Sách Nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở Nam Bộ thời kỳ 1865-1954 do Nguyễn Thị Thanh Xuân chủ biên 2018 dành dung lượng đáng kể cho giai đoạn 1945-1954, gợi ý một góc nhìn đối với
Trang 1NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THUÝ
VĂN XUÔI Ở ĐÔ THỊ NAM BỘ 1945-1954
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THUÝ
VĂN XUÔI Ở ĐÔ THỊ NAM BỘ 1945-1954
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 62223401
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Nguyễn Thị Thanh Xuân
1 PGS TS Nguyễn Văn Kha
2 PGS TS Bùi Thanh Truyền
3 TS Nguyễn Lâm Điền
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án tiến sĩ Văn xuôi ở đô thị Nam Bộ 1945-1954 từ góc nhìn phê bình xã hội học là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn văn công trình chưa
từng được công bố ở bất kỳ nơi nào khác Mọi nội dung tham khảo và trích dẫn trong luận án đều trung thực và được ghi chú xuất xứ rõ ràng
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận án
Trang 4QUY ƯỚC
1 Tài liệu tham khảo phục vụ luận án và những trích dẫn từ các tài liệu này
được trình bày theo Quy định về trích dẫn và chống đạo văn của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, ban hành kèm theo Quyết định số 02/QĐ-XHNV-TTPC-SHTT ngày 19/01/2018
2 Tài liệu tác phẩm văn xuôi là đối tượng nghiên cứu được thống kê trong
Phụ lục 1 của luận án Quy cách trình bày mỗi đơn vị tác phẩm và các trích dẫn lấy
từ những tác phẩm này cũng được trình bày theo Quy định đã nêu ở mục 1 Trong dòng thông tin của mỗi đơn vị tác phẩm, ngoài các yếu tố như đã nêu trong Quy định, tác giả luận án còn cung cấp thêm thông tin về tên thể loại được in trên bản in gốc của tác phẩm và tên nhóm sách (nếu có) Mỗi đơn vị tác phẩm được kèm theo phần tóm tắt ngắn gọn nội dung để người đọc dễ tham khảo và đối chiếu với phần phân tích và nghiên cứu trong chính văn của luận án
3 Tên riêng hoặc thuật ngữ khoa học có nguồn gốc nước ngoài (phương Tây) được trình bày theo (các) hình thức được chấp nhận trong tiếng Anh Trong
trường hợp bàn về một ấn phẩm cụ thể (bản tiếng nước ngoài hoặc bản dịch tiếng Việt), tên riêng được trình bày như cách nó được in trên ấn phẩm
Trang 5MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lý do nghiên cứu đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 26
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 28
6 Cấu trúc của luận án 29
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT 31
1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội, văn hoá ở Sài Gòn 1945-1954 31
1.1.1 Những biến động chính trị 31
1.1.2 Những vấn đề xã hội, văn hoá 39
1.2 Khái lược về phê bình xã hội học 53
1.2.1 Khái niệm “phê bình xã hội học” 53
1.2.2 Quá trình vận động của phê bình xã hội học 55
1.3 Khả năng ứng dụng phê bình xã hội học trong nghiên cứu văn xuôi ở đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 65
1.3.1 Mức độ phù hợp của phương pháp phê bình và đối tượng nghiên cứu 65
1.3.2 Phê bình xã hội học: những tiêu điểm nghiên cứu của luận án 68
Tiểu kết 71
CHƯƠNG 2: VĂN XUÔI Ở ĐÔ THỊ NAM BỘ 1945-1954 TỪ PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC VĂN CẢNH 73
2.1 Nhìn từ hoạt động chính trị - xã hội: hai chặng đường văn học 73
2.1.1 Từ 1945 đến 1950: khuynh hướng văn học tranh đấu 73
2.1.2 Từ 1950 đến 1954: đa dạng khuynh hướng văn học 80
2.2 Nhìn từ hoạt động báo chí và xuất bản: mối quan hệ biện chứng giữa thị trường và nghệ thuật 86
2.2.1 Báo chí chính trị hoá và thương mại hoá thị hiếu thẩm mỹ 87
2.2.2 Nhà xuất bản trong sự tương tác giữa thị hiếu và nghệ thuật 92
Trang 62.3 Nhìn từ công chúng và tác giả: một vùng văn học hướng ngoại, thiên về
hành động 102
