ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ LAN ANH VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LAN ANH
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LAN ANH
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số: 8229008
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN XUÂN TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội
& Nhân văn, với sự biết ơn và kính trọng, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Thầy/Cô khoa Triết, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Xuân Tế - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cám ơn đến Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội
& Nhân văn, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Tỉnh Bình Dương; và các tác giả với những công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn tôi thực hiện Đây là nơi cung cấp cho tôi những tư liệu quý giá trong quá trình tôi thực hiện đề tài luận văn của mình
Xin cám ơn Ban lãnh đạo các cấp Hội phụ nữ cũng như chị em phụ nữ trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khảo sát
số liệu liên quan đến đề tài luận văn của mình
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng trong luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý Thầy/Cô, các chuyên gia, các bạn đọc, những người quan tâm đến luận văn, có những ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trần Thị Lan Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Xuân Tế Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình này
Tác giả
Trần Thị Lan Anh
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
S
TT
Chữ cái viết tắt/ Ký hiệu
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 11
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 11
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 12
7 Kết cấu luận văn 12
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 13
1.1 KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA 13
1.1.1 Khái niệm gia đình, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội 13
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản, Nhà nước Việt Nam về xây dựng gia đình văn hóa 23
1.2 KHÁI NIỆM PHỤ NỮ VÀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 34
1.2.1 Khái niệm phụ nữ 34
1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam hiện nay 35
Kết luận chương 1 53
Chương 2: THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY 56
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BÌNH DƯƠNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA GIA ĐÌNH VÀ PHỤ NỮ TỈNH BÌNH DƯƠNG 56
Trang 72.1.1 Khái quát về tỉnh Bình Dương 56
2.1.2 Đặc điểm của gia đình ở tỉnh Bình Dương hiện nay 63
2.1.3 Đặc điểm của phụ nữ tỉnh Bình Dương hiện nay 67
2.2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG 69
2.2.1.Thực trạng vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Bình Dương 69
2.2.2 Nguyên nhân của thực trạng vai trò phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Bình Dương 102
2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY 108
2.3.1 Phương hướng cơ bản phát huy vai trò phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở Bình Dương hiện nay 108
2.3.2 Một số giải pháp lớn nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Bình Dương hiện nay 111
Kết luận chương 2 131
KẾT LUẬN CHUNG 133
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC 146
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình – cộng đồng nhỏ nhưng có vai trò lớn trong sự phát triển của
xã hội Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải chú ý hạt nhân cho tốt” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 9, trang 523) Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kì quá độ lên CNXH, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề gia đình và xây dựng GĐVH, khẳng định xây dựng GĐVH có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược xây dựng, phát triển văn hóa và con người đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế đưa đất nước ta trở thành một nước XHCN phồn vinh, gia đình hạnh phúc
Xây dựng gia đình văn hóa – gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc là một cuộc vận động xã hội rộng lớn, là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, của từng địa bàn dân cư và của bản thân từng gia đình Trong
đó người phụ nữ - người vợ, người mẹ giữ vai trò to lớn quan trọng về nhiều mặt Nếu coi gia đình là tế bào của xã hội thì có thể nói, phụ nữ là hạt nhân của tế bào ấy Dân gian có câu: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, “Cha sinh không tày mẹ dưỡng” Nghị quyết 04-NQ/TW của Bộ chính trị Đảng
Cộng sản Việt Nam năm 1993 về Đổi mới và tăng cường công tác vận động
phụ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Phụ nữ vừa là người lao động,
người công dân; vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người” Đối với quá trình xây dựng GĐVH, tiến trình, tốc độ và kết quả của quá trình đó như thế nào, chất lượng thực sự và độ bền vững của GĐVH ra sao, điều đó phụ thuộc rất lớn vào vai trò của người phụ nữ
Thực tiễn quá trình xây dựng GĐVH những năm qua cho thấy, đại bộ phận phụ nữ Việt Nam trên mọi vùng miền của Tổ quốc, đã phát huy một cách hiệu quả vai trò trách nhiệm của mình trong quá trình đó Nhờ đó, cuộc
Trang 9vận động xây dựng GĐVH trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương đã đạt được những thành tựu quan trọng trực tiếp góp phần đem lại hạnh phúc cho gia đình, qua đó tạo điều kiện và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vai trò của người phụ nữ trong xây dựng GĐVH chưa được phát huy đầy đủ, còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Việc tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế - xã hội cùng áp lực công việc làm cho quỹ thời gian dành cho gia đình của phụ
nữ bị thu hẹp lại, ít có thời gian chăm lo cho gia đình Trình độ học vấn thấp,
sự thiếu hiểu biết về đời sống hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại; hoặc
do thiếu ý thức trách nhiệm sao nhãng nhiệm vụ xây dựng gia đình của một
bộ phận nhỏ phụ nữ hoặc do thiếu sự tôn trọng, sự quan tâm động viên chia
sẻ của chồng con… đã và đang là những khó khăn trở ngại lớn đối với việc phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở nước ta hiện nay Một
bộ phận không nhỏ phụ nữ không phát huy được vai trò của mình trong xây dựng GĐVH Tình hình đó dẫn đến những diễn biến tiêu cực trong đời sống văn hóa gia đình như chúng ta đang phải chứng kiến Đó là tình trạng bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em, tội phạm ở tuổi vị thành niên, tệ nạn xã hội,… có
xu hướng gia tăng Điều đáng nói ở đây là trong phần lớn các trường hợp tiêu cực đó, có nguyên nhân chủ yếu từ cuộc sống gia đình
Ở tỉnh Bình Dương hiện nay, cũng giống như tình hình chung của cả nước, vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH, bên cạnh những biểu hiện tích cực, tiến bộ có cả những biểu hiện của sự hạn chế, bất cập Nói tới xây dựng GĐVH là nói tới xây dựng, phát triển gia đình, con người, xã hội Không phát huy đầy đủ vai trò của người phụ nữ trong xây dựng GĐVH sẽ không tránh khỏi những tổn thất, mất mát lớn đối với gia đình cả về vật chất lẫn tinh thần, và khi đó không thể có sự phát triển và tiến bộ của con người với tư cách là thành viên của xã hội
Trang 10Như vậy, có thể thấy, vấn đề đặt ra ở tỉnh Bình Dương hiện nay là phải làm gì và làm như thế nào để phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng GĐVH để cuộc vận động xây dựng GĐVH ở tỉnh Bình Dương đạt được những thành tựu to lớn, bền vững, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển văn hóa con người đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Do đó, việc nghiên cứu lý luận chung về vai trò của phụ nữ trong xây
