa Liên Xô và Mỹ ở Châu Âu và Châu Á
Theo đó, Hội nghị đã thỏa thuận việc đóng quân tại các nước bại trận để giải giáp quân đội phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng của các cường quốc thắng trận ở Châu Âu, Châu Á Cụ thể: ở châu Âu, Liên Xô chiếm Đông Đức, Đông Âu; Mỹ, Anh, Pháp chiếm Tây Đức, Tây Âu Ở châu Á, vùng ảnh hưởng của Liên Xô bao gồm Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, Nam Sakhalin, 4 đảo thuộc quần đảo Kuril Trong khi đó, Mỹ và phương Tây được phép mở rộng ảnh hưởng ở Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á Các quyết định này ở Yalta đã có quan hệ rất lớn đến hòa bình, an ninh và trật tự thế giới về sau
Trang 21- Hội nghị Potsdam (7-8/1945): Hội nghị được triệu tập ở Potsdam,
ngoại ô thành phố Berlin, với sự tham dự của Tổng thống Mỹ Harry S Truman, Thủ tướng Anh Winston Churchill, và Joseph Stalin của Liên Xô Mục đích của Hội nghị là thống nhất về cách tái tổ chức nước Đức thời hậu chiến, thành lập trật
tự thế giới mới thời hậu chiến, những vấn đề về hiệp ước hòa bình và cách thức đối đầu với hậu quả của chiến tranh Trên cơ sở thỏa thuận chung, các nước đều thống nhất: nước Đức phải trở thành một quốc gia thống nhất và dân chủ Đông Đức - Đông Béclin do Liên Xô quản lý Mỹ chiếm đóng vùng Nam Đức Anh chiếm đóng Tây Bắc Đức Pháp chiếm đóng một phần phía Bắc Mỹ-Anh-Pháp cùng nhau hợp tác kiểm soát Tây Đức - Tây Béclin
Về vấn đề Đông Dương, Hội nghị đã quyết định giao cho quân đội Anh tiến vào nam vĩ tuyến 16, quân Trung Hoa dân quốc tiến vào phía Bắc vĩ tuyến 16
để cùng giải giáp quân đội phát xít Nhật Sự kiện thế giới này đã gây ra một cục diện khó khăn cho Việt Nam
1.1.2 Mục tiêu vì hòa bình, tự do, dân chủ của các nước thế giới thứ ba
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các phong trào công nhân, phong trào hòa bình dân chủ và nhất là phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc tiếp tục dâng cao
ở khắp các châu lục Á, Phi, Mĩ Latinh Các phong trào này phát triển từ các nước châu Á như Lào, Campuchia, Indonesia, Myanma, Philippin, Malaysia, Ấn Độ, đến Algérie, Madagascar và nhiều quốc gia khác Quy mô của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng rộng và tính chất cũng ngày càng quyết liệt ở nhiều nước Một số nơi giải phóng được nhiều vùng rộng lớn; một số khác giành được
cả chính quyền và thành lập nên nhà nước của riêng mình
Tại Đông Nam Á, nhiều nước cũng nhanh chóng chớp thời cơ, vùng dậy tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước
Trang 22Ở Indonesia, ngay sau khi Nhật đầu hàng, ngày 17/8/1945, đại diện các đảng phái và đoàn thể yêu nước đã soạn thảo và ký vào Tuyên ngôn độc lập Trước cuộc mít tinh của đông đảo quần chúng ở thủ đô Jakarta, Sukarno đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, thành lập nước Cộng hoà Indonesia Ngày 4/9/1945, chính phủ Indonesia được thành lập, Sukarno trở thành Tổng thống Hiến pháp mới của Indonesia được thông qua, mở ra thời kì mới trong lịch sử Indonesia
Ở Lào, sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 23/8/1945, nhân dân Lào đã nổi dậy thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi Ngày 12/10/1945, nhân dân thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành chính quyền, Chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọng tuyên bố trước thế giới nền độc lập của Lào
Ở các nước khác, các lực lượng yêu nước và quân đội vũ trang đã đấu tranh anh dũng chống phát xít Nhật, giải phóng phần lớn đất đai trong nước Tuy vậy, thời cơ giành độc lập ở các nước này đã bị bỏ lỡ, quân Mĩ trở lại Philippin, quân Anh trở lại Myanmar, Malaysia, Singapore và Brunei
Đối với những nước vừa giành được độc lập, hầu hết phải trải qua một thời gian dài bị cai trị và bóc lột Vì vậy, các nguồn nhân lực, vật lực đều bị tổn thất và bị khai thác triệt để Nhiều nước còn xuất hiện nạn đói, dịch bệnh trên diện rộng Do đó, hơn ai hết, họ hiểu giá trị của hòa bình, điều kiện thiết yếu để phục hồi, củng cố và xây dựng đất nước Ngoài ra, các nước này sau khi giành độc lập phải đối mặt với nhiều khó khăn như kinh tế - tài chính; sự non trẻ của nhà nước;
âm mưu trở lại của các nước thực dân hay sự can thiệp của các lực lượng hiếu chiến… Cùng với đó, người dân các nước này đã trải qua một thời kỳ dài của đời sống thuộc địa, nộ lệ, bị cai trị, bị đối xử bất công, không có tự do dân chủ nên nguyện vọng của họ luôn là một đất nước tự chủ, không bị xâm lược hoặc can thiệp từ bên ngoài Những điều đó đã phản ánh một khát vọng của hầu hết các dân tộc trên thế giới lúc này đó là khát vọng hướng đến một thế giới không có chiến tranh, đất nước được hòa bình, ngoài ra là hướng đến tự do, dân chủ
Trang 231.2 Yêu cầu hòa bình của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
