Tuy nhiên, các tài liệu, công trình nghiên cứu hiện nay về tình trạng trên trong và ngoài nước, đặc biệt ở chính địa bàn nghiên cứu, hầu hết là về nguyên nhân khách quan gây ra tình trạn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Gi ảng viên hướng dẫn: Ts Đặng Thị Kim Oanh
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA
H ọ và tên chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Mỹ Phụng, MSSV: 1456060054
L ớp, Khoa/Bộ môn: Lớp Nhân học 14 (NH14), khoa Nhân học
Địa chỉ thường trú: 22/10 KP Tân Lập – P Đông Hòa – TX Dĩ An – Bình
Các thành viên tham gia:
1) Ngô Nguyễn Kim An Lớp, Khoa/Bộ môn: NH14, Nhân học Điện thoại: 01235241294 Mã số sinh viên: 1456060001
2) Trần Lê Thụy Kim Anh Lớp, Khoa/Bộ môn: NH14, Nhân học Điện thoại: 01264016398 Mã số sinh viên: 1456060004
3) Nguyễn Hồng Hân Lớp, Khoa/Bộ môn: NH14, Nhân học Điện thoại: 01236260196 Mã số sinh viên: 1456060018 4) Nguyễn Đỗ Lan Phương Lớp, Khoa/Bộ môn: NH14, Nhân học Điện thoại: 01285172527 Mã số sinh viên: 1456060057
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Trước tiên, nhóm xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám Hiệu và phòng Quản lí Dự án và Khoa học của trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn đã duyệt đề tài và hỗ trợ kinh phí cho nhóm hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
- Tiến sĩ Đặng Thị Kim Oanh – giảng viên khoa Nhân học, đã tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm, chỉnh sửa đề cương và hỗ trợ nhóm trong suốt quá trình làm
đề tài nghiên cứu này
- Bạn bè cùng khoa đã giúp đỡ, góp ý cho nhóm để nhóm có thể chỉnh sửa và hoàn thành bài nghiên cứu
- Bạn Lê Hữu Khang – sinh viên khoa Nhân học và bạn Phan Đình Huy – sinh viên trường Đại học Hutech đã hỗ trợ nhóm trong quá trình nghiên cứu tại địa bàn
- Cán bộ, viên chức của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Đại và huyện Ba Tri; của UBND xã Thừa Đức, xã Phú Vang; xã An Bình Tây và
xã Bảo Thuận; cùng với người dân tại địa phương đã tận tình giúp đỡ và cung cấp
những tư liệu quan trọng để nhóm có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu khoa
học
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 6/3/2017
Trang 42 Nhiệm vụ nghiên cứu 11 - 12
III Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12 - 13
1 Ý nghĩa khoa học 12
2 Ý nghĩa thực tiễn 12 - 13
IV V ấn đề nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
và th ời gian nghiên cứu 13 - 14
1 Vấn đề nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 13
2 Phạm vi nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 13 - 14
V Câu h ỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 14 - 15
1 Câu hỏi nghiên cứu 14
2 Giả thuyết nghiên cứu 15
VI Phương pháp nghiên cứu 15 - 18 VII B ố cục của đề tài và nội dung cơ bản của từng chương
18 - 21
1 Bố cục dự kiến 18 - 19
2 Nội dung cơ bản của từng chương 19 - 21
Trang 5B PH ẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận: 22 - 36
I Thao tác hóa các khái ni ệm 22 - 24
1 Hạn hán và xâm nhập mặn 22
2 Vùng nước mặn 22
3 Ứng xử 23
4 Sinh kế 23
5 Biến đổi văn hóa 24
II Lý thuy ết nghiên cứu 24 - 26
1 Lý thuyết sinh thái học văn hóa của Julian Steward 24 - 25
2 Lý thuyết sự lựa chọn duy lý 25 - 26
III Các tài li ệu liên quan 27 – 32
IV Tổng quan địa bàn nghiên cứu 33 - 35
1 Tổng quan về huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre 33 - 34
2 Tổng quan về huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre 34 - 35
Chương 2: Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre 36 - 42
I Tình hình h ạn hán và xâm nhập mặn ở huyện Bình Đại, tỉnh
B ến Tre 36 - 38
1 Tình hình chung 36 - 37
2 Vùng nước mặn 37 - 38
Trang 6II Tình hình h ạn hán và xâm nhập mặn ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến
Tre 38 - 40
1 Tình hình chung 38 - 39
2 Vùng nước mặn 39 - 40
III Nguyên nhân khách quan và ch ủ quan 40 - 42
1 Nguyên nhân khách quan 40 - 41
2 Nguyên nhân chủ quan 41 - 42
Chương 3: Mối quan hệ giữa ứng xử của người dân với tình tr ạng hạn hán và xâm nhập mặn ở huyện Bình Đại và huy ện Ba Tri, tỉnh Bến Tre .43 - 64
I Ứng xử của người dân trong giai đoạn trước cuối năm 2015 và giai đoạn từ cuối năm 2015 đến nay: 43 - 53
II H ệ quả về kinh tế, văn hóa, xã hội do các ứng xử của người dân
đối với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn mang lại 53 - 61 III Các ứng xử của người dân dưới góc nhìn của Nhân học
61 – 64
Chương 4: Kết luận và đề xuất giải pháp 65 - 72
I Các phương pháp phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn của các nước trên thế giới 65 - 69
Trang 71 Tổng quan 65 - 67
2 Dự đoán 67 - 69
II K ết luận về ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn hán
và xâm nhập mặn ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre 69 - 71 III Đề xuất giải pháp 71 - 72
I Tài li ệu tham khảo từ sách báo, tạp chí 73 - 75
II Tài li ệu tham khảo từ internet 75 - 76
I Hình ảnh 77 - 81
II B ảng hỏi phỏng vấn 82 - 84 III B ảng hỏi định lượng 85 - 91
IV G ỡ băng 92 - 120
Trang 8A PH ẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hạn hán và xâm nhập mặn là những hiện tượng diễn ra hàng năm tại nước ta
và năm nào cũng gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng đến đời sống sinh
hoạt hàng ngày của người dân Đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa lớn
của nước ta, là vùng chịu ảnh hưởng nhiều nhất do tình trạng hạn hán và xâm nhập
mặn trong các năm qua Do đó, người dân ở vùng đất này đã từng bước thích nghi
với hiện trạng trên thông qua các biện pháp khác nhau như theo dõi và dự đoán tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn, dự trữ nước trong mùa mưa, chuyển đổi một
số mô hình trồng trọt và chăn nuôi,…Tuy nhiên, cuối năm 2015 và đầu năm 2016 thì tình trạng hạn mặn diễn ra bất ngờ với cường độ cao làm cho người dân không thích nghi kịp Diện tích trồng trọt và nuôi trồng thủy hải sản bị thiệt hại nặng nề, đàn gia súc gia cầm bị giảm tải trọng và người dân phải bán đi do thiếu nước và thiếu thức ăn cho chúng, người dân thiếu nước ngọt trầm trọng do nước ở các nhà máy bị nhiễm mặn và đường dẫn nước ngọt chưa kịp đến với người dân,…
Thông qua các số liệu về công tác phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn
đã được các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long công bố trong năm 2016, Bến Tre là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề do hạn mặn Hiện chỉ còn vài
xã ở phía Bắc của tỉnh chưa ảnh hưởng, còn lại 155/164 xã, phường, thị trấn của
tỉnh đều bị nước mặn “bủa vây” với độ mặn 1g/lít – Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Cao Văn Trọng thông báo với truyền thông vào ngày 20/2/20161 Đặc biệt, Bình Đại và Ba Tri là hai huyện chịu nhiều thiệt hại của tỉnh và đang vô cùng khan hiếm nước ngọt
1
news.zing.vn/nuoc-nhiem-man-bao-vay-xu-dua-ben-tre-post627955.html
Trang 9
Đối tượng bị ảnh hưởng Thi ệt hại
Cây ăn trái Trên 70%, diện tích là 1,4 ha
Gia súc, gia cầm Gặp một số khó khăn về nước
Nuôi cá tra Từ 20 – 60%, diện tích là 13,03 ha
Nuôi tôm càng xanh Từ 20 – 100%, diện tích là 6,6 ha
B ảng 1 Số liệu thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn từ đầu năm 2016 đến
nay ở huyện Bình Đại 2
Phòng Nông nghi ệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Đại (2016); trích từ phần II “Thiệt hại
do thiên tai từ đầu năm 2016 đến nay”, mục 1 “Hạn hán, xâm nhập mặn”; in trong báo cáo Công tác phòng ch ống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2016 – Giải pháp phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2017 và những năm tiếp theo trên địa bàn huyện Bình Đại
Trang 10
Từ hai điều trên cùng với các bảng số liệu có được, nhóm nhận thấy vấn đề
hạn hán và xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre (đặc biệt là huyện Bình Đại và Ba Tri) là
