Trong lịch sử triết học đã có nhiều triết gia, nhiều trường phái triết học đề cập đến vấn đề chính trị - xã hội và vì tính quy định của lịch sử thì những học thuyết ấy có thể có những hạ
Trang 1-
NGUYỄN DƯƠNG THANH NHÀN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 2-oOo -
NGUYỄN DƯƠNG THANH NHÀN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 8229001
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS VÕ VĂN DŨNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Võ Văn Dũng Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
Tác giả
Nguyễn Dương Thanh Nhàn
Trang 4thầy cô phòng Sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin được tỏ lòng biết ơn và gửi lời cám ơn chân thành nhất đến thầy, TS Võ Văn Dũng - người đã trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã chỉ bảo, định hướng và giúp đỡ tôi một cách tận tâm, nhiệt thành và đầy trách nhiệm mà nhờ đó tôi mới có thể hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song do khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân có hạn, nên luận văn không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót và hạn chế Vì vậy tôi rất mong được nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô nhằm bổ sung hoàn thiện trong quá trình nghiên cứu tiếp theo
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, anh chị em, bạn bè đã hỗ trợ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ 8
1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRUNG QUỐC THỜI XUÂN THU VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ 8
1.1.1 Về kinh tế 9
1.1.2 Về chính trị - xã hội 12
1.1.3 Về khoa học- văn hóa – giáo dục 18
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ 24
1.2.1 Văn hoá và tư tưởng truyền thống Trung Quốc - cơ sở lý luận của sự hình thành tư tưởng chính trị- xã hội của Khổng Tử 24
1.2.2 Quan điểm về con người trong tư tưởng Trung Quốc cổ đại - cơ sở hình thành tư tưởng chính trị- xã hội của Khổng Tử 31
Kết luận chương 1 41
Chương 2 TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ - NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ 43
2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ 43
Trang 62.1.2 Quan điểm thượng hiền trong tư tưởng chính trị- xã hội của Khổng
Tử 56
2.1.3 “Lễ trị” trong tư tưởng chính trị- xã hội của Khổng Tử 62
2.2 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ 68
2.2.1 Giá trị trong tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử 68
2.2.2 Hạn chế trong tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử 77
2.2.3 Ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử 81
Kết luận chương 2 91
KẾT LUẬN CHUNG 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vì sự tồn tại và phát triển đời sống của mình, con người cần phải có nhiều phương thức điều chỉnh hoạt động nhằm duy trì trật tự kỷ cương, ổn định xã hội Nhận thức được điều đó, con người dần dà đã nảy sinh những tư tưởng về chính trị - xã hội Tư tưởng chính trị - xã hội là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, một mặt bị quy định bởi cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội Cho nên hình thái ý thức loài người không thể tồn tại một cách đơn độc tách khỏi xã hội mà nó phản ánh đời sống hiện thực của xã hội loài người Trong lịch sử triết học đã có nhiều triết gia, nhiều trường phái triết học đề cập đến vấn đề chính trị - xã hội và vì tính quy định của lịch sử thì những học thuyết ấy có thể có những hạn chế nhất định nên nó không còn phù hợp với thời đại ngày nay, nhưng bên cạnh
đó những hạt nhân hợp lý vẫn còn những giá trị để chúng ta tham khảo và vận dụng một cách có chọn lọc vào điều kiện thực tiễn hiện nay, mà cụ thể là
tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử
Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cùng với nỗ lực đầu tư phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng kinh tế tri thức, thì một yếu tố không kém phần quan trọng cần chú ý đó là vấn đề vể chính trị - xã hội Thực tế ở Việt Nam cho thấy công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước ở nước ta trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu to lớn nhưng cũng tồn tại không ít những khó khăn, bất cập, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí chưa bị đẩy lùi” (Đảng Cộng Sản Việt Nam , 2016, tr.15) Trước
Trang 8thực trạng đó Đảng đã đưa ra nhiệm vụ trọng tâm là “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”( Đảng
Cộng Sản Việt Nam, 2016, tr 51) Trong tình hình đó, việc tham khảo
những giá trị của các tư tưởng chính trị - xã hội của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng là điều cấp thiết Tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng
Tử ra đời trong một giai đoạn lịch sử nhất định nên không thể không bị trói buộc bởi tính lịch sử của nó Nếu chúng ta gạt bỏ những hạn chế lịch sử thì vẫn còn đó những hạt nhân hợp lý đối với ngày nay
Như Hồ Chí Minh đã từng viết rằng: “Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta và nếu ông khăng khăng giữ những quan điểm cũ thì ông sẽ trở thành phần tử phản cách mạng Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ trái với dân chủ Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin!” (Hồ Chí Minh, 2000a, tr.453) Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã chọn nghiên cứu “Tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử và ý nghĩa lịch sử của nó” làm đề tài luận văn thạc
sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Khổng Tử là một triết gia lỗi lạc, nhà chính trị tài ba, nhà giáo dục kiệt xuất, được người đời sau tôn sùng là “vạn thế sư biểu” và là người sáng lập
ra Nho gia - một trường phái triết học lớn của Trung Quốc, nên nghiên cứu
về tư tưởng của Khổng Tử là đề tài được rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm và tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi những nội dung liên quan đến luận văn, có thể khái quát theo các hướng cơ bản sau:
Thứ nhất, Các công trình nghiên cứu về tư tưởng của Khổng Tử trong
dòng chảy của lịch sử triết học Trung Quốc nói chung Với nội dung này,
trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Đại cương
Trang 9triết học Trung Quốc của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (Nxb.Tp.Hồ Chí
Minh, 1992); Đại cương Triết học Trung Quốc của các tác giả Doãn Chính,
Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình (Nxb Chính trị quốc gia,
2004); Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan (bản dịch của Lê Anh Minh) (Nxb Khoa học Xã hội, 2013) Lịch sử triết học Phương Đông
do tác giả Doãn Chính chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, 2015); những công trình nêu trên, các tác giả đã trình bày một cách khái quát những nét tiêu biểu
về sự hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng triết học Trung Quốc, với những trường phái triết học, những triết gia gắn với những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử Trung Quốc, trong đó có hệ thống tư tưởng triết học của Khổng Tử Tuy nhiên, do lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu khá rộng nên các tác giả chỉ đề cập đến những tư tưởng cơ bản, mang tính khái quát, chưa đi sâu vào từng lĩnh vực trong tư tưởng của Khổng Tử Mặc dù vậy, những công trình trên thật sự là cơ sở dữ liệu quan trọng để tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử
Từ điển triết học Trung Quốc của tác giả Doãn Chính (Nxb Chính trị
quốc gia, 2009), đây là công trình nghiên cứu công phu, tập trung giải thích nội dung tư tưởng của các trào lưu triết học, các triết gia, các tác phẩm, các quan điểm tư tưởng qua hệ thống các thuật ngữ, khái niệm và phạm trù triết học Trung Quốc theo trình tự phát triển từ cổ đại đến cận hiện đại qua các văn bản có tính chất kinh điển từ tiếng Trung Quốc
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị- xã hội trong
lịch sử văn hoá Trung Quốc Trong nội dung này phải kể đến công trình: Sử
ký Tư Mã Thiên của Nhữ Thành dịch (Nxb Văn học, 1988) Sử Trung Quốc
của Nguyễn Hiến Lê (Nxb Văn hóa - Thông tin, 1992); Lịch sử văn hóa
Trung Quốc của Đàm Gia Kiện chủ biên do Trương Chính – Nguyễn Thạch
Giang – Phan Văn Các dịch (Nxb Khoa học Xã hội, 1999); Văn minh Trung
Hoa của Lưu Đông chủ biên do Thúy Lan, Đức Hạnh, Thái Hòa dịch và
Trang 10Nguyễn Văn Đồng hiệu đính (Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, 2018);… Các công trình nói trên đã trình bày tư tưởng chính trị - xã hội trong dòng chảy lịch sử văn minh của Trung Quốc, nhưng chỉ là sự khái quát trên tổng thể các mặt của đời sống xã hội, chưa thực sự đi sâu vào tư tưởng chính trị -
xã hội trong lịch sử