1.2.1 Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Sự thất bại hàng loạt của phe phát xít trên phạm vi thế giới cùng với tuyên
bố đầu hàng của phát xít Nhật đã trở thành một thời cơ có một không hai cho Việt Nam tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 quân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trên phạm vi toàn quốc
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam – sau gần một thế kỷ chịu ách áp bức, đô hộ của chủ nghĩa thực dân phương Tây – cuối cùng cũng giành độc lập, nhân dân Việt Nam cuối cùng cũng được hưởng thành quả của nền độc lập với tư cách những công dân tự do Đây là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân Việt Nam chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, phát huy cao nhất truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử
Khi nói về thắng lợi của cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Vì sao có cuộc thắng lợi đó? Một phần là vì tình hình quốc tế thuận tiện cho ta Nhất là vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết Không ai chiến thắng được lực lượng đó” [43; tr.18-19] Vốn dĩ, nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm oanh liệt, nay bước đầu được hưởng và thấy rõ giá trị của độc lập, của tự do lại càng quyết tâm giữ vững những giá trị đó Cả nước đồng lòng, toàn dân chung một ý chí
Cách mạng tháng Tám thành công mở ra thời kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương trở thành đảng cầm quyền, mặt trận Việt Minh đã chứng minh và tiếp tục phát huy vai trò đoàn kết các tầng lớp nhân dân Đảng Cộng sản Đông Dương được tôi luyện qua các cao trào cách mạng, đã trưởng thành Lúc bấy giờ, số lượng
Trang 24đảng viên chưa nhiều nhưng cán bộ đảng là những người có kinh nghiệm lãnh đạo,
có ý chí vững vàng, còn đảng viên thì hăng hái hoạt động, có ý thức tổ chức, lại sẵn sàng xả thân vì lý tưởng của Đảng, vì sự nghiệp của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân
Cách mạng Tháng Tám thành công, đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Đây là thành quả của cuộc đấu tranh bền bỉ, đầy anh dũng, hy sinh của cả dân tộc Việt Nam
Đó là nhà nước kiểu mới, một sự thay đổi hoàn toàn về chất so với tất cả các kiểu nhà nước từng có trong lịch sử nước nhà, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân
Sau khi lãnh đạo toàn dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào xây dựng một nhà nước theo tinh thần dân chủ, tiến bộ Nhà nước mới đó không phải thuộc quyền riêng của bất cứ giai cấp nào, mà là của chung toàn dân tộc Đó là kiểu nhà nước mà mọi quyền lực đều bắt nguồn từ nhân dân; bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều là đầy tớ, công bộc của dân; thừa hành ý chí của dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi hành vi xử sự của mình
Ngay trong những năm tháng đầu tiên của chính quyền nhân dân, dù biết bao công việc đặt ra đối với chính quyền non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên định chủ trương Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu trong cả nước, để cho nhân dân được thực hiện quyền lợi thiêng liêng của mình Đây là lần đầu tiên, sau hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến và gần một trăm năm dưới ách thống trị thực dân, người dân Việt Nam được tự do lựa chọn những người có đủ tài, đức để gánh vác công việc nước nhà Trong điều kiện “thù trong, giặc ngoài” đe đọa, nhưng nhân dân ta đã tiến hành Tổng tuyển cử thành công, bầu ra Quốc hội; Quốc hội đã
cử ra Chính phủ - một Chính phủ thực sự của nhân dân Cùng với đó là xây dựng Quân đội, Ban hành Hiến pháp… Tất cả những hành động đó nhằm xây dựng một chính phủ hợp hiến, hợp pháp và chính danh
Trang 25Bên cạnh hệ thống chính quyền, nhân dân Việt Nam còn có Mặt trận Dân tộc thống nhất - Việt Nam Độc lập Đồng minh (Mặt trận Việt Minh), được thành lập từ tháng 5/1941, đến lúc này đã có cả một hệ thống tổ chức, từ cấp trung ương (Tổng bộ) đến tận các cấp cơ sở ở các làng, xã, ở trong các khu phố, nhà máy, hầm
mỏ, trường học, cả trong các công sở…Việt Minh được xây dựng trên cơ sở công nông liên minh, đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp yêu nước khác Các Ban chấp hành của Việt Minh hoạt động tích cực, các cán bộ Việt Minh có kinh nghiệm tranh đấu và được nhân dân tín nhiệm Trong Việt Minh, từng tầng lớp, từng giới đồng bào, từng lứa tuổi, từng nghề nghiệp, từng giáo phái…đều thành lập các đoàn thể riêng của mình Nhiều giới đồng bào đã mở đại hội thống nhất tổ chức cứu quốc của mình tới cấp Kỳ Lại có nhiều đảng phái chính trị, đoàn thể quần chúng
có những xu hướng khác nhau cũng gia nhập Việt Minh, như Đảng Dân chủ, Đảng
Xã hội (ngoài Bắc); Thanh niên Tiền phong, Tân Dân chủ, Cao Đài hợp nhất, Quốc gia Độc lập, Thanh niên Nghĩa dũng đoàn (trong Nam) … Với một tổ chức quảng đại như vậy, Việt Minh thực sự là nền tảng vững chắc cho công cuộc bảo
