1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ huyện trảng bom, tỉnh đồng nai lãnh đạo thực hiện công tác phát triển đảng trong khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2005 2015

140 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Bộ Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai Lãnh Đạo Thực Hiện Công Tác Phát Triển Đảng Trong Khối Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Giai Đoạn 2005 – 2015
Tác giả Đỗ Thị Thu Trang
Người hướng dẫn TS. Lê Quang Hậu
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình thực hiện công tác xây dựng tổ chức đảng và kết nạp đảng viên mới trong các doanh nghiệp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom giai đoạn 2005 – 2015

Trang 1

ĐỖ THỊ THU TRANG

ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG KHỐI

DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Trang 2

-

ĐỖ THỊ THU TRANG

ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẢNG BOM ,TỈNH ĐỒNG NAI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG KHỐI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

GIAI ĐOẠN 2005 – 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60.22.03.15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ QUANG HẬU

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 7 - 2019

Trang 4

Quang Hậu, người thầy đáng kính, luôn tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và phòng Sau Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho tôi hoàn thành các nội dung, yêu cầu của khóa học Đồng thời cho phép tôi xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giảng dạy và công tác tại khoa Lịch sử đặc biệt là quý thầy, cô đã giảng dạy chương trình cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - những người luôn tận tâm, theo sát, truyền dạy cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt những năm học vừa qua

-Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Tỉnh ủy Đồng Nai, Phòng Lưu trữ Tỉnh ủy Đồng Nai, UBND tỉnh Đồng Nai, Huyện ủy Trảng Bom, Phòng Kinh tế huyện Trảng Bom, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và một số cơ quan, ban ngành khác đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được tiếp cận và thu thập những tài liệu có liên quan đến luận văn

Và cuối cùng xin, Chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè luôn động viên, chia sẽ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2019

Học viên cao học

Đỗ Thị Thu Trang

Trang 5

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi do Tiến sỹ Lê Quang Hậu hướng dẫn, chưa từng được công bố và cũng không trùng lắp với bất cứ công trình nào Các dữ liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2019

Người thực hiện

Đỗ Thị Thu Trang

Trang 6

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNVC-LĐ Công nhân viên chức lao động

LĐLĐ Liên đoàn lao động

Trang 7

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU 8

DẪN LUẬN 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 19

3.1 Mục đích nghiên cứu 19

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 19

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

4.1 Đối tượng nghiên cứu 20

4.2 Phạm vi nghiên cứu 20

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 21

5.1 Phương pháp nghiên cứu 21

5.2 Nguồn tư liệu 21

6 Đóng góp của luận văn 21

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 22

8 Kết cấu luận văn 22

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA HUYỆN TRẢNG BOM TRƯỚC NĂM 2005 23

1.1 Cơ sở lý luận về công tác phát triển đảng 23

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác phát triển Đảng 23

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phát triển Đảng 29

1.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển Đảng 34

1.1.4 Quan điểm của Tỉnh ủy Đồng Nai về công tác phát triển Đảng 43

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác phát triển đảng viên và thực trạng công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom trước năm 2005 45

Trang 8

1.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn huyện Trảng Bom 45 1.2.2 Thực trạng công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom trước năm 2005 54 1.2.3 Thực trạng tổ chức Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 57

Chương 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẢNG BOM GIAI ĐOẠN 2005 – 2015 67

2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ huyện Trảng Bom về công tác phát triển Đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 67 2.2 Quá trình thực hiện công tác xây dựng tổ chức đảng và kết nạp đảng viên mới trong các doanh nghiệp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom giai đoạn 2005 – 2015 74

2.2.1 Quá trình thực hiện công tác xây dựng tổ chức đảng và kết nạp đảng viên mới 74 2.2.2 Kết quả lãnh đạo thực hiện công tác phát triển đảng trong khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom giai đoạn 2005 -

2015 79

Chương 3 NHỮNG ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA ĐẢNG

BỘ HUYỆN TRẢNG BOM GIAI ĐOẠN 2005-2015 90

3.1 Đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện công tác phát triển đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 90

3.1.1 Ưu điểm và nguyên nhân 90 3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 96 3.1.3 Bài học kinh nghiệm về công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom(2005-2015) 100

3.2 Dự báo những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến công tác phát triển đảng trong khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước của Đảng bộ huyện Trảng Bom trong giai đoạn mới 103

3.2.1 Dự báo những thuận lợi 103 3.2.2 Dự báo những khó khăn 105

Trang 9

3.3 Một số giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện tốt công tác phát triển đảng trong

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 108

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHỤ LỤC 133

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Số cơ sở đảng và đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài trên địa bàn huyện Trảng Bom giai đoạn 2000 - 2004

50

Bảng 2.1: Thống kê số tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom giai đoạn

2005 – 2015

70

Bảng 2.2: Chất lượng đảng viên trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước trên địa bàn huyện Trảng Bom giai đoạn 2005 - 2015

77

Trang 11

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp giữ một vị trí then chốt, việc phát triển đoàn viên trong các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi, nghĩa vụ cho người lao động Nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bộ Chính trị (khoá VIII) đã ra Chỉ thị 07-CT/TW ngày 23/11/1996 và gần đây nhất là Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” Nội dung chủ yếu của các văn bản nêu trên qui định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng tại các loại hình doanh nghiệp, mối quan hệ giữa tổ chức cơ sở Đảng với bộ máy quản lý của doanh nghiệp Tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng cơ sở có qui định khác nhau nhưng tập trung vào một số nhiệm vụ như: sản xuất kinh doanh, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội, lãnh đạo công tác tư tưởng, lãnh đạo các đoàn thể quần chúng tại doanh nghiệp Đây chính là cơ sở để tổ chức đảng tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo, đoàn kết người lao động trong doanh nghiệp thực hiện nhiệm

vụ sản xuất, kinh doanh, tập hợp, động viên người lao động thực hiện việc sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, đúng pháp luật, tăng cường đoàn kết giữa chủ và người làm công trong doanh nghiệp Công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nhiệm vj chính trị quan trọng đối với các địa phương ở nước ta hiện nay trong thời ký đổi mới, mở cửa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với mọi thành phần kinh tế ở nước ta, nhằm tập hợp và phát huy mọi nguồn lực quốc gia cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 12

Trong khi đó, sau hơn 30 năm thực hiện đổi mới, mở cửa, Việt Nam đang ngày càng thành công trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng về số lượng và quy mô, khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta Việc phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một nhu cầu cần thiết trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay của Đảng Phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ tăng cường sự đóng góp về phẩm chất, năng lực của đội ngũ đảng viên mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng tới các doanh nghiệp, góp phần đưa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vận hành theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Với vị trí nằm gần các đô thị lớn và có các tuyến đường giao thông quốc gia

đi qua tạo điều kiện cho huyện Trảng Bom có vị trí địa lý kinh tế hết sức thuận lợi trong hiện tại và tương lai để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, đặc biệt

là thu hút đầu tư vốn đầu tư nước ngoài phát triển các ngành công nghiệp xây dựng

- thương mại, dịch vụ, du lịch sinh thái và nông lâm nghiệp hình thành ngày càng nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thời gian qua, Đảng bộ huyện Trảng Bom đã tích cực triển khai thực hiện và bước đầu

có sự chuyển biến tích cực Nhiều cấp ủy, chi bộ, tổ chức công đoàn, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh đã phát huy vai trò là hạt nhân chính trị lãnh đạo đảng viên, người lao động và tuyên truyền vận động chủ doanh nghiệp, chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người lao động, góp phần tích cực vào sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, số tổ chức Đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn hạn chế Số đảng viên là chủ doanh nghiệp được kết nạp còn thấp, hạn chế vai trò hạt nhân lãnh đạo của các doanh nghiệp, đơn vị Công tác phát triển Đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp đánh giá tổng thể vẫn chưa tương xứng với sự phát triển chung của Huyện Vì vậy cần có sự nghiên cứu, tổng kết để làm rõ những thành tựu,