Trong đó phải kể đến Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần và giá trị của
nó của tác giả Võ Văn Dũng (Nxb Lý luận chính trị, 2019), trong tác phẩm
này tác giả đã phân tích điều kiện lịch sử xã hội cũng như cơ sở lý luận hình thành tư tưởng chính trị thời Tiên Tần, nghiên cứu các tư tưởng chính trị của các triết gia theo từng vấn đề cụ thể từ đó nêu bật lên đặc điểm, giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của tư tưởng chính trị thời Tiên Tần đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Do phạm vi nghiên cứu rộng với nhiều đại diện tiêu biểu của thời kỳ “bách gia - chư tử”
và Khổng Tử chỉ là một trong số nhiều triết gia mà tác giả đề cập đến cho nên tác phẩm chỉ khái quát những tư tưởng chính trị cơ bản, nhưng đây thật
sự là một đầu sách chuyên khảo quan trọng, bao hàm tư tưởng chính trị của Khổng Tử mà luận văn này nghiên cứu
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị- xã hội của
Khổng tử một cách chuyên biệt trong hệ thống tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc
Đối với một số công trình riêng biệt toàn bộ về tư tưởng của Khổng
Tử chủ yếu là các tác phẩm nghiên cứu riêng về Khổng Tử và tài liệu của một số tác giả chuyên nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu về tư tưởng của ông nói chung và tư tưởng chính trị - xã hội của ông nói riêng Trong đó phải
kể đến các tác phẩm : Bàn về Khổng Tử của Quang Phong (Nxb Sự thật, 1963); Trí tuệ Khổng Tử của Lí Anh Hoa, do Tạ Ngọc Ái, Nguyễn Văn Nghị, Nguyễn Viết Chi dịch (Nxb Văn hóa thông tin, 2002); Khổng Tử của Nguyễn Hiến Lê (Nxb Văn hóa - Thông tin, 2006); Khổng Tử của Nguyễn
Trang 11Khuê (Nxb Phương Đông, 2012); Tứ thư (trọn bộ 4 tập) bản dịch của Đoàn
Trung Còn (Nxb Thuận Hóa, 2006);…
Bàn về tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử còn có các tác giả
tiêu biểu với các tác phẩm nổi tiếng như: Khổng học đăng của Phan Bội Châu (Nxb.Văn học, 2010), Nho giáo của Trần Trọng Kim (Nxb Thời đại, 2012) và Khổng Tử - chân dung học thuyết và môn sinh của Nguyễn Khuê
(Nxb Phương Đông, 2012); các công trình này đã nghiên cứu lịch sử phát triển của Nho giáo từ thời kỳ của Khổng Tử đến triều đại nhà Thanh Các tác giả đã đứng trên lập trường, quan điểm của các nhà nho khi bàn về tư tưởng chính trị - xã hội
Bên cạnh đó, đề tài về Khổng Tử cũng được nhiều tác gỉả nghiên cứu riêng qua các bài báo, đăng trên các tạp chí khoa học như: “Quan điểm của Khổng Tử về giáo dục và ý nghĩa của nó” của Doãn Chính (Tạp chí Triết học
số 5, 2000), “Quan niệm về thế giới và con người trong triết học Khổng Tử” của Doãn Chính (Tạp chí triết học số 11, 2005), ““Nhân” trong Luận ngữ của Khổng Tử” của Lê Ngọc Anh (Tạp chí triết học số 11, 2004), “Quân tử và tiểu nhân trong Luận ngữ” của Trần Đình Thảo (Tạp chí Triết học số 6, 2009) Nguyễn Anh Quốc với “Tư tưởng về con người trong triết học Trung Quốc cổ đại” (Tạp chí Triết học số 11, 2015)… Luận văn, luận án về tư tưởng của Khổng Tử nói chung và tư tưởng chính trị - xã hội của ông nói
riêng cũng có nhiều công trình như: luận văn Tư tưởng của Khổng Tử về bản
tính con người và giáo dục con người, ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay của Đặng Thị Thúy Hoa (2002), luận văn
Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử trong tác phẩm " Luận ngữ" của Trần Kim
Oanh (2012), luận văn Phạm trù nhân trong triết học của Khổng Tử và ý
nghĩa lịch sử của nó của Phan Thị Ngọc Nhân (2013), luận văn Học thuyết
“Chính danh” của Khổng Tử và ý nghĩa lịch sử của nó của Võ Thị Thủy
(2013), luận văn Tính thống nhất của đạo đức và chính trị trong tư tưởng
Trang 12của Khổng Tử của Nguyễn Văn Ý (2015), luận văn Tư tưởng trị nước của Khổng Tử và ý nghĩa lịch sử của nó của Nguyễn Thị Kiều Oanh (2016),
Nhìn chung, các sách, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập những vấn đề liên quan đến học thuyết triết học của Khổng Tử nói chung và
tư tưởng về chính trị - xã hội của ông nói riêng Vì vậy đây thật sự là những
tư liệu quan trọng, có giá trị để làm cơ sở đi sâu tìm hiểu tư tưởng chính trị -
xã hội của Khổng Tử và ý nghĩa lịch sử của nó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử ; giá trị và hạn chế trong tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử và ý nghĩa lịch sử của nó
- Phạm vi nghiên cứu: Học thuyết của Khổng Tử bao hàm nhiều nội dung nhưng trong khuôn khổ của luận văn, chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử và từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở làm rõ bối cảnh lịch
sử và tiền đề hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử, từ đó phân tích những nội dung cơ bản, rút ra những giá trị cũng như hạn chế của
tư tưởng này và ý nghĩa lịch sử của nó
- Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải giải quyết
các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát tiền đề xã hội và tiền đề lý luận của tư tưởng chính
trị - xã hội của Khổng Tử
Thứ hai, phân tích nội dung cơ bản, từ đó rút ra giá trị, hạn chế trong
tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử và ý nghĩa lịch sử của nó
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan
và phương pháp luận của triết học Mác – Lênin
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp như phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, lịch sử - logic, so sánh – đối chiếu, phân tích văn bản học,…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ tư tưởng chính trị - xã hội của Khổng Tử, chỉ ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng này đối với xã hội đương thời và ý nghĩa lịch sử của nó
- Về thực tiễn: Luận văn được thực hiện và bảo vệ thành công thì có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu các môn lý luận chính trị, lịch sử triết học, đạo đức học,… tại các trường học và các đối tượng quan tâm đến đề tài
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ
1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRUNG QUỐC THỜI XUÂN THU VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ
Khổng Tử tên đầy đủ là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ra tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) vào năm 551 Tr CN, thời vua Chu Linh Vương – Lỗ Tương Công Cha là Thúc Lương Ngột làm một chức quan võ nhỏ ở nước
Lỗ, mẹ là bà Nhan Thị (Trưng Tại) Thuở nhỏ Khổng Tử đã thích tìm hiểu lễ
và thường chơi trò bày mâm bàn cúng tế với bọn trẻ hàng xóm Ở tuổi thiếu niên, ông dốc tâm vào việc học, làm một vài chức quan nhỏ, đi ngao du các nước để nghiên cứu về lễ Vào năm ba mươi sáu tuổi ông trở về nước Lỗ mở lớp dạy học và nghiên cứu Đạo học Đến năm 500 Tr.CN vua Lỗ Định Công phong cho Khổng Tử làm quan Trung Đô Tể lo việc cai trị ở ấp Trung Đô, một năm sau ông được thăng làm quan Tư không (chuyên quản lí việc xây dựng công trình) rồi thăng lên Đại Tư khấu (tương đương Hình Bộ Thượng thư – coi việc hình án) Đến năm 496 Tr CN, vua Lỗ ham mê tửu sắc, bỏ bê triều chính, Khổng Tử thấy chán nản bèn từ chức, rời nước Lỗ tiếp tục ngao
du các nước Khi đã sáu mươi tám tuổi ông mới trở về nước Lỗ, sau mười ba năm truyền bá học thuyết của mình nhưng không được vua các nước chư hầu trọng dụng, ông mở trường dạy học và bắt tay vào nghiên cứu, san định Kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch của đời trước để lại, viết sách Xuân Thu để truyền
bá tư tưởng của mình Ông mất vào năm Chu Kính Vương thứ 41 – năm thứ
16 đời Lỗ Ai Công, tức năm 479 Tr CN
Khổng Tử sinh ra và lớn lên vào thời Xuân thu – Chiến quốc (từ năm
Trang 15771 đến năm 221 Tr CN), là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại Trong thời kỳ này, xã hội Trung Quốc bước qua một bước ngoặt lớn trong cả kinh tế, chính trị - xã hội, khoa học,… cũng như sự quyết liệt trong phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp Thực chất, đây là thời kì quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên chế độ phong kiến sơ kỳ ở Trung Quốc Thời đại lịch sử biến chuyển sôi động đặc biệt đó đã đặt ra một loạt những vấn đề mới, đòi hỏi các nhà tư tưởng phải tìm ra nhiều cách khác nhau để lý giải, từ đó ra đời hàng loạt các trường phái triết học Trong đó có sáu trường phái lớn được Tư Mã Đàm – cha của sử gia nổi tiếng Tư Mã
Thiên đề cập trong Luận lục gia yếu chỉ bao gồm Nho gia, Mặc gia, Đạo gia,
Danh gia, Âm Dương gia, Pháp gia Bên cạnh đó còn có Đông gia, Tung Hoành gia, Tạp gia, Minh gia, Tiểu thuyết gia,…với rất nhiều các triết gia lỗi lạc như: Khổng Khâu, Mặc Địch, Lão Đam, Dương Chu, Mạnh Kha, Trang Chu, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng, Huệ Thi, Công Tôn Long, Hàn Phi,… Dựa vào sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học cũng như số lượng các triết gia mà người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ “bách gia” (trăm nhà) và “chư tử” (nhiều thầy) Đây không chỉ là mốc son chói lọi trong đời sống văn hóa -tinh thần của nhân dân Trung Quốc mà còn của cả lịch sử văn hóa phương Đông
