1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề con người trong tác phẩm bản thảo kinh tế triết học năm 1844 của c mác và ý nghĩa lịch sử của nó

148 82 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CHÂU ÂU NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 .... Điều kiện chí

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN NHẬT MINH

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 CỦA C.MÁC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN ANH QUỐC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn: Vấn đề con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học

năm 1844 và ý nghĩa lịch sử của nó là công trình nghiên cứu độc lập, sử dụng

nguồn tài liệu có nguồn gốc rõ ràng dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Anh Quốc Tôi xin cam đoan nội dung trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Nhật Minh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn 10

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 11

7 Kết cấu của luận văn 11

Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 12

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CHÂU ÂU NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 12

1.1.1 Điều kiện kinh tế châu Âu nửa đầu thế kỷ XIX đối với sự ra đời tư tưởng của C.Mác về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844 12

1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội châu Âu nửa đầu thế kỷ XIX đối với sự ra đời tư tưởng của C.Mác về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844 20

1.2 TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 25

1.2.1 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng của C.Mác về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 25

1.2.2 Tiền đề khoa học tự nhiên hình thành tư tưởng của C.Mác về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 56

Trang 6

1.3 KHÁI QUÁT THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA C.MÁC VÀ KẾT

CẤU, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ -

TRIẾT HỌC NĂM 1844 59

1.3.1 Thân thế và sự nghiệp của C.Mác 59

1.3.2 Kết cấu và nội dung cơ bản của tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 68

Chương 2 NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 69

2.1 TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 70

2.1.1 Tư tưởng của C.Mác về nguồn gốc, bản chất con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 70

2.1.2 Tư tưởng của C.Mác về vai trò, vị trí của con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 87

2.1.3 Tư tưởng của C.Mác về giải phóng con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 96

2.2 Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 111

2.2.1 Ý nghĩa lý luận của tư tưởng C.Mác về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 112

2.2.2 Ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng C.Mác về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 124

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 135

KẾT LUẬN 136

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng và vừa là mục đích của nhận thức Vì vậy, rất nhiều ngành khoa học đã nghiên cứu về con người với những góc độ, khía cạnh riêng như triết học, văn học, y học, nhân chủng học, sinh học, Ngay trong triết học cũng có nhiều quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về con người Lịch sử tư tưởng cho thấy, con người luôn được xem là vấn

đề trung tâm của triết học Bởi lẽ, nguồn gốc, bản chất, vị trí vai trò của con người và giá trị, ý nghĩa của đời sống con người là một trong những cơ sở lý luận quan trọng có ý nghĩa quyết định tính đúng đắn của các quyết sách chính trị của nhà cầm quyền

Nhìn lại trong cuộc hình trình đi tìm phẩm giá của con người, các nhà triết học trong lịch sử đã có những cách nhìn nhận, đánh giá về con người như: con người - quân tử, con người - chính trị, con người - tự do, con người - tình yêu,… Mặc dù, các nhà triết học trong lịch sử có nhiều đóng góp cho sự phát triển lý luận về con người, nhưng do những hạn chế của thời đại, lợi ích giai cấp mà họ chưa thể đưa ra quan niệm khoa học và phương pháp luận đúng đắn khi nghiên cứu vấn đề con người, đặc biệt là vấn đề giải phóng con người

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, ở Châu Âu, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã khẳng định tính tất yếu thay thế đối với phương thức sản xuất phong kiến Thực tiễn xã hội tư bản đã giúp C.Mác phân tích vấn đề con người một cách khoa học, toàn diện trên cơ sở kế thừa phép biện chứng của Hêghen (Hegel; 1770-1831), chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc (Feuerbach;1804-1872), kinh tế học chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán

Pháp, Anh Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, tác phẩm được C.Mác chấp

bút và hoàn thành trong năm 1844, đây là một trong những tác phẩm đặt viên gạch đầu tiên cho quan niệm duy vật lịch sử về con người Vì vậy, để có cách nhìn khoa học về vấn đề con người cần trở về với tác phẩm của C.Mác và dĩ nhiên là không thể không nghiên cứu kỹ lưỡng tác phẩm này

Trang 8

Hơn nữa, trong những năm 70 - 80 của thế kỷ trước, các nhà Mác học phương Tây như Hôkhơmơ (Horkheimer; 1895 - 1973), Phrôm (Fromm; 1900 -1980), Mácquysơ (Marcuse; 1898 - 1979)1 muốn bổ sung lý luận về con người của Mác bằng lý luận vô thức của Phrớt (Freud; 1856-1939) Bên cạnh đó, một

số triết gia xem việc “hiện sinh hóa” chủ nghĩa Mác bằng cách bổ sung quan niệm về con người - cá nhân trong triết học hiện sinh nhằm mục đích “làm mới” những quan niệm của Mác về con người; Mơlơau-Pônty (Merleau-Ponty; 1908-1961) là đại biểu tiêu biểu cho tham vọng này Đây không phải sự phát triển quan điểm con người của Mác mà thật sự là hiện tượng biến triết học mác xít thành chủ nghĩa chiết trung về con người, là một sự xuyêt tạc G.Đềriđa (Derrida; 1930

- 2004) (1994) khi nhận xét về những đóng góp của Mác cũng nêu rõ: “Luôn luôn là một sai lầm, nếu không đọc đi đọc lại và tranh luận những tác phẩm của Mác” (tr.42) Và, để khẳng định bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của triết học Mác nghiên cứu toàn bộ các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác mà trước hết là Bản thảo kinh tế - triết học với tư cách là những viên gạch đầu tiên cho quan niệm duy vật lịch sử về con người

Mặt khác, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, vấn đề con người, giải phóng con người, phát triển con người đã, đang đặt ra hàng loạt các vấn đề cả về lý luận và cả về thực tiễn Đảng Cộng sản Việt Nam xác định một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là “con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991, tr.9) Tuy nhiên, sau 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đảng Cộng sản Việt Nam (2015) cũng xác định: “lĩnh vực xây dựng con người còn nhiều hạn chế, khuyết điểm” (tr 99) như: sự xuống cấp

về văn hóa, đạo đức, phai nhạt lý tưởng, lối sống vị kỉ, vô cảm, thiếu trách nhiệm,… trong đó đặc biệt là tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối

1 Những nhà nghiên cứu Mác tại Đại học Phranphuốc (Frankfurt) nước Đức, hay còn gọi là trường phái Phranphuốc

Trang 9

sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên Vì vậy, Văn kiện Đại hội

Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) xác định: “Xây

dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của

chiến lược phát triển” (tr.126), “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh” (tr.434) Do đó, nghiên cứu làm sâu sắc thêm lý luận về con người là cần thiết và việc trở lại toàn bộ các trước tác của các nhà kinh điển về con người cũng cần thiết không kém

Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Vấn đề con người trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 của C.Mác và ý nghĩa lịch sử của nó” làm đề

tài luận văn cao học triết học của mình

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến nội dung của đề tài đã có một số công trình nổi bật theo các hướng sau:

Thứ nhất, hướng nghiên cứu các tác phẩm của chủ nghĩa Mác

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về những vấn đề triết học (Nguyễn Quang

Điển chủ biên, Huỳnh Bá Lân, Phạm Đình Nghiệm, Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh, năm 2003) là công trình nghiên cứu, tập hợp các luận điểm trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin theo các vấn đề triết học Vấn đề con người được nhóm tác giả trình bày ở chương 16 của quyển sách này Trong đó, ở

tiết 1 và tiết 2 của chương, những vấn đề con người trong Bản thảo kinh tế - triết

học năm 1844 được trích dẫn khá kĩ lưỡng Tuy vậy, công trình dừng lại ở chỗ

trình bày các luận điểm một cách thuần túy mà chưa phân tích, đánh giá cũng như liên hệ

Lịch sử chủ nghĩa Mác (Sách dịch gồm 4 tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003) với tư cách là một công trình khá đồ sộ của Viện nghiên cứu

chủ nghĩa Mác thuộc Đại học Nhân Dân Trung Quốc Quyển sách đã được dịch

và công bố ở Việt Nam năm 2003 Trong tập 1, phần 1, nhóm nghiên cứu đã chỉ

Trang 10

ra tính tất yếu ra đời của học thuyết Mác và quá trình hình thành, phát sinh, phát triển các quan điểm của triết học Mác Với công trình này, vấn đề con người

trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 được trình bày trong tương quan giữa

Mác, Hêghen và Phoiơbắc Bên cạnh đó, công trình cũng phân tích quá trình phát triển quan niệm của C.Mác về lao động bị tha hóa

Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ăngghen (giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác) (Ngô Thành Dương, Nxb Lý luận chính trị, Hà

Nội, 2004) - công trình đã trình bày tóm tắt tiểu sử của C.Mác trong quá trình chuyển sang lập trường duy vật biện chứng Tác giả đã trình bày công trình dưới dạng giới thiệu từng tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen Trong đó, Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 được giới thiệu từ trang 39 đến trang 70 với 5 nội dung lớn Tác phẩm này - tác phẩm mà trong đó Mác phê phán triết học duy tâm

và kinh tế chính trị học tư sản, qua đó, Mác cũng trình bày những quan điểm duy vật về con người Tuy vậy, GS Ngô Thành Dương cũng không quên nhắc nhở rằng khi viết tác phẩm này, “Mác đang trong thời kỳ quá độ, đang hình thành hệ

tư tưởng của bản thân mình, ông còn trình bày sự phát triển xã hội và lịch sử của con người theo quan điểm nhân đạo với màu sắc Phoiơbắc” (Ngô Thành Dương,

2004, tr.41) Nên, khi nghiên cứu tác phẩm phải có quan điểm lịch sử cụ thể và

“không được tuyệt đối hóa những quan điểm của Mác hồi đó” (Ngô Thành Dương, 2004, tr.69)

Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I.Lênin

(Doãn Chính và Đinh Ngọc Thạch đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016) là công trình chủ yếu tiếp cận các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin từ hoàn cảnh ra đời, kết cấu, nội dung và ý nghĩa lịch sử Trong đó,

Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 được PGS.TS Đinh Ngọc Thạch trình bày

và giới thiệu, ngoài hoàn cảnh ra đời, kết cấu và ý nghĩa, tác phẩm được trình bày với 3 nội dung cơ bản sau: phân tích bản chất xã hội từ cái cụ thể, đơn giản nhất; vấn đề lao động bị tha hóa, nội dung và cơ sở xã hội của nó; đánh giá quá khứ và

dự báo xã hội tương lai

Trang 11

Ngoài ra, vấn đề con người trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 phải kể đến công trình của nhóm nhà nghiên cứu Liên Xô cũ - Lịch sử phép biện

chứng Mác xít (Từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác đến giai đoạn Lênin), (bản tiếng