một vấn đề đáng được quan tâm
Tuy nhiên, các tài liệu, công trình nghiên cứu hiện nay về tình trạng trên trong và ngoài nước, đặc biệt ở chính địa bàn nghiên cứu, hầu hết là về nguyên nhân khách quan gây ra tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn, một số biến đổi sinh
kế thường là chuyển từ lúa sang tôm, cách giải quyết tình trạng thiếu nước
ngọt,…chứ chưa đi sâu vào việc tìm hiểu các ứng xử của người dân trong mối quan
hệ hai chiều đối với hiện tượng hạn hán và xâm nhập mặn Các ứng xử của người dân đối với vấn đề trên trước giai đoạn cuối năm 2015 – đầu năm 2016 có ảnh hưởng như thế nào đối với hiện tượng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng như
hiện nay? Và với tình trạng nghiêm trọng như thế thì người dân đã có bước đầu thích nghi như thế nào? Với những nghiên cứu về cách ứng xử của người dân tại nơi nghiên cứu trước và sau khi hạn mặn nghiêm trọng như hiện nay sẽ giúp ta
hiểu được tâm lý và hành động của người dân, cách thức ứng xử với tự nhiên và xã
hội và nhu cầu của họ hiện nay
Như vậy, đề tài “ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI TÌNH TRẠNG
HẠN HÁN VÀ XÂM NHẬP MẶN Ở TỈNH BẾN TRE (Nghiên cứu trường
hợp ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri)” đáng để nhóm nghiên cứu Các kết quả
có được từ đề tài nghiên cứu này sẽ giúp chính quyền địa phương hiểu thêm về tình
trạng hạn mặn và ứng xử thực tế của người dân Từ đó, địa phương sẽ có những chính sách điều chỉnh và hỗ trợ kịp thời
3
Phòng Nông nghi ệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Tri (2016); phần 2 “Tình hình thiệt hại
sản xuất do xâm nhập mặn”; trích từ Báo Cáo Tổng Kết: Công tác phòng, chống hạn hán, xâm
nh ập mặn năm 2016
Trang 11
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ:
1 M ục đích nghiên cứu:
Đối với đề tài nghiên cứu này, nhóm đưa ra ba mục đích chính:
- Khái quát được thực trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre nói chung, ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri nói riêng (Hạn mặn gây thiệt hại
ra sao đối với đời sống tinh thần và vật chất của người dân nơi đó? Nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến hiện trạng trên? Chính quyền địa phương đã có những biện pháp bước đầu khắc phục tình trạng trên như thế nào?)
- Tìm hiểu được mối quan hệ hai chiều giữa các hành vi ứng xử của người dân nơi nghiên cứu với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn Lí giải tại sao người dân ở nơi đó lại có những ứng xử như trên (Người dân đã có những ứng xử gì đối với hạn mặn trong những năm qua? Những ứng xử của người dân có góp phần làm dẫn đến tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm
trọng như hiện nay không? Và khi tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn trầm
trọng như thế thì người dân đã có những bước đầu thích nghi như thế nào? Nguyên nhân tại sao người dân lại có các ứng xử đó?)
- Dự đoán xem các phương pháp giải quyết tình trạng hạn hán và xâm nhập
mặn đã thành công của một số quốc gia trên thế giới có phù hợp với điều
kiện tự nhiên và sự hiểu biết của người dân ở Việt Nam, đặc biệt là nơi nghiên cứu hay không? Từ đó, nhóm đưa ra những nhìn nhận chung về vấn
đề nghiên cứu và những đề xuất của nhóm
2 Nhi ệm vụ nghiên cứu:
Tương ứng với ba mục tiêu nghiên cứu là ba nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trực tiếp đến các cơ quan có liên quan đến vấn đề nghiên cứu (UBND các huyện Bình Đại và Ba Tri; Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) tại
Trang 12địa bàn nghiên cứu để có được những tư liệu chính xác về tình trạng hạn hán
và xâm nhập mặn, biết được cơ bản những nguyên nhân gây ra tình trạng trên và chính quyền địa phương đã có những bước đầu ứng phó và giúp đỡ người dân như thế nào?
- Tiến hành nghiên cứu tại thực địa thông qua quan sát tham dự, làm bảng hỏi,
phỏng vấn chiến lược và phỏng vấn sâu đối với người dân tại địa bàn nghiên
cứu Các tư liệu thu thập được qua các chuyến nghiên cứu tại thực địa trên
sẽ được tổng hợp, phân tích, so sánh và kết luận lại để có thể thấy được mối quan hệ hai chiều giữa những ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn
mặn
- Kết hợp các kết quả có được sau khi nghiên cứu thực địa với các tư liệu về các phương pháp giải quyết tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn của một số nước trên thế giới xem có phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhất là nơi nghiên cứu không? Từ đó, ta đưa ra kết luận và một số kiến nghị
1 Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nghiên cứu giúp chúng ta hiểu rõ hơn tình trạng hạn hán và xâm nhập
mặn ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, nhất là mối quan hệ giữa các ứng xử của người dân đối với tình trạng trên nhìn từ góc độ thuyết sinh thái văn hóa và thuyết sự lựa chọn duy lý của Nhân học Từ đó, góp một phần tư liệu cho các cuộc nghiên cứu trên quy mô rộng hơn
2 Ý nghĩa thực tiễn:
Hạn hán và xâm nhập mặn là một vấn đề rất nghiêm trọng và đáng báo động
ở tỉnh Bến Tre hiện nay, đặc biệt là huyện Bình Đại và huyện Ba Tri Các kết quả
và số liệu có được từ đề tài nghiên cứu này sẽ là những tư liệu hữu ích cho các cơ quan chính quyền, các tổ chức có thể đưa ra những biện pháp kịp thời khắc phục
Trang 13tình trạng trên Trước hết, nó sẽ giúp giảm thiệt hại về vấn đề kinh tế, giúp người dân có sự chuyển đổi kinh tế hợp lí và cải thiện đời sống tinh thần và vật chất Sau
đó, nó sẽ góp phần giúp cải thiện phần nào môi trường sinh sống của người dân
Địa chỉ áp dụng: Trước hết là áp dụng đối với nơi nghiên cứu là một xã của huyện Bình Đại và một xã của huyện Ba Tri mà được chọn làm địa bàn nghiên cứu
trọng tâm Khi có được kết quả khả quan thì ta có thể áp dụng ra các địa phương khác của hai huyện trên
1 V ấn đề nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề nghiên cứu: Ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn hán và xâm
nhập mặn ở tỉnh Bến Tre (Nghiên cứu trường hợp ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri)
Đối tượng nghiên cứu: Chủ yếu là người dân sống tại nơi nghiên cứu; tiếp theo là những cán bộ làm việc tại phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Đại và Ba Tri; các cán bộ của UBND các xã ở mỗi huyện mà được
chọn làm địa bàn nghiên cứu trọng tâm
2 Ph ạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt nội dung: Ngoài những khái quát về tình trạng hạn hán và xâm
nhập mặn ở nơi nghiên cứu, thì đề tài nghiên cứu này tập trung vào các ứng xử của người dân về mặt kinh tế và văn hóa – xã hội đối với tình trạng hạn mặn
- Về mặt địa bàn nghiên cứu: Do vấn đề về tài chính, những hạn chế về phương tiện vận chuyển và thời gian (không sắp xếp được thời gian vì trùng lịch thi), và sự khó khăn trong việc xin phép chính quyền địa
Trang 14phương cho nhóm được nghiên cứu thực tế nên cuối cùng nhóm đã
tiến hành nghiên cứu được một xã của huyện Bình Đại (xã Thừa Đức)
và một xã của huyện Ba Tri (xã Bảo Thuận)
Thời gian nghiên cứu: Ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn mặn ở
tỉnh Bến Tre (trường hợp nghiên cứu ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri) từ năm
2011 – 2017
1 Câu h ỏi nghiên cứu:
Do phạm vi về nội dung, phạm vi về địa bàn nghiên cứu và thời gian nghiên
cứu nên đối với đề tài nghiên cứu này có 3 câu hỏi nghiên cứu chính:
- Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở huyện Bình Đại (xã Thừa Đức) và huyện Ba Tri (xã Bảo Thuận) như thế nào? (Thực trạng như thế nào? Gây thiệt hại ra sao đối với đời sống tinh thần và vật chất của người dân nơi đó? Nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến hiện trạng trên? Chính quyền địa phương đã có những biện pháp bước đầu khắc phục tình trạng trên như
thế nào?)