1.1.1 Về kinh tế
Các Mác đã từng nói “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995e, tr.15) Chính trị, với tư cách là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng sẽ chịu sự tác động và chi phối của cơ sở hạ tầng Cho nên, việc nghiên cứu tư tưởng chính trị- xã hội ở bất kỳ thời đại nào đều phải được bắt đầu từ việc nghiên cứu về kinh tế, nếu không thì chúng ta không thể có cái nhìn khách quan về nó Khi đã hiểu chính xác về phương thức sản xuất của
xã hội lúc bất giờ và những mâu thuẫn vốn có trong xã hội thì chúng ta mới
Trang 16có thể hiểu đúng về tư tưởng con người được hình thành và phát triển
Từ khi xuất hiện đến nay, con người đã lần lượt trải qua bảy bước nhảy đột biến trong quá trình sáng tạo ra các công cụ, phương tiện kĩ thuật có tính năng vượt trội so với trước đó và đã sử dụng chúng rộng rãi hơn trong sản xuất và các hoạt động sinh sống hàng ngày của con người, làm cho năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động của con người được nâng cao rõ rệt; hay nói cách khác, nhân loại đã trải qua bảy cuộc cách mạng kỹ thuật Thực chất, cách mạng kỹ thuật là sự xuất hiện và ứng dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ mới có tác dụng làm biến đổi tận gốc rễ các công cụ, phương tiện lao động, nguyên – nhiên liệu của sản xuất, nó tạo nên bước ngoặt căn bản trong sự phát triển sản xuất và đời sống
Tại Trung Quốc, thời kỳ nhà Hạ với sự xuất hiện của đồ đồng đã dần đưa con người thoát khỏi hình thái kinh tế- xã hội công xã nguyên thủy Hơn
1000 năm sau, “nền kinh tế có nhiều biến động lớn do sự xuất hiện của nông
cụ bằng sắt” (Võ Văn Dũng, 2019, tr.12) thì triết học, khoa học phát triển mạnh mẽ làm cho xã hội Trung Quốc cổ đại xáo trộn về mọi phương diện
Từ sự xuất hiện của công cụ bằng sắt, các công cụ lao động hữu dụng, tinh xảo hơn lần lượt ra đời như cày, bừa, cuốc có thể đào sâu hơn; những dao, búa để có thể khai hoang rừng rậm; những công cụ để đào kênh, khai thông, phát triển thủy lợi phục vụ cho phát triển nông nghiệp làm cho diện tích đất đai canh tác được tăng lên rất nhiều Việc thay thế sức kéo của trâu, bò cho sức người diễn ra phổ biến, kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến, năng suất lao động trong nông nghiệp được tăng cao Vua, quan muốn phát triển nhanh chóng nên đã bỏ đi phép “tỉnh điền”, cho dân tự khai phá những vùng đất mới, để có thể thu thuế bằng lúa được nhiều hơn
Nói thêm về chế độ “tỉnh điền”, đây là chế độ phân chia ruộng đất xuất hiện thời Ân Thương – Tây Chu, theo đó vua dùng phép tỉnh điền, nghĩa là chia một khu đất ra làm 9 mảnh theo hình chữ “tỉnh”, trong đó 8
Trang 17mảnh đất chung quanh là tư điền, 1 mảnh ở giữa là công điền Như vậy với mỗi khu, 8 nhà có ruộng tư điền để canh tác riêng, nhưng đều phải cùng nhau cày cấy ruộng công điền rồi nộp hoa lợi khoảng một phần mười số lúa canh tác được cho nhà vua Sự định canh, định cư của chế độ tỉnh điền đã làm thay đổi phương thức sinh hoạt của các bộ tộc du mục Từ đầu thời Chu đến Chu Mục Vương, do đất rộng, người ít nên tình hình nông nghiệp và đời sống nông dân ổn định, quốc gia giàu có Đến thời Xuân thu, dân số tăng dần cùng với những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp, người ta thấy không cần phải chia ruộng đất theo định kì, mà chuyển thành giao hẳn cho từng gia đình cày cấy lâu dài để nông dân yên tâm sản xuất trên mảnh ruộng của mình, thúc đẩy khai hoang, mở đất, làm ra được nhiều của cải để đóng thuế cho triều đình nhiều hơn Giai cấp quý tộc quyền thế cũng từ đó mà chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tư
Sự phát triển của nông nghiệp kéo theo nhu cầu về công cụ lao động tăng cao nên nhờ đó mà thủ công nghiệp phát triển mạnh Nông dân thì muốn có cày, dao, búa, cuốc, … để đào kênh, khai hoang, tăng gia sản xuất; triều đình thì muốn có vũ khí để giữ hòa bình và phát động chiến tranh bành trướng lãnh thổ Từ những nhu cầu đó thúc đẩy hàng loạt các ngành thủ công nghiệp ra đời như nghề rèn, nghề mộc, nghề làm gốm,… Trong đó “Thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần,…” (dẫn theo Doãn Chính, 2015, tr 250)
Trên cơ sở phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, của cải được tạo ra ngày càng nhiều, thúc đẩy việc giao thương, trao đổi hàng hóa làm cho thương nghiệp từ đó cũng có bước tiến lớn Tạo nên tầng lớp thương nhân giàu có - tầng lớp này nắm về kinh tế, và có ý định khuếch trương thế lực về chính trị Nhưng ở Trung Hoa thời bấy giờ, nghề buôn bán được xem
là nghề hèn mọn nhất, theo quan điểm “ nông bản, thương mạt” Dẫu vậy, do
Trang 18sự mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm mà nông vẫn còn là “bản”, nhưng thương nhân không còn là “mạt” nữa, không còn chủ trương “ức thương” được nữa, vì có nhiều nông dân, thậm chí cả quan lại, công tử (con vua chư hầu - theo chế độ tông pháp thời Tây Chu thì người kế tục vua là con trai trưởng hay còn gọi là trưởng tử, con trai thứ hay còn gọi biệt tử phải phân chia đi lập riêng nhà cho mình) khi còn nghèo đều phải vay tiền của họ Dần
dà trong xã hội nảy sinh một tầng lớp quý tộc mới với thế lực ngày càng
mạnh tìm cách tranh giành quyền lực với quý tộc cũ Theo Sử Trung Quốc
có viết: “Bọn phú thương có tên tuổi trong sử như Phạm Lãi, Đoan Mộc Tứ chẳng những muốn buôn bán hàng hóa mà còn muốn buôn cả vua nữa như
Lã Bất Vi Chính bọn đó rất mong muốn thống nhất Trung Quốc để hàng hóa
dễ lưu thông từ miền này qua miền khác, khỏi phải trả thuế khi phải qua nhiều cửa ải vào đất một nước khác” (Nguyễn Hiến Lê, 2017, tr.88)
Có thể nói sự phát triển của phương thức sản xuất đã làm cho nền kinh tế phong kiến sơ kỳ dần được xác lập, cùng với đó là những mâu thuẫn
xã hội diễn ra gay gắt Tư tưởng chính trị- xã hội của Khổng Tử cũng được hình thành trong xã hội ấy để điều hòa những mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với quý tộc; giữa quý tộc cũ và quý tộc mới đang ngày càng lớn mạnh Như vậy điều kiện kinh tế có vai trò rất to lớn đối với sự hình thành tư tưởng chính tri- xã hội của Khổng Tử
1.1.2 Về chính trị - xã hội
Tư tưởng của một con người không chỉ bị tác động bởi điều kiện kinh
tế mà còn chịu sự tác động của điều kiện chính trị- xã hội lúc bấy giờ Bởi mỗi điều kiện đều có vai trò tác động đến việc hình thành nên tư tưởng của một con người Chính trị là một lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng tầng, nó được nảy sinh trong xã hội có giai cấp, có nhà nước và nó mang tính giai cấp Như vậy, tư tưởng chính trị của Khổng Tử cũng chịu sự chi phối nhất định của quan điểm giai cấp lúc bấy giờ Bên cạnh đó, con người sinh ra
Trang 19vốn chưa có tư tưởng và tư tưởng chỉ được hình thành trong quá trình con người sống, lao động và giao tiếp Quá trình đó bao gồm nhiều yếu tố, nhưng yếu tố xã hội là một trong những yếu tố quyết định đối mới việc hình thành nên tư tưởng
Vào trước thời nhà Chu, ngôi vua được truyền cho em cùng mẹ, vua không có em thì mới truyền đến con; người em lên ngôi, khi mất đi lại truyền cho người con của anh mình Đến bốn đời vua cuối cùng của nhà Thương thì bắt đầu truyền ngôi cho con trai trưởng và từ đó thành tục lệ cho các triều đại sau trong đó có nhà Chu Chu Văn Vương mặc dù có vài người em nhưng truyền ngôi cho con là Cơ Phát, xưng hiệu là Chu Vũ Vương Chế độ truyền
tử đó được Chu Công Đán – một chính trị gia tài ba, là em của Chu Vũ Vương qui định và từ đó chế độ tông pháp nhà Chu được xác lập Điểm cơ bản nhất của chế độ tông pháp là sự phân biệt đại tông và tiểu tông, muốn xác định rõ thì phải bắt nguồn từ thủy tổ của một gia tộc Thủy tổ của một nước chư hầu thời nhà Chu thường là biệt tử (con trai thứ) của vua nhà Chu, còn Thiên tử nhà Chu sẽ được truyền cho con trai trưởng gọi là đại tông Các biệt tử phải chia đi lập riêng nhà cho mình (gọi là tiểu tông), trở thành thủy
tổ của nhà đó Con trai trưởng, cháu trai trưởng của biệt tử cũng thế tập theo truyền thống con trưởng thừa kế, đời này sang đời khác, lại trở thành đại tông Gọi là đại tông hay tiểu tông chỉ mang tính tương đối, lấy hệ qui chiếu với thiên tử nhà Chu (tức trưởng tử) thì biệt tử là tiểu tông, biệt tử truyền ngôi cho con trưởng thì trở thành đại tông