Việt, Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva, 1986 - 1987) Phần 1 của công trình bàn về quá trình hình thành phép biện chứng duy vật Quyển sách đã chỉ ra, trong quá trình chuyển biến tư tưởng từ lập trường chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật và

lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa thì Bản thảo

kinh tế - triết học năm 1844 đã thể hiện thái độ phê phán khoa học của C.Mác với

quan điểm duy tâm của Hêghen về tha hóa, chỉ ra sự tha hóa lao động và các hình thức của tha hóa Không dừng lại ở đó, C.Mác còn phân tích mâu thuẫn lao động

và chế độ tư hữu, vấn đề con người và phép biện chứng giữa cá nhân và xã hội; cuối cùng, cũng trong tác phẩm này, Mác đã chỉ ra cách khắc phục tha hóa lao động - “xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu” - cũng là khắc phục tha hóa trong vấn đề khác, tức là khi tiến đến chủ nghĩa cộng sản

Thứ hai, hướng nghiên cứu các vấn đề chuyên biệt về con người trong hệ thống chủ nghĩa Mác

Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen (Hồ Sĩ Quý (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2003)

Công trình là kết quả nghiên cứu của đề tai khoa học KX.05.01 thuộc chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 Công trình nghiên cứu bao gồm 2 phần Một là, di sản sinh điển: những tư tưởng cơ bản về con người và phát triển con người Nhóm tác giả đã chỉ ra những luận điểm cơ bản của Mác và Ăngghen về con người và phát triển con người qua các tác phẩm kinh điển Hai là, di sản kinh điển nhìn từ thời đại ngày nay: ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận đối với nhận thức và phát triển con người Phần này bao gồm những bài viết của các nhà khoa học Việt Nam góp phần làm sáng rõ giá trị thế giới quan, phương pháp luận của triết học mác xít về con người Công trình là tài liệu đắt giá về con người từ góc nhìn triết học duy vật biện chứng

Trang 12

Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội (Hồ Sĩ

Quý (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000) - công trình đã khái quát triết lý chinh phục tự nhiên trong lịch sử triết học; trình bày quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên; từ đó vận

dụng vào sự phát triển ở Việt Nam

Con người và sự phát triển con người: giáo trình dùng cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành triết học (Hồ Sĩ Quý, Nxb Giáo

dục, Hà Nội, năm 2007), tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về con người

và sự phát triển con người, trong đó có quan điểm về con người trong triết học mác xít Trên cơ sở đó, công trình trình bày phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu con người Cuối cùng, công trình tiến đến xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Luận văn Thạc sĩ triết học Tư tưởng về giải phóng con người trong triết

học của C.Mác thời kỳ 1844 - 1848 và ý nghĩa của nó của tác giả Ngô Thị Huyền

bảo vệ năm 2011 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) Luận văn đã làm rõ điều kiện, tiền

đề hình thành tư tưởng của C.Mác về giải phóng con người thời kỳ 1844 - 1848 Hơn nữa, công trình đã chỉ ra những nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng giải phóng con người trong triết học của C.Mác giai đoạn 1844 - 1848

Vấn đề giải phóng con người trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 được

tác giả đề cập với tư cách là những viên gạch đầu tiên của quan niệm duy vật lịch

sử về con người

Luận văn Thạc sĩ triết học Quan điểm của triết học Mác về giải phóng con

người và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển con người Việt Nam hiện nay của

tác giả Bùi Lý Thanh Tâm bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) Tác giả luận văn đã trình bày điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận hình thành quan điểm của triết học Mác về giải phóng con người Bên cạnh đó, công trình đã làm

rõ bản chất và nguyên nhân của lao động bị tha hóa cũng như con đường khắc

Trang 13

phục sự tha hóa và phát triển toàn diện con người Không dừng lại ở đó, luận văn

đã chỉ ra ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm triết học Mác đối với việc xem xét thực trạng tha hóa ở Việt Nam hiện nay và các giải pháp khắc phục sự tha hóa, phát triển con người Việt Nam hiện nay

Bài viết C.Mác, Ph.Ăngghen với vấn đề con người, sử dụng bạo lực giải

phóng con người, xây dựng xã hội mới của tác giả Phạm Đình Đạt đăng trên Tạp

chí Khoa học Chính trị số 01 năm 2014, tr7-9 Bài viết đã làm rõ tính logic, tính khoa học của lý luận về con người nói chung, giải phóng con người nói riêng, về

xã hội mới, xã hội chủ nghĩa của C.Mác, Ph.Ăngghen Đồng thời, tác giả cũng khẳng định vấn đề con người, sử dụng bạo lực giải phóng con người, xây dựng

xã hội mới là “sự chỉ dẫn, phương châm hành động cách mạng, khoa học của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản và nhân dân lao động Việt Nam”

Luận án Tiến sĩ triết học Quan điểm về con người trong triết học Mác và ý

nghĩa của nó đối với sự nghiệp giải phóng con người ở Việt Nam hiện nay của

tác giả Ngô Thị Huyền bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) Đây được xem

là luận án công phu nghiên cứu về vấn đề con người trong triết học Mác Tác giả không những đã chỉ ra những điều kiện, tiền đề ra đời của quan điểm mác xít về con người mà còn phân chia các thời kỳ phát triển của triết học Mác về con người Bên cạnh đó, luận án còn chỉ ra nội dung của triết học Mác về con người với việc làm rõ bản chất, vị trí, vai trò của con người, sự tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người Qua đó, tác giả khẳng định, quan điểm con người trong triết học Mác là cơ sở lý luận và giúp Đảng Cộng sản Việt Nam xác định lý tưởng, mục tiêu và nội dung giải phóng con người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đồng thời, nó cũng là cơ sở phương pháp luận để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định cách thức giải phóng con người Việt Nam hiện nay

Bài viết Học thuyết Mác về con người và sự vận dụng của Đảng Cộng sản

Việt Nam trong xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện thời kỳ đổi

Trang 14

mới của tác giả Trần Thị Thu Hường đăng trên Tạp chí Triết học số 7, 7/2018

Bài viết khẳng định con người là trung tâm của triết học, cũng như triết học Mác Trên nền tảng lý luận của học thuyết Mác về con người, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định con người là chủ thể, là động lực, là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội Cho nên, trong thời kỳ đổi mới “sự phát triển kinh tế - xã hội không có mục tiêu nào khác là vì con người, vì sự phát triển tự do, toàn diện cá nhân con người” (Trần Thị Thu Hường, 2018, tr.10)

Thứ ba, hướng nghiên cứu vấn đề của tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp, Đặng Hữu Toàn, Khái niệm “Chủ

nghĩa nhân đạo” trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 của C.Mác, Tạp chí

Triết học, Số 120, năm 2001, tr 14-20

Các công trình liên quan đến vấn đề lao động bị tha hóa, có thể kể đến: Lê

Thị Lan, Khái niệm lao động bị tha hóa trong “Bản thảo kinh tế triết học năm

1844” của C Mác và ý nghĩa hiện thời của nó, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 65,

năm 2004, tr 38 - 41 Các công trình đều được đăng trên Tạp chí Triết học, Số

10, năm 2003 Nguyễn Thế Nghĩa, Quan niệm của C.Mác về tha hoá và sự giải

phóng con người khỏi tha hoá trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”

Công trình góp phần làm rõ quan niệm của C.Mác về tha hóa lao động và giải phóng con người, từ đó, nhắc lại quan điểm của C.Mác về tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sản và khẳng định tính khoa học và tính nhân đạo của quan điểm ấy;

Nguyễn Thu Nghĩa, Lao động - nguồn gốc của cái đẹp trong Bản thảo kinh tế -

triết học năm 1844 của C.Mác Công trình khẳng định tác phẩm đã đặt cơ sở để

C.Mác nghiên cứu học thuyết giá trị và giá trị thẩm mỹ trong bộ tư bản Bên cạnh

đó, Bản thảo là “bước chuyển có tính chất căn bản trên lĩnh vực thẩm mỹ” (Nguyễn Thu Nghĩa, 2003, tr.35), đưa Mác đến với những quan niệm khoa học

trong lĩnh vực này Nguyễn Anh Tuấn, Quan niệm của C.Mác về tha hoá lao

động và bản chất con người: Qua “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” Tác

giả đã chỉ ra “chu trình sống” của tha hóa lao động trong xã hội tư sản và sự thủ

Trang 15

tiêu lao động bị tha hóa lao động thông qua phong trào cộng sản - “chính là quá trình làm giàu bản chất người” (Nguyễn Anh Tuấn, 2003, tr.28) Hơn nữa, không

thể không quan tâm đến Luận văn Thạc sĩ triết học Quan niệm của C.Mác về

“Tha hóa của lao động” và vấn đề khắc phục sự tha hóa của Đặng Viết Chẩn

bảo vệ năm 1998 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) Luận văn đã góp phần làm rõ, thông qua việc trình bày một cách có hệ thống vấn đề tha hóa của lao động và sự khắc phục tha hóa lao động

Trần Nguyên Việt, Cách tiếp cận biện chứng của C.Mác qua sự lý giải

con người và bản chất con người trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Tạp chí Triết học, Số 4, năm 2007, tr 29-33

Gần đây, có thể kể đến bài báo Quan điểm của C.Mác về “tha hóa” trong

“Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” và vấn đề giải tha hóa ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Hảo đăng trên Tạp chí triết học số 11 (330), tháng 11 năm

2018 Bài viết đã chỉ ra lao động bị tha hóa thể hiện trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, lao động bị cưỡng bức và sự tha hóa bản chất người, cuối cùng là lao động bị tha hóa biểu hiện trong mối quan hệ người với người Tác giả

cũng chỉ ra bốn giải pháp giải tha hóa ở nước ta hiện nay Bài viết Quan niệm

của C.Mác về lao động bị tha hóa trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”

của tác giả Phạm Văn Dương trên Tạp chí Triết học số 10, 2019 Tác giả đã khẳng định vai trò của lao động đối với con người và xã hội, trình bày tư tưởng của C.Mác về lao động bị tha hóa và con đường khắc phục sự tha hóa – “những tiền đề quan trọng cho học thuyết giá trị thặng dư và quan niệm duy vật lịch sử của ông (C.Mác) sau này” (Phạm Văn Dương, 2019, tr.88)

