LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn cao học Phân tích diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên, tôi xin gử
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đỗ Thị Thanh Nguyên
ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN TRUYỆN CỰC NGẮN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đỗ Thị Thanh Nguyên
ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN TRUYỆN CỰC NGẮN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu
và dẫn chứng nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không sao chép từ bất kỳ công trình nào
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thanh Nguyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn cao học Phân tích diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động
viên, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc và chân thành đến:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng
Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học;
Lãnh đạo Bộ môn Ngôn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cùng quý Thầy Cô trong và ngoài trường đã tận tâm truyền đạt kiến thức cũng như kỹ năng nghiên cứu cho tôi trong suốt khóa học cao học; đặc biệt là TS Trần Hoàng - thầy đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ tôi từ khi bắt đầu làm đề cương cho đến lúc hoàn thành luận văn cao học;
Quý vị Giáo sư, Tiến sĩ trong Hội đồng đánh giá luận văn;
Quý vị Thủ thư và nhân viên Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và cung cấp cho tôi nguồn tài liệu quý giá
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và các bạn học viên Lớp Cao học Ngôn ngữ học khóa 2017 - 2019 đã luôn bên cạnh, giúp đỡ tôi cả tinh thần lẫn vật chất
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
2.1 Lịch sử nghiên cứu về phân tích diễn ngôn 2
2.2 Lịch sử nghiên cứu về truyện cực ngắn 6
3 Mục đích nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 11
5.1 Phương pháp nghiên cứu 11
5.2 Nguồn ngữ liệu 12
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 12
6.1 Về mặt lý luận 12
6.2 Về mặt thực tiễn 13
7 Bố cục của luận văn 13
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1 Một số khái niệm liên quan đến diễn ngôn và phân tích diễn ngôn 14
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 14
1.1.2 Phân tích diễn ngôn 16
1.1.3 Ngữ cảnh tình huống và ngữ vực trong phân tích diễn ngôn 19
1.1.4 Cấu trúc của diễn ngôn 24
1.2 Giới thiệu chung về truyện cực ngắn 26
1.2.1 Vấn đề tên gọi 26
1.2.2 Nguồn gốc hình thành và những tiền đề xuất hiện truyện cực ngắn 28
1.2.3 Truyện cực ngắn trong sự đối sánh với truyện ngắn 31
1.2.4 Đặc điểm truyện cực ngắn 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
Trang 6Chương 2 PHÂN TÍCH NGỮ VỰC DIỄN NGÔN TRUYỆN CỰC NGẮN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 41
2.1 Ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại 41
2.1.1 Trường 41
2.1.2 Thức 48
2.1.3 Không khí chung 52
2.2 Sự thể hiện của ngữ vực diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại qua các phương tiện từ vựng 55
2.2.1 Từ ngữ mang sắc thái khẩu ngữ 55
2.2.2 Thành ngữ và tổ hợp mang tính thành ngữ 59
2.2.3 Từ ngữ mang tính thời sự, từ ngữ vay mượn, ngôn ngữ chat, blog 61
2.2.4 Từ ngữ được dùng với hình thức đặt trong dấu ngoặc kép “” 66
2.2.5 Ẩn dụ tu từ 68
2.3 Sự thể hiện của ngữ vực diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại qua các phương tiện cú pháp 72
2.3.1 Đặc điểm đoạn văn 72
2.3.2 Đặc điểm cú pháp 75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 87
Chương 3 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC DIỄN NGÔN TRUYỆN CỰC NGẮN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 89
3.1 Khái quát về cấu trúc diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại 89
3.1.1 Cấu trúc diễn ngôn gồm bốn phần 89
3.1.2 Cấu trúc diễn ngôn gồm ba phần 94
3.1.3 Cấu trúc diễn ngôn gồm hai phần 99
3.2 Đặc điểm các thành phần của cấu trúc diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại 99
3.2.1 Phần tiêu đề 99
3.2.2 Phần mở đầu 103
Trang 73.2.3 Phần triển khai 111
3.2.4 Phần kết thúc 112
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 121
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 1 1
PHỤ LỤC 2 8
PHỤ LỤC 3 14
PHỤ LỤC 4 22
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thống kê các chủ đề của diễn ngôn truyện cực ngắn 43
Bảng 2.2: Bảng thống kê độ dài của diễn ngôn truyện cực ngắn 49
Bảng 2.3: Bảng liệt kê biến thể phát âm trong diễn ngôn truyện cực ngắn 56
Bảng 2.4: Bảng liệt kê từ địa phương của diễn ngôn truyện cực ngắn 57
Bảng 2.5: Bảng liệt kê ẩn dụ tu từ của diễn ngôn truyện cực ngắn 69
Bảng 2.6: Bảng thống kê số đoạn văn của diễn ngôn truyện cực ngắn 73
Bảng 2.7: Bảng thống kê số câu/đoạn văn của diễn ngôn truyện cực ngắn 74
Bảng 2.8: Bảng thống kê số chữ/câu của diễn ngôn truyện cực ngắn 76
Bảng 2.9: Bảng thống kê kiểu câu của diễn ngôn truyện cực ngắn 77
Bảng 3.1: Bảng thống kê các kiểu cấu trúc cú pháp của phần tiêu đề diễn ngôn truyện cực ngắn 101
Bảng 3.2: Bảng thống kê các kiểu tiêu đề của diễn ngôn truyện cực ngắn 102
Bảng 3.3: Bảng thống kê các kiểu mở đầu của diễn ngôn truyện cực ngắn 108
Bảng 3.4: Bảng thống kê các kiểu kết luận của diễn ngôn truyện cực ngắn 116
Trang 9giả, hình ảnh truyện hấp dẫn đủ để diễn tả tư tưởng Truyện phải có tính gợi mở và
mỗi truyện cực ngắn là một thực thể sinh động, màu mỡ thịt da ngôn từ và hình ảnh chứ không phải chỉ là những câu văn cụt ngủn ghép lại với nhau Tức là tuy dùng ngôn từ cực hạn nhưng truyện phải có da thịt, sức sống chứ không phải chỉ có xương
cốt mà thôi” (tr.9)
Ở Việt Nam, truyện cực ngắn là một “viên ngọc ẩn” và phát triển nở rộ vào
thập niên 90 của thế kỷ XX với “Cuộc thi viết truyện cực ngắn” do Tạp chí Thế giới mới, Kiến thức ngày nay và báo Văn nghệ tổ chức Bóng dáng truyện cực ngắn xuất hiện trên mặt báo Nhân dân, Tuổi trẻ, Văn nghệ và Tạp chí Sông Hương với các tên
gọi khác nhau
Phân tích diễn ngôn đang là một hướng đi thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước Đây chính là sự mở rộng của ngôn ngữ học trên nhiều phương diện như đối tượng nghiên cứu, hệ thống khái niệm và phương pháp luận Nguyễn Hòa
(2008) cho rằng “Phân tích không những phản ánh những thay thế hệ phương pháp
luận truyền thống từ nghiên cứu sang phân tích việc sử dụng, mà còn là sự thể hiện những thay đổi trong nhận thức về bản chất của ngôn ngữ” (tr.14) Diệp Quang Ban (2009) thì cho rằng “Phân tích diễn ngôn là một cách tiếp cận phương pháp luận đối với việc phân tích ngôn ngữ bên trên bậc câu, gồm các tiêu chuẩn như tính kết nối, hiện tượng hồi chiếu… Hiểu một cách cụ thể hơn thì phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính
Trang 10đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực mà nội dung hết sức phong phú đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá
nhân cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa và dân tộc)” (tr.158) Định nghĩa của
Diệp Quang Ban có nội hàm rõ ràng, tiện dụng, cho nên việc hiểu nó sâu hơn là cần thiết Trong định nghĩa này, tác giả đã nêu ra ba yếu tố quan trọng nhất, đó là: đối tượng khảo sát; đối tượng nghiên cứu và phương pháp tiếp cận là phân tích (phân tích ngôn ngữ trong sử dụng)
Truyện cực ngắn là một thể loại diễn ngôn tự sự đặc thù, cần được xem xét trong tương quan với các diễn ngôn tự sự khác Tuy nhiên, vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn để nghiên cứu về thể loại truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại thì cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Phân tích diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, nhằm ứng dụng lý thuyết
phân tích diễn ngôn đi sâu nghiên cứu về thể loại truyện này
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về phân tích diễn ngôn
Phân tích diễn ngôn đã trải qua một quá trình phát triển mạnh mẽ trong khoảng năm mươi năm gần đây với những tên gọi khác nhau Trong ngôn ngữ học, đã có những tên gọi như “Ngôn ngữ học văn bản - text linguistics”, “Phân tích văn bản - text analysis”, “Phân tích chức năng - functional analysis”; trong triết học, đó là lý thuyết về hành động nói (speech acts); và trong xã hội học là dân tộc học giao tiếp (enthnography of communication)… Có thể khái quát mức độ phát triển của lý luận phân tích diễn ngôn ở những nét đại cương như sau: Ở giai đoạn “ngữ pháp văn bản”, phân tích diễn ngôn chủ yếu thao tác với “liên kết” và đã có công trình nghiên cứu của Halliday và Hasan (1976) như “Liên kết - cohesion” Tại nước Liên bang Nga và Việt Nam cũng có nhiều công trình theo khuynh hướng này Ở thời kỳ hậu “ngữ pháp văn bản”, khi vấn đề mạch lạc và cấu trúc của văn bản càng được quan tâm hơn, thì
