[Type here] ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA ĐÔ THỊ HỌC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG NĂM 2018 THỊ VÀ ĐỀ XUẤT
Trang 1[Type here]
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔ THỊ HỌC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP
TRƯỜNG NĂM 2018
THỊ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI KHÔNG
GIAN ĐI
BỘ, NGHIÊN CỨU TẠI PHỐ ĐI BỘ BÙI VIỆN,
PHƯỜNG PHẠM NGŨ LÃO, QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn: TS.KTS Phùng Hải Đăng
Trang 2ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: QUY HOẠCH, KIẾN TRÚC VÀ XÂY DỰNG
CHUYÊN NGÀNH: QUY HOẠCH
Mã số công trình: ………
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN TÓM TẮT 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu đề tài 4
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn, quy mô và phạm vi áp dụng 5
5.1 Ý nghĩa khoa học 5
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
5.3 Quy mô và phạm vi áp dụng 5
PHẦN NỘI DUNG PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Tổng quan đề tài 6
1.1.1 Nghiên cứu trong nước 6
1.1.2 Nghiên cứu nước ngoài 8
PHẦN 2: VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP 10
2.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp 10
2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu sơ cấp 10
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng 10
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 10
Trang 42.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu 11
PHẦN 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11
3.1 Thao tác hóa khái niệm 11
3.1.1 Khái niệm nhu cầu 11
3.1.2 Khái niệm đi bộ 15
3.1.3 Khái niệm nhu cầu đi bộ 18
3.1.4 Khái niệm không gian công cộng và không gian đi bộ 18
3.1.5 Khái niệm phố đi bộ 19
3.2 Tiêu chí đánh giá không gian phố đi bộ 20
3.3 Các tiện ích công cộng 21
3.3.1 Nhà vệ sinh công cộng 21
3.3.2 Bãi giữ xe 22
3.3.3 Mái che di động 24
3.4 Các lý thuyết tiếp cận 26
3.4.1 Lý thuyết hệ thống 26
3.4.2 Lý thuyết hành động xã hội 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 28
4.1 Tổng quan về phố đi bộ Bùi Viện 28
4.1.1 Vị trí địa lý 28
4.1.2 Lịch sử hình thành phố đi bộ Bùi Viện 29
4.1.3 Điều kiện Kinh tế - xã hội 30
4.2 Thực trạng không gian đi bộ ở Bùi Viện 32
4.3 Tình hình dân cư 40
Trang 54.4 Tình hình an ninh 41
4.5 Tình hình hoạt động du lịch tại địa phương 42
4.6 Tình hình giao thông, trật tự đô thị 43
4.7 Tổng quan về nhu cầu đi bộ của người dân tại phố đi bộ Bùi Viện 44
4.7.1 Nhu cầu đi bộ của người dân và khách tham quan 44
4.7.2 Đánh giá nhu cầu đi bộ của người dân và khách tham quan trong khu vực 49
PHẦN 5: KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 52
5.1 Mong muốn của người dân và khách tham quan 52
5.2 Các đề xuất kiến nghị về mặt không gian 54
5.3 Giải pháp về mặt quản lý 64
5.3.1 Hình thức quản lý 65
5.3.1.1 Hình thức quản lý chung 65
5.3.1.2 Phương án tổ chức giao thông 65
5.3.2 Một số đề xuất của nhóm nghiên cứu về mặt quản lý 66
5.4 Đánh giá tính khả thi và đề xuất cải tạo không gian đi bộ tại phố đi bộ Bùi Viện 69
5.5.So sánh không gian phố đi bộ trước và sau cải tạo 76
PHẦN KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHIẾU KHẢO SÁT 83
BIÊN BẢN RÃ BĂNG PHỎNG VẤN 88
Trang 6NỘI DUNG
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu trong nước
1.1.2 Nghiên cứu nước ngoài
PHẦN 2: VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu sơ cấp
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định tính
2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu
PHẦN 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Thao tác hóa khái niệm
3.1.1 Khái niệm nhu cầu
3.1.2 Khái niệm đi bộ
3.1.3 Khái niệm nhu cầu đi bộ
Trang 73.1.4 Khái niệm không gian công cộng và không gian đi bộ 3.1.5 Khái niệm phố đi bộ
3.2 Tiêu chí đánh giá không gian phố đi bộ
PHẦN 4: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN
4.1 Tổng quan về phố đi bộ Bùi Viện
4.1.1 Vị trí địa lý
4.1.2 Lịch sử hình thành phố đi bộ Bùi Viện
4.1.3 Điều kiện Kinh tế - xã hội
4.2 Thực trạng không gian đi bộ ở Bùi Viện
4.3 Tình hình dân cư
4.4 Tình hình an ninh
4.5 Tình hình hoạt động du lịch tại địa phương
4.6 Tình hình giao thông, trật tự đô thị
4.7 Tổng quan về nhu cầu đi bộ của người dân tại phố đi bộ Bùi Viện
4.7.1 Nhu cầu đi bộ của người dân và khách tham quan
Trang 84.7.2 Đánh giá nhu cầu đi bộ của người dân và khách tham quan trong khu vực
PHẦN 5: KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ
5.1 Mong muốn của người dân và khách tham quan
5.2 Các đề xuất kiến nghị về mặt không gian
5.3 Giải pháp về mặt quản lý
5.3.1 Hình thức quản lý
5.3.1.1 Hình thức quản lý chung 5.3.1.2 Phương án tổ chức giao thông 5.3.2 Một số đề xuất của nhóm nghiên cứu về mặt quản lý
5.4 Đánh giá tính khả thi và đề xuất cải tạo không gian đi bộ tại phố đi bộ Bùi Viện 5.5 So sánh không gian phố đi bộ trước và sau cải tạo
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban nhân dân
TP: Thành phố
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
GS.TS: Giáo sư Tiến sĩ
GTVT: Giao thông vận tải
GD - ĐT: Giáo dục - Đào tạo
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ số 1: Kết quả khảo sát về vấn đề vệ sinh môi trường 35
Biểu đồ số 2: Kết quả khỏa sát về điều khiến mọi người không hài lòng về phố đi bộ Bùi Viện 36
Biểu đồ số 3: Kết quả khảo sát nơi gửi xe 37
Biểu đồ số 4: Kết quả khảo sát người dân và khách tham quan sử dụng phương tiện đi đến phố đi bộ 38
Biểu đồ số 5: o Biểu đồ số 5.1: Phí gửi xe đối với xe máy 39
o Biểu đồ số 5.2: Phí gửi xe đối với xe ô tô 40
Biểu đồ số 6: Kết quả khảo sát mực độ thường xuyên đi bộ của người dân 45
Biểu đồ số 7: Kết quả khảo sát độ tuổi 46
Biểu đồ số 8: Kết quả khảo sát mức độ thường xuyên đến phố đi bộ của khách tham quan 47
Biểu đồ số 9: Kết quả khảo sát về thời gian đi đến phố đi bộ 48
Biểu đồ số 10: Kết quả khảo sát hoạt động được tham gia tại phố đi bộ Bùi Viện 49
Biểu đồ số 11: Kết quả khảo sát cho câu hỏi phố đi bộ mang lại lợi ích nhiều nhất cho anh chị 50
Biểu đồ số 12: Kết quả khảo sát về mức độ đáp ứng các dịch vụ 51
Biểu đồ số 13: Kết quả khảo sát về sự đồng ý về xây dựng nhà vệ sinh công cộng 61
Biểu đồ số 14: Kết quả khảo sát về điều khiến mọi người không hài lòng về phố đi bộ Bùi Viện 69
Trang 11Biểu đồ số 15: Kết quả khảo sát mức độ hài lòng việc cấm xe tất cả các ngày trong tuần thay vì thứ 7 và chủ nhật 71
Biểu đồ số 16: Kết quả đồng ý lắp thêm camera an ninh 72
Biểu đồ số 17: Kết quả đồng ý đề xuất lắp máy che mưa di động hoạt động khi trời mưa
73
Biểu đồ số 18: Kết quả đồng ý đề xuất xây nhà vệ sinh công cộng 73
Biểu đồ số 19: Kết quả khảo sát các loại hình dịch vụ tại phố đã đáp ứng được nhu cầu của khách tham quan 74
Biểu đồ số 20: Phí gửi xe đối với xe ô tô 76
Biểu đồ số 21: Kết quả khảo sất nơi gửi xe 76
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng khảo sát một số mong muốn của người dân và khách tham quan 53-54
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Bản đồ vệ tinh phố đi bộ Bùi Viện 28
Hình 2 Cổng hẻm 148 thờ Phật Bà 31