Trang 13

hạn chế và nguyên nhân của nó,từ đó đúc kết những kinh nghiệm bổ ích nhằm thực hiện tốt hơn việc phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới

Xuất phát từ những tiền đề lý luận và thực tiễn trên đây, tác giả chọn vấn đề:

“Đảng bộ huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai lãnh đạo thực hiện công tác phát

triển đảng trong khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2005 – 2015” để làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn thạc sỹ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phát triển đảng là vấn đề quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, có xây dựng được đội ngũ kế cận đáp ứng được cả về phẩm chất chính trị lẫn chuyên môn thì mới đảm bảo những chính sách, đường lối của Đảng có thể tiếp nối một cách liên tục và ngày càng hoàn thiện Chính vì vậy, vấn đề phát triển Đảng luôn nhận được sự quan tâm của các nhà Khoa học, nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, khai thác vấn đề với các giai đoạn lịch sử

và ở nhiều quy mô, mức độ khác nhau Nhìn chung các công trình nghiên cứu, các tác phẩm có những cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về vấn đề Nhiều công trình khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn như:

Một là, nhóm công trình nghiên cứu công tác phát triển đảng viên nói chung

ra đời của ấn phẩm là trước năm 2003, trước khi có Chỉ thị số 11 - CT/TU ngày 19/5/2003 của Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM, nên ấn phẩm chủ yếu trình bày thực tế hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở các doanh nghiệp tư nhân mà

Trang 14

phạm vi là tại TP.HCM với trọng tâm là thực hiện Chỉ thị số 07 - CT/TW ngày

23/11/1996 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chưa có điều kiện phân tích tác dụng của Chỉ thị số 11-

CT/TU sau này

Cuốn sách “Xây dựng tổ chức đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn hiện nay (qua khảo sát ở miền Đông Nam bộ)” (sách chuyên khảo)

do PGS.TS Huỳnh Thị Gấm chủ biên (2013), NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Công trình đã đúc kết thực tiễn về công tác xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây trên địa bàn các tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ; và đưa ra nhiều giải pháp

để nâng cao năng lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nhất là khi các địa phương đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, tốc độ ra đời của các doanh nghiệp này ngày càng nhanh với sự tập trung rất đông về số lượng lao động, công nhân thì việc xây dựng và phát triển Đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trở thành nhiệm vụ cấp bách của công tác xây dựng Đảng Đối tượng nghiên cứu trong ấn phẩm này và trong đề tài luận văn tuy có những điểm giống nhau (như đều nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước), nhưng nhìn chung thì doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn là 02 loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước

có nhiều điểm khác nhau về bản chất (như: vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư nước ngoài; chủ doanh nghiệp là người Việt Nam, chủ doanh nghiệp là người nước ngoài hoặc thành phần chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp có sự tham gia của người nước ngoài; văn hóa sản xuất kinh doanh và quản lý theo phong cách của doanh nghiệp Việt Nam, văn hóa sản xuất kinh doanh và quản lý theo phong cách của doanh nghiệp nước ngoài, thường là theo phong cách quốc gia của chủ doanh nghiệp )

Trang 15

Đề tài khoa học xã hội cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005: “Đảng viên và phát triển đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (mã

số KX.03.04) do GS.TS Mạch Quang Thắng chủ nhiệm Công trình khoa học này là tập hợp các bài viết của các nhà khoa học tham gia nghiên cứu trình bày những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề đảng viên và phát triển đảng viên và một số vấn đề cơ bản, cấp thiết về đảng viên và phát triển đảng viên nhằm đánh giá đúng tình hình đảng viên và công tác phát triển đảng viên trong nhiệm kỳ Đại hội VIII (1996-2001), và từ Đại hội IX đến năm 2005 Làm rõ phương hướng phấn đấu của người đảng viên theo những tiêu chuẩn được xác định trong điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam mà Đại hội IX của Đảng thông qua và những yêu cầu có tính đặc thù do quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Bên cạnh đó đề tài cũng đề xuất những đổi mới cần thiết trong công tác xây dựng đảng viên và phát triển đảng viên phù hợp với tình hình mới, đặc biệt trong thập niên đầu thế kỷ XXI

Trong bài viết “Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên” của

Phùng Trần Hương (2009), đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng ngày 31/1/2009, tác giả cho rằng: Việc chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và thường xuyên lựa chọn , kết nạp những người ưu tú , đủ tiêu chuẩn vào Đảng là chủ trương nhất quán luôn được Đảng ta và Bác Hồ coi trọng Chủ trương đó được cụ thể hóa thành các yêu cầu, nhiệm vụ phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng thời kỳ cách mạng Công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các tổ chức Đảng, của từng đảng viên Từ thực tiễn công tác phát triển đảng viên cho thấy, khi lựa chọn người kết nạp vào Đảng cần chú ý ba vấn đề cơ bản là: động cơ vào Đảng, khả năng lãnh đạo quần chúng, lý lịch bản thân rõ ràng Qua đó, tác giả đã đi đến kết luận: Công tác phát triển đảng viên phải thực hiện đúng phương châm không vì thành tích chạy theo số lượng mà phải coi trọng tiêu chuẩn chất lượng đảng viên

Trong bài viết “Công tác phát triển đảng viên ở Đảng bộ Bắc Ninh những năm gần đây” của Đinh Ngọc Giang (2004), đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số

2 năm 2004, tác giả đã chỉ rõ về tình hình công tác phát triển đảng viên mới tại

Trang 16

Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác phát triển đảng viên Từ đó, rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình phát triển đảng viên mới

Bài viết “Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và phát triển đảng viên trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay” của TS Ngô Kim Ngân (2001),

đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 3 năm 2001 Tác giả đã đề cập tới thực trạng và giải pháp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trên cơ sở đó, trình bày khái quát những vấn đề về phát triển Đảng và xây dựng tổ chức Đảng tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm góp phần thúc đẩy khu vực này phát triển đúng hướng trong khuôn khổ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta

* Luận án, luận văn, bài báo khoa học

Luận văn Thạc sĩ “Phát triển đảng viên trong sinh viên các Trường Đại học Công an nhân dân ở phía Bắc trong giai đoạn hiện nay” của Vũ Thế Kỳ mã số

5.03.14, chuyên ngành Xây dựng Đảng, thực hiện năm 2001, tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Nội dung của luận văn đã làm rõ vai trò, đặc điểm của sinh viên các Trường Đại học Công an ở phía Bắc, phân tích ý nghĩa và những yêu cầu của công tác phát triển đảng viên trong sinh viên các Trường Đại học Công

an, khảo sát được thực trạng công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở các

Trường Đại học Công an nhân dân ở phía Bắc từ năm 1995 đến năm 2001, chỉ rõ

ưu, khuyết điểm và nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp khả thi đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong sinh viên

Luận án Tiến sĩ “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở nông thôn Đồng bằng Sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

của Cao Thị Thanh Vân (2002) Đề tài đã trình bày có hệ thống, khái quát những quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen, Lênin về vị trí, vai trò của đảng viên, tư tưởng

Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ đảng viên, đặc điểm của nông thôn đồng bằng sông Hồng, thực trạng chất lượng đội ngũ đảng viên ở vùng này, ưu, khuyết điểm và nguyên nhân của thực

Trang 17

trạng của công tác phát triển đảng viên ở đồng bằng sông Hồng Trên cơ sở phân tích thực trạng tác giả rút ra các bài học kinh nghiệm, đề xuất mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Các giải pháp được tác giả đề xuất: coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực cho đội ngũ đảng viên, tăng cường công tác phát triển đảng viên trên cơ sở cụ thể hoá tiêu chuẩn đảng viên, trẻ hoá đội ngũ đảng viên và bảo đảm chất lượng ngay từ khâu kết nạp Trong đó, nhiều vấn đề về phần kết nạp đảng viên có giá trị tham khảo đối với luận văn