2.3.1 Công chúng mang nét địa văn hoá đặc thù 102
2.3.2 Tác giả và những chiến lược sử dụng vốn trong trường văn học 114
Tiểu kết 126
CHƯƠNG 3: VĂN XUÔI Ở ĐÔ THỊ NAM BỘ 1945-1954 TỪ PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC VĂN BẢN 128
3.1 Nhìn từ đặc điểm thể loại: tư duy dung hợp mang ý nghĩa xã hội 128
3.1.1 Nhận thức thể loại của nhà văn 129
3.1.2 Đặc trưng báo chí của văn xuôi nghệ thuật 138
3.2 Nhìn từ thế giới nhân vật: sự dung hoà giữa nhu cầu của nhà văn và công chúng 142
3.2.1 Nhân vật công thức với thế giới lý tưởng của nhà văn và nhu cầu của công chúng 143
3.2.2 Nhân vật tâm lý với nhu cầu chia sẻ, khám phá của nhà văn 156
3.3 Nhìn từ ngôn từ nghệ thuật: những khuôn mẫu mang ý nghĩa xã hội 167 3.3.1 Ngôn từ biểu hiện diễn ngôn chính trị-xã hội 168
3.3.2 Từ ngôn ngữ ước lệ đến ngôn ngữ tả chân 182
Tiểu kết 192
KẾT LUẬN 194
TÀI LIỆU THAM KHẢO 199
PHỤ LỤC 1: THỐNG KÊ VÀ TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI Ở ĐÔ THỊ NAM BỘ GIAI ĐOẠN 1945-1954 1
PHỤ LỤC 2: THÔNG TIN TÁC GIẢ VĂN XUÔI Ở ĐÔ THỊ NAM BỘ GIAI ĐOẠN 1945-1954 173
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do nghiên cứu đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, văn học Nam Bộ từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1954
thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu trong nước, giúp bổ khuyết
và hoàn thiện bức tranh chung của văn học Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử đặc biệt Nhiều tác phẩm được sưu tầm và tái bản, nhiều tác giả được tìm hiểu lại và nghiên cứu kỹ hơn, làm cơ sở để đánh giá một cách toàn diện và khách quan hơn văn học Việt Nam trong những giai đoạn đã từng bị bỏ quên, bỏ qua, hoặc từng bị nhận
định có phần phiến diện Công trình Sưu tầm, khảo sát, đánh giá văn học Nam Bộ 1945–1954 do Võ Văn Nhơn chủ nhiệm hoàn thành năm 2012 đã bao quát các tác
phẩm xuất bản công khai ở đô thị lẫn tác phẩm ra mắt ở vùng kháng chiến, đánh giá lại đóng góp của một số tác giả tiêu biểu Với phạm vi rộng như vậy, công trình chủ yếu hệ thống lại những tài liệu sưu tầm được và mô tả khái quát, mở đường cho những nghiên cứu sâu hơn về từng đối tượng, vấn đề trong giai đoạn văn học này Sách
Nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở Nam Bộ thời kỳ 1865-1954 do Nguyễn Thị
Thanh Xuân chủ biên (2018) dành dung lượng đáng kể cho giai đoạn 1945-1954, gợi
ý một góc nhìn đối với hoạt động sáng tác văn học ở Nam Bộ giai đoạn này trong mối quan hệ với lý luận, phê bình văn học, xem xét sáng tác văn học dưới sự chi phối của các quy luật phát triển nội tại, bổ sung cho góc nhìn đã phổ biến bấy lâu xem văn học giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1945-1954 là công cụ đấu tranh chính trị Do vậy, văn học 1945-1954 xuất bản công khai ở khu vực đô thị Nam Bộ – nơi cả nhà văn lẫn độc giả vừa chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những sự kiện chính trị xã hội vừa thưởng thức văn học vì những nhu cầu cá nhân – cần được nghiên cứu sâu hơn với những công cụ phù hợp
1.2 Trong sáng tác văn học ở đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945-1954, văn xuôi có
vẻ chiếm số lượng áp đảo và gây tiếng vang hơn so với thơ, căn cứ những tác phẩm còn lưu lại được đến ngày nay và các mô tả, nhận xét trong những công trình nghiên cứu về giai đoạn này Trong danh sách liệt kê của Nguyễn Văn Sâm (1972), văn
Trang 8chương tranh đấu ở đô thị 1945-1950 có 94 quyển sách thuộc thể loại truyện nhưng chỉ có 12 tập thơ/truyện thơ (tr 263-275) Truyện ngắn và truyện dài kỳ (feuilleton) vẫn xuất hiện trên khắp các báo Hầu hết tác giả được giới nghiên cứu về sau xem là tiêu biểu của giai đoạn này đều chỉ viết hoặc chủ yếu viết văn xuôi Hơn nữa, văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết, vẫn được xem là thể loại trung tâm của văn học hiện đại
