Vì vậy việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc là một việc cần thiết đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như thực hiệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN CHÍ MỸ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Triết học, Trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – nơi đã trang bị cho tôi thêm nhiều kiến thức khoa học trong quá trình học tập nâng cao trình
độ và nghiên cứu khoa học của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Chí Mỹ - người đã tận tình hướng dẫn, tin tưởng, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thư viện trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh; và các tác giả với những công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn mà tác giả thực hiện Đây là nơi cung cấp cho tôi những tư liệu quan trọng trong quá trình tác giả thực hiện đề tài luận văn của mình
Xin cảm ơn thư viện tỉnh Đồng Nai, Ban dân tộc, Sở Giáo dục – Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Công thương tỉnh Đồng Nai đã tạo điều kiện để tác giả tiếp cận nguồn tài liệu hết sức phong phú và đa dạng Xin ghi nhận công sức và đóng góp quý báu, nhiệt tình của các bạn học
ở các khóa học trong khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, các anh chị học viên khoa Triết học trường trường đại học
Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã
đóng góp ý kiến và giúp đỡ tác giả Đặc biệt là sự quan tâm động viên khuyến khích của thầy cô, gia đình và bè bạn Nhân đây tác giả xin được bày
tỏ lòng biết ơn sâu đậm
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trịnh Bá Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Chí Mỹ Tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình này
Trịnh Bá Phương
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 12
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 13
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 13
7 Kết cấu luận văn 13
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC 14
1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC 14
1.1.1.Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc 14
1.1.2.Tiền đề lý luận của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc 25
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC 39
1.2.1 Khái niệm dân tộc và quyền bình đẳng dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh 39
1.2.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam 44
1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc và phương pháp thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Việt Nam 49
Kết luận chương 1 59
Trang 6Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀO VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở ĐỒNG NAI HIỆN NAY 61
2.1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở ĐỒNG NAI 62 2.1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên và đặc điểm tình hình dân tộc ở Đồng Nai 62 2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 72
2.2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở ĐỒNG NAI NHỮNG NĂM QUA 77 2.2.1 Thực trạng thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai những năm qua 77 2.2.2 Nguyên nhân của thực trạng thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai những năm qua 93
2.3 GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀO VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC HIỆN NAY 98 2.3.1 Làm chuyển biến và nâng cao hơn nữa nhận thức của mọi người trước hết cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp ở Đồng Nai về quyền bình đẳng dân tộc 98 2.3.2 Có chính sách đặc thù nhằm khai thác thế mạnh của từng địa phương để phát triển kinh tế -xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đẩy nhanh việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu 101 2.3.3 Đẩy mạnh việc chăm lo đời sống văn hóa, nâng cao dân trí, giữ gìn, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số, tạo điều kiện cho tất cả các dân tộc trên địa bàn tỉnh có cơ hội giao lưu văn hóa với các dân tộc ở các địa phương khác 103
Trang 72.3.4 Đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc thực hiện quyền bình đẳng
dân tộc 106
2.3.5 Tăng cường cảnh giác, đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch 109
Kết luận chương 2 110
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 123
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền bình đẳng là quyền thiêng liêng, cao quý của con người, đó là quyền tự nhiên của mỗi người không phân biệt chủng tộc, màu da, dân tộc, giới tính, địa vị… của họ trong xã hội, hễ là con người thì họ có quyền bình đẳng như Hồ Chí Minh đã dẫn trong Tuyên ngôn Độc lập “tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 3, trang 555), xâm phạm quyền bình đẳng giữa con người với nhau là trái với tự nhiên Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mỗi người, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột vì vậy việc thực hiện quyền bình đẳng là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà
lý luận chủ nghĩa xã hội Trong bối cảnh hiện nay, quyền bình đẳng giữa người với người trước hết được biểu hiện ở quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới với nhau cũng như giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc Vấn đề bình đẳng dân tộc là một vấn đề mang tính thời sự trong thời đại ngày nay, thực hiện quyền bình đẳng dân tộc là một đặc trưng bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Vì vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội mà bỏ qua việc thực hiện bình đẳng dân tộc là một sai lầm tai hại, báo trước sự thất bại ngay từ đầu của sự nghiệp ấy
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền bình đẳng dân tộc có một vị trí hết sức quan trọng Quyền bình đẳng dân tộc với Hồ Chí Minh bao hàm quyền bình đẳng giữa dân tộc Việt Nam nói chung với các dân tộc khác trên thế giới cũng như giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam với nhau Theo Hồ Chí Minh, quyền bình đẳng dân tộc là cơ sở, điều kiện quan trọng để đảm bảo đất nước phát triển một cách toàn diện và bền vững, là cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc chỉ có việc đảm bảo bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
Trang 9giữa các dân tộc mới tạo được tiếng nói chung, đồng thuận trong các dân tộc, ngược lại một khi không đảm bảo được bình đẳng dân tộc sẽ gây ra sự chia
rẽ trong nội bộ quốc gia, là cơ sở xuất hiện tư tưởng miệt thị, phân biệt của dân tộc đa số cũng như tự ti, mặc cảm của dân tộc thiểu số Tư tưởng về quyền bình đẳng dân tộc của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay và mang tính thời sự sâu sắc Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của đất nước, cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam đã sớm gắn bó đoàn kết với nhau trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, tuy nhiên do đặc điểm lịch sử và chính sách của kẻ thù các dân tộc ở Việt Nam ngày nay vẫn còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như trình độ nhận thức; nghiêm trọng hơn các thế lực thù địch chống đối luôn lợi dụng điều này để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Vì vậy việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc là một việc cần thiết đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như thực hiện đúng chủ trương “lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động” của Đảng Cộng sản Việt Nam
Những nguyên tắc chính của vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau được Đảng Cộng sản Việt
Nam tiếp thu, vận dụng đưa vào chính sách dân tộc Đại hội VII khẳng định
“Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước” Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991, trang 77) tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng tiếp tục nhấn mạnh “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số… Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân
lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số” (Đảng Cộng
Trang 10sản Việt Nam, 2016) Như vậy, quyền bình đẳng giữa các dân tộc trở thành một trong bốn nguyên tắc cốt lõi của chính sách dân tộc ở Việt Nam Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách dân tộc nói chung và quyền bình đẳng dân tộc nói riêng cần được thực hiện một cách đồng bộ, nghiêm túc, thiết thực tại từng địa phương trên cả nước đặc biệt là những địa phương có nhiều thành phần dân tộc sinh sống