dựng GĐVH ở tỉnh Bình Dương hiện nay; phân tích thực trạng vai trò của
phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở tỉnh Bình Dương trong những năm qua, những thành tựu hạn chế nguyên nhân của thực trạng; xác định phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình ở tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng và cấp thiết, có ý nghĩa vừa cơ bản vừa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn Từ những nhận
thức nêu trên, tôi chọn đề tài “Vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình
văn hóa ở tỉnh Bình Dương hiện nay” làm đề tài nghiên cứu và viết công
trình luận văn Thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong xây dựng gia đình văn hóa từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, của các cơ quan, các tổ chức khoa học và chính trị xã hội Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này đã được công bố Có thể chia những công trình đó theo hai hướng nghiên cứu chính như sau:
Hướng thứ nhất, nghiên cứu về gia đình, phụ nữ và vai trò của phụ
nữ nói chung, tiêu biểu có các công trình sau:
Tác giả Lê Minh với cuốn sách khác Gia đình và người phụ nữ, Nxb
Lao động, Hà Nội, năm 2000 Nghiên cứu của Lê Minh nhìn nhận phụ nữ trong cái nhìn bình đẳng, khẳng định họ cũng có quyền và nghĩa vụ công dân, vừa là người lao động, người công dân, vừa là người mẹ, người thầy
Trang 11đầu tiên Tác giả cho rằng sứ mệnh “người thầy đầu tiên” ở người phụ nữ có ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến không chỉ gia đình, mà còn đến cả xã hội hôm nay và mai sau
Cuốn sách Gia đình học của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý,
Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009 Các tác giả của cuốn sách này cho rằng, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, phụ nữ trong gia đình không bao giờ thuộc hạng sử (đối tượng những người chủ trong gia đình
có quyền uy tuyệt đối trong cả đối nội và đối ngoại) mà chỉ thuộc hàng sự (bậc thứ dưới) do bị trói buộc bởi các nguyên tắc tam tòng, tứ đức Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ngoài việc làm tròn những chức năng của người mẹ, người vợ, phụ nữ còn phải đảm đương việc sản xuất như nam giới Thời gian lao động trong một ngày của phụ nữ thường dài hơn đàn ông 3 - 6 giờ, nhiều người phải chịu cảnh chồng “dốt nát, gia trưởng, lười nhác, nhậu nhẹt tối ngày và đánh đập, hạch sách vợ con ”(Đặng Cảnh Khanh &
Lê Thị Quý, 2009, trang 347) Từ đó, bất bình đẳng nảy sinh trong mối quan hệ nam nữ, trong sự tham gia, hưởng lợi của phụ nữ ở gia đình và cộng đồng, trong các cơ hội để phụ nữ phấn đấu, vươn lên khẳng định giá trị, năng lực bản thân Các nghiên cứu cũng chỉ ra thân phận thấp kém của người phụ nữ trong gia đình, bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào người đàn ông Con gái là con người ta, nên “khi sống thì ở quê cha, đến khi chết thì làm
ma quê chồng” (Trần Đăng Sinh, 2002, trang115) Tác giả Lê Ngọc Văn
với bài Một số đặc điểm biến đổi gia đình từ xã hội nông nghiệp truyền
thống sang xã hội công nghiệp hóa, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 1,
2002 nêu:
“Chế độ gia trưởng trong gia đình phụ hệ phát triển thành sự thống trị của nam giới đối với nữ giới… Người phụ nữ khi đã lấy chồng chỉ có một con đường thờ chồng nuôi con và thực hiện các nghĩa vụ với gia đình nhà chồng” (Lê Ngọc Văn, 2002, trang 49)
Trang 12Tác giả Đỗ Hoàng với bài Thực trạng định kiến đối với vai trò của
nam giới và phụ nữ trong gia đình, Tạp chí Tâm lý học, số 11, tháng
11-2006, nhấn mạnh về định kiến tồn tại trong hệ thống gia đình:
“Nam giới trụ cột kinh tế gia đình, phụ nữ có thiên chức làm công việc nội trợ Nam giới bản chất là phái mạnh nên thích hợp với những công việc lớn, là người chủ gia đình, người ra quyết định; còn phụ nữ ở vị trí phụ thuộc, vị trí thứ yếu” (Đỗ Hoàng, 2006, trang 11)
Trong khi xã hội đang hướng vào các hoạt động vì bình đẳng nam nữ,
vì sự tiến bộ của phụ nữ, thì định kiến như trên lại là suy nghĩ của không ít phụ nữ Những suy nghĩ đó được họ dùng để đánh giá hành vi của nam giới
và của bản thân Các nhà nữ quyền gọi đó là “tiếp thu sự áp bức”
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều góp phần thể hiện hoặc nhấn mạnh thực tế rằng ở nước ta vẫn tồn tại “văn hóa mẹ” Người vợ trong gia đình Việt được kính trọng và đề cao hơn, có tinh thần chủ động hơn so với người vợ trong gia đình Nho giáo Trung Hoa Nguyên tắc “phu xướng, phụ tùy” bao giờ cũng được đặt bên cạnh một nguyên tắc quan trọng khác là
“thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”
Lê Thi với tác phẩm Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa
và sự phát triển bền vững, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2004 Chỉ ra
mối liên hệ mật thiết giữa vai trò của phụ nữ với phát triển gia đình, giữa văn hóa với phụ nữ, tác giả Lê Thi cho rằng cần thực hiện bình đẳng giới mới có thể giúp người phụ nữ đảm nhiệm tốt những trách nhiệm, vai trò của mình và đóng góp tích cực vào gìn giữ văn hóa gia đình, văn hóa dân tộc, phát triển
xã hội
Trần Quốc Vượng với tác phẩm Truyền thống phụ nữ Việt Nam, Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội, năm 2000 Theo tác giả Trần Quốc Vượng, phụ
nữ có vai trò lớn trong sinh hoạt kinh tế, đời sống xã hội và đời sống văn hóa tinh thần Vai trò đó được thể hiện qua việc nuôi dạy con cái, sản xuất, kinh
Trang 13doanh, quản lý kinh tế, tài sản gia đình; đấu tranh chống ách đô hộ của phong kiến xâm lược, góp phần bảo tồn, phát huy tinh hoa văn hóa nước nhà, trước hết là bảo tồn nòi giống, gìn giữ, phát triển tiếng nói của dân tộc
Tác giả Lê Minh với cuốn Phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội,
Nxb Lao động, Hà Nội, năm 1997 Tác giả Lê Minh đã khái quát những bước chuyển trong vai trò, vị trí của người phụ nữ qua các thời kỳ lịch sử Từ thời
cổ xưa khi đàn ông là chủ nô thì phụ nữ là “vật trao đổi” và “công cụ sinh đẻ”
Ở thời phong kiến, đàn ông là gia trưởng, thì phụ nữ là vật “mua bán” để làm
phận “máy đẻ” và phục vụ chồng con, gia đình nhà chồng Trong chiến tranh, người phụ nữ tham gia tích cực chiến đấu bảo vệ tổ quốc Nhưng khi hòa bình lập lại, người đàn ông từ chiến trường trở về, thì phụ nữ mất dần vai trò ở xã hội và gia đình mà họ đã tạo dựng được trong kháng chiến Vai trò tham gia các hoạt động xã hội, quyền quyết định những việc lớn trong lao động sản xuất, kinh tế, ứng xử với họ hàng, làng mạc và trong nội bộ gia đình, hướng nghiệp cho các con… đều chủ yếu do người đàn ông nắm giữ Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay, phụ nữ đang dần vươn lên làm chủ cuộc đời mình bằng nghề nghiệp, kiến thức của bản thân, đi đầu trong cuộc cách mạng giải phóng sức lao động, giải phóng tài năng và giải phóng người phụ nữ
Nhiều công trình nghiên cứu gần thường đặt phụ nữ trong bối cảnh gia đình thời kì hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế thị trường, phát triển bền vững Luận văn thạc sỹ Chủ nghĩa
xã hội khoa học của tác giả Võ Văn Mười: Tác động của toàn cầu hóa đối
với sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay, Đại học Khoa Học Xã hội và
Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012 Tác giả làm sáng tỏ lý luận chung nhất về gia đình, đặc biệt luận giải những tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình Việt Nam hiện nay Thông qua đó góp phần làm phong phú, sâu sắc lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa xã hội và gia đình
Tác giả Dương Thị Minh với cuốn Gia đình Việt Nam và vai trò người
Trang 14phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