vì tính chất phi điển lệ và khả năng bao quát hiện thực đa dạng phong phú Đó là nơi các nhà văn thể hiện trực tiếp quan điểm, tư tưởng và chia sẻ tâm sự, cảm xúc về những vấn đề dân tộc và thời đại, cũng như phản ánh hiện thực văn hoá, xã hội, lịch
sử Khi cần thu hẹp vùng quan tâm trên bức tranh rộng lớn của văn chương ở đô thị Nam Bộ 1945-1954, văn xuôi là một lựa chọn ưu tiên hợp lẽ
1.3 Trong giai đoạn lịch sử 1945-1954 ngắn ngủi nhưng nhiều biến động, người
dân Việt Nam khó ai có thể đứng ngoài những tác động chính trị-xã hội Giới văn nhân nghệ sĩ vốn nhạy cảm hơn với cuộc đời lại càng khó tránh khỏi việc thể hiện dấu ấn thời đại trong tác phẩm theo cách này hoặc cách khác Nam Bộ từng được biết đến là vùng đất cởi mở, tiên phong, nơi con người được gợi cảm hứng tương tác, hướng ngoại mạnh mẽ và văn chương có mối quan hệ mật thiết với thế giới ngoài trang sách Thật khó để đọc văn chương Nam Bộ nói chung và văn học ở đô thị Nam
Bộ giai đoạn 1945-1954 nói riêng mà không xem xét tính chất xã hội của nó Mức độ phù hợp của phương pháp phê bình xã hội học với đối tượng nghiên cứu sẽ được trình bày kỹ hơn ở Chương 1 của luận án
Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu “Văn xuôi ở đô thị Nam
Bộ 1945-1954 từ góc nhìn phê bình xã hội học”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các nghiên cứu tổng hợp về văn học Nam Bộ 1945-1954
2.1.1 Nghiên cứu trong nước trước 1975
2.1.1.1 Lược sử văn nghệ Việt Nam 1900-1956 (1960) của Thế Phong
Bộ công trình Lược sử văn nghệ Việt Nam của Thế Phong gồm 4 tập:
Trang 9Tập 1: Nhà văn tiền chiến 1930-1945
Tập 2: Văn nghệ kháng chiến 1945-1950, trong đó chia ra hai phần “Phần A: Nhà văn kháng chiến chủ lực” và “Phần B: Nhà văn miền Nam 1945-1950”
Tập 3: Nhà văn hậu chiến 1950-1956
Tập 4: Tổng luận sáu mươi năm văn nghệ Việt Nam 1900-1956
Cả bộ được Đại Nam Văn hiến Xuất bản Cục của chính tác giả Thế Phong cho
in ronéo (không xin giấy phép xuất bản) trong khoảng thời gian 1959-1960, đến năm
1974 được NXB Vàng Son tái bản Tập 4 được dịch giả Đàm Xuân Cận dịch sang
tiếng Anh với tựa A Brief Glimpse at the Vietnamese Literary Scene (1900-1956)
Đến năm 2007, toàn bộ 4 tập của công trình được tác giả đồng ý công bố trên website
Newvietart.com Quyển 2 phần B: Nhà văn miền Nam 1945-1950 và quyển 3 Nhà văn hậu chiến 1950-1956 là phần mà luận án này quan tâm Người viết luận án chỉ
có thể tiếp cận bản online của quyển sách
Đây là công trình nghiên cứu tổng hợp sớm nhất về văn học Nam Bộ
1945-1954 Trước đó chỉ có những bài báo đơn lẻ của người đương thời nhận định một cách chung chung về hiện tình văn học mà họ đang trải qua, có tính chất phê bình nhiều hơn là nghiên cứu Căn cứ vào mốc thời gian và tiêu đề trên các tập, có thể thấy Thế Phong xác định cuộc kháng chiến chống Pháp – và giai đoạn văn học kháng chiến trong cả nước – chỉ diễn ra từ 1945 đến 1950 dù mãi đến năm 1954 thì Pháp mới thua trận ở Điện Biên Phủ và hoàn toàn rút khỏi Việt Nam Theo ông, sau 1950, kháng chiến ở Nam Bộ đã không còn như trước Ngoài ra, trong phần A của tập sách, Thế Phong cũng cho rằng Nam Bộ chỉ là mặt trận văn nghệ kháng chiến bổ sung cho mặt trận chủ lực ở miền Bắc, miền Trung
Ở tập 2, Thế Phong phân chia các nhà văn miền Nam thành 3 nhóm: nhóm Lý Văn Sâm chuyên về sáng tác gồm có Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang; nhóm Chân Trời Mới chuyên về lý luận Marxist gồm Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc; nhóm các nhà văn độc lập khác gồm có Hoàng Tấn, Bình Nguyên Lộc, Anh Huy, Việt Quang, Bách Việt, Hợp Phố, Sơn Khanh, Phi Vân, Vũ