Đồng Nai là một tỉnh thành có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, theo thống kê tính đến tháng 12/2017 đạt 3,031 triệu người với 37 thành phần dân tộc sinh sống, trong đó người Kinh chiếm hơn 92% sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc ở Đồng Nai là một biểu hiện khá rõ rệt Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước đặc biệt là sau khi có
có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc, các cấp, các ngành ở Đồng Nai đã tích cực thực hiện chính sách dân tộc, chăm lo cho đồng bào các dân tộc, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số, góp phần thực hiện quyền bình đẳng dân tộc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa giáo dục
và đạt được nhiều kết quả đáng khen.Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của tỉnh đặc biệt là so với dân tộc Kinh, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu
số còn ở mức thấp, có sự chênh lệch lớn về kinh tế, văn hóa, nhận thức Thực hiện quyền bình đẳng dân tộc còn nhiều hạn chế, các chủ trương chính sách được thực hiện trong thực tế chưa nhiều, đòi hỏi phải có sự tổng kết các kết quả đạt được để có những giải pháp thích hợp tăng hiệu quả việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai
Dựa trên tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn như trên, tác giả
quyết định chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc với việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
Trang 112 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh với giá trị lý luận và thực tiễn của mình, được rất nhiều các tổ chức và học giả có uy tín quan tâm nghiên cứu, trong đó có hàng trăm các công trình trực tiếp và gián tiếp liên quan đến lĩnh vực tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc Qua quá trình tìm hiểu tác giả có thể chia các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn theo ba hướng sau:
Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vấn đề dân tộc nói chung và quyền bình đẳng dân tộc nói riêng như:
Hội thảo kỷ niệm 106 ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 18/05/1996 do Ủy ban dân tộc miền núi cùng Học viện Chính trị quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với chủ đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc ở Việt Nam” Trong hội thảo này đã có 45 bản báo cáo của các
nhà khoa học và hoạt động thực tiễn, đã làm nổi bật sự quan tâm sâu sắc và tình cảm gắn kết của chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc ở Việt Nam Các bài tham luận đã làm sáng tỏ một số vấn đề chủ yếu như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc ở miền núi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; chủ tịch Hồ Chí Minh với việc phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc miền núi những vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong chủ nghĩa xã hội, trong sự nghiệp đổi mới dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng bào các dân tộc với Bác Hồ…
Cuốn Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh, của G.S Trần
Văn Giàu được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm
1997 Tác phẩm đã phân tích một cách sâu sắc về nguồn gốc cũng như quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
Cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, của
đại tướng Võ Nguyên Giáp được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành
Trang 12năm 1998, tái bản lần 3 năm 2003 Đây là tác phẩm lớn đã khẳng định những điểm mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh Trong đó đề cập sâu sắc những vấn
đề về dân tộc với những nội dung cơ bản như: cách mạng giải phóng dân tộc phải bằng con đường cách mạng vô sản; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…Tác phẩm thực sự là những định hướng cơ bản cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc và quyền bình đẳng dân tộc
Cuốn Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân
tộc, của PTS Nguyễn Thế Thắng được nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội phát
hành năm 1999 Tác giả đã trình bày quan điểm Mácxit về vấn đề dân tộc từ C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tới Hồ Chí Minh, cũng như sự vận dụng và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thực tiễn
Cuốn Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
do PGS.TS Vũ Đình Hòe và PGS.TS Bùi Đình Phong đồng chủ biên, được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2010 Tác phẩm đã tập trung phân tích làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc ta, cuốn sách là sự tổng kết bước đầu về cống hiến
to lớn, quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó các tác giả khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với độc lập dân tộc và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Ngoài ra còn một số bài báo khoa học đã được công bố như: Nguyễn
Dương Bình (1990), “Chủ tịch Hồ Chí Minh vầ vấn đề dân tộc”, Tạp chí Dân tộc học, (01), Trang 13 – 22; Nguyễn Bá Linh (1993), “Những nhân tố quyết
định đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (02), trang 3 – 18; Nam
Hưng (1994), “Một số suy nghĩ về sự kết hợp giữa giải phóng dân tộc và giải
phóng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (03),
Trang 13trang 15 – 17; Trịnh Nhu (1996), “Quan hệ giữa các dân tộc và tôn giáo theo
tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (06), trang 22 – 24; Nguyễn
Thị Kim Dung (2003), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
và miền núi vào việc thực hiện chính sách dân tộc hiện nay”, Tạp chí Lịch sử
Đảng, (06), trang 30 – 33; Phạm Hồng Chương (2003), “Tiếp tục nghiên cứu,
vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc”, Tạp chí Lịch
sử Đảng, (07), trang 25 – 27; Phạm Thế Duyệt (2003), “Thực hiện đại đoàn
kết dân tộc và những vấn đề đặt ra cho hệ thống chính trị hiện nay”, Tạp chí
Cộng sản, (16), trang 3 – 7
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu theo hướng này đã trình bày một cách hệ thống, khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc nói chung trong đó có tư tưởng về quyền bình đẳng dân tộc Các công trình theo hướng này cung cấp cho tác giả một cách nhìn tổng quát, hệ thống về
tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, cũng như vị trí của quyền bình đẳng dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này, quyền bình đẳng dân tộc chỉ được nghiên cứu như một nội dung trong tổng thể nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, được trình bày một cách đại cương khái quát chứ chưa thật sự nghiên cứu một cách sâu sắc và hệ thống, đây là cơ sở để tác giả đi sâu nghiên cứu trong luận văn này
Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu về việc thực hiện chính sách dân tộc nói chung và quyền bình đẳng dân tộc nói riêng ở Việt Nam
Theo hướng này có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Cuốn Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia – đa dân tộc của
Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 1993 Trong cuốn sách này từ góc độ dân tộc học, tác giả đã
lý giải một cách khoa học hàng loạt khái niệm cơ bản và mối quan hệ giữa các khái niệm đó; phân tích quá trình hình thành phát triển và đặc điểm dân
Trang 14tộc Việt Nam là đặc điểm đa dạng và phức tạp về mặt tộc người nhưng lại thống nhất về mặt quốc gia, cùng chung sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; quá trình hình thành và phát triển của từng tộc người, từng nhóm địa phương trên đất nước Việt Nam
Cuốn Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay – vấn đề và giải pháp của
tập thể nhiều tác giả do GS,TS Trịnh Quốc Tuấn làm chủ biên được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 1996 Đây là công trình tổng kết 50 năm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam Trong công trình này, các tác giả đã tập trung phân tích đặc điểm, thực trạng phát triển không đồng đều, chênh lệch giữa các dân tộc ở Việt Nam, qua việc phân tích các nguyên nhân của thực trạng trên đã gợi ý những giải pháp từng bước khắc phục sự chênh lệch đó
Cuốn Một số vấn đề dân tộc và quan điểm chính sách của Đảng và Nhà