Trang 11các nhà ngôn ngữ đã đề nghị gọi địa hạt mới này là “phân tích diễn ngôn - discourse analysis”
Theo Diệp Quang Ban (2009), nhà ngôn ngữ học người Bỉ E Buysen là người
đầu tiên sử dụng discourse (diễn ngôn) như một khái niệm chuyên môn trong Hoạt động nói năng và văn bản (1943) Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nghiên cứu diễn
ngôn (hay còn gọi là phân tích diễn ngôn) đã trở thành một trào lưu khoa học phát
triển rầm rộ ở châu Âu và diễn ngôn trở thành một khái niệm trung tâm, được sử dụng
rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn Sau thời kỳ thống trị của cấu trúc luận,
nó lại xuất hiện với những hàm nghĩa mới trong các công trình nghiên cứu hậu cấu trúc và giải cấu trúc của M Foucault, J Derrida, R Barthes
Giữa những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX, cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ lớn hơn câu được gọi tên là ngôn ngữ học văn bản (text linguistics) Trong định nghĩa
về diễn ngôn, Barthes (1970) đã nêu: Diễn ngôn là một đoạn lời nói hữu tận bất kỳ, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2009, tr.96) Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu khác như: Dẫn luận ngôn ngữ học văn bản (1972) của Dressler, Một số phương diện của ngữ pháp văn bản (1972) của
Van Dijk… Việc nghiên cứu văn bản giai đoạn này tập trung chú ý ở cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu, nên xuất hiện những tên gọi như: cú pháp văn bản (Dressler, 1972), ngữ pháp văn bản (Weinrich, 1967; Dressler, 1972; Van Dijk, 1972), ngữ pháp liên câu (Enkvist, 1973), chỉnh thể cú pháp trên câu (một số nhà nghiên cứu Nga)
Năm 1983, công trình nghiên cứu Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis)
của G Brown và G Yule đã đánh dấu bước phát triển mới của ngôn ngữ học Bên
cạnh đó, còn có Levinson với Dụng học (Pragmatics) Tác giả này cũng dùng tên gọi
phân tích diễn ngôn và xem nó như là tên gọi khác của dụng học, đối lại với phân tích hội thoại
Trang 12Trong Diễn ngôn tự sự (Narrative discourse), trên cơ sở phân biệt discourse
và story, G Genette cho rằng diễn ngôn tự sự là cách thức trình bày một câu chuyện Tác giả đã phân chia diễn ngôn tự sự thành các phạm trù ngữ pháp như: thời, thức và giọng Trong đó, thời và thức nằm ở cấp độ mối quan hệ giữa câu chuyện và diễn ngôn tự sự, giọng chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động kể và diễn ngôn tự sự, giữa hoạt
động kể và câu chuyện Genette đã dùng những phạm trù ngữ pháp này để phân tích
cấu trúc tự sự của Đi tìm thời gian đã mất của M Proust Cũng trong giai đoạn này,
khái niệm diễn ngôn bắt đầu được sử dụng rộng rãi và đặc biệt trở thành một khái niệm trung tâm trong trường phái phân tích diễn ngôn (hay còn gọi là nghiên cứu diễn ngôn), một hướng nghiên cứu có phạm vi và ảnh hưởng rất rộng rãi, bao trùm rất nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý xã hội học, nghiên cứu văn học…
Một số công trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài được dịch sang
tiếng Việt, chẳng hạn: Dụng học; Một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của G Yule (Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch, 1997); Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của G Brown, G Yule (Trần Thuần dịch, 2002); Dẫn luận ngữ pháp chức năng của
M Halliday (Hoàng Văn Vân dịch, 2004)… Các công trình này tập trung vào mấy điểm sau: diễn ngôn là gì, đặc điểm và chức năng của diễn ngôn, các vấn đề về ngữ cảnh và ý nghĩa của diễn ngôn, cấu trúc thông tin của diễn ngôn, bản chất quy chiếu trong diễn ngôn, các đường hướng phân tích diễn ngôn…
Ở Việt Nam, quan niệm về diễn ngôn/văn bản được giới thiệu sớm nhất trong
lĩnh vực ngôn ngữ học, có thể kể đến các công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Ngữ dụng học, tập 1 của Nguyễn Đức Dân (1998), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001), Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lý luận và phương pháp của Nguyễn Hòa (2003), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2004)…
Bên cạnh đó, còn có thể kể đến các bài viết của các tác giả khác như: Phân tích diễn ngôn phê phán là gì? của Nguyễn Hòa (Tạp chí Ngôn ngữ, 2 - 2005), Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng của Diệp Quang Ban (Tạp chí Ngôn ngữ, 2 -
Trang 132009), Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết trong diễn ngôn nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Văn Thành (Tạp chí Ngôn ngữ, 4 - 2009)… Gần đây hơn có một
số bài viết như: Diễn ngôn trong giao tiếp văn học của Nguyễn Duy Bình đăng trên Tạp chí Khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội, số 28, năm 2012, Lý thuyết ngữ vực
và việc nhận diện các đặc điểm của diễn ngôn của Trịnh Sâm đăng trên Tạp chí Khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1, năm 2014, Tìm hiểu một số kiểu diễn ngôn của ngành khoa học xã hội và nhân văn của Nguyễn Thanh Tuấn và Trương Thị Thủy
in trên Bản tin Khoa học và Giáo dục TrườngĐại học Yersin Đà Lạt năm 2014…
Ngoài ra, còn có các bài báo khoa học, luận án, luận văn nghiên cứu phân tích diễn ngôn trên các ngữ liệu cụ thể Có thể kể đến một vài công trình tiêu biểu như sau:
- Một số đặc điểm ngữ vực trong diễn ngôn tiếng Anh quảng cáo của Huỳnh Hữu Hiền (Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2, năm 2003);
- Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại tiếng Việt của Vương Thị Kim Thanh (Tạp chí Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí
- Trần Thùy Linh với luận án tiến sĩ Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp đồng tiếng Việt từ bình diện phân tích diễn ngôn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016;
Trang 14- Trần Bình Tuyên với luận án tiến sĩ Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từ góc nhìn lý thuyết phân tích diễn ngôn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa
học Huế năm 2017;
- Phạm Nguyên Nhung với luận án tiến sĩ Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh (giai đoạn 1941 - 1969), bảo vệ tại Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017;
- Phạm Nữ Nguyên Trà với luận văn thạc sĩ Quốc văn giáo khoa thư dưới góc nhìn phân tích diễn ngôn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn hoặc những vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn đã được thực hiện Trong các công trình này, tùy vào mục đích nghiên cứu cụ thể cũng như đặc trưng văn bản của đối tượng nghiên cứu, các tác giả đã lựa chọn các đường hướng
và khung lý thuyết khác nhau để thực hiện đề tài của mình Những đường hướng được lựa chọn cũng như cách thức tiếp cận đối tượng và kết quả nghiên cứu của những công trình ứng dụng trên sẽ là cơ sở quý giá để chúng tôi có thể tham khảo cho quá trình thực hiện đề tài này
2.2 Lịch sử nghiên cứu về truyện cực ngắn
2.2.1 Trên thế giới
Trên thế giới, mặc dù truyện cực ngắn là một thể loại tương đối mới nhưng nó
đã có một lịch sử lâu đời Chúng ta có thể xem những câu thoại đầu, những mẩu chuyện trong Kinh Phật, ngụ ngôn Aesop… là những truyện cực ngắn tuyệt hay Chẳng hạn như: một câu trong kinh Pháp Cú “Voi không đi dạo chơi trên lối mòn thỏ chạy” cũng có thể xem là một truyện cực ngắn Tuy không định danh là truyện cực ngắn nhưng những mẩu chuyện trong “Trang Tử - Nam Hoa Kinh” có thể coi là kiệt tác
Thể loại truyện cực ngắn được gọi với nhiều tên khác nhau Ngoài tên thông dụng nhất là “truyện cực ngắn” hay “truyện rất ngắn” thì còn có các tên “truyện chớp, truyện ngắn ngắn”, “truyện bất ngờ” (sudden fiction), “truyện bưu thiếp” (postcard
Trang 15fiction), “truyện mini” (minute fiction), “truyện hỏa tốc” (furious fiction), “truyện nhanh” (fast fiction), “truyện vội” (quick fiction), “truyện mỏng” (skinny fiction) và
“vi truyện” (micro-fiction) hay một tên gọi đặc biệt là “truyện dài bằng hơi khói” (với
ý nghĩa là thời gian để đọc nó chỉ bằng thời gian hút xong điếu thuốc lá) Người Trung Quốc gọi truyện cực ngắn là “vi hình tiểu thuyết”, người Nhật gọi là “Sho-to sho-to” tức phiên âm của chữ “short short story” Sau này còn có tên “siêu đoản thiên tiểu thuyết” (chotanpen shosetsu) rất thịnh hành cho điện thoại di động Có hàng trăm trang web chuyên về truyện cực ngắn với những giải thưởng riêng Riêng Kawabata Yasunari thì gọi riêng thể loại truyện cực ngắn của mình sáng tác là “truyện ngắn trong lòng bàn tay” (Tenohira no shosetsu) (Theo Hoàng Long, 2014, tr.8)