Hình 3 Tuyến đường Bùi Viện 32
Hình 4: Lòng đường tại phố đi bộ Bùi Viện 33
Hình 5 Rác thải chưa được thu gom trên mặt đường và nắp cống 34
Hình 6 Trung tâm mua sắm Taka Plaza 37
Hình 7 Chung cư 155-157 Bùi Viện 41
Hình 8 Một góc ngoài Chung cư 41 Bùi Viện 42
Hình 9 Du khách tập trung tại khu vực Phố Tây dịp Lễ Halloween năm 2017 43
Hình 10 Thanh niên đánh khách Tây ở phố đi bộ Bùi Viện 44
Hình 11 Kiến nghị mở rộng thêm tuyến phố 56
Hình 12 Tuyến phố vào các ngày không cấm xe 57
Hình 13 Tuyến phố sau khi cấm xe lưu thông 58
Hình 14 Khách tham quan vứt rác trên đường 59
Hình 15 Các loại mái che được đề xuất 60
Hình 16 Nhà vệ sinh công cộng 62
Hình 17 Khoảng đất trống tại hẻm 195 64
Hình 18 Một trong hai sân khấu biểu diễn nghệ thuật tại Bùi Viện 65
Hình 19 Khoảng đất dự kiến 73
Hình 20: Phố đi bộ Bùi Viện ban đầu 77
Hình 21: Phố đi bộ Bùi Viện sau khi cải tạo 78
Trang 14TÓM TẮT
Nhu cầu người dân ngày một tăng cao đòi hỏi xã hội phải đáp ứng không những các tiện ích cơ bản như nhà ở, y tế, giáo dục, giao thông mà còn các nhu cầu về không gian công cộng, các hoạt động vận động ngoài trời, nhu cầu vui chơi giải trí và du lịch của người dân Trong số các nhu cầu đó nhóm nghiên cứu chọn nhu cầu đi bộ tại phố đi
bộ Bùi Viện để phân tích Phương pháp nghiên cứu chủ yếu nhóm thực hiện là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp kết hợp phỏng vấn sâu và thống kê thực tế
Kết quả nghiên cứu đạt được là người dân và khách du lịch có nhu cầu đi bộ tại phố đi bộ Bùi Viện để giải tỏa những áp lực công việc vào những ngày cuối tuần Và điểm đặc biệt khiến nhiều người lưu luyến phố đi bộ là không khí vui vẻ, náo nhiệt pha nét Tây hiện đại cộng với ẩm thực đa dạng Con phố này tập trung rất nhiều nhà hàng, quán bar, quán ăn uống từ sang trọng đến bình dân Đây là nơi hội tụ những nét tinh hoa
ẩm thực trên thế giới, một phức thể đa văn hóa, đa quốc gia Từ những kết quả thu thập được nhóm nghiên cứu tiến hành thảo luận để đưa ra những hướng cải tạo không gian phố đi bộ về mặt cơ sở hạ tầng cũng như xây dựng công tác quản lý phù hợp hơn để những cung cấp những lợi ích tối đa cho du khách tham quan tại phố đi bộ Bùi Viện
Chúng ta có thể khẳng định phố đi bộ chính là phần mềm kết nối mọi người trong
hệ đô thị cứng lại với nhau Không gian giao tiếp công cộng được hình thành tại đây bởi những người dân và du khách nước ngoài Sự ra đời phố đi bộ là điều kiện tất yếu để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của mọi người Nhóm nghiên cứu mong muốn đi bộ sẽ là lựa chọn phổ biến nhất của người dân và du khách khi đến với thành phố bởi vì Bùi Viện vừa đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí đa dạng, vừa góp phần phát triển kinh tế khu vực
Có thể thấy, định hướng phát triển phố đi bộ Bùi Viện trở thành một khu phố chuyên doanh với đa dạng loại hình dịch vụ là hợp lý
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn 300 năm hình thành và phát triển, thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành một trong năm thành phố lớn nhất Đông Nam Á (Bangkok, Metro Manila, Jakarta, Kuala Lumpur, thành phố Hồ Chí Minh) Thành phố Hồ Chí Minh trở thành thành phố đông dân nhất Việt Nam từ đó kéo theo sự quá tải của cơ sở hạ tầng xã hội và cả cơ sở hạ tầng
kỹ thuật Nhu cầu người dân ngày một tăng cao đòi hỏi xã hội phải đáp ứng không những các tiện ích cơ bản như nhà ở, y tế, giáo dục, giao thông mà còn các nhu cầu về không gian công cộng, các hoạt động vận động ngoài trời, nhu cầu vui chơi giải trí và du lịch của người dân Trong số các nhu cầu đó nhóm nghiên cứu chọn nhu cầu đi bộ để tìm hiểu
và mong muốn đi bộ sẽ là lựa chọn phổ biến nhất của người dân và du khách khi đến với thành phố vì nhiều tiện ích mà nó mang lại Con người đi bộ vì nhiều lý do: Đi làm, đi học, đi dạo, mua sắm, ăn uống… Một số người đi bộ đến các điểm đến như khu mua sắm, khu vui chơi, các địa điểm du lịch nổi tiếng cùng bạn bè Mọi người đi bộ để thư giãn và tốt sức khoẻ hoặc để thuận tiện cho hoạt động vui chơi bên ngoài Đó là trách nhiệm của cộng đồng để cung cấp một chất lượng dịch vụ và hệ thống an toàn cho tất cả những người đi bộ
Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sẽ thảo luận về vấn đề nhu cầu đi bộ của người dân thông qua việc khảo sát khách đi bộ (thu thập dữ liệu), đặc điểm, và nguyên tắc thiết kế các loại hình dịch vụ Có nhiều vấn đề liên quan đến sự hài lòng và chưa hài
lòng của người đi bộ Theo Phó chủ tịch UBND TP.HCM Lê Văn Khoa: “Cán bộ, công nhân viên có nhà và nơi làm việc, trường học, trong phạm vi 3km trở lại có thể đi bộ đi làm Cái lợi là cá nhân tăng sức khỏe, tiết kiệm Xã hội được lợi là bớt ô nhiễm, góp phần giảm kẹt xe”1 Chính vì lợi ích tuyệt vời mà giao thông đường bộ mang lại đã tạo động lực cho rất nhiều các nghiên cứu khoa học, các cuộc thi về vấn đề này ra đời ở thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng hay cả nước nói chung Ở Hà Nội, vấn đề lưu thông bằng đường
bộ rất được quan tâm, các đề tài như: “Giải pháp hầm chui cho người đi bộ và xe đạp”
1 Hữu Nguyên, “TPHCM muốn cán bộ, người dân đi bộ để giảm kẹt xe”, Vnexpress, 2-2017
Trang 16của hai sinh viên Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Trinh Thành Long thực hiện đã góp phần cải tạo bộ mặt không gian và tạo nên thành công cho giao thông đường bộ nói
chung hay phố đi bộ nói riêng Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu một số công trình đảm bảo an toàn giao thông cho người đi bộ trong đô thị ở thủ đô Hà Nội” của GS.TS
Nguyễn Xuân Đào - Nguyên viện trưởng Viện Khoa học công nghệ GTVT chủ nhiệm đã tạo ra cái nhìn sâu sắc hơn về việc xây dựng một đô thị có hệ thống giao thông đường bộ
an toàn, tạo sự an tâm và hài lòng cho người dân đi bộ Ở thành phố Hồ Chí Minh, tham
dự vòng chung kết hội thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học năm học 2015
-2016 (do sở GD - ĐT TP HCM tổ chức) đề tài “Phố đi bộ Nguyễn Huệ - từ góc nhìn môi trường và văn hóa đô thị” do học sinh Vũ Ngọc An và Nhâm Lê Quỳnh An thực hiện đã
phần nào phản ánh sự quan tâm của các bạn học sinh, tầng lớp còn khá trẻ, các bạn đã góp thêm động lực để minh chứng rằng việc đi bộ là vấn đề cần thiết và cấp bách cho thành phố Hồ Chí Minh ngày hôm nay và ngày mai sau
Hiện nay tại TP.HCM, các tuyến phố đi bộ vẫn còn khá hạn chế cả về mặt số lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu của người dân với những mục đích khác nhau Phố đi bộ không đơn thuần chỉ là không gian dành cho ẩm thực, thương mại mà còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật và sinh hoạt cộng đồng Do đó, việc nghiên cứu nhu cầu đi bộ của người dân đô thị và đề xuất các giải pháp đối với không gian đi bộ nói chung và tại Bùi Viện nói riêng là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
Từ sự thành công của các đề tài nghiên cứu trước đó nhóm nghiên cứu của chúng
tôi đưa ra đề tài “Nhu cầu đi bộ của người dân thành thị và đề xuất các giải pháp đối với không gian đi bộ, nghiên cứu tại phố đi bộ Bùi Viện, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh” để tìm hiểu thêm về nhu cầu đi lại của người dân khu