- Mối quan hệ hai chiều trong các ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn
mặn như thế nào (Các ứng xử của người dân trước giai đoạn cuối năm 2015 đầu năm 2016 có phải là một trong những nguyên nhân làm cho hạn mặn nghiêm trọng như hiện nay không? Hiện nay đối phó với tình trạng hạn hán
và xâm nhập mặn nghiêm trọng như thế thì người dân đã bước đầu thích nghi như thế nào? Tại sao người dân lại có những ứng xử như trên?)
- Các phương pháp giải quyết tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn trên thế
giới có phù hợp với Việt Nam, đặc biệt là nơi nghiên cứu không? (Nếu có thì
có áp dụng hoàn toàn hay chỉ một phần? Tại sao? Nếu không thì do nguyên nhân nào?)
Trang 152 Gi ả thuyết nghiên cứu:
Ứng với ba câu hỏi nghiên cứu là ba giả thuyết nghiên cứu:
- Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở huyện Bình Đại (xã Thừa Đức) và huyện Ba Tri (xã Bảo Thuận) hiện nay rất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về
mặt kinh tế và ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người dân Nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến hiện trạng trên là do sự gia tăng sử dụng nước sông Mêkông, biến đổi khí hậu và một phần chủ quan của người dân trong việc
dự đoán và đối phó với tình trạng hạn mặn
- Ứng xử của người dân có mối quan hệ hai chiều đối với tình trạng hạn mặn
Những ứng xử chủ quan và gây tác hại xấu đến môi trường (sử dụng nước lãng phí; làm ô nhiễm nguồn nước như xả rác thải, nước thải vào trực tiếp nguồn nước hay gián tiếp vào đất rồi ngấm vào nước;…) đã làm cho tình
trạng hạn hán và xâm nhập mặn trở nên nghiêm trọng như hiện nay Và trước tình trạng trên, người dân đã bước đầu thích nghi như chuyển đổi sinh
kế (chuyển sang trồng các loại cây ngắn ngày, chống mặn; chăn nuôi các
loại động vật chịu được hạn;…); cải tạo nguồn nước; mua nước;…Và nguyên nhân cho các ứng xử của người dân là sự thích nghi với điều kiện sinh thái và do sự lựa chọn có tính toán, cân nhắc của họ
- Hầu hết các phương pháp giải quyết tình trạng hạn mặn của các quốc gia khác trên thế giới đều không hoàn toàn phù hợp với Việt Nam, đặc biệt là nơi nghiên cứu đo những bất đồng về điều kiện tự nhiên, xã hội và vấn đề kinh phí
Đây là một số phương pháp chính mà nhóm sẽ sử dụng cho đề tài nghiên
cứu này:
Trang 16- Phương pháp lý thuyết (phương pháp nghiên cứu tài liệu): Trước tiên, nhóm
đã thu thập tất cả các tư liệu như sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu, các cuộc phỏng vấn, phim tư liệu có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu từ các thư viện, internet, các giảng viên và những người
có công trình nghiên cứu liên quan (Những nơi mà nhóm đến tìm tài liệu chính là thư viện trường, thư viện trung tâm đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) Đây là một phương pháp dễ thực hiện do hạn hán và xâm nhập
mặn là đề tài của rất nhiều nhà nghiên cứu và sự thuận tiện trong việc tìm
kiếm tư liệu (hầu hết các trường đại học đều có thư viện và có thể dễ dàng tìm kiếm qua các thiết bị công nghệ)
- Phương pháp phỏng vấn chiến lược: Khi xuống địa bàn, trước tiên nhóm đã
phỏng vấn những người làm tại chính quyền địa phương, những người có
hiểu biết về vấn đề trên để lấy thông tin mang tính khái quát chung cho đề tài nghiên cứu
- Phương pháp định lượng: Sau khi khảo sát sơ bộ tình hình hạn hán và xâm
nhập mặn tại huyện Bình Đại và huyện Ba Tri, nhóm đã dự tính chọn 2 xã
tại mỗi huyện, mỗi xã sẽ chọn ra một ấp Nhưng do vấn đề không sắp xếp được thời gian (trùng lịch thi) và không nhận được sự phản hồi của chính quyền về việc cho phép nhóm nghiên cứu thực tế tại địa bàn, nên cuối cùng nhóm chỉ tiến hành nghiên cứu được xã Thừa Đức của huyện Bình Đại và xã
Bảo Thuận của huyện Ba Tri Và cũng do vấn đề hạn chế về thời gian, phương tiện đi lại và kinh phí nên nhóm cuối cùng nhóm chỉ khảo sát được
30 trường hợp ở xã Thừa Đức và 7 trường hợp ở xã Bảo Thuận (do thời gian làm việc chỉ có 2 tiếng rưỡi) Và hình thức lấy thông tin là người khảo sát sẽ
trực tiếp đặt câu hỏi và giải thích chúng cho người được hỏi để họ có thể lựa
chọn câu trả lời
Trang 17- Phương pháp quan sát, tham dự: Nhóm đã đến địa bàn nghiên cứu quan sát tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn; theo những người dân địa phương đến thăm các cánh đồng, các con sông, kênh rạch bị ảnh hưởng bởi hạn mặn; cùng làm việc với người dân để hiểu rõ cách ứng xử của họ đối với thực
trạng trên Từ phương pháp trên, nhóm đã thấy được khái quát bức tranh tình
trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở nơi nghiên cứu, các hành vi ứng xử của người dân và những khó khăn mà họ phải đối mặt Tuy nhiên, mặt khó khăn
của phương pháp này là do thời gian nghiên cứu thực địa của nhóm quá ít nên các tư liệu có được chỉ mang tính tương đối, chứ không đại diện hết cho
tất cả người dân ở nơi nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Sau khi có được các dữ liệu định lượng, nhóm
đã chọn ra các đối tượng chính tiêu biểu để tiến hành phỏng vấn sâu Nhóm
đã tiến hành phỏng vấn những người dân ở địa bàn nghiên cứu, những người
chịu ảnh hưởng trực tiếp do hạn mặn gây nên và họ cũng là người có những ứng xử trực tiếp với thực trạng trên Trước khi phỏng vấn nhóm đã nêu rõ lý
do của cuộc phỏng vấn, lắng nghe và chia sẻ với họ Trong quá trình phỏng
vấn, người phỏng vấn phải cố gắng làm rõ: Những khó khăn họ gặp phải?