Trong bài viết Truyện cực ngắn là nghệ thuật bình dân, nhà văn Trung Quốc
Dương Hiểu Mẫn (2006) cho rằng: “Truyện cực ngắn là nghệ thuật bình dân” bởi vì
“nó là hình thức nghệ thuật mà đại đa số người đều có thể tham gia sáng tác (gần gũi cuộc sống); đại đa số người có thể trực tiếp thu được lợi ích từ trong ấy”
Julio Cortázar đã đưa ra những nhận xét khá sắc sảo về truyện cực ngắn trong
hai tiểu luận ngắn Algunos aspectos del cuento (Vài phương diện của truyện ngắn)
và Del cuento breve y sus alrededores (Về truyện cực ngắn và những dạng tương
cận) Ông gọi thể loại này là “truyện chạy đua với đồng hồ”, có thể chứa đựng nội dung tự sự lớn hơn nhiều cái phương tiện ít ỏi của nó Hiệu quả của truyện cực ngắn
là “chúng tạo ra một cú sét đánh từ một nhúm chất liệu tối thiểu” (Julio Cortázar,
2013, đoạn 1)
Trong chuyên đề Truyện cực ngắn, nhà văn Joyce Carol Oates (2003) cho rằng
“Truyện cực ngắn hầu như luôn luôn mang tính nghiệm tác, được sắp đặt hết sức tinh
tế, khiến chúng ta nhớ đến định nghĩa của Frost về một bài thơ - một cấu trúc của ngôn từ, tự tiêu vong đến đâu thì lại dàn trải ra đến đấy, giống như băng tan trên bếp lửa Dáng dấp của nó đôi khi giống như huyền thoại, đôi khi chỉ giống như một thứ giai thoại, nhưng nó chấm dứt với câu văn cuối cùng của nó, thường thì với chữ cuối cùng của nó Độ căng thẳng của nó - ta có thể nói - là độ căng thẳng của tám phút đồng hồ khi Hagler chiến đấu với Hearns, một thiên sử thi được cô đúc lại quá nhỏ đến độ ta xem nó mà choáng ngợp cả người” (đoạn 4)
Trang 162.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, truyện cực ngắn nở rộ vào thập niên 90 của thế kỷ XX Là một
“chùm hoa nở muộn” thế nhưng nó lại có một thành tựu vô cùng rực rỡ Chúng ta có
cả một phong trào thi viết truyện cực ngắn trên các báo và có tới hàng ngàn truyện hay Tuy nhiên, lịch sử nghiên cứu thể loại này còn rất mới, chúng tôi chỉ điểm qua một số bài viết tiêu biểu
Lý giải nguồn gốc truyện cực ngắn, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào cho rằng:
“Ở các nước phương Tây truyện cực ngắn xuất hiện rất sớm, có tiền thân trên báo chí
từ thế kỷ XVIII Các tờ báo đã đăng tải những sự kiện nhỏ, những mẫu giới thiệu nhỏ làm tươi tắn sự nhàm chán những trang giấy và khiến độc giả được giải trí, những tin vặt trên báo chí chứa đựng nhiều mối liên hệ với truyện ngắn nói chung và với độ dày của nó” Tác giả cũng cho rằng truyện ngắn ở Việt Nam có khởi đầu từ báo chí và còn có thể có cội rễ sâu xa từ truyện tiếu lâm, truyện trạng Tác giả cũng đưa ra những nhận xét ban đầu về thể loại này: “Sức hấp dẫn không nằm ở cốt truyện mà chủ yếu
là ở sức gợi, khả năng viết sao cho ý tại ngôn ngoại của nhà văn Chính khả năng viết ngắn mà nói được nhiều mới khiến cho loại truyện này giống như một bài thơ” (Đặng Anh Đào, 2008, đoạn 13)
Nguyễn Thanh Tâm trong bài viết Một số đặc trưng của truyện cực ngắn đã
nhận định “Một hiện tượng thường thấy ở truyện cực ngắn là sự miễn giảm tới mức tối thiểu hệ thống nhân vật… Xuất hiện trong thế giới của loại hình vi truyện các nhân vật không tràn đầy diện mạo lẫn những biến thái của tâm hồn Hình như tác giả nhằm ghi lại những khoảnh khắc, những ấn tượng nội tâm trong những lát cực mỏng của đời mà thôi Thủ pháp tẩy trắng nhân vật được một số tác giả huy động tới mức tối
đa, ngay cả cái tên đề hiện diện với đời sống cũng có lúc bị tẩy xóa mất” (Dẫn theo Đào Quốc Toàn, 2006, tr.117)
Cùng với ý kiến của Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thanh Tùng (2005) trong bài
Không phải trò đánh đố trên Tạp chí Thế giới mới cho rằng “Tính kịch trong truyện
ngắn dường như là yếu tố không thể thiếu Không gây được yếu tố bất ngờ, truyện khó đạt đến độ hay Cái bất ngờ giống như một khúc đoạn gấp, mở ra những chân trời mới lạ của nhận thức và tình cảm trong ta” (đoạn 6)
Trang 17Nhà văn Phan Cung Việt (2006) trong bài viết Nhịp đập gấp của con tim lại
so sánh cấu tạo của truyện ngắn như cơ thể con người như sau: “Người ta nói điều cấu tạo kỳ lạ của cơ thể con người Có cả một cơ thể con người ở trong chỉ một cái tai, một bàn chân, tấm lưng Sự kỳ lạ ấy cũng rất ngắn Đã là truyện thì phải có cốt truyện và chi tiết truyện Truyện tức là người trong đời, bởi vậy dù rất ngắn cũng phải
khắc họa nhân vật” (tr.161)
Trong bài viết Trần thuật trong truyện rất ngắn, nhà nghiên cứu Phùng Ngọc
Kiếm (2008) cho rằng “Để tạo hiệu quả nhiều nhất cho dung lượng ngôn từ ít ỏi, trần thuật trong truyện rất ngắn phải hướng tới mục tiêu gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc về cái được kể, từ cái được kể, phải tạo ra lối trần thuật đa chức năng: lời kể có
nhiều khả năng trần thuật, giàu sức gợi…” (tr.245)
Hoàng Ngọc Hiến (2006) trong Truyện ngắn hiện đại dễ viết lại đánh giá
“Truyện ngắn hiện đại gần với kịch, không phải với ý nghĩa, cốt truyện, nội tâm nhân vật chứa chất xung đột và xung đột đầy kịch tính mà trong kịch lời nói nào cũng do nhân vật nói ra, do đó lời nói nào cũng có giọng nói một con người cụ thể Trong
truyện lời trần thuật có giọng gần với lời thoại trong kịch” (tr.307)
Trong bài trả lời phỏng vấn Về truyện rất ngắn, Lê Ngọc Trà (2006) đã giới
thiệu về đặc điểm của thể loại truyện này Ông xác định: “Đây là một thể loại văn học có những đặc điểm riêng, chứ không phải là một kiểu truyện viết ngắn” (tr.417) Ông chỉ rõ đặc điểm của thể loại này là “đậm đặc cảm xúc, sự phong phú của âm điệu, của liên tưởng, vô số những khoảng trống có ý nghĩa và vô nghĩa” (tr.418) Ông cho rằng cái chất thơ và chất nhạc của cảm xúc đó cũng chính là điểm quan trọng nhất để phân biệt truyện rất ngắn với các truyện viết ngắn khác như truyện tiếu lâm và truyện ngụ ngôn
Nguyễn Đăng Mạnh (2006) trong bài Viết ngắn mà hay mới khó đã đề cập đến
cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật truyện ngắn mini Ông khẳng định “hay trước hết phải có tư tưởng sâu sắc, mới lạ” (tr.372) Nhà văn viết truyện ngắn phải có
sự tìm tòi về tư tưởng Tư tưởng đầy cảm xúc và mang tính hình tượng đó phải hình thành từ khi ý đồ nghệ thuật mới chớm nở Về nghệ thuật truyện cực ngắn, ông cũng
Trang 18thống nhất quan điểm với Nguyên Ngọc, cho rằng “cái quan trọng nhất là tạo ra được tình huống mới lạ, độc đáo” (tr.373)
Về nghệ thuật viết truyện rất ngắn, Nguyễn Nho Khiêm (2006) trong bài Ước
mơ của mỗi nhà văn khẳng định: “Nhà văn viết truyện rất ngắn giống như nhà điêu
khắc”, tức là phải biết “đục bỏ những yếu tố thừa” “nhà văn phải biết cô đúc tối đa mọi chi tiết, từ hành động nhân vật, kết cấu truyện đến ngôn ngữ” (tr.278) Ông cho rằng truyện rất ngắn là mơ ước và cũng là thách đố của mỗi nhà văn
Bên cạnh đó, còn nhiều bài viết của các tác giả như: Lê Trí Viễn, Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Văn Hùng, Phan Cung Việt, Phùng Ngọc Kiếm… đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng về truyện rất ngắn như: cốt truyện, sự kiện, nhân vật, ngôn ngữ, nghệ thuật trần thuật, đặc biệt nhấn mạnh đến tính ngắn gọn, hàm súc, dư ba của loại hình tự sự cỡ nhỏ này
Điều đáng ghi nhận là năm 2000, trong công trình Truyện ngắn mấy vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại của Bùi Việt Thắng, truyện ngắn rất ngắn đã xuất hiện với
tư cách là một kiểu của truyện ngắn Trong một mục nhỏ của công trình, Bùi Việt Thắng đã đưa ra cái nhìn khá hệ thống về nguồn gốc, bản chất và tương lai của truyện cực ngắn Việc này có ý nghĩa rất quan trọng đối với truyện cực ngắn trên phương diện
lý thuyết
Ngoài ra, còn có một số luận văn nghiên cứu về truyện cực ngắn trên các ngữ liệu cụ thể Có thể kể đến một vài công trình như sau:
- Cao Thị Hiền với luận văn thạc sĩ Đặc điểm kết cấu truyện cực ngắn, bảo vệ
tại Trường Đại học Vinh năm 2011;
- Nguyễn Thị Yến với luận văn thạc sĩ Thể loại truyện cực ngắn mini trong văn học Việt Nam đương đại, bảo vệ tại Trường Đại học Vinh năm 2012;
- Tôn Thị Tuyết Oanh với luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ truyện cực ngắn Việt Nam, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015
Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy rằng truyện cực ngắn đang là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nói chung và độc giả nói riêng Các bài viết trên đã nêu lên những nhận định ban đầu, khái quát về truyện cực ngắn như vấn
đề tên gọi, nguồn gốc, dung lượng, cốt truyện, tư tưởng, nhân vật, giọng điệu, ngôn
Trang 19ngữ, đặc điểm kết cấu Tuy nhiên, tìm hiểu về truyện cực ngắn dưới góc nhìn phân tích diễn ngôn thì cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn, đề tài này tập trung miêu tả, phân tích ngữ vực và cấu trúc của diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả và phân tích diễn ngôn