Luận án tiến sĩ “Xây dựng đội ngũ đảng viên ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay” của Bùi Văn Khoa (2005) Luận án đã làm rõ

các phạm trù, cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến việc xây dựng đội ngũ đảng viên ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long như: quan niệm về đội ngũ đảng viên ở nông thôn, vị trí, vai trò, đặc điểm của đội ngũ đảng viên ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long Phân tích thực trạng đội ngũ đảng viên ở vùng này, chỉ ra ưu khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp xây dựng đội ngũ đảng viên đến năm 2010 Những vấn đề mà tác giả nêu trong luận văn về đồng bằng Tây Nam bộ có giá trị tham khảo khi thực hiện đề tài về công tác phát triển Đảng ở 1 tỉnh thuộc khu vực Đông Nam bộ

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử “Quá trình hình thành và phát triển tổ chức cơ sở đảng trong khối doanh nghiệp tư nhân tại TP Hồ Chí Minh (thời kỳ 1986-2006)” của Nguyễn Thị Hương mã số 60.22.56, chuyên ngành Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam, thực hiện năm 2010, tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM Luận văn này tập trung nghiên cứu, làm rõ quá trình hình thành

và phát triển của các tổ chức cơ sở đảng trong khối doanh nghiệp tư nhân từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới đến năm 2006, qua đó tác giả Nguyễn Thị Hương đã rút ra

Trang 18

những bài học kinh nghiệm và đề xuất Đảng bộ TP.HCM những giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác này trong thời gian tới

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử “Đảng bộ Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác phát triển Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân giai đoạn 1996-2014” của Trần Quang Hải mã số 60.22.56, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng

sản Việt Nam, thực hiện năm 2015, tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM Nội dung của đề tài đã trình bày những quan điểm, chủ trương phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và thực trạng công tác phát triển Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân ở Quận 3 trước năm 1996

và quá trình lãnh đạo thực hiện công tác phát triển Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân của Đảng bộ Quận 3 từ năm 1996 đến năm 2014 Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa

ra những nhận xét chung và một số khuyến nghị nhằm thực hiện tốt công tác phát triển Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân ở Quận 3 thời gian tới

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử “Đảng bộ Khối doanh nghiệp Công nghiệp Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện công tác phát

triển đảng viên từ năm 2000 đến năm 2014” của Lê Đức Chín mã số 60.22.56,

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện năm 2016, tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM Nội dung của đề tài đã trình bày những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển đảng viên và thực trạng công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ Khối doanh nghiệp Công nghiệp Trung ương tại thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2000 Bên cạnh đó đề tài đã nêu rõ quá trình lãnh đạo thực hiện công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ Khối doanh nghiệp Công nghiệp Trung ương tại TP HCM từ năm 2000 đến năm 2014 Từ đó, đề tài đã đưa ra nhận xét chung và một số kiến nghị mang tính giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ Khối doanh nghiệp Công nghiệp Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử “Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Củ Chi đối với công tác phát triển Đảng giai đoạn 2000 - 2010”của Phạm Thị Huế mã số

Trang 19

60.22.56, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện năm 2017, tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM Nội dung của đề tài đã

đề cập tới những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trong công tác phát triển Đảng và tình hình phát triển Đảng của Đảng bộ huyện Củ Chi trước năm 2000; quá trình lãnh đạo công tác phát triển Đảng của Đảng bộ huyện Củ Chi giai đoạn 2000 -

2010 Từ đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá về quá trình lãnh đạo công tác công tác phát triển Đảng của Đảng bộ huyện Củ Chi trong thời gian tới

Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu về công tác phát triển Đảng ở địa phương

Về phía tỉnh Đồng Nai, Đảng bộ và chính quyền các cấp cũng có những nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, công văn, báo cáo đề cập đến vấn đề phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài Nội dung của các quan điểm, chủ trương này chủ yếu nằm trong các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V, VI, VII, VIII, IX; một số văn bản chỉ đạo cụ thể như: Chỉ thị số 07-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa VI), Kế hoạch số 12-KH/TU thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về “tăng cường công tác xây dựng Đảng

và các đoàn thể nhân dân trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”; Kế hoạch số 138-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) “về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp”; Công văn số 3957-CV/BTCTƯ ngày 04/12/2013 của Ban Tổ chức Tỉnh ủy về việc hướng dẫn báo cáo khảo sát, xây dựng

mô hình tổ chức đảng ở các cụm công nghiệp, khu công nghiệp

Về phía huyện Trảng Bom, Đảng bộ và chính quyền các cấp cũng có những nghị quyết, chỉ thị, công văn đề cập đến vấn đề phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài Có thể kể ra như: các Nghị quyết đảng

bộ huyện lần thứ I, II; và một số văn bản chỉ đạo cụ thể như: Nghị quyết số NQ/HU của Ban chấp hành Đảng bộ huyện “Về một số nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế- xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2006-

Trang 20

10-2010”; Công văn số 1317-CV/HU của Huyện ủy về việc tiếp tục thực hiện chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ chính trị (khóa VIII)

Trong bài Tham luận “Về phát triển tổ chức Đảng và tổ chức công đoàn ở doanh nghiệp trong các khu công nghiệp huyện Trảng Bom” của đồng chí Nguyễn

Thị Nga - Phó Bí thư trường trực huyện Trảng Bom đã trình bày: “Mặc dù số lượng

tổ chức Đảng còn chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn so với tổng số doanh nghiệp trong các khu công nghiệp (chỉ chiếm tỷ lệ 9,14%), với số lượng đảng viên chỉ chiếm 0.26% tổng số lao động trong các khu công nghiệp nhưng đa số các tổ chức đảng đã phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, cùng với các tổ chức công đoàn làm tốt công tác tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những kiến nghị của người lao động để tham gia với chủ doanh nghiệp giải quyết, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, hài hòa với ích của doanh nghiệp, hạn chế những vụ tranh chấp, đình công xảy ra trong doanh nghiệp”

Ngoài ra, tác giả còn tham khảo một số tin, bài liên quan đến công tác xây dựng Đảng và kết nạp đảng viên trên các báo và tạp chí chính thống như: Tạp chí Tuyên giáo, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Xây dựng Đảng, Tạp chí Dân vận, báo Nhân dân, báo Sài Gòn giải phóng, các website của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, Đảng bộ huyện Trảng Bom, Phòng Thống kê huyện Trảng Bom, các báo tạp chí điện tử là những nguồn thông tin, tư liệu tham khảo hữu ích trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn

Nhìn chung tất cả các công trình khoa học, tác phẩm nghiên cứu của các tác giả trên đây đã giúp cho tác giả hiểu sâu sắc hơn về vấn đề xây dựng Đảng và công tác phát triển đảng viên , nhất là trong các các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thời kỳ đổi mới mở cửa ở nước ta.Tuy nhiên các công trình nghiên cứu

về vấn đề phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì đến nay rất ít Có lẽ đây là loại đề tài mới và khó Kế thừa thành quả, kinh nghiệm của các công trình nghiên cứu đã có và tiếp tục phát triển theo hướng nghiên cứu

Trang 21

của các tác giả đi trước, tác giả đã chọn đề tài này để khảo sát, tổng kết, đánh giá công tác phát triển đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trảng Bom năm 2005 đến năm 2015, chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp để góp phần đẩy mạnh công tác này trong thời gian tới ở huyện Trảng Bom nói riêng và ở các khối doanh nghiệp đóng ở nhiều địa bàn khác trong cả nước nói chung

Về mặt tình cảm, là một đảng viên là công nhân trực tiếp làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có chút ít kiến thức về Lịch sử Đảng, tác giả muốn đóng góp cho khoa học bằng một viêc làm cụ thể ,nghiên cứu về nơi mình