Tại sao người dân lại có những ứng xử đối với tình trạng hạn hán và xâm
nhập mặn như thế? Điều đó mang lại những ảnh hưởng gì? Có góp phần cải thiện được tình hình hay không?
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: Tất cả các tài liệu thu thập được
từ thư viện, internet, từ cơ quan địa phương và các cuộc phỏng vấn của người dân đã được tổng hợp lại Các tư liệu trên sẽ được so sánh, phân tích
để làm rõ những vấn đề nghiên cứu để từ đó có thể đưa ra những kết luận cho đề tài nghiên cứu
Trang 18- Ngoài ra, cũng cần chú ý đến các cuộc trò chuyện giữa các thành viên trong nhóm với người dân và giữa người dân với nhau vì những cuộc trò chuyện này có thể đưa đến các thông tin hữu ích
VII B Ố CỤC CỦA ĐỀ TÀI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TỪNG
CHƯƠNG:
1 Bố cục của đề tài:
- CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Thao tác hóa khái niệm:
1 Thế nào là hiện tượng hạn hán và xâm nhập mặn?
2 Vùng nước mặn?
3 Ứng xử là gì?
4 Sinh kế?
5 Biến đổi văn hóa?
II Lý thuyết nghiên cứu:
III Các tài liệu liên quan đến đề tài:
IV Tổng quan về địa bàn nghiên cứu:
1 Tổng quan về huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre:
2 Tổng quan về huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre:
- CHƯƠNG 2: TÌNH TRẠNG HẠN HÁN VÀ XÂM NHẬP MẶN Ở HUYỆN BÌNH ĐẠI VÀ HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
I Tình hình hạn hán và xâm nhập mặn ở huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre:
Trang 19III Nguyên nhân khách quan và chủ quan:
1 Nguyên nhân khác quan:
2 Nguyên nhân chủ quan:
- CHƯƠNG BA: MỐI QUAN HỆ GIỮA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI DÂN VÀ TÌNH TRẠNG HẠN HÁN – XÂM NHẬP MẶN Ở HUYỆN BÌNH ĐẠI
VÀ HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
I Ứng xử của người dân trong giai đoạn trước cuối năm 2015 và giai đoạn từ cuối năm 2015 đến nay:
II Hệ quả về kinh tế, văn hóa và xã hội do các ứng xử của người dân đối
với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn mang lại:
III Các ứng xử của người dân dưới góc nhìn của Nhân học:
- CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I Các phương pháp chống hạn hán và xâm nhập mặn ở một số nước trên
thế giới:
1) Tổng quan:
2) Dự đoán:
II Kết luận về ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn hán và xâm
nhập mặn ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri:
III Đề xuất giải pháp:
2 N ội dung cơ bản của từng chương:
Trang 20 Tóm tắt nội dung của những tài liệu sử dụng cho bài nghiên cứu này Đặc biệt cần chỉ ra mức độ liên quan của các đề tài đến vấn đề nghiên cứu ở tỉnh Bến Tre nói chung, huyện Bình Đại và huyện Ba Tri nói riêng Từ đó, ta đưa ra nhận xét về ưu và khuyết điểm của
những tài liệu trên nhằm khẳng định tính mới của đề tài
Tổng quan địa bàn nghiên cứu sẽ trình bày các đặc trưng về điều
kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội Từ đó, ta thấy được những
vấn đề cần quan tâm để có thể giải thích được những ứng xử khác nhau của người dân tại địa bàn nghiên cứu
- CHƯƠNG 2:
Để khái quát về tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở huyện Bình Đại và huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre thì nhóm đã dự định chia thành hai vùng nước ngọt và nước mặn để thấy được những mức độ thiệt
hại khác nhau của hai vùng trên Nhưng do các vấn đề về việc sắp
xếp với chính quyền nên cuối cùng cả hai xã mà nhóm tiến hành nghiên cứu đều thuộc vùng nước mặn (xã Thừa Đức của huyện Bình Đại và xã Bảo Thuận của huyện Ba Tri) Và mặc dù là cùng thuộc vùng nước mặn, hai xã trên vẫn có những mức độ thiệt hại khác nhau do hạn mặn
Phần nguyên nhân, nhóm đã đề cập đến một số nguyên nhân chủ quan và khách quan mà nhóm thấy hợp lí thông qua việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây, các thông tin được công bố cùng các tư
liệu có được từ chính địa bàn nghiên cứu
Trang 21- CHƯƠNG 3:
Trong chương này, nhóm xem xét hai giai đoạn với các ứng xử khác nhau: Giai đoạn trước cuối năm 2015 và giai đoạn từ cuối năm 2015 – nay Sau khi trình bày xong các ứng xử của người dân (cả về mặt kinh tế và văn hóa – xã hội), nhóm tiến hành so sánh các ứng xử của người dân của hai xã để thấy được sự khác biệt Ngoài ra, các kết
quả từ các ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn mặn cũng được trình bày trong chương này
Sau khi đã cho thấy được những ứng xử khác nhau của người dân tại
mỗi xã, nhóm vận dụng thuyết sinh thái văn hóa và thuyết sự lựa
chọn duy lý để giải thích nguyên nhân tại sao người dân lại ứng xử như thế
- CHƯƠNG 4:
Tiến hành dự đoán xem một số phương pháp giải quyết tình trạng
hạn hán và xâm nhập mặn ở một số nơi trên thế giới: Những phương pháp trên có phù hợp với tình hình Việt Nam, đặc biệt là nơi nghiên
cứu không? Nếu phù hợp thì nên áp dụng hoàn toàn, hay chỉ một
phần và nêu rõ nguyên nhân?