Theo chế độ tông pháp, nhà Chu đã bắt đầu chế độ chia đất phong vương cho con cháu và những người có công với đất nước, nó tạo ra một sợi dây ràng buộc về huyết thống, kinh tế, chính trị nhằm thiết lập quan hệ họ hàng chung, lấy việc bảo vệ tộc quyền, phụ quyền, phu quyền làm trung tâm, nhằm nhất thể hóa quan hệ quân – thần với phụ tử, “di hiếu tác trung” (chuyển từ hiếu với cha mẹ sang trung với vua) Điều này giúp nhà Chu
Trang 20hưng thịnh trong một thời gian dài Nhưng ngay sau đó, việc phân chia các nước chư hầu đã bộc lộ nhược điểm Đó chính là việc lãnh thổ của nhà Chu càng ngày càng hẹp lại vì phải chia đất cho con cháu và bị các bộ tộc phía Tây cướp bóc Bên cạnh đó sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các nước chư hầu nhà Chu dẫn đến cục diện chiến tranh bành trướng lãnh thổ diễn ra khốc liệt giữa các nước chư hầu làm cho quan hệ giữa Thiên tử nhà Chu với vua các nước chư hầu dần lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, chế độ Tông pháp không còn được tôn trọng Một số nước chư hầu còn mượn danh Thiên
tử để âm mưu bành trướng thế lực và lãnh thổ, xâm lược các nước nhỏ, mưu tính việc “bình thiên hạ”
Số lượng nước chư hầu thời Tây Chu có hàng nghìn, tới cuối Xuân thu chỉ còn lại trên một trăm Nhưng trong số một trăm đó chỉ có năm nước là hùng mạnh, thay nhau làm xưng hùng xưng bá, hay còn gọi là ngũ bá: Tề, Tần, Tống, Tấn, Sở; đến cuối Xuân Thu thêm hai nước mạnh nữa là Ngô và Việt ở phía đông nam Những quốc gia này hùng mạnh và chi phối các nước khác là do các vua trị vì dùng chính sách cai trị “bá quyền, bá đạo”, dựa trên sức mạnh bạo lực hoàn toàn đối lập với cách cai trị “vương đạo” lấy nhân nghĩa, đạo đức để thu phục quần thần
Trong Ngũ bá, Tề Hoàn Công là người đầu tiên xưng bá chủ, ông thường được xếp vào hàng đầu tiên của danh sách Ngũ bá Ông vốn là công
tử (ở các nước chư hầu thời bấy giờ, vua xưng hiệu là công, con vua chư hầu được gọi là công tử) Khương Tiểu Bạch của nước Tề, em của Tề Tương Công Sự nghiệp của ông bắt đầu khi Công Tôn Vô Tri là em họ và cũng là người sát hại, soán ngôi Tề Tương Công, khiến anh em của Bạch phải tháo chạy ra nước khác Sau khi Công Tôn Vô Tri bị giết, lúc bấy giờ anh em của
Tề Tương Công mới quay trở về đất nước để kế vị Khương Tiểu Bạch tranh ngôi với anh trai mình là Khương Củ, ép vua Lỗ - người đã ủng hộ Củ, phải giết Củ; sau khi lên ngôi ông lại trọng dụng bề tôi của Củ là Quản Trọng,
Trang 21phong chức đại phu cùng với Cao Hề, Bảo Thúc Nha và Thấp Bằng sửa sang chính sự nước Tề Từ đó nước Tề trở nên giàu mạnh Những ngày cuối đời của Tề Hoàn Công thật sự thê thảm, Tề Hoàn Công có 6 người con trai, ông lập công tử Khương Chiêu làm thái tử Khi đã già yếu, ông cùng Quản Trọng ủy thác Khương Chiêu cho Tống Tương Công giúp đỡ Tề Hoàn Công lâm bệnh nặng, Khai Phương, Dịch Nha, Thụ Điêu (ba gian thần mà Tề Hoàn Công đã trọng dụng khi Quản Trọng qua đời) cho xây tường rào bao cung điện, đuổi hết mọi người ra, bỏ đói Tề Hoàn Công đến chết Tháng 10 năm 643 Tr.CN, Tề Hoàn Công qua đời ở tuổi 73 và trị vì được 43 năm Các công tử của Tề Hoàn Công tranh nhau làm vua, cuối cùng công tử trưởng
là Khương Vô Khuy tranh ngôi bị anh em hãm hại, công tử Chiêu được Tống Tương Công ủng hộ lên làm vua, xưng hiệu là Tề Hiếu Công Do các con ông mải mê tranh chấp quyền lực, cho đến tháng 12 năm 643 Tr.CN tức là gần hai tháng sau khi mất, ông mới được làm lễ nhập quan và tới tháng 8 năm sau (642 Tr.CN) mới được mai táng Bên cạnh đó, thời Xuân thu những
vụ thí quân (kẻ tôi tớ giết bề trên) có thể lên đến vài trăm vụ điển hình như Hùng Thương Thần giết cha là Sở Thành Vương, lên ngôi tức Sở Mục Vương (626 Tr.CN),Thôi Trữ giết vua Tề Trang Công (554 Tr.CN), Trần Thành Tử giết vua Tề Giản Công (481 Tr.CN),…
Cũng nói thêm, sự thay đổi trong chế độ Tông pháp thời Chu còn thể hiển ở chỗ lúc bấy giờ, các nước chư hầu nhà Chu đều dùng người trong công tộc, có quan hệ huyết thống để giữ những chức vụ quan trọng trong Tam công (Thái sư, Thái phó, Thái bảo), Tam cô (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo) và Lục khanh (sáu người đứng đầu những cơ quan chuyên biệt) là những cố vấn cho nhà vua Nhưng Khổng Tử là một trường hợp đặc biệt, là người không nằm trong công tộc, nhờ có tài, đức mà khi ở nước Tề từng được Tề Cảnh Công có ý định cất nhắc ông vào bậc trung khanh, sau ông về
Trang 22nước Lỗ được Lỗ Định Công thăng cho chức Đại Tư Khấu ( tương đương Hình bộ Thượng thư) và cho nắm quyền tể tướng
Sự phát triển vượt bậc của kinh tế đã dần dà nảy sinh trong lòng xã hội Trung Quốc thời Xuân thu tầng lớp quý tộc mới – những thương nhân giàu
có Trong khi quý tộc mới ngày càng đi lên về địa vị kinh tế cũng như chính trị, thì quý tộc cũ dần dần mất đi vị thế của mình Mỗi khi một nước chư hầu
bị xâm lược, những người thuộc tầng lớp quý tộc cũ bị mất địa vị, trường hợp của Khổng Tử là một ví dụ Tổ tiên của ông là quý tộc của nước Tống, khi nước Tống bị Sở bao vây gia đình ông phải chạy nạn sang nước Lỗ, đến đời ông thì gia đình túng thiếu, phải làm chức gạt thóc và trông coi việc chăn nuôi để dùng vào việc cúng tế, có thể xem là những chức thấp nhất trong chính quyền Còn về phần nông dân, xã hội càng loạn thì cuộc sống của họ càng khổ, ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện những mưu đồ xâm lược của các tập đoàn quý tộc, còn phải đóng sưu thuế nặng nề, có khi còn bỏ cả việc đồng áng để đi xây đồn, đào hào, chở quân nhu, xây cất cung điện cho quý tộc Đời sống cơ cực là thế, nên họ càng nhớ về cuộc sống ở thời đại trước đây, thời công xã nguyên thủy, thời còn chế độ bộ lạc, đất đai là của chung, gieo lúa rồi gặt mà ăn, đào giếng lấy nước mà uống, chẳng phải lo nộp thuế cho ai, chẳng có người bóc lột người, chẳng có tranh giành quyền lực, luân lý đạo đức được giữ vững như thời của vua Nghiêu, vua Thuấn – điều này đã được Khổng Tử nhắc đến trong những bài giảng cho môn sinh của mình và được cụ thể hóa trong học thuyết của ông
Cục diện chiến tranh giữa các nước chư hầu ngày càng khốc liệt, tầng lớp quý tộc ngày càng bóc lột sức lao động của dân nghèo làm cho mâu thuẫn trong xã hội ngày càng sâu sắc, lễ nghĩa nhà Chu ngày càng băng hoại biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội như “tiếm ngôi việt vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu Cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em tranh giành, vợ chồng chia lìa xảy ra ngày một
Trang 23nhiều hơn và nó trở thành một vấn nạn lớn của xã hội Điển hình như Sở Bình Vương giết ba người anh của mình để lên ngôi, rồi lấy luôn con gái của Tần Ai Công là Bá Doanh - người mà ban đầu ông định cưới cho con mình
là thái tử Kiến, nhưng vì Bá Doanh quá xinh đẹp nên Sở Bình Vương giữ lại làm vợ mình và sinh ra công tử Trân; về sau Sở Bình Vương lại tin lời gian thần Phí Vô Cực mà giết hai cha con Ngũ Xa và Ngũ Thượng, Ngũ Tử Tư vì trả thù cho cha và anh trai đã mượn quân nước Ngô về phá nát quê hương,… Theo Khổng Tử tình hình loạn lạc đó xảy ra ngày càng nhiều, nó tác động rất lớn đến quyền uy của giai cấp thống trị thời bấy giờ Khi Tề Cảnh Công bàn
về chính sự với Khổng Tử, Cảnh Công phải thừa nhận rằng: “ Nghĩ như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, ở trong tình cảnh hỗn loạn như thế, dẫu ta có lúa đầy kho, có chắc được ngồi yên mà
ăn chăng?”(Luận Ngữ, Nhan Uyên,11)
Cơ cấu xã hội thay đổi sâu sắc, sự phát triển vượt trội của kinh tế kéo theo chiến tranh loạn lạc liên miên đã làm cho chế độ công xã nông thôn tan
rã Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần thống trị Nhất là việc mua bán ruộng đất được tự do hóa làm các quý tộc và địa chủ chiếm hết ruộng đất, nông dân phải đi làm thuê cày mướn Mâu thuẫn giai cấp ngày càng lớn, đẩy xã hội đến nguy cơ nghiêm trọng Chính trong giai đoạn lịch sử biến chuyển sâu sắc như vậy, những vấn đề về chính trị, xã hội, về luân lý đạo đức được quan tâm Từ đó xuất hiện nhiều nhà tư tưởng cùng với nhiều giải pháp “cứu đời, cứu người”
Sự biến động của điều kiện chính trị- xã hội thời Xuân Thu- Chiến Quốc đã làm cho tư tưởng của các lãnh chúa và các triết gia lúc bấy giờ có nhiều thay đổi Đó là sự thay đổi tư tưởng “kính thiên” sang tư tưởng “thân dân” Sự thay đổi này là phù hợp với sự phát triển chung của xu thế xã hội, nhất là đối với giai cấp bị trị Trong Tả truyện, Chiêu công năm 18 có viết
“đạo giời xa, đạo người gần, không thể đạt đến đạo giời vậy” Các nhà tư
Trang 24tưởng thời kỳ này tuy đề cập đến dân nhưng không phải là tư tưởng “trọng dân” như nhiều nhà khoa học vẫn đề cập đến Mà bởi vì các lãnh chúa luôn ở trong tình trạng hoặc là mở rộng lãnh thổ, hoặc là bị mất lãnh thổ vào tay người khác Trước thực trạng đó các lãnh chúa không thể dựa vào trời mà phải dựa vào sức dân, đây một trong những công cụ tốt nhất để bảo toàn lãnh thổ Những trường phái triết học Trung Quốc cổ đại đã ra đời trong điều kiện như thế, với hàng trăm triết gia cùng nhau tạo nên không khí sôi động của đời sống xã hội lúc bấy giờ, mà người ta còn gọi là “bách gia chư tử” – giống như “trăm hoa đua nở, muôn chim cùng hót” Và Nho gia, chính là một trong những trường phái như vậy