Trang 10Xuân Tự, Quốc Ấn, Nguyễn Bảo Hoá, Trúc Khanh, Hồ Hữu Tường… Ông viết theo kiểu giới thiệu sơ lược tiểu sử và sự nghiệp sáng tác, trích dẫn một vài đoạn văn, thơ của mỗi tác giả kèm nhận xét về phong cách và đóng góp của tác giả Mỗi tác giả được phân tích kỹ lưỡng hay sơ sài tuỳ vào đánh giá của Thế Phong về mức độ quan trọng của tác giả ấy trong giai đoạn văn học Những phần về Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà, Tam Ích được ông viết dài hơn hẳn, trích dẫn và phân tích tác phẩm khá kỹ, trong khi những tác giả khác chỉ được dành cho vài đoạn văn, có người còn không được phân tích tác phẩm, chỉ có nhận định chung chung Các nhà văn ở nhóm 1 và nhóm 2 đều được ông dành các mục riêng để giới thiệu hoặc phân tích, nhưng nhóm 3 ông chỉ viết riêng về Hoàng Tấn, Bình Nguyên Lộc, Hoàng Tố Nguyên, Quốc Ấn, Sơn Khanh, Vũ Xuân Tự, Phi Vân và Nguyễn Bảo Hoá, trong đó
3 tác giả đầu danh sách này được ông cho là điển hình hơn những người còn lại Nguyễn Văn Sâm (1969) nhận định rằng Thế Phong không nói lên được đầy đủ
sự thật về nền văn học kháng chiến Nam Bộ 1945-1950 vì hai nguyên nhân: tài liệu thiếu thốn và đánh giá chưa chính xác những tài liệu đã có (tr 10-12) Tập 2 này (gồm
cả phần A và phần B) là tập mỏng nhất trong cả bộ sách 4 tập nhưng lại bao quát toàn
bộ văn học kháng chiến cả nước trên nhiều thể loại thơ, văn xuôi, lý luận phê bình, biên khảo Số tác giả mà Thế Phong nhắc đến lẫn giới thiệu riêng đều ít ỏi, các phần viết rất ngắn, chỉ có thể xem là nét phác thảo
Tập 3 Nhà văn hậu chiến dừng lại ở mốc thời gian 1956 vì đó là năm Thế Phong
viết xong bộ sách Trong danh sách các tác giả miền Bắc có một số cái tên mà tác giả luận án nhận thấy có xuất hiện trên báo chí trong Nam cùng giai đoạn như Vĩnh Lộc (nhóm lãng mạn buông lỏng), Thanh Nam (nhóm tâm tình tiến bộ) và Hoàng Công Khanh (nhóm lãng mạn đấu tranh)
Nhìn chung, nghiên cứu của Thế Phong về văn học Nam Bộ 1945-1950 xuất hiện sớm, mức độ bao quát cao so với thời điểm ra đời của nó, giới thiệu được nhiều cây bút tiêu biểu của văn chương kháng chiến miền Nam 1945-1950, tuy chỉ ở mức tóm lược tiểu sử nhà văn, liệt kê văn phẩm và nhận xét chung về phong cách, đóng
Trang 11góp văn chương Điều đáng tiếc là Thế Phong không chú ý đến mối quan hệ tương tác giữa các nhà văn với nhau và giữa nhà văn với môi trường xã hội, dù đầu mỗi tập sách ông đều dành vài trang để giới thiệu bối cảnh lịch sử Thế Phong cũng không đề cập đến những tác phẩm văn học ở miền Nam những năm từ 1950 đến 1954
2.1.1.2 Văn chương tranh đấu miền Nam (1969) của Nguyễn Văn Sâm
Năm 1969, Nguyễn Văn Sâm, khi ấy là giảng sư Đại học Văn Khoa Sài Gòn,
đã cho ra mắt công trình Văn chương tranh đấu miền Nam do Kỷ Nguyên xuất bản
Công trình dày 466 trang phân tích, bình luận tác phẩm và đánh giá vai trò, đóng góp của 24 tác giả Nam Bộ giai đoạn 1945-1950 là Triều Sơn, Nguyễn Bảo Hoá, Phạm Thu Cảnh, Võ Hoà Khanh, Sơn Khanh, Liên Chớp, Nguyễn Xuân Mỹ, Hoàng Tấn, Hoàng Mai, Việt Tha, Thẩm Thệ Hà, Bùi Nam Tử, Vũ Xuân Tự, Dương Tử Giang, Nghiêm Lang, Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, Quốc Ấn, Hợp Phố, Phi Vân, Hồ Hữu Tường và 3 đại diện của nhóm Chân Trời Mới là Tam Ích, Thê Húc và Thiên Giang được xếp vào cùng một mục
Thế Phong gọi văn chương 1945-1950 là “văn chương kháng chiến” trong hệ thống phân kỳ tiền chiến - kháng chiến - hậu chiến (định danh gắn với phân kỳ lịch sử), trong khi Nguyễn Văn Sâm gọi nó là “văn chương tranh đấu” – một cách định danh quan tâm hơn đến tinh thần và nội dung văn học của đối tượng Do định danh văn học dựa vào phân kỳ lịch sử nên Thế Phong đã đưa vào tập sách kháng chiến của mình những nhà văn có sáng tác gây chú ý trong giai đoạn này, kể cả người không thể hiện ý hướng kháng chiến trong tác phẩm, chẳng hạn như Bình Nguyên Lộc Ngược lại, Nguyễn Văn Sâm loại Bình Nguyên Lộc khỏi danh sách Trong công trình xuất bản năm 1972, Nguyễn Văn Sâm xếp Bình Nguyên Lộc vào nhóm nhà văn đứng ngoài trào lưu