vực này, từ đó đề ra các giải pháp hợp lý để khuyến khích người dân có thể yên tâm đi bộ đến phố đi bộ Bên cạnh đó, những đề xuất nhóm đưa ra nhằm góp phần phát triển phố đi
bộ Bùi Viện trở nên hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của người dân và lưu giữ khách tham quan du lịch Những ý kiến đóng góp của nhóm nghiên cứu có thể
Trang 17còn có những sai sót, rất mong nhận được sự phản hồi tích cực từ hội đồng giám khảo và các bạn độc giả đã quan tâm đến bài nghiên cứu
2 Mục tiêu của đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu đề tài:
Làm rõ nhu cầu đi bộ của người dân tại phố đi bộ Bùi Viện
Người dân đến phố đi bộ để sử dụng các loại hình dịch vụ nào từ đó đề xuất các giải pháp phát triển đối với không gian đi bộ, các dịch vụ, cơ sở hạ tầng
xã hội và cơ sở hạ tầng kĩ thuật trong khu vực phố đi bộ Bùi Viện tại quận
1, Thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu tổng quan khu vực phố đi bộ Bùi Viện
Khảo sát nhu cầu đi bộ của người dân khi đến phố đi bộ Bùi Viện
Tìm hiểu mong muốn của người dân và khách tham quan
Đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm phục vụ tốt cho hoạt động đi bộ của người dân
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng mà nhóm nghiên cứu hướng đến là phố đi bộ Bùi Viện
Trang 185 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn, quy mô và phạm vi áp dụng
5.1 Ý nghĩa khoa học:
Các phương pháp cải tạo không gian đi bộ và vỉa hè được kiểm nghiệm thực tế từ
đó làm nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn về cở sở hạ tầng kỹ thuật cho việc phát triển phố đi bộ hiện đại
Đề tài nghiên cứu có cái nhìn tổng quan trong việc hình thành phố đi bộ hiện đại trên nền tảng tư liệu được tổng hợp từ các nguồn tài liệu, bài viết của các nhà nghiên cứu, chuyên gia về lĩnh vực xây dựng quy hoạch đô thị
5.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nhu cầu đi bộ của người dân độ thị Đề xuất phương pháp nhằm phát triển phố đi bộ tại Bùi Viện, tuyên truyền về các lơi ích khi đi bộ và khuyến khích người dân tham gia hoạt động đi bộ nhiều hơn
Đề tài đưa ra cái nhìn khách quan đến mọi người trong việc tham gia hoạt động vui chơi giải trí trên phố đi bộ hiện đại đa văn hóa
Trang 19PHẦN NỘI DUNG PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu trong nước
Đề tài nghiên cứu: “ Giải pháp hầm chui cho người đi bộ và xe đạp” do hai sinh
viên Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Trinh Thành Phong thực hiện Sau khi thu thập tài liệu, tiêu chuẩn về hầm chui cho người đi bộ trong và ngoài nước, nhóm nghiên cứu này đã tiến hành nghiên cứu về hầm chui và cầu vượt cho người đi bộ và xe đạp ở
đô thị Từ đó, nhóm nghiên cứu phân tích tính tiện lợi của hầm chui so với cầu vượt Lựa chọn địa điểm thực tế áp dụng hầm chui tại ngã ba Vườn Mít ở phường Trung Dũng, TP Biên Hòa, Đồng Nai Sau đó tiến hành khảo sát các số liệu thực tế ở vị trí đặt hầm chui Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết để phân tích, tổng hợp
lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết… Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu dùng các chương trình phục vụ cho công tác thiết kế Kết quả đưa ra hình thức hầm chui tại ngã ba Vườn Mít
Đề tài “Nghiên cứu một số công trình đảm bảo an toàn giao thông cho người đi bộ trong đô thị ở thủ đô Hà Nội” do GS.TS Nguyễn Xuân Đào - Nguyên viện trưởng
Viện Khoa học công nghệ GTVT chủ nhiệm Ông tiến hành nghiên cứu các lý thuyết lưu thông và đặc trưng tham gia giao thông của người đi bộ (lý thuyết, thực nghiệm)
để có được các công trình giao thông mang tính khả thi cao và phù hợp với điều kiên Việt Nam Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu, ứng dụng các công trình đảm bảo
an toàn giao thông cho người đi bộ ở các nước trên thế giới Ông nghiên cứu về đường đi bộ ngang đường, điểm dừng chân cho người đi bộ trong đô thị, các loại rào chắn, barie đường bộ, công trình cầu vượt cho người đi bộ, công trình hầm bộ hành và công trình dành cho người khuyết tật ở Hà Nội là những nội dung cơ bản được đi sâu nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới Từ đó vận dụng vào điều kiện thực tế của Hà Nội có xem xét đến tập quán sinh hoạt và đặc trưng tham gia giao thông Sản phẩm của đề tài là đề xuất thiết kế, các yêu cầu kỹ thuật cơ bản, phạm vi và địa điểm ứng dụng cụ thể cho các công trình đảm bảo an toàn giao thông cho người đi bộ trong đô thị Hà Nội
Trang 20 Tham dự vòng thi chung kết hội thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học
năm học 2015-2016 (do Sở GD-ĐT TP HCM tổ chức) với đề tài: “Phố đi bộ Nguyễn Huệ - từ góc nhìn môi trường và văn hóa đô thị” do học sinh Vũ Ngọc Mai và
Nhâm Lê Quỳnh An thực hiện Mai và An đã khảo sát trên 300 người Đa số đều đánh giá phố đi bộ Nguyễn Huệ có nhiều mặt tích cực như: là nơi đi dạo, hóng mất miễn phí, là biểu tượng mới cho sự phát triển đô thị, là không gian gắn kết mọi người…
Trong bản báo cáo Mai và An đã kết luận: “Văn hóa ứng xử nơi đây còn nhiều hạn chế” Cuối cùng, Mai và An kiến nghị rất nhiều: “Muốn giải quyết vấn đề hàng rong cần đáp ứng nhu cầu của người dân bằng cách lắp đặt các máy bán hàng tự động Tăng cường tổ chức các hoạt động văn hóa và các điểm trình diễn nghệ thuật trong từng góc phố Cần có các trạm thông tin du lịch thông minh, quầy hướng dẫn du lịch…”
Luận văn Thạc sĩ Kiến trúc với đề tài: “Tổ chức không gian tuyến phố đi bộ phục vụ
ẩm thực, văn hóa khu phố cổ Hà Nội” do giảng viên Ngô Thanh Thảo được bảo vệ
tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Nội dung đề tài nêu ra những ưu điểm cần phát huy và những tồn tại cần giải quyết, khắc phục, nghiên cứu các cơ sở khoa học về phương hướng, các điều kiện tự nhiên, yếu tố xã hội của khu phố cổ Hà Nội và bài học kinh nghiệm trong nước và nước ngoài Từ đó đề xuất giải pháp tổ chức không gian tuyến phố đi bộ phục vụ ẩm thực, văn hóa khu phố cổ Hà Nội bằng các nguyên tắc và quan điểm chuyên môn Hàng loạt thủ pháp từ quy hoạch tổng thể, cảnh quan
đô thị, các không gian đường phố và các giải pháp kiến trúc công trình, từ mặt đứng, trang trí nội ngoại thất đồng thời với những giải pháp kỹ thuật đô thị có liên quan như: Giải pháp chiếu sáng, vệ sinh môi trường, cấp thoát nước Và minh họa bằng những
đề xuất cụ thể từ Hàng Giầy - Lương Ngọc Quyến
Theo KTS, chuyên gia Đô thị học Trương Nam Thuận, định hướng phát triển việc đi
bộ trong đô thị đã được nhiều nơi áp dụng, đặc biệt tại các thành phố có mật độ dân số bằng hoặc cao hơn TP.HCM với mục tiêu góp phần giảm kẹt xe và tăng cường sức khỏe cho người dân Ông đề xuất nên xây dựng tuyến đường dành riêng cho người đi
Trang 21bộ và đi xe đạp trên cao khi hạ tầng giao thông hiện tại không có chỗ cho người đi bộ Theo ông Thuận, đây là giải pháp căn cơ và đã được nhiều thành phố áp dụng hiệu
quả “Hệ thống đường trên cao sẽ giúp việc di chuyển của người đi bộ, đi xe đạp tách biệt với hệ thống giao thông đang quá tải hiện hữu Qua đó sẽ góp phần hạn chế được vấn đề kẹt xe, đảm bảo an toàn vệ sinh cho người đi bộ khi không phải hít khói bụi xe máy, xe hơi”, ông Thuận nói