đã và đang làm việc.với ước mong vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường hơn, công tác phát triển đảng viên ở đây sẽ được chú trọng hơn; số lượng đảng viên ngày càng đông đảo hơn, năng suất và hiệu quả đạt được sẽ tốt đẹp hơn trong thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là đánh giá khái quát tình hình phát triển Đảng (với hai nội dung cụ thể là xây dựng mới tổ chức cơ sở đảng và kết nạp đảng viên mới) trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến năm 2015

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích của luận văn nêu trên, phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

Trang 22

- Thứ nhất, là trình bày các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển đảng viên; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển đảng viên của Đảng, nhất là từ đổi mới đến nay; nêu rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng bộ huyện Trảng Bom với vấn đề phát triển đảng viên, nhất là từ năm 2005 đến năm 2015

- Thứ hai, là tái dựng quá trình lãnh đạo thực hiện công tác phát triển đảng

viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Đảng bộ huyện Trảng Bom giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015

- Thứ ba, đánh giá công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài từ năm 2005 đến năm 2015; chỉ ra những kết quả đạt được và hạn chế trong công tác phát triển đảng viên của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Thứ tư, trên cơ sở những ưu điểm và hạn chế về công tác phát triển đảng

viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 mà Đảng bộ huyện Trảng Bom đã đạt được để đúc kết lại thành những bài học kinh nghiệm; từ đó đưa ra một số đề xuất và kiến nghị để việc lãnh đạo thực hiện công tác này trong những giai đoạn tới được tốt hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thực hiện lãnh đạo công tác phát triển đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn huyện Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn

huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Về thời gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2005 đến

năm 2015 Trong một chừng mực nhất định, đề tài cũng đề cập tới thời trước năm

Trang 23

2005 nhằm nghiên cứu những nội dung mang tính tiền đề, làm nền tảng cho nội dung chính trong giai đoạn từ 2005 đến năm 2015

Về nội dung: Sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác phát triển đảng viên

trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn huyện trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đề tài sử dụng 2 phương pháp chính đó là: phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như: so sánh, thống kê phân tích, chứng minh, tổng hợp… để góp phần giải quyết một cách hiệu quả những nội dung mà đề tài đặt ra

5.2 Nguồn tư liệu

Để hoàn thành đề tài này, tác giả dựa trên nguồn tư liệu sau:

Các văn kiện của Đảng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến lần thứ XII

Các văn kiện Đại Hội của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2000-2015)

Các văn kiện của Đại Hội Đảng bộ huyện Trảng Bom (2005-2015); Các Hội nghị chuyên đề; Các chương trình hành động; Các báo cáo tổng kết của Huyện Ủy,

Ủy ban nhân dân Huyện Trảng Bom liên quan đến công tác phát triển Đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của huyện

Luận văn cũng đã kế thừa kết quả nghiên cứu của một số tác phẩm có độ tin cậy liên quan đến xây dựng tổ chức đảng ở các địa phương khác để làm cơ sở và tiền đề; các bài báo; các đề tài nghiên cứu khoa học đã được đăng trên các báo, tạp chí, báo Đảng; các tập san của địa phương và các website liên quan đến chính sách

phát triển kinh tế của Trảng Bom cũng như của tỉnh Đồng Nai

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn đã phục dựng lại một cách khách quan bức tranh về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trảng Bom thực hiện công tác phát triển đảng viên ở doanh

Trang 24

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn huyện Trảng Bom giai đoạn

2005-2015 Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tăng cường lãnh đạo thực hiện phát triển đảng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở huyện Trảng Bom trong giai đoạn tiếp theo

- Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài liên quan đến vấn đề củng cố, xây dựng , phát triển Đảng trên địa bàn huyện Trảng Bom,tỉnh Đồng Nai

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học:Luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn lý luận về công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thông qua sự khảo sát , nghiên cứu từ một địa bàn cụ thể là huyện Trảng Bom của tỉnh Đồng Nai

- Ý nghĩa thực tiễn : đề tài nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trảng Bom trong quá trình lãnh đạo thực hiện phát triển Đảng trong doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2005 - 2015 Kết quả nghiên cứu của luận văn này có thể sẽ là một trong những kênh thông tin bổ ích, góp phần vào việc hoạch định các chủ trương , chính sách để đẩy mạnh hơn nữa công tác phát triển Đảng ở địa phương cho giai đoạn sau

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 07 tiết

Chương 1: Cơ sở khoa học của công tác phát triển đảng viên và thực trạng công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của huyện Trảng Bom trước năm 2005

Chương 2: Quá trình lãnh đạo thực hiện công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của đảng bộ huyện Trảng Bom giai đoạn

2005 – 2015

Chương 3: Những ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo thực hiện công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của đảng bộ huyện trảng bom giai đoạn 2005-2015

Trang 25

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA HUYỆN TRẢNG BOM TRƯỚC NĂM

2005 1.1 Cơ sở lý luận về công tác phát triển đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam – một đảng cách mệnh chân chính, là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam Ngay từ lúc vừa ra đời, Đảng đã tích cực lãnh đạo toàn thể dân tộc đứng lên đấu tranh đánh đuổi thực dân – đế quốc và lật đổ chế độ phong kiến tay sai, giành lại độc lập, tự do về cho dân tộc; để có được một chính đảng thật sự ưu tú và cách mệnh như vậy không thể không nói đến việc trong giai đoạn đấu tranh đầy ác liệt này, đảng ta đã làm tốt công tác phát triển đảng với những tổ chức cơ sở đảng vững mạnh và đã quy tụ vào tổ chức mình những đảng viên bất khuất, kiên trung, có bản lĩnh chính trị vững vàng…

Trong toàn bộ lý luận về công tác xây dựng Đảng thì nội dung phát triển Đảng giữ vai trò vô cùng quan trọng, ở vị trí then chốt, gần như quyết định sự thành bại của cách mạng Phát triển Đảng bao gồm hai vấn đề có mối quan hệ biện chứng với nhau; đó là xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng viên

Từ trong lý luận và thực tiễn cách mạng đã chứng minh, dù ở giai đoạn nào trên con đường phát triển cách mạng do Đảng lãnh đạo, các TCCSĐ luôn có vị trí, tầm quan trọng là gốc rễ, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ

sở, đảm bảo cho đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đồng thời là cấp tổ chức trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng Do vậy, có thể khẳng định TCCSĐ là nền tảng đóng vai trò quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và việc đẩy mạnh phát triển đảng viên là việc làm cần thiết

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác phát triển Đảng

*Về xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng

Trang 26

Học thuyết về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân đã khẳng định các tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản dù quy mô như thế nào, thuộc loại hình nào đều là một khâu quan trọng trong hệ thống tổ chức và hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng

Ngay từ những ngày đầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vấn

đề về tổ chức cơ sở đảng đã được C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh, mặc dù hai ông chưa từng dùng thuật ngữ tổ chức cơ sở đảng, song những tư tưởng và quan điểm của hai ông về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của tổ chức cơ sở đảng đã được nêu ra Trong Điều lệ của Liên đoàn của những người Cộng sản xác định: “Về

cơ cấu liên đoàn gồm những chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban chấp hành Trung ương và Đại hội” [08, tr.733] Từ những kinh nghiệm của cuộc cách mạng 1848-

1849, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra giai cấp công nhân phải xây dựng một chính đảng có tổ chức thống nhất, độc lập và “phải biến mỗi chi bộ của mình thành trung tâm và hạt nhân của các hội liên hiệp công nhân”

Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ở lĩnh vực tổ chức, để tiến hành xây dựng chính đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân, V.I.Lênin cho rằng các nhà máy công xưởng là nơi tập trung giai cấp công nhân và là thành trì của cách mạng: “mỗi nhà máy phải là một thành trì của chúng ta”; do vậy, Đảng phải thiết lập cơ sở của mình và ở đây nhóm những nhà cách mạng công nhân nhất định phải là hạt nhân, là người lãnh đạo Theo V.I.Lênin, các chi bộ của Đảng phải là những “pháo đài” và có trách nhiệm “phải đem hết sức lực, đem hết chú ý để tạo ra,