vệ và xây dựng chính quyền nhân dân
1.2.2 Những khó khăn về kinh tế, văn hóa – xã hội
Sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn phức tạp về mọi mặt Những khó khăn về kinh tế, văn hóa – xã hội và đối ngoại đều trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ
Về mặt kinh tế: Nền kinh tế đất nước sau gần một thế kỷ bị chủ nghĩa thực dân kìm hãm và phục vụ cho lợi ích chiến tranh đã bị tàn phá nghiêm trọng Nền kinh tế Việt Nam qua hàng ngàn năm dưới chế độ quân chủ vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp, Nhật vơ vét xơ xác, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá tiêu điều
Là một nước nông nghiệp nhưng sản xuất nông nghiệp hết sức thấp kém Nạn đói năm 1945 đã cướp đi hơn 2 triệu đồng bào Một trong những nguyên nhân của sự
Trang 26kiện này là: “1 Pháp thu thóc: Năm 1942: 18.098 tấn; Năm 1943: 130.205 tấn; Năm 1944: 186.180 tấn; 2 Nhật lấy ruộng trồng đay; 3 Dùng xe lửa Hà Nội – Sài Gòn vào việc binh; 4 Pháp Nhật đặt luật lệ chặt chẽ về việc tiếp tế gạo từ Nam ra Bắc” [100; tr.499]
Thêm nữa, trước ngày nhân dân Hà Nội giành chính quyền chỉ một hôm, ngày 18/8/1945 tám tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình ở Bắc Bộ bị vỡ đê, hơn 200.000 ha thóc lúa hoa màu
bị nhấn chìm dưới làn nước bạc Ngày 17/11/1945, Bộ trưởng Bộ Canh nông Cù Huy Cận đi kinh lý Bắc Ninh được chính quyền tỉnh cho biết một số nơi đã có người chết đói “lác đác mỗi làng một ít Nhiều nhà bây giờ chỉ được ăn bữa cháo bữa cơm Nhiều làng kéo đi gần hết để tha phương cầu thực” [100; tr.350]
Nỗi kinh hoàng chưa qua, lại có nguy cơ một nạn đói mới vào đầu năm
1946 Đê vỡ, 9 tỉnh Bắc Bộ bị lụt, 35 vạn héc ta ruộng bị ngập Ba tỉnh Bắc Trung
Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) cũng bị mất mùa tới 50% Sau lụt lại hạn, có tới một nửa số ruộng ở vùng Bắc Bộ bị bỏ hoang Đã thế, nhân dân Việt Nam lại phải cung cấp lương thực, thực phẩm cho gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch và hàng vạn quân Nhật Những điều đó làm cho tình hình lúc bấy giờ khó khăn càng thêm chồng chất khó khăn
Về công nghiệp, nền công nghiệp của Việt Nam vốn đã nhỏ bé, què quặt,
bị phụ thuộc nặng nề vào nước ngoài, nay sản xuất lại bị đình đốn Chính quyền cách mạng mới quản lý được một số xí nghiệp điện, nước, bưu điện, hỏa xa… Một
số xí nghiệp công nghiệp nhẹ và khai thác của Pháp, Nhật để lại chưa phục hồi sản xuất vì bị phá hủy, vì thiếu nguyên liệu Hàng vạn công nhân thất nghiệp, thiếu việc làm, đời sống khổ cực Việc buôn bán với nước ngoài đình trệ, nạn khan hiếm hàng hóa xảy ra
Tình hình tài chính vô cùng khó khăn khi mà “Người Nhật đã trao trả toàn
bộ đất nước này cho Chính phủ Hồ, trừ Ngân hàng mà họ vẫn còn ngoan cố giữ
Trang 27chặt lấy tòa nhà cũng như các tài sản bên trong” [1; tr.552] Kho bạc cạn kiệt chỉ còn vỏn vẹn 1.230.720 đồng tiền giấy trong đó có 586.000 đồng rách nát Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp Quân Tưởng Giới Thạch thì tung tiền Quan kim ra tràn ngập thị trường Trong khi đó, mùa thuế trực thu đã qua Thuế quan, vốn chiếm tới ¾ tổng thu của ngân sách, sụt hẳn xuống Với chế
độ thuế mới, thuế thân bãi bỏ làm giảm 3/5 thuế trực thu Việc cấm rượu, thuốc phiện cũng làm hụt ngân sách khoảng 60 triệu đồng Các nguồn thu trước mắt chưa biết nhìn vào đâu, mà các nhu cầu chi thì rất cấp bách Đồng tiền Việt Nam chưa có Nguồn tài chính quốc gia thật sự lâm vào cảnh khốn khó
Về mặt văn hóa – xã hội, giặc dốt – “sản phẩm” trực tiếp từ sự đô hộ của Nhật – Pháp đã tạo nên một trở lực rất lớn kéo lùi mọi sự tiến bộ trong ngày hòa bình xây dựng đất nước Cùng với nền móng kinh tế mục ruỗng là nền văn hóa –
xã hội bên trên vô cùng vỡ nát Hậu quả của chính sách ngu dân của Pháp là: số người Việt Nam thất học so với số người trong nước là 95%, nghĩa là hầu hết người Việt Nam mù chữ
Các tệ nạn xã hội như trộm cướp, cờ bạc, thuốc phiện, rượu chè…rất phổ biến, đã và đang từng ngày hủy diệt giống nòi Theo số liệu để lại, tính đến giữa tháng 6/1946, chỉ riêng Hà Nội đã thu thập được hơn một vạn cái dọc tẩu của những người tình nguyện bỏ thuốc phiện, chất như một quả núi triển lãm ở phố Tràng Tiền Bên cạnh đó, tác hại của nạn mê tín và gánh nặng của các hủ tục quan hôn, táng tế vẫn còn nặng nề Nhân dân ở phần lớn vùng nông thôn còn có điều kiện sống rất thấp kém về các mặt tinh thần và vật chất đồng thời rất lạc hậu về các mặt môi trường và y tế
Việc quân Nhật đầu hàng đã khiến một số lượng đáng kể vũ khí của quân đội Nhật chuyển qua tay tư nhân thuộc nhiều tầng lớp, bằng nhiều con đường, nạn trộm cướp bằng súng ống và lựu đạn vì thế cũng rộ lên một thời gian sau Cách
Trang 28mạng tháng Tám, đến nỗi ngày 10/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp phải ký Thông tư cho phép các tư gia mua súng để giữ nhà