Phương pháp miêu tả: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để miêu tả các đặc
điểm về từ vựng, ngữ pháp và cấu trúc diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn: Chúng tôi vận dụng hệ thống lý thuyết về
phân tích diễn ngôn (cụ thể là phương pháp phân tích ngữ vực và phương pháp phân tích cấu trúc diễn ngôn) để khảo sát và phân tích ngữ liệu, tiến hành phân tích hình thức và nội dung của diễn ngôn, đưa ra những nhận xét về ngữ cảnh tình huống (the context of situation), đặc điểm ngữ vực và đặc điểm cấu trúc
Trang 20- Lời tiên tri của giọt sương của Nhật Chiêu, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011;
- Những tàn dư mưa của Hoàng Long, NXB Lao động - Trung tâm Văn hóa
Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2011;
- 101 truyện cực ngắn của Trần Hoàng Trúc, NXB Thanh niên, 2013;
- Tập truyện rất ngắn Nhặt bóng suy tư của Phong Nhã Ka, NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, 2013;
- Truyện cực ngắn 100 chữ của Phan Tấn Linh, báo Nhân Dân điện tử, 30 - 9
- 2014, https://www.nhandan.com.vn;
- Truyện ngắn mini đặc sắc của nhiều tác giả, NXB Văn học, 2015;
- Tập truyện Ngắn và rất ngắn của Nguyễn Thị Minh Thái và Nguyễn Thị Hậu, NXB Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2016;
- Chùm truyện cực ngắn của Nguyễn Thị Bích Lan, báo Nhân dân, số 228,
Trang 216.2 Về mặt thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu từ đề tài có thể giúp những người quan tâm có cái nhìn toàn cảnh về diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, nhà phê bình - nghiên cứu văn học có căn cứ tin cậy để đánh giá một sáng tác truyện cực ngắn cụ thể trên góc nhìn phân tích diễn ngôn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được triển khai thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận Trong chương này, chúng tôi trình bày cơ sở lý
thuyết làm tiền đề cho việc phân tích diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại Cụ thể là lý thuyết về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn và các vấn đề về ngữ cảnh tình huống, ngữ vực và cấu trúc trong phân tích diễn ngôn Cùng với đó là
lý thuyết về truyện cực ngắn, vấn đề tên gọi, nguồn gốc hình thành, truyện cực ngắn trong sự đối sánh với truyện ngắn và đặc điểm truyện cực ngắn
Chương 2: Phân tích ngữ vực diễn ngôn truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại Trong chương này, chúng tôi phân tích các yếu tố trường, thức và
không khí chung trong ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn truyện cực ngắn, miêu tả
và phân tích sự thể hiện của ngữ vực diễn ngôn truyện cực ngắn qua các phương tiện
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số khái niệm liên quan đến diễn ngôn và phân tích diễn ngôn 1.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Thuật ngữ diễn ngôn (discourse) được sử dụng lần đầu tiên với tư cách là một
thuật ngữ chuyên môn bởi nhà ngôn ngữ học người Bỉ - E Buysen (1943) trong tác
phẩm Hoạt động nói năng và văn bản Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nghiên cứu
diễn ngôn (hay còn gọi là phân tích diễn ngôn) đã trở thành một trào lưu khoa học
phát triển rầm rộ ở châu Âu và diễn ngôn trở thành một khái niệm trung tâm, được sử
dụng rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn
Đến cuối thế kỷ XX, thuật ngữ diễn ngôn bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam trong
các công trình nghiên cứu ngôn ngữ: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001), Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lý luận và phương pháp của Nguyễn Hòa (2008), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản của Diệp Quang Ban (2009)
Barthes (1970) coi diễn ngôn là đối tượng của ngôn ngữ học văn bản, “diễn ngôn - tương tự với văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng tôi sẽ định nghĩa
nó (hãy còn sơ bộ): Diễn ngôn là một đoạn lời nói hữu tận bất kỳ, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan
hệ đến bản thân ngôn ngữ (langue)” (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2009, tr.96)
Theo cách kiến giải của Barthes, ta có thể thấy rằng đối tượng khảo sát được gọi là “diễn ngôn” cũng là “văn bản”, nhưng văn bản là do ngôn ngữ học nghiên cứu, còn diễn ngôn do ngôn ngữ học diễn ngôn nghiên cứu Điểm quan trọng trong định nghĩa của Barthes là có tính đến mục đích giao tiếp (mặt xã hội) và sự liên thông giữa văn hóa với ngôn ngữ
Trang 23Gruber và Redeker cho rằng “diễn ngôn được hiểu theo nghĩa rộng chính là cách dùng ngôn ngữ gắn với tình huống sử dụng” (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2009, tr.96)
Nguyễn Hòa (2008) cho rằng diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) là hai khái niệm cơ bản trong lý luận phân tích diễn ngôn, có liên quan chặt chẽ với nhau Tuy hai khái niệm này cần phải được phân định một cách rạch ròi, song trong thực tế vấn đề không hoàn toàn đơn giản; một số tác giả cho rằng chúng được sử dụng thay thế cho nhau, trong khi đó một số tác giả khác thì lại cho rằng chúng được dùng với một số khác biệt (tr.30)
Một số tác giả đã đưa ra các khái niệm để phân biệt “văn bản” và “diễn ngôn” (vốn là vấn đề gây ra khá nhiều tranh cãi bởi sự phức tạp và rắc rối trong mối quan
hệ giữa chúng) Có thể kể đến một số ý kiến tiêu biểu như sau:
Crystal cho rằng: “Diễn ngôn được nhìn nhận như là một chuỗi ngôn ngữ (đặc
biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lý lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay chuyện kể” Và “văn bản
là một đoạn diễn ngôn nói hay viết, hoặc thể hiện ở dạng ký hiệu sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích Đây thường là một đơn vị ngôn ngữ có chức năng giao tiếp có thể xác định được như một cuộc hội thoại hay tấm áp phích” (Dẫn theo
Nguyễn Hòa, 2008, tr.31)
Tuy thừa nhận diễn ngôn không hoàn toàn là văn bản nhưng định nghĩa này chưa làm rõ bản chất của sự khác biệt giữa hai khái niệm này Chúng ta thấy văn bản lại được xác định như sau: “Văn bản là một đoạn diễn ngôn nói hay viết, hoặc thể hiện ở dạng ký hiệu”
G Cook (1989) dùng khái niệm diễn ngôn để chỉ “những chuỗi ngôn ngữ trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” trong khi văn bản là “một chuỗi ngôn ngữ
lý giải được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh” Trong định nghĩa này, tác giả đã
xác định sự khác biệt giữa diễn ngôn và văn bản dựa trên sự đối lập giữa chức năng
và hình thức (Dẫn theo Nguyễn Hòa, 2008, tr.31)
Trang 24Brown và Yule (1983) cho rằng “Văn bản là sự thể hiện ngôn từ của một hành động giao tiếp” và “là sự thể hiện của diễn ngôn” (Dẫn theo David Nunan, 1997,
Luận văn tán đồng quan điểm của Nguyễn Hòa (2008) khi nhận định: Trong thực tế rất khó phân biệt rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bản bởi lẽ trong diễn ngôn
sẽ có cái văn bản Cho nên sự phân biệt chỉ mang tính chất tương đối Đây không phải là hai thực thể tách biệt mà cho là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp xã hội Diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích, không có giới hạn được sử dụng trong hoàn cảnh
giao tiếp xã hội cụ thể (tr.33)
1.1.2 Phân tích diễn ngôn
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, cùng với việc chú ý xác định khái niệm diễn ngôn, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đồng thời chú ý tới các cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu dưới các tên: “Ngôn ngữ học văn bản” (Text Linguistics), “Phân tích
văn bản” (Text Analysis), “Phân tích chức năng” (Functional Analysis)
Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ phân tích diễn ngôn là Harris (1952) trong
tác phẩm “Discourse Analysis” (Theo Nguyễn Hòa, 2008, tr.24); tiếp theo sau là Mitchell (1957) và đặc biệt là Van Dijk (1972) đã có nhiều đóng góp trong việc phát triển lý thuyết này (Theo Diệp Quang Ban, 2009, tr.149) Theo Z Harris, phân tích diễn ngôn đã có một đối tượng nghiên cứu rõ ràng, đó là diễn ngôn Ông coi phân
Trang 25tích diễn ngôn là một hệ phương pháp hình thức phân tích văn bản thành các đơn vị nhỏ hơn (Theo Nguyễn Hòa, 2008, tr.24)
Brown và Jule (1983) cho rằng “Phân tích diễn ngôn là sự phân tích ngôn ngữ hành chức Như vậy, không thể giới hạn phân tích diễn ngôn với việc miêu tả các ngôn ngữ mà không quan tâm đến mục đích hay chức năng mà các hình thức này được tạo ra để đảm nhận trong thế giới hoạt động của con người” (tr.15)