Cũng giống Thế Phong, Nguyễn Văn Sâm xác định văn chương tranh đấu miền Nam chỉ kéo dài đến năm 1950 chứ không phải đến 1954 vì ông quan sát thấy thực tiễn sáng tác và xuất bản văn chương tranh đấu từ sau những năm 1950 đã hao hụt, xuống dốc so với những năm trước đó Lý giải cho điều này, bên cạnh việc đồng ý
Trang 12với nhận định của Thế Phong rằng ý niệm “kháng chiến toàn dân” khi ấy đã tan vỡ, chiến tranh chống giặc ngoại xâm bắt đầu nhuốm màu sắc chiến tranh ý thức hệ khiến nhiều nhà văn mất hứng thú với đề tài này, Nguyễn Văn Sâm còn chỉ ra rằng việc lập lại lệnh kiểm duyệt đã khiến nhiều nhà văn tranh đấu hàng đầu rút về chiến khu, đồng thời chính phủ Quốc gia Việt Nam có vẻ giành được nhiều quyền độc lập hơn từ tay Pháp sau Hiệp định Élysée 8/3/1949 khiến nhiều nhà văn ở lại thành cảm thấy nguội dần ý hướng kháng Pháp
Trong Phần dẫn nhập, Nguyễn Văn Sâm dựa vào phần trọng yếu trong sự
nghiệp của mỗi tác giả mà phân chia họ thành 3 nhóm: nhóm lý thuyết gồm Chân Trời Mới, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà, Hồ Hữu Tường, Triều Sơn; nhóm thiên
về xã hội có Bùi Nam Tử, Phi Vân, Sơn Khanh, Hoàng Tấn, Lý Văn Sâm, Vũ Xuân
Tự, Hoàng Mai, Nguyễn Xuân Mỹ, Hợp Phố; nhóm hướng về đường lối quốc gia có
Vũ Anh Khanh, Quốc Ấn, Việt Tha, Võ Hoà Khanh, Liên Chớp, Phạm Thu Cảnh Nhóm xã hội có khuynh hướng mô tả đời sống khốn cùng của người Việt dưới sự cai trị của thực dân, còn nhóm có khuynh hướng quốc gia lại kêu gọi người dân lên đường tranh đấu Nguyễn Văn Sâm cho rằng đó là hai cánh tay của nền văn chương tranh đấu, một tay lột mặt nạ kẻ thống trị, tay kia trao vũ khí cho người dân bị trị vùng lên cởi ách tháo xiềng, còn nhóm lý thuyết đóng vai trò bộ não của nền văn chương này Tuy phân nhóm như vậy, nhưng trong phần chính của công trình, Nguyễn Văn Sâm không khảo sát các tác giả theo nhóm mình đã phân chia (cũng không rõ ông xếp các tác giả theo trật tự nào) Ông phân tích kỹ tác phẩm của từng tác giả để tìm
ra đặc trưng chủ đề, phong cách, đóng góp của họ vào nền văn chương tranh đấu Bài viết thường đi theo trình tự liệt kê tác phẩm, tóm tắt tác phẩm tiêu biểu và phân tích, nhận xét Mỗi tác giả đều được ông rút ra một đặc trưng có tính khái quát và nêu luôn
ở đầu bài viết, chẳng hạn “Phạm Thu Cảnh nhà văn kháng chiến truyền thống Tự Lực Văn đoàn”, “Võ Hoà Khanh và sự tranh đấu trong tù” “Nguyễn Xuân Mỹ và con đường nhập thế cứu nước”, “Hoàng Tấn và niềm khổ đau tranh đấu dở dang”, “Thẩm Thệ Hà và diễn trình ý thức cách mạng”, “Vũ Anh Khanh và hai thế giới mâu thuẫn”,
“Lý Văn Sâm và con người cố thoát ra khỏi sự vây hãm của thành thị u buồn”… Đặt
Trang 13các nhà văn này bên cạnh nhau, Nguyễn Văn Sâm có sự khen chê rất rõ ràng ở cả khía cạnh nội dung và nghệ thuật, tuy căn cứ đánh giá chủ yếu của ông vẫn là nội dung tư tưởng Ông đi tìm suy nghĩ, thái độ của nhà văn trước thời cuộc và đánh giá cách nhà văn chuyển tải thái độ ấy đến độc giả thông qua phương tiện nghệ thuật cũng như tính hợp lý và khả năng thành công của cách thức chuyển tải ấy
Công trình này của Nguyễn Văn Sâm mang đến một bức tranh phong phú và chi tiết về văn chương tranh đấu miền Nam 1945-1950, khắc phục những hạn chế tư liệu mà công trình của Thế Phong trước kia vấp phải Số lượng tác giả, tác phẩm nhiều hơn đáng kể giúp nhà nghiên cứu khắc hoạ lại các chân dung văn học một cách