Về mặt đối ngoại, khó khăn về ngoại giao cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc này là rất lớn Theo Archimedes Patti là: “Cho đến lúc đó”, họ (Việt Nam) còn bị cô lập khỏi thế giới cộng sản, bị các cường quốc ích kỷ bao vây chung quanh” [1; tr.700]
Đối với Liên Xô giai đoạn này, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có mối liên hệ trực tiếp “Liên Xô không những đã không ủng hộ ông Hồ trong cuộc đấu tranh giành độc lập trước đây mà còn không công nhận Cộng hòa Dân chủ Việt Nam trong nhiều năm nữa” [1; tr.725] Trên thực tế, Liên Xô giai đoạn này gặp phải rất nhiều vấn đề cấp bách về đối nội, đối ngoại phải giải quyết, cùng với đó phải tập trung khôi phục và phát triển đất nước để chống lại âm mưu hình thành mặt trận bao vây của Mỹ Với chính phủ Trùng Khánh, Liên Xô đang
có quan hệ tốt để giữ yên biên giới phía Đông, còn đối với Pháp thì Liên Xô vẫn cần tranh thủ mối quan hệ này vì đã có với nhau một hiệp ước ký từ năm 1944
Còn Trung Quốc thì cách mạng chưa thành công, đang rối ren nội chiến giữa Hồng quân và Bạch quân Nhân dân hai nước Lào và Campuchia cũng đang gặp nhiều khó khăn, phải đối đầu với nguy cơ bị xâm lược trở lại
Và nguyên nhân cuối cùng phải kể đến đó là: “Các hãng tin phương Tây cũng phần nào tạo nên bầu không khí thù địch với các nhà cách mạng Việt Nam Các hãng tin này đưa tin giả dối và bôi nhọ Chính phủ cách mạng Ngoài ra ở Paris, Oa – sinh – tơn, Luân Đôn, người ta đều biết rõ Hồ Chí Minh chỉ là tên tuổi của nhà lãnh đạo cộng sản Đông Dương, một chiến sĩ lão thành của Quốc tế cộng sản: Nguyễn Ái Quốc… Ngoại trưởng Mỹ G Mác-san lúc bấy giờ đã viết cho Đại
sứ Mỹ ở Pari như sau: “…Hồ Chí Minh có những mối liên hệ trực tiếp với cộng sản Rõ ràng là chúng ta không thích thú gì việc bộ máy hành chính của đế chế thuộc địa bị thay thế bằng thứ triết học và tổ chức chính trị do Crem-li lãnh đạo
Trang 29và kiểm soát” [24; tr.410] Vì vậy, trong thời gian đầu giành độc lập, Việt Nam nằm trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn ngặt nghèo, gần như bị cô lập về mặt quan
hệ quốc tế
Trong tình hình như vậy, cần có điều kiện hòa bình để khắc phục và giải quyết những vấn đề cấp thiết
1.3 Nguy cơ chiến tranh và khả năng của giải pháp hòa bình
Mặc dù Cách mạng Tháng Tám đã thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời nhưng Pháp vẫn không từ bỏ và chẳng hề che đậy âm mưu quay trở lại, tái xâm lược Việt Nam Ngay sau khi Nhật đầu hàng, một đạo quân
ở Viễn Đông đã được điều lên đường gấp rút sang Đông Dương Leclerc được chỉ định làm tổng chỉ huy, d’Argenlieu được bổ nhiệm chức cao ủy Với sự trợ lực của quân Anh, Ấn, Pháp dự tính sẽ bình định miền Nam trong vòng 3 tuần Như vậy là bất chấp những điều khoản được nêu ra trong Hội nghị Potsdam (không đề cập đến vai trò của Pháp giải giáp quân Nhật), thực dân Pháp vẫn quyết tâm hiện thực hóa mưu đồ tái xác lập vị trí ở Việt Nam
Ngày 23/9/1945, bóng dáng thực dân Pháp tràn ngập khắp nẻo đường, chiếm các đồn cảnh sát và bắn giết đồng bào Nam Bộ, “từng toán ba, bốn, sáu…cả đàn ông, đàn bà Pháp xông ra đường phố Sài Gòn để tìm bắt, đánh đập bất kỳ người Việt Nam nào, đàn ông, đàn bà, trẻ, già và có chỗ đối với cả trẻ em” [1; tr.602 – 603]
Và đúng như lời Archimedes Patti đã nói: “Dân chúng đã bị xúc phạm vì thái độ kiêu căng của Pháp, bị kích động mạnh mẽ và đã ở tư thế sẵn sàng làm mọi việc để giữ vững được nền độc lập của mình” [1; tr.597 – 598] Nhân dân Nam Bộ vừa giành chính quyền chưa tròn một tháng đành phải gác niềm vui chưa trọn vẹn qua một bên tiếp tục đứng lên chống lại kẻ thù, cả nước hướng về cuộc chiến đấu
Trang 30thần thánh của nhân dân miền Nam, “Một bên, là đội quân nhà nghề của một tên
đế quốc già đời… Một bên, là những người dân chỉ có vũ khí thô sơ và một quyết tâm chiến đấu đến cùng, để bảo vệ đất nước” [28; 308]
nhiều mưu toan và lợi ích khác nhau
Mặc dù đã có những đóng góp cho cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa phát xít, nhưng từ Mặt trận Việt Minh cho đến Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này, Việt Nam vẫn chưa có được sự công nhận quốc tế Vấn đề Đông Dương vẫn được các nước Đồng minh giải quyết theo lợi ích của họ mà không tính tới nguyện vọng cũng như những đóng góp của nhân dân Đông Dương trong cuộc đấu tranh chung
Theo quyết định của Hội nghị Potsdam, các lực lượng Đồng minh đã lần lượt kéo vào Việt Nam để thi hành “nghĩa vụ quốc tế”: giải giáp quân đội của phát xít Nhật Tuy vậy, đây chỉ là vỏ bọc để che đậy cho những dự định, những âm mưu riêng của các thế lực đặt chân vào Việt Nam với danh nghĩa quân Đồng minh Theo đó, ở miền Nam Việt Nam, 6 vạn quân Anh đã được huy động để tham gia vào quá trình giải giáp quân Nhật
Cho tới trước cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, hầu như toàn bộ vùng Nam