để phát huy một tính chủ động lớn hơn ở cơ sở”

Với sự phát triển của cách mạng và đặc biệt sau khi Đảng Cộng sản Nga trở thành đảng cầm quyền, có vai trò là lãnh tụ chính trị của toàn xã hội, các tổ chức cơ

sở của Đảng được thành lập không chỉ trong các nhà máy, công xưởng mà còn ở tất

cả các đơn vị cơ sở trong hệ thống tổ chức xã hội Thời kỳ sau Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi (1917), V.I.Lênin đã nêu vấn đề phải đa dạng hóa hình thức tổ chức cơ sở đảng, phải thành lập các chi bộ đảng ở tất cả các tổ chức, các xí nghiệp, các làng, các đơn vị hồng quân và các cơ quan Người cho rằng các chi bộ lúc ấy là

Trang 27

tổ chức cơ sở đảng và coi đây là nền tảng của Đảng, nơi Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng lao động, là hạt nhân chính trị của các tập thể lao động, có trách nhiệm giáo dục, dẫn dắt, lôi cuốn quần chúng công nhân vào việc giải quyết một cách tự giác các vấn đề của Đảng Việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng là một công việc thường xuyên, liên tục và phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định V.I.Lênin khẳng định: “Vai trò của chi bộ đảng là hết sức to lớn”, trong tác phẩm Đi vào con đường thẳng, V.I.Lênin đã nêu: “Những chi bộ ở các địa phương đó là cơ sở

mà trên đó chúng ta xây dựng và xây dựng được hạt nhân vững chắc không gì lay chuyển nổi của phong trào công nhân cách mạng và dân chủ - xã hội” và “những chi bộ ấy liên kết chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải thông qua các công tác muôn hình muôn vẻ mà rèn luyện bản thân, rèn luyện Đảng, giai cấp, quần chúng một các có

hệ thống”

*Về công tác phát triển đảng viên

Vậy công tác phát triển đảng là gì? Và vì sao cần phải đẩy mạnh tăng cường công tác này trong giai đoạn hiện nay?

Về thực chất, có thể hiểu quá trình tiến hành công tác phát triển đảng viên là quá trình hình thành và phát triển những phẩm chất nhân cách cộng sản trong bộ phận quần chúng cách mạng tiên tiến nhất; là quá trình đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn lực con người của Đảng Công tác phát triển đảng viên gắn liền với yêu cầu giữ vững và tăng cường bản chất GCCN của Đảng, gắn chặt với công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng và phong trào cách mạng của quần chúng

Có thể thấy công tác phát triển đảng viên là toàn bộ các hoạt động tạo nguồn, lựa chọn, bồi dưỡng, kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng, nhằm tăng thêm lực lượng mới cho Đảng, bảo đảm sự kế thừa và phát triển của Đảng, góp phần xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu của cách mạng

Đây là nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác xây dựng tổ chức Đảng nói

Trang 28

riêng, xây dựng Đảng nói chung, nhằm củng cố, xây dựng, nâng cao sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, trẻ hóa đội ngũ cán bộ, tạo nguồn thừa kế cho các tổ chức cơ sở Đảng

Công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên của tổ chức đảng các cấp, đồng thời, trong điều kiện Đảng cầm quyền, đó còn là trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị

Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng chân chính, được sáng lập bởi C Mác, Ph Ăngghen và được V I Lênin kế thừa phát triển, trong số các vấn đề của học thuyết cách mạng ấy thì vấn đề về xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ đảng viên luôn có một vai trò vô cùng quan trọng đối với cách mạng nước ta, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế như hiện nay…

Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu về xây dựng Đảng được C.Mác

và Ph.Ăngghen đặc biệt quan tâm là xây dựng đội ngũ đảng viên, những phần tử tạo thành Đảng, tạo nên bản chất, chất lượng của Đảng, bảo đảm tính vững chắc, tính

kiên định, tính trong sạch của Đảng Trong tác phẩm “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, và tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định những nội dung (đặc trưng) của tư cách

đảng viên cộng sản để phân biệt đảng viên cộng sản với quần chúng, nhất là với những quần chúng tích cực ngoài Đảng Những đặc trưng ấy, ổn định trong thời gian dài trong quá trình đấu tranh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột và xây dựng xã hội mới, XHCN

Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã chỉ ra những đặc trưng của người đảng viên cộng sản ổn định trong giai đoạn Đảng lãnh đạo giành chính quyền và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội để phân biệt đảng viên với quần chúng, nhất là phân biệt với quần chúng tích cực ngoài Đảng Những đặc

Trang 29

trưng ấy được Người gọi là “tư cách đảng viên cộng sản”, hay còn gọi là “danh hiệu đảng viên cộng sản”

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về “tư cách đảng viên cộng sản” khi

Đảng Cộng sản đầu tiên trên thế giới chuẩn bị ra đời, câu hỏi rất quan trọng đặt ra cần trả lời là, ai có thể là đảng viên của Đảng Cộng sản? Để trả lời câu hỏi này,

trước tiên trong Điều 2, “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Mục đích của Liên đoàn là lật đổ giai cấp tư sản, lập nền thống trị của giai cấp vô sản, tiêu diệt xã hội tư sản cũ dựa trên sự đối kháng giai cấp và xây dựng xã hội mới không có giai cấp và không có chế độ tư hữu” [30; Tr 493] Các ông cũng xác định tiêu chuẩn cụ thể của đảng viên cộng sản, đó là: “a) lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích ấy; b) nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành trong công tác tuyên truyền; c) thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; d) không tham gia vào mọi tổ chức - tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc - chống cộng sản, và có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan lãnh đạo hữu quan về việc mình tham gia vào một tổ chức nào đó; e) phục tùng các nghị quyết của Liên đoàn; f) giữ bí mật mọi công việc của Liên đoàn; g) được một chi bộ nhất trí kết nạp Ai không còn đủ những điều kiện ấy sẽ bị khai trừ” [30; Tr 493] Trong những tiêu chuẩn nêu trên có

những tiêu chuẩn ổn định trong thời gian dài, đó là tư cách đảng viên

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác, Ph.Ăngghen đã chỉ ra những

đặc trưng (nội dung) cơ bản của tư cách đảng viên “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: Một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; Hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở các nước, là bộ phận tiên tiến nhất cổ vũ tất cả những bộ phận khác; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” [30; Tr 557]

Trang 30

Trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, C.Mác đã chỉ ra những đặc trưng cơ

bản nhất, phong phú, sinh động của tư cách đảng viên cộng sản C.Mác đã trích lại câu của một nhà văn Pháp khi nói về người đảng viên cộng sản - các chiến sĩ Công

xã Pari: “Những ủy viên của Ủy ban trung ương cũng như phần lớn ủy viên Công

xã, đều là những đầu óc tích cực nhất, sáng suốt nhất, và cương quyết nhất của Hội Liên hiệp công nhân quốc tế Đó là những nhân vật vô cùng trung thực, chân thực, thông minh, tận tụy, trong sạch và cuồng tín hiểu theo nghĩa tốt nhất của chữ đó”

[31; Tr.125 - 126]

Kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V I Lênin nhiều lần

bàn về tư cách đảng viên Trong tác phẩm “Một bước tiến hai bước lùi”, trả lời câu hỏi ai có thể là đảng viên của Đảng Cộng sản, V I Lênin viết: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh của Đảng, ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất và tự mình tham gia một trong những tổ chức của Đảng” [133; Tr.268] Những

đặc trưng này có vai trò đặc biệt quan trọng để hình thành một đảng tiên phong, có

kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh, đề cao tính tổ chức, kỷ luật, sự gắn bó chặt chẽ giữa đảng viên với tổ chức đảng