1.2 Nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Ths.Kts Nguyễn Tuấn Hải Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội “Kinh nghiệm quy hoạch kết nối không gian ngầm với công trình đầu mối hạ tầng giao thông dân dụng ở các nước trên thế giới” Hệ thống không gian ngầm khá hoàn thiện
của nhiều nước như ta thấy, phải trải qua một quá trình dài Có thể kể qua một số bài học mang tính điển hình Hàng loạt ngầm bộ hành qua đường được xây dựng tại Roma - Italia từ những năm 1960 chỉ phục vụ giao thông bị bỏ hoang do ít người sử dụng vì bẩn thỉu và mất an ninh Chính quyền đã phải đóng cửa hoặc biến một số thành cửa hiệu sau này, hầu hết các đô thị lớn ở châu Âu như Berlin (Đức), Rotterdam (Hà Lan), Pari (Pháp) đều xen cấy không gian ngầm với kết nối rất hợp lý các địa điểm trên mặt đất, phục vụ giao thông bộ hành kết hợp bổ xung dịch vụ đồng thời hỗ trợ bảo tồn di sản đô thị Chúng có thể là các ngầm bộ hành qua nút giao, các không gian ngầm bổ xung dịch vụ phía dưới các công trình di sản hoặc các trung tâm dịch vụ thương mại bên dưới nhà ga, bến xe và được kết nối đa chiều với mặt đất qua công trình, trên quảng trường và hè đường phố
Theo bài viết của Christopher Coes: “The WalkUP Wake-Up Call: New York”, được phát hành bởi Đại học George Washington thuộc Trung tâm Phân
tích Bất động sản và Thành phố Sự tăng trưởng thông minh của Mỹ tự hào là đối tác chính sách của nhiều báo cáo mới Mặc dù nhu cầu về các khu đô thị có thể đi lại được ở New York, hầu hết các khoản đầu tư bất động sản đều nằm trong vùng lõi của khu vực chứ không phải là tạo ra các khu đô thị mới có thể đi bộ hoặc phát
triển các trung tâm thị trấn đường sắt phục vụ trong khu vực
Trang 22 Theo Tạp chí thiết kế đô thị ở Thái Lan số phát hành 2: “Đường phố làm không gian công cộng ở khu vực Đông Nam Á: Nghiên cứu trường hợp đường phố người đi bộ Thái Lan”, bài báo này khảo sát các đường phố dành cho người đi bộ
ở Thái Lan và ý tưởng về đường phố như không gian công cộng ở Đông Nam
Á Dựa trên các nghiên cứu thí điểm ở 15 phố dành cho người đi bộ và nghiên cứu điền dã chi tiết trong bốn nghiên cứu điển hình ở Thái Lan Bài báo cho thấy một cách thức không chính thức về việc sử dụng đường phố đối với các chức năng kinh tế xã hội và vai trò đa chiều của đường phố ở các thành phố Đông Nam
Á Cung cấp một cái nhìn tổng quan về đường phố như không gian công cộng, mở rộng phạm vi nghiên cứu không gian công cộng và góp phần hiểu rõ thị trường đường phố và việc sử dụng đường phố như không gian công cộng ở Đông Nam Á, một chủ đề hiếm khi được thảo luận trong chương trình nghị sự thiết kế đô thị của
về sự phát triển và ứng dụng của nó được xác định
Trang 23PHẦN 2: VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp:
Nhóm tác giả đã tìm kiếm thông tin phục vụ cho bài nghiên cứu dựa trên những tài liệu sẵn có, Sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu, hệ thống hóa, khái quát hóa các lý luận, các tài liệu khoa học có liên quan đến hoạt động đi bộ của con người, các tài liệu quy hoạch trước đó phục vụ cho quá trình nghiên cứu và một số trang báo điện tử khác
để hoàn thiện bài nghiên cứu Nhóm nghiên cứu mô tả tóm tắc lại những tài liệu được đưa vào, những nội dung có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của bài một cách cụ thể rõ ràng, để người đọc có cái nhìn tổng quan và dễ nắm bắt được thông tin mà nhóm nghiên cứu truyền tải
2.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp:
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Công cụ được sử dụng là bảng hỏi: Để điều tra thu thập các ý kiến của người dân sinh sống tại khu vực nghiên cứu cũng như ý kiến của khách tham quan Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp này nhằm thống kê các ý kiến, nhu cầu đi bộ của người dân từ
đó đề ra các giải pháp thích hợp, đáp ứng nhu cầu của người dân Nhóm thực hiện phát bảng hỏi cho 100 đối tượng để thu thập ý kiến Sử dụng phần mềm toán học Excel để thống kê lại và xuất ra kết quả điều tra
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính:
Nhóm sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để tìm hiểu về đặc điểm, thực trạng của khu vực nghiên cứu Phương pháp xử lý và thu thập thông tin bao gồm: Phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp quan sát
Phương pháp phỏng vấn sâu: Để trực tiếp lắng nghe ý kiến cũng như là mong
muốn của mọi người khi hoạt động tại phố đi bộ Bùi Viện, tiếp nhận các ý kiến góp ý về các giải pháp mà nhóm nghiên cứu đề cập tới Nhóm nghiên cứu phỏng vấn sâu 5 trường hợp (bao gồm nhiều đối tượng kể cả người nước ngoài , những người dân sinh sống và làm việc trên địa bàn Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh) tìm hiểu về nhu cầu đi bộ cũng như là nhu cầu đi bộ đến phố đi bộ Bùi Viện,
Trang 24nhóm tiến hành tìm hiểu thêm về thực trạng của phố đi bộ Từ đó, nhóm sẽ có đánh giá khách quan về nhu cầu của người dân
Phương pháp quan sát: Nhóm nghiên cứu tiến hành đến trực tiếp phố đi bộ Bùi
Viện và sử dụng thiết bị di động để chụp ảnh thu thập hình ảnh về thực trạng của địa bàn nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu
Từ các kết quả khảo sát được, chúng tôi đã thống kê các số liệu và sử dụng phần mềm Excel để xử lý và vẽ các biểu đồ dựa trên các số liệu đã xử lý
PHẦN 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Thao tác hóa khái niệm
3.1.1 Khái nhiệm nhu cầu
Theo định nghĩa của Philip Kotler: “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó
mà con người cảm nhận được Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được đó là một trạng thái đặc biệt của con người, nó xuất hiện khi con người tồn tại, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thoả mãn, bù đắp”
Ngoài ra, nhu cầu còn được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó Nhưng “cái gì đó” chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu Hình thức biểu hiện nhất định được
cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu nhất định Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong
đó mức độ thỏa mãn có khác nhau
Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp và có thể xem xét từ những góc độ khác nhau Chính vì vậy, tháp nhu cầu của Maslow (tiếng Anh: Maslow's hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation để cụ thể hóa các nhu cầu hiện hữu của con người
Trang 25Maslow's hierarchy of needs
Abraham Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau:
Bậc 1 Những nhu cầu về thể lý: Là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất
đảm bảo cho con người tồn tại Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất
Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được Ông bà ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng: “Có thực mới vực được đạo”, cần phải được
ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn
Abraham Harold
Maslow (1908-1970)
Trang 26Sự phản đối của công nhân, nhân viên khi đồng lương không đủ nuôi sống họ cũng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản cần phải được thực hiện ưu tiên