nước ta của Tổng cục Chính trị, Cục Tư tưởng - Văn hóa được nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, Hà Nội phát hành năm 1998 Cuốn sách là công trình nghiên cứu và được biên soạn nghiêm túc dưới sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, sự tham gia tích cực của Ủy ban dân tộc và miền núi và giáo sư Đặng Nghiêm Vạn dùng để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại học viện, nhà trường quân đội Cuốn sách đã trình bày những lý luận cơ bản, khoa học về các vấn đề dân tộc, đồng thời đưa ra những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết quan hệ các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc trong thời kỳ đổi mới
Công trình nghiên cứu Mấy lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ
dân tộc ở Việt Nam, do PGS,TS Nguyễn Quốc Phẩm và GS,TS Trịnh Quốc
Tuấn đồng chủ biên được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 1999 Trong công trình lý luận về dân tộc, mối quan hệ dân tộc được trình bày một cách hệ thống, những vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam được tác giả phân tích một cách sâu sắc
Trang 15Cuốn Góp phần nghiên cứu dân tộc học ở Việt Nam của GS,TS Phan
Hữu Dật được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2004 Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ và tâm huyết của tác giả, là sự tổng hợp tuyển chọn trong 45 công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố trên sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học trong 5 năm (1998 – 2003) Thông qua việc trình bày sự hình thành và phát triển ngành dân tộc học ở Việt Nam cũng như vai trò của nó đối với chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tác giả đã trình bày một cách khái quát về sự hình thành và phát triển của các dân tộc ở Việt Nam, đưa ra những đặc điểm chủ yếu của các dân tộc ở Việt Nam đồng thời phân tích sự thống nhất và đa dạng trong văn hóa vùng và văn hóa dân tộc ở Việt Nam
Cuốn sách Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở
quốc gia đa dân tộc, do PGS,TS Nguyễn Quốc Phẩm làm chủ biên được nhà
xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội xuất bản năm 2006 Các tác giả trong công trình nghiên cứu này đã nhìn nhận về những vấn đề dân tộc và sự phát triển của quốc gia đa dân tộc trong bối cảnh và xu thế mới của thế giới nói chung và vấn đề công bằng, bình đẳng, tăng cường hợp tác giữa các tộc người ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi Việt Nam nói riêng Từ đó, các tác giả nêu lên một số kiến nghị trong việc thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội trong các tộc người ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam
Cuốn sách Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam của Viện dân tộc học được
nhà xuất bản Văn học, Hà Nội phát hành năm 2007 Cuốn sách đã trình bày khái quát và đầy đủ quá trình hình thành, phát triển, khu vực sinh sống, đặc điểm sản xuất và nét đặc sắc trong văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam
Công trình nghiên cứu Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa
các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, do GS,TS
Hoàng Chí Bảo làm chủ biên được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2009 Đây là kết quả đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước
“Nghiên cứu các giải pháp bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa
Trang 16các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng đa dân tộc ở nước ta” Trong công trình tác giả nêu ra những nhận thức lý luận mới về dân tộc,
quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề dân tộc, các quan hệ dân tộc, tạo ra sự bình đẳng trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội ở miền núi nước ta trong giai đoạn hiện nay
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu theo hướng này đã cung cấp cho tác giả đề tài những cơ sở lý luận và nền tảng về vấn đề dân tộc và quyền bình đẳng dân tộc, đồng thời giúp tác giả đề tài có cái nhìn đầy đủ hơn về những chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc Từ nhận thức những vấn đề chung trong vấn đề dân tộc ở Việt Nam là cơ sở để tác giả nghiên cứu vấn đề dân tộc tại địa bàn tỉnh Đồng Nai
Ngoài ra theo hướng này còn có các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề dân tộc tại một khu vực, một địa phương nhất định như: Cuốn
Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội miền núi của tác giả
Bế Viết Đẳng, được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm
1996 Cuốn sách là kết quả chắt lọc từ đề tài KX.04-11 “luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện các chính sách đối với dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi” Cuốn sách đề cập đến quan điểm, đường lối, chính sách dân tộc; những vấn đề phong phú, sinh động, nóng hổi và cấp bách về thực trạng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi
Tập hợp các công trình nghiên cứu của PGS,TS Trương Minh Dục về
vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên như: cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên được nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2005; cuốn Xây dựng và củng cố khối đại
đoàn kết ở Tây Nguyên được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát
hành 2008; đặc biệt cuốn Thực hiện chính sách dân tộc ở miền Trung, Tây
Trang 17Nguyên trong thời kì đổi mới được nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà
Nội phát hành năm 2009 Trong cuốn sách này, tác giả đã nêu lên chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên từ đó đưa ra kiến nghị một số giải pháp và đổi mới hệ thống chính trị và đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa dân tộc, xây dựng đời sống văn hóa mới Công trình nghiên cứu Thực
trạng phát triển các dân tộc ở Trung bộ và một số vấn đề đặt ra của Bùi
Minh Đạo phát hành năm 2012 Tác giả trên cơ sở khảo sát thực địa từ năm
2007 - 2010 tại các tỉnh Trung Bộ làm sáng tỏ thực trạng phát triển các dân tộc của vùng, từ đó đề xuất những giải pháp góp phần phát triển bền vùng các dân tộc Trung bộ
Những công trình nghiên cứu trên cung cấp cho tác giả đề tài những kinh nghiệm cũng như phương pháp, cách thức khi nghiên cứu vấn đề dân tộc tại một địa phương cụ thể giúp tác giả rút ra bài học kinh nghiệm cho việc đề xuất các giải pháp giúp tăng cường hiệu quả việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai
Hướng thứ ba, các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vấn đề dân tộc tại Đồng Nai như:
Cuốn Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai của Huỳnh Văn Tới được
nhà xuất bản Đồng Nai phát hành năm 1999 Cuốn sách là tập hợp các bài viết liên quan đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Đồng Nai, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số
Luận văn Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Đồng Nai của Trần Thị Mai năm 2010 Luận văn đã phân tích vai trò,
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam nói chung
và tại Đồng Nai nói riêng; đề xuất những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực ở Đồng Nai trong đó có chú ý đến việc phát huy nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở Đồng Nai
Trang 18Luận văn Sự biến đổi xã hội – kinh tế - văn hóa người Nùng ở Đồng
Nai của Nguyễn Đình Toàn năm 2010 Luận văn dù chỉ nghiên cứu về dân
tộc Nùng ở Đồng Nai nhưng đã vạch ra những yếu tố chung tác động đến đời sống của đồng bào dân tộc ít người ở Đồng Nai
Luận văn Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở
tỉnh Đồng Nai hiện nay của Nguyễn Thị Phương năm 2011 Trong khi thực
hiện mục đích của luận văn, tác giả đã chỉ ra vai trò của việc thực hiện bình đẳng dân tộc đối với sự phát triển của tỉnh Đồng Nai; chỉ ra những thành tựu cũng như hạn chế của việc thực hiện công bằng xã hội ở Đồng Nai trong đó
có vấn đề bình đẳng dân tộc
Luận văn Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo phát triển kinh tế công
nghiệp giai đoạn 1996 – 2012 của Vũ Văn Thuận năm 2013 Luận văn thông
qua việc trình bày sự lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp của Đảng bộ Đồng Nai đã nêu lên những yêu cầu cần thiết và mối quan hệ trong việc phát triển kinh tế cho các dân tộc thiểu số tại Đồng Nai với sự phát triển chung của Tỉnh