1.1.3 Về khoa học- văn hóa – giáo dục
Thời Xuân thu, số lượng nước chư hầu giảm nhiều và mỗi khi một nước nhỏ bị thôn tính thì một số quý tộc bị mất địa vị, trở thành những người
“sĩ” hoặc dân thường Dù mất địa vị nhưng của cải họ vẫn còn nhiều, không
lo đến vấn đề tài chính nên bắt đầu giành thời gian cho việc học, việc nghiên cứu, làm cho tầng lớp “sĩ” này phát triển nhanh chóng Lúc bấy giờ có thể phân thành ba loại chính: Học sĩ (những người nghiên cứu về học thuật, lễ nghi, triết học,…); Sách sĩ (hay còn gọi là biện sĩ, là những nhà giỏi biện luận, thuyết phục những người cầm quyền) và Phương sĩ (là những nhà thiên văn học, y học, nông học,…) Địa vị của tầng lớp “sĩ” này càng tăng, do các vua chư hầu tìm cách thôn tính lẫn nhau, nước nào muốn tồn tại được cũng phải dùng quân sư, các nhà ngoại giao, quân sự, kinh tế nên các ông vua
tranh nhau chiêu hiền đãi sĩ
Lĩnh vực thiên văn học đã xuất hiện ở Trung Quốc từ rất sớm, từ thời
đồ đá cách đây hơn 6.000 năm, họ đã biết sử dụng kiến thức về thiên văn, áp dụng quan trắc vào mọi mặt của cuộc sống Đến thời Xuân thu, phép chiêm tinh bắt đầu phát triển, theo đó người ta quan sát những biến đổi của hiện tượng thiên văn và dựa vào đó để đưa ra những phán đoán cát – hung, phúc –
Trang 25họa Thời này, những sự kiện nổi bật về thiên văn học đã được ghi nhận như:
37 lần “Nhật hữu thực chi” (hiện tượng nhật thực) và phải kể đến sự phát
hiện Tuệ tinh (sao chổi) vào năm 613 Tr.CN, trong Tả truyện – năm Văn
công thứ 14 có ghi “Thu thất nguyệt…hữu tinh bột nhập vu Bắc Đẩu” (tháng bảy mùa thu… có sao chổi nhập vào Bắc Đẩu), đây là ghi chép sớm nhất về sao chổi Harley Theo các nhà nghiên cứu, thời kì này cũng bắt đầu xuất hiện các tính toán về độ dài của một năm tương đối chính xác là 365,25 ngày, là tiền đề cho sự ra đồi của hệ thống Âm-Dương lịch khá hoàn chỉnh Hệ thống lịch này về sau được điều chỉnh thêm một số lần, càng ngày càng chính xác
Trong y học thời kì này, vu (phù thủy) và y (khám, chữa bệnh) dần dần
tách ra Đã có ghi chép về thầy thuốc sử dụng phương pháp chẩn đoán bệnh bằng cách nhìn và nghe, phương pháp bắt mạch cũng từng được ghi chép lại
vào thời Xuân Thu Biển Thước là một danh y lúc bấy giờ, trong Sử ký –
Biển Thước thương công liệt truyện có nói rằng ông bắt bệnh qua “thiết
mạch, vọng sắc, thính thanh, tả hình, ngôn bệnh” tức là bắt mạch, nhìn màu sắc, nghe âm thanh, nhìn dáng hình mà nói ra bệnh Người Trung Quốc thời
kì này đã biết ăn uống sao cho có lợi cho sức khỏe hay còn gọi là thực liệu dưỡng sinh, thời Xuân thu đã có hệ thống chức quan về ẩm thực, dưỡng sinh tương đối hoàn chỉnh, đã đặt ra các chức quan như y sư, thực y, tật y, dương
y và có phân công rõ ràng với chức trách là điều hòa ẩm thực và kiêm sử dụng các dược liệu để phòng ngừa bệnh tật, “căn cứ theo ghi chép tại Chu lễ
- Thiên quan: thực y nắm giữ các món ăn ngon, trăm loại gia vị; tật y nắm giữ ngũ vị, ngũ cốc, ngũ dược, coi sóc bệnh tật của vạn dân, người xưa đã xếp ngũ vị, ngũ cốc lên trên ngũ dược” (Lưu Đông, 2018, tr.598)
Trong Toán học: Trung Quốc là một trong những nước sớm nhất biết
xem trọng việc giáo dục Toán học, vào thời kỳ đầu nhà Chu, những nhà nho còn được gọi là “Sỹ” tinh thông văn chương lục nghệ (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số), ý nghĩa quan trọng của Toán học đã được biết đến từ đó Có thể thấy từ
Trang 26thời nhà Chu, Toán học đã được mang vào nội dung chương trình học Mặc
dù thời Xuân Thu chưa có nhiều thành tựu quá nổi bật về toán học nhưng đã
đặt nền móng cho sự ra đời của sách Chu bễ toán kinh - được hoàn thành
vào khoảng năm 100 – 50 Tr.CN Trong đó có thể kể đến như trong sách
Thượng Thư ghi chép, nhiều loại con số như “ức triệu”, “triệu dân”; trong Kinh Thi cũng thấy xuất hiện các số “thiên ức”
Còn về phép đo lường lại có sự phát triển đáng kể, do những chư hầu thi hành chính sách riêng nên vấn đề đo lường khá hỗn loạn, sản xuất phát triển đòi hỏi phải đưa ra đơn vị để “cân đong đo đếm” hàng hóa, như mỗi cân ở nước Tề bằng 198.4 gram, ở Ngụy là 212.6 gram, ở Sở bằng 227.2 gram,… Điều này cũng được Khổng Tử đề cập đến : “cẩn quyền lượng” (có nghĩa là chỉnh đốn đơn vị đo lường) cùng lúc với “tu phế quan, cử dật dân” Các thước đo thời Xuân Thu còn truyền lại được thì độ dài đều trong khoảng 22.5 đến 23.1 cm
Về Nông học, thời kì này công cụ bằng sắt đã được sử dụng rộng rãi
Cày bằng sắt ra đời, hiệu quả tuy cao nhưng sức người bỏ ra cũng lớn, cùng với việc sử dụng cày bằng sắt thì việc giải quyết vấn đề sức kéo cũng cấp thiết Trâu cũng vì thế mà được coi là một loại sức kéo ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp Sau khi phát minh ra việc dùng sức trâu để làm ruộng, nông dân không chỉ có thể thâm canh, tân dụng đất đai tốt hơn mà còn có thể
mở rộng diện tích canh tác, đây thực sự là một cuộc cách mạng lớn trong kỹ thuật canh tác cổ đại Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, việc tưới tiêu thủy lợi càng được coi trọng, nhiều công trình thủy lợi lớn được khởi công xây dựng Công cụ tưới tiêu đầu tiên xuất hiện là gầu nước hoạt động theo nguyên lý đòn bẩy để lấy nước Trong ngành chăn nuôi gia súc, thời Xuân thu không chỉ cần một số lượng lớn ngựa, trâu mà quan trọng hơn là ngựa phải tốt, trâu phải khỏe để cung cấp cho quân đội và cho sản xuất Các gia súc bị thương cần phải chữa trị, điều này kéo theo sự phát triển của ngành
Trang 27thú y và kỹ thuật chăn nuôi gia súc, tương ứng với sự phát triển mới này, Trung Quốc bắt đầu xuất hiện nhiều tác phẩm nông học, theo ghi chép có các
sách như Thần Nông, Dã lão, Thần nông giáo điền – Tương thổ canh tác,…
Về Văn học, nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng được ra đời vào thời
nhà Chu, phải kể đến như Kinh Thi – là bộ tổng tập thơ ca đầu tiên của Trung
Quốc với gần 305 bài trong vòng hơn 500 năm (từ những năm đầu Tây Chu đến giữa Xuân thu), chia làm ba loại là Phong, Nhã, Tụng Phong là dân ca của 15 nước Nhã là âm nhạc vương triều nhà Chu, chia thành hai loại là Đại Nhã và Tiểu Nhã Tụng là nhạc múa dùng trong tế tự ở tông miếu, chia thành
ba loại là Chu Tụng, Lỗ Tụng và Thương Tụng Kinh thi phản ánh rộng rãi đời sống xã hội thời Chu, trong đó Phạt đàn (chặt gỗ Hoàng đàn) thể hiện sự phản kháng áp bức bóc lột tàn khốc của nô lệ, Hà thảo bất hoang (cỏ nào chẳng úa) thể hiện sự đau khổ của nhân dân do chiến tranh, Quan thư (chim thư cưu kêu quan quan) là tình ca, Sinh dân là sử thi của bộ lạc Chu, Kinh
thi còn dùng các miêu tả phú, tỉ, hứng để vẽ nên bức tranh đời sống sinh
động, dùng hình thức ca ngợi, lặp đi lặp lại, với ngôn ngữ mang màu sắc âm nhạc để bộc lộ tình cảm sâu nặng, nó đã đặt nền móng cho truyền thống thơ
ca hiện thực của Trung Quốc
Tiếp sau Kinh Thi là bộ Sở Từ do nhà thơ Khuất Nguyên – được mệnh
danh là ông tổ của văn học lãng mạn Trung Quốc, sáng tác vào những năm Chiến quốc, đây là một tập dân ca, câu dài câu ngắn, hình thức tương đối tự
do và chịu nhiều ảnh hưởng tốt từ Kinh Thi
Thời Xuân thu, không chỉ có thơ ca mới phồn vinh mà văn xuôi cũng không kém phần phong phú và đa dạng Văn xuôi thời đại này phải kể đến
những tác phẩm lớn như: Thượng thư (bao gồm những bài văn cáo, mệnh
lệnh, thệ từ của vương thất, huấn thị của các vương công đại thần thời Ân
Thương – Tây Chu), Quốc ngữ (ghi chép lịch sử từ đầu tây chu đến cuối
Xuân thu, thuật lại những sự kiện và ngôn luận chủ yếu giữa các nước chư
Trang 28hầu) và thành tựu cao nhất của văn xuôi thời Xuân thu là Tả truyện (ghi chép
từ năm 722 đến 464 Tr.CN) Những tác phẩm đó là tiền đề cho sự ra đời của
các trứ tác nổi sau này như Chiến quốc sách, Án tử Xuân thu, Lã thị Xuân
thu,… Văn học phát triển phồn vinh thì phê bình văn học cũng theo đó mà
tiến bộ vượt bậc, phê bình văn học được xuất phát từ những năm đầu của thời Tây Chu, nhưng đến Xuân thu thì bắt đầu phát triển mạnh, hầu hết các nhà tư tưởng lúc bấy giờ đều bàn về văn học, nhạc, văn nghệ nhất là bàn về Kinh thi Điển hình là Khổng Tử đã bước đầu nhận thức được tác dụng giáo dục của thơ văn, ông nói: “Thơ có thể gây cảm hứng, có thể giúp xem xét, có thể giúp quần tụ, có thể giúp nói lên lòng oán giận, gần thờ cha, xa thờ vua, biết nhiều các loài chi, thú, cỏ, cây” (Luận Ngữ, Dương hóa,9)
Về Sử học, thời Xuân thu “lễ nhạc, chinh phạt đều xuất phát từ chư