2004 Trong cuốn sách này, tác giả tập trung phân tích về cấu trúc, chức năng, vị trí, vai trò, của người phụ nữ trong gia đình và mối quan hệ giữa phụ nữ và gia đình Đồng thời, đưa ra những biện pháp nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay
Luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học của tác giả Nguyễn Thị
Thu Hường: Vai trò của phụ nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam, Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2009 Luận văn làm rõ vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên cơ sở đó nêu lên một số giải pháp nhằm phát huy và phát triển vai trò của phụ nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng với đề tài luận văn thạc sĩ: Vai trò của
phụ nữ trong văn hóa Tây Nguyên nhìn từ luật tục, Đại học Khoa Học Xã
hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 Thông qua các nguồn
tư liệu luật tục để tập trung làm rõ vị trí vai trò người phụ nữ Ê Đê nói riêng
và phụ nữ Tây Nguyên nói chung trong văn hóa tổ chức cộng đồng, trong đó làm nổi bật lê vai trò của người phụ nữ trong việc gắn kết các thành viên gia đình và tạo sự đoàn kết gắn bó các thành viên trong xã hội
Luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học của tác giả Trần Thị Lệ
Thủy: Đội ngũ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị cơ sở ở tỉnh Ninh Thuận
hiện nay, Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh,
năm 2012 Tác giả làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của đội ngũ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị nước ta Từ việc phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị cơ sở ở Ninh Thuận để đề xuất những giải pháp mang tính định hướng nhằm phát triển đội ngũ cán bộ
nữ trong hệ thống chính trị cơ sơ ở Ninh Thuận, đáp ứng những nhu cầu của đất nước và tỉnh Ninh Thuận trong tình hình mới
Trang 15Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu về gia đình văn hóa và vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa, có thể kể đến các công trình:
Tác giả Hoàng Bích Nga với cuốn Để có một gia đình văn hóa, Nxb
Lao động - Xã hội, Hà Nội, năm 2005; tác giả Nguyễn Hồng Hạnh với cuốn
Thừa Thiên - Huế xây dựng nếp sống văn minh – Gia đình văn hóa, Ban
tuyên giáo Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế, năm 2000; tác giả Thanh Lê với cuốn
Xã hội học gia đình, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001
Trong đó tác giả đề cập đến gia đình và vai trò người phụ nữ ngày nay, tác giả đã khẳng định vai trò của phụ nữ trong gia đình qua các thời kỳ, cũng như thể hiện khát khao của người phụ nữ dần muốn thoát khỏi những định
kiến lạc hậu áp đặt cho phụ nữ từ ngàn xưa
Luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học của tác giả Trương Trần
Hoàng Phúc: Vai trò phụ nữ trong đời sống gia đình ở thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay, Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2009 Luận văn làm rõ vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở phân tích lý luận chung về gia đình, vai trò giới và tìm hiểu thực trạng của phụ nữ trong gia đình; qua đó đề
ra một số giải pháp để nâng cao vai trò phụ nữ trong đời sống gia đình trong giai đoạn hiện nay
Nguyễn Thị Trang với đề tài luận văn: Gia đình văn hóa ở Phú Yên
trong giai đoạn hiện nay, Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành
phố Hồ Chí Minh, năm 2009 Tác giả luận chứng cơ sở lý luận và thực tiễn về GĐVH, vấn đề xây dựng GĐVH ở Phú Yên, đưa ra phương hướng
và giải pháp nhằm góp phần xây dựng GĐVH ở tỉnh Phú Yên trong giai đoạn hiện nay
Đỗ Thị Ngát với đề tài luận văn: Phụ nữ với xây dựng gia đình văn
hóa ở tỉnh Tây Ninh hiện nay, Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành
Trang 16phố Hồ Chí Minh, năm 2012 Tác giả phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận
về vai trò của phụ nữ đối với xây dựng GĐVH ở Việt Nam; thực trạng vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH trong những năm qua; đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở tỉnh Tây Ninh
Luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học của tác giả Nguyễn Thị
Thanh Hoa: Xây dựng gia đình văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012 Trên cơ sở phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận về xây dựng GĐVH ở Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực trạng xây dựng GĐVH ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, từ đó tác giả đề xuất một số phương hướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc xây dựng GĐVH ở thành phố Hồ Chí Minh thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Luận văn thạc sĩ Triết học của tác giả Hà Thị Vân: Phát huy vai trò
của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay ,
Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, năm 2012 Tác giả làm sáng tỏ lý luận về gia đình và vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH Vạch ra thực trạng vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình hiện nay, từ đó đưa ra những phương hướng giải pháp cụ thể để phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình
Luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học của tác giả Nguyễn Kiều
Tiên: Xây dựng văn hóa gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Đại
học Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016 Trên
cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về văn hóa gia đình và xây dựng văn hóa gia đình ở Việt Nam; thực trạng xây dựng văn hóa gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, tác giả đề xuất một số phương hướng, giải pháp xây dựng văn hóa gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 17Hoàng Thị Liên với luận văn thạc sĩ về đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa gia đình, Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ
Chí Minh, năm 2015 Tác giả trình bày tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về văn hóa gia đình, thành tựu hạn chế của việc xây dựng GĐVH ở thành phố
Hồ Chí Minh Từ đó tác giả nêu lên ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa gia đình với việc xây dựng GĐVH ở thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Lê Thị Thúy với luận văn: Biện chứng giữa truyền thống và
hiện đại trong xây dựng văn hóa gia đình ở Việt Nam hiện nay, Đại học
Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016 Dưới gốc
độ triết học, luận văn đã trình bày những giá trị của truyền thống và những yếu tố tích cực của hiện đại để từ đó cho thấy việc vận dụng mối quan hệ này trong xây dựng văn hóa gia đình ở Việt Nam Trên cơ sở đó tác giả cũng đề xuất một số biện pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng văn hóa gia đình ở Việt Nam hiện nay
Nhìn chung, có thể thấy các công trình nghiên cứu về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở nước ta thời gian qua hàm chứa những phân tích đáng chú ý về đối tượng trên nhiều phương diện, gắn với tác động, ảnh hưởng của bối cảnh xã hội và nhận thức, quan niệm của con người Trong bối cảnh hội nhập ngày nay, nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong gia đình rất cần được tiếp tục vì đó là yêu cầu bức thiết của thực tiễn, là cơ sở quan trọng góp phần đánh giá, nhìn nhận, khơi dậy tiềm năng nguồn nhân lực nữ nhằm thiết thực đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển gia đình, con người, đất nước bền vững
Xuất phát từ tầm quan trọng của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội, từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nói chung, vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH nói riêng, song cho đến nay, chưa có công trình khoa học độc lập nào nghiên cứu một cách trực tiếp, có hệ thống về vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở
Trang 18tỉnh Bình Dương hiện nay Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề này là rất quan trọng và rất cần thiết, có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Trên cơ sở phân tích, làm rõ một số vấn đề lý
luận về vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH Việt Nam; thực trạng vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở tỉnh Bình Dương trong những năm qua; luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò
của phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở tỉnh Bình Dương hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung
giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích làm rõ lý luận chung về vai trò của phụ nữ trong
xây GĐVH ở Việt Nam
Thứ hai, phân tích thực trạng vai trò của phụ nữ trong xây dựng
GĐVH ở Bình Dương
Thứ ba, đề xuất và luận giải một số phương hướng, giải pháp cơ bản
nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở tỉnh Bình Dương hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Vai trò của phụ nữ ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia
đình văn hóa ở tỉnh Bình Dương hiện nay, giai đoạn từ năm 2011 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản
và Nhà nước Việt Nam về vấn đề phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong gia đình
và xã hội Đồng thời luận văn có kế thừa các công trình nghiên cứu lý luận
và thực tiễn liên quan đến đề tài đã được công bố
Trang 19Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp cụ thể như sau: phương pháp lịch sử - logic, phân tích – tổng
hợp, phương pháp so sánh – đối chiếu và điều tra xã hội học
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý
luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở Việt Nam
hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần chỉ ra thực trạng vai trò của phụ
nữ trong xây dựng GĐVH ở tỉnh Bỉnh Dương, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả vai trò của phụ nữ trong xây dựng GĐVH ở tỉnh Bình Dương hiện nay Luận văn mong muốn góp phần nhỏ bé là căn cứ, cơ
sở cho Đảng bộ, chính quyền ở Bình Dương đề ra chủ trương, chính sách và biện pháp trong quá trình thực hiện chính sách gia đình ở tỉnh Bình Dương
hiện nay hiệu quả hơn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề phụ nữ, gia đình và vai trò của phụ nữ ở một số chuyên ngành như: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học, Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng…
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, uận văn có kết cấu 2 chương 5 tiết
Trang 20Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
1.1.1 Khái niệm gia đình, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
* Khái niệm gia đình
Hiện nay đã có nhiều định nghĩa về khái niệm gia đình được để xuất
và lưu hành ở Việt Nam và trên thế giới, trong đó có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng không ít khác biệt Để đi tới một định nghĩa đầy đủ về khái niệm gia đình và phù hợp với phương pháp tiếp cận của Chủ nghĩa xã hội khoa học chúng tôi thấy cần dẫn ra một số cách lý giải về gia đình như sau:
Từ điển Chủ nghĩa xã hội khoa học do Nxb Tiến Bộ - Mátxcơva xuất
bản năm 1986 (bản Tiếng Việt) giải thích:
“Gia đình là một hình thức cộng động những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ máu mủ Bên cạnh những chức năng sinh vật học đặc thù là tái sản xuất ra loài người, gia đình đồng thời còn là hình thức cộng đồng xã hội của con người và, với tính cách
đó, gia đình thực hiện các chức năng kinh tế và tinh thần quan trọng” (Từ điển Chủ nghĩa xã hội khoa học, 1986, trang 148)
Trong Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học do Bộ Giáo dục và Đào
tạo biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2005 cũng đưa ra định nghĩa tương tự:
“Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan
Trang 21hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục… giữa các thành viên” (Bộ giáo dục và Đào tạo, 2005, trang 236)
Trong cuốn Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới tác
giả Lê Thi cho rằng:
“Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh từ quan
hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hang nội ngoại) Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống Các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm) Giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ (ghi rõ trong Luật hôn nhân và gia đình
ở nước ta) Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ rang về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các
thành viên” (Lê Thi, 2002, trang 42)
Qua cách lý giải của tác giả, gia đình được hình thành, duy trì và củng
cố bởi các quan hệ nội tại giữa các thành viên, bắt nguồn từ các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Gia đình tồn tại như một bộ phận cùng với các thiết chế khác trong cấu trúc của xã hội; chịu sự chi phối
và sự quản lý của xã hội
Tiến sĩ Phạm Việt Long trong Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình
định nghĩa:
“Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội, gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đáp ứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống giữ gìn và phát huy văn hóa của cộng đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách con người, phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng
và quốc gia trong tiến trình lịch sử” (Phạm Việt Long, 2012, trang 24)
Trang 22Trong một thời gian dài, các nhà xã hội học đã coi định nghĩa của Murdock (một nhà xã hội học của phương Tây) như một chuẩn mực Theo ông:
“Gia đình là một nhóm xã hội được xác định bởi một nơi trú ngụ chung, sự hợp tác và tái sản xuất về kinh tế, gồm những người trưởng thành trong đó có ít nhất là hai người duy trì mối quan hệ tình dục được xã hội công nhận với một hoặc nhiều đứa trẻ là con đẻ hoặc con nuôi của những người trưởng thành có quan hệ với nhau” (Trần Thị Kim Xuyến, 2002, trang 42)
Định nghĩa này có những điểm hạn chế của nó, do không bao quát được mọi vấn đề diễn ra trong thực tế, đặc biệt trong xã hội đương đại
Các nhà xã hội học E.W.Burggess và H.J.Locker cho rằng:
“Gia đình là một nhóm người đoàn kết với nhau bằng những mối liên
hệ hôn nhân, huyết thống và những mối quan hệ con nuôi tạo thành một hộ đơn giản, tác động lẫn nhau và thống nhất với nhau trong vai trò tương ứng của họ là người chồng và người vợ, người mẹ là người cha, anh em và chị em, tạo nên một nền văn hóa chung” (Trần Thị Kim Xuyến, 2002, trang 43)
Như vậy, cho đến hiện nay đã có nhiều định nghĩa cho khái niệm gia đình được đề xuất và sử dụng phổ biến trong và ngoài nước, mặc dù có những khác biệt về các hướng tiếp cận nhưng giữa chúng vẫn có những điểm chung cơ bản đó là:
Thứ nhất, gia đình được hình thành và duy trì chủ yếu dựa trên quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, giáo dục
Thứ hai, gia đình là một thiết chế đặc thù của loài người, là đơn vị xã
hội cơ bản, là một tế bào xã hội, cái nôi để hình thành và hoàn thiện nhân cách con người
Từ sự phân tích khái niệm gia đình trên, có thể quan niệm: Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành và duy trì chủ yếu
Trang 23dựa trên quan hệ hôn nhân và huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục
Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, phổ biến tồn tại hai mô hình gia
đình cơ bản: Thứ nhất, “gia đình hạt nhân” hay “gia đình hiện đại”, hiểu theo
nghĩa là mô hình gia đình trong đó chỉ có từ một đến hai thế hệ sống chung
Mô hình gia đình này chủ yếu tồn tại ở các quốc gia, các vùng công nghiệp
phát triển Thứ hai, “gia đình mở rộng” hay “gia đình truyền thống”, hiểu
theo nghĩa là mô hình gia đình trong đó có từ ba thế hệ trở lên sống chung