Ngoài ra nghiên cứu này không thể không kể đến bài báo Human issues in

Karl Marx’s economic and philosophical manuscripts of 1844 của tác giả

Nguyen Anh Quoc đăng trên European Journal of Social Sciences Studies,

Volume 3, Issue 3, 2018, page 175-182 Công trình này đã khái quát những vấn

đề cơ bản về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

Đây thật sự là tài liệu quý giá để tôi thực hiện luận văn của mình

Trang 16

Các công trình nghiên cứu trên đã làm sáng rõ những nội dung lớn về vấn

đề con người trong triết học Mác - Lênin Cùng với đó, kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã chỉ ra những mặt, những khía cạnh khác nhau của vấn đề

con người trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, từ đó tạo ra một cơ sở lý

luận cần thiết để thực hiện luận văn Tuy nhiên, khoảng trống trong nghiên cứu của các công trình trên là chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ

thống vấn đề con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 và

đánh giá ý nghĩa lịch sử của nó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích:

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ một cách có hệ thống tư

tưởng của C.Mác về vấn đề con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học

năm 1844 Từ đó, rút ra ý nghĩa lịch sử của nó

Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện, hoàn thành những nhiệm

vụ sau:

Thứ nhất, khái quát điều kiện, tiền đề ra đời và những vấn đề cơ bản trong

tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản của vấn đề con người trong tác

phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

Thứ ba, phân tích ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề con người trong

tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng: vấn đề con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

Phạm vi nghiên cứu: Tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương

Trang 17

pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và qui nạp, phương pháp lịch sử - logic, phương pháp so sánh - đối chiếu

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn

những quan niệm của C.Mác về con người; góp phần khẳng định tính khoa học, cách mạng và tính nhân văn của chủ nghĩa Mác; từ đó, đánh giá được ý nghĩa lịch sử của vấn đề nghiên cứu đối với vấn đề “xây dựng con người xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào hệ thống tài liệu

giảng dạy và nghiên cứu lý luận chính trị tại các trường cũng như những đối tượng khác quan tâm Bên cạnh đó, công trình là một trong những tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo quản lý trong việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 18

Chương 1

ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI

TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM

BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CHÂU ÂU NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844

1.1.1 Điều kiện kinh tế châu Âu nửa đầu thế kỷ XIX đối với sự ra đời

tư tưởng của C.Mác về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, bất kỳ tư tưởng, học thuyết nào cũng xuất phát từ tồn tại xã hội, nghĩa là có nguồn gốc từ những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Nó là kết quả của sự phản ánh những điều kiện kinh tế

- xã hội Tây Âu nửa đầu thế kỷ XIX Cho nên, để hiểu được tư tưởng về con

người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 của C.Mác, trước hết cần tìm hiểu tồn tại xã hội sinh ra nó, tức là lấy “sự kiện kinh tế hiện nay làm

điểm xuất phát” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.128)

Cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, kết quả của cuộc cách mạng công

nghiệp lần thứ nhất (xuất phát từ Anh quốc và lan tỏa ra toàn thế giới) đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, trước hết là tiến bộ của công

cụ lao động tạo nên chuyển biến về chất của nền sản xuất từ lao động thủ công sang lao động cơ khí, máy móc Đó cũng là minh chứng cho tính hợp lý, tính tiến

bộ và tính tất yếu thay thế phương thức sản xuất phong kiến bằng phương thức sản suất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn trực tiếp về lợi ích, bộc lộ ra là mâu thuẫn giữa địa tô và công nghiệp, giữa bất động sản và động sản, giữa quý tộc và nhà tư bản Giai cấp quý tộc nhận thấy “người nô lệ hôm qua của mình trở nên kiêu ngạo” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.152), thấy “sự đe dọa của nhà tư bản”, còn “nhà tư bản thấy người chủ đất là người chúa ăn không ngồi rồi, hung

Trang 19

hãn và ích kỷ” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.152) Đó là nguyên nhân sâu xa

và nguyên nhân trực tiếp của các cuộc cách mạng tư sản Và, trong sự “tranh chấp” địa vị lịch sử ấy, phần thắng tất yếu thuộc về giai cấp tư sản, “vô luận thế nào, nó (sở hữu ruộng đất) cũng phải phục tùng quyền lực của tư bản công nghiệp” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.124)

Tây Âu những năm 40 của thế kỷ XIX, giai cấp tư sản gần như đã xác lập

và củng cố ngày càng vững chắc địa vị kinh tế cũng như địa vị chính trị của mình, tính chất thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa khẳng định tính tất yếu của mình trước lịch sử Hoạt động của giai cấp

tư sản đã tạo ra những sự “đảo lộn” lớn trong đời sống xã hội Một mặt, nó đã

biến nguồn gốc quý tộc, quá khứ phong kiến, trở thành những “hồi ức nên thơ, tính dễ kích động, ý nghĩa chính trị” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.152-153) của giai cấp quý tộc, vì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã nhấn chìm tất

cả, “lòng nhiệt tình hiệp sĩ”, “tính đa cảm tiểu tư sản” xuống dòng nước lạnh giá của sự toan tính ích kỷ, lối “tiền trao cháo múc” của những quan hệ mua bán

Mặt khác, nhờ cách mạng công nghiệp, chủ nghĩa tư bản đã chứng minh sự vượt

bậc của mình trên lĩnh vực sản suất ở hai phương diện là công cụ sản suất và năng suất lao động Anh, Pháp là hai trung tâm phát triển công nghiệp lớn nhất ở châu Âu thời bấy giờ2 Đến năm 1840, tổng giá trị sản lượng ở các nhà máy trên lãnh thổ Anh là 150 triệu bảng; giai đoạn 1835-1850, tổng chiều dài đường sắt đã tăng lên đến 5.856 km

“Từ khi hơi nước và những máy công cụ mới biến công trưởng thủ công

cũ thành đại công nghiệp thì những lực lượng sản xuất được tạo ra dưới sự điều khiển của giai cấp tư sản đã phát triển nhanh chưa từng thấy và với một quy mô chưa từng có” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1994, tr.372)

Sau này, trong tác phẩm Tuyên ngôn của đảng cộng sản, C.Mác và

Ph.Ăngghen tổng kết: trong gần một trăm năm dưới sự thống trị của mình, xã hội

2 Đây là điều kiện khách quan khiến kinh tế chính trị học cổ điển Anh phát triển, có nhiều đóng góp cho

việc hình thành chủ nghĩa Mác; Đó là lý do mà Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác thường lấy

thực tiễn nước Anh và nước Pháp làm luận cứ cho những luận điểm của mình

Trang 20

tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại, đồ sộ, đó là nguyên nhân mà giai cấp

tư sản đã tạo ra lượng của cải lớn gấp nhiều lần so với của tất cả các thời đại trước đó cộng lại Tuy vậy, trong nội tại phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn, mà dựa trên đó, C.Mác đã có những kiến giải mới về con người và xã hội loài người

Mâu thuẫn nội tại trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là nguyên nhân sâu xa của những cuộc khủng hoảng mang tính chất chu kỳ trong xã hội tư bản Qua khảo sát lịch sử nền kinh tế tư bản có thể thấy: phồn vinh, khủng hoảng, phục hồi,… là sự biến đổi mang tính chất chu kỳ, cũng là quy luật vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Năm 1822 đến 1824, ngành dệt ở nước Anh đang trong thời kỳ phồn vinh, năm 1825 rơi vào khủng hoảng, đến năm 1827 phục hồi, phát triển và đạt đỉnh phồn vinh năm 1836 Trong hai năm tiếp theo, bước vào khủng hoảng, tiêu điều Năm 1845 đến 1846, là thời kỳ hưng thịnh rồi chìm vào khủng hoảng một năm sau đó (Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác, 2003, tr.100-101)… Nguyên nhân xảy ra tình hình trên là do mâu thuẫn giữa cái cụ thể và cái toàn bộ Đó là tính chất kỷ luật hết sức chặt chẽ trong từng nhà máy, ông chủ tư bản có thể quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, phân phối như thế nào, còn trong tổng thể xã hội thì biểu hiện sự vô tổ chức, bát nháo và thiếu kế hoạch,

“người sản xuất không biết nhu cầu và nguồn lực, không biết số cầu và số cung” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.102) Bên cạnh đó, còn là mâu thuẫn giữa cung

- cầu trên thị trường Sự phát triển của công nghiệp thỏa mãn nhu cầu cung vô

hạn, nhu cầu mở rộng phạm vi sản xuất một cách vô hạn còn sức mua của quần chúng bị hạn chế, nghĩa là khả năng tiêu dùng thì có giới hạn của xã hội, “cung không biết cầu, cầu không biết cung” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.102) Như vậy, tất yếu dẫn đến “khủng hoảng thương nghiệp, đóng cửa xí nghiệp, hàng hóa

ứ đọng hay khang hiếm một cách chu kỳ” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.102)

Dù chứng minh được tính ưu việt trước phương thức sản xuất phong kiến nhưng bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn không thể tránh khỏi khủng hoảng vì nó vẫn duy trì chế độ tư hữu, hay nói cách khác, chủ nghĩa tư bản là chế

Trang 21

độ tư hữu được tổ chức dưới một hình thức mới tinh vi hơn Trong tính lịch sử

toàn thế giới của nó - mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, đó là mâu thuẫn của

chế độ tư hữu dưới hình thức phổ biến Mâu thuẫn trên lĩnh vực kinh tế dẫn đến mâu thuẫn trong đời sống xã hội, đó là mâu thuẫn giữa người sở hữu tư liệu sản xuất và người không sở hữu tư liệu sản xuất, giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản

Quá trình tích tụ tư bản và tập trung tư bản ngày càng diễn ra mạnh mẽ, tính chất “khắc nghiệt” của các quy luật của thị trường dẫn đến sự sụp đổ của những nhà tư bản nhỏ Trong tình hình cạnh tranh tăng lên, những nhà tư bản nhỏ hoặc là tiêu dùng hết tư bản của mình, vì lợi nhuận sinh ra không đủ để anh ta duy trì sự tồn tại của mình với tính cách là nhà tư bản; hoặc là chịu sự phá sản, có thể nói “một bộ phận bọn họ cũng bị phá sản hoàn toàn” (C.Mác và Ph.Ăngghen,

2000, tr.125) Tình hình ấy đã đẩy các nhà tư bản nhỏ vào sự bần cùng, mà muốn duy trì sự tồn tại, họ không thể từ chối việc tham gia vào hàng ngũ những người công nhân Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, nhà tư bản ngày càng hùng mạnh thì sản phẩm do anh ta tạo ra, - “đạo quân công nghiệp” cũng ngày càng hùng mạnh