Bàn về tư cách đảng viên trong điều kiện đảng cầm quyền, V I Lênin nhiều

lần chỉ rõ: “Chỉ có những người chân thành đi theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ những

ai thành tâm, trung thành với nhà nước công nhân, chỉ có những người lao động trung thực, chỉ có những đại biểu thật sự của quần chúng bị áp bức dưới thời chủ nghĩa tư bản, mới vào đảng được” [134; 257] “Chỉ có những người thực sự trung thành với sự nghiệp giải phóng của nhân dân lao động, mới có thể vào đảng được”

[135; Tr 326]

Từ luận điểm của V I Lênin, có thể khái quát tư cách đảng viên, gồm những nội dung: đảng viên cộng sản phải là người giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa;

có trình độ văn hóa và năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; có ý thức tổ chức

kỷ luật cao; gắn bó mật thiết với quần chúng, giáo dục, tổ chức quần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, là tấm gương mẫu mực cho quần chúng

Trang 31

noi theo; đảng viên cộng sản phải tiên tiến hơn quần chúng và khác về chất so với đảng viên của các đảng khác, các phần tử cơ hội

Từ phân tích trên, có thể xác định giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin

về xây dựng đội ngũ đảng viên là tư cách đảng viên

Công tác đảng viên là toàn bộ hoạt động của Đảng với sự tham gia của các tổ chức, lực lượng để đội ngũ đảng viên có chất lượng tốt, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm

vụ của từng giai đoạn cách mạng,tức là bảo đảm và nâng cao tư cách đảng viên V

I Lênin chỉ rõ:“Nhiệm vụ của chúng ta là bảo vệ tính vững chắc, tính kiên định, tính trong sạch của Đảng Chúng ta phải cố gắng làm cho danh hiệu và ý nghĩa của đảng viên ngày càng cao hơn lên mãi” [132; Tr.354]

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phát triển Đảng

*Về xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh - người trực tiếp tổ chức và lãnh đạo Đảng ta, đã vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Trong điều kiện Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng như trở thành đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam - thống nhất đất nước; Người nhấn mạnh, các chi bộ, đảng bộ cơ sở dù được thành lập ở

loại hình đơn vị cơ sở nào trong xã hội đều có vai trò là “nền móng” của Đảng, là

hạt nhân chính trị ở cơ sở, là sợi dây chuyền của Đảng liên hệ với quần chúng

Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân, mà tổ chức cơ sở đảng lại chính là nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng; tuyên truyền, giáo dục để quần chúng hiểu và thực hiện thông qua các hoạt động hàng ngày; định hướng suy nghĩ và hành động của quần chúng theo quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Mặt khác, tổ chức cơ sở đảng cũng là nơi kiểm nghiệm, khẳng định trên thực tế sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phát hiện những nhân tố mới, đóng góp cho Đảng những sáng kiến, ý tưởng, những kinh nghiệm quý để Đảng bổ sung,

Trang 32

hoàn chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp nguyện vọng chính đáng của đông đảo nhân dân và yêu cầu phát triển của đất nước

Vì thế, có thể thấy rõ rằng chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng là một nhân

tố quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ sở Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt” và “Đảng mạnh là do chi bộ tốt”

Từ luận điểm này có thể khẳng định, xây dựng Đảng là phải xây dựng các chi bộ vững mạnh, là phải giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất

và năng lực lãnh đạo quần chúng Theo Người, chi bộ chính là “gốc rễ” của Đảng ở trong quần chúng Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng được thực hiện tốt, mọi công việc đều tiến triển không ngừng và đạt hiệu quả cao Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc gặp khó khăn, ách tắc, không được thực hiện đầy đủ, không có hiệu quả, thậm chí còn xảy ra nhiều hiện tượng tiêu cực, lãng phí Chi bộ đảng không chỉ đóng vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, là nền tảng, mà còn là cầu nối giữa tổ chức đảng với quần chúng Đảng phải liên hệ với quần chúng, đi sâu, đi sát quần chúng trước hết bằng chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, thể hiện được

ý chí, nguyện vọng, đáp ứng lợi ích thiết thân của quần chúng và thông qua các tổ chức cơ sở đảng, các chi bộ đến với quần chúng Ngược lại, quần chúng cũng thông qua tổ chức cơ sở đảng và chi bộ để liên hệ với Đảng

Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của tổ chức cơ sở đảng và chi bộ; ở mọi thời kỳ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm xây dựng các tổ chức cơ sở đảng và các chi bộ của Đảng Đảng ta

và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi các tổ chức cơ sở đảng, các chi bộ là những đơn

vị chiến đấu cơ bản, những tế bào của Đảng, là nền tảng trên đó Đảng được xây dựng vững chắc và thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với cách mạng Việt Nam

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng và tiến hành công tác xây dựng Đảng, Đảng ta luôn luôn coi xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng hàng đầu Đảng đã đề ra các nghị quyết, chủ trương đúng đắn về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và tổ chức thực hiện

Trang 33

đạt được kết quả to lớn, góp phần rất quan trọng làm cho Đảng ngày càng có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đưa cách mạng nước ta vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

*Về công tác phát triển đảng viên

Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách tài tình và khéo léo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác phát triển vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam…

Người đã khẳng định rằng: “Đảng cũng như trong xã hội” Đảng là một cơ

thể sống, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan, có hấp thụ, có đào thải Đảng phải có một số lượng đảng viên nhất định mới hình thành nên tổ chức đảng

Sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng là sự nghiệp vĩ đại lâu dài phải có nhiều thế hệ chiến sĩ cộng sản tham gia gánh vác Đảng phải liên hệ mật thiết với quần chúng, phải không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu tương ứng với đòi hỏi khách quan của tình hình nhiệm vụ cách mạng Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu chỉ có thể có trên cơ sở số lượng, chất lượng đội ngũ đảng viên tương ứng Do đó, Đảng phải thường xuyên làm tốt công tác phát triển Đảng Chủ tịch Hồ

Chí Minh phân tích: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay” [74; Tr 467] Người vạch rõ tính tất yếu, yêu cầu, phương châm, phương pháp của công tác phát triển Đảng: “Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng” [74; Tr 20 - 21]

Để Đảng ta thực sự trở thành là một đảng cách mệnh thì vấn đề về chất lượng đảng viên luôn được Người coi trọng Người dạy rằng, Đảng mạnh không phải chỉ do số lượng đảng viên quyết định; số lượng đảng viên chỉ trở thành sức mạnh một khi nó đạt những yêu cầu về chất lượng Theo Người, nếu không quán triệt và thực hiện đúng đắn vấn đề có tính nguyên tắc đó, thì dù có kết nạp được nhiều đảng viên, dù số lượng đảng viên tăng, vẫn không làm cho tổ chức đảng mạnh lên mà trái lại có khi còn làm cho tổ chức đảng trở nên lỏng lẻo, biến Đảng thành

Trang 34

câu lạc bộ, không làm tròn vai trò người lãnh đạo Do vậy, Người luôn nhắc nhở:

“Đảng không phải chỉ cần số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên” [76; Tr 222] Người đặc biệt nhấn mạnh khi tiến hành phát triển đảng “phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng”

[75; Tr 155]

Hiện nay, khi đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu rộng đã minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng đối với cách mạng nước ta, trong sự nghiệp của giai đoạn mới trách nhiệm lãnh đạo của Đảng sẽ lớn hơn và sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục là nhân tố quyết định tạo nên những thành tựu to lớn của nước ta Điều đó đòi hỏi Đảng hơn bao giờ hết phải tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng và khoa học, không ngừng củng cố sức mạnh chiến đấu, lãnh đạo có kết quả công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những tình huống mới hết sức phức tạp Yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới đặt ra cho công tác phát triển Đảng những yêu cầu mới

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề trọng yếu trong công tác phát triển Đảng là: Phải xác định và vận dụng đúng đắn tiêu chuẩn đảng viên, theo Điều lệ Đảng đã quy định Đây là vấn đề then chốt Tiêu chuẩn đảng viên là những chuẩn mực phản ảnh bản chất của người đảng viên, là căn cứ để phân biệt sự khác nhau giữa người đảng viên với quần chúng, là cơ sở để cho từng đảng viên tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, là căn cứ để thu nạp những quần chúng tốt vào Đảng, loại bỏ những đảng viên thoái hóa ra khỏi Đảng Tiêu chuẩn đảng viên trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng biểu hiện tuy có khác nhau, song bản chất của nó không hề thay đổi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những tiêu chuẩn cơ bản thể hiện bản chất đó:

“Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ cần thường xuyên ôn lại, tự liên hệ và giữ cho đúng tiêu chuẩn của người đảng viên là:

1- Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

Trang 35

2- Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm, kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài

3- Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng

4- Tuyệt đối chấp hành Nghị quyết và đường lối của Đảng

5- Liên hệ chặt chẽ với quần chúng

6- Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình” [74; Tr 69]

Khi vận dụng tiêu chuẩn đảng viên để xem xét, kết nạp quần chúng vào Đảng, Bác Hồ căn dặn các tổ chức đảng phải đặc biệt quan tâm đến sự giác ngộ, lòng trung thành, thái độ trách nhiệm với Đảng, với nhân dân của người xin vào

Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Gọi là đảng viên thì phải nhận rõ, phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì?” [76; Tr 221]

Trong khi khẳng định phải coi trọng việc phát triển Đảng trong công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng không nên hẹp hòi với các thành phần lao động khác Theo Người, nếu những người xuất thân từ các thành phần lao động khác mà tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân tán thành Điều lệ Đảng muốn đứng trong hàng ngũ của Đảng để phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, xét thấy có điều kiện thì kết nạp vào Đảng Có như vậy mới thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực và sức chiến đấu mới cho Đảng, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Vì vậy, Đảng phải chú trọng phát triển toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, đặc biệt đẩy mạnh việc phát triển Đảng vào lực lượng thanh niên, phụ nữ, vào các vùng xung yếu, các cơ sở còn ít đảng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các tổ chức đảng phải có kế hoạch phát triển Đảng trong từng thời kỳ, bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Đảng; phải tiến hành thật tích cực, chủ động, không bị động, ỷ lại ngồi chờ người có đủ điều kiện rồi kết nạp theo lối ăn sẵn, phải gây dựng, đẩy mạnh phong trào cách mạng để trên cơ sở đó mà phát hiện, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện các phần tử tích cực, nâng cao dần trình độ của họ từ thấp đến cao, tạo

Trang 36

cho họ có đủ điều kiện trở thành người đảng viên Khi xét kết nạp người vào Đảng, phải xem xét toàn diện cả trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng, cả phẩm chất đạo đức và năng lực hành động thực tế, cả lý lịch gia đình, bản thân và uy tín trước quần chúng ; phải xem xét sự rèn luyện, tu dưỡng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ trong một quá trình liên tục với những điều kiện, hoàn cảnh và những thử thách khác nhau, phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng, hết sức cảnh giác, đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng Chống giản đơn, phiến diện, chạy theo chỉ tiêu số lượng, kết nạp ẩu, hoặc vin vào thận trọng sinh ra rụt rè, bảo thủ, hẹp hòi, cục bộ

Phát triển Đảng phải luôn luôn đi đôi với củng cố Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là hai vấn đề rất quan trọng của công tác xây dựng Đảng, có quan hệ hữu cơ với nhau Củng cố Đảng tốt là điều kiện để tiến hành phát triển Đảng có chất lượng Phát triển Đảng có chất lượng là cơ sở để củng cố Đảng tốt hơn

Để thực hiện tốt công tác phát triển Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các tổ chức đảng phải có kế hoạch, kiểm tra, đôn đốc và thường xuyên tổng kết đúc rút kinh nghiệm Đồng thời, phải gắn kết hoạt động phát triển Đảng với các hoạt động xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị trong sạch vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phó

1.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển Đảng

*Về xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng

là chủ nghĩa cộng sản Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan,

Trang 37

xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn quan tâm xây dựng các TCCSĐ Trong điều kiện hoạt động bí mật Đảng chú trọng phát triển các chi bộ cộng sản ở các khu công nghiệp đông công nhân, những vùng nông thôn, trong học viên, sinh viên và trí thức, nhằm tuyên truyền, cổ động quần chúng đấu tranh giành chính quyền Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong sự nghiệp xây dựng XHCN, Đảng ta luôn coi các TCCSĐ là tế bào của Đảng Chất lượng các TCCSĐ là yếu tố tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng trong quá trình cách mạng, là uy tín của Đảng trước quần chúng nhân dân Xuất phát từ tầm quan trọng của TCCSĐ, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng ta khẳng định:

“Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt đầu từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng Nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều TCCSĐ đã làm hạn chế những thành tựu của cách mạng”[48, tr.141] Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đánh giá: “Nhiều tổ chức cơ sở đảng đã giữ vững

và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên; thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của địa phương, cơ quan, đơn vị”[56, tr.89]

Lý luận và thực tiễn cách mạng đã chứng minh, dù ở giai đoạn nào trên con đường phát triển cách mạng do Đảng lãnh đạo, các TCCSĐ luôn có vị trí, tầm quan trọng là gốc rễ, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở, đảm bảo cho đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đồng thời là cấp tổ chức trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng Do vậy, có thể khẳng định TCCSĐ

là nền tảng đóng vai trò quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Do vậy, đẩy mạnh phát triển đảng viên ở tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là việc làm cần thiết

Trang 38

Tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước là tập hợp những đảng viên là cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, nhân viên, công nhân, lao động đang làm việc tại doanh nghiệp Trong đó, chất lượng của đội ngũ đảng viên là một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên chất lượng của tổ chức

cơ sở đảng trong doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng theo quy định của Đảng

*Về công tác phát triển đảng viên

Công tác phát triển đảng viên luôn là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập Việc kết nạp thêm những đảng viên mới nhằm tăng sức chiến đấu mới cho tổ chức đảng, làm trẻ đội ngũ của Đảng, làm cho tổ chức luôn luôn nhạy bén với cái mới, giữ vững mối liên hệ với quần chúng; làm cho

tổ chức cơ sở của Đảng bám rễ sâu trong quần chúng để tổ chức, vận động quần chúng thực hiện tốt mọi đường lối, chính sách của Đảng Do đó xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra, bổ sung, điều chỉnh

và không ngừng hoàn thiện quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề phát triển đảng viên

Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã đánh dấu công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng ta, trong đó có đổi mới tư duy về công tác phát triển đảng viên Đại hội đã

nhìn lại chặng đường năm năm lãnh đạo đất nước “Năm năm qua là chặng đường hoạt động phong phú và đầy thách thức của Đảng Từ những thành tựu cũng như sai lầm, Đảng ta đã trưởng thành một bước trong công tác lãnh đạo Đại hội này là một mốc đánh dấu bước trưởng thành ấy Song tất cả những gì đã làm được và chưa làm được chứng tỏ rằng sự lãnh đạo của Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, trong phong cách lãnh đạo và cả trong việc rèn luyện phẩm chất cán bộ, đảng viên” [64; Tr 97] Đồng thời Đại hội cũng đã chỉ ra những nguồn gốc sâu xa của những hạn chế nêu trên là ở chỗ “trong nhiều năm, chúng ta đã coi nhẹ và có khuyết điểm trong công tác xây dựng đảng”

[64; Tr 97] Trên cơ sở đó Đảng đã đề ra chủ trương phát triển Đảng trong thời kỳ

mới như sau: “Đổi mới công tác tổ chức và công tác cán bộ của Đảng, đổi mới

Trang 39

phong cách làm việc, giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; nâng cao chất lượng đảng viên; kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không còn đủ tư cách đảng viên; nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng” [44; Tr 19]