hầu” đó là thời kỳ biến động lớn từ chế độ chiếm hữu nô lệ quá độ sang chế
độ phong kiến sơ kỳ, ngoài vương thất nhà Chu có cử ra sử quan, các chư hầu thậm chí các nhà quý tộc cũng đều đặt sử quan để ghi chép lịch sử
Trong đó phải kể đến bộ Xuân Thu do Khổng Tử biên soạn, là bộ biên niên sử
của nước Lỗ viết về giai đoạn từ năm 722 Tr.CN tới năm 481 Tr.CN, tức là
từ Lỗ Ẩn Công năm thứ nhất đến Lỗ Ai Công năm thứ 14, đây là văn bản lịch
sử Trung Quốc sớm nhất còn lại và được ghi chép theo thể biên niên, dài khoảng 18.000 chữ, nội dung đề cập đến 124 nước chư hầu, vừa ghi chép các
sự kiện lớn về chính trị, quân sự, ngoại giao, lễ nghi vừa ghi chép những hiện
tượng tự nhiên Bên cạnh giá trị về mặt sử học, Xuân Thu còn mang giá trị cả
về mặt triết học, nhất là quan điểm “chính danh, định phận” của Khổng Tử
Sau Xuân Thu là Tả truyện (hay Tả thị Xuân thu) của Tả Khâu Minh (tương
truyền Tả Khâu Minh sinh cùng thời với Khổng Tử, giữ chức Tả sử nước Lỗ,
bị mù cả hai mắt) ghi lại những sự kiện lớn về chính trị, quân sự, ngoại giao từ năm 772 đến năm 464 Tr.CN, với chủ thể là nước Lỗ Với văn tự tinh luyện,
cú pháp linh hoạt, các thiên, các chương dài ngắn không đồng đều, đã có thể
Trang 29thông qua tình tiết mà biểu hiện tính cách, phẩm chất nhân vật Quốc ngữ
cũng là sách ghi chép về những sự kiện của thời Xuân thu, xuất phát từ đầu Tây Chu đến cuối Xuân thu, thuật lại những sự kiện và ngôn luận trọng yếu giữa tám nước: Chu, Lỗ, Tề, Tấn, Trịnh, Sở, Ngô, Việt Sách ghi lại lời nói là chính, ghi sự việc là phụ, nhưng cũng mang tình tiết, với ngôn ngữ chất phác
Cũng có ý kiến rằng Quốc ngữ cùng tác giả với Tả truyện, nhưng thực ra nó là
công trình biên soạn của nhiều người
Về giáo dục, thời kì này giáo dục đã được giải phóng khỏi sự độc
chiếm của tầng lớp quý tộc Giáo dục thời Chu chia làm hai cấp là tiểu học
và đại học Tiểu học dành cho trẻ từ 8 đến 14 tuổi, dạy cách thưa gửi, đi đứng, vẩy nước quét nhà (sái tảo) và sáu môn lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (đánh xe), thư (viết chữ), số (toán học) còn gọi là Lục nghệ Con cháu ở nhà thường dân thì học ở hương học, con cháu quý tộc thì học ở quốc học (trường ở kinh đô nhà Chu và kinh đô các nước chư hầu) Do nông dân bị áp bức, bóc lột, phải làm lụng vất vả, con cháu không đủ điều kiện để theo đuổi việc học nên chỉ số ít hoàn thành cấp tiểu học Cấp đại học dành riêng cho con nhà quý tộc từ 15 đến 20 tuổi, cấp này dạy về Thi, Thư, Lễ, Nhạc Thầy cấp đại học hầu hết là các quan, lúc bấy giờ không có sự phân chia giữa thầy
và quan, thầy và quan là một Thầy của vương tử và công tử là các quan chức cấp cao, hơn nữa quan lại trong triều đều truyền chức vụ lại cho con, nên họ có nhiệm vụ truyền dạy kiến thức cho con của mình cho nên cơ chế này còn được gọi là quan học
Những sự phát triển về kinh tế, đảo lộn về chính trị, biến đổi về xã hội
là những nhân tố góp phần làm thay đổi cơ chế giáo dục Thời Xuân thu, thành phần quý tộc bị mất địa vị và các quan lại bị mất chức xuống làm thường dân đã mang học vấn của họ truyền bá trong dân gian nhằm mưu sinh với tư cách là thầy dạy tư; mặt khác, do sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp nên đời sống của nhân dân có phần khá hơn, họ dần có khả
Trang 30năng và cơ hội được học tập để mở mang tri thức, kể cả bậc đại học Giáo dục dần dà được giải phóng khỏi sự độc chiếm của tầng lớp quý tộc Trong
đó có Khổng Tử, được lưu danh là “người thầy của muôn đời”, ông mở trường tư thục đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc, đem cái học của giới quý tộc truyền bá cho môn sinh thuộc mọi giai tầng trong xã hội Học trò của ông nhiều người là con nhà nghèo, sau khi thành tài hoặc ra làm quan, được trọng dụng ở nước Lỗ và các nước chư hầu khác hoặc kế thừa sự nghiệp của thầy mà dạy học
Sự phát triển của khoa học - văn hóa – giáo dục thời Xuân thu góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế, làm đời sống con người phong phú cả về vật chất lẫn tinh thần Với sự biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, thế giới quan thần bí và tín ngưỡng tôn giáo cũ giữ vai trò thống trị bắt đầu bị lung lay, làm tiền đề cho những quan điểm duy vật vô thần tiến bộ xuất hiện
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ
1.2.1 Văn hoá và tư tưởng truyền thống Trung Quốc - cơ sở lý luận của sự hình thành tư tưởng chính trị- xã hội của Khổng Tử
Văn hóa Trung Quốc là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất và phức tạp nhất trên thế giới, nó đã lan truyền và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các dân tộc, quốc gia lân cận như Triều Tiên (ngày nay gồm Triều Tiên và Hàn Quốc), Nhật Bản và Việt Nam Về mặt địa lý, Trung Quốc hầu như tách biệt khỏi các nền văn minh cùng thời trên thế giới Trong đó Ai Cập, Lưỡng Hà,
Ba Tư (Iran) ở gần nhau và cũng thường xuyên giao thương, trao đổi hàng hóa với Hy Lạp, La Mã cho nên có sự giao thoa, đồng hóa giữa các nền văn minh, Ấn Độ cũng vậy, là một nước thuộc Nam Á, địa hình bán đảo, ba phía nhô ra biển, thuận lợi giao thương với các khu vực phía Tây như Ba Tư, Lưỡng Hà, Địa Trung Hải, phía Bắc Ấn nơi giáp với Trung Quốc là dãy
Trang 31Hymalaya với địa hình hiểm trở, khó khăn cho việc qua lại Địa lý Trung Quốc là một khối gần tròn, ba phía Bắc, Nam, Tây là địa hình núi cao, đồng
cỏ, sa mạc, phía Đông là Thái Bình Dương, gần như cách biệt so với các nền văn minh còn lại Cho nên văn hóa Trung Quốc thời cổ đại ít bị ảnh hưởng bởi các nền văn minh khác, riêng nó có những nét đặc biệt, mang tính hoài
cổ, chậm đổi mới, do đó văn hóa Trung Quốc được duy trì qua nhiều thế hệ
Theo những tài liệu khảo cổ, con người đã sinh sống ở Trung Quốc cách đây hàng triệu năm Theo dấu tích của người vượn ở hang Hoa Hạ - Bình Nhưỡng (gần Bắc Kinh) có niên đại cách đây hơn 500.000 năm Khoảng 3.000 năm trước Công Nguyên xã hội nguyên thủy ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời Lúc bấy giờ lịch sử chưa được ghi chép mà chỉ được truyền lại dưới dạng thần thoại Theo truyền thuyết thì thời kỳ đầu tiên của Trung Quốc là thời Bàn Cổ, trong thời kỳ này chưa có trời đất, vũ trụ chỉ là một khối khí hỗn độn, đến khi Bàn
Cổ xuất hiện, dùng một chiếc rìu bổ đôi khí ra, khí nhẹ bốc lên cao thành trời, khí nặng chìm xuống thành đất Mỗi ngày ông lớn lên một trượng1, trời cũng cao lên một trượng, đất dày thêm một trượng Cứ như vậy đến 18.000 năm, trời cao mãi, dất dày mãi và Bàn Cổ cũng trở thành người khổng lồ đội trời, đạp đất Khi ông khóc thì nước mắt chảy xuống thành sông Hoàng Hà
và Dương Tử; ông thở tạo thành gió, nói thì thành sấm; đến khi ông chết thì
cơ thể ông rơi thành từng mảnh tạo thành Ngũ Nhạc2
, hai mắt ông thành mặt trời và mặt trăng; tóc ông đâm rễ thành cây cối,
Sau thời Bàn Cổ, ở Trung Quốc bắt đầu xuất hiện những vị vua đầu tiên gọi là thời Tam hoàng Đây là thời kỳ mà các vị quân chủ được đồng nhất với các vị thần tiên, do là truyền thuyết nên có nhiều quan điểm khác nhau về Tam hoàng, lý thuyết được chấp nhận nhiều nhất là Phục Hy, Nữ Oa
1 Hệ đo lường cổ Trung Quốc, 1 trượng = 3.33 mét
2 Ngũ Nhạc là năm ngọn núi thiêng ở Trung Hoa , gồm: Thái Sơn, Hoa Sơn, Hành Sơn, Hằng Sơn và Tung Sơn
Trang 32và Thần Nông đây là thuyết thường thấy nhất của Tam Hoàng, được ngầm công nhận là một danh sách chuẩn Trong đó, Phục Hi và Nữ Oa là hai anh
em, và cũng là thần chồng và thần vợ, hai người được coi là tổ tiên của loài người sau một trận đại hồng thủy Cũng như Thần Nông là người đã phát minh ra nghề nông và là người đầu tiên dùng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh
Các sách Thượng thư và Bạch hổ thông nghĩa thay thế Nữ Oa bằng Toại Nhân, người mà theo truyền thuyết đã phát minh ra lửa Sách Đế vương thế
kỉ thay thế Nữ Oa bằng Hoàng Đế, người được coi là tổ tiên của người Hán
Trong một số thuyết khác lại thay thế Nữ Oa bằng Cộng Công – một vị thần
nước hay thay thế Nữ Oa bằng Chúc Dung, tức là Hỏa thần Sự thay thế Nữ
Oa – là một vị thần mang giới tính nữ - bằng một vị nam thần được nhận định là kết quả của quá trình chuyển từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ
Kết thúc thời Tam hoàng đến thời Ngũ Đế , đây là thời kỳ văn hóa đồ gốm đen và đồ gốm màu Giống như thời Tam Hoàng, các vị quân chủ trong
thời Ngũ Đế cũng có nhiều giả thuyết Thuyết của Sử ký Tư Mã Thiên được