David Nunan (1998) cũng đã phân biệt phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn Theo ông, phân tích văn bản là xem xét các đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản tách rời ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ, còn phân tích diễn ngôn là quan tâm tới mặt chức năng, tức là liên quan đến mặt ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chức) Ông chỉ rõ rằng, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những cái khuôn mẫu trong ngôn ngữ, đồng thời còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa, những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn để đạt đến mục đích cuối cùng của việc phân tích (tr.21)
Cùng quan điểm trên, Cook (2001) nhấn mạnh rằng phân tích diễn ngôn cũng khảo sát ngữ cảnh giao tiếp, ai tham gia với ai, tại sao, ở trong xã hội nào và tình huống ra sao, nhờ vào phương tiện nào, các loại hành động giao tiếp khác nhau nào được sử dụng và mối quan hệ của chúng (tr.3)
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu (2001) cho rằng phân tích diễn ngôn phải chú ý xem xét cả hai mặt nội dung và hình thức của diễn ngôn, có như thế mới đánh giá đầy
đủ, toàn diện tính chất và hiệu quả của diễn ngôn Tiếp cận diễn ngôn từ góc độ dụng học, Đỗ Hữu Châu đặc biệt quan tâm đến ngữ cảnh giao tiếp Quan điểm về phân tích diễn ngôn của ông đối lập với các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm cấu trúc luận
Từ những phân tích của ông, có thể thấy rằng các yếu tố bên ngoài đã tác động, chi phối không nhỏ đến việc hình thành các diễn ngôn, do vậy phân tích diễn ngôn không thể không xem xét đến nhân tố ngữ cảnh (tr.36-37)
Theo Nguyễn Hòa (2008) phân tích diễn ngôn không những phản ánh những
hệ phương pháp luận truyền thống từ nghiên cứu sang phân tích sử dụng, mà còn là
sự thể hiện những thay đổi trong nhận thức về bản chất của ngôn ngữ Đối tượng của
Trang 26phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ hoạt động trong hoàn cảnh xã hội - văn hóa, chứ không phải là đối tượng tĩnh (tr.14) Ông cũng đã tổng hợp và nêu lên chín đường hướng chính trong phân tích diễn ngôn như sau: đường hướng dụng học; đường hướng biến đổi ngôn ngữ; đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác; đường hướng dân tộc học giao tiếp; đường hướng tâm lý học xã hội; đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán; đường hướng giao tiếp liên văn hóa và đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp
Diệp Quang Ban (2009) quan niệm rằng phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn, văn bản) từ tính đa dạng hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu
quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và
đa dạng gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc (tr.158)
Định nghĩa của Diệp Quang Ban có nội hàm rõ ràng, tiện dụng, cho nên việc hiểu nó sâu hơn là cần thiết Trong định nghĩa này, tác giả đã nêu ra ba yếu tố quan trọng nhất:
Thứ nhất, đối tượng khảo sát: tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn hay văn bản)
Thứ hai, đối tượng nghiên cứu: tính đa diện hiện thực của tài liệu ngôn ngữ Cuối cùng, phương pháp tiếp cận: phân tích ngôn ngữ trong sử dụng bao gồm
ý nghĩa của các từ ngữ trong văn bản xét trong quan hệ giữa chúng với nhau và trong quan hệ với ngữ cảnh bên ngoài, các hiện tượng thuộc liên kết giữa các từ ngữ trong văn bản và những cái hữu quan bên ngoài văn bản thể hiện trong khái niệm ngữ vực
Như vậy, có thể nói phân tích diễn ngôn là xem xét nó trong một bối cảnh xã hội nhất định, từ đó khám phá mối liên hệ giữa cấu trúc diễn ngôn và chức năng của chúng trong sự tương tác với bối cảnh xã hội đó Khi tiến hành phân tích diễn ngôn, chúng ta cần quan tâm đến mục đích của mẫu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dữ liệu ngôn ngữ đó được người phát cũng như người nhận xử lý Nói một cách cụ thể hơn, chúng ta cần tìm hiểu xem nội dung thông điệp được thể hiện bằng chất liệu ngôn ngữ có đặc điểm như thế nào, được tạo ra theo cách thức nào để đạt được mục đích,
Trang 27ý đồ tác động của mình tới người tiếp nhận trong bối cảnh giao tiếp thực tế, đồng thời xác định nội dung thông điệp đó được đối tượng tiếp nhận theo cách nào, trong sự tương tác với xã hội, văn hóa, tâm lý ra sao
1.1.3 Ngữ cảnh tình huống và ngữ vực trong phân tích diễn ngôn
1.1.3.1 Ngữ cảnh tình huống
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2016) thì ngữ cảnh là một loại môi trường phi ngôn ngữ trong đó ngôn ngữ được sử dụng (tr.350)
Ngữ cảnh là một thuật ngữ được dùng phổ biến trong nghiên cứu ngôn ngữ
học, và nó cũng được hiểu có phần khác nhau Ngữ cảnh xét trong quan hệ ba bậc liên quan đến hệ thống ngôn ngữ gồm: ngữ cảnh ngữ âm (phonetic context), ngữ cảnh
từ ngữ và ngữ cảnh tình huống (context of situation)
Malinowski (1923) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ ngữ cảnh tình huống (context of situation) Ông cho rằng trong các ngôn ngữ nguyên sơ (được hiểu là ngôn ngữ không có chữ viết), ý nghĩa của bất kỳ một từ nào cũng phụ thuộc vào ngữ cảnh tình huống Ngữ cảnh tình huống liên quan đến một phát ngôn cụ thể, còn ngữ cảnh văn hóa thì liên quan đến lịch sử văn hóa làm cơ sở cho các tham thể và các tập quán
mà người nói tham gia
Cùng quan điểm trên, Cook (2001) cũng nhấn mạnh rằng phân tích diễn ngôn cũng khảo sát ngữ cảnh giao tiếp, ai tham gia với ai, tại sao, ở trong xã hội nào và tình huống ra sao, nhờ vào phương tiện nào, các loại hành động giao tiếp khác nhau nào được sử dụng và mối quan hệ của chúng (tr.3)
Firth (1957) đã phát triển khái niệm này và đưa ra mô hình ngữ cảnh tình huống bao gồm: những người tham gia vào tình huống, hành động của những người tham gia giao tiếp, các đặc điểm riêng khác của tình huống và hiệu quả của hành động hữu ngôn
David Nunan (1998) quan niệm “ngữ cảnh quy chiếu về tình huống gây ra diễn ngôn và tình huống trong đó diễn ngôn được gắn vào” (tr.22) Ông cũng cho
rằng có hai loại ngữ cảnh:
Trang 28(1) Ngữ cảnh ngôn ngữ: ngôn ngữ đi bao quanh hoặc đi kèm với sản phẩm diễn ngôn đang được phân tích
(2) Ngữ cảnh phi ngôn ngữ hoặc ngữ cảnh thuộc về kinh nghiệm mà trong đó diễn ngôn xảy ra, gồm có: kiểu loại của sự kiện giao tiếp; đề tài; mục đích của sự kiện: bối cảnh, bao gồm vị trí, thời gian trong ngày, mùa trong năm và những phương diện vật lý của tình huống; những người tham gia giao tiếp và những mối quan hệ giữa họ, những hiểu biết cơ sở và những giả định làm cơ sở cho sự kiện giao tiếp
Còn theo Nguyễn Thiện Giáp (2000) thì:
“Ngữ cảnh tình huống là thế giới xã hội và tâm lý mà trong đó, ở một thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thế của người nói và người nghe, sự hiểu biết về vị trí, thời gian và không gian, sự hiểu biết về phép xã giao trong xã hội và sự hiểu biết về mã ngôn ngữ được dùng (nói hay viết), sự hiểu biết về nội dung giao tiếp và bối cảnh giao tiếp (trường học, nhà thờ, nhà máy, phòng thí nghiệm…) Ngữ cảnh tình huống còn bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của người nói và người nghe về tất cả các quy ước, các niềm tin và các tiền đề được coi là đương nhiên của các thành viên trong cộng đồng người nói và người nghe Ngữ cảnh văn hóa bao gồm hàng loạt nhân tố văn hóa như phong tục, tập quán, chuẩn tắc hành vi, quan niệm giá trị, sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên và xã hội, về chính trị và kinh tế” (tr.23-24)
Ông cũng phân biệt ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa với văn cảnh - tức hình thức ngôn ngữ cùng xuất hiện trên văn bản có hiện tượng ngôn ngữ được khảo sát, tức là từ hay câu, hay đoạn văn
Nguyễn Hòa (2008) sử dụng thuật ngữ “ngữ cảnh” và cho rằng “ngữ cảnh có thể là kiến thức nền (văn hóa, xã hội), là tình huống hay chính là văn bản” (tr.180)
Trong đó kiến thức nền có thể hiểu là kiến thức văn hóa và kiến thức về tất cả các loại thế giới bao gồm thế giới thực hữu và thế giới tưởng tượng, về kinh nghiệm và các quy tắc hành xử trong xã hội và giao tiếp
Với Diệp Quang Ban (2009), ngữ cảnh tình huống là “những gì liên quan đến môi trường bên ngoài ngôn ngữ của văn bản, hoặc những thông tin phi ngôn ngữ, có đóng góp vào ý nghĩa của văn bản” (tr.284)
Trang 29Có thể thấy, các hiện tượng ngôn ngữ đều mang tính xã hội và có mục đích, bởi lẽ bất cứ khi nào sử dụng ngôn ngữ, người ta đều sử dụng theo những cách bị quy định bởi xã hội và có ảnh hưởng đến xã hội Đồng thời, việc sử dụng ngôn ngữ là hiện tượng tâm lý riêng biệt của mỗi người, liên quan mật thiết với toàn bộ tiểu sử của con người, với nội dung tính cách, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của con người