Bậc 2 Những nhu cầu về an ninh và an toàn: Khi con người đã được đáp ứng
các nhu cầu cơ bản, tức là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ có nhu cầu cao hơn Đó là những nhu cầu về an toàn, không bị đe dọa
về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình… Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ…
Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở… Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm… cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này Thông qua việc nghiên cứu 2 cấp bậc nhu cầu trên chúng ta có thể thấy nhiều điều thú vị: Muốn kìm hãm hay chặn đứng sự phát triển của một người nào đó, cách cơ bản nhất là tấn công vào các nhu cầu bậc thấp của họ Nhiều người làm việc chịu đựng các đòi hỏi vô lý, các bất công, vì
họ sợ bị mất việc làm, không có tiền nuôi bản thân và gia đình, họ muốn được yên thân
Bậc 3 Những nhu cầu về xã hội, nhu cầu giao lưu tình cảm: là những nhu cầu
về tình yêu, được chấp nhận, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển
Bậc 4 Những nhu cầu được đánh giá và tôn trọng: Theo A Maslow, khi con
người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn
Trang 27như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin Đây là mong muốn của con người khi nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội Việc
họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công” Vì thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính nể
Bậc 5 Những nhu cầu về sự hoàn thiện: Là những nhu cầu về chân, thiện, mỹ,
tự chủ, sáng tạo, mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ… Thuyết nhu cầu của A Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Việc sắp xếp nhu cầu theo thang bậc từ thấp đến cao cho thấy
độ “dã man” của con người giảm dần và độ “văn minh” của con người tăng dần2
Chúng ta có thể thấy nhiều người xung quanh mình, khi đã đi đến đoạn cuối của
sự nghiệp thì lại luôn hối tiếc vì mình đã không được làm việc đúng như khả năng, mong ước của mình Hoặc có nhiều trường hợp, một người đang giữ một vị trí lương cao trong một công ty, lại vẫn dứt áo ra đi vì muốn thực hiện các công việc mà mình mong muốn, cái công việc mà Maslow đã nói “born to do” Đó chính là việc đi tìm kiếm các cách thức
mà năng lực, trí tuệ, khả năng của mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về nó Loài người là những sinh vật có suy nghĩ, với bộ não phức tạp đòi hỏi có kích thích tư duy Chúng ta bị thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ về nhận thức muốn biết quá khứ của mình để hiểu biết những bí ẩn của cuộc sống hiện tại, và để đoán trước được tương lai Sức mạnh của các nhu cầu này giúp học giả và các nhà khoa học cống hiến cuộc đời mình cho các cuộc truy tìm kiến thức mới
Tại đỉnh của hệ thứ bậc là những con người được nuôi dưỡng, che chở, được yêu thương và yêu thương, được yên tâm, được tư duy và sáng tạo Những con người này đã chuyển động vượt ra ngoài những nhu cầu cơ bản của con người để tìm kiếm sự phát huy
2 Đ.P Quý / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 26 (2010), trang 78-85
Trang 28đầy đủ tiềm năng của mình, còn gọi là sự ý thức đầy đủ về bản thân Một con người có ý thức đầy đủ về mình, tự nhận thức được mình, tự chấp nhận, thì nhiệt tình với xã hội, có tính sáng tạo, không gò bó, sẵn sàng tiếp nhận cái mới và sẵn sàng chấp nhận thử thách - không kể các phẩm chất tích cực khác Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng Như vậy, theo tháp nhu cầu Maslow, trước tiên các nhà lãnh đạo phải quan tâm đến các nhu cầu vật chất, trên cơ sở đó nâng dần lên các nhu cầu bậc cao
Theo Boris M Gkin chia nhu cầu thành 2 nhóm: Nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích sống Theo đó nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự Nhu cầu đạt mục đích sống bao gồm: Giàu có về vật chất, quyền lực và danh vọng, kiến thức và sáng tạo, hoàn thiện về tinh thần Tùy vào xu hướng của mỗi cá nhân
mà một trong bốn nhu cầu trên thể hiện mức độ Có thể một người hiện diện cả 4 dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời Vì lẽ đó, nhu cầu sẽ là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao
3.1.2 Khái niệm đi bộ
Trong cuộc sống hiện đại, con người ngày càng bận rộn, ít vận động, việc dành thời gian để tập luyện một môn thể thao nào đó để rèn luyện sức khỏe đôi khi rất khó thực hiện Nhưng không phải ai cũng biết đi bộ là hằng ngày là hình thức tập luyện đơn giản nhất nhưng cũng mang lại lợi ích to lớn đối với sức khỏe mỗi người Đi bộ là việc di chuyển với tốc độ bình thường và khá chậm bằng cách nâng và đặt chân xuống từng bước, không bao giờ có cả hai chân trên mặt đất cùng một lúc3
Chúng ta có thể thấy đi bộ là hoạt động lý tưởng cho mọi người ở mọi lứa tuổi
Nhất là những người muốn tìm những hoạt động phù hợp mà không cần nhiều nỗ lực
Đúng như nhà văn Ru-xô đã nói: "Khi ta chỉ muốn đến một nơi nào, ta có thể phóng bằng
3 Dịch theo oxforddictionaries.com, ngày 25/5/2018
Trang 29xe ngựa trạm; nhưng khi ta muốn ngao du, thì cần phải đi bộ"4 Vì chỉ có đi bộ, thưởng thức thiên nhiên, ta mới có thể nhận ra được thú vui từ việc đi bộ cũng như những lợi ích
mà việc đi bộ mang lại
Vai trò của việc đi bộ đối với cuộc sống người dân
Trong một loạt bài viết về những ích lợi của sự đi bộ, bà Wendy Bumgardener, một nhà khoa học người Mỹ chuyên nghiên cứu về lãnh vực này, đã dùng một đề tài khá hay “Đi bộ hay là chết, hình thức vận động ở tuổi trung niên để ngăn chận nguy cơ tử vong.” Bà Bumgardner cho rằng đi bộ với bước đi từ trung bình đến nhanh, từ 30 đến 60 phút mỗi ngày đủ đốt cháy mỡ và gia tăng mức độ chuyển hoá sẽ làm giảm đáng kể nguy
cơ những bệnh tim mạch, ung thư vú, ung thư ruột già, tiểu đường và đột quỵ
Chúng ta có thể tổng kết ra 12 lợi ích của việc đi bộ như sau:
1) Đi bộ có thể tăng cường chức năng tim mạch, giúp tim đập chậm mà mạnh
2) Đi bộ có thể làm tăng tính đàn hồi của mạch máu, làm giảm khả năng bị vỡ mạch máu
3) Đi bộ có thể làm giảm sự tích tụ mỡ ở phần bụng, giữ được dáng vẻ gọn gàng xinh đẹp cho cơ thể
4) Đi bộ có thể làm giảm sự hình thành các cục máu động, giảm bớt khả năng bị nhồi máu cơ tim
5) Đi bộ có thể làm giảm sự tích tụ triglyceride và cholesterol trên thành tĩnh mạch, cũng có thể làm giảm cơ hội glucose chuyển hóa thành triglycerides
6) Đi bộ có thể làm giảm sự sản sinh hormone adrenalin Quá nhiều adrenalin sẽ gây
Trang 308) Kiên trì đi bộ hàng ngày sẽ xóa bỏ các triệu chứng thiếu máu cục bộ hoặc huyết áp thấp Làm cơ thể không còn mệt mỏi, tinh thần vui tươi, làm giảm hồi hộp và tim đập nhanh
9) Đi bộ giúp bảo vệ môi trường, loại bỏ ô nhiễm không khí, đối với cơ thể khỏe mạnh, nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể, giảm bớt bệnh tật, cũng có tác dụng thúc đẩy tích cực trong việc kéo dài tuổi thọ
10) Đi bộ có thể làm tăng cường chức năng bài tiết của tuyến tiêu hóa, thúc đẩy ruột
và dạ dày nhu động hoạt động theo quy luật, làm tăng sự thèm ăn, có tác dụng rất tốt đối với việc phòng ngừa các chứng bệnh như cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh béo phì, táo bón…