Giai cấp công nhân là một giai cấp hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình, do vậy, họ chịu lệ thuộc vào ông chủ, tức là nhà tư bản;

sự lệ thuộc ấy được biểu hiện thông qua tiền công (giá cả sức lao động) của người công nhân Trong quan hệ ấy, “nhà tư bản nhất định thắng lợi, nhà tư bản không có công nhân có thể sống lâu hơn người công nhân không có nhà tư bản” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.72) Phân công lao động xã hội, dưới tác động của đại công nghiệp, ngày càng sâu sắc khiến cho nhà tư bản có thể dễ dàng chuyển tư bản (vốn) của mình sang một lĩnh vực khác nếu như trong lĩnh vực hiện tại, nó không mang lại chút ít lợi tức nào cho túi tiền không có sinh khí của anh ta Nhưng, đối với công nhân thì điều đó hoàn toàn không thể vì trong tay họ không có bất kỳ một tư bản nào, điều duy nhất có thể là bán sức lao động cho nhà

tư bản, họ sẽ “gặp may” nếu tìm được ông chủ của mình Lợi ích luôn thuộc về

Trang 22

giai cấp sở hữu, cố nhiên giai cấp sở hữu được “ban phát” quyền lực trong quan

hệ tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm Thật vậy, “giai cấp vô sản và sự giàu

có là hai mặt đối lập mặt đối lập của nó là giai cấp tư sản” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995a, tr.54)

Giai cấp tư sản muốn tồn tại thì phải duy trì mặt đối lập của nó, là giai cấp công nhân và giai cấp công nhân chỉ tồn tại trong quan hệ với mặt đối lập của nó,

là giai cấp tư sản Lợi nhuận của tư bản không thể sinh ra bằng cách gì khác nếu không phải là lao động thặng dư của công nhân Nhưng lao động của công nhân

là lao động có thuộc tính bất hạnh vì phải đặt dưới sự quản lý kiểu “trại lính”, sự phân phối sản phẩm theo cách của nhà tư bản “Người công nhân có cái bất hạnh làm tư bản sống và do đó phải chịu thiếu thốn, lúc nào anh ta không làm việc thì

lúc đó tư bản này mất lợi tức và do đó mất cả sinh tồn của mình nữa” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.147) Người công nhân bị thiệt thòi, bởi công nhân tồn tại

với tư cách là hàng hóa, “công nhân là hàng hóa”, chịu sự chi phối của các quy luật của thị trường, công nhân là một sự “cung ứng hàng hóa” Khi nhà tư bản và

công nhân cùng bị thiệt thì công nhân, giai cấp không sử hữu tư liệu sản xuất là người chịu thiệt thòi hơn hết, “người công nhân bị thiệt về mặt đời sống của mình, còn nhà tư bản bị thiệt về mặt lợi nhuận, của cái túi vàng không có sinh khí

của hắn” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.74-75) Hay nói cách khác: “Khi nhà

tư bản được lợi, người công nhân không nhất thiết cũng được lợi, còn khi nhà tư bản bị lỗ thì người công nhân nhất định phải bị thiệt cùng với nhà tư bản”

(C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.74) C.Mác khảo sát ba trạng thái xã hội sau:

Trong trạng thái của cải xã hội sút kém, công nhân là người chịu thiệt

nhất,“không một giai cấp nào thiệt thòi ghê gớm vì sự sa sút của phúc lợi xã hội

như giai cấp công nhân” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.75) Cạnh cạnh tranh

tư bản tăng lên, đồng nghĩa với việc nhà tư bản phải chi trả nhiều hơn cho tiền công của người công nhân, khi ấy của cải xã hội tăng lên, đó cũng là trạng thái xã hội tốt nhất, duy nhất có lợi cho công nhân Song, để tiền công tăng thì người công nhân phải làm việc cật lực, “họ càng phải hy sinh nhiều thời gian và càng

Trang 23

phải lao động như nô lệ để phục vụ cho lòng tham, họ hoàn toàn từ bỏ mọi tự do” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.76) Như vậy, tuổi thọ của công nhân bị giảm xuống, công nghiệp, tiền công đã phung phí sinh mệnh của công nhân Cuối cùng, khi xã hội không ngừng giàu có hơn, lao động được tích lũy lại, phân công lao động tăng lên, quá trình tích tụ và tập trung tư bản khiến cho nhiều người rơi vào đội ngũ giai cấp công nhân Số lượng công nhân tăng lên, đồng nghĩa với việc nguồn cung lao động tăng lên, thì tất yếu dẫn đến nhu cầu lao động giảm xuống, giá cả hàng hóa sức lao động giảm xuống cũng là một tất yếu dẫn đến sự bần cùng Và “số vượt quá số lượng ấy (lượng cầu lao động của công nhân trong một nước đạt tới trạng thái giàu có nhất) nhất định phải chết” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.78)

Địa tô - một hình thức tồn tại khác của giá trị thặng dư, vừa biểu hiện quan

hệ giữa nhà tư bản với người chủ đất vừa biểu hiện trong quan hệ với công nhân Địa tô mang tính chất độc quyền, là sự chi trả cho quyền độc quyền Người sở hữu ruộng đất luôn muốn chiếm lấy phần huê lợi nhiều nhất nhưng lại bỏ ra tư bản ít nhất, như vậy người đi thuê ruộng (nhà tư bản) chịu thiệt Để bảo đảm phần lợi nhuận của mình, nhà tư bản phải khấu hao tiền công của công nhân để chi trả cho người chủ đất “Lợi ích của người sở hữu ruộng đất cũng làm cho tiền công hạ xuống đến mức thấp nhất” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.114) Hơn nữa, do sự tách rời tư bản, ruộng đất và lao động khiến cho sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau rất lớn, “một sự tách rời không tránh khỏi, có tính chất bản

chất và tai hại” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.72) - đó là nguyên nhân dẫn đến

tình trạng bần cùng hóa công nhân

Về phía người công nhân, tồn tại của anh ta chỉ là tồn tại với tính cách là hàng hóa, tức là chịu sức ép từ cạnh tranh giữa những người công nhân với nhau trên thị trường sức lao động Số lượng công nhân có việc làm tùy vào nhu cầu của người sử dụng lao động Trong giai đoạn này, tiền công là thứ duy trì đời sống, chỉ bằng tư liệu sinh hoạt, nó chỉ “phù hợp với “tính người thông thường”, nghĩa là bằng mức sống của con vật” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.73)

Trang 24

Nền đại công nghiệp cơ khí trong những năm đầu thế kỷ XIX đã có bước phát triển nhanh, khiến cho đời sống của công nhân ngày càng phụ thuộc vào máy móc; chế độ công xưởng ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tự nhiên của con người, hay là nhu cầu tự nhiên của con người “bị xâm phạm” một cách trực tiếp Phương thức lao động của công nhân trong chế độ công xưởng chỉ còn lại là những nhu cầu hạn chế nhất, thô lỗ, trừu tượng Song, không có một con đường

nào khác, công nhân buộc phải làm việc để tồn tại Giống như con vật, con người

cần ánh sáng, không khí,… sạch sẽ, nhưng “nhu cầu về không khí trong lành cũng không còn là một nhu cầu ở công nhân nữa” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.186) Sống trong ánh sáng của nền văn minh, nhưng một bộ phận công nhân lại không cảm nhận được tính chất văn minh ấy Những căn phòng thuộc tầng hầm ở Luân Đôn, nơi “ở” của công nhân Anh, “đem lại cho chủ của chúng nhiều thu nhập hơn các lâu đài” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.192) Bởi lẽ, đại công nghiệp trong tay chủ nghĩa tư bản đã đẩy (hầu như) mọi tầng lớp vào đạo quân công nghiệp Chi phí thuê những căn hầm ấy là nguồn thu lớn cho nhà tư bản Công nhân buộc phải làm việc cật lực, để có thể trả đủ tiền thuê nhà, nếu không anh ta sẽ bị tống cổ ra khỏi “hang động” nhỏ bé của anh ta

Việc áp một cách phổ biến máy móc vào sản xuất đã tiết kiệm được lao động Một mặt, “ngày lao động của công nhân vì bọn chủ xí nghiệp chạy theo lợi nhuận đã tăng lên đến mười hai - mười sáu giờ một ngày” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.83) Mặt khác, máy móc đã thay thế năng lực cơ bắp của con người, giá trị hàng hóa sức lao động giảm xuống Ưu thế về cơ bắp, sức lực của người đàn ông so với người đàn bà dường như chỉ còn là một yếu tố không

cơ bản trong việc lựa chọn người lao động của các ông chủ tư bản Nam - nữ,

“hai giới tính dịch lại gần nhau hơn về mặt xã hội” (C.Mác và Ph.Ăngghen,

2000, tr.85) Điều đó nghĩa là phạm vi hoạt động của phụ nữ được mở rộng thêm

Ở tỉnh Lancaxtơ (Lancaster) nước Anh, trong các nhà máy bông vải tỉ lệ công nhân nam và công nhân nữ là 100 : 103, ở Xcốtlen (Scotland) là 100 : 209 Đối với nhà máy sợi gai ở Lítxơ (Leics), cứ 100 công nhân nam lại có 147 công nhân

Trang 25

nữ Ở Bắc Mỹ, tình hình cũng không khá hơn, năm 1833, có hơn 38.927 nữ lao động với 18.593 nam Giá cả sức lao động giảm đi, việc sử dụng lao động đàn bà

và lao động trẻ em ngày càng chủ yếu, đặc biệt là những xí nghiệp lớn Giá trị sức lao động giảm xuống, “nhà tư bản có khả năng khai thác lao động của cấp dưới, thậm chí cả trẻ con, đối với họ, việc đó dễ dàng hơn và rẻ hơn là sử dụng nguồn lực cơ khí” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.85) Cụ thể, năm 1835, ở nhà máy kéo sợi chạy bằng máy hơi nước và sức nước thuộc vương quốc Anh thì trẻ

em từ 8 đến 12 tuổi lao động là 20.558 em, từ 12 đến 13 tuổi là 35.867 em và có đến 108.208 em từ 13 đến 18 tuổi(C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.85)

Hơn nữa, chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa đẩy người ta vào những nghề