Mô hình này tồn tại chủ yếu ở các quốc gia, các vùng có nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, thủ công – nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp
Gia đình có nhiều chức năng, có thể khái quát thành bốn chức năng cơ bản, đó là: chức năng tái sản xuất ra con người, chức năng kinh tế, chức năng giáo dục thế hệ trẻ và chức năng tổ chức đời sống Các chức năng này của gia đình có quan hệ mật thiết, tác động qua lại, phụ thuộc và chế định lẫn nhau Thông qua việc thực hiện các chức năng cơ bản này gia đình tồn tại và phát triển, đồng thời tác động đến sự phát triển và tiến bộ chung của xã hội Mặt khác, điều kiện kinh tế, chính trị và trình độ văn hóa của xã hội có tác động chi phối mạnh mẽ đối với gia đình
* Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
Trong các tác phẩm: Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen; Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen; Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước của Ph.Ăngghen; Tư bản của C.Mác, Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản và
Chống Đuyrinh của Ph.Ăngghen đều chỉ rõ rằng, mỗi chế độ hôn nhân và gia
đình đều dựa trên cơ sở của một chế độ kinh tế - xã hội thích ứng với từng gia đoạn phát triển của lực lượng sản xuất Chế độ hôn nhân và gia đình chịu sự quy định của điều kiện kinh tế - xã hội, thay đổi theo sự thay đổi của chế độ kinh tế - xã hội Ngược lại, chế độ hôn nhân và gia đình có ảnh hưởng trở lại chế độ kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống xã hội Trong mối
Trang 24quan hệ giữa gia đình và xã hội, Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 9, trang 523)
Tính quy định của điều kiện kinh tế - xã hội với chế độ hôn nhân và gia đình
Tính quy định của điều kiện kinh tế - xã hội đối với chế độ hôn nhân
và gia đình được thể hiện qua hai mặt như sau:
Thứ nhất, chế độ hôn nhân và gia đình biến đổi theo sự biến đổi của
chế độ kinh tế - xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen tán thành quan điểm của nhà nhân chủng học và sử học nổi tiếng người Mỹ - L.H Moocgan (1818-1881) cho rằng, gia đình là một yếu tố năng động, nó không đứng yên một chỗ mà chuyển từ một hình thức thấp lên một hình thức cao, khi xã hội phát triển từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao Và C.Mác khẳng định thêm: “Tôn giáo, gia đình, nhà nước, pháp luật, đạo đức, khoa học, nghệ thuật,… chỉ là những hình thức đặc biệt của sản xuất và phục tùng quy luật chung của sản xuất” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2000, tập 42, trang 168) Trong tác phẩm
Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Ph.Ăngghen
chỉ ra rằng, trong lịch sử có ba hình thức lớn về hôn nhân và gia đình Ở thời đại xã hội thị tộc, phổ biến nhất là chế độ quần hôn với các hình thức gia đình là gia đình “cùng một huyết thống” và gia đình kiểu “punaluan” Trong gia đình “cùng một huyết thống” những người cùng một thế hệ như hàng cha
mẹ, hàng anh em, chị em, hàng con cháu đều là chồng chung, vợ chung của nhau, chỉ có cha mẹ và con cái mới không được lấy nhau Còn trong gia đình kiểu “punaluan”, thì hôn nhân giữa anh em, chị em đã bị cấm; lấy vợ lấy chồng phải đi tìm người ở thị tộc khác, dưới hình thức là những nhóm người đàn bà con gái của thị tộc này lấy nhóm những người đàn ông con trai của thị tộc khác Trong thời kì này, con cái và quan hệ họ hàng tính theo dòng mẹ,
vì con cái chỉ biết mẹ mà không biết cha là ai Người đàn bà chiếm địa vị ưu
Trang 25thế vì họ giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thời bấy giờ Đó là chế độ mẫu hệ, mẫu quyền
Về sau, hôn nhân giữa những người cùng huyết thống bị cấm Và dần thay thế cho chế độ quần hôn là hình thức gia đình “đối ngẫu”, hình thức gia đình trong đó một người đàn ông cũng như một người đàn bà đều có một người vợ hoặc một người chồng chính trong số nhiều vợ nhiều chồng của mình và quan hệ vợ chồng có thể bị bên này bên kia cắt đứt dễ dàng Con cái, họ hàng vẫn được xác định theo dòng mẹ như trước kia
Lực lượng sản xuất không ngừng phát triển Sự phân công lao động xã hội lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, của cải trong xã hội tăng thêm nhiều Lao động trong gia đình của người đàn bà giảm dần ý nghĩa của nó, nhường chổ vai trò ngày càng lớn của lao động của đàn ông trong sản xuất, trong kinh tế Quyền hành trong gia đình bắt đầu chuyển sang cho người đàn ông Quan hệ họ hàng được lập theo dòng cha Chế độ mẫu hệ, mẫu quyền tan rã và chế độ phụ hệ, phụ quyền xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Như vậy, hình thức gia đình trong lịch sử đã trải qua một loạt những biến đổi theo hướng làm cho một số người, mà quan hệ hôn nhân chung gắn
bó với nhau, lúc đầu là rất đông, về sau ngày càng thu hẹp lại, cho đến rốt cuộc chỉ còn lại một đôi vợ chồng như chủ yếu thường thấy hiện nay Có nhiều yếu tố chi phối sự biến đổi này Chẳng hạn yếu tố đào thải tự nhiên: ở đâu, khi nào quan hệ tính giao thu hẹp thì ở đó, khi đó con người, với tính cách là thành viên của gia đình, của cộng đồng phát triển tốt hơn Nhưng xét chung và xét đến cùng thì chế độ kinh tế - xã hội thích ứng với từng giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định sự biến đổi của chế độ hôn nhân và gia đình trong lịch sử
Thứ hai, tính chất của quan hệ hôn nhân và gia đình do tính chất của
xã hội quy định
Trang 26Gia đình một vợ một chồng ra đời cùng với sự ra đời của chế độ tư hữu Chế độ hôn nhân và gia đình một vợ một chồng là một bước tiến lớn trong lịch sử, nhưng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra, khi nó dựa trên chế độ tư hữu và bóc lột thì nó vẫn không phải là một hình thức cao của hôn nhân Do tính chất của xã hội, của quan hệ sản xuất quy định, hôn nhân và gia đình trong các xã hội dựa trên cơ sở chế độ tư hữu và bóc lột tất yếu mang tính chất:
Một là, hôn nhân và gia đình không dựa trên cơ sở tình yêu nam nữ
mà dựa trên lợi ích kinh tế và do những lợi ích đó quyết định Xét theo nguồn gốc xuất hiện của chế độ hôn nhân và gia đình một vợ một chồng, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng:
“Chế độ đó quyết không phải là kết quả của tình yêu cá nhân giữa trai và gái, nó tuyệt nhiên không dính dáng gì với thứ tình yêu này cả… Chế độ một vợ một chồng là hình thức gia đình đầu tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên, mà dựa trên những điều kiện kinh tế - tức là trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng và tự phát Sự thống trị của người chồng trong gia đình, sự sinh đẻ ra những đứa con chỉ có thể là con của người chồng và phải được quyền thừa hưởng tài sản của người ấy, - đấy là những mục đích đặc biệt của chế độ một vợ một chồng” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2004, tập 21, trang 103-104)
Hai là, tính chất bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ
Tính chất bất bình đẳng ở đây là địa vị thấp kém, địa vị bị nô dịch của người
vợ, người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội Nghiên cứu nguồn gốc và điều kiện xuất hiện của chế độ hôn nhân cá thể một vợ một chồng trong lịch sử, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng:
“chế độ hôn nhân cá thể quyết không phải là xuất hiện trong lịch sử như là sự liên kết hòa hợp giữa đàn ông và đàn bà, và càng không phải
là hình thức liên kết cao nhất Trái lại, nó thể hiện ra là một sự nô dịch
Trang 27của giới này đối với giới kia, là sự tuyên bố sự xung đột giữa hai giới”
(C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2004, tập 21, trang 104)
“sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là trùng với sự xuất hiện của sự đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn nhân cá thể, và