11) Đi bộ là một loại phương thức trong tĩnh có động, trong động có tĩnh, có thể làm giảm sự căng thẳng thần kinh Theo chuyên gia cho biết, khi cảm xúc buồn bực, lo lắng dồn hết vào lồng ngực, đi bộ với bước đi nhẹ mà nhanh khoảng 15 phút, là có thể giảm bớt căng thẳng, ổn định được tâm trạng
12) Đi bộ trong không khí trong lành ở bên ngoài, hoạt động tư duy của não bộ sẽ trở nên linh hoạt tỉnh táo, giúp loại bỏ mệt mỏi, nâng cao hiệu suất học tập và làm việc Theo như thử nghiệm của các chuyên gia, người đi bộ mỗi tuần đi bộ 3 lần, mỗi lần một giờ, duy trì liên tục trong bốn tháng so với người không thích vận động, thì người đi bộ có phản ứng nhạy bén, thị giác và khả năng trí nhớ đều chiếm ưu thế hơn
Rõ ràng đi bộ mang lại quá nhiều lợi ích cho sức khỏe Đi bộ đều đặn hàng ngày, ăn uống thích hợp, nghỉ ngơi hợp lý, làm việc đúng mực sẽ giúp chúng ta có một cuộc sống chất lượng hơn Những bước chân âm thầm sẽ làm nên điều tuyệt vời hơn cho sức khỏe mọi người
Trang 313.1.3 Khái niệm nhu cầu đi bộ
Từ hai khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu nhu cầu đi bộ là một trong những nhu cầu sinh lý cơ bản của con người Đây là một loại hình thể thao “miễn phí” và không cần phải học nhiều mà ai cũng có thể thực hiện được Mỗi người sẽ có nhu cầu đi bộ vì một mục đích nào đó, chẳng hạn như: đi làm, đi tản bộ, đi chơi
3.1.4 Khái niệm không gian công cộng và không gian đi bộ
Không gian công cộng là nơi mà bất cứ ai cũng có thể đến, không phân biệt tuổi tác, thu nhập Nơi hầu hết các sự kiện diễn ra là tự phát chứ không phải được lên kế hoạch trước Nơi mọi người hòa nhập với nhau hay đơn giản là nơi để đi lại, ngồi nghỉ ngơi và quan sát người khác Không gian công cộng không yêu cầu vé vào cửa, không yêu cầu trang phục bắt buộc và không yêu cầu người ta phải chuẩn bị trước bất cứ điều
gì Không có sự phân biệt rõ ràng giữa những người quan sát và được quan sát; tất cả đều trên sân khấu, đều là một phần khán giả5
Trong hệ thống quy hoạch đô thị chính quy, cần xác định và củng cố vai trò của hệ thống KGCC chính quy như một loại cơ sở hạ tầng chính trị - xã hội thiết yếu, có chỉ tiêu
và nguyên lý thiết kế phù hợp, và các các loại và KGCC phi chính quy nhằm đảm bảo yếu tố đầu tiên là “lượng” đối với KGCC Cần lưu ý: Không gian cây xanh là KGCC nhưng KGCC không chỉ là không gian cây xanh, vườn hoa, mặt nước Vì vậy cần thoát ly khỏi nếp tư duy hẹp trong quy hoạch và thiết kế KGCC ở nước ta: Cứ KGCC là tô màu xanh và khi xây nên thì thành các ô trồng cỏ không mấy tác dụng
Chúng ta có thể biến KGCC và hệ thống KGCC trở thành một bộ phận không thể thiếu, tạo thành bản sắc của đô thị Cần phải nhấn mạnh rằng không gian công cộng cũng
là một tài sản quan trọng xét trên phương diện kinh tế Chất lượng cuộc sống, điều mà một không gian công cộng tốt đem lại, không chỉ quan trọng với con người mà còn quan
5 Debra Efroymson, Trần Thị Kiều Thanh Hà, Phạm Thu Hà, Không gian công cộng làm nên cuộc sống thành phố, NXB Xây dựng,2010, trang 18
Trang 32trọng đối với cả hoạt động kinh doanh Các hãng, các nhà đầu tư, các nhân tài đều bị thu hút bởi những thành phố sống tốt Và rõ ràng các thành phố của Việt Nam có thể và nên phát triển theo hướng này, nếu chúng ta xem xét trường hợp của hai thành phố Hà Nội và
Hồ Chí Minh trên cơ sở các chỉ số sống tốt trong báo cáo của Liên hợp quốc năm 2010 về các thành phố Châu Á Những cải tiến trong chính sách không gian công cộng chắc chắn
là một trong những cách thức tốt hơn nhằm tiến cao hơn nữa trên nấc thang tiêu chí sống tốt và sức hấp dẫn
Vì vậy, chúng ta có thể hiểu “không gian đi bộ” cũng là một phần không gian
công cộng, nó chứa đựng đầy đủ các yếu tố cần có của một không gian công cộng Không gian đi bộ phải tạo ra được tính liên kết và đạt kích thước tối thiểu, bởi đó là cách tốt nhất
để tăng khả năng tiếp cận, tăng hiệu quả sử dụng Ngoài ra, tùy thuộc vào chức năng của không gian có được mà dự tính phát triển (đường đi, sân chơi hay tổ chức thành tuyến phố đi bộ) để có thể đáp ứng các chức năng dự tính
3.1.5 Khái niệm phố đi bộ
Phố đi bộ là một mô hình không gian giao tiếp công cộng đặc biệt, nó được coi là một địa điểm đặc trưng của đô thị Phố đi bộ là một vấn đề rất điển hình của văn hóa đô thị, phản ánh không chỉ đơn thuần là vấn đề quy hoạch và kiến trúc đô thị, mà còn là những vấn đề khác liên quan đến xã hội học đô thị, đến bảo tồn di sản văn hóa đô thị, đến phát triển thương mại và du lịch Theo các nhà đô thị học, ý nghĩa của việc tổ chức phố đi
bộ là "trả lại thành phố cho thị dân", tạo điều kiện để người dân tiếp cận khu vực công cộng dễ dàng hơn, tăng cường sự giao tiếp bình đẳng giữa các tầng lớp nhân dân Ngoài
ra nó còn đóng vai trò hồi sinh các khu vực lịch sử và duy trì sức sống văn hóa của đô thị Trong đó, thuật ngữ "hồi sinh" được hiểu trong bối cảnh hiện nay là sự khác biệt trong quan điểm: "Bảo tồn di sản chỉ quan tâm đến quá khứ của quá khứ còn hồi sinh quan tâm đến tương lai của quá khứ"6
6 Ashui.com chuyên mục quy hoạch xây dựng, đăng ngày 7/10/2008
Trang 33Theo thạc sĩ Cao Anh Tuấn, có 3 lý do xuất hiện phố đi bộ là sự bùng nổ đô thị khiến người dân có nhu cầu đi bộ thư giãn, nhu cầu phát triển thương mại - du lịch và phát huy các yếu tố đặc trưng của địa phương Do đó, nơi được chọn làm phố đi bộ phải
có yếu tố đặc trưng và ưu thế về cảnh quan kiến trúc đẹp, hấp dẫn, giàu tính văn hóa lịch sử… Chẳng hạn như phố Nguyễn Huệ (quận 1) có tòa nhà UBND TP và bến Bạch Đằng, phố Tôn Dật Tiên (Phú Mỹ Hưng) có hồ Bán Nguyệt, đảo Bảo Tồn và cầu Ánh Sao thì phố Bùi Viện (quận 1) cũng có công viên 23/9
3.2 Tiêu chí đánh giá không gian phố đi bộ
Theo Thạc sĩ Cao Anh Tuấn - Giảng viên trường Đại học Xây Dựng cho biết:
Tổ chức không gian phố đi bộ = Quy hoạch đô thị + Bảo tàng hóa + Hoạt động
thương mại + Hồi sinh di sản đô thị
Vì vậy, nếu theo mô hình tổng hợp này thì không gian phố đi bộ phải thực hiện được một
số tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật cũng như tiêu chuẩn văn hóa - xã hội sau:
Các tiêu chuẩn quy hoạch kiến trúc: Ðường phố có không gian thoáng đãng, ngoài chức năng giao thông, thương mại còn có giá trị thưởng ngoạn, ngắm cảnh Tập trung nhiều di sản kiến trúc, tạo dấu ấn mạnh về đặc trưng lịch sử văn hóa, nơi chốn, có sự kế thừa và chuyển hóa không gian kiến trúc Các tuyến phố đi bộ nếu
là "đường cổ đô thị" cũng sẽ là một di sản đô thị hay là "gạch nối di sản" giữa các khu vực lịch sử
Các tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật: Có vật liệu mặt đường phù hợp với mảng xanh trên đường phố, có không gian cô đọng, hài hòa như quảng trường cổ Là nơi có truyền thống giao lưu văn hóa, thương mại Có hệ thống công trình dịch vụ công cộng, bãi đậu xe, có thể kết nối được với những tuyến đường, những không gian khu vực đô thị khác
Các tiêu chuẩn văn hóa - xã hội: Ðịa phương ủng hộ, tạo động lực thu hút người dân Có chính sách thúc đẩy hoạt động văn hóa nghệ thuật và thương mại Là khu