Kết luận lại vấn đề nghiên cứu (các ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn, sự khác nhau giữa hai vùng nước mặn, giải thích,…) và đưa ra một số đề xuất
Trang 22B N ỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I THAO TÁC HÓA KHÁI NI ỆM:
1 Hạn hán và xâm nhập mặn:
Hạn hán (Hạn) theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 2 do Hội đồng Quốc gia
chỉ đạo biên soạn thì nhằm chỉ “trạng thái thiếu hụt lượng nước so với giá trị chuẩn (trung bình) trong thời gian dài, làm cho trữ lượng ẩm trong đất, trong không khí
giảm đi nhiều, ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cây
trồng, gây tình trạng khô hạn Ở Việt Nam, hạn có thể xảy ra trong nhiều miền, không những trong mùa khô, mà cả trong mùa mưa cũng có những đợt hạn.”4
Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 4 do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên
soạn thì xâm nhập mặn dùng để chỉ “hiện tượng diễn ra ở vùng cửa sông đổ ra
biển, khi nước biển mặn xâm nhập vào khối nước ngọt của vùng cửa sông hoặc vào các tầng nước dưới đất”5
Theo sự chia sẻ của các cán bộ địa phương tại phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Đại, huyện Ba Tri và các tại xã có liên quan đến đề tài nghiên cứu tại hai huyện trên, thì vùng nước mặn nhằm để chỉ các xã trong huyện
có giáp biển với kinh tế chủ yếu là nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản và vốn đã quen thuộc với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn
Trang 23nhằm để chỉ “trong sinh học, mọi thay đổi trong cấu trúc hoặc chức năng của một sinh vật làm nó có thể tồn tại và sinh sôi nảy nở hiệu quả hơn trong môi trường riêng của nó.”7
Trang 245 Bi ến đổi văn hóa:
Văn hóa theo định nghĩa của E.B Tylor: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa
rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,
luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”9 Định nghĩa này thiên nhiều về khía
cạnh tinh thần và đồng nhất văn hóa với văn minh
Còn theo F Boas thì “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất
và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và
của chính các thành viên này với nhau”10 Như vậy, văn hóa được hình thành và
chịu tác động nhiều từ cá nhân, môi trường và tập thể Và định nghĩa này rất phù
hợp với mục đính nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu mà nhóm sử dụng
Do sử dụng định nghĩa về văn hóa của F Boas nên khái niệm biến đổi văn hóa có thể hiển đơn giản là những thay đổi về tinh thần, thể chất và hoạt động của
cá nhân trong mối quan hệ với môi trường và tập thể Tức là sự thay đổi về tinh
thần và hành vi của người dân nơi nghiên cứu trong mối quan hệ với môi trường
chịu tác động của tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn
II LÝ THUY ẾT NGHIÊN CỨU:
1 Lý thuy ết sinh thái học văn hóa của Julian Steward:
Tiếp cận sinh thái học của Julian Steward (1902 – 1972) ra đời trong bối
cảnh đặc thù luận lịch sử của Boas phải đối mặt với sự cạnh tranh của các học thuyết tiềm năng khác với “góc nhìn mới hơn và tinh tế hơn” Kế thừa từ quan điểm về học thuyết tiến hóa của người thầy A.L Kroeber, Steward phát triển “cách
Trang 25tiếp cận kĩ thuật môi trường trước những thay đổi văn hóa và cả hai đều chịu ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa Marx”11
Sự thích nghi của các nền văn hóa riêng biệt trong từng môi trường cụ thể là khía cạnh nội dung mà Steward tập trung nghiên cứu trong cách tiếp cận sinh thái
học Và trong cách tiếp cận này, Steward có hai quan điểm chính:
Thứ nhất, “những nền văn hóa trong cùng môi trường phát triển có xu hướng theo những chuỗi phát triển giống nhau và lập thành công thức tương tự nhau đáp ứng với những thay đổi của môi trường”12
Tức là “các nền văn hóa chia sẽ những đặc điểm cốt lõi văn hóa giống nhau thì thuộc cùng loại hình văn hóa”13
Thứ hai, không có một mô hình nhất định (đơn tuyến) cho sự phát triển của văn hóa Thay vào đó, văn hóa phát triển theo nhiều hướng khác nhau (đa tuyến) tùy thuộc vào môi trường cụ thể mà văn hóa đó được hình thành và chịu tác động
Như vậy với lý thuyết này, nhóm tập trung vào việc lý giải những điểm tương tự cũng như khác nhau cách ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn hán
và xâm nhập mặn trong bối cảnh môi trường sinh thái cụ thể
2 Lý thuy ết sự lựa chọn duy lý:
Đây là lý thuyết nằm trong hệ thống lý thuyết của Xã hội học với Geogre Homans, Peter Blau, Jams Coleman, Cơ sở của lý thuyết là các quan điểm của các nhà kinh tế, nhân học và tâm lý học nhưng lý luận quan trọng nhất vẫn là từ kinh tế
với khái niệm “chi phí – lợi nhuận”
11 R Jon Mcgee – Richard L Warms, Lê Sơn Phương Ngọc – Nguyễn Hoàng Trung – Đinh
Hồng Phúc – Chu Thị Quỳnh Giao – Đinh Hùng Dũng (2010), Lý thuyết Nhân loại học: Giới thi ệu lịch sử, NXB Từ điển Bách khoa, trang 319
12
R Jon Mcgee – Richard L Warms, Lê Sơn Phương Ngọc – Nguyễn Hoàng Trung – Đinh
Hồng Phúc – Chu Thị Quỳnh Giao – Đinh Hùng Dũng (2010), Lý thuyết Nhân loại học: Giới thi ệu lịch sử, NXB Từ điển Bách khoa, trang 319
13
R Jon Mcgee – Richard L Warms, Lê Sơn Phương Ngọc – Nguyễn Hoàng Trung – Đinh
Hồng Phúc – Chu Thị Quỳnh Giao – Đinh Hùng Dũng (2010), Lý thuyết Nhân loại học: Giới thi ệu lịch sử, NXB Từ điển Bách khoa, trang 319
Trang 26
Nội dung cơ bản của thuyết này là bằng cách xem xét “chi phí – lợi nhuận”, con người sẽ sử dụng các nguồn lực hiện có một cách có cân nhắc và lựa chọn sao cho “chi phí tối thiểu, lợi nhuận tối đa” Và ở đây, thuật ngữ “lựa chọn” có nghĩa là: Cân nhắc, tính toán, và trong “điều kiện khan hiếm các nguồn lực trên cơ sở xem xét, đánh giá lợi ích kinh tế của từng cách lựa chọn”14
Ngoài ra, lý thuyết nghiên cứu này cũng được tiếp cận dưới các khía cạnh khác nhau Ví dụ như Gary Stanley Becker trong tác phẩm “Tiếp cận kinh tế đối
với hành vi con người” đã tiếp cận theo hướng sự phân biệt chủng tộc với ý tưởng
“các tiếp cận kinh tế có thể được xem như khuôn khổ chung để tìm hiểu về mọi hành vi của con người”15
Hay John Scolt trong tuyển tập các lý thuyết Xã hội học
do G Browning, A Halcli và F Webster biên tập thì lấy ý tưởng rằng “con người
bị thúc đẩy bởi những động cơ lợi nhuận và tiền bạc” và “con người luôn có những tính toán về chi phí và lợi ích có thể có của bất kỳ hoạt động nào trước khi quyết định thực hiện nó”16
Như vậy, với lý thuyết này, nhóm sẽ tiếp cận phần nhiều về khía cạnh kinh
tế trong việc lý giải các ứng xử trong việc đối phó với tình trạng hạn hán và xâm
nhập mặn của người dân tại nơi nghiên cứu
Trang 27III CÁC TÀI LI ỆU LIÊN QUAN:
Bùi Đức Luận (2014), Biến đổi khí hậu:
Cung cấp những thông tin, số liệu và quan điểm cá nhân dựa trên những nghiên cứu khoa học, mang tới nhiều kiến thức bổ ích về khái niệm biến đổi khí
hậu; nguồn gốc và sự hình thành; tác động và hậu quả đến thiên nhiên, cuộc sống, con người cũng như trình bày những phương pháp phòng chống biến đổi khí hậu Tác giả Bùi Đức Luận cũng gửi tới thông điệp kêu gọi tất cả mọi người cùng chung
tay để giải quyết vấn nạn biến đổi khí hậu ngay từ hôm nay
Nguyễn Minh Quang, P.E (Hoa Kỳ), Tình trạng thiếu nước ở Đồng bằng
Sông Cửu Long:
Tuy chưa là cao điểm của mùa khô 2016, tình trạng hạn hán và xâm nhập
của nước mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đã lên đến mức báo động Các cơ quan
có thẩm quyền ở Việt Nam đều cho rằng “các hồ chứa thượng lưu” là nguyên nhân
“chi phối chủ đạo.”