Á, gồm Ấn Độ, các nhà nước Malay và Miến Điện đều nằm dưới sự thống trị của Anh Vì vậy, việc Nhật bành trướng xuống phía Nam là xâm phạm trực tiếp với quyền lợi của Anh Khi quan điểm của Mỹ về “quản trị quốc tế” được đưa ra, Anh cũng đã nhìn thấy âm mưu của Mỹ trong kế hoạch này: “Đây là một cơ hội tốt đối với người Mỹ để thực hiện âm mưu của họ đối với Đông Dương Xuất phát từ chính sách thực dân mới khi Đông Dương bị Nhật xâm lược, đế quốc Mỹ không
hề giúp đỡ Pháp trong cuộc đấu tranh chống Nhật, thay vào đó họ trù tính sau chiến thắng của Đồng Minh biến Đông Dương thành một khu vực vệ tinh chịu ảnh hưởng của Mỹ” [14; tr.464] Trong bối cảnh đó, Churchill đã tìm thấy ở tổ chức
Trang 31“Nước Pháp tự do” của De Gaulle, người đang tìm cách khôi phục lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, một đồng minh trong cuộc đấu tranh bảo vệ những quyền lợi thực dân của mình Với tính toán như vậy, Anh đã luôn ủng hộ Pháp trong việc phản đối lại ý tưởng quốc tế quản trị Đông Dương do Mỹ đưa ra Tại các cuộc gặp gỡ cấp cao ở Têhêran và Yanta, Churchill đã cương quyết bác bỏ đề nghị của
Mỹ
Cùng với việc bác bỏ kế hoạch quản trị quốc tế, nước Anh từng bước ủng
hộ việc khôi phục lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương Ngay từ tháng 3/1943, một trung đội hành động của phái de Gaulle đã được thành lập tại Ấn Độ nhờ sự giúp đỡ của tướng Anh Mountbatten, Tổng tư lệnh các lực lượng Đồng minh ở chiến trường Đông Nam Á Trung đội này có nhiệm vụ thu thập các tin tức tình báo và từ sau 9/3/1945 dọn đường cho việc quay trở lại Đông Dương của Pháp
Để giúp Pháp dễ dàng quay lại Đông Dương, tại Hội nghị Potsdam, Anh đề nghị đưa Đông Dương vào chiến trường Đông Nam Á do Anh quản lý Tuy nhiên, phản ứng của Mỹ, nước vẫn cho rằng Đông Dương thuộc chiến trường Trung Quốc của
Mỹ và Tưởng, khiến hai bên đi tới thỏa hiệp chia Đông Dương thành hai cùng chiến trường: của Anh ở Nam vĩ tuyến 16 và của Mỹ - Tưởng ở phía Bắc vĩ tuyến
16 Và cuối cùng, với tư cách là lực lượng được Hội nghị Potsdam trao cho nhiệm
vụ tước vũ khí của quân đội Nhật tại Nam Việt Nam, quân đội Anh đã mang theo quân đội Pháp vào Nam Việt Nam Ngày 24/8/1945, Anh và Pháp ký Thỏa hiệp
về nguyên tắc, cách thức khôi phục lại quyền hành của Pháp tại Đông Dương Ngày 9/10/1945, hai nước ký hiệp định hành chính và tư pháp về Nam Đông Dương và đồng thời chính phủ Anh công khai tuyên bố ủng hộ Pháp tái chiếm Việt Nam, công nhận chính quyền Pháp ở Sài Gòn và chuyển giao quyền cai trị Nam Đông Dương cho Pháp
Ngày 6/9/1945, những đơn vị Anh, Ấn đầu tiên thuộc sư đoàn 20, dưới quyền chỉ huy của viên tướng Douglas D.Gracey đến Sài Gòn Ngày 20/9/1945,
Trang 32tướng Douglas D Gracey ra bản Thông cáo số 1, theo đó ông ta khẳng định quyền duy trì trật tự của quân Anh và ra lệnh cấm mang vũ khí, tuyên bố nếu ai vi phạm
sẽ bị trừng trị nghiêm khắc kể cả xử bắn Quân đội của Cédile thì theo kế hoạch
đã định, lặng lẽ chiếm các đồn cảnh sát, kho bạc, sở mật thám, nhà bưu điện…
Bên cạnh quân Anh, Pháp ở miền Nam, cùng thời điểm này, miền Bắc Việt Nam có sự hiện diện của 20 vạn quân của lực lượng Trung Hoa Quốc dân Đảng
Là một nước Đồng minh trực tiếp tham gia chiến trường châu Á, chính quyền Tưởng Giới Thạch nuôi không ít tham vọng trong vấn đề Đông Dương Quyền thống trị của Pháp ở Đông Dương cũng như những hiệp ước bất bình đẳng
mà Trung Quốc ký với Pháp từ cuối thế kỷ trước (những nhượng địa và quyền lợi của Pháp ở Trung Quốc) là những món nợ mà chính quyền Tưởng Giới Thạch hy vọng nhân dịp này sẽ giành lại được từ tay Pháp
Tại Hội nghị Cairo tháng 11/1943, khi Roosevelt đưa ra quan điểm về vấn
đề Đông Dương, Tưởng Giới Thạch tán đồng ngay và hứa sẽ ủng hộ kế hoạch quốc tế quản trị của Roosevelt Bởi Tưởng Giới Thạch cho rằng, với quan điểm
đó, chính quyền Tưởng cũng sẽ được dự phần trong việc chia quả thực sau chiến tranh ở Đông Dương Và như thế, cùng một lúc Tưởng Giới Thạch sẽ đạt được hai mục tiêu: vừa làm vừa lòng Mỹ, lại vừa vẫn thực hiện được mưu đồ quyền lợi cho mình ở Đông Dương
Tuy vậy, cuối năm 1943 đầu năm 1944, giữa Mỹ với lực lượng Trung Hoa Quốc dân Đảng lại xảy ra mâu thuẫn sau sự kiện tranh giành quyền lãnh đạo chiến khu Trung Quốc (chiến khu này thành lập từ sau khi cuộc chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ), Mỹ ép chính quyền Tưởng Giới Thạch phải trao quyền chỉ huy tối cao quân đội của Tưởng Giới Thạch cho Mỹ Để giảm bớt sự phụ thuộc vào
Mỹ, Tưởng Giới Thạch bắt đầu tìm đồng minh mới Tưởng Giới Thạch đã tìm đến Pháp và sử dụng vấn đề Đông Dương để kết nối với Pháp Ngày 10/10/1944, chính Tưởng Giới Thạch đã chủ động, bí mật tiếp kiến tướng Pechkoff, đại diện Chính
Trang 33phủ Pháp vừa được chính quyền Tưởng thừa nhận Trong cuộc hội đàm này, Tưởng Giới Thạch đề cập: “Tôi xin khẳng định lại một lần nữa với ngài rằng, bất luận với Đông Dương hoặc lãnh thổ của Đông Dương, chúng tôi đều không có bất