Trang 34vực kiểu mẫu, tác dụng giáo dục về cảnh quan và vệ sinh môi trường Ðược bố trí
và trang trí giàu tính mỹ cảm với nhiều màu sắc và hoạt động về đêm Thưởng thức nghệ thuật thường xuyên, có khu vực biểu diễn nghệ thuật ngoài trời và văn hóa ẩm thực đặc sắc7
Qua các tiêu chí này có thể thấy, muốn có phố đi bộ thực sự không thể chủ quan
áp đặt, duy ý chí là có phố đi bộ Phố đi bộ chỉ hình thành do chính người dân sống, làm việc và các cơ sở dịch vụ trên đường phố này tự nguyện làm vì thấy có nhu cầu, quyền lợi của họ theo quy luật tự nhiên Ðiều cơ bản là chính quyền địa phương có chính sách ưu đãi phù hợp và cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo nhu cầu sử dụng Phố đi bộ đóng vai trò chức năng văn hóa, nó chứa đựng các di sản văn hóa đô thị và chính nó cũng là một sản phẩm văn hóa, một di sản của đô thị
3.3 Các tiện ích công cộng
3.3.1 Nhà vệ sinh công cộng
Nhà vệ sinh là một công trình phục vụ cho nhu cầu vệ sinh hàng ngày của con người Nhà vệ sinh công cộng là một môi trường vệ sinh chung, nhiều người qua lại và sử dụng Vì thế nó cần đảm bảo được không gian vệ sinh sạch sẽ, thông thoáng và có sự ngăn cách rõ ràng Các công trình vệ sinh như nhà vệ sinh ở ngoài phố, khuôn viên công viên, rạp chiếu phim, siêu thị, trung tâm thương mại đều được xem là nhà vệ sinh công cộng Đây là những khu vực vệ sinh rộng lớn, khu vực vệ sinh đòi hỏi tính thẩm mỹ cũng như độ bền cao
Theo quyết định số Số: 225/QĐ-TCDL, tiêu chuẩn chung về nhà vệ sinh công cộng như sau:
1) Nhà vệ sinh phải đảm bảo hợp về sinh theo quy định số 27/011/TT- BYT ngày 24/6/2011 của Bộ Y Tế
7 trung-tam-lich-su-do-thi-tphcm.html
Trang 35http://ashui.com/mag/index.php/chuyenmuc/quyhoachxaydung/68-quyhoachxaydung/326-to-chuc-pho-di-bo-tai-o Nhà vệ sinh không được xây dựng ở nơi thường bị ngập, úng
o Nhà vệ sinh phải cách nguồn nước ăn uống, sinh hoạt từ 10m trở lên
o Miệng hố phân cao hơn mặt đất xung quanh ít nhất 20 cm
o Bố trí xây dựng để nước mưa không thể tràn vào hố phân
o Mặt sàn và rãnh nước nhà vệ sinh phải nhẵn, không đọng nước, không lún Nước tiểu phải được dẫn ra dụng cụ chứa, không chảy vào hố phân
o Nhà vệ sinh công cộng cần đặt ở nơi có vị trí thuận lợi, dễ tiếp cận, bảo đảm an ninh, an toàn cho khách
o Số lượng phòng vệ sinh phù hợp với lượng khách có nhu cầu sử dụng
o Tiêu chuẩn nhà vệ sinh công cộng phải có đầy đủ các thiết bị vệ sinh cần thiết, hoạt động tốt, được lắp đặt chắc chắn, sắp xếp gọn gàng
o Nhà vệ sinh phải thông thoáng, sạch sẽ và đủ ánh sáng -Nếu có điều kiện, cần bố trí có ít nhất một nhà vệ sinh dành riêng cho người khuyết tật Cửa rộng và không quá dốc để xe lăn có thể lăn vào được Lối dẫn vào có tay vịn
3.3.2 Bãi giữ xe
Bãi đỗ xe hay bãi đậu xe hay bãi giữ xe là một khu vực rộng lớn, trống trải được quy hoạch, xây dựng để dành cho việc đậu các loại xe (thông thường là xe hơi) Thông thường, thuật ngữ này nói đến một khu vực chuyên dụng đã được giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình kiên cố hoặc bán kiên cố Trong hầu hết các quốc gia nơi mà
xe ô tô là phương tiện chủ yếu và quan trọng của giao thông vận tải thì bãi đỗ xe là một
Trang 36cơ cấu của tất cả các thành phố và khu vực ngoại ô, trung tâm mua sắm, sân vận động thể thao và các địa điểm tương tự thường có rất nhiều bãi đỗ xe ở khu vực rộng lớn
Theo thông tư “Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trạm dừng nghỉ đường bộ”8 của Bộ giao thông vận tải, bãi đỗ xe là nơi dành cho các phương tiện giao thông
đường bộ đỗ khi người điều khiển phương tiện và hành khách sử dụng dịch vụ tại trạm dừng nghỉ Các bãi đỗ xe thông thường được lát nhựa Một số được lát bằng bê tông Bãi
đỗ xe có kiểu riêng đặc biệt liên quan đến quy chuẩn kỹ thuật Bãi đỗ xe cũng có thể rất nhỏ, chỉ với chỗ đỗ xe cho một vài xe, hoặc là bãi đỗ xe rất lớn với không gian cho hàng ngàn xe Bãi đỗ xe nhỏ thường là các tòa nhà gần cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc một căn hộ Bãi đỗ xe lớn hơn có thể được cho các doanh nghiệp lớn hơn hoặc những nơi
có nhiều khách hàng, các tổ chức như trường học, nhà thờ, văn phòng, hoặc bệnh viện, viện bảo tàng hoặc các địa điểm du lịch khác
Một số doanh nghiệp, các tổ chức, hoặc đơn vị khác có thể có một số bãi đỗ xe riêng nếu nhà để xe không thể đáp ứng nhu cầu đỗ xe của họ Các chỗ đỗ xe lớn và rất lớn có thể được xây dựng phục vụ cho sân vận động, sân bay, ga tàu, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm với nhiều doanh nghiệp, trường học hoặc các trường đại học lớn, trung tâm hội nghị hoặc các cơ sở công bằng, nhà hát, nơi làm việc với nhiều nhân viên như nhà máy, xí nghiệp,…vv, hoặc các tổ chức có quy mô lớn Thường thì một
số doanh nghiệp, văn phòng, cao ốc, hoặc các tổ chức khác có thể sử dụng một hoặc nhiều bãi đỗ xe chung cho thuận tiện công việc của họ Tại những nơi mà hầu hết du khách và nhân viên sử dụng xe của họ để vào và ra đột xuất, các bãi đỗ xe tạm thời thường thường nằm trong khuôn viên các tòa nhà hoặc lề đường phố cạnh tòa nhà ví dụ như các trung tâm mua sắm và các tòa nhà văn phòng Bãi đỗ xe xung quanh các chung
cư thường là nội bộ dành cho việc sử dụng bãi đỗ xe của người dân trong chung cư, mặc
dù đôi khi có thể dành một phần cho du khách, khách vãng lai Việc đỗ xe ở các doanh nghiệp, văn phòng và nhà ở thường được miễn phí cho khách hàng, những khách quen, hoặc người dân trong một số trường hợp
8 Thông tư số 48/2012/TT-BGTVT
Trang 37Căn cứ vào quy mô và thể loại công trình, số người sử dụng công trình mà tính toán diện tích bãi đỗ xe cho phù hợp Bãi đỗ xe có thể đặt ngầm hoặc nổi, bên trong hoặc bên ngoài công trình Tiêu chuẩn diện tích một chỗ đỗ xe được qui định như sau9:
a) Môtô, xe máy: 3,0 m2/xe;
b) Xe đạp: 0,9 m2/xe;
c) Ôtô: 25 m²/xe
Trong hầu hết trường hợp, đặc biệt là tại các khu vực có bãi đỗ xe khan hiếm, người ta phải trả tiền để công viên được sử dụng tạm thành một bãi đỗ xe Trong nhiều trường hợp một số doanh nghiệp không có khu vực đỗ xe riêng của họ, có rất nhiều bãi
đỗ xe mà thực tế bất kỳ lái xe có thể trả một khoản phí để đỗ xe Một số không gian trong một bãi đỗ xe có thể được đánh dấu là "dành riêng" cho những người nhất định, bao gồm
cả những người tàn tật Thường có một hoặc nhiều chỗ đỗ xe cho người khuyết tật, trong
đó có thể được khá rộng, đỗ xe thường có lối vào và lối ra được kiểm soát bởi những người quản lý, nhân viên bảo vệ hoặc người soát vé
3.3.3 Mái che di động Mái che là một trong những sản phẩm được sử dụng phổ biến nhất hiện nay
Chúng có mặt ở khắp nơi từ nhà ở cho đến các hàng quán, nhà hàng, khách sạn công ty,
… Sản phẩm này không ngừng phát triển và cho ra đời những sản phẩm vô cùng hiện đại điển hình là sự xuất hiện của mái che di động
Mái che di động là sản phẩm mới vô cùng hiện đại và đã được rất nhiều người tin dùng Chúng được cấu tạo vô cùng đơn giản với cấu trục quay tay rất nhẹ rất dễ sử dụng đặc biệt cho người già và trẻ em vẫn có thể sử dụng được Và sản phẩm thiết kế hiện đại
9
Theo TIÊU CHUẨN QUỐC GIA TCVN 4319:2012 Nhà và công trình công cộng - Nguyên tắc cơ bản để thiết kế.