sự áp bức giai cấp đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với
đàn bà” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2004, tập 21, trang 104)
Ba là, về hình thức là một vợ một chồng nhưng trong thực tế là chế độ
nhiều chồng một cách công khai hoặc che dấu Ph Ăngghen đã chỉ ra rằng, trong xã hội nô lệ,
“sự tồn tại của chế độ nô lệ bên cạnh chế độ một vợ một chồng, sự có
mặt của những người nô lệ nữ trẻ, đẹp, hoàn toàn thuộc về người đàn
ông, - đó là điều, ngay từ đầu, đã khiến cho chế độ một vợ một chồng chỉ riêng đối với người đàn bà, chứ không phải đối với người đàn ông
Và cho đến nay, chế độ một vợ một chồng vẫn còn giữ tính chất ấy” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2004, tập 21, trang 101)
Trong chế độ phong kiến, đó là tình trạng “năm thê, bảy thiếp” Đến thời đại tư sản, thì như C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ra trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” rằng: “hôn nhân của giai cấp tư sản thật ra là chế độ
cộng thê” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2004, tập 4, trang 623) Còn sau
thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản, chế độ hôn nhân một vợ một chồng sẽ trở thành như thế nào? Trả lời câu hỏi này, Ph.Ăngghen viết:
“Hiện nay, chúng ta đang tiến tới một cuộc cách mạng xã hội, trong đó các cơ sở kinh tế từ trước tới nay của chế độ một vợ một chồng, cũng như cơ sở của điều bổ sung cho nó là nạn mại dâm, đều nhất định sẽ bị tiêu diệt” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2004, tập 21, trang 117-118)
Tệ mại dâm – nguồn bổ sung vô hạn cho chế độ hôn nhân một vợ một chồng, làm “bại hoại nhân cách toàn thế giới đàn ông của nhân loại” mất đi thì, chế độ một vợ một chồng sẽ “trở thành một hiện thực – ngay cả đối với
Trang 28người đàn ông nữa” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2004, tập 21, trang 117)
Tóm lại, chế độ hôn nhân và gia đình biến đổi theo sự biến đổi của lực lượng sản xuất, của chế độ kinh tế - xã hội Trình độ phát triển và tính chất của xã hội quyết định qui mô, kết cấu và tính chất của quan hệ hôn nhân và gia đình Đó mà một mặt; mặt khác, chế độ hôn nhân và gia đình có tác động quan trọng đối với chế độ kinh tế - xã hội
Tác động của chế độ hôn nhân và gia đình đối với chế độ kinh tế -
xã hội
Mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội qui định kết cấu, qui mô và tính chất của chế độ hôn nhân gia đình, nhưng chế độ hôn nhân và gia đình cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với chế độ kinh tế - xã hội Sự tác động này có thể là tích cực, thúc đẩy sự phát triển của chế độ kinh tế - xã hội khi chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, hoặc kìm hãm sự phát triển đó khi chế độ hôn nhân và gia đình lỗi thời Vai trò tác động quan trọng của gia đình đối với chế độ kinh tế - xã hội có thể khái quát thành một số mặt chủ yếu như sau:
Thứ nhất, gia đình là tế bào của xã hội Điều đó có nghĩa là quan hệ
giữa gia đình và xã hội là quan hệ giữa tế bào và cơ thể Tế bào có lành mạnh, khỏe mạnh thì cơ thể mới lành mạnh, khỏe mạnh Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “hạt nhân của xã hội là gia đình”, “gia đình tốt thì xã hội mới tốt”,
“Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 9, trang 523)
Thứ hai, như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ:
“Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân
sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự
Trang 29truyền nòi giống Nhưng trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là
do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2004, tập 21, trang 44)
Thứ ba, gia đình không chỉ có chức năng sinh đẻ đơn thuần mà còn là
môi trường giáo dục đầu tiên, có ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên rất quan trọng đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, và đến lượt chính nhân cách cá nhân có tác động hoặc tích cực, hoặc tiêu cực đối với sự phát triển của xã hội
Thứ tư, khoa học cũng như thực tế cuộc sống đã và đang xác nhận
rằng một khi con người có cuộc sống hôn nhân và gia đình tốt đẹp, hạnh phúc thì họ đến với lao động xã hội với một trạng thái tinh thần tốt, đạt được năng suất và hiệu quả cao, và ngược lại
Thứ năm, trong gia đình không phải ai khác mà chính là các thành
viên của xã hội đang sống trong đó Các nhu cầu cơ bản của các thành viên
xã hội như: ăn, ở, sinh hoạt, nghỉ ngơi, tâm lý tình cảm… được thực hiện chủ yếu ở gia đình vì vậy gia đình có vai trò trực tiếp, quan trọng đối với việc bồi dưỡng và tái tạo sức lao động, cả về thể chất và tinh thần cho xã hội
Xuất phát từ vị trí vai trò quan trọng của gia đình nêu trên nên trong lịch sử, các nhà nước và xã hội đều tích cực can thiệp vào quan hệ hôn nhân
và gia đình bằng tư tưởng, chính sách, pháp luật… nhằm buộc các quan hệ
đó phải phục tùng lợi ích của xã hội, của nhà nước, tức là phục tùng lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp Chủ nghĩa xã hội và những người cộng sản cũng rất quan tâm tới vấn đề gia đình Hồ Chí Minh nói:
“quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội,
xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 9, trang 523)
Trang 301.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản, Nhà nước Việt Nam về xây dựng gia đình văn hóa
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng gia đình văn hóa
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vị trí, vai trò của gia đình trong xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định giữa gia đình và
xã hội có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ lẫn nhau cùng phát triển và tiến
bộ, trong đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò quan trọng, to lớn của gia đình đối với sự phát triển và tiến bộ của xã hội cũng như sự cần thiết phải xây dựng gia đình mới thật tốt để xây dựng xã hội mới tốt đẹp – xã hội xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh nói:
“Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa
xã hội, phải chú ý hạt nhân cho tốt” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập
9, trang 523)
Với quan điểm đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương quan trọng về xây dựng gia đình mới – gia đình văn hóa, thể hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam Mặc dù, Hồ Chí Minh không trực tiếp sử dụng cụm từ “Gia đình văn hóa” nhưng với những chủ trương, mục tiêu và biện pháp xây dựng, thực hành “đời sống mới”, “nếp sống mới” trong gia đình do Hồ Chí Minh đề ra và chỉ đạo thực hiện, có thế thấy xây dựng gia đình và thực hành “đời sống mới”, “nếp sống mới” ở phạm vi gia đình trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là xây dựng GĐVH theo cách nói của chúng ta ngày nay
Xây dựng gia đình mới – gia đình văn hóa là một chủ trương lớn được
Hồ Chí Minh và Đảng ta đề ra từ rất sớm Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945
thành công, tháng 3 năm 1947 trong cuốn Đời sống mới, chủ tịch Hồ Chí
Minh đã phát động toàn dân tham gia xây dựng đời sống mới trong một quốc
Trang 31gia độc lập mới Trong đó, Hồ Chí Minh coi xây dựng gia đình là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng đời sống mới Theo Hồ Chí Minh, đất nước ta đã phải trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến và hơn
80 năm đô hộ của đế quốc thực dân, đời sống mọi mặt của nhân dân ta bị dìm trong tăm tối, lạc hậu, dốt nát và nghèo đói Do đó, việc xây dựng đời sống mới là một nhiệm vụ cần thiết để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc thông minh, dũng cảm, đủ sức để xây dựng và bảo vệ một nước Việt Nam mới: Độc lập, tự do, hạnh phúc Xây dựng, thực hành đời sống mới theo quan điểm của Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ cách mạng của toàn dân, một cuộc vận động cách mạng, một cuộc chiến đấu khổng lồ để chống lại cái cũ - lạc hậu, xây dựng đời sống mới tiến bộ, văn minh đem lại hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà và cho cả quốc gia dân tộc Việt Nam Chính Người