cứ ý đồ gì Vấn đề này, chủ trương của tôi là kiên định không thay đổi Nếu như chúng tôi có thể giúp quý quốc xây dựng chính quyền nước Pháp trên mảnh đất thuộc địa này, thì chúng tôi rất vui lòng Xin ngài hãy đích thân chuyển đạt chính thức điều ý nguyện đó của tôi lên tướng Đờ Gôn” [123; tr.25]
Lúc này, nước Pháp vẫn có nhiều đặc quyền, đặc lợi ở Trung Quốc Điều
mà Tưởng Giới Thạch nói là ngầm ý báo rằng, Chính phủ Pháp phải đáp ứng yêu cầu của chính quyền Tưởng Giới Thạch trong việc lấy lại những đặc quyền, đặc lợi ấy; đồng thời cũng phải hứa hẹn một khi trở lại Đông Dương, Chính phủ Pháp phải giành quyền ưu tiên cho Tưởng Giới Thạch Rõ ràng đây là sự mặc cả bước đầu về vấn đề Đông Dương mà Tưởng Giới Thạch đưa ra cho phía Pháp để thăm
dò Trên thực tế, Tưởng Giới Thạch vẫn xúc tiến mạnh mẽ việc chuẩn bị kế hoạch
“Hoa quân nhập Việt” Và khi Nhật đầu hàng Đồng minh, quân Tưởng Giới Thạch
đã ngay lập tức tiến hành kế hoạch, đưa quân vào miền Bắc Việt Nam
Cuối tháng 8 và trong tháng 9/1945, với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, quân đội Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc Việt Nam: “Ngày 28/8, những bộ phận đầu tiên của quân đội Vân Nam của “Long Vân” nhung nhúc kéo qua biên giới
2 Quân Tưởng cùng với tay sai đi vào Việt Nam bằng hai con đường: Một là, Phía Vân Nam, Quân đoàn 93 thuộc Đệ nhất phương diện quân của Lư Hán tới Lào Cai vào cuối tháng 8, theo kế hoạch sẽ đi dọc sông Hồng đến Hà Nội Từ Quảng Tây, quân đoàn 62, lực lượng của quân đội Quốc dân Đảng Trung ương, có tướng Tiêu Văn đi cùng, sẽ đi đường Lạng Sơn, Cao Bằng xuống Hà Nội, nhưng mãi đầu tháng 9 mới vượt qua biên giới Bên cạnh đó, hai quân đoàn khác, Quân đoàn 52 của Trung ương và Quân đoàn 60 của Vân Nam
đi tiếp theo, sẽ chia nhau xuống Hải Phòng, vào Vinh và Đà Nẵng
Theo Patti thuật lại cuộc gặp giữa ông với đại tướng Võ Nguyên Giáp thì: “điều làm cho người Việt
lo ngại không phải là bản thân việc vượt qua biên giới, Giáp đã nói với tôi rằng theo chỗ ông biết thì quân đội này là “một đội quân tham nhũng và vô kỷ luật nhất trong tất cả các đội quân của Trung Quốc” Và ông tỏ ra
lo ngại rằng những người Trung Quốc này sẽ tìm cách lật đổ Chính phủ Lâm thời và dựng lên một chế độ thân Trung Quốc” [1; tr.439] Đồng thời, Patti nhận xét về đội quân này: “Đó là một mớ lẫn lộn nào xe quân sự, xe
Trang 34Như vậy, sau cách mạng tháng Tám, tại Việt Nam có sự hiện diện của các lực lượng đến từ bên ngoài, mỗi lực lượng đều có những lợi ích và mưu đồ khác nhau, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới hình thành Và, trong tình cảnh đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính là lực lượng hợp hiến, hợp pháp duy nhất có khả năng giải quyết hòa bình các xung đột và lợi ích Bởi đây là Chính phủ đại diện cho toàn thể ý chí, lợi ích, quyền lợi của nhân dân Việt Nam
***
Vận mệnh đất nước những ngày đầu thành lập thật mong manh Những khó khăn trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao hiện ra một cách hết sức rõ ràng nhưng cách để thoát ra thì thật mờ mịt Trước những biến động của thời cuộc, đặc biệt trong tình thế hiểm nghèo của dân tộc, những nước
cờ đầu tiên là hết sức quan trọng, nó sẽ đặt nền móng vững chắc, định hướng cho chặng đường tiếp theo của con tàu cách mạng Việt Nam Vấn đề đặt ra là làm sao
để có thể giữ vững được thành quả của cách mạng, làm sao để bảo vệ được chính quyền non trẻ vừa mới “thoát thai”, làm sao để cách mạng Việt Nam tiếp tục vững bước tiến lên phía trước? Tất cả những câu hỏi đó là bài toán nan giải mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cần đưa ra lời đáp
Cách mạng bước sang giai đoạn mới, tuy nhiên do tàn dư của phong kiến, thực dân với hậu quả của chiến tranh cùng với dã tâm xâm lược nước ta lần hai của thực dân Pháp đã khiến cách mạng Việt Nam giai đoạn này mang đặc điểm
đạp, xe bò kéo xen lẫn vào những đám đông người đi bộ chập chờn, khó tả Nhiều người gánh gồng hoặc đeo những bó tướng trên lưng, lùa đi hoặc dắt theo súc vật chăn nuôi Chúng tôi còn thấy cả lồng gà, ngỗng, các đàn lợn, trâu và nhiều con vật khác được kéo theo đi trên đường…đó chính là đội quân chiếm đóng của Tưởng Giới Thạch…” [1; tr.542] Và: “Đội quân tinh nhuệ hôm qua đã trở thành đội quân đi cướp chiếm đất Ra phố, tôi chỉ thấy một cảnh tượng lộn xộn không thể tả được cùng với những người Trung Quốc lang thang không mục đích…nó giống như một đám quân tụt hậu hỗn độn đang rút lui chứ không phải là một đội quân chiến thắng đến để giải giáp và tiếp nhận sự đầu hàng của quân thù” [1; tr.548]
Trang 35mới Đó là phải vừa xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng vừa phải chuẩn bị chiến đấu chống kẻ thù xâm lược