“hết sức gớm ghiếc”, vào “tình trạng suy đồi” “Những người không có của bán thể xác của chính mình dưới mọi hình thức” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.86) Ở nước Anh, có trung bình 60 đến 70 ngàn người hoạt động trong lĩnh vực mại dâm, mỗi năm có thêm 8 đến 9 nghìn phụ nữ, có 80 nạn trên một ngày và mỗi giờ có thêm 1 nạn nhân Bên cạnh đó, tỉ lệ người nghèo khổ tăng lên, mức

độ bần cùng hóa tăng cao, lực lượng người nằm trong nhóm những người tế bần tăng lên Số liệu thống kê năm 1821 cho thấy, có 6.801.827 người cùng khổ chen chúc nhau chung sống và giành giật nhau sự bần cùng, 10 năm sau, có thêm 1 triệu người (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.86) Sự biến động lớn trong xã hội biểu hiện ra là sự giàu có của giai cấp tư sản song song với sự bần cùng một cách ngày càng phổ biến của các lực lượng xã hội, họ bị đẩy vào hàng ngũ của giai cấp công nhân, giai cấp chỉ có thể sống bằng việc bán sức lao động và phải chịu bóc lột giá trị thặng dư

Vậy, thái độ của giai cấp tư sản đối với các giai cấp vô sản như thế nào? - Đạo luật mới về người nghèo 1843, đó là cách mà các cơ quan từ thiện của giai cấp tư sản Anh quan tâm đến lực lượng làm thuê đang bị bần cùng hóa thời bấy giờ Thực chất, đạo luật mới về người nghèo chỉ tạo cho người chủ xí nghiệp điều kiện cực kỳ thuận lợi để thuê mướn công nhân Nguồn quỹ phúc lợi có được

do sự “khấu trừ tiền công của công nhân vào thuế cứu tế cho người nghèo”

Trang 26

(C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.148-149) Đạo luật mới chỉ là kết quả của một quan hệ mua bán, - sự chi trả cho “quyền” không bị những người nghèo khổ, người ăn mày, người sống trong nhà tế bần quấy rầy

Như vậy, sự phát triển của công nghiệp dẫn đến sự thay đổi lớn trong lực lượng sản xuất, nguyên nhân của sự thay đổi trong quan hệ sản xuất Nắm trong tay vũ khí đại công nghiệp, giai cấp tư sản, một mặt, giành chiến thắng hoàn toàn với giai cấp phong kiến, xác lập địa vị kinh tế cũng như địa vị chính trị của mình Mặt khác, giai cấp tư sản thay đổi phương thức tồn tại của chế độ tư hữu, “đẩy” các giai cấp, tầng lớp vào hàng ngũ giai cấp công nhân Nội tại đầy mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa biểu hiện trên bình diện xã hội là sự bần cùng hóa giai cấp công nhân, khoét sâu khoảng cách giàu nghèo, mâu thuẫn

xã hội ngày càng gay gắt, tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội

Nó trái với tinh thần ban đầu, buổi bình minh của giai cấp tư sản

1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội châu Âu nửa đầu thế kỷ XIX đối

với sự ra đời tư tưởng của C.Mác về con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844

Trong quá trình phát triển của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân cũng dần phát triển thành một lực lượng chính trị độc lập Phong trào đấu tranh của công nhân phát triển từ tự phát sang tự giác, từ giai cấp “tự nó” sang giai cấp

“cho nó” Những biến đổi trong đời sống chính trị, cùng với những tác động trực tiếp của các phong trào đấu tranh của công nhân là cơ sở khách quan cho các

luận điểm của C.Mác trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, cũng là căn cứ

vật chất cho việc C.Mác phê phán những quan điểm của các trào lưu triết học phản khoa học và đưa ra những kiến giải sâu sắc về con người, đặc biệt là tư tưởng giải phóng con người

Lịch sử công nghiệp diễn ra theo quy luật từ công nghiệp nhẹ đến công nghiệp nặng Trong thời kỳ nền sản xuất công nghiệp Tây Âu chủ yếu là công nghiệp nhẹ, với đặc điểm là quy mô vốn ít, quy mô sản xuất nhỏ, chính vì vậy giai cấp công nhân chưa có điều kiện tập trung với số lượng lớn Bên cạnh đó,

Trang 27

thời kỳ đầu, giai cấp tư sản còn đang là giai cấp tiến bộ Mâu thuẫn chủ yếu trong

xã hội vẫn là mâu thuẫn giữa tư sản và quý tộc; mâu thuẫn giữa công nhân và tư sản cũng xuất hiện và tồn tại nhưng chỉ với tư cách là mâu thuẫn thứ yếu Công nghiệp cơ khí mở rộng thêm, sự tiếp xúc với máy móc, tính liên kết chưa cao,

chưa có tổ chức lãnh đạo nên phong trào công nhân chủ yếu hướng đến mục tiêu

kinh tế, đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động và chưa có mục đích chính trị trực tiếp

Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, trên vũ đài chính trị, giai cấp tư sản dần mang tính phản tiến bộ, trở thành giai cấp thống trị với những hoạt động mang tính chất toàn cầu Quá trình tập trung công nghiệp không ngừng tăng lên đã tạo điều kiện để công nhân tăng cường tính liên kết, tập trung về tổ chức Mặt khác, những đòi hỏi khắc nghiệt của thị trường khiến cho tính cạnh tranh ngày càng mạnh, tiền công của công nhân bị hạ xuống thấp, thời gian lao động kéo dài, để tồn tại con người phải nhượng lại một phần cuộc sống của mình theo một giá mà người ta sẵn sàng trả cho họ, “người ta thấy có công nhân làm việc khẩn trương, liên tục 16 giờ, mà không mua nổi quyền khỏi chết đói” (C.Mác và Ph.Ăngghen,

2000, tr.88) Việc áp dụng máy móc làm giảm giá trị sức lao động đã đẩy phần lớn lao động nữ và lao động trẻ em vào guồng máy của sản xuất Khủng hoảng kinh tế mang tính chu kỳ làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng gay gắt, đối đầu trực tiếp về lợi ích giữa hai giai cấp cơ bản trong

xã hội là nguyên nhân tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa “Sự phân hoá giai cấp ngày càng gay gắt, tinh thần phản kháng ngày càng ăn sâu vào lòng người công nhân, sự căm phẫn càng tăng, những cuộc xung đột cá biệt kiểu du kích đang mở rộng thành những cuộc chiến đấu và thị uy lớn hơn, và không lâu nữa, chỉ cần một sự va chạm nhẹ cũng đủ gây nên sóng gió lở đất long trời” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995a, tr.698) Trong giai đoạn này, bắt đầu xuất hiện những cuộc đấu tranh tự giác chống giai cấp tư sản, giai cấp vô sản dần trở thành lực lượng chính trị độc lập, biểu hiện cụ thể là các cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra ở Pháp, Anh và Đức

Trang 28

Ở Pháp, cách mạng tư sản lần thứ 2 diễn ra vào tháng 7 năm 1830 thắng lợi cũng là thời điểm đánh dấu sự sụp đổ của vương triều Buốcbông (Bourbon) Giai cấp tư sản Pháp lên nắm quyền đã gạt bỏ giai cấp vô sản và các giai cấp tầng lớp khác ra khỏi chính quyền Hơn nữa, giai cấp vô sản không những không được lợi mà còn mất đi những lợi ích về kinh tế, khiến mâu thuẫn mỗi ngày một gay gắt Tháng 11 năm 1831, công nhân dệt ở thành phố Lyông (Lyon) bãi công với mục đích không chỉ đòi tăng lương, mà hướng đến mục chính chính trị và hành động vũ trang rõ ràng, họ tuyên bố “làm việc không đủ sống thì thà chết trong chiến đấu” Phong trào lắng xuống trong ba năm do sự đàn áp của giai cấp tư sản Đến tháng 4 năm 1834, công nhân Lyông tiến hành khởi nghĩa vũ trang lần hai

công khai mục đích chính trị - thành lập nước cộng hòa dân chủ Cuộc khởi nghĩa

gây tiếng vang lớn và được sự ủng hộ của công nhân Pari (Paris), Mácxây (Marseille) cũng như công nhân toàn Châu Âu Phong trào công nhân Lyông chứng minh tính độc lập chính trị của giai cấp vô sản, là những phát súng đầu tiên tác động đến địa vị chính trị của giai cấp tư sản Pháp cũng như giai cấp tư sản toàn châu Âu

Trong thời gian này, ở Anh quốc xuất hiện một “phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị” (V.I.Lênin, 2006a, tr.365) - phong trào Hiến chương Anh Hoạt động cải cách chế độ bầu cử của Quốc hội Anh diễn ra năm 1832 đã không thỏa mãn quyền bầu

cử của giai cấp công nhân Ý thức được tính chất phi dân chủ trong hoạt động của chính quyền Anh, giai cấp công nhân tổ chức một phong trào rộng lớn, độc lập nhằm đòi quyền lợi chính trị của mình Cụ thể, tháng 6 năm 1836, Hội liên hiệp công nhân Luân Đôn được thành lập, Hội này tổ chức phong trào “Hiến chương nhân dân” với mục đích đòi quyền phổ thông đầu phiếu trong bầu cử Đến tháng 5 năm 1939, Hiệp hội đã thu thập được 125 vạn chữ ký của công nhân vào đơn thỉnh nguyện, nhưng yêu cầu bị phủ quyết sau 2 tháng Năm 1840, phái Hiến chương tập hợp được 3 triệu chữ ký của công nhân đề vào đơn thỉnh nguyện với nhiều nội dung mới được bổ sung như yêu cầu bãi bỏ luật đối với

Trang 29

người nghèo, giới hạn ngày làm việc, tách nhà nước ra khỏi giáo hội Lần này, sự tập trung số lượng lớn chữ ký do năm 1840, nước Anh rơi vào tỉnh trạng khủng hoảng kinh tế, đời sống công nhân hết sức cơ cực Tháng 5 năm 1842, thỉnh nguyện thư bị bác bỏ, công nhân tiến hành bãi công rộng rãi, song phong trào bị đàn áp, kết quả thất bại Khủng hoảng kinh tế năm 1847 - 1848, dẫn đến phong trào Hiến chương có bước tiến mới với sự tham gia của 5 triệu chữ ký Có thể thấy, phong trào Hiến chương Anh là phong trào có tính chất quần chúng, lôi kéo được sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân và ý thức tổ chức hết sức cao Qua phong trào, giai cấp công nhân được giác ngộ, Đảng Hiến chương được thành lập, phong trào công nhân có bước tiến mới