xem là chính thống nhất, theo sách này thì Ngũ Đế bao gồm: Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn Theo huyền sử Trung Quốc, Hoàng Đế là người sáng lập ra nền văn minh Trung Quốc, việc ông rút về phía tây tại trận Trác Lộc đánh thủ lĩnh Xi Vưu là mốc hình thành người Hán.Thời Hoàng Đế có nhiều phát minh sáng tạo (trong truyền thuyết) của nhiều người nhưng được quy chung cho Hoàng Đế như làm nhà, đóng xe thuyền, may được quần áo ngũ sắc, chế kim chỉ nam, làm lịch, y thuật Cũng theo truyền thuyết, Hoàng Đế tổng cộng có 25 người con, mang 12 họ khác nhau là: Cơ, Dậu, Kì, Ki, Đằng, Dự, Nhậm, Tuân, Hi, Cật, Huyên và Hi Về sau, Cơ Xương đã lật đổ nhà Thương lập nên nhà Chu, cho nên sau này nhà Chu đều có chung dòng dõi tổ tiên là Hoàng Đế Cũng có truyền thuyết khác
kể rằng Rồng xuất hiện từ thời này Thời kỳ đó, theo tín ngưỡng vật tổ giáo (totemism) mỗi bộ lạc đều lấy hình một con vật là biểu trưng cho bộ lạc của
Trang 33mình Và bộ lạc của Hoàng Đế chọn con rắn Sau mỗi lần thu phục một bộ lạc, Hoàng Đế sẽ trích một phần biểu tượng của bộ lạc đó để thêm vào biểu tượng của bộ lạc mình Như một cách tượng trưng cho chiến thắng và uy danh Vì vậy nên biểu tượng của bộ tộc Hoàng Đế có thêm sừng nai, mặt ngựa, vẩy cá, móng đại bàng Lâu dần biến đổi thành rồng Còn hai đời Chuyên Húc và Đế Cốc không được nhắc nhiều trong thần thoại Trung
Quốc Theo Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, các vị quân chủ đó đều do
người Trung Quốc tưởng tượng ra, chỉ có Nghiêu, Thuấn có thể coi là bán
thực bán huyền Trong đó, Nghiêu và Thuấn còn được gọi là Nhị Đế, cùng
với Hạ Vũ, người sáng lập ra nhà Hạ, được Nho giáo coi là các vị vua kiểu mẫu và là các tấm gương đạo đức
Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ sản xuất thấp, từ đó mà tri thức cũng thiếu hụt, không đủ sức chống chọi với tự nhiên, nên con người bị áp đảo bởi các sự vật – hiện tượng tự nhiên và cho rằng các sự vật, hiện tượng tự nhiên điều có linh hồn, có thể làm chủ số phận của con người Do đó, khi không thể chinh phục và nhận thức tự nhiên thì chỉ còn cách xem chúng như thần linh có sức sống để thờ phụng Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nguyên thủy lấy thiên nhiên làm đối tượng tín ngưỡng, ấy gọi là sự sùng bái thiên nhiên hay là sự sùng bái thần tự nhiên Thần thoại và truyền thuyết cũng như khảo cổ học hiện đại của Trung Quốc đã chứng minh được rằng trong xã hội nguyên thủy từng tồn tại sự sùng bái thiên nhiên với nội dung chủ yếu là sùng bái bầu trời, sức mạnh tự nhiên và vật linh thiêng Đối tượng chủ yếu của sự sùng bái bầu trời là mặt trời và mặt trăng, trong đó lấy sự sùng bái mặt trời làm cơ bản Trong thần thoại nguyên thủy có những chuyện lấy mặt trời làm trung tâm như Hy Hòa sinh ra mặt trời, tắm mặt trời, đánh xe mặt trời, Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời, Khoa Phụ đuổi mặt trời,… đều đã phản ánh tâm lý sùng bái mặt trời của người Trung Hoa cổ đại Đối tượng chủ yếu của sự sùng bái sức mạnh thiên nhiên là gió, mưa, sấm, chớp Các dân tộc Trung Quốc đều có những chuyện thần thoại
Trang 34khác nhau về gió mưa, sấm, chớp Như dân tộc Hán có truyền thuyết về Phong
bá (thần gió) tên là Phi Liêm có thể thổi gió, thần mưa tên là Bình Y, có thể kêu mây gọi mưa, thần sấm tay trái giữ trống, tay phải cầm dùi, đánh trống ầm ầm thành sét, có thể giết người Những tích truyện ấy ở những mức độ khác nhau
đã phản ánh sự sùng bái sức mạnh thiên nhiên ở con người nguyên thủy Ngoài
ra, trong các thời đại sau ở Trung Quốc đều lưu hành các hoạt động cầu mưa, tế thần mưa, có tập quán giết chó tế thần gió, trong dân gian có nhiều miếu thờ thần sấm, … đều có mầm mống từ việc sùng bái sức mạnh thiên nhiên của người nguyên thủy Sùng bái vật tự nhiên càng phong phú, đa dạng hơn, người Trung Hoa cổ đại sùng bái các sự vật như: núi, khe, cây, đá, chim, thú, cá, côn
trùng,… Trong Lễ ký Tế pháp có chép: “núi, rừng, khe, đồi, gò, đèo,… đều có
thể sinh ra mây, làm ra gió mưa, thấy quái vật, đều gọi là thần vậy Người có thiên hạ phải tế trăm thần, … điều ấy năm đời liền không thay đổi”
Bên cạnh sự sùng bái tự nhiên thì người Trung Quốc cổ đại còn sùng bái ma quỷ, đây là những hoạt động hướng về linh hồn người chết Cơ sở nhận thức của nó là quan niệm về linh hồn bất tử, mà linh hồn bất tử lại có cội nguồn từ giấc mơ Người nguyên thủy không thể lý giải được hiện tượng trong giấc mơ gặp lại và tương tác với người đã chết, bởi vậy họ tin những chuyện xảy ra trong mơ là sự thật, tin rằng linh hồn người sau khi cơ thể chết
đi vẫn có thể tồn tại trong một thế giới khác, từ đó mới nảy sinh quan niệm
về linh hồn bất tử Khoa học khảo cổ đã tìm thấy những di chỉ hang động, bên cạnh người chết còn có những vật chôn theo như bột đá đỏ để giữ ấm, có đục đá để dùi lỗ trồng trọt, mãnh xương thú,… trong những di chỉ thuộc văn hóa đồ đá mới Bùi Lý Cương (tồn tại từ năm 7000 đến năm 5000 Tr.CN, ở lưu vực sông Y – Lạc thuộc tỉnh Hà Nam) và Đại Vấn Khẩu (tồn tại từ năm
4000 đến 2600 Tr.CN thuộc Sơn Đông, Hà Nam và Giang Tô) đã phát hiện những vật tùy táng ngày một nhiều hơn, hơn nữa đã hình thành các tập tục mai táng không giống nhau Từ việc thờ cúng linh hồn ma quỷ thì xuất hiện
Trang 35thêm phong tục thờ cúng tổ tiên – là những hồn ma có quan hệ huyết thống với mình Sự thờ cúng tổ tiên xuất hiện từ thời kỳ công xã nguyên thủy, khi chế độ phụ hệ đã thay thế chế độ mẫu hệ, lúc này con người không chỉ biết
có mẹ mà còn biết cả cha, hơn thế còn dựa vào quan hệ huyết thống phụ hệ
để thừa kế của cải Để củng cố quan hệ huyết thống phụ hệ, đảm bảo quyền thừa kế tài sản và phân phối quyền lợi, con người bắt đầu sùng bái vong hồn
tổ tiên, cho rằng hồn ma của tổ tiên có thể phù hộ cho con cháu Điều này đã được các chế độ sau là chiếm hữu nô lệ và phong kiến gìn giữ, phát huy lên một bước Giai cấp thống trị sau này đã lợi dụng việc sùng bái tổ tiên để củng cố chế độ tông pháp, hình thành một dòng tư tưởng mang tính tông pháp của riêng Trung Quốc, với các hình thức thờ cúng khác nhau như Xuân
từ (tế ở nhà thờ mùa xuân), Hạ dược ( tế mùa hạ), Thu thưởng, Đông chủng, hạp tế, phụ tế, Lễ nghi tế tự có quy định cấp bậc nghiêm ngặt như đối với chư hầu, đại phu nghi lễ khác với Thiên tử, kẻ sĩ thì chỉ cho phép hạp tế, thứ dân thì không vượt lễ của tổ tiên mình,…
Xuất hiện con người, lại có thần, có quỷ thì tất yếu có một thế lực to lớn hơn, lãnh đạo toàn bộ vũ trụ Theo suy nghĩ chất phác mà suy ra: nhà có cha, nước có vua, thiên hạ có đế vương, thì vũ trụ phải có một thực thể nào
đó làm chủ Mà vũ trụ thì mênh mông, nhìn đâu đâu cũng thấy màu xanh của trời, trời bao bọc khắp cả mọi nơi, từ đó người Trung Hoa cổ đại mới cho rằng trời là lực lượng lãnh đạo tối cao, là Thượng đế Người cai quản bách thần và vạn vật ở trong vũ trụ và lại là một đấng thương dân, chăm lo cho
đời sống nhân dân Kinh Thi có viết rằng Thượng đế rất lớn, soi xuống dưới
rất rõ ràng, xem xét bốn phương để tìm sự khốn khổ của dân mà cứu giúp Vậy nên người bao giờ cũng phải kính và sợ Trời Đây cũng là tư tưởng truyền thống cơ bản của người Trung Quốc cổ đại Cũng theo đó mà con người tin tưởng rằng bẩm sinh con người đã hấp thụ cái tính của Trời, tính
đó là một phần thiên lý, Trời và người quan hệ rất mật thiết với nhau Do đó,
Trang 36người Trung Quốc xưa lấy phép tắc tự nhiên của Trời làm quy chuẩn của con người, cho thiên luân là nhân luân, thiên đạo là nhân đạo Trời là công lý tự nhiên lưu hành khắp mọi nơi, cho nên con người lúc nào cũng phải kính Trời
và sợ Trời, phải theo bản tính tự nhiên mà Trời đã phú cho mà sống cho hợp với đạo Trời
Người Trung Quốc cổ đại rất tin vào đạo lý của Trời, cố gắng giữ mình cho đúng Nhưng thường trong xã hội chỉ có con nhà quý tộc giàu có mới được học cái gọi là “Thiên đạo”, còn thường dân phải làm ăn khó nhọc, phục dịch cho vua quan, đời sống chịu nhiều cơ cực, thì làm sao đủ sức huy động tài lực và vật lực để đi học cái gọi là “nhân đạo”, “thiên đạo” Một khi con người khi chịu nhiều cực khổ lại thiếu hụt về kiến thức, thì tất yếu chìm đắm vào những điều mê hoặc và tin vào những việc quái lạ Đó cũng là đất sống cho nhóm Vu Hích3 , lấy điều lành dữ, họa phúc, dùng những phương thuốc huyền hoặc mà đánh lừa những người thường dân, đem chuyện thần thánh ma quỷ đi dọa nạt người làm kế sinh nhai Thời kỳ này, Vu Hích có thế lực rất mạnh, nhà nào cũng thờ quỷ, thờ thần Giai cấp thống trị lúc bấy giờ mới đưa ra những quy định rõ ràng việc của quỷ thần và việc của người,
cử ra Vu Sử là quan coi về những người hành nghề bói toán, đồng bóng, …
để ngăn cấm Vu Hích làm mê hoặc lòng người Khổng Tử tiếp thu tư tưởng này, đưa nó vào thuyết Thiên mệnh của mình, rằng quỷ thần thì nên kính trọng, nhưng đừng cầu cạnh quỷ thần
Thống trị đời sống văn hóa, tinh thần của người Trung Quốc thời kỳ công xã nguyên thủy là tín ngưỡng đa thần, chưa có một vị thần nào là tối cao, lãnh đạo toàn vũ trụ Đến xã hội có giai cấp, song song với việc xuất hiện nhà nước, xuất hiện một người lãnh đạo nhiều bộ lạc, thị tộc, một ông vua lãnh đạo trong chế độ chiếm hữu nô lệ, quyền lực tối cao của vị vua đó cũng được phản ánh vào trong đời sống tư tưởng, tôn giáo, tạo nên một vị