Việc sử dụng bạo lực quân sự để chống lại các thế lực đế quốc và phản động tay sai không thể tiến hành ngay được vì lực lượng vũ trang cách mạng còn non yếu và hơn thế nữa lại chưa có cớ hợp pháp trước những đội quân Đồng minh được phái vào nước ta nhằm giải giáp phát xít Nhật Nếu vội vã áp dụng những biện pháp cứng rắn trong khi chưa đủ thực lực sẽ tạo cớ để tập đoàn đế quốc và tay sai hùa nhau bóp chết cách mạng Việt Nam Nhưng nếu tỏ ra mềm yếu, nhu nhược và nhân nhượng bất nguyên tắc thì kẻ thù càng lấn tới để ép ta phải đầu hàng không điều kiện Tuy so sánh lực lượng thuận lợi cơ bản thuộc về cách mạng nhưng đó lại là những nhân tố tiềm năng còn cần phải có thời gian để khai thác, phát huy; nhưng trước mắt lại chồng chất những khó khăn đòi hỏi phải ứng phó
và giải quyết ngay không thể chần chừ Trong tình thế hiểm nghèo đó, chỉ cần một chút do dự hoặc lệch lạc sẽ đem lại những hậu quả khôn lường Do đó, đòi hỏi những người chèo lái con tàu cách mạng Việt Nam phải hết sức bình tĩnh, khôn khéo và cẩn trọng
Trang 36CHƯƠNG 2 GIẢI PHÁP HÒA BÌNH CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ NỘI TRỊ CỦA VIỆT NAM
(1945 – 1946) 2.1 Xây dựng và củng cố chính quyền, thực hiện Chính phủ liên hiệp
2.1.1 Mở rộng Chính phủ liên hiệp
Ngày 27/8/1945, theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chính phủ đầu tiên đã ra mắt nhân dân trong tiếng reo hò vang dậy Chính phủ lâm thời thật sự là một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách chỉ đạo, điều hành đất nước trước khi bầu Quốc hội để lập ra chính phủ chính thức Thành viên của Chính phủ đại biểu cho nhiều giai cấp, tầng lớp thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc
Do tình thế đặc biệt, ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời đã cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời thu hút thêm một số thành viên của Việt Quốc và Việt Cách Chương trình đầu tiên của Chính phủ liên hiệp lâm thời là chuẩn bị tổ chức tổng tuyển cử bầu ra cơ quan đại diện của toàn dân, bảo đảm địa vị pháp lý của nhà nước cách mạng
Ngày 1/1/1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh
làm Chủ tịch ra mắt quốc dân tại Nhà hát thành phố Hà Nội Ba vạn dân Hà thành với “nét mặt hoan hỷ” đã có mặt trong sự kiện này cho thấy một nguồn vui gợi bao tin tưởng ở tinh thần đoàn kết mới của cả dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn đoàn kết, trong đó có đoạn: “Vì muốn tranh thủ hoàn toàn nền độc lập, muốn có sự hợp tác chặt chẽ giữa các đảng phái để làm cho Chính phủ mạnh mẽ thêm, nên nay đổi thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời Trong giai đoạn
Trang 37này các đảng phái đoàn kết thì Chính phủ mới vượt qua được các cơn sóng gió” [100; tr.493]
Trong buổi lễ ra mắt, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công
bố danh sách Chính phủ mới, và đường lối đối nội, đối ngoại của Chính phủ Người cùng các thành viên Chính phủ tuyên thệ: 1- Chúng tôi kiên quyết lãnh đạo quốc dân; 2- Giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc; 3- Thực hiện quyền dân chủ cho nước Việt Nam đặng mang lại tự do chính thức cho dân tộc; 4- Trong lúc giữ nền độc lập, quyết vượt hết mọi nỗi khó khăn nguy hiểm, dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân ủng hộ để Chính phủ
có thể đi đến thành công
Chính phủ liên hiệp lâm thời tồn tại từ ngày 1/1/1946 đến ngày 2/3/1946 Trong thời gian đó, dưới sự lãnh đạo khéo léo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã dàn xếp ổn thoả với quân đội Tưởng Giới Thạch; lãnh đạo và chi viện tích cực cho cuộc kháng chiến ở miền Nam; tổ chức thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử; phát hành giấy bạc Việt Nam, động viên toàn dân tham gia sản xuất, đẩy lùi nạn đói
Ngày 3/11/1946, Quốc hội đã thông qua danh sách Chính phủ mới – Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh đệ trình, gồm 14 uỷ viên Đây là một chính phủ tỏ rõ tinh thần liên hiệp, chú trọng thực tế và sự nỗ lực làm việc, để tranh thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ cùng xây dựng một nước Việt Nam mới
2.1.2 Củng cố hệ thống chính quyền nhân dân ở các địa phương
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, bộ máy chính quyền hành chính vẫn duy trì cấp Kỳ, đến Hiến pháp năm 1946, điều 57 quy định, cấp Kỳ chính thức được đổi tên thành cấp Bộ và gọi là: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ Dưới cấp Bộ này có các cấp: tỉnh (tương đương cấp tỉnh có cấp thành phố), huyện và xã
Trang 38(tương đương với cấp xã có cấp thị xã), mỗi đơn vị đều được xác định tính chất và chức năng cụ thể Cũng tháng 11/1946, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, Chính phủ lại quyết định chia cả nước thành
12 khu hành chính và quân sự