Những năm 40 của thế kỷ XIX, trung tâm của cách mạng chuyển từ Pháp sang Đức vì đây là nơi tập trung các mâu thuẫn của thời đại Khi những người anh em của mình (ở Anh và Pháp) đã bước lên vũ đài chính trị, thì ở Đức, giai cấp tư sản vẫn còn yếu thế về kinh tế, nhỏ bé về lực lượng chưa thể làm một cuộc cách mạng tư sản “kiểu Pháp” Nước Đức vẫn còn trong chế độ quân chủ Phổ, các cứ về lãnh thổ với hơn 300 quốc gia lớn nhỏ, lạc hậu về kinh tế Mâu thuẫn

xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản, một là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc, hai là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Tháng 6 năm 1844, công nhân ở thành phố Xilêdi (Xiledi) bãi công có vũ trang, không chỉ đốt mọi chứng từ tài sản mà còn hướng đến đấu tranh chống chế độ tư hữu Phong trào ở Xilêdi là một bước tiến lớn trong phong trào công nhân về hình thức cũng như tổ chức bởi lẽ giai cấp công nhân Đức có nhiều hiểu biết hơn về cách mạng, có nhiều kinh nghiệm hơn thông qua sự thất bại của phong trào công

nhân Pháp và Anh “Cuộc nổi dậy ở Xilêdi bắt đầu đúng bằng cái mà những cuộc nổi dậy của Pháp và Anh kết thúc - cụ thể là bằng việc nó ý thức được bản chất

của giai cấp vô sản” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.609) C.Mác bắt đầu viết Bản thảo kinh tế - triết học từ tháng 4 năm 1844, như vậy có thể thấy, phong trào công nhân ở Xilêdi là điều kiện khách quan có tác động lớn hơn hết để C.Mác đề xuất những kiến giải trong tư tưởng giải phóng con người

Trang 30

Cả ba phong trào công nhân trên đều có điểm chung là thành lập được các

tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân đánh dấu bước tiến cũng như sự trưởng thành của giai cấp những người làm thuê trong chủ nghĩa tư bản Thực tiễn phong trào đã rèn giũa một bộ phận ưu tú công nhân thành lãnh tụ cho cách mạng,… Tuy vậy, phong trào công nhân giai đoạn này vẫn còn chịu ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng khác nhau như chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán, đạo Cơ đốc, chủ nghĩa vô chính phủ Về mặt thực tiễn, phong trào đấu tranh còn yếu tố tự phát dẫn đến thất bại Về mặt tư tưởng, nhân tố chủ quan của giai cấp công nhân không thích ứng với những điều kiện khách quan; lý luận cách mạng chưa xứng tầm với nhiệm vụ và sứ mệnh lịch sử đặt trên vai giai cấp công nhân Nhu cầu bất thiết cả về thực tiễn và lý luận ấy đòi hỏi có một hệ tư tưởng mới đặt nền tảng cho thế giới quan khoa học, cách mạng trong nhận thức

và cải tạo thế giới, mà trước hết là nhận thức đúng đắn về bản chất con người và vấn đề giải phóng con người Chủ nghĩa Mác, triết học Mác và vấn đề con người

trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 ra đời trong điều kiện kinh tế, chính

trị - xã hội như vậy

Tóm lại, Tây Âu nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn phát triển, khẳng định địa vị kinh tế và địa vị chính trị của giai cấp tư sản Sự tất yếu thay thế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với phương thức sản xuất phong kiến thông qua vũ khí của nó là đại công nghiệp cơ khí Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản cũng bộc lộ những mâu thuẫn nội tại của nó, tính chất xã hội ngày càng cao của lực lượng sản xuất mâu thuẫn với quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về

tư liệu sản xuất đã bộc lộ ra thành mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân Giai cấp công nhân bị bóc lột giá trị thặng dư, bị phân hóa giàu nghèo “Tiền công bị rút xuống mức thấp nhất, và còn phải hạ thấp thêm nữa để

có thể đương đầu nổi với cuộc cạnh tranh mới”, giá cả hàng hóa sức lao động giảm xuống, một bộ phận không nhỏ lao động nữ và trẻ em được bổ sung thay thế cho lao động nam giới, khủng hoảng kinh tế dẫn đới đời sống công nhân ngày càng bị bủa vây bởi sự khốn cùng và “điều đó tất nhiên dẫn tới cách mạng”

Trang 31

Song, các trào lưu tư tưởng đương thời chưa xứng tầm với sứ mệnh lịch sử mới của giai cấp công nhân, đó là nguyên nhân vật chất để C.Mác đưa ra tư tưởng của mình về vấn đề con người và giải phóng con người theo lập trường duy vật lịch

sử - được thể hiện trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

1.2 TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844

Tư tưởng của C.Mác về con người trong Bản thảo kinh tế - triết học năm

1844 không thể xuất phát từ mảnh đất trống không Trước hết, nó phải là sự phản

ánh những điều kiện kinh tế - xã hội, và sau đó là sự kế thừa có chọn lọc những

tư tưởng trước đó trong lịch sử

1.2.1 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng của C.Mác về con người

trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

Tinh hoa tư tưởng nhân loại là cơ sở hình thành thế giới quan duy vật biện chứng của C.Mác Song, trực tiếp phải kể đến là triết học cổ điển Đức, kinh tế học chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Pháp - Anh, cùng với tiền đề khoa học tự nhiên như thuyết tế bào, thuyết tiến hóa, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Một số học giả phương Tây khi nghiên cứu triết học Mác cho rằng: ông không có nhiều công lao đối với việc ra đời thế giới quan mới, đó chỉ là sự lắp ghép một cách cơ học các thành tựu của các tiền bối (tiêu biểu là Hêghen và Phoiơbắc), rằng C.Mác chỉ thưởng thức những món ăn được bài biện sẵn trên bàn tiệc mà thôi Sự thật có phải như vậy không? Để trả lời cho câu hỏi này, việc nghiên cứu tiền đề lý luận hình thành tư tưởng của C.Mác trong

tác phẩm nói chung và vấn đề con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết

học năm 1844 nói riêng là cần thiết, vừa làm rõ đóng góp của các bậc tiền bối

trong việc hình thành tư tưởng của C.Mác, vừa khẳng định công lao vĩ đại của C.Mác trong việc sáng lập thế giới quan mới Để đạt được những nhiệm vụ trên phải nghiên cứu cả ba nguồn gốc hình thành triết học Mác Theo logic của C.Mác

trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, trước hết cần nghiên cứu tiền đề

kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh

Trang 32

Thứ nhất, tiền đề kinh tế chính trị học cho sự ra đời tư tưởng về con người trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844

Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác đã tiếp cận, nghiên

cứu một cách khá kỹ lưỡng một số tác phẩm của C.Pếchcơ (Pecqueur;

1801-1887): Học thuyết mới về kinh tế xã hội và kinh tế chính trị, hoặc Nghiên cứu về

việc tổ chức xã hội; V.Sundơ (Schulz; 1779 - 1860): Sự vận động của sản xuất Nghiên cứu có tính lịch sử thống kê học để đặt cơ sở mới cho môn khoa học mới

về nhà nước và xã hội; E.Bayrê (Buret; 1810 - 1842): Về sự cùng khổ của giai

cấp công nhân ở nhà nước Anh và nước Pháp; Gi.B.Xây (Say; 1767 - 1832):

Khái niệm về khoa kinh tế chính trị; A.Xmít (Smith; 1723 - 1790): Nghiên cứu về

bản chất và nguyên nhân của sự giàu có của các dân tộc; S.Laođơn (Loudon;

1801 - 1844): Giải quyết vấn đề dân số và lương thực; Đ.Ricácđô (Ricardo; 1772

- 1823): Nguyên lý của kinh tế chính trị và chính sách thuế; Xixmônđi (Sismondi; 1773 -1842): Những nguyên lý mới của kinh tế chính trị học

Thực tiễn xã hội Tây Âu đầu thế kỷ XIX là những tài liệu hiện thực trực tiếp đối với C.Mác Mặt khác, thực tiễn ấy cũng được phản ánh hết sức khái quát trong tác phẩm của các nhà kinh tế chính trị học, tức là các nhà kinh tế chính trị học đã giúp C.Mác tổng kết phần nào những điều kiện kinh tế - xã hội thời bấy giờ Sự phát triển của công nghiệp, sức mạnh và vai trò của nó được thể hiện trong phản ánh của các nhà kinh tế chính trị Năng suất lao động tăng lên do máy móc phát triển đến mức “để thỏa mãn yêu cầu vật chất của xã hội, chỉ cần mọi người có khả năng làm việc trung bình năm tiếng đồng hồ mỗi ngày là đủ …” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.84) Trong thực tế, vì các ông chủ chạy theo lợi nhuận mà thời gian lao động của người công nhân kéo dài từ 12 đến 16 giờ hằng ngày, tuy làm việc cật lực, song người công nhân cũng “không mua nổi quyền khỏi chết đói” V.Sunđơ đánh giá, khoa học và công nghiệp phát triển khẳng định khả năng chinh phục tự nhiên của con người, con người sẽ là chủ nhân của giới

tự nhiên, ông khẳng định: “trong đời sống tương lai của các dân tộc, những lực lượng mù quáng của tự nhiên tác động trong máy móc, sẽ trở thành nô lệ và nông

Trang 33

nô của chúng ta” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.84) Từ một góc độ khác, khoa học, công nghiệp phát triển đến mức đẩy tình hình cạnh tranh tăng lên mạnh mẽ, thành một cuộc chiến tranh, “cuộc chiến tranh ấy là cạnh tranh” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.88) Tính tất yếu của nền kinh tế tư bản từ trạng thái tự do cạnh tranh sang trạng thái độc quyền do sự chi phối của quy luật kinh tế tuyệt đối của nó tác động đến đời sống xã hội, sự phân hóa gay gắt giàu nghèo, sự tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng giai cấp công nhân Lao động của người công nhân chỉ hiện diện dưới hình thức hoạt động nhằm có được tiền công thay

vì hoạt động tự do, lao động là “hàng hóa có thuộc tính bất hạnh” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.87)

Sự khác nhau giữa C.Mác và các nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, trước hết là khác nhau về cách tiếp cận, - đó cũng là điểm khác nhau có tính xuất phát điểm, căn bản, quyết định đến hướng nghiên cứu của C.Mác so với các tiền bối của mình Chẳng hạn, C.Mác lý giải lao động bị tha hóa trên cơ sở những