trong tác phẩm Đời sống mới đã giải thích một cách cụ thể, rõ ràng và dễ
hiểu về nội dung của “đời sống mới” và cách “thực hành đời sống mới” Cụ
Cưới hỏi, Giỗ Tết nên giản đơn, tiết kiệm
Trong nhà ngoài vườn luôn luôn sạch sẽ gọn gàng
Đối với xóm giềng, phải thân mật và sẵn lòng giúp đỡ Đối với việc làng việc nước, phải hăng hái làm gương
Người trong nhà ai cũng biết chữ
Luôn luôn cố gắng, làm cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng – mà một nhà như thế nhất định phải phát đạt” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 5, trang 100)
Trong xây dựng gia đình mới – gia đình văn hóa, Hồ Chí Minh rất
Trang 32quan tâm đến vấn đề giáo dục gia đình, chú trọng chăm sóc thế hệ trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho các thế hệ trẻ bước vào cuộc sống, để các em trở thành công dân tốt cho xã hội Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em:
“Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc và giáo dục các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ Trước hết, các gia đình (tức ông
bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thật tốt công việc ấy Các đảng ủy thành
phố và hợp tác xã phải phụ trách chỉ đạo thiết thực và thường xuyên
Ủy ban Thiếu nhi, Nhi đồng, Đoàn thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 12, trang 468)
Chiếm một vị trí nổi bật trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về gia đình
và xây dựng gia đình mới - GĐVH đó là nhiệm vụ giải phóng phụ nữ Hồ Chí Minh viết: “Nói đến phụ nữ là nói đến phân nửa của xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000, tập 9, trang 523) Hồ Chí Minh đề cao nhiệm vụ giải phóng phụ nữ và thực hiện nam nữ bình đẳng, coi đó là nhiệm vụ có ý nghĩa xã hội lớn lao, cao cả Hồ Chí Minh cho rằng, giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng, đó là một cuộc cách mạng khá to và khó Vì trọng nam, khinh nữ là một thói quen mấy nghìn năm để lại Nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội Trong xã hội cũ, người phụ nữ hầu như không có sự bình đẳng, không được nắm quyền kinh tế trong gia đình, không được học hành và tham gia các hoạt động xã hội Cho nên muốn cải tạo được xã hội cũ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải quan tâm đến phụ nữ để họ được học hành, có trình độ tham
Trang 33gia vào các hoạt động xã hội và hưởng mọi quyền lợi như nam giới Đồng thời chị em phụ nữ cũng phải nhận rõ địa vị người làm chủ gia đình và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà, phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm tròn những nhiệm vụ mới của mình, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng đất nước Hồ Chí Minh còn chỉ ra những hạn chế của phụ nữ và đề ra những biện pháp phát huy vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập” (Hồ Chí Minh toàn tập,
văn kiện của Đảng Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta đã khẳng định:
“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình
ấm no, hòa thuận, tiến bộ Nâng cao ý thức và nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991, trang 13)
Dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc “Cần tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu toàn diện vấn đề gia đình Việt Nam, tiến đến những chuẩn mực đầy đủ của gia đình văn hóa hiện nay” như thông báo số 178 TB/TW ngày 29/03/1966 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã yêu cầu Trên cơ sở
đó, khi đất nước thống nhất, Bộ văn hóa phối hợp với Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ra Thông tư số 35/TT ngày 12/05/1975 về việc đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình mới và đưa ra tiêu chuẩn về xây
Trang 34dựng GĐVH: Gia đình hòa thuận, bình đẳng, dân chủ, hạnh phúc, tiến bộ; thực hiện sản xuất tốt, sinh đẻ có kế hoạch, thực hiện tiết kiệm; thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ
Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định rõ:
“gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới… Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện
về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình Nâng cao trình độ tự giác, xây dựng những quan hệ tình cảm đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức cuộc sống vật chất, văn hóa của gia đình” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, trang 95-96)
Chủ trương xây dựng gia đình mới tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội VII của Đảng Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định:
“xây dựng gia đình văn hóa có ý nghĩ rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hóa dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người Kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, tập thể lao động và tập thể dân
cư trong việc chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hóa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991, trang 112)
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII (tháng 6/1996), Đảng ta đã đưa ra những tiêu chí cơ bản của GĐVH Việt Nam
Đó là:
“Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi
Trang 35người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Thực hiện tốt luật hôn nhân và gia đình” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996, trang 112)
Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Chỉ rõ:
“giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội”, “làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, trang 54)
Năm 2000, Nhà nước ban hành Luật hôn nhân và gia đình mới Đó là văn bản pháp lý phù hợp với điều kiện mới của gia đình trong nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay Cũng từ điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, luật đã lưu ý đến yếu tố bền vững của gia đình và do vậy, tiêu chí của GĐVH Việt Nam không chỉ là no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc mà còn bền vững
Bước vào thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng năm 2001 chỉ rõ: Gia đình không chỉ là tế bào của xã hội mà còn là tổ ấm của mỗi người, xây dựng GĐVH gắn với xây dựng xã hội văn hóa Văn kiện của Đại hội IX nêu rõ chủ trương:
“Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa…thúc đẩy phong trào toàn dân tham gia thực hiện nếp sống văn minh, gia đình, bản làng văn hóa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, trang 296-297)
Trang 36Tiếp đó, ngày 21 tháng 02 năm 2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị 49 - CT/TW Về xây dựng gia đình Việt
Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỉ thị nêu rõ:
“Mục tiêu chủ yếu của công tác gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa là ổn định, củng cố và xây dựng gia đình theo tiêu chí ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ một hoặc hai con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, để mỗi gia đình Việt Nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội” (Ban chấp hành trung ương, 2005)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam lại một lần nữa nhấn mạnh xây dựng GĐVH theo tinh thần của Chỉ thị 49-CT/TW:
“Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, trang 103-104)
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn chỉ đạo cuộc vận động xây dựng GĐVH trên phạm vi
cả nước Để phù hợp với sự phát triển của xã hội trong giai đoạn mới, ngày
23 tháng 6 năm 2006 Bộ Văn hóa - Thông tin ra Quyết định số BVHTT quy định tiêu chuẩn danh hiệu “GĐVH” với những nội dung cụ thể như sau:
62/2006/QĐ-1 Gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào của địa phương
Trang 372 Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng
3 Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả
Từ quá trình phát triển của nhận thức và chỉ đạo của Đảng Cộng sản
và Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề xây dựng GĐVH ở nước ta như đã đề cập ở trên, có thể thấy, tùy theo yêu cầu cụ thể của từng giai đoạn lịch sử, có nhiều tiêu chí của GĐVH đã được xác định Song về cơ bản, GĐVH vẫn là
mô hình gia đình vừa hội tụ được những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống và những yếu tố hợp lý tiến bộ trong nền văn minh đương đại GĐVH
là gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc
Gia đình ấm no, xây dựng gia đình ấm no là một định hướng lâu dài
trong việc xây dựng GĐVH ở Việt Nam Khái niệm ấm no có thể hiểu là đủ
ăn, đủ mặc và cũng được hiểu là ăn ngon, mặc đẹp Và hơn thế nữa là đủ số lượng và chất lượng trong bữa ăn, không thiếu thốn trong các trang phục, thỏa mãn được nhu cầu hiện tại của đời sống gia đình Có thực mới vực được đạo Gia đình ấm no là cơ sở để xây dựng và phát triển gia đình theo hướng tiến bộ, hạnh phúc Tuy nhiên gia đình ấm no chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ của GĐVH Thực tế cuộc sống ở gia đình Việt Nam cũng như trên thế giới xác nhận rằng, no ấm, thậm chí là sự giàu sang của gia đình không phải bao giờ cũng giúp cho nó có được sự tiến bộ và hạnh phúc Không ít trường hợp, sự tăng lên của cải vật chất trong gia đình chẳng những không góp cho gia đình tiến bộ, hạnh phúc, trái lại còn phá hoại hạnh phúc của nó
Gia đình tiến bộ, hạnh phúc
Gia đình được xem là tiến bộ khi ở gia đình thể hiện được sự bình đẳng Bình đẳng giới được xem là yêu cầu để xã hội phát triển một cách công bằng và bền vững Trong công cuộc giải phóng phụ nữ, nếu gia đình là
Trang 38môi trường bình đẳng sẽ là động lực to lớn để phụ nữ có thể đấu tranh ngoài
xã hội Mối quan hệ bình đẳng là một giá trị tiến bộ mà trong quá trình xây dựng GĐVH cần phải phát huy, phát triển
Gia đình bình đẳng là gia đình trong đó:
“Mọi thành viên gia đình có khả năng và tùy theo khả năng cùng chia
sẻ, bàn bạc quyết định và tham gia mọi công việc; mọi thành viên gia đình đều có cơ hội như nhau để hưởng các quyền lợi trong học tập, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe, hưởng thụ văn hóa, tham gia các công tác xã hội và sinh hoạt cộng đồng; truyền thống tốt đẹp kính trên, nhường dưới, tôn trọng, quan tâm lẫn nhau được phát huy; không có biểu hiện phân biệt con trai, con gái; không có bạo hành gia đình” (Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2005, trang 13)
Trong đó, mối quan hệ nhất trí, hài hòa giữa vợ và chồng những người chủ gia đình, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng không khí gia đình đầm ấm, từ cách tổ chức việc ăn uống đến việc học tập, giải trí, vui chơi, nghỉ ngơi của các thành viên, cách ứng xử với nhau, cũng như đối xử với họ hàng, hàng xóm Nếu cha mẹ cứ “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” thì nhiều việc lủng củng sẽ diễn ra và đầu độc không khí hòa thuận, êm ấm của gia đình
Có thể thấy một gia đình bình đẳng biểu hiện trước hết đó là công bằng về nghĩa vụ, trách nhiệm, và lợi ích của các thành viên trong gia đình Trong đó có những trách nhiệm nghĩa vụ, được luật pháp thừa nhận và bảo vệ; có những nghĩa vụ, trách nhiệm do tập quán, văn hóa truyền thống gia đình thừa nhận, tôn trọng Sự bình đẳng trong gia đình là việc xác định rõ ý thức và trách nhiệm giữa các thế hệ, giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và cháu chắt, giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ trong gia đình trên cơ sở một quan niệm khoa học, tiến bộ, văn minh
Đặc biệt, xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa người vợ và người chồng trong cách tổ chức và triển khai mọi mặt đời sống, hoạt động của gia
Trang 39đình là yếu tố quyết định thắng lợi Cần tạo nên sự thống nhất ý kiến trong việc giải quyết các sự kiện xảy ra trên cơ sở tình yêu và sự thông cảm lẫn nhau về những khó khăn, vất vả của từng người Quan hệ hòa thuận yêu thương giữa cha và mẹ là tấm gương cho con cái, là sức mạnh giúp họ có điều kiện tổ chức cuộc sống gia đình có nền nếp, êm đẹp, hạnh phúc Điều
23 trong chương III của Luật Hôn nhân và Gia đình ở nước ta đã quy định:
“Vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người” (Luật hôn nhân và gia đình, 2007, trang 19)
Gia đình tiến bộ còn là gia đình biết phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình truyền thống, đồng thời biết tiếp thu kịp thời những giá trị tinh thần tư tưởng tiến bộ của gia đình hiện đại trên thế giới làm cho gia đình mình ngày một tốt đẹp hơn về mọi mặt Những giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình truyền thống cần được giữ gìn, phát huy như lòng chung thủy vợ và chồng, lòng hiếu nghĩa của con cái với cha mẹ, sự kính trọng, biết ơn đối với ông bà, tổ tiên, sự chia sẻ ngọt bùi giữa anh chị em ruột thịt, thành viên gia đình, tình đoàn kết cưu mang lẫn nhau đối với họ hàng, làng xóm, lòng nhân
ái đối với đồng bào cả nước Những giá trị tinh thần, tư tưởng tiến bộ của gia đình hiện đại trên thế giới cần tiếp thu là: tinh thần bình đẳng, tự do, dân chủ trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, sự tôn trọng quyền của trẻ
em, quyền của phụ nữ,… Trong cuốn “Làm thế nào để xây dựng gia đình
ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam biên soạn, Nxb Phụ nữ, năm 2005 đã nêu cụ thể, rõ ràng và đầy đủ về vấn đề gia đình tiến bộ như sau:
“Gia đình tiến bộ là gia đình thực hiện tốt bình đẳng gia đình; lao động giỏi, biết áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất; mọi thành viên gia đình có lối sống lành mạnh, thực hiện nếp sống văn
Trang 40minh, biết tôn trọng và giữ gìn thuần phong mỹ tục của văn hóa gia đình Việt Nam, có ý thức rèn luyện thể lực nâng cao sức khỏe, không
sa vào tệ nạn xã hội, không mê tín dị đoan, không vi phạm pháp luật; các thành viên trong gia đình tích cực học tập Trẻ em trong độ tuổi đi học, không bỏ học sớm; các thành viên gia đình trong độ tuổi sinh đẻ đều thực hiện kế hoạch hóa gia đình; thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường; mọi thành viên trong gia đình thực hiện tốt đường lối, chủ trương, luật pháp, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt quy ước của cộng đồng dân cư” (Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2005, trang 19)
Gia đình hạnh phúc là gia đình về mọi phương diện đã đạt được sự thỏa mãn nhu cầu của từng cá nhân cũng như tập thể gia đình trong đời sống hằng ngày Đó là gia đình luôn có tình yêu, các thành viên sống hòa thuận, các mối quan hệ trong gia đình được thực hiện theo những chuẩn mực lý
tưởng cao cả Và có thể nói, một gia đình hạnh phúc là một gia đình no ấm,
tiến bộ
Khi một gia đình đạt cả ba tiêu chí: no ấm, bình đẳng, tiến bộ thì cơ bản là gia đình hạnh phúc Hay nói cách khác, gia đình hạnh phúc là mọi thành viên trong gia đình hoàn toàn hài lòng, toại nguyện với tổ ấm của mình Ở đó, vợ chồng thương yêu nhau vì nghĩa vì tình, mến nhau về tài năng, hòa hợp về tình dục Gia đình hạnh phúc không chỉ có gia đình lứa đôi
mà còn hạnh phúc giữa cha mẹ và con cái, con cái biết hiếu đễ với cha mẹ, chăm lo phụng dưỡng cha mẹ già, cả gia đình thương yêu, săn sóc, đùm bọc lẫn nhau, sống thuận hòa êm đẹp, ngay cả khi gặp khó khăn hoạn nạn Gia đình hạnh phúc thì xã hội mới hạnh phúc Hạnh phúc của xã hội thể hiện qua hạnh phúc của gia đình
Tóm lại, quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trên cơ sở quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,