đó cùng kiến thức nền của họ
Tóm lại, phân tích diễn ngôn phải quan tâm đến ngữ cảnh, đặc biệt là ngữ cảnh tình huống, thậm chí phải coi ngữ cảnh tình huống là yếu tố quan trọng Ngữ cảnh tình huống có thể hiểu là một môi trường xã hội nhất định, trong một không gian và thời gian nhất định, mà ở đó, diễn ngôn được tạo ra Phân tích ngữ cảnh tình huống
là phải hình dung ra hoàn cảnh, môi trường trong đó diễn ngôn được tạo ra để tìm hiểu điều kiện ra đời của nó Bên cạnh ngữ cảnh tình huống còn có ngữ cảnh văn hóa (context of culture) Ngữ cảnh văn hóa có vai trò làm sáng rõ những nét văn hóa như thói quen, thể chế của cộng đồng, của lớp người, của xã hội ở một miền đất nào đó,
ở một thời đại nào đó, khi đối chiếu các diễn ngôn thuộc những nền văn hóa khác nhau của những thời đại khác nhau thay đổi theo thời gian của một cộng đồng ngôn ngữ Tất cả các yếu tố này đều tham gia tạo nên ý nghĩa của diễn ngôn và chính vì vậy chúng giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc phân tích diễn ngôn
Ngữ cảnh tình huống thường được đặc trưng cụ thể bằng ba hay bốn yếu tố, tùy theo quan niệm Năm 1985, Halliday và Hasan đã đưa ra lý thuyết phân tích ngữ cảnh tình huống dựa trên ba thông số: trường (field), thức (mode) và không khí chung (tenor) mà Diệp Quang Ban (2009) đã tóm lược như sau:
Trường (field)
Trường phản ánh chức năng xã hội, là những gì đang thực sự xảy ra trong diễn ngôn/văn bản, là sự kiện tổng quát trong đó văn bản hành chức, cùng với tính chủ động có mục đích của người nói/người viết, bởi vậy nó bao gồm cả đề tài - chủ đề
(subject - matter), nói vắn tắt, trường chính là tính chủ động xã hội được thực hiện
Như vậy, trường là nơi gây ra kích thích (hoặc cảm ứng) để con người chủ động tạo
ra diễn ngôn và là nơi cung cấp đề tài - chủ đề cho diễn ngôn
Trang 30Không khí chung (tenor)
Không khí chung phản ánh các kiểu trao đổi theo vai, gồm các quan hệ xã hội
thích ứng với các vai, quan hệ lâu dài hay nhất thời, giữa những người tham dự cuộc
tương tác, nói vắn tắt, không khí chung là các vai xã hội được trình diễn Nói một
cách khái quát, ai tham gia giao tiếp và mối quan hệ của họ như thế nào, dựa vào các vai xã hội được xác lập có thể đánh giá là trang trọng, lịch sự, thân mật hay suồng sã
Tóm lại, trường (field), thức (mode) và không khí chung (tenor) là những đặc điểm của ngữ cảnh tình huống có liên quan đến diễn ngôn Việc mô tả nét riêng của một ngữ cảnh tình huống trên ba phương diện này càng cụ thể, càng chính xác bao nhiêu thì các đặc tính riêng của một diễn ngôn càng dễ nhận biết bấy nhiêu
1.1.3.2 Ngữ vực
Có thể thấy rằng ngôn ngữ biến đổi khi chức năng của nó thay đổi, nó khác biệt trong các ngữ cảnh tình huống khác nhau Xuất phát từ quan điểm về ngữ cảnh
tình huống, khái niệm ngữ vực (register) được hình thành với mục đích nghiên cứu
các biến thể ngôn ngữ trong sử dụng, gắn liền với một tình huống giao tiếp cụ thể
Halliday và Hasan (1985) định nghĩa ngữ vực là “biến thể ngôn ngữ theo cách
sử dụng” và được tạo thành từ các đặc điểm ngôn ngữ có liên quan đặc biệt đến kết cấu các đặc điểm tình huống, tức là “tập hợp các nghĩa, cấu trúc của các mô hình nghĩa được suy ra từ các điều kiện cụ thể, của những từ ngữ và cấu trúc được sử dụng để hiện thực hóa những nghĩa đó” (tr.41-44)
Diệp Quang Ban (2009) cho rằng ngữ vực (chữ dùng của tác giả là ngôn vực)
“là những dấu vết nghĩa tiềm ẩn bên dưới các từ ngữ và các cấu trúc được dùng để
Trang 31diễn đạt chúng, còn các từ ngữ và các cấu trúc này được coi là bề mặt ngôn ngữ của văn bản và trong chúng có phản ánh tình huống ngoài văn bản Nói một cách dung
dị, trường, thức, không khí chung làm thành một cấu hình các đặc điểm thuộc tình huống Cấu hình đó liên hội với các đặc điểm ngôn ngữ để diễn đạt chúng, tạo nên cái gọi là ngôn vực” (tr.288)
Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát, ngữ vực là một kiểu biến thể ngôn ngữ trong hoạt động sử dụng, có thể được xác định chủ yếu qua các yếu tố ngữ pháp
và từ vựng
Chúng ta cần phân biệt ba thuật ngữ ngữ vực (register), thể loại (genre) và phong cách (style) Theo Nguyễn Văn Hiệp (2015), ba thuật ngữ này đều dùng để chỉ
những khác biệt của các biến thể diễn ngôn nhưng giữa chúng có sự khác biệt nhất
định Ngữ vực là sự kết hợp của đặc trưng ngôn ngữ và ngữ cảnh sử dụng của biến thể Thể loại thì giống ngữ vực ở chỗ bao hàm cả những miêu tả về mục đích và ngữ
cảnh tình huống, nhưng thể loại còn nhấn mạnh vào cấu trúc mang tính quy ước Còn
phong cách giống với ngữ vực ở sự nhấn mạnh vào các đặc trưng ngôn ngữ của diễn
ngôn, nhưng những đặc trưng này không phải có nguyên do về chức năng hay ngữ cảnh sử dụng, mà là phản ánh những ưa thích về thẩm mỹ, gắn với những tác giả cụ thể hay những giai đoạn thể loại (tr.22-23)
Theo Halliday, một ngữ vực được hình thành nhờ ba mối quan hệ: con người (chủ thể của hoạt động), ngữ cảnh (phạm vi của hoạt động) và thực tế sử dụng ngôn
từ (kiểu loại ngôn ngữ được sử dụng) Ngữ vực là một cấu hình nghĩa có tính chất tiềm năng của văn bản, gắn liền với đặc điểm tình huống, được đặc trưng bởi trường (field), thức (mode) và quan hệ, có người dịch là không khí (tenor) Các ngữ vực càng được hình dung cụ thể bao nhiêu thì các đặc điểm diễn ngôn trong tình huống giao
tiếp dễ nhận diện bấy nhiêu, bởi như đã thấy ngữ vực được quyết định những gì đang xảy ra (field), ai tham gia vào quá trình ấy (tenor) và hình thức ngôn ngữ tham gia thế nào (mode) Có thể có cùng một ngữ vực, nhưng chỉ cần một trong ba yếu tố thay
đổi thì đặc điểm của diễn ngôn cũng sẽ khác
Theo Nguyễn Hòa (2008) thì “phân tích ngữ vực là phân tích hay miêu tả các
sự kiện giao tiếp theo hai phương diện chức năng và đặt chúng vào trong một ngữ
Trang 32cảnh tình huống nhất định” (tr.87) Như vậy, đây là cách phân tích tập trung chủ yếu
vào việc nhận diện các đặc điểm từ vựng, ngữ pháp có tần suất cao về mặt thống kê của một biến thể ngôn ngữ
Trong phân tích ngữ vực, ngôn cảnh tình huống đóng một vai trò quan trọng
Có thể cùng một ngữ vực, nhưng chỉ cần một trong ba yếu tố thay đổi thì đặc điểm diễn ngôn cũng sẽ khác Thực tế, rất khó để có thể phân loại một cách tuyệt đối Các ngữ vực thường giao nhau thông qua các thể loại Ví dụ như bài giảng, nếu xét theo trường diễn ngôn thì đây là ngữ vực khoa học nhưng xét theo phương tiện sử dụng thì đây lại có nhiều đặc tính của ngôn ngữ hội thoại
Dựa vào các đặc điểm ngữ vực, Nguyễn Hòa (2008) (tr.74-75) đã phân loại các thể loại diễn ngôn trong tiếng Anh như sau:
- Ngữ vực báo chí gồm các thể loại diễn ngôn: tin, bài bình luận, tin vắn, phóng
sự điều tra, quảng cáo, bài tường thuật…
- Ngữ vực văn chương có thể gồm có: tiểu ngữ vực như văn xuôi, thơ, văn học dân gian và các thể loại diễn ngôn cụ thể như: truyện ngắn, tiểu thuyết văn học, tiểu thuyết lịch sử, thơ ca, kịch…
- Ngữ vực chính luận có thể gồm có: tiểu ngữ vực như pháp lý, ngoại giao, thương mại… và các thể loại diễn ngôn cụ thể như: bản hiến pháp, luật, công ước, công hàm, hợp đồng, thông báo, thông cáo, quyết định, biên bản, tờ trình, giấy biên nhận, các văn bản pháp lý…
- Ngữ vực khoa học có thể gồm có: tiểu ngữ vực kinh tế, Văn học, Toán, Hóa, giáo dục… và các thể loại diễn ngôn cụ thể như luận án, luận văn, báo cáo khoa học, bài viết khoa học, tóm tắt công trình, tiểu luận, sách giáo khoa, giáo trình, bài thuyết trình, tổng luận…
- Ngữ vực hội thoại thường ngày có thể gồm có các thể loại diễn ngôn: hội thoại, nói chuyện, phiếm đàm, lời trò chuyện, tâm sự, chào hỏi, cuộc tranh luận, phỏng vấn…
1.1.4 Cấu trúc của diễn ngôn
Theo Halliday và Hasan (1994), cấu trúc diễn ngôn (discourse structure) “là
“cấu trúc vĩ mô” (macrostructure) của văn bản, nó thiết lập văn bản về mặt thể loại,
Trang 33nó làm cho văn bản đang được tạo ra có được thực thể của một thể loại cụ thể, như hội thoại, kể chuyện, tình ca, mệnh lệnh hành chính, bài nghiên cứu khoa học, thư tín thương mại…” (Dẫn theo Diệp Quang Ban, 2009, tr.271)
Nguyễn Hòa (2008) quan niệm: “cấu trúc diễn ngôn là sự tổ chức các yếu tố quan yếu, hay là một mạng lưới các quan hệ xã hội tạo bởi các yếu tố tham gia vào
hệ thống Quá trình tổ chức bao hàm một trật tự nhất định” (tr.59) Trong đó, các yếu
tố quan yếu (relevance) được Nguyễn Hòa (2008) giải thích như sau: “yếu tố quan yếu chính là các đóng góp thể hiện tính giao tiếp của diễn ngôn” (tr.61)