Kế thừa những quan điểm tiến bộ về phát triển đảng của Đại hội VI, Đại hội

VII (6/1991) của Đảng chủ trương: “việc kết nạp đảng viên mới nhất thiết phải đảm bảo chất lượng Chú trọng trẻ hóa đội ngũ và tăng cường thêm thành phần công nhân trong Đảng” [64; Tr 221] Đồng thời Đảng cũng nhấn mạnh “khai trừ khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa, biến chất về chính trị và đạo đức, gây chia rẽ, bè phái, tham ô, hối lộ, ức hiếp quần chúng Đưa ra khỏi Đảng bằng các hình thức thích hợp những đảng viên không tha thiết với Đảng, giảm sút ý chí chiến đấu, thực

sự không có tác dụng đối với công tác lãnh đạo của Đảng” [64; Tr 221]

Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) ngày 26/6/1992 nêu rõ: “Công tác phát triển Đảng phải làm tăng thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hóa đội ngũ, bảo đảm sự kế thừa và phát triển của Đảng Làm tốt công tác tạo nguồn để lựa chọn, bồi dưỡng, kết nạp những người ưu tú, có đủ tiêu chuẩn trong đoàn viên thanh niên, công nhân, nông dân, trí thức, chiến sĩ các lực lượng vũ trang ; chú ý các cơ sở trọng yếu, những nơi còn ít và chưa có đảng viên Coi trọng chất lượng, không chạy theo

số lượng, bảo đảm chặt chẽ về nguyên tắc, đồng thời không định kiến hẹp hòi” [ 67;

Tr 8]

Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khóa VII (1/1994), Đảng xác

định: “Làm tốt công tác phát triển Đảng, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, nhất là những cơ sở chưa có hoặc ít đảng viên” [48]

Đại hội VIII (6/1996), Đảng đã tổng kết 10 năm đổi mới, đề ra những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đánh giá những thành tựu đạt được về xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên, Đảng cũng chỉ ra những

khuyết điểm yếu kém như sau: “Công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, thay đổi, trẻ hóa cán bộ, chuẩn bị cán bộ còn lúng túng, chậm trễ Năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ Điều đáng lo ngại là không ít

Trang 40

cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, sức chiến đấu của một bộ phận tổ chức cơ sở đảng suy yếu” [64; Tr 331] Đặc biệt,

tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta đã rút ra sáu bài học kinh nghiệm, trong đó bài học

thứ sáu, Đảng nêu rõ: “Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng

là nhiệm vụ then chốt” [64; Tr 335]

Trong Đại hội lần này, Bộ Chính trị (khóa VIII) cũng đã ban hành Chỉ thị số

07-CT/TW ngày 23/11/1996 về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”

Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) năm

1999 Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công cuộc xây dựng Đảng hiện nay, Đảng nhấn mạnh: “Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố, chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ”

[55]

Ngày 21/1/2000 của Bộ Chính trị BAN CHẤP HÀNH Trung ương Đảng

(khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị 51-CT/TW, trong đó nêu rõ: “Kết nạp đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, có tính quy luật trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong quá trình phát triển, hoạt động lãnh đạo của Đảng, nhằm tăng thêm sức chiến đấu và bảo đảm sự kế thừa, phát triển của Đảng” [56]

Đại hội IX (4/2001) của Đảng họp trong bối cảnh thế kỷ XX đã kết thúc, vừa bước sang thế kỷ XXI với những khó khăn và thuận lợi mới Để xây dựng Đảng tương xứng với những nhiệm vụ mới đó, Đại hội cũng rất quan tâm đến công tác

phát triển xây dựng, củng cố Đảng, nhất là phát triển triển đảng viên mới “Phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn quy định, chú ý những người ưu tú trong công nhân, trí thức, lao động thuộc các thành phần kinh tế, đoàn viên Đoàn Thanh niên

Ngày đăng: 19/04/2021, 23:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Ngọc Am (2000), Góp phần nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên mới, Tạp chí Cộng sản, số 10/2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên mới, Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Vũ Ngọc Am
Năm: 2000
2. Nguyễn Chí Anh (2010), Đại hội Đảng và mấy vấn đề xây dựng Đảng, Sổ tay xây dựng Đảng, (9), Tr.43 - 48, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội Đảng và mấy vấn đề xây dựng Đảng
Tác giả: Nguyễn Chí Anh
Nhà XB: Sổ tay xây dựng Đảng
Năm: 2010
3. TS. Phạm Ngọc Anh, TS. Bùi Đình Phong (2001), Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Nxb.Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Tác giả: TS. Phạm Ngọc Anh, TS. Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb.Lao Động
Năm: 2001
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2004), Quy định số 99, 100 về chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN, doanh nghiệp có vốn Nhà nước liên doanh với nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 99, 100 về chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN, doanh nghiệp có vốn Nhà nước liên doanh với nước ngoài
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
5. Ban Dân vận Trung ương (2001), Đảng cộng sản Việt Nam với công tác vận động thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam với công tác vận động thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Ban tổ chức Trung ương (1978), Hướng dẫn công tác phát triển Đảng, Nxb. Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn công tác phát triển Đảng
Tác giả: Ban tổ chức Trung ương
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1978
7. Ban Tổ chức Trung ương (2004), Thông báo kết quả Hội nghị xây dựng tổ chức Đảng, Đoàn thể trong doanh nghiệp các KCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết quả Hội nghị xây dựng tổ chức Đảng, Đoàn thể trong doanh nghiệp các KCN
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
8. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2006), Chuyên đề nghiên cứu nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nghiên cứu nghị quyết Đại hội X của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
9. Lê Huy Bảo (2000), Điều lệ Đảng từ Đại hội đến Đại hội, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng từ Đại hội đến Đại hội
Tác giả: Lê Huy Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
10. Hoàng Chí Bảo (2003), Mối quan hệ giữa Đảng với công đoàn - đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công đoàn trong tình hình hiện nay, Lịch sử Đảng, (số 10), trang 3 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa Đảng với công đoàn - đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công đoàn trong tình hình hiện nay, Lịch sử Đảng
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2003
11. Lê Đức Bình (2003), Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt
Tác giả: Lê Đức Bình
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
24. Chi cục Thống kê huyện Trảng Bom (2015), Niên giám thống kê huyện Trảng Bom năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Trảng Bom năm 2014
Tác giả: Chi cục Thống kê huyện Trảng Bom
Năm: 2015
26. Lê Đức Chín (2016), Đảng bộ khối doanh nghiệp, công nghiệp Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện công tác phát triển Đảng viên từ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ khối doanh nghiệp, công nghiệp Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện công tác phát triển Đảng viên từ
Tác giả: Lê Đức Chín
Năm: 2016
27. Nguyễn Thị Lan Chiên (2013), Đảng bộ khối cơ sở bộ xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác phát triển Đảng giai đoạn 2000-2010, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử, mã số 60.22.56, Trường Đại học khoa học xã hội và nhăn văn – Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ khối cơ sở bộ xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác phát triển Đảng giai đoạn 2000-2010
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Chiên
Nhà XB: Trường Đại học khoa học xã hội và nhăn văn – Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2013
28. Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 23/11/1996 về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
29. PGS.TS Trần Nam Chuân (2010), Xây dựng, chỉnh đốn đảng của giai cấp công nhân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp Chí Lý luận chính trị, (6), tr.18-22, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, chỉnh đốn đảng của giai cấp công nhân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: PGS.TS Trần Nam Chuân
Nhà XB: Tạp Chí Lý luận chính trị
Năm: 2010
32. Nguyễn Hùng Cường (2017), Phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Tạp chí Cộng sản, đăng ngày 29/7/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Nguyễn Hùng Cường
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2017
33. Nguyễn Quang Dương (2012), Chủ động, sáng tạo trong phát triển đảng viên, Tạp chí xây dựng Đảng, số 11/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động, sáng tạo trong phát triển đảng viên
Tác giả: Nguyễn Quang Dương
Năm: 2012
34. Đoàn Nam Đàn (2004), Công tác vận động công nhân của Đảng trong giai đoạn hiện nay, Tập bài giảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác vận động công nhân của Đảng trong giai đoạn hiện nay, Tập bài giảng
Tác giả: Đoàn Nam Đàn
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w