Dữ kiện lưu lượng của Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission (MRC)) cho thấy các đập thủy điện trên dòng chánh Mekong ở Trung Hoa hay trên
phụ lưu trong hạ lưu vực Mekong không phải là nguyên nhân Cũng không phải do
hạn hán (hay thay đổi khí hậu) vì đồng bằng sông Cửu Long hiện đang ở trong mùa khô “Thủ phạm” chính là việc gia tăng sử dụng nước sông Mekong của Lào, Thái Lan, và Cambodia; lên đến 2.991m3
/sec tức 49% lưu lượng sông Mekong tại Kratié Đó là chưa kể lượng nước do Cambodia sử dụng cho các dự án thủy nông ở
hạ lưu Kratié
Nguyễn Văn Tăng, Nước mặn thâm nhập sâu vào đồng bằng sông Cửu
Long, nguyên nhân và đối pháp:
Cuốn sách này đề cập đến 3 vấn đề chính: Tình hình khí tượng, thủy văn trên sông Mêkông mùa khô năm 2015 – 2016; các dự án ngăn mặn; và giải pháp
Trang 28 Gs Võ Tòng Xuân, Về hạn hán và ngặp mặn:
Tư duy về nước mặn là kẻ thù, phải ngăn mặn, không còn hợp thời này nữa Phải coi nước mặn là bạn, giúp nông dân ven biển làm giàu với tôm, cua… một cách bền vững hài hòa thiên nhiên Những vùng theo hệ thống lúa - tôm của Sóc Trăng hiện nay được giàu có nhờ trồng lúa rất thành công trong mùa mưa và sau khi dứt mưa thì cũng vừa gặt lúa xong, liền cho nước mặn vào nuôi tôm Đến mùa mưa tới, nông dân trở lại trồng lúa
Lê Anh Tuấn - Hoàng Thụy Thùy - Võ Văn Ngoan (2014), Ảnh hưởng
c ủa biến đổi khí hậu tới sinh kế người dân đồng bằng sông Cửu Long:
Với giả thuyết rằng sinh kế của người dân địa phương đang bị ảnh hưởng
mạnh do các thay đổi bất thường của các điều kiện khí hậu tự nhiên Nhiều khảo sát dựa vào phỏng vấn bán cấu trúc và thảo luận ở cộng đồng về tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu lên sinh kế đã được thực hiện trên ba vùng sinh thái thủy văn khác nhau ở vùng đồng bằng Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng người dân sống vùng nông thôn ven biển gặp khó khăn hơn người dân sống ở vùng lũ Người nghèo, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ nữ đơn thân và người dân tộc thiểu
số thuộc nhóm người dễ bị tổn thương Một số đề xuất cho hướng nghiên cứu tương lai về kinh tế khí hậu và nâng cao khả năng thích ứng đã được đưa ra
Các bài viết Quá trình hình thành và phát triển; Năm 2016, huyện Bình
Đại có 3.989 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,71% trên trang web của huyện Bình
Đại và bài viết Huyện Ba Tri quá trình hình thành và phát triển trên
trang web của huyện Ba Tri
http://www.binhdai.bentre.gov.vn/Lists/GioiThieu/DispForm.aspx?CategoryId=Gi%E1%BB%9Bi%20thi%E1%BB%87u%20chung&ID=64&InitialTabId=Ribbon.Read
Trang 29http://www.binhdai.bentre.gov.vn/Pages/ThongTinChung.aspx?ID=955&CategoryId=Kinh%20t%E1%BA%BF&InitialTabId=Ribbon.Read
http://www.batri.bentre.gov.vn/Lists/GioiThieu/DispForm.aspx?ID=10&InitialTabId=Ribbon.Read
Các bài viết trên đã giúp cho ta khái quát được vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư và kinh tế chủ yếu của huyện Bình Đại và huyện Ba Tri
Từ đó ta có thể biết được các đặc trưng về địa bàn nghiên cứu và lập ra hướng nghiên cứu
Ts Nguy ễn Thị Bích Hồng, Ts Võ Văn Long, Ts Phạm Thị Lan, Ths Ngô Th ị Kiều Dương (2014), “Cây dừa - Cây của cuộc sống - Cây dừa
trước nguy cơ biến đổi khí hậu”, in trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Cây
dừa Việt Nam - Giá trị và tiềm năng, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
thành ph ố Hồ Chí Minh
Bài viết này đã đề cập đến những lợi ích của cây dừa trong việc đối phó với
hạn hán và xâm nhập mặn như chịu được hạn mặn, cải tạo đất và phát triển văn hóa
miệt vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trang 30 Trần Tấn Đăng Long (2015), Luận văn Thạc sĩ Biến đổi sinh kế của cư
dân vùng đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1986 đến nay (Nghiên cứu trường hợp xã Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An), Trường Đại
h ọc Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)
Tài liệu này trình bày các hoạt động kinh tế truyền thống và hiện nay của xã Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An Qua đó, tác giả phân tích những ảnh hưởng của chính sách nhà nước và sự lựa chọn của người dân trong việc biến đổi sinh kế và kết quả từ việc biến đổi đó
Và đối với đề tài nghiên cứu này thì tài liệu trên đã cung cấp các khái niệm liên quan đến sinh kế, thích ứng sinh kế và tổng quan về lý thuyết sự lựa chọn duy
Tài liệu này đã trình bày lịch sử ra đời của các lý thuyết trong ngành Nhân
học từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nay như Tiến hóa luận; Đặc thù luận lịch sử; Chức năng luận;…cho đến các lý thuyết theo trường phái Hậu hiện đại Và để phục vụ cho đề tài nghiên cứu này, nhóm tập trung vào lý thuyết Sinh thái học văn hóa của Julian Steward
PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp (2008), Nghiên cứu biến đổi xã hội trong quá
trình chuy ển dịch cơ cấu kinh tế Đề tài Khoa học cấp Đại học Quốc gia
TP.HCM
Dưới góc độ sinh thái văn hoá, đặc thù luận lịch sử và tính duy lý của người nông dân trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tác giả cho rằng căn cứ vào
Trang 31điều kiện môi trường sinh thái và các nguồn lực hiện có mà người nông dân sẽ cân
nhắc chi phí và lợi nhuận sao cho hoạt động kinh tế mang đến kết quả tốt nhất
James C Scott (1976), The moral Economy of the Peasant, Rebellion
and Subsistence In Southeast Asia, Yale University Press, New Haven & London
Tác giả cho rằng làm thế nào để sinh tồn là vấn đề cốt lõi mà nông dân Việt Nam quan tâm trong bối cảnh hiện nay Càng ở tầng lớp thấp về kinh tế thì người dân càng cố gắng né tránh các rủi ro, hạn chế áp dụng các đổi mới về khoa học công nghệ vì họ không biết chắc kết quả mang lại
Nguy ễn Văn Sửu (2008), “Công nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi sinh
k ế ở ven đô Hà Nội”, NXB Tri thức
Ở cấp độ vĩ mô và vi mô, sinh kế và sinh kế bền vững đã được quan tâm phân tích rất nhiều, trong đó khung sinh tế bền vững được coi là một cách tiếp cận toàn diện trong các bối cảnh khác nhau Hiện nay, khung phân tích sinh kế bền
vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development – DFID) thúc đẩy đã được các nhà khoa học sử dụng rộng rãi, trong đó có các nhà khoa học Việt Nam