Diệp Quang Ban (2009) thì cho rằng yếu tố cấu trúc là một trong những đặc trưng của văn bản (không phân biệt với diễn ngôn) Cấu trúc diễn ngôn là cách tổ chức, kết hợp về hình thức và nội dung của văn bản sao cho phù hợp với lĩnh vực hoạt động xã hội mà văn bản được sử dụng, phù hợp với phương tiện truyền tải văn bản… Điều này thể hiện ở việc văn bản dùng trong lĩnh vực hành chính sẽ khác với văn bản chính luận về mặt cấu tạo hình thức cũng như về cách cấu tạo nội dung mặc
dù cả hai có chung một đề tài - chủ đề
Như vậy, cấu trúc diễn ngôn là sự tổ chức các yếu tố quan yếu, hình thành dựa trên các đặc điểm về trường, thức, không khí chung của ngữ cảnh tình huống Trong phân tích diễn ngôn, sự tái hiện cấu trúc diễn ngôn sẽ giúp phát hiện ra cấu trúc nghĩa của nó, từ đó nhận biết được đề tài - chủ đề của diễn ngôn được phân tích
Đỗ Hữu Châu (2005) cho rằng: “Bố cục còn là một nghệ thuật trình bày các yếu tố nội dung, mang tính chủ quan của người viết Trong bố cục, người viết có thể thay đổi trật tự các đặc điểm, các sự kiện, kết luận… để tạo ra các điểm nhấn, tạo cao trào cho văn bản, tạo cho văn bản có sức hấp dẫn về tâm lý đối với người đọc”
(tr.736) Điều này có nghĩa là dù có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức diễn ngôn như văn hóa, tập quán xã hội… nhưng tính mục đích của người tạo lập diễn ngôn có vai trò quyết định Người tạo lập diễn ngôn có thể phát huy tính sáng tạo của mình để tối ưu hóa chức năng giao tiếp của diễn ngôn
Tùy theo thể loại diễn ngôn và người tạo lập diễn ngôn, diễn ngôn có từ hai đến bốn phần hoặc nhiều hơn Phổ biến hơn cả là cấu trúc diễn ngôn bốn phần (phần tiêu đề, mở đầu, triển khai và kết thúc) hoặc ba phần (phần mở đầu, triển khai và kết
Trang 34thúc) hoặc hai phần (phần tiêu đề và triển khai) Tùy thuộc vào từng mục đích giao tiếp và người tiếp nhận cụ thể, người viết sẽ lựa chọn cấu trúc phù hợp Thông thường,
các thành phần của cấu trúc diễn ngôn có quan hệ qua lại mật thiết với nhau Cụ thể:
Phần tiêu đề của diễn ngôn/văn bản
Phần tiêu đề của diễn ngôn có chức năng đánh dấu đầu vào và nêu nội dung
cô đọng nhất của diễn ngôn Thông qua tiêu đề, người ta có thể biết diễn ngôn sẽ nói
về việc gì Tiêu đề của diễn ngôn có thể phản ánh đề tài (sự việc được nói tới) mà cũng có thể phản ánh chủ đề (vấn đề chủ yếu) của diễn ngôn, cho nên có thể gọi gộp
là đề tài - chủ đề
Phần tiêu đề của một diễn ngôn là yếu tố chi phối mục đích sử dụng diễn ngôn
Phần mở đầu của diễn ngôn có chức năng dẫn nhập, làm rõ tiêu đề của diễn
ngôn và định hướng cho sự phát triển nội dung nêu ở phần triển khai
Phần triển khai của diễn ngôn có chức năng mở rộng, cụ thể hóa hoặc chi
tiết hóa tất cả các định hướng được nêu ở phần mở đầu theo tiêu chuẩn logic cần và
đủ Phần triển khai không được trình bày nhiều hơn những gì đã được định hướng ở phần mở đầu của diễn ngôn
Phần triển khai là phần quan trọng nhất trong cấu tạo chung của diễn ngôn Nhiệm vụ trọng tâm của phần triển khai là triển khai đầy đủ các chi tiết cần thiết của
đề tài - chủ đề theo hướng đã được xác định ở phần mở đầu của diễn ngôn Nó cung cấp những thông tin, lý lẽ để chứng minh cho nội dung ở phần tiêu đề và mở đầu, đồng thời làm cơ sở để đi đến phần kết thúc của diễn ngôn
Phần kết thúc của diễn ngôn có chức năng đánh dấu đầu ra của diễn ngôn,
là phần đúc kết, khẳng định, mở rộng hoặc liên hệ những vấn đề liên quan Nó có thể
ở dạng “đóng” (khẳng định thông tin ở những thành phần trước) hoặc “mở” (gợi ra những vấn đề có liên quan nhằm định hướng suy nghĩ của người đọc)
1.2 Giới thiệu chung về truyện cực ngắn
1.2.1 Vấn đề tên gọi
Khi bàn về thể truyện cực ngắn, có khá nhiều vấn đề chưa được thống nhất trên nhiều phương diện, trong số đó có vấn đề tên gọi cho thể loại truyện Thể truyện
Trang 35đặc biệt này được gọi với nhiều tên khác nhau, đa dạng và biến đổi tùy theo độ dài của mỗi truyện, đặc biệt là phụ thuộc vào thói quen trong cách gọi của từng vùng hay từng nước
Trên thế giới:
Ở Mỹ, tên gọi phổ biến nhất của nó là có lẽ là “flash” (truyện chớp) Pamelyn Casto, tác giả của bài viết “Truyện chớp: từ thật ngắn đến cực ngắn” gọi truyện cực ngắn là “Flash fiction” - truyện chớp Còn ở Mỹ Latinh, đây là “the micro” (vi truyện) Julio Cortázar - nhà văn nổi tiếng người Argentina, có lần còn gọi truyện cực ngắn là
“Những chuyện chạy đua với đồng hồ” (los cuentos contra el reloj) (Dẫn theo Hoàng Long, 2014, tr.8) Ngoài ra, nó còn được gọi với các tên khác như: “Sudden fiction”
- truyện bất ngờ, “Portcard fiction” - truyện bưu thiếp, “Skinny fiction” - truyện mỏng, “Quick fiction” - truyện vội, “Fast fiction” - truyện nhanh, “Furious fiction” - truyện hỏa tốc, “Palm Size Story” - truyện trong lòng bàn tay, “Pocket - Size Story”
- truyện bỏ túi hay một tên gọi đặc biệt là “truyện dài bằng hơi khói” (với ý nghĩa là
thời gian để đọc nó chỉ bằng thời gian hút xong một điếu thuốc lá)… Ở Pháp, những
truyện ngắn thật ngắn này được gọi là “Novelles”
Ở phương Đông, truyện cực ngắn phát triển muộn hơn, nó cũng được biết đến với khá nhiều tên gọi Tại Trung Quốc, vào những năm 80 của thế kỷ XX, khi Tạp
chí Vi hình tiểu thuyết san ra mắt bạn đọc vào năm 1984, truyện cực ngắn được gọi
là “tiểu tiểu thuyết, vi hình tiểu thuyết, cực đoản thiên…” (Dẫn theo Hoàng Long,
2014, tr.8) Người Nhật gọi là “Sho-to sho-to” (tức phiên âm của chữ “short short story”), sau này còn có tên “siêu đoản thiên tiểu thuyết” (chotanpen shosetsu) Riêng nhà văn Nhật Bản Kawabata Yasunari thì gọi riêng thể loại truyện cực ngắn của mình
sáng tác là “Tanagokoro no shosetsu” (“Palm of the hand stories” - Những truyện trong lòng bàn tay)
Tại Việt Nam, truyện cực ngắn bắt đầu phát triển vào những năm 90 của thế
kỷ XX, nhất là trong và sau cuộc thi viết truyện cực ngắn do Tạp chí Thế giới mới tổ
chức năm 1993 - 1994, nó được sử dụng với tên gọi: “truyện rất ngắn, truyện cực ngắn, truyện ngắn rất ngắn, truyện thật ngắn…” Đặng Anh Đào gọi nó là “truyện cực ngắn”, Bùi Việt Thắng, Hoàng Tùng cho rằng thuật ngữ chính thức của thể loại này
Trang 36là “truyện rất ngắn”, Y Ban, Đào Thái Sơn, Nguyễn Thanh Tâm lại thích dùng
Qua nguồn ngữ liệu được khảo sát, luận văn thống nhất dùng tên gọi “truyện cực ngắn” để gọi tên thể truyện có hình thức (độ dài) dưới 1200 chữ (lý do sẽ trình bày ở 1.2.4.1.) Phạm vi khảo sát của luận văn chỉ dừng lại ở những truyện cực ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại, nhằm phân biệt với những những truyện đã từng xuất hiện trước đó có hình thức giống truyện cực ngắn hiện đại và được xem như là những truyện cực ngắn đầu tiên
1.2.2 Nguồn gốc hình thành và những tiền đề xuất hiện truyện cực ngắn
Phát triển từ những năm 90 của thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, truyện cực ngắn
là con đẻ của một thời đại mới - thời đại công nghệ thông tin Cuối thế kỷ XX, nhân loại được thừa hưởng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Sự phát triển của khoa học công nghệ đã rút ngắn khoảng cách giữa quốc gia này với quốc gia kia và khả năng tiếp cận với tri thức nhân loại của con người Trong một giây máy tính có thể thực hiện được hàng ngàn phép tính Trong một giờ người ta có thể làm ra hàng trăm sản phẩm Con người ở những khoảng cách vô tận có thể liên lạc với nhau trong khoảnh khắc Chính tốc độ phát triển chóng mặt của máy móc và công nghệ đã làm cho nhịp sống của con người trở nên gấp gáp hơn Nó chi phối đến nếp cảm, nếp nghĩ và hành xử của con người trong cuộc sống hiện đại Nhịp sinh hoạt của xã hội ngày càng tăng, công việc ngày càng nhiều, áp lực càng lớn, lo âu bề bộn con người ta cũng không chịu được sự nhấn nhá Chiều hướng cuộc sống mới đòi hỏi,
thúc bách một nền văn nghệ mới, tất yếu phải có một thể loại văn học mới ra đời để phản ánh và đáp ứng nó
Trang 37Hoàn cảnh mới, tâm lý mới, văn học cũng phải mới Con người thời hiện đại
có những cách tiếp cận với văn học khác xưa, cách đọc cũng thay đổi theo Người ta học cách đọc nhanh, đọc lướt, thích đọc những gì gọn gàng, nhẹ nhàng Vì vậy, truyện cực ngắn với tính chất ngắn gọn là ưu thế, khi xuất hiện trên văn đàn đã nhanh chóng trở nên hưng thịnh Tất nhiên truyện cực ngắn không chỉ hấp dẫn người đọc ở chỗ nó ngắn, đến với người đọc nhanh (chủ yếu qua Internet), mà nó còn có một “công năng” khác không thể xem nhẹ, đó là “tính báo chí” Nó bám sát cuộc sống, gắn bó với mạch đập của thời đại, vì nó cực ngắn, linh hoạt thuận tiện và chiếm diện tích nhỏ trên trang báo nên dễ dàng gánh vác sứ mệnh đặc thù “truyền đạt tin tức” Truyện cực ngắn kiệm lời tối đa nhưng cũng đòi hỏi tối đa ý nghĩa, đó mới là yếu tố làm nên ưu thế và sức sống thịnh vượng của thể loại văn học này