3
Vu hích: người chuyên nghề đồng bóng, bói toán, thầy pháp,
Trang 37thần tối cao, lãnh đạo cả thế giới, đó là Trời, hay còn gọi là Thượng đế Các thuộc tính tự nhiên và thuộc tính xã hội của nhiều vị thần tập trung vào một
vị thần vạn năng, từ tín ngưỡng đa thần phát triển thành nhất thần giáo
Triều đại nhà Hạ - nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên ở Trung Quốc, cho dù văn bản ghi chép việc thờ cúng Thượng đế lúc bấy giờ rất ít nhưng
vẫn có thể khẳng định thời kỳ này đã có sự sùng bái Thượng đế Sử ký có ghi
chép lại lời của Hạ Khải (là con của Hạ Vũ) rằng họ Hữu Hồ không nghe theo ngũ hành, hủy bỏ tam chính, trời muốn tuyệt mệnh họ, nay ông vâng mệnh trời thảo phạt họ Hữu Hồ Đến đời Thương, việc sùng bái Thượng đế càng sâu đậm hơn Đến việc vua Thành Thang lật đổ vua Hạ Kiệt cũng là tuân mệnh trời, rằng “nhà Hạ có tội, ta sợ thượng đế, không dám không thảo phạt” Lịch sử gọi đời Thương là “trọng thần, thờ quỷ, coi đó là chính sự”,
đã phản ánh tập trung một sự thật là giai cấp thống trị đời Thương lợi dụng tôn giáo để duy trì sự thống trị của mình Giai cấp thống trị nhà Chu đã kế thừa và phát triển quan niệm sùng bái Thượng đế, hình thành thuyết thiên mệnh một cách có hệ thống Họ kết hợp việc sùng bái Thượng đế với quan niệm luân lý tông pháp, họ đã đặt cơ sở lý luận tôn giáo mang màu sắc tông pháp cho hàng ngàn năm văn hóa Trung Quốc
1.2.2 Quan điểm về con người trong tư tưởng Trung Quốc cổ đại
- cơ sở hình thành tư tưởng chính trị- xã hội của Khổng Tử
Từ khi xuất hiện, con người trong quá trình tác động vào tự nhiên để phục vụ nhu cầu của mình đã gặp nhiều khó khăn, nên con người cần thiết phải có sự hợp tác, đoàn kết, tương trợ, đồng cảm, quan hệ ứng xử với người khác như với bản thân mình Nhận thức được quy luật đó và mong muốn thực hiện nó, đó là tính người
Trong hệ thống tư tưởng triết học của Khổng Tử con người là hạt nhân quan trọng nhất, ông theo đuổi mục đích nhân sinh hơn là hình thành một hệ thống thế giới quan, phương pháp luận Các nhà Nho sau này như Mạnh Tử,
Trang 38Tuân Tử cũng đều phát huy tư tưởng nhân văn, tách con người khỏi động vật
và thần linh, con người hợp với trời và đất thành “Tam tài”, con người vốn có một địa vị cao quý Ngay từ buổi đầu triết học Trung Quốc đã khẳng định giá trị của con người, thể hiện tinh thần nhân văn, rất khác biệt với tư tưởng triết học Phương Tây, quy giá trị con người về thần (Thượng đế) Tư tưởng triết học của Nho gia có địa vị nổi bật trong xã hội phong kiến, nó mang tinh thần nhân văn sâu sắc Bên cạnh đó còn có Phật giáo theo đuổi tư tưởng vị tha, bác
ái, cứu khổ cứu nạn, giải thoát cho nhân dân về mặt tinh thần, hơn nữa còn từng bước thế tục hóa Chính vì vậy, chính trị ở Trung Quốc không bị khống chế bởi tôn giáo, tránh được tình trạng “đêm trường trung cổ” như ở Châu Âu
Cùng với triết học, những tư tưởng, quan niệm về con người xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc, từ thời Tam Hoàng – Ngũ Đế (khoảng năm 2.900 Tr.CN) như quan niệm về linh hồn con người sau khi chết, về con người trước sức mạnh của tự nhiên; những điều đó được thể hiện trong hình thức tín ngưỡng vật tổ giáo4
và tín ngưỡng vật linh giáo5 Đức tin của người Trung Quốc vào trời đất, quỷ thần bắt nguồn từ sự sùng bái nguyên thủy thời thượng
cổ, ranh giới giữa thần tổ tiên, thần động – thực vật, thần sống núi, quỷ thần không rõ ràng Trên cơ sở đó người ta thường thêm sự nhân cách hóa và xã hội hóa vào những vị thần, gáng cho họ những phẩm chất và nét tính cách của con người Như Doãn Chính (2015) đã viết: “Chẳng hạn, Phục Hy tương truyền là họ Phong, mình rắn, đầu người Thần Nông là thần Long, mình người, đầu trâu Hoàng Đế là họ Hữu Hùng, hùng là giống gấu Mẹ Đế Nghiêu hợp hôn với rồng đỏ sinh ra Nghiêu Đế Thuấn họ Hữu Ngu, ngu là một loài thú,…” (tr 236) Trong xã hội nguyên thủy, người đứng đầu mỗi bộ tộc thường là những vị thủ lĩnh hành chính của thị tộc đó, sau khi những vị thủ
4
Totemism: là hình thức tín ngưỡng nguyên thủy, trong đó niềm tin rằng mỗi con người hay mỗi nhóm người có một mối liên hệ hoặc kết nối tâm linh với vật thể khác như cây cối hoặc động vật, thường được gọi
là vật thể tinh thần hay totem
5 Animism: một hình thức tín ngưỡng nguyên thủy, cho rằng linh hồn hay sự linh thiêng có trong mọi vật
từ người, động vật, thực vật, đá, núi, sông,… cho đến trong các hiện tượng tự nhiên như mây, sấm, mưa,…
Trang 39lĩnh này qua đời sẽ trở thành thần tổ tiên được người đời sau thờ phụng Với những chức năng xã hội nặng nề nhưng lại chỉ tập trung vào một người như vậy, đòi hỏi những người đó phải có những phẩm chất đáng quý, phù hợp với toàn bộ thị tộc cũng như lợi ích lâu dài của thị tộc Do đó trong những câu truyện thần thoại, tộc trưởng không chỉ nắm trong tay những năng lực siêu nhiên mà còn là hình mẫu của đạo đức Và khi cả thị tộc gặp bất trắc cần người lãnh đạo hay cần người đại diện cầu khấn sự bảo hộ của thần linh, những vị thủ lĩnh này cũng cần phải nghiêm khắc tự kiểm điểm lại bản thân, xem lại việc thần linh nổi giận có phải là do sự thất trách về đạo đức của mình gây nên hay không
Nhưng đó chỉ là manh nha, những mầm mống hết sức thô sơ của tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng về con người nói riêng Duy chỉ đến thời nhà Hạ (từ năm 2205 đến 1766 Tr.CN) - bắt đầu thời kỳ chiếm hữu nô lệ
ở Trung Quốc thì triết học mới thực sự mang tính cách là một hệ thống lý luận với tính chất thế giới quan, là kết quả của trình độ nhận thức, tư duy trừu tượng và thành văn
Sự kết thúc của chế độ công xã nguyên thủy ở Trung Quốc được đánh dấu bằng sự kiện Đế Thuấn nhường ngôi cho Hạ Vũ Vũ tại vị tám năm rồi truyền ngôi cho con là Hạ Khải Việc ngôi vua được cha truyền con nối chứ không phải nhường cho hiền tài bị người Hữu Hồ6 phản đối, Hạ Khải đã đánh bại Hữu Hồ và chính thức xác lập ra nhà Hạ, nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên ở Trung Quốc Lúc bấy giờ người Trung Quốc đã biết khai thác, sáng chế và sử dụng công cụ bằng đồng, đặc biệt thời này cũng có dấu hiệu xuất hiện văn tự Những tư tưởng, quan điểm triết học và tôn giáo thời kỳ này cũng có những bước phát triển Cùng với sự phát triển của kinh tế cũng như chính trị - xã hội thì tín ngưỡng totem và và vật linh giáo không còn chi phối quá sâu sắc đời sống tinh thần của nhân dân mà thay vào đó họ bắt đầu
6 một thị tộc trước thời nhà Hạ, địa bàn nay thuộc huyện Hộ Ấp, Tây An, Trung Quốc
Trang 40tôn sùng sức mạnh của những hiện tượng tự nhiên mang tính chất thần thoại, duy tâm, tôn giáo với các biểu tượng về Thượng đế chi phối vạn vật và số phận con người, về “linh hồn tổ tiên” và sự thờ cúng tổ tiên thịnh hành Bên cạnh đó giai cấp quý tộc nhà Hạ lợi dụng các biểu tượng thần bí để mị dân, xoa dịu mâu thuẫn trong xã hội và cũng ban bố rằng trời có thể thưởng cho những người ở thiện cũng như sẽ trừng phạt nghiêm khắc những ai làm điều
ác Như trong Sử Ký, Tư Mã Thiên thuật lại lời của Hạ Khải khi thảo phát họ
Hữu Hồ: “Hỡi người của sáu quân, ta có lời thề bá cáo với các ngươi: họ Hữu Hồ khinh nhờn ngũ hành, hủy bỏ tam chính, trời muốn tuyệt mệnh chúng Nay ta vâng trời thảo phạt.” (Bản Ký, tr.60)
Tuy nhiên, bên cạnh những việc làm mị dân để dễ bề cai trị thì giai cấp quý tộc nhà Hạ cũng bắt đầu nhìn thấy vai trò quan trọng của nhân dân lao động trong xã hội, những bài học về chính trị đầu tiên đã được ghi nhận rằng giai cấp thống trị dù có thế lực mạnh đến đâu đi chăng nữa nhưng nếu sống không nhân từ, không tuân theo luân thường đạo lý, không được nhân dân ủng hộ thì sớm muộn cũng bị nhân dân lật đổ Sử ký – Hạ bản kỷ có chép lại lời của Hạ Vũ:
“Nước lũ ngập trời, mênh mông nhấn nuốt núi đồi, hạ dân khốn khổ vì lũ… cùng Bá Ích phát cho dân chúng gạo thóc, thịt thà, khơi chín sông đổ ra
bể, thông mươn rãnh chảy ra sông ngòi, cùng Hậu Tắc phát cho dân chúng
đồ ăn khan hiếm Lương thực ít thì điều động chỗ dư thừa bổ sung cho nơi thiếu thốn, hoặc cho di dời chỗ ở Dân chúng được yên định, muôn nước được trị bình” (Bản Ký, tr.57)
Dưới triều đại nhà Ân Thương (khoảng nửa đầu thế kỷ XVII đến nửa cuối thể kỷ XI Tr.CN) – Tây Chu (khoảng thế kỷ XI đến năm 770 Tr.CN), Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ, thế giới quan thần thoại mê tín và tôn giáo duy tâm thần bí với các biểu tượng về
“thiên mệnh”, về ý chí của “Thượng đế” và quỷ thần đã trở thành những tư tưởng chiếm địa vị thống trị thời bấy giờ Theo thuyết “Thiên mệnh”, mọi sự