Và dưới khung phân tích trên cùng với việc nghiên cứu những biến đổi sinh
kế của các hộ gia đình diễn ra trong không gian làng ở khu vực ven đô thị Hà Nội, tác giả đã cho thấy rằng những người nông dân với vốn xã hội kém và không có nhiều cơ hội làm việc thì việc chuyển đổi sinh kế là rất khó khăn
Ngô Thị Phương Lan (2011), Luận văn Tiến sĩ Hành vi giảm thiểu rủi ro
và v ận dụng nguồn vốn xã hội của nông dân người Việt ở đồng bằng Sông C ửu Long trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia thành
ph ố Hồ Chí Minh): Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra rằng
Trang 32các yếu tố thị trường và các yếu tố rủi ro là những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi sinh kế của người dân trong mọi hoàn cảnh Và việc phân tán hay
chấp nhận rủi ro của người nông dân được tác giả phân tích qua quá trình chuyển đổi sinh kế từ lúa sang tôm và việc xem xét vai trò của vốn xã hội đối với việc chuyển đổi trên
Hồ Hùng (2010), “Nuôi trồng thủy sản “giết” môi trường”, Tạp chí báo
kinh tế Sài Gòn, số 02/2010
Bài viết này đề cập đến việc các sông hồ bị ô nhiễm, mất khả năng thanh lọc
do việc xả chất thải chưa qua xử lý từ các hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy
hải
NHẬN XÉT:
Qua các tài liệu dùng cho đề tài nghiên cứu này, ta thấy các tư liệu trên chủ
yếu tập trung vào các nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập
mặn; những nguyên nhân chủ yếu về mặt kinh tế dẫn đến biến đổi sinh kế;…
Các tài liệu trên chưa đi sâu vào nghiên cứu các ứng xử của người dân đối
với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn, đặc biệt là mối quan hệ hai chiều giữa chúng
Như vậy, việc tiếp thu những ưu diểm của các tài liệu trên cùng với việc làm
rõ mối quan hệ hai chiều giữa các ứng xử của người dân đối với tình trạng hạn hán
và xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre (Nghiên cứu trường hợp huyện Bình Đại và huyện Ba Tri) và giải thích chúng dưới góc nhìn của Nhân học chính là điểm mới
của đề tài nghiên cứu khoa học này
Trang 33IV T ỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU:
1 T ổng quan về huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre:
Bình Đại là một trong ba huyện giáp biển của tỉnh Bến Tre, tuy nhiên huyện
có đặc trưng riêng khác biệt với hai huyện còn lại Huyện đã phải bỏ ra bao nhiêu công sức để thay chua, rửa mặn và xây dựng lại ruộng vườn sau trận bão năm 1904 làm nước tràn vào tận các xã ở các cù lao
Về kinh tế, người dân Bình Đại chủ yếu có nghề làm vườn, làm ruộng; ngoài
ra còn có nghề trồng giồng và nghề đánh cá biển, chế biến những sản phẩm của
là các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao
Cũng như ba huyện giáp biển của tỉnh Bến Tre, huyện Bình Đại chia thành hai vùng nước ngọt và vùng nước mặn Đối với vùng nước ngọt thì hoạt động kinh
tế chính của vùng nước ngọt là trồng lúa, hoa màu, và cây ăn trái Do một phần tính chủ động đối phó với hạn mặn chưa cao nên người dân ở vùng nước ngọt chịu
Trang 34ảnh hưởng nặng nề bởi hạn mặn Còn đối với vùng nước mặn, hoạt động kinh tế
chủ yếu là nuôi trồng thủy hải sản như tôm, sò,…; trồng hoa màu, dưa hấu,…trên các mạch nước ngầm mà chưa bị nhiễm mặn
Một trong những xã thuộc vùng nước mặn mà bị thiệt hại nhiều bởi hạn hán
và xâm nhập mặn là xã Thừa Đức Đây là một xã vùng sâu nên rất khó khăn cho
việc xây dựng cơ sở hạ tầng Xã hiện nay có 1016021
dân với 57122
hộ nghèo và
cận nghèo Thu nhập của người dân nơi đây là 26 triệu/người/năm23
Kinh tế chủ
yếu là hộ gia đình với sinh kế chủ yếu là trồng hoa màu và nuôi trồng thủy hải sản
Thừa Đức là xã có sự chệnh lệch rất lớn giữa giàu và nghèo Người giàu chủ yếu nuôi thủy hải sản và mua bán với quy mô lớn Còn các hộ gia đình nghèo thì đa số không có đất, tư liệu sản xuất nên chủ yếu đi làm thuê, làm theo thời vụ
2 Tổng quan về huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre:
Ba Tri là một huyện nằm ở phía đông cù lao Bảo, phía Bắc giáp với huyện Bình Đại, phía Nam giáp huyện Thạnh Phú, phía Đông giáp biển (với chiều dài bờ
biển gần 22 km), còn phía Tây thì giáp huyện Giồng Trôm
Kinh tế chủ yếu của huyện là trồng lúa, trồng hoa màu, chăn nuôi và đánh
bắt thủy hải sản Nhờ từng bước hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi mà trồng lúa và chăn nuôi gia súc gia cầm ngày càng phát triển: Sản lượng lúa nay đạt 200.500 tấn, chiếm khoảng 1/3 sản lượng thóc của tỉnh24
; còn đàn bò hiện nay lên đến 72.39225
Trang 35con Ngoài trồng lúa và chăn nuôi thì đánh bắt thủy hải sản là thế mạnh thứ hai của huyện với tổng sản lượng đánh bắt vào năm 2013 lên đến 71.25026
tấn
Một đặc điểm nữa cần lưu ý về kinh tế của huyện là trước đây huyện không
có tập quán nuôi trồng thủy hải sản thì nay đã đẩy mạnh việc nuôi trồng tôm công nghiệp, cá và nghêu sò các loại
Cũng giống như huyện Bình Đại, huyện Ba Tri cũng chia thành vùng nước
ngọt và vùng nước mặn Vùng nước ngọt thì kinh tế chủ yếu là trồng lúa và chăn nuôi bò Còn vùng nước mặn, thì đánh bắt thủy hải sản và làm giồng là các hoạt động kinh tế chủ yếu
Xã Bảo Thuận là một trong những xã thuộc vùng nước mặn mà chịu ảnh hưởng nhiều bởi hạn mặn Bảo Thuận là một trong 4 xã giáp biển của huyện Ba Tri
với trên 9000 dân Kinh tế chủ yếu của xã là trồng trọt (vụ hè thu xuống giống 300 ha; 120 ha hoa màu với sản lượng là 1.501 tấn27
); chăn nuôi (1.759 con bò; 288 con heo; gia cầm có 4.352 con; 28); đánh bắt thủy hải sản (1.565 tấn); và diêm nghiệp (189 ha với sản lượng thu hoạch trong kỳ là 11.400 tấn29
Trang 36Huyện Bình Đại là một trong những huyện chịu nhiều thiệt hại do hạn hán
và xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre Ở đây, nước ngọt đang cực kỳ khan hiếm và chủ
yếu lấy từ giếng khoan ở những vùng đất giồng cát Người dân phải mua nước với giá trung bình 70 - 80 ngàn đồng/m3
; còn những vùng xa xôi hẻo lánh thì phải trả
từ 100 - 150 ngàn đồng/m3
Do tình trạng trên mà người dân chỉ dùng nước ngọt để
uống, nấu ăn, tắm cho trẻ nhỏ; còn người lớn, sức khỏe tốt thì tắm nước mặn rồi
dội lại một ca nước ngọt để rửa cái mặn trên người để không bị ngứa Mặc khác,
nắng gắt cộng độ mặn cao đã làm hàng nghìn tấn hàu của bà con huyện Bình Đại