Luận văn Thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Đồng Nai hiện nay của
Nguyễn Thị Cúc năm 2014.Từ việc tiếp cận, lý giải các vấn đề liên quan đến
lý luận về chính sách, chính sách dân tộc tác giả đã làm rõ thực tiễn về công tác dân tộc và triển khai thực hiện chính sách dân tộc, từ đó rút ta các bài học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Đồng Nai
Bên cạnh đó còn có các báo cáo tổng kết, điều tra của Ban Dân tộc, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Các công trình nghiên cứu theo hướng này đã cung cấp những cơ
sở thực tiễn, dữ liệu cần thiết cho tác giả đề tài trong việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu từ trước đến nay về vấn đề dân tộc tác giả nhận thấy chưa có một công trình nào
Trang 19nghiên cứu trực tiếp về việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở tỉnh Đồng Nai Kế thừa kết quả của những công trình khoa học, những bài viết trước đây về vấn đề dân tộc và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, luận văn tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề cơ bản của việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, thực trạng và đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn quyền bình đẳng dân tộc trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc và vận dụng vào việc phân tích, đánh giá tình hình thực trạng việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, phân tích, làm rõ những điều kiện, tiền đề dẫn đến sự hình thành và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc
Thứ hai, phân tích việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai hiện nay
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả việc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc và giải pháp vận dụng vào việc thực hiện bình đẳng dân tộc
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn giới hạn ở việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và giải pháp vận dụng trong thực hiện quyền bình đẳng dân tộc ở Đồng Nai hiện nay, giai đoạn từ năm 2009 đến nay
Trang 205 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về vấn
đề bình đẳng dân tộc trong thực tiễn cách mạng Việt Nam Đồng thời sử dụng thành tựu của một số ngành liên quan như Dân tộc học, Xã hội học…Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích – tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, lịch sử - logic khi nghiên cứu lý luận và sử dụng phương pháp thống kê, so sánh – đối chiếu, lịch sử cụ thể khi nghiên cứu thực trạng
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài có kết cấu 2 chương 5 tiết
Trang 21ra, đó là thời kỳ thế giới xảy ra nhiều biến động to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng…những biến động đó làm xuất hiện một vấn đề lớn và trở thành một mắt xích quan trọng trong vòng quay của bánh
xe lịch sử nhân loại – đó là vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc Những biến động lớn ảnh hưởng trực tiếp đến việc nảy sinh vấn đề dân tộc có thể khái quát thành những điểm nhấn sau:
Thứ nhất, sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản sang một giai đoạn mới, chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền
Tới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ, kinh tế hàng hóa đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất với quy mô ngày càng lớn hơn Vì vậy, nó đã đặt ra những yêu cầu bức xúc về nguồn nguyên liệu, nhân công và thị trường tiêu thụ hàng hóa Để giải quyết vấn đề này, các nước tư bản đế quốc, ở
Trang 22trong nước thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì đẩy mạnh quá trình xâm lược và áp bức nhân dân thuộc địa, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, nơi cung cấp nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản Như vậy, quá trình chuyển từ giai đoạn tự
do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, chủ nghĩa tư bản đã bước vào giai đoạn phát triển mới – giai đoạn chủ nghĩa đế quốc
Sự thống trị tàn bạo của các nước tư bản đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động, đặc biệt là ở các nước thuộc địa cực khổ Điều này đã làm xuất hiện hai mâu thuẫn lớn: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa với các nước đế quốc ngày càng trở nên gay gắt Từ đó dẫn đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc ở khắp nơi trên thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc ngày càng có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau
Bên cạnh đó, do sự phát triển không đồng đều, giữa các nước tư bản chủ nghĩa cũng đã xuất hiện mâu thuẫn và nổ ra cuộc đấu tranh rất gay gắt nhằm tranh giành thị trường, thuộc địa và phân chia lại thế giới Sự đấu tranh
ấy đã làm nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) gây ra hậu quả đau thương cho nhân dân các nước trên thế giới (khoảng 10 triệu người chết và 20 triệu người bị tàn phế do chiến tranh) Đồng thời nó làm cho các nước tư bản suy yếu và mâu thuẫn giữa các nước đế quốc cũng tăng thêm Tình hình này đã tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh của các dân tộc ở các nước thuộc địa phát triển mạnh mẽ
Thứ hai, ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác Lênin đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười ở Nga
và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác, vào giữa thế kỷ XIX, đã đáp ứng yêu cầu bức thiết là cần phải có một lý luận cách mạng dẫn đường cho phong trào
Trang 23đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức bóc lột Chủ nghĩa Mác, do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập, là một học thuyết khoa học, tiên tiến của thời đại, có sức hấp dẫn lớn đối với quần chúng nhân dân lao động và những nhà tư tưởng tiến bộ trên thế giới Chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng xóa bỏ chế
độ tư bản chủ nghĩa; giải phóng giai cấp mình, giải phóng nhân dân lao động
và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng
xã hội cộng sản chủ nghĩa tươi đẹp
Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với sự biến động của tình hình thế giới, sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản,V.I.Lênin đã vận dụng, kế thừa và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác, bổ sung vào lý luận chủ nghĩa Mác nhiều nội dung mới gắn với thực tiễn cách mạng và lý luận ấy trở thành chủ nghĩa Mác – Lênin, soi sáng cho con đường đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười
đã xóa bỏ ách áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa và những tàn dư của chế độ chuyên chế Nga hoàng, sự thắng lợi này đã làm cho chủ nghĩa cộng sản từ lý luận trở thành thực tiễn sinh động, đã không chỉ giải phóng cho giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động, đưa họ tới vị trí làm chủ xã hội, mà còn làm rung chuyển thế giới mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Cách mạng Tháng Mười đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng, chống lại ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ mọi hình thức nô lệ, vươn tới tự do, bình đẳng, thực hiện quyền tự quyết dân tộc
“Như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối, cuộc Cách mạng tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người…Cách mạng tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở
Trang 24của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2009, tập 9, trang 558 – 562)
Sau cách mạng, chính quyền Xô viết được thành lập và xây dựng nhiều chính sách hết sức tiến bộ như xóa bỏ mọi phân biệt đẳng cấp, sắc tộc, tuyên
bố quyền bình đẳng nam nữ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và thừa nhận bình đẳng và chủ quyền giữa các dân tộc
Cùng với sự ra đời nhà nước Xô viết, để cổ vũ và giúp đỡ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin và Đảng Bônsêvich đã tập hợp những lực lượng cách mạng chân chính để tiến hành thành lập một tổ chức quốc tế mới của giai cấp vô sản.Tháng 03/1919 Quốc tế III – Quốc tế Cộng sản được thành lập ở Mátxcơva với sự tham gia của các tổ chức cộng sản từ