“tiền đề”, “dùng ngôn ngữ” và những “quy luật” của kinh tế chính trị học Cũng giống như nhà thần học giải thích nguồn gốc của tội ác bằng tội tổ tông, nghĩa là anh ta giả định cái mà bản thân mình phải giải thích, là một sự kiện, dưới hình thức sự biến lịch sử, các nhà kinh tế chính trị học khi giải thích một cái gì đó (các hiện tượng của xã hội, lao động, con người), “thì lại chuyển về trạng thái nguyên thuỷ do anh ta bịa ra” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.128) Căn cốt của vấn đề trong đời sống xã hội là sự vận động của ý thức xã hội bị quy định bởi tồn tại xã hội, chính trị bị quy định bởi kinh tế, nhân tố chủ quan bị điều kiện khách quan quy định Vì thế, mà khi nghiên cứu một cách có phê phán những tiền đề của

kinh tế học chính trị, C.Mác “lấy sự kiện kinh tế hiện nay làm điểm xuất phát”

(C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.128) Cái hố xuất hiện là kết quả của hoạt động xây dựng thành lũy, còn sự nghèo túng xuất hiện trong khi xuất hiện của cải

“ sự kiện kinh tế hiện nay” là sự kiện gì? - phương thức lao động, hưởng dụng

của công nhân và của sản phẩm của công nhân trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đầu thế kỷ XIX “Chúng tôi đã nêu lên khái niệm của cái thực tế này:

Trang 34

lao động bị tha hoá Chúng tôi đã phân tích khái niệm đó Như thế là đã phân

tích một sự kiện của kinh tế” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.139) - cách tiếp cận vấn đề của C.Mác so với các nhà kinh tế chính trị

Hai đóng góp lớn của các nhà kinh tế chính trị học là học thuyết giá trị -

lao động và sự phát hiện ra giai cấp, nguồn gốc đấu tranh giai cấp Tuy nhiên, khi

kế thừa những phát kiến khoa học ấy, C.Mác cũng đã nhận thấy những khuyết điểm và tiến hành phê phán nghiêm túc những hạn chế của nó

Học thuyết về giá trị - lao động là học thuyết tương đối chặt chẽ khi coi

lao động là nguồn gốc của giá trị, giá trị của lao động được thể hiện thông qua thời gian lao động xã hội cần thiết Trên cở sở lý thuyết của U.Pétti (W.Petty;

1623 - 1687), A.Xmít đã phát triển học thuyết giá trị khi phân biệt rõ giá trị sử

dụng và giá trị trao đổi Ông trừu tượng hóa mọi hình thức của lao động thành lao động nói chung, coi đó là nguồn gốc của mọi giá trị trao đổi hàng hóa, “lao động

là thước đo thực sự để đo lường mọi giá trị trao đổi của hàng hóa” (Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác, 2003, tr.117) A.Xmít đã thấy được sự kết tinh sức lao động của người công nhân trong hàng hóa Bên cạnh đó, thông qua học thuyết giá trị - lao động, A.Xmít đã có những phán đoán về tính chất cũng như nguồn gốc của giá trị thặng dư dưới các hình thức tồn tại của nó, chẳng hạn như tiền công, lợi nhuận của tư bản và địa tô Giá trị thặng dư có được thông qua lao động làm thuê của giai cấp công nhân,

“Địa tô nằm trong cấu thành của giá cả hàng hóa hoàn toàn theo một cách khác với cách của tiền công và lợi nhuận về tư bản Tỷ suất cao hoặc thấp của tiền công và lợi nhuận là nguyên nhân của giá cả cao hay thấp của hàng hóa, còn tỉ suất cao hay thấp của địa tô là kết quả của giá cả ấy” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.111)

Hơn nữa, A.Xmít cho rằng: “Tư bản - một số lượng lớn nhất định lao

động tích lũy và được dành làm dự trữ” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.90)

Như vậy, ông đã thấy được nguồn gốc của nó nhưng chưa thể chứng minh được

sự tồn tại của nó Tuy nhiên, ý tưởng của A.Xmít đã giúp C.Mác có được chất

Trang 35

liệu ban đầu để phát triển, trình bày học thuyết này một cách có hệ thống trong

Bộ Tư bản Trên cơ sở đó, theo C.Mác: “Tư bản là lao động được tích lũy”

(C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.90)

Xem xét hoạt động lao động của người công nhân, nhà kinh tế A.Xmít thấy được lao động là nguồn gốc của giá trị, còn bản thân lao động gắn liền trực tiếp với hoạt động của người công nhân, là tinh lực hiện thực của con người trong quá trình lao động Việc thừa nhận sự sản xuất và lao động là nguyên tắc, tức nguyên lý chủ yếu của mình, A.Xmít đã thực hiện một bước tiến mới so với thuyết trọng tiền và chủ nghĩa trọng thương trước đó, xây dựng một học thuyết lao động khá hoàn chỉnh Vì vậy, C.Mác đánh giá A.Xmít là tên tuổi lớn của

“kinh tế chính trị học có kiến thức”, là nhà cải cách, là “Luy-the”3 của bộ môn

khoa học này Kết quả nghiên cứu của A.Xmít mà C.Mác trích dẫn trong Bản

thảo kinh tế - triết học năm 1844, cho thấy ông là tiền bối lớn trong học thuyết

kinh tế mác xít Khoa học gắn liền với tên tuổi của A.Xmít “thừa nhận lao động

là nguyên lý của mình, nghĩa là không còn xem sở hữu tư nhân vẻn vẹn chỉ là

một trạng thái nào đó ở bên ngoài con người, là sản phẩm của tinh lực hiện thực

và của sự vận động hiện thực của sở hữu tư nhân; là sản phẩm của công nghiệp

hiện đại” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.157)

Tuy nhiên, hạn chế ở chỗ xuất phát điểm khi nghiên cứu lao động của người công nhân thì các nhà kinh tế chính trị (kể cả A.Xmít) lại không xem xét con người hiện thực tức là không chú ý đến tính hiện thực của con người, chỉ nghiên cứu con người trong trạng thái trừu tượng chung chung Họ “không xét công nhân trong thời gian anh ta không có việc làm, không xét công nhân như một con người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.81) Sự phản ánh hoạt động lao động của công nhân của kinh tế chính trị học là người công nhân thực hiện hành

vi lao động trừu tượng, hành vi lao động như của một con vật, như một hàng hóa

Họ coi “lao động là sự sống”, trong sự phản ấy đó, lao động vừa là cái duy trì sự tồn tại của công nhân, công nhân không tồn tại nếu không lao động, “lao động sẽ

3 Martin Luther (1483-1546), nhà cải cách tôn giáo, nhà thần học người Đức

Trang 36

bị mất giá trị nếu không được bán đi từng giờ từng phút” (C.Mác và Ph.Ăngghen,

2000, tr.87) Có thể nói, A.Xmít và trường phái của ông đã bắt đầu từ chỗ bề ngoài thừa nhận con người, thừa nhận sự độc lập (trong lao động) của con người

Do đó, C.Mác (2000) đánh giá: một mặt, kinh tế học chính trị đã khẳng định tự

do cá nhân của con người, khi chuyển chế độ tư hữu vào chính bản chất con người thì họ cho rằng con người không thể tự ràng buộc mình bằng những “thành

kiến địa phương”, dân tộc, của sự quy định của chế độ tư hữu với tư cách là “bản

chất tồn tại bên ngoài con người” (tr.158) Mặt khác, hạn chế của nó là việc

“thực hành một cách triệt để việc phủ định con người” (tr.158), bản thân con người trở thành bản chất của chế độ tư hữu, đó là sự quy định, sự ràng buộc, giới hạn duy nhất và mối liên hệ duy nhất trói buộc con người, mọi nhu cầu phong phú của con người bị bóp nghẹt bằng khái niệm “lao động” Nên, tất yếu đi đến kết luận “lao động là nguồn gốc của mọi của cải” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.159), - một kết luận không khoa học của A.Xmít được Đ.Ricácđô, Đ.Min, Gi.B.Xây tiếp nối

Trong bức thư gửi Vâyđơmaiơ (Weydemeyer; 1818 - 1866) năm 1852, C.Mác từ chối công lao phát hiện ra giai cấp, phát kiến ấy là công lao của các nhà

sử học và kinh tế học tư sản C.Mác (1996) viết:

“… tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không phái có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát hiện lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẩu kinh tế của các giai cấp” (tr.661 - 662)

Trong thời đại của mình, A.Xmít miêu tả sự phân chia xã hội tư sản thành giai cấp Tổng giá trị sản phẩm xã hội, theo A.Xmít, được chia thành ba bộ phận

cơ bản là địa tô, lợi tức và tiền công - đại diện cho giai cấp quí tộc, giai cấp tư

sản và giai cấp công nhân Trong đó, giai cấp sở hữu ruộng đất luôn đòi hỏi địa

tô cao nhất có thể với người thuê ruộng đất (giai cấp tư sản), “ít khi địa tô ấy

Trang 37

dưới một phần tư tổng sản phẩm” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.110) Đòi hỏi

đó xuất hiện ngay khi ông chủ ruộng đất không ném một chút tư bản nào vào công tác cải tạo chất lượng của ruộng đất, đó là giai cấp mà “thu nhập của nó không đòi hỏi phải hao phí lao động” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.108), địa

tô chính là sự chi trả cho sự độc quyền Thế là, để bảo đảm lợi tức của mình, giai

cấp tư sản buộc phải hạ thấp tiền công của công nhân - lực lượng chủ yếu tạo ra giá trị thặng dư - “Tư bản chỉ có thể nâng thu nhập của mình bằng cách hạ thấp

tiền công và ngược lại” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.149) Trong trường hợp

này, phần thiệt thuộc về phía người không giữa quyền sở hữu ruộng đất - tư sản

và công nhân, người công nhân chịu thiệt thòi hơn hết Như vậy, A.Xmít đã lý giải được nguồn gốc của sự phân chia xã hội thành giai cấp, đó là chế độ tư hữu;

và cũng cho chúng ta một cơ sở kinh tế để lý giải tại sao trong thời kỳ đầu, giai cấp tư sản và giai cấp công nhân nằm trong cùng mội liên minh chống giai cấp phong kiến, giai cấp những người không sở hữu tư liệu sản xuất chống lại giai cấp những người sở hữu tư liệu sản xuất Qua đó, có thể thấy, các nhà kinh tế học chính trị đã trình bày nguyên nhân kinh tế của sự phân chia xã hội thành các giai cấp, đó cũng là một trong hai đóng góp lớn đối với sự chuyển biến và hình thành

tư tưởng của C.Mác về giải phóng con người

Khi đề cập trực tiếp đến bản thân người công nhân, thì Đ.Ricácđô - người tiếp nối tư tưởng, cũng đã đẩy những hạn chế của A.Xmít tăng lên Bắt đầu từ Xmít qua Xây đến Ricácđô, Min,