Trang 38nhất là dòng điều khiển từ xa Bạn không cần phải cất công di chuyển mà chỉ cần nhấn nút là bạt che có thể tự chạy ra chạy vào.10 Mái che được sử dụng nhiều hiện nay, nên đòi hỏi các cơ sở phải có những nguyên tắc và tiêu chuẩn để thiết kế mái che di động, bởi tùy vào những địa điểm, diện tích nơi sử dụng mà mỗi thiết kế sẽ khác nhau Để khai khác hết tác dụng của mái hiên di động, chúng ta cần phải tuân theo những nguyên tắc bố trí và lắp đặt sau:
Nguyên tắc 1: Khi làm mái che di động không nên làm quá dài hoặc quá ngắn Nếu bạn làm quá ngắn thì công dụng của mái che sẽ bị hạn chế nhiều Không thế phát huy được tối đa khả năng che chắn của sản phẩm Nếu bạn làm mái che di động quá dài có thể sẽ gây ảnh hưởng sẽ bị thừa ra đường phố, hoặc những thứ phía trước mái che, điều này có thể sẽ vô tình gây mất mỹ quan căn nhà, mỹ quan
đô thị hoặc cản trở giao thông Lưu ý là không nên lắp đặt mái che quá thấp, điều này cũng làm hạn chế đi công dụng của sản phẩm và gặp rất nhiều bất tiện khi thời tiết thay đổi Chính vì thế hãy làm mái che di động với kích thước vừa phải và phù hợp với không gian
Nguyên tắc 2: Đây cũng là một nguyên tắc mà cần luôn nhớ đó là trước khi làm mái che di động, bạn cần chắc chắn rằng mẫu thiết kế mái che của bạn đã đảm bảo được sự cân đối, độ bao phủ hợp lý, vừa phải Nếu như mái che của bạn bị quá khổ, khi lắp đặt sẽ khiến không gian của bạn sẽ bị choáng ngợp, xuề xòa, che khuất tầm nhìn hoặc tạo bầu không khí trở nên ngột ngạt, bối rối Ngược lại, nếu bạn làm mái che di động quá bé cũng sẽ khiến mái che trông rất lụp xụp, gây mất thẩm mỹ cho không gian của bạn
Nguyên tắc 3: Việc làm mái che di động cần chú ý đến độ thông thoáng, phải đảm bảo sao cho không gian của bạn vẫn đầy đủ ánh sáng, tươi tắn, mới mẻ hơn mà vẫn không ảnh hưởng đến vai trò che nắng che mưa của sản phẩm11
10 Máy hiên di động Gia Huy
11 http://maihienmaixep.com.vn/san-pham/nhung-nguyen-tac-luon-phai-nho-khi-lam-mai-che-di-dong.html
Trang 393.4 Các lý thuyết tiếp cận
3.4.1 Lý thuyết hệ thống
Xã hội bao giờ cũng tồn tại như một hệ thống toàn vẹn, thống nhất Trong một hệ thống có rất nhiều bộ phận cấu thành khác nhau Một hệ thống ở trong trạng thái cân bằng khi mà các phân hệ của nó đảm bảo được tính đồng bộ Sự phát triển quá nhanh hay chậm, sự bành trướng quá lớn hay thu hẹp quá mức, sự đổi mới quá nhanh hay lạc hậu quá độ, sự thay đổi quá sớm hay quá muộn ở thành phần này hay thành phần khác sẽ đưa đến “lệch pha”, điều đó cũng làm ảnh hưởng đến trạng thái của hệ thống12
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, nhóm nghiên cứu áp dụng lý thuyết hệ thống để phân tích cũng như đưa ra những giải pháp cụ thể thiết thực cho việc tổ chức lại không gian sinh hoạt tại phố đi bộ Bùi Viện Việc tạo ra một trạng thái cân bằng, ổn định là cần thiết khi không gian tại phố đi bộ được tổ chức, quản lý có nề nếp, trật tự, kĩ cương hơn Vấn đề an toàn được đưa lên hàng đầu làm cho bản thân người dân cảm thấy thoải mái, hứng khởi khi quyết định chọn phố đi bộ là nơi đi dạo, thư giãn trong những ngày cuối tuần bên người thân, bạn bè
Tốc độ phát triển của phố đi bộ Bùi Viện quá nhanh, vì vậy cần có sự quản lý của chính quyền để có tầm nhìn chiến lược cho tốc độ tăng trưởng mọi mặt về kinh tế, môi trường, xã hội Đây là ba mặt tất yếu cho sự phát triển bền vững, trong đó nhu cầu đi bộ đóng vai trò quan trọng về mặt xã hội Cụ thể là nhu cầu đi bộ cao chính là yếu tố tạo nên thương hiệu cho phố đi bộ Bùi Viện Sự bành trướng và mở rộng là chính sách cần thiết
để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao lượng khách tham quan đến với phố đi bộ
Trang 40định hướng vào chuỗi hành động đó”13 Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã hội
Phân loại của Max Weber
1 Hành động hợp lý về mục đích Loại hành động này căn cứ vào những mong đợi của đối tượng bên ngoài và coi đó là phương tiện để đạt được mục đích Hay đó chính là việc người hành động phải suy nghĩ và quyết định xem chọn mục đích nào, phương tiện nào
dụ như do tức ai đó mà đánh làm người ta phải đi viện…
Weber cho rằng tất cả các loại hành động của con người đều thuộc một trong bốn loại hành động này Tuy nhiên, sự tồn tại của bốn loại hành động này không phải độc lập với nhau mà chúng đan xen, bổ trợ và đặc biệt trong thực tiễn ranh giới giữa các hành động không phải lúc nào cũng có thể minh định được Theo Max Weber, hành động xã hội là hành vi của cá nhân mà cá nhâm đó gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nhất định Hành động xã hội phải là hành động có ý thức có mục đích hướng vào người khác
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu áp dụng lý thuyết hành động xã hội để lý luận về một số hành vi của người dân đối với việc đi bộ Ví dụ như là các hoạt động vui chơi giải trí, mua sắm, ăn uống, ca hát,…nhằm mục đích thỏa mãn nhu
13Theo Bùi Thế Cường, Các lý thuyết về hành động xã hội, Tạp chí Khoa học xã hội(TP.HCM), Viện khoa học xã
hội vùng Nam Bộ, số 6(94)/2006, trang 57-71.