Thời kỳ đầu, hệ thống bộ máy chính quyền ở các địa phương chưa có sự thống nhất về cơ cấu tổ chức cũng như chức năng nhiệm vụ, quyền hạn nên giữa các địa phương có nhiều khác biệt Để xây dựng ngay cơ sở pháp lý cho tổ chức chính quyền địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 63/SL (22/11/1945) quy định thống nhất về cơ cấu tổ chức, chức năng quyền hạn và cách thức thành lập các cơ quan chính quyền các cấp ở địa phương Đây là sắc lệnh cơ bản nhất quy định chế độ tổ chức chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương, góp phần ổn định cơ bản về mặt tổ chức Các điều khoản trong sắc lệnh lại được sửa đổi, bổ sung bởi Sắc lệnh số 10/SL (23/1/1946) và Sắc lệnh số 22a/SL (18/2/1946)
Để hoàn chỉnh thống nhất chế độ tổ chức hành chính, Chính phủ tiếp tục ban hành nhiều Sắc lệnh mới: Sắc lệnh số 77/SL (21/12/1945) quy định việc tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố (được sửa đổi, bổ sung bởi các Sắc lệnh
số 68/SL ngày 14/5/1946 và Sắc lệnh số 76/SL ngày 29/5/1946); Sắc lệnh số 11/SL ngày 24/1/1946 quy định việc tổ chức chính quyền nhân dân tại các thị xã lớn Bên cạnh đó, Bộ Nội vụ cũng cũng ban hành nhiều nghị định về tổ chức chính quyền nhân dân ở các địa phương nhằm cụ thể hóa các quy định trong các sắc lệnh như: Nghị định số 164 (29/12/1945) định thể lệ Bầu cử Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban hành chính (UBHC) xã, huyện, tỉnh và kỳ; Nghị định số 31 (28/1/1946) quy định thể lệ bầu cử HĐND, UBHC thành phổ và UBHC khu phố (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 43 ngày 12/2/1946, Nghị định số 149 ngày 17/5/1946); và các Nghị định số 30 (28/1/1946), số 205 (18/6/1946), số 281 (22/7/1946) định thể lệ bầu cử các ủy viên dự khuyết trong các UBHC Đến cuối năm 1946, Hiến pháp dành cả chương V với 6 điều quy định một cách cô đọng
Trang 39những nguyên tắc căn bản nhất của việc tổ chức chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương
Những văn bản pháp lý chính là cơ sở, tiền đề cho việc tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Chính quyền địa phương gồm 4 cấp: cấp bộ - cấp tỉnh; thành phố - cấp huyện; thị xã, khu phố và cấp xã Trong đó, chỉ cấp xã, cấp tỉnh và thành phố, thị xã được xây dựng trên hai loại cơ quan căn bản: Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính mà tiền thân là các Ủy ban giải phóng Còn cấp
Bộ và huyện chỉ là cấp trung gian, làm đại diện cho chính quyền cấp trên trong mối quan hệ với chính quyền cấp dưới nên không là cấp chính quyền hoàn chỉnh
Về Hội đồng nhân dân (HĐND): HĐND nhân dân ở địa phương nào do
nhân dân địa phương đó bầu ra theo lối phổ thông đầu phiếu và trực tiếp Theo điều 59 của Hiến pháp, HĐND là cơ quan thay mặt cho nhân dân, là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, có quyền quyết định tất cả các vấn đề thuộc địa phương mình mà không trái với chỉ thị của cấp trên HĐND có quyền bầu ra và bãi miền các thành viên của UBHC, bãi bỏ các quy định không thích đáng của UBHC cùng cấp
HĐND do nhân dân bầu ra và cũng có thể bị nhân dân bãi miễn Khi 2/5 số
cử tri của HĐND yêu cầu phúc quyết thì UBHC phải tổ chức ngay cuộc bỏ phiếu tín nhiệm HĐND Nếu quá nửa tổng số cử tri không tín nhiệm HĐND thì HĐND
đó phải giải tán Các cá nhân ủy viên HĐND không được nhân dân tín nhiệm cũng phải từ chức
Thời hạn làm việc của các HĐND theo điều 6 và 37 Sắc lệnh số 63/SL là 2 năm, nhưng khóa đầu thời hạn chỉ có 1 năm Số hội viên của HĐND các cấp tùy thuộc vào dân số của địa phương mình Đa số, HĐND cấp xã có thể từ 15 đến 25 hội viên chính thức và 5 hội viên dự khuyết Số hội viên của HĐND cấp tỉnh có thể có từ 20 đến 30 hội viên chính thức và 5 hội viên dự khuyết
Trang 40Về Ủy ban hành chính (UBHC): ở mỗi cấp xã, thị xã, khu phố, tỉnh, thành
phố kỳ đều tổ chức một UBHC UBHC ở cấp nào là Ban chấp hành của HĐND cấp ấy, là cơ quan hành chính, vừa thay mặt cho nhân dân vừa địa diện cho Chính phủ Nó có trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, các nghị quyết của HĐND địa phương mình và chỉ huy công việc hành chính trong địa phương Về cách làm việc, UBHC là cơ quan thường trực của các địa phương và các cuộc họp của UBHC không tiến hành công khai như các cuộc họp của HĐND và phải chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với Hội đồng nhân dân địa phương mình (điều
73 huyện có UBHC chính thức Ở Nam Bộ, vì chiến tranh ác liệt, sau một thời gian phân tán, các Ủy ban nhân dân lâm thời mới dân tụ họp và hoạt động trở lại
Do đó, tinh thần sắc lệnh 63/SL chưa thực hiện được mà chỉ đổi từ hình thức Ủy ban nhân dân lâm thời sang ủy ban hành chính lâm thời
Chế độ tổ chức chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương bước đầu đã thể hiện được quyền dân chủ, tính nhân dân của chính quyền Từ tổ chức chặt chẽ
cơ sở chính quyền địa phương sẽ là điều kiện để xây dựng nội lực cách mạng
2.1.3 Xây dựng chính phủ hợp hiến, hợp pháp
Từ Cách mạng tháng Tám đến hết năm 1946 được xem như “chặng đầu trên con đường tái cấu trúc mới của xã hội Việt Nam”, do đó việc xây dựng một