“không chú ý đến tất cả những mâu thuẫn đập vào mắt, trong đó lý luận ấy

làm cho nó rối tung lên, nó phát triển phiến diện hơn nhiều và do đó gắt

gao và triệt để hơn nhiều luận điểm coi lao động là bản chất duy nhất của của cải, vạch rõ tính chất đối địch với con người giáng một đòn trí

mạng vào hình thức cuối cùng, cá nhân, tự nhiên .” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.158-159)

C.Mác chỉ rõ tính chất phiến diện trong quan niệm của Đ.Ricácđô Đó là quan niệm sai lầm, một sự trừu tượng Theo C.Mác, lao động chỉ là một yếu tố

Trang 38

cấu thành của cải Nhưng do sự sùng bái của cải mà bản chất phổ biến của của

cải được nhận thức và do đó lao động được nâng lên thành “nguyên tắc trong tính

tuyệt đối hoàn toàn của nó, nghĩa là trong sự trừu tượng” (C.Mác và Ph.Ăngghen,

2000, tr.161) Do đó, “bản chất của của cải không phải là một lao động nhất định

nào đó, không phải là một biểu hiện đặc biệt nào đó của lao động, gắn với một

yếu tố đặc biệt nào đó của lao động, mà là lao động nói chung” (C.Mác và

Ph.Ăngghen, 2000, tr.161) Thật ra, lao động chỉ là nguồn gốc của mọi giá trị xã hội mà thôi, vì có những của cải có sẵn trong tự nhiên không do lao động làm ra nhưng người chiếm hữu “hợp pháp” được thụ hưởng (địa tô là một minh chứng) Hơn nữa, lao động phải được xem xét là hoạt động cụ thể gắn liền với cá nhân cụ thể trong điều kiện cụ thể của họ, hoạt động của người công nhân trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Hiểu như vậy cũng là nhận thức con người đúng với bản chất của nó

Đ.Ricácđô và những người theo học thuyết của ông “biến chế độ tư hữu dưới hình thức hiện thực của nó thành chủ thể, nghĩa là tuyên bố vừa con người với tính cách là con người vừa con người với tính cách một thực thể bị bóp méo nào đó” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.159) Bên cạnh đó, họ xem xét người công nhân với tư cách là con người trừu tượng, bị hạn chế tất cả các nhu cầu ngoại trừ những nhu cầu tối thiểu nhất cho sự tồn tại của chính bản thân người công nhân Hoạt động của công nhân bị quy thành “hoạt động cơ giới trừu tượng”, con người không còn nhu cầu nào khác ngoài nhu cầu hành động và hưởng lạc đời sống đã bị biến thành phương tiện cho tồn tại thể xác C.Mác (2000) phê phán luận điểm này, rằng “quá trình sinh sống hóa ra là sự hy sinh đời sống” (tr.145) Đối với Ricácđô “con người không là gì cả, sản phẩm là tất cả” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.103) Như vậy là đi đến kết luận, trong chừng mực tồn tại của người công nhân, đó là tồn tại trong sự hạn chế một cách tối thiểu nhất, sự bóp nghẹt đến mức thấp nhất nhu cầu của con người, đời sống công nhân chỉ tồn tại với tích cách là phương tiện của đời sống Người lao động không chỉ hy sinh cho đời sống bị què quặt của mình mà còn là hy sinh vì đời

Trang 39

sống khác, mà đời sống này lại hư ảo trong cái vẻ bề ngoài phong phú của nó C.Mác (2000) chỉ ra rằng: “Những động cơ duy nhất mà nhà kinh tế chính trị học

vận dụng là lòng tham và chiến tranh giữa những kẻ có lòng tham, tức là cạnh

tranh” (tr.127) Nhà kinh tế chính trị coi xã hội là “xã hội tư sản, trong đó mỗi cá

nhân là tổng thể nhu cầu đóng kín nào đó và chỉ tồn tại đối với người khác - và người khác chỉ tồn tại với nó - trong chừng mực họ trở thành phương tiện cho

nhau” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.200-201)

Xixmônđi, đại biểu của kinh tế học cổ điển Pháp đã kế thừa, tiếp nối tư tưởng của A.Xmít về sự phân chia giai cấp xã hội trên cơ sở phân tích mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ông đi đến kết luận, công nghiệp hóa là nguyên nhân của “sự tiêu diệt hoàn toàn giai cấp trung gian Trong xã hội, ngoài những nhà đại tư bản và những người làm thuê cho họ, không tồn tại giai cấp khác” Ngoài ra, trên cơ sở phân tích kinh tế, ông cũng đã đi đến nhận định về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, “thấy sự lớn mạnh nhanh chóng của một giai cấp chưa từng có trong lịch sử - giai cấp hoàn toàn không có tài sản” (Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác, 2003, tr.120) Song, Xixmônđi chưa thấy được chế độ tư hữu là nguồn gốc của phân chia giai cấp, công việc ấy được tiếp tục bởi Pếchcơ và Xây Đối với Pếchcơ, ông cho rằng:

“Muốn sống, những người không có sở hữu buộc phải trực tiếp hoặc gián tiếp

phụ vụ những người sở hữu, nghĩa là phụ thuộc vào họ” (C.Mác và Ph.Ăngghen,

2000, tr.85) Theo ông, trong xã hội tư bản lúc bấy giờ phân chia thành hai phe đối lập nhau Một bên, người công nhân “cho thuê lao động của mình”, “cho vay lao động của mình để lấy lợi tức”, “làm việc thay cho người khác” Còn bên khác, nhà tư bản, “cho thuê đối tượng lao động”, “cho vay đối tượng lao động để lấy lợi tức”, bắt người khác phải lao động thay cho mình” (C.Mác và

Ph.Ăngghen, 2000, tr.85) Còn Gi.B.Xây đánh giá, chế độ tư hữu được “bảo kê”

bởi hệ thống pháp luật, “sự giúp đỡ của lập pháp để làm cho thừa kế trở nên thiêng liêng” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.89) Thật vậy, trong xã hội phân chia thành giai cấp thì thượng tầng kiến trúc luôn bảo vệ cho cơ sở hạ tầng sinh

Trang 40

ra nó Có thể thấy, những phác thảo của Xmít, luận điểm của Xixmônđi, Pếchcơ

và Xây đã chứng minh sự tồn tại của các giai cấp đối lập nhau trong xã hội C.Mác hết sức đồng tình với họ, nhưng thành tựu của C.Mác không dừng lại ở việc thừa nhận sự tồn tại của các giai cấp mà C.Mác đã chứng minh được vai trò lịch sử của từng giai cấp, giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến và ngày nay là giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư

sản tiến tới chuyên chính vô sản - bước quá độ cho xã hội không còn giai cấp Do

đó, công lao của C.Mác trong tác phẩm này là phác thảo những luận điểm đầu tiên về vai trò lịch sử của giai cấp vô sản trên cơ sở kinh tế chính trị học tư sản Cho nên, nhân loại phải “học cách tin tưởng vào con người” (C.Mác và

Ph.Ăngghen, 2000, tr.125) - người công nhân trong chủ nghĩa tư bản thực hiện sứ

mệnh giải phóng hoàn toàn con người

Mặc dù có những đóng góp quan trọng, song, kinh tế chính trị học tư sản

là kết quả của sự phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội Tây Âu, thời kỳ mà giai cấp

tư sản Tây Âu đang trong đà tiến bộ Kinh tế chính trị học luận chứng cho tính tất yếu của sự thay thế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, nó chưa thoát khỏi tính tư sản, vẫn là sự biện giải cho sự tồn tại “hợp lý” của những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa và chế độ tư hữu, sự tồn tại “hợp lý” của mâu thuẫn trong đời sống xã hội và đi đến kết luận sự tồn tại

“hợp lý” của giai cấp tư sản khi giai cấp ấy mất đi vai trò lịch sử của nó Khoa kinh tế chính trị là khoa học về sự quên mình, sự thiếu thốn, về sự tiết kiệm,… do

đó là “khoa học về sự khổ hạnh”, khoa học của giai cấp thống trị: “luận đề cơ bản

của nó là sự quên mình, sự từ bỏ đời sống và tất cả các nhu cầu con người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.188) Theo C.Mác, chừng nào chưa trút bỏ được chiếc áo tư sản của nó thì kinh tế chính trị học chưa thể là khoa học cho sự giải phóng hoàn toàn con người, vì khoa học ấy về mặt phương pháp là siêu hình còn

về mặt lịch sử là duy tâm Lý luận của kinh tế chính trị học là lý luận “không triệt

để và tự mâu thuẫn” (Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác, 2003, tr.121)

Ngày đăng: 19/04/2021, 23:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Lý Thanh Tâm. (2012). Quan điểm của triết học Mác về giải phóng con người và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển con người Việt Nam hiện nay (luận văn thạc sĩ). Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của triết học Mác về giải phóng con người và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển con người Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bùi Lý Thanh Tâm
Năm: 2012
2. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1994). Toàn tập, tập 20. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 20
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Năm: 1994
3. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995). Toàn tập, tập 1. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Năm: 1995
4. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995a). Toàn tập, tập 2. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 2
5. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995b). Toàn tập, tập 3. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 3
6. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995c). Toàn tập, tập 4. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
7. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995d). Toàn tập, tập 21. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 21
8. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1996). Toàn tập, tập 28. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 28
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Năm: 1996
9. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1998). Toàn tập, tập 34. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 34
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Năm: 1998
10. C.Mác và Ph.Ăngghen. (2000). Toàn tập, tập 42. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 42
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Năm: 2000
11. C.Mác và Ph.Ăngghen. (2000a). Toàn tập, tập 40. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 40
12. Doãn Chính và Đinh Ngọc Thạch. (2016). Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin
Tác giả: Doãn Chính và Đinh Ngọc Thạch
Năm: 2016
13. Đặng Viết Chẩn. (1998). Quan niệm của Karl Marx về “Tha hóa của lao động” và vấn đề khắc phục sự tha hóa (luận văn thạc sĩ). Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Karl Marx về “Tha hóa của lao động” và vấn đề khắc phục sự tha hóa
Tác giả: Đặng Viết Chẩn
Năm: 1998
14. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2002). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
15. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2004). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
16. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2007
18. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
19. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2015). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn sau 30 năm đổi mới (1986-2016). Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn sau 30 năm đổi mới (1986-2016)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2015
20. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2015a). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 55. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w