30 nước trên khắp thế giới Quốc tế Cộng sản đã trở thành một tổ chức có vai trò to lớn trong việc tập hợp, tổ chức quần chúng bị áp bức trên thế giới thành một trận tuyến cách mạng rộng lớn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Một điểm đặc biệt là Quốc tế Cộng sản rất quan tâm đến vấn đề dân tộc và thuộc địa, khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước và dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” được đưa ra thay cho khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, như vậy vấn đề dân tộc được đưa lên thành một vấn đề lớn cần giải quyết trong Quốc tế Cộng sản, có mối quan hệ gắn bó với vấn đề giai cấp Năm 1920, tại đại hội II của Quốc tế Cộng sản, V.I.Lênin đã trình bày Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa Những nội dung trong luận cương đã đặt nền tảng chính trị và tư tưởng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề của phong trào giải phóng dân tộc Đây là tác phẩm có ảnh hưởng quyết định nhất đánh dấu bước chuyển của Hồ Chí Minh (khi ấy có tên Nguyễn Ái Quốc) từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản – Chủ nghĩa Mác – Lênin – cũng là một tiền đề lý luận quan trọng của việc hình
Trang 25thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc Đại hội đã tán thành đường lối chính trị của V.I.Lênin về những vấn đề dân tộc và thuộc địa đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết anh em của các dân tộc phương Đông
và giai cấp vô sản phương Tây Tháng 12/1922 Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) ra đời – đánh dấu sự thắng lợi của chính sách dân tộc theo Chủ nghĩa Mác – Lênin, thắng lợi của tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc trong quốc gia công nông đầu tiên trên thế giới
Như vậy, sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, sự ra đời của Liên Xô và Quốc tế Cộng sản là nguồn động viên, cổ vũ vô cùng to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên khắp thế giới
Thứ ba, những chuyển biến ở khu vực Đông Á, Đông Nam Á
Trong khi các nước phương Tây có sự phát triển mạnh mẽ, một số nước trở thành đế quốc thì hầu hết các nước phương Đông vẫn còn là những quốc gia phong kiến bảo thủ, trì trệ, lạc hậu Do vậy, khi bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược thì phần lớn chính quyền phong kiến ở các quốc gia này đều bất lực trong vấn đề bảo vệ độc lập và trở thành thuộc địa của các nước đế quốc Đầu thế kỷ XX, lịch sử Trung Quốc có sự chuyển biến quan trọng đó
là cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, lật đổ nền quân chủ chuyên chế Mãn Thanh đã suy thoái và sau đó thành lập nền cộng hòa Trung Hoa Dân Quốc, thực hiện cương lĩnh theo học thuyết Tam dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Cùng với Cách mạng Tân Hợi, phong trào Duy Tân của hai nhà tư tưởng tiến bộ của Trung Quốc lúc bấy giờ là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà Nho tiến bộ của Việt Nam Từ đó thúc đẩy phong trào cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Nhật Bản là một trong số những nước hiếm hoi ở châu Á không bị các nước đế quốc xâm lược và trở thành thuộc địa, thậm chí nước Nhật say này
Trang 26đã phát triển và trở thành một đế quốc hùng mạnh đi xâm lược, áp bức dân tộc khác Từ năm 1879 đến 1894, Nhật Bản liên tiếp gây chiến tranh với các nước Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan Đặc biệt trong cuộc chiến tranh với nước Nga 1904 – 1905, Nhật Bản đã giành thắng lợi Chiến thắng đó đã gây tiếng vang lớn và tác động lớn đến phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á Từ đó có rất nhiều nhân sĩ, chính khách châu Á đến Nhật Bản để mong học hỏi kinh nghiệm và nhờ Nhật giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc ở nước mình
Ở các nước Đông Nam Á, ngay từ đầu thế kỷ XV các nước đế quốc đã bắt đầu xâm lược các nước ở khu vực này Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX thì toàn bộ các nước Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc và bị bóc lột hết sức nặng nề Mặt khác cũng đồng thời xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh chống xâm lược, giải phóng đất nước ở các quốc gia này, nhưng hầu hết không có một thắng lợi đáng kể nào Duy chỉ có nước Xiêm (Thái Lan) đã nhận thức được cục diện chính trị thế giới và đã xây dựng được chương trình hành động để bảo vệ được chủ quyền, tuy vậy cũng không thoát khỏi sự lệ thuộc và bị khống chế bởi sức mạnh kinh tế - chính trị của các nước đế quốc Đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng mới, phong trào đấu tranh ở các nước Đông Nam Á chuyển sang khuynh hướng dân chủ tư sản
Tóm lại, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ đầy biến động của lịch sử thế giới, bao trùm là tiếng khóc đau thương, cơ cực của người nô lệ, những người bị mất đi độc lập, đan xen với tiếng súng của kẻ đi xâm lược và người đấu tranh đòi lại độc lập tự do Trong không khí bao trùm đó, khát vọng về độc lập, tự do, bình đẳng cho dân tộc trở thành một khát khao cháy bỏng, một yêu cầu lịch sử giành cho các nhà cách mạng, các nhà tư tưởng tiến bộ lúc bấy giờ
Trang 27Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc nói riêng được hình thành dựa nên điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tạo ra cơ sở nền tảng cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc
Cơ sở nền tảng đó trước hết được thể hiện ở chỗ Hồ Chí Minh được sinh ra trong một dân tộc bị mất nền độc lập, sinh ra trong một nước thuộc địa chịu cảnh nô lệ hoàn toàn bị mất đi sự bình đẳng, bị áp bức bóc lột nặng
nề trên tất cả các lĩnh vực
Cuối tháng 8 năm 1858 thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) Trong khi triều đình nhà Nguyễn chống cự yếu ớt, từng bước đầu hàng thực dân Pháp thì các phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân liên tiếp nổ ra Tuy nhiên, tất cả các phong trào yêu nước đều lần lượt thất bại vì nhiều lý do khác nhau trong đó chủ yếu là thiếu một đường lối chiến lược đúng đắn và không xuất phát từ một hệ tư tưởng đúng đắn Sau khi cơ bản đã dập tắt các phong trào yêu nước, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị của chúng ở Việt Nam Xã hội Việt Nam chuyển từ chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế sang chế độ xã hội thuộc địa nửa thực dân, phong kiến
Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách chia để trị, chia Việt Nam làm ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, nằm trong khối Đông Dương cùng với xứ Cao Miên (Campuchia) và xứ Ai Lao (Lào), mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp Bên cạnh đó, thực dân Pháp vẫn duy trì bộ máy chính quyền phong kiến ở các đơn vị cấp cơ sở, hợp tác với bọn quan
Trang 28lại, địa chủ nhằm biến chúng trở thành tay sai đắc lực để dễ bề thống trị dân tộc Việt Nam
Song song với bộ máy hành chính, hệ thống tòa án – nhà tù được thiết lập khá dày đặc khắp Việt Nam để trấn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân ta, tăng cường lực lượng vũ trang, bắt lính người Việt được tiến hành thường xuyên liên tục Với việc sắp xếp, tổ chức bộ máy cai trị của thực dân Pháp, Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ chính trị thế giới, chính sách chia để trị đã tập trung mọi quyền hành vào tay thực dân Pháp đồng thời thực hiện mục tiêu chia rẽ dân tộc và tôn giáo, phá hoại khối đoàn kết của dân tộc Việt Nam
Về kinh tế, Sau khi xác lập quyền thống trị ở Việt Nam, thực dân Pháp thực hiện hai cuộc khai thác thuộc địa: lần thứ nhất vào năm 1897 – 1918, lần thứ hai sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền về kinh tế, làm cho kinh tế Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế Pháp và phát triển một cách què quặt, mặt khác dùng mọi thủ đoạn cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, ra sức khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Thực dân Pháp chiếm nguồn thuế, độc quyền sản xuất và độc quyền ngoại thương Do vậy, sự biến đổi về kinh tế không mang lại lợi ích nào cho người dân mà còn làm trầm trọng hơn tình trạng bần cùng hóa, nghèo khổ, nạn đói diễn ra liên tục đặc biệt là ở các tỉnh Trung Kỳ, nông dân bị mất ruộng đất, các nhà tư sản dân tộc bị chèn ép dẫn tới phá sản
Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị, trong báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương ngày 1-3-1899, Thống sứ Bắc Kỳ đã viết “kinh nghiệm của dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột” thực dân Pháp thực hiện ngu dân về mặt giáo dục và đầu độc về mặt văn hóa Thực dân Pháp dung túng, duy trì các tập tục lạc hậu, hủy hoại các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, dùng rượu cồn và thuốc phiện để suy thoái giống nòi, tuyên truyền tâm lý tự ti vong bản theo Hồ Chí