chết sạch, thiệt hại gần 50 tỷ đồng
Đối tượng bị ảnh hưởng Thi ệt hại
Cây lúa Trên 70%, diện tích là 485,61 ha
Hoa màu Trên 70%, diện tích là 63 ha
Cây ăn trái Trên 70%, diện tích là 1,4 ha
Gia súc, gia cầm Gặp một số khó khăn về nước
Nuôi cá tra Từ 20 – 60%, diện tích là 13,03 ha
Trang 37B ảng 1 Số liệu thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn từ đầu năm 2016 đến
nay ở huyện Bình Đại 30
Từ bảng số liệu trên, ta thấy việc trồng lúa, hoa màu, cây ăn trái và nuôi hàu
là những lĩnh vực bị thiệt hại nhiều nhất, đều trên 70% diện tích Mà những lĩnh
vực trên vốn là thế mạnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, và của
tỉnh Bến Tre nói riêng Như vậy, hạn mặn đã có những tác động tiêu cực to lớn đối
với người dân ở huyện Bình Đại trên cả hai mặt đời sống sản xuất và đời sống sinh
hoạt
Mức độ tác động trên không phải nơi nào của huyện Bình Đại cũng giống nhau do Bình Đại là một huyện giáp biển nên được chia ra thành vùng nước ngọt
và nước mặt Nhưng do nhiều nguyên nhân nên nhóm chỉ khảo sát được vùng nước
mặn, nên dưới đây xin chỉ trình bày những thiệt hại do hạn mặn ở vùng nước mặn, đặc biệt là ở xã Thừa Đức
Khác với vùng nước ngọt, kinh tế vùng nước mặn chủ yếu là nuôi trồng thủy
hải sản (tôm, sò, hàu,…) và một phần hoa màu trên các mạch nước ngầm chưa bị nhiễm mặn Cũng như vùng nước ngọt, vùng nước mặn năm nào cũng chịu ảnh hưởng của hạn mặn, cộng thêm việc ở gần biển nên người dân nơi đây đã có ý thức
phần nào trong việc phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn từ nhiều năm qua Do
đó, khi tình trạng hạn mặn lên đến đỉnh điểm như hiện nay thì dù thiệt hại có lớn hơn so với các năm trước, nhưng nếu so với vùng nước ngọt thì mức độ vẫn thấp hơn.31
30
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Đại, trích từ Báo Cáo: Công tác phòng ch ống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2016 – Giải pháp phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2017 và những năm tiếp theo trên địa bàn huyện Bình Đại
31
Theo l ời chia sẻ của cán bộ phòng Nông nghiêp và Phát triển nông thôn huyện Bình Đại
Nuôi tôm càng xanh Từ 20 – 100%, diện tích là 6,6 ha
Trang 38
Tiêu biểu cho vùng nước mặn về vấn đề hạn mặn là xã Thừa Đức Xã Thừa Đức là một xã giáp biển nên hoạt động chủ yếu là nuôi trồng thủy hải sản (hàu, sò,…) và một số hoa màu như sắn, đậu,…Xã hoàn toàn không có trồng lúa mà
nhập gạo từ các vùng khác Thừa Đức là một xã giáp biển và năm nào cũng chịu ảnh hưởng của hạn mặn nên người dân đã chủ động phần nào trong việc dự trữ nước bằng nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, do diện tích đất sở hữu của hầu
hết mỗi hộ dân không nhiều, cùng với sự chênh lệch lớn về giàu nghèo mà việc đầu
tư cho các dụng cụ chứa nước của mỗi hộ dân rất hạn chế Do đó, khi tình trạng
hạn mặn vào cuối năm 2015 đầu năm 2016 diễn ra thì xã bị thiếu nước ngọt, phải mua nước với giá từ 100 – 200 ngàn/ m3
nhập sâu vào trong nội đồng Do đó, người dân thiếu nước chăn nuôi và trồng trọt
dẫn dến tình trạng phải bán bò hay mua rơm, cắt cỏ cho bò ăn Người dân thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng phải mua nước với giá 100.000/1 khối nước giếng khoan
Trang 39Và cũng giống như huyện Bình Đại, nhóm cũng chỉ nghiên cứu được xã Bảo Thuận nằm trong vùng nước mặn của huyện Do đó, dưới đây xin chỉ trình bày các thiệt hại do hạn mặn ở vùng nước mặn của huyện Ba Tri
Cũng như vùng nước mặn của huyện Bình Đại đã được trình bày ở trên, thì các xã của vùng nước mặn huyện Ba Tri sớm đã quen với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nên người dân ở đây đã có ý thức phần nào trong việc chủ động nguồn nước cho mùa khô Và Bảo Thuận là một trong những xã tiêu biểu cho tình
trạng hạn mặn ở vùng nước mặn
Do đặc điểm tự nhiên nên xã Bảo Thuận được chia ra thành hai vùng tương ứng với hai hoạt động kinh tế khác nhau: Một vùng trồng lúa và làm màu; một vùng nuôi trồng thủy hải sản và làm muối Cuối năm 2015 đầu năm 2016, tình
trạng hạn mặn diễn ra gây gắt làm cho xã bị ảnh hưởng nặng nhất trong những năm qua: Làm lúa chết hết, phải chuyển từ 3 vụ sang hai vụ; nếu nước mưa dự trữ
33
Các s ố liệu lấy từ phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Tri; phần 2 “Tình hình thiệt hại sản xuất do xâm nhập mặn”, trích từ Báo Cáo Tổng Kết: Công tác phòng, chống hạn hán, xâm nh ập mặn năm 2016
Trang 40
không đủ thì phải mua nước (kể cả những hộ nghèo); việc chăn nuôi không mang đến nhiều thu nhập; tôm chết khoảng 60 – 70%;…34
Như vậy, qua việc khái quát tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn cả hai huy ện Bình Đại và Ba Tri, ta thấy cả hai huyện đều chịu ảnh hưởng lớn do tình trạng hạn mặn cuối năm 2015 đầu năm 2016 Nhìn chung, nếu tính riêng từng vùng nước mặn của mỗi huyện thì mỗi vùng đều chịu tác động tiêu cực cao nhất so
v ới các năm trước
1 Nguyên nhân khách quan:
Nguyên nhân khác quan chủ yếu dẫn đến tình trạng hạn mặn cuối năm 2015 đầu năm 2016 là việc gia tăng sử dụng nước ở lưu vực sông Mêkông, gắn liền với các hoạt động sử dụng một lượng lớn nước và việc xây dựng hàng loạt các con đập
lớn nhỏ chắn ngang sông Bốn quốc gia có tác động to lớn đến việc sử dụng nước ở lưu vực sông Mêkông là Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia Nguồn nước
ngọt trên lưu vực sông Mêkông càng giảm thì nước mặn xâm nhập ngày càng nhiều Nước ngọt đi ở tầng trên, còn nước mặn đi ở tầng dưới; nước ngọt giảm dần
nên không đủ sức đẩy nước mặn ra biển làm cho độ mặn càng tăng cao
Nguyên nhân khách quan thứ hai là do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn
diễn ra quá đột ngột so với các năm trước Cuối năm 2015 đầu năm 2016, hạn mặn đến sớm hơn 2 – 3 tháng với độ mặn tăng cao đã làm cho người dân ở tỉnh Bến Tre nói chung, huyện Bình Đại và huyện Ba Tri nói riêng, không thích ứng kịp
Nguyên nhân khách quan thứ ba là do điều kiện tự nhiên cùng với sự chênh
lệch giàu nghèo đã gây khó khăn trong công tác đối phó với hạn mặn của chính quyền và người dân Những nơi có sông ngòi, kênh rạch chằng chịt thì các nguồn nước dự trữ trong các mương dừa, các ao, hồ dễ bị nước mặn xâm nhập qua nhiều
34
Theo l ời chia sẻ của chị Nương – cán bộ tại UBND xã Bảo Thuận