rõ ràng hơn Tuy nhiên, bản thân Nguyễn Văn Sâm lại chưa hoàn toàn hài lòng với thành tựu này Ông cho rằng công trình này “tách rời văn học ra khỏi chánh trị bằng cách chỉ nhìn mỗi nhà văn như một hệ thống tư tưởng khép kín ít dính dáng tới thời đại, với tư tưởng của người chung quanh” (Nguyễn Văn Sâm, 1972, tr XI) và khắc
phục thiếu sót đó bằng quyển Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950
2.1.1.3 Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950 (1972) của Nguyễn
Văn Sâm
Tự đánh giá công trình năm 1969 còn những thiếu sót như đã nêu ở trên, năm
1972 Nguyễn Văn Sâm xuất bản tiếp công trình Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950 để phân tích văn học Nam Bộ 1945-1950 với một phương pháp
khác Thay vì khảo sát tác phẩm theo tác giả để đưa ra nhận định về phong cách sáng tác và đóng góp của cá nhân nhà văn vào sự nghiệp tranh đấu, ông đi tìm các khía cạnh chống Pháp trong các sáng tác văn học và hệ thống lại thành các nhóm vấn đề Công trình gồm hai phần “Phần 1: Văn chương Nam Bộ và ý hướng kháng Pháp” trình bày bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội những năm 1945-1950 đồng thời giới thiệu và phân loại các tác phẩm văn học thời kỳ này theo hai tiêu chí: căn cứ trên địa bàn/phương thức phổ biến và căn cứ theo nội dung Theo địa bàn/phương thức phổ biến có loại văn chương ở bưng, ở thành, và tác phẩm chuyền tay; theo nội dung
có (1) tác phẩm lớp dưới chỉ a dua theo thị hiếu thấp kém của quần chúng và không
Trang 14có giá trị nghệ thuật, (2) tác phẩm đi ngoài trào lưu mô tả những vấn đề văn chương muôn thuở chẳng liên quan gì đến trào lưu tranh đấu và (3) tác phẩm cổ vũ kháng chiến Nguyễn Văn Sâm chỉ khảo sát loại ở thành và cổ vũ kháng chiến và cho rằng
nó tiêu biểu cho văn học Nam Bộ 1945-1950 vì chúng có số lượng áp đảo, chất lượng cao và sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong quần chúng Trong phần 1, tác giả cũng dành một chương để trình bày về ý hướng kháng Pháp của văn chương Nam Bộ, trong đó ông trích dẫn và phân tích lời lẽ của các nhà văn, nhà lý luận, phê bình thời kỳ này trong các bài phỏng vấn, bài phê bình, lời giới thiệu sách và cả trong các sáng tác văn học để cho thấy ý thức dùng văn nghệ làm công cụ đấu tranh chống Pháp của họ Trong “Phần 2: Những đóng góp của văn chương Nam Bộ vào cuộc kháng Pháp 1945-1950”, Nguyễn Văn Sâm tìm kiếm những biểu hiện của ý thức kháng Pháp đã phân tích ở phần 1 trong tác phẩm văn học thông qua việc đọc kỹ tác phẩm, lọc ra các chi tiết mang nội dung chống Pháp và hệ thống lại thành 4 nội dung lớn tương
ứng với 4 chương: Văn chương Nam Bộ tố cáo và buộc tội chánh sách cai trị của người Pháp ở Việt Nam, Văn chương Nam Bộ trình bày những đau khổ tinh thần và thân xác của người dân dưới thời Pháp thuộc, Chế độ lao tù bất nhân của người Pháp
ở Việt Nam và Văn chương Nam Bộ góp phần vào cuộc kháng Pháp Ở đây, Nguyễn
Văn Sâm đi tìm hiện thực được phản ánh vào trong tác phẩm văn học ở khía cạnh chủ
đề và nội dung, quan tâm đến cả những thông tin xác thực có tính sử liệu Ông không tìm hiểu hay phân tích cách thức nhà văn nhào nặn chất liệu hiện thực để tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng khép kín và có sự độc lập tương đối với thế giới hiện thực Trong chương 1, Nguyễn Văn Sâm hệ thống các hậu quả mà chế độ cai trị của Pháp
để lại ở Nam Bộ ở cấp độ xã hội như cờ bạc công khai, đĩ điếm lan tràn, cướp giật hoành hành, và cấp độ cá nhân con người như việc chế độ cai trị khiến con người không thể nhìn ra khỏi bản thân mình, không thể suy nghĩ sâu xa và trở nên ác độc nông nổi do dốt nát Những luận điểm này đều được làm rõ bằng các dẫn chứng từ các tác phẩm văn học đương thời, từ chủ đề của tác phẩm, hành động và suy nghĩ của nhân vật chính, nhân vật phụ, các thông số báo cáo… Tương tự như vậy, chương 2 trình bày đau khổ của người dân dưới thời Pháp thuộc qua các luận điểm như khổ sở