Trang 29Minh thì “rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà
tù làm nốt phần còn lại” Thực dân Pháp tìm cách cấm đoán ngăn chặn những ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới du nhập vào Việt Nam Trong lĩnh vực tôn giáo, trong khi Nho giáo và Phật giáo đang mất dần vai trò trong đời sống xã hội thì Thiên Chúa giáo được sự dung dưỡng, bảo trợ của thực dân Pháp nên có điều kiện phát triển, ngoài ra còn có sự xuất hiện của đạo Cao Đài – do chính người Việt sáng lập, thực dân Pháp lợi dụng đào sâu sự khác biệt giữa các tôn giáo nhằm chia rẽ nhân dân Việt Nam
Những chính sách cai trị của thực dân Pháp trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục thể hiện sự bất công, bất bình đẳng rõ ràng đi ngược lại khẩu hiệu “khai hóa” của chúng Những chính sách áp bức của thực dân Pháp chính là cơ sở để Hồ Chí Minh về sau đưa ra nội dung cụ thể đảm bảo quyền bình đẳng dân tộc, xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng từ đó củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Trên chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cơ cấu xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, dân số Việt Nam tiếp tục tăng lên và thành phần khá đa dạng, bên cạnh người Pháp còn có người Campuchia, người Lào và người Hoa cùng làm ăn và sinh sống xen kẽ với người Việt Bên cạnh những giai cấp có tính chất truyền thống cũ (giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân) trong xã hội Việt Nam xuất hiện thêm các giai cấp, tầng lớp mới
Đó là giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản thành thị
Xã hội Việt Nam lúc này xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến Hai mâu thuẫn này đặt ra yêu cầu đối với cách mạng Việt Nam là phải giải quyết hai nhiệm vụ có quan hệ mật thiết với nhau Đó là phải giành độc lập dân tộc và giành ruộng đất về cho nông dân Đồng thời những biến đổi trong cơ cấu xã hội ở Việt Nam cũng
Trang 30giúp Hồ Chí Minh về sau đưa ra những sách lược đúng đắn trong việc đấu tranh giành độc lập, đặc biệt là việc xác định đúng đắn lực lượng cách mạng, bạn đồng minh cũng như kẻ thù chân chính đối với dân tộc
Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng sôi sục bởi những cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta liên tục nổ ra theo những khuynh hướng khác nhau
Các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến: hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra hưởng ứng phong trào Cần Vương như khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1892) ở đồng bằng Bắc Bộ
do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887) ở Thanh Hóa do Phạm Bành, Đinh Công Tráng lãnh đạo; khởi nghĩa Hương Khê (1885 -1895) do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo, khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1884 – 1913) ở Bắc Giang do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Các phong trào yêu nước nói lên tinh thần yêu nước, kiên cường chống xâm lược của nhân dân ta nhưng các cuộc khởi nghĩa đều thất bại vì đã không tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, còn một bộ phận lớn giai cấp địa chủ, phong kiến đã đầu hàng thực dân Pháp, cũng chính là sự thất bại của ý thức tư tưởng phong kiến trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc Đặc biệt phải kể đến phong trào đấu tranh của đồng bào dân tộc ít người: khởi nghĩa của đồng bào Mường ở Hòa Bình do Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ) lãnh đạo ở triền sông Đầ 1886 – 1892; khởi nghĩa của Đinh Công
Uy trong 15 năm 1889 – 1903; của Đốc Bang (Nguyễn Đình) và Tổng Khiêm (Nguyễn Văn Khiêm) 8/1909 – 1-1910 người Pháp viết về cuộc khởi nghĩa như sau:
“Việc đàn áp cuộc khởi nghĩa này không đòi hỏi nhiều hy sinh đổ máu như đối với Đề Thám Nhưng nó cũng đòi hỏi không kém đối với quân đội bao tháng trời ròng rã phải cố gắng hành quân trong một vùng hiểm trở, khí hậu độc hại với cái nóng thiêu người Dân chúng ủng hộ bọn
Trang 31phiến loạn – hơn cả ở Phúc Yên – do một quan hệ phong kiến ràng buộc dân Mường với lãnh tụ của họ Bọn thân binh đáng lẽ giúp ta nhiều việc, trái lại là một trở ngại thực sự cho quân đội khi chúng đồng tình với bọn phiến loạn” (Đinh Xuân Lâm, 2012, trang 204)
Khởi nghĩa đồng bào Mông ở Hà Giang do Giang Quay Bảo lãnh đạo 2/1911 – 4/1912 Cuộc kháng cự của đồng bào dân tộc ít người ở Tây Nguyên
và các tỉnh Nam Trung Kỳ: khởi nghĩa nhân dân Xơđăng của Thăng Mậu ở Quảng Nam (1900), khởi nghĩa của nhân dân Hrê của Tia Cao 1907 ơ Quảng Ngãi, Tại Bình Định có khởi nghĩa của Võ Trứ, Đề Nam và Chu sử năm
1900 Tại Tây Nguyên tuy Pháp chiếm được Kon Tum nhưng chưa củng cố được sự thống trị, với ý thức bảo vệ buôn làng, nhân dân Tây Nguyên gây cho Pháp nhiều khó khăn, trở ngại Sức chiến đấu quyết liệt và dai dẳng của đồng bào các dân tộc ít người đã gây cho địch nhiều thiệt hại, cho tới tận năm 1914,
hệ thống đồn trấn thủ của Pháp vẫn không xây dựng xong Những cuộc nổi
dậy chứng tỏ sức mạnh của các dân tộc ít người và thể hiện tất cả đều là con
cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, về sau Hồ Chí Minh đánh giá cao sự
đóng góp của đồng bào các dân tộc cho cách mạng “có sự vẻ vang đó là vì toàn thể đồng bào Việt Bắc: Kinh, Thổ, Mán, Nùng, Mèo,… ai cũng yêu nước, ai cũng không chịu làm nô lệ, ai cũng đoàn kết, ai cũng hăng hái ủng hộ cách mạng” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 4, trang 406)
Các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản: đại biểu cho khuynh hướng này là hai xu hướng đấu tranh bạo động và ôn hòa của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh nhưng đều thất bại Tuy nhiên, Hai ông làm tấm gương sáng trong phong trào yêu nước, góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam Bên cạnh đó còn nhiều phong trào khác như Đông Kinh nghĩa thục (1907) của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền mục đích là dạy học, nhằm truyền bá tư tưởng học thuật mới, một nếp sống văn minh, tiến
bộ, cổ vũ lòng yêu nước, phong trào đấu tranh của Việt Nam quốc dân Đảng
Trang 32(1927) do Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo Tất cả các phong trào đều đi đến tan rã vầ thất bại, đồng thời phản ánh sự bất lực của hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử Yêu cầu lịch sử đặt ra cho cách mạng Việt Nam là phải tìm một đường lối mới, một hệ thống tư tưởng mới, một giai cấp mới có đủ sức đại diện và tập hợp được sức mạnh của toàn để dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thắng lợi Tất cả các cuộc đấu tranh đều tan rã và thất bại nhưng nó thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, cho thấy sức sống và niềm tự hào, tự tôn của một dân tộc ngàn năm văn hiến, cho thấy ý chí bất khuất, kiên cường không cam chịu làm nô lệ của dân tộc Việt Nam Chính những sức mạnh nội sinh này mới là yếu tố đảm bảo cho sự trường tồn của một dân tộc, một dân tộc nếu mất đi ý chí đấu tranh, lòng tự hào dân tộc thì dân tộc đó không xứng đáng có được độc lập, có được bình đẳng dù có được cũng chỉ mang tính hình thức vẫn phụ thuộc vào sức mạnh bên ngoài Chính chủ nghĩa yêu nước và lòng tự hào dân tộc, niềm tin vào sức mạnh của dân tộc là hành trang, động lực cho Hồ Chí Minh dành cả cuộc đời mình để đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân
Như vậy, bối cảnh thực tiễn Việt Nam cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX
đã chuẩn bị sẵn “đất” để reo mầm trong Hồ Chí Minh tư tưởng về quyền bình đẳng dân tộc, hạt “mầm” ấy sẽ sinh sôi nảy nở khi Hồ Chí Minh bắt được “ánh sáng” của Cách mạng Tháng Mười và Chủ nghĩa Mác – Lênin
1.1.2 Tiền đề lý luận của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc
Sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc là do sự tác động từ nhiều yếu tố, bên cạnh thực tiễn lịch sử trong và ngoài nước còn có những sự tác động trực tiếp quan trọng khác đó là: truyền thống bình đẳng của dân tộc Việt Nam, sự giáo dục gia đình và phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh; tinh hoa văn hóa nhân loại và những