Hơn nữa, truyện cực ngắn trở thành đối tượng để các nhà văn thử sức Truyện cực ngắn là một “sân chơi” không kén người, đa số mọi người đều có thể tham gia sáng tác Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là ai cũng có thể viết hay Dương Hiểu Mẫn (2006) đã khái quát thành ba nguyên nhân để các nhà văn viết truyện cực ngắn
“Một loại là những người quyết chí hiến thân cho nghệ thuật, họ có tư tưởng sâu sắc, lương tri thành tín và sở trường viết lách thiên bẩm đặc thù Loại thứ hai đại khái là những người vì muốn cải biến trạng huống sinh tồn mà dấn thân vào sáng tác, những nhà văn loại này đầu óc đều rất mẫn nhuệ tỉnh táo Loại thứ ba là những người chú trọng tham gia vào văn học chỉ mong muốn cuộc đời đa sắc thái, để cuộc sống trở nên nhẹ nhàng thoải mái ” (đoạn 10) Tuy các nhà văn có những động cơ khác nhau để đến với truyện cực ngắn, nhưng họ đã mang lại nhiều phong cách khác nhau, cùng nhau thúc đẩy sự phồn thịnh của thể loại
Như vậy, truyện cực ngắn hiện đại ra đời phù hợp với tư tưởng, tâm lý, nhịp sống hiện đại Viết ngắn để đọc nhanh nhưng đó còn là cách ở lâu trong tâm trí người đọc Đúng như Hoàng Ân (2006) đã khẳng định: “Văn học là sự tổng hợp và cân đối giữa ba yếu tố: bối cảnh lịch sử, người đọc và nhà văn Mỗi thời đại lịch sử ứng với một trình độ công nghệ nhất định và sản sinh ra một nền văn học thích ứng” (tr.77) Truyện cực ngắn xuất hiện cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó
Trang 38Nói như M Bakhtin, lịch sử văn học là cuộc hòa tấu của thể loại Trong tiến trình đó, sự hình thành, phát triển hay sự mất đi của một thể loại là bình thường, đôi khi là quy luật của sự phát triển Truyện cực ngắn trong cuộc hội ngộ của sân khấu văn học được coi là một thể loại “trẻ”, sinh sau đẻ muộn, nhưng khả năng phát triển
và định hình thể loại là khá nhanh và mạnh Là con đẻ của xã hội hiện đại, truyện cực ngắn đang ẩn chứa nhiều tiềm năng trong hành trình sáng tạo hiện thực Tuy nhiên lần giở các công trình nghiên cứu văn học, chúng ta tuyệt nhiên chưa thấy bóng dáng
và chỗ đăng quang của thể loại văn học này Chính vì thế, để minh định rõ bản chất
và khả năng của truyện cực ngắn nhất thiết phải truy tìm nguồn gốc của nó
Có thể nói phương Tây là cái nôi của truyện ngắn Nơi đây, tiền đề cho sự xuất hiện truyện cực ngắn có từ rất sớm Người ta cho rằng cội rễ của truyện cực ngắn chính là “truyện đạo lý” của thời trung cổ Tác giả Đặng Anh Đào (2008) cho rằng:
“Ở phương Tây, có một bà con xa của truyện cực ngắn đó là loại được gọi là truyện đạo lý: những truyện kể ngắn, giống như những lời ẩn ý, bài ngụ ngôn, theo truyền thống được xây dựng nhằm mục đích giáo huấn” (tr.178)
Đó là nguồn gốc sâu xa của truyện cực ngắn nhưng còn tiền thân của nó thì lại tìm thấy ở báo chí Từ thế kỷ XVIII, các tờ báo đã đăng tải những sự kiện nhỏ Những mẫu thoại này làm tươi tắn sự nhàm chán của những trang giấy và khiến độc giả được giải trí Người ta cho rằng tin vặt trên báo chí cũng chứa đựng nhiều mối liên hệ với truyện ngắn nói chung Còn độ dài của nó gần gũi với truyện cực ngắn Tin vặt là
“loại tin tức tồn tại tức thì” (chữ dùng của tác giả Đặng Anh Đào), thông tin thì không
có giới hạn, không gắn với bối cảnh chính trị Hơn nữa trong tin vặt không chỉ có tin tức mà còn có tính nghệ thuật, có sự đầu tư, trí tưởng tượng phong phú của phóng viên Điều này nó gần gũi với lời văn nghệ thuật
Truyện cực ngắn giống tin vặt ở đặc điểm về khuôn khổ Mỗi mẫu tin có vài trăm chữ, có khi vài dòng chứa đựng trong một cột báo nhỏ Theo lời kể của tác giả
Đặng Anh Đào thì mục tin vặt trên tờ báo Buổi sáng ở Pari do một phóng viên phụ
trách, sau khi ông mất người ta tập hợp những mẫu tin của phóng viên ở mục tin vặt
thành một tập mang tên Những Novelles trong ba dòng Novelles trong trường hợp
này vừa có ý nghĩa là truyện ngắn vừa mang ý nghĩa là tin tức Mục đích của tin vặt
Trang 39là cung cấp thông tin vì thế thông tin cần phải hấp dẫn Để tạo tính hấp dẫn, người viết cần tạo sự bất ngờ, bất thường, tính kịch cho tin Đó cũng là yếu tố quan trọng của truyện cực ngắn Như vậy, phương Tây không chỉ là cái nôi của truyện ngắn mà còn là cái nôi của truyện cực ngắn
Nếu như ở phương Tây, nguồn gốc của truyện cực ngắn là truyện đạo lý thì ở Việt Nam là từ văn học dân gian Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc (2003) cho rằng
“Truyện cực ngắn không phải những gì thật mới mẻ… thể loại truyện này dễ dàng tìm thấy trong truyện ngụ ngôn hoặc dân gian từ truyền thuyết đến cổ tích, từ tiếu lâm hoặc từ ngụ ngôn Trong văn học viết thể truyện này đã xuất hiện trong các truyện
ngụ ngôn của Aesop và tập Metamophosic của Ovic thời cổ đại” (đoạn 8) Có thể nói
như vậy là vì truyện cực ngắn có những điểm tương đồng với truyện ngụ ngôn, truyện tiếu lâm Trong tham luận tại Đại hội các nhà văn lần thứ hai năm 1963, nhà văn Nguyễn Tuân đã nhấn mạnh: “Tìm ở tiếu lâm một cái gì đó có tính chất kỹ thuật và nghệ thuật viết truyện ngắn thật ngắn nữa Nhiều truyện tiếu lâm ngắn, không tới mười dòng như truyện kể lại cái việc anh nhà nghèo phải đứng quạt hầu cho thằng nhà giàu… Truyện ngắn tiếu lâm viết ngắn gọn nhưng vẫn đủ chỗ để đi vào tâm lý, vào cái lõi của nhân vật Như trong truyện số 60 chẳng hạn chỉ vẻn vẹn có 18 dòng
mà phần lời là đối thoại và nơi cuối truyện là cái cười đích đáng Đứng về góc độ nghề nghiệp mà bàn về tiếu lâm thì đó là một số kinh nghiệm thành công về kỹ thuật
và về nghệ thuật, truyện ngắn rất kiệm lời và ý nghĩa lời thì rất nhiều” (Dẫn theo lời Bùi Việt Thắng) Các loại truyện dân gian hình thức đều rất ngắn gọn, súc tích, không
có yếu tố dư, chỉ có cái cốt lõi tinh túy nhất Nhân vật trong truyện không được chạm khắc sinh động, cụ thể về diện mạo, xuất xứ mà chỉ nói đến một nét cụ thể cần thiết nào đó về địa vị xã hội, nghề nghiệp, giới tính, một nét tính cách
Như vậy, ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy rằng tiền đề cho sự xuất hiện truyện cực ngắn cũng bắt nguồn từ văn học dân gian và sự phát triển của nó cũng liên hệ mật thiết với báo chí
1.2.3 Truyện cực ngắn trong sự đối sánh với truyện ngắn
Truyện cực ngắn cũng giống như truyện ngắn thông thường ở cách thức phản ánh hiện thực: lấy ít nói nhiều, lấy điểm nói diện Những truyện ngắn hay thường
Trang 40thoạt nhìn như chẳng có gì gây cấn quyết liệt, thậm chí chẳng có gì để kể, nhưng rồi càng đọc càng thấm thía, càng ám ảnh
Truyện cực ngắn là một kiểu của truyện ngắn hiện đại Nó là hình thức phát triển mới của truyện ngắn Tuy nhiên, truyện cực ngắn với tư cách là một thể loại văn học tương đối độc lập vẫn có những đặc điểm khác nhau cơ bản với thể loại truyện ngắn thông thường Dương Hiểu Mẫn khẳng định rằng: “Truyện cực ngắn là một sự sáng tạo cách tân về một thể loại văn học, có những giới định về quy luật nghệ thuật, như có hạn định về số chữ tương đối quy phạm (trên dưới 1500 chữ), tư thái thẩm mỹ (độ tinh chất lượng) và đặc trưng kết cấu (yếu tố tiểu thuyết) ” Truyện ngắn mini (hay truyện rất ngắn) khác với truyện ngắn thông thường ở tính chất rất ngắn của nó, nghĩa là nó tiết kiệm câu chữ đến mức tối đa “bởi truyện ngắn là chưng cất, truyện rất ngắn càng là chưng cất tinh túy hơn” (Nhiều tác giả, 2006, tr.454)
Tuy nhiên nếu truyện cực ngắn chỉ khác biệt ở tính chất ngắn thì sức ảnh hưởng của nó không thể lớn vậy được Truyện cực ngắn khác truyện ngắn nói chung không phải chỉ ở chỗ nó ngắn hơn, ít lời hơn mà còn ở chỗ dường như dư ba của nó rõ ràng hơn, mạnh hơn Điều này cũng dễ hiểu, bởi ở đâu càng hàm súc, độ nén càng nhiều thì sức bung ra, lan tỏa càng lớn Giống như “cái mũi nhọn bé tí của chiếc rìu, ở đó dồn toàn bộ sức mạnh ấn xuống, từng từ phải âm vang thành hàng chục từ không nói Tạo giữa các từ, các câu những khoảng trống cho sự thèm khát được bồi đắp, mở rộng suy nghiệm, ước đoán, tưởng tượng Tạo dư vị không nguôi” (Nhiều tác giả, 2006,
tr.450) Lê Ngọc Trà trong bài Chất thơ của truyện rất ngắn đã nhận xét: “Cái dư ba,
nốt ngân dài là một dấu hiệu quan trọng phân biệt truyện rất ngắn với truyện ngắn”
vì “cái hay của truyện rất ngắn ở đây là những khoảng trống, những chỗ để ngỏ vô tình, hoặc cố tình, những cái không hiểu vô ý hay cố ý mà thành mờ đi, bâng khuâng không kết lại chỉ còn cách cảm với nó, nghĩ tiếp với nó mà thôi” (Dẫn theo Bùi Việt Thắng) Có thể cắt nghĩa cho ý kiến này là do truyện cực ngắn có khả năng phản ánh đời sống nội tâm, tâm trạng, trạng thái tâm lý tinh tế và chuyển tải triết lý sâu sắc Nhiều truyện đã thể hiện rất tinh tế đời sống nội tâm nhân vật Chẳng hạn: Phạm Sông
Hồng trong Cam ngọt đã rất tinh tế và sâu sắc khi thể hiện số phận con người Truyện
không có hành động mà trải dài theo dòng cảm xúc của nhân vật: “Gần mười năm