Trang 15về mặt tinh thần: lo sợ súng đạn vô tình, phập phồng tai ương dễ đến, con người xa
lạ và lạc lõng, tuyệt vọng; cho đến về mặt thể xác như thợ thuyền sống không ra con người, phu cạo mủ biến thành người máy, người dân bị chủ điền và chức dịch bóc lột
ức hiếp Chương 3 trình bày chế độ lao tù bất nhân thông qua mô tả chính sách lao tù như đánh đập tù nhân, biến người tù thành con vật, hành hạ người tu hành và phụ nữ, khủng bố tinh thần; mô tả cách tổ chức nhà tù không hợp lý khiến tham nhũng hoành hành, nhiều người thụ hình nặng hơn sự quy định của luật pháp; từ đó dẫn đến các hậu quả tâm lý như méo mó tình cảm và hậu quả thân xác như chết chóc, tật nguyền
Từ hiện thực có giá trị tố cáo được phản ánh vào tác phẩm văn học đã phân tích ở 3 chương trên, chương 4 trình bày cách thức văn chương Nam Bộ góp phần vào cuộc tranh đấu chống Pháp thông qua các luận điểm kêu gọi lên đường, kêu gọi mọi người phục vụ quốc gia theo điều kiện cá nhân và mô tả người hùng cách mạng hành động dứt khoát, không sợ gian nan và có tinh thần cao đẹp
Nguyễn Văn Sâm giới thuyết rõ ở phần mở đầu rằng công trình này cốt tìm hiểu
sự đóng góp của văn chương Nam Bộ vào cuộc kháng Pháp, nghĩa là đi tìm ý nghĩa chính trị của các tác phẩm văn học thời này, xem chúng như công cụ tranh đấu, nên ông không khai thác tác phẩm ở khía cạnh nghệ thuật, cũng không đánh giá tư tưởng của cá nhân nhà văn Đồng thời, Nguyễn Văn Sâm cũng cho rằng mình có hai lựa chọn, một là từ hiểu biết lịch sử xã hội của bản thân về thời đại ấy mà đi tìm dẫn chứng từ tác phẩm, hai là từ những điều được ghi lại trong tác phẩm mà tổng kết các nội dung tranh đấu thể hiện trong đó, và ông chọn cách thứ hai để đảm bảo khách quan Từ việc áp dụng phương pháp ấy, ông đi đến kết luận văn chương Nam Bộ 1945-1950 có giá trị lớn về mặt tranh đấu, góp phần vào việc cởi bỏ ách thống trị của người Pháp ở Việt Nam nhưng ông không đưa ra một mẫu số chung nào cho xã hội tương lai về mặt chính trị, đồng thời khẳng định các sáng tác thời này tạo nên một dòng văn học tranh đấu nối dài truyền thống văn học tranh đấu ở Nam Bộ đã có từ thời cuối thế kỷ 19 với những chí sĩ như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt…
Trang 16Cũng giống như Văn chương tranh đấu miền Nam, công trình này khảo sát cả
thơ lẫn văn xuôi và cho thấy sự áp đảo về mặt số lượng tác phẩm cũng như uy tín của tác giả văn xuôi so với thơ ở Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 Công trình có đính kèm một phụ lục liệt kê các tác phẩm căn bản của văn chương Nam Bộ 1945-1950 ở các thể loại truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, thơ, luận thuyết, khảo cứu, hồi ký… Chỉ
có 12 tập thơ trong khi có đến 94 tập truyện ngắn và tác phẩm truyện dài Phụ lục này chỉ có các tác phẩm in sách, không có tác phẩm đăng báo và ông cũng không khảo sát tác phẩm đăng báo trong phần chính văn (nhưng có ghi chú một vài tác phẩm truyện được đăng báo trước hoặc sau khi in sách) Một số tác phẩm được nhắc đến trong chính văn như các truyện của Nguyễn Đạt Thịnh không xuất hiện trong phụ lục,
có lẽ vì ông cho rằng nó không tiêu biểu, chỉ thuộc nhóm văn phẩm “lớp dưới”
Cả 3 chuyên khảo vừa nêu đều được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu sống
và sinh hoạt văn nghệ, khoa học ở khu vực thành thị nên các công trình bao quát rộng
và sâu diện mạo và đặc điểm văn học thành thị Nam Bộ giai đoạn 1945-1950, nhưng vẫn gần như bỏ trống giai đoạn 1950-1954 Ngoài ra, mảng văn học này cũng được