Trang 33quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền bình đẳng dân tộc Việc nghiên cứu những nhân tố này và có ý nghĩa nghĩa rất quan trọng để chúng ta
có thể hiểu được bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc nói riêng
Truyền thống bình đẳng của dân tộc Việt Nam
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Trải qua quá trình phát triển lâu dài, dân tộc Việt Nam đã tạo ra cho mình một nền văn hóa mang đậm đà bản sắc riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống cao đẹp Đó là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập, tự lực,
tự cường, tinh thần đoàn kết, thương thân tương ái, sự cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động và tính lạc quan yêu đời…của dân tộc Truyền thống bình đẳng dân tộc của Việt Nam không thể hiện ra một cách trực tiếp mà biểu hiện thông qua các truyền thống tốt đẹp khác, vừa là điều kiện đảm bảo vừa là kết quả tất yếu của sự tác động các truyền thống đó
Điểm nổi bật trong truyền thống văn hóa Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước – sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam Ngay từ khi dựng nước dân tộc Việt Nam luôn luôn phải đương đầu với thiên tại, địch họa, để tồn tại và phát triển dân tộc ta phải đoàn kết chặt chẽ để bảo vệ non sông, đất nước, bảo vệ nền độc lập, thống nhất của dân tộc Cho nên lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc ta chính là lịch sử của sự đấu tranh chống quân thù xâm lược để giành lại và giữ gìn nền độc lập của dân tộc Chính vì vậy, tinh thần yêu nước đã thấm sâu, trở thành máu thịt của mỗi người dân Việt Nam tạo thành sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược
Trong những cuộc chiến tranh tàn khốc đó, lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam đã được thể hiện ở tinh thần bất khuất, kiên cường, bền
bỉ dám xả thân vì nước, sẵn sàng đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích riêng tư của bản thân mình, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa cao đẹp của dân tộc Chính những cuộc đấu tranh
Trang 34chống ngoại xâm đó đã thể hiện tinh thần bất khuất, tự chủ của dân tộc Việt Nam, khát vọng bình đẳng ngang hàng với các dân tộc hùng mạnh khác, cũng chính lịch sử dân tộc là lịch sử dựng và giữ nước vì vậy dân tộc Việt Nam sớm có tinh thần đoàn kết, bình đẳng với nhau
Ở Việt Nam, sự bất bình đẳng giữa các thành phần dân cư, sự phân hóa giàu nghèo nhưng không quá gay gắt như nơi khác, đặc biệt giữa dân tộc
đa số với các dân tộc thiểu số cũng tồn tại sự tôn trọng và bình đẳng nhất định Các triều đại phong kiến Việt Nam cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc thắt chặt tình đoàn kết giữ các dân tộc sống trong ngôi nhà chung Đại Việt cho nên đã có những biện pháp mềm mỏng tranh thủ các tù trưởng miền núi, qua đó để thắt chặt mối đoàn kết dân tộc và gây ảnh hưởng của mình tới các vùng xa xôi hẻo lánh của đất nước
Vua Lý Thái Tổ gả con gái cho tù trưởng động Giáp ở Lạng Sơn là Giáp Thừa Quý sau đổi sang họ Thân Năm 1029 Lý Thái Tông gả công chúa Bình Dương cho Thân Thiệu Thái, năm 1066 gả công chúa Tiên Thành cho Thân Đạo Nguyên Năm 1036 vua Lý Thái Tông gả công chúa Kim Thành cho châu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận Năm vua Lý Nhân Tông đã gả công chúa Nhâm Thành cho châu mục Vị Long là Hà Di Khánh (Trần Thị Vinh chủ biên, 2013, trang 206)
Lựa chọn chính sách mềm dẻo trong mối quan hệ với các dân tộc ít người nhưng các triều đình phong kiến Việt Nam cũng thẳng tay dùng biện pháp bình định hoặc đánh dẹp khi có tù trưởng địa phương nổi dậy, ảnh hưởng đến an ninh của cộng đồng dân tộc
Mặc dù là những thủ đoạn nhằm đảm bảo quyền thống trị của mình nhưng đây chính là điểm sáng quan trọng trong chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam…Ở Hồ Chí Minh việc thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc là điều tất yếu, thể hiện quyền tự nhiên của con người mang tính nhân văn sâu sắc Cũng ở Hồ Chí Minh chủ nghĩa yêu nước phát triển
Trang 35lên tầm cao mới, yêu nước không còn gắn liền với trung quân nữa mà yêu nước chính là trung với Đảng hiếu với dân
Truyền thống bình đẳng của dân tộc Việt Nam còn thể hiện ở tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái Truyền thống này cũng hình thành cùng với sự ra đời của dân tộc Ngay từ buổi đầu dựng nước dân tộc Việt Nam đã phải chiến đấu gian khổ với thiên tai, địch họa để tồn tại và phát triển, chính vì vậy mà dân tộc Việt Nam đã sớm đoàn kết và gắn
bó với nhau để cùng nhau vượt qua khó khăn Truyền thống quý báu đó được phản ánh trong những truyền thuyết, ca dao tục ngữ của nhân dân Truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc một trăm trứng, trăm trứng ấy nở thành trăm con trai nhắc nhở “đồng bào” ta nhớ về cội nguồn, nên trong cuộc sống phải coi nhau như ruột thịt phải đoàn kết, yêu thương, gắn bó với nhau Ở trong ca dao cũng đã có những câu thơ rất hay được đúc kết từ truyền thống
tốt đẹp đó như: “nhiễu điều phủ lấy giá gương - người trong một nước phải
thương nhau cùng” hay “bầu ơi thương lấy bí cùng - tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Truyền thống này được thể hiện trong từng gia đình
cho đến hàng xóm láng giềng, sống ở gần nhau, “tối lửa tắt đèn có nhau”
Nền văn minh lúa nước với tổ chức xã hội ở nông thôn là làng, xã, gia tộc, gia đình và tổ chức phường hội làm cho con người Việt Nam có tính cộng đồng, sống gắn bó mật thiết với nhau Trong chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc thì tinh thần đoàn kết trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết, tướng sĩ đồng cam cộng khổ, quân dân đồng lòng tạo thành sức mạnh giúp dân tộc ta chiến thắng mọi
kẻ thù xâm lược
Dân tộc Việt Nam không chỉ bao dung nhân ái với chính dân tộc mình
mà còn bao dung nhân ái với ngay cả kẻ thù xâm lược đã từng gây nhiều tội
ác cho nhân dân mình Truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam góp phần thể hiện truyền thống bình đẳng của dân tộc, bởi chính vì đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau là cơ sở tôn trọng lẫn nhau,
Trang 36không dè bỉu, che bai, áp bức lẫn nhau Truyền thống bình đẳng của dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh tiếp thu trong quá trình học tập từ nhỏ, là một
cơ sở quan trọng góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc đồng thời là nền tảng cơ bản tạo điều kiện cho chính sách bình đẳng dân tộc được thực hiện đạt được hiệu quả
Sự giáo dục của gia đình cũng là một tiền đề giúp Hồ Chí Minh có thể tiếp xúc với tư tưởng bình đẳng Sinh ra trong một gia đình nhà Nho tiến bộ, gia đình Hồ Chí Minh luôn có sự yêu thương, giúp đỡ nhau Chính vì vậy,
Hồ Chí Minh từ nhỏ đã được giáo dục đức tính khiêm tốn, giản dị, cha mẹ Người chính là tấm gương sáng để Hồ Chí Minh noi theo Mẹ của Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị Loan
Là một người phụ nữ đôn hậu đảm đang, là con đầu lòng nên bà phải giúp mẹ rất sớm Tuy là con một nhà Nho nhưng sinh hoạt của bà không khác gì con em gia đình nông dân nghèo trong làng Hoàng Trù Quần áo của bà thường là vải nhuộm nâu bà tự dệt lấy, may lấy Từ khi
ra giếng bà càng cần kiệm hơn (Những mẫu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ - Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Nghệ Tĩnh, trang 17) Chính nhờ tấm gương của mẹ mà Hồ Chí Minh từ nhỏ đã có tính cần kiệm, giản dị, về sau khi trở thành chủ tịch của một nước Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên đức tính cao cả ấy Cha của Hồ Chí Minh là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, mặc dù làm quan nhưng ông vẫn luôn sống chan hòa, bình đẳng với người dân nghèo, có tài liệu ghi lại rằng khi ông đậu được làm quan Dân làng đang đi trên đường mang trống, cờ, quạt, võng xuống Vinh đón ông Sắc thì gặp ông khăn gói vác vai đi bộ về nhà Làng khẩn khoản mời ông lên võng, ông không chịu Dân phu giương cờ quạt, nổi trống chiêng mừng đón, ông không cho Ông khuyên mọi người lặng trống chiêng cờ quạt cùng ông đi bộ về làng….từ khi làm quan ông vẫn sống đạm bạc và gần gũi với bà con xung quanh, tự cuốc đất làm vườn
Trang 37(Những mẫu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ - Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Nghệ Tĩnh, trang 16).
Ông chính là tấm gương sáng cho Hồ Chí Minh, về sau Hồ Chí Minh mặc dù đã là chủ tịch nước nhưng vẫn luôn luôn gần gũi với nhân dân, lắng nghe nhân dân, mọi người không gọi Hồ Chí Minh là chủ tịch mà bằng hai tiếng “Bác Hồ” thân thương Trong sự hình thành nhân cách của con người, gia đình chiếm vị trí quan trọng là tiền đề, điều kiện định hình nhân cách một con người, gia đình là môi trường xã hội đầu tiên mà chúng ta tiếp xúc đầu tiên từ khi sinh ra, nơi đó có thể gieo một hạt giống tốt hoặc xấu cho tâm hồn một con người Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình chứa đựng những giá trị tốt đẹp của dân tộc, chính điều ấy đã tạo tiền đề đầu tiên cho Hồ Chí Minh – một con người hết lòng vì nước vì dân Tất nhiên nhân cách, tư tưởng của một người yếu tố quyết định nằm ở chính bản thân con người ấy, chính hoạt động thực tiễn giao tiếp của con người ấy và ở Hồ Chí Minh lại
có một cuộc đời học tập, hoạt động vô cùng phong phú và đa dạng Trong cuộc đời của Hồ Chí Minh, người sống và làm việc ở nhiều nước châu Á, châu Mỹ, châu Âu…tiếp xúc nhiều nền văn hóa tri thức phương Đông, phương Tây đa dạng điều đó góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Các giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc còn là sự kế thừa có phê phán những tư tưởng văn hóa ở cả phương Đông và phương Tây
Ở phương Đông, tư tưởng Nho giáo và Phật giáo đã ảnh hưởng tới Hồ Chí Minh ngay từ thời niên thiếu Trong các tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh
sử dụng khá nhiều mệnh đề Nho giáo và đưa vào đó những nội dung và ý nghĩa mới Nho giáo có những yếu tố tích cực nên mới có sức sống mãnh liệt trong mấy ngàn năm, Hồ Chí Minh đã nói “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng tử có nhiều điều không đúng song những điều
Trang 38hay trong đó thì chúng ta nên học” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2009, tập 6, trang 405) những mặt ưu điểm mà Hồ Chí Minh tiếp thu của Nho giáo là tư tưởng đạo đức thể hiện trong phạm trù Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Cần, Kiệm, Liêm, Chính; triết lý hành động, nhập thế hành đạo, giúp đời, tu thần, tề gia, trị quốc, quan điểm “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”; tư tưởng về xã hội thái bình, thịnh trị, một “thế giới đại đồng của Nho gia Hồ Chí Minh luôn căn dặn các cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, hết lòng phục vụ nhân dân chứ không phải là “quan cách mạng”
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ta còn thấy có nét gần gũi với triết lý nhà Phật Phật giáo là tôn giáo, nên có nhiều mặt tiêu cực không tránh khỏi nhưng những mặt tích cực của Phật giáo vẫn được Hồ Chí Minh tiếp thu và vận dụng như tinh thần “cứu khổ, cứu nạn”, “thương người như thể thương thân”, lối sống đạo đức, trong sáng, giản dị, tu tâm tích đức Đặc biệt là lối sống tích cực của nhà Phật là gắn bó với quần chúng nhân dân, với đất nước
đó là tinh thần bình đẳng, tinh thàn dân chủ chất phác chống lại mọi phân
biệt đẳng cấp, Phật nói “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”
Tiếp thu tư tưởng giải thoát của Phật, Hồ Chí Minh phát triển lên một tầm cao mới để giải quyết vấn đề thực tiễn đang đặt ra cho dân tộc Hồ Chí Minh cũng hướng tới bình đẳng, giải thoát con người nhưng phương pháp thực hiện để giải thoát nỗi khổ đó là đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế để tạo thành sức mạnh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, mọi sự bất công
Ngoài Nho giáo và Phật giáo, Hồ Chí Minh cũng tìm hiểu một số nhà tư tưởng phương Đông khác như Lão tử, Mặc tử, Quản tư…thường được Hồ Chí Minh trích dẫn trong các bài nói, bài viết của mình Sau này, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ học thuyết Tam dân “dân tộc độc lập; dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” của Tôn Trung Sơn và ba chính sách lớn của ông: Liên Nga, liên Cộng, phù trợ công nông Chủ nghĩa Tam dân đã
Trang 39có ảnh hưởng lớn đối với Hồ Chí Minh, về sau dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng tư tưởng này vào Việt Nam và nâng lên tầm cao mới đầy tính nhân văn và phù hợp với thực tiễn nước ta
Hồ Chí Minh là người phương Đông nhưng có thời gian dài hơn 30 năm sống và hoạt động chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ nên Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây Ngay từ khi còn nhỏ, Hồ Chí Minh đã làm quen với văn hóa Pháp và tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái của cách mạng tư sản Pháp từ
đó nung nấu ý định tìm hiểu nền văn minh Pháp và các nước khác để trở về giúp đồng bào dân tộc mình
Khi xuất dương Hồ Chí Minh từng qua Mỹ và đặc biệt chú ý tới ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại trong bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ Sau này trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã dẫn lại câu nói trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ
mà mở rộng ra thành quyền bình đẳng, tự do cho các dân tộc
Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh đã có dịp tìm hiểu, tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của những nhà tư tưởng khai sáng như Vonte (Voltaire), G.Rútxô (Rousseau), L.Môngtexkiơ (Montesquieu)… những lý luận gia của Đại cách mạng Pháp 1789 như Tinh thần Pháp luật của L.Môngtexkiơ, Khế ước xã hội của Rútxô…Song song với quá trình tiếp thu
Hồ Chí Minh cũng tiến hành sự phê phán và nhận ra những mặt hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản, Hồ Chí Minh viết
Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã bốn lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2009, tập 2, trang 274)
Trang 40Trong quá trình hoạt động của mình, Hồ Chí Minh được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp, được sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M.Casanh (M.Cachin), P.V Cutuyariê (P.V.Couturier), G.Môngmútxô (G.Mommousseau)…Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa tiếp thu vừa chọn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ
và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc mình và nhân dân thuộc địa trên thế giới Pon Muysơ trong
tác phẩm “ Hồ Chí Minh – Việt Nam – Châu Á” đã viết:
“Hồ Chí Minh là người mang tính cách Á Đông nhất, nhưng cũng là người cởi mở nhất với tư tưởng phương Tây Ở đây, nổi bật lên trên bối cảnh được do xét đến tận cùng đáy thẳm sâu, hình ảnh một nhà kiết thiết lớn cho thời đại ngày nay…một nhân vật đã đem trở lại lục địa này niềm kiêu hãnh và sự hùng mạnh của nó” (dẫn theo Võ Nguyễn Giáp,
2005, trang 226)
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền bình đẳng dân tộc
Trong các nhân tố có tác động đến quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng dân tộc nói riêng thì quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin là yếu tố có ảnh hưởng quyết định nhất Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành cơ sở thế giới quan
và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định quyền bình đẳng là quyền tự nhiên vốn có, đó là sự bình đẳng về xã hội của công dân, cư dân các thị tộc, bộ lạc,
bộ tộc, dân tộc cho nên quyền bình đẳng dân tộc phải được tuyên bố là những quyền của con người mang tính chất chung và vượt ra khỏi khuôn khổ một quốc gia