nhắc đến trong sách giáo khoa trung học, chẳng hạn như quyển Văn học sử Việt Nam cho các lớp trung học đệ nhị cấp (1967) của Bùi Đức Tịnh, được trình bày theo kiểu
điểm qua thành tựu của cá nhân nhà văn trong từng giai đoạn văn học
2.1.2 Nghiên cứu ở trong nước sau 1975
2.1.2.1 Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1988) của Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp và Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 2: Văn học (1988) do Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng và Nguyễn Công Bình chủ biên
Sau 1975, vì nhiều lý do, văn học ở khu vực thành thị Nam Bộ 1945-1954 không được ưu tiên đề cập hay nghiên cứu trong suốt mười mấy năm Nhiều công trình do Viện Văn học chỉ đạo biên soạn về văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống
Pháp như Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học (tập 1 và 2) xuất bản năm 1986 tuy có đề cập văn
Trang 17học vùng chiến khu Nam Bộ (Khu 8) nhưng không nhắc đến sáng tác văn học ở vùng
30 năm cách mạng và kháng chiến” của Tầm Vu, Nguyên Thanh, Viễn Phương, Hồ
Sĩ Hiệp trong sách Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 2: Văn học Hai
công trình này giống nhau cơ bản vì có chung hai tác giả chủ lực là Thành Nguyên (Nguyên Thanh) và Hồ Sĩ Hiệp, lại xuất bản gần như cùng thời điểm (1988) Thành Nguyên từng góp mặt trong hoạt động đấu tranh bằng văn chương, báo chí ở đô thành Sài Gòn suốt giai đoạn 1945-1954 nên ông có trải nghiệm của người trong cuộc
Phần viết về văn học giai đoạn 1945-1954 trong sách Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900-1954) dài hơn 100 trang, dày dặn và chi tiết hơn so với phần viết tương tự trong sách Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 30
trang), nhưng đều triển khai bố cục như nhau, đứng trên lập trường kháng chiến của Đảng Cộng sản, xem các tổ chức hoạt động cách mạng đương thời là nền tảng và trụ cột của nền văn học tranh đấu yêu nước, từ đó khảo sát thể loại và tác phẩm, cuối
cùng là nhận định về mặt giá trị của bộ phận văn học này Trong Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tác giả đánh giá vắn tắt rằng bộ phận văn học này (1)
có khả năng cảm hoá và giáo dục tư tưởng rất lớn, (2) xuất hiện kịp thời trong cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân Nam Bộ, (3) khơi lên truyền thống quật cường của dân tộc Việt Nam, (4) tố cáo có hệ thống đủ các mặt tội ác của chế độ thực dân Pháp
và (5) phản ánh chân thực cuộc chiến đấu của nhân dân thành phố Phần viết trong
sách Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900-1954) mô tả và đánh giá chi
tiết hơn các đặc điểm của bộ phận văn học đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 về tính chất, nội dung, sắc thái và tổ chức hoạt động, từ đó nhận định về thành tựu văn học ở từng thể loại cụ thể
Trang 18So với ba công trình của Thế Phong và Nguyễn Văn Sâm kể trên, hai công trình này có tầm bao quát rộng hơn về mặt địa bàn, thể loại và phương thức xuất bản Các tác giả không chỉ khảo sát văn học vùng đô thị mà còn có cả văn học vùng chiến khu, vốn là khu vực mà các nhà nghiên cứu trước kia chưa tiếp cận được tài liệu Đồng thời, các tác giả khảo sát cả hoạt động sáng tác văn học lẫn hoạt động báo chí, cả tác phẩm văn học đăng báo lẫn in sách, trải rộng trên tất cả các thể loại thơ, truyện, ký, biên khảo, kịch và sân khấu, lý luận phê bình Phần viết về văn học công khai ở đô thị là đối tượng quan tâm của tác giả luận án này
Khác với quan điểm của Thế Phong và Nguyễn Văn Sâm cho rằng văn học tranh đấu ở thành thị kết thúc vào năm 1950, nhóm tác giả của hai công trình sau này xác định nền văn học tranh đấu kéo dài đến năm 1954, chỉ thay đổi về hình thức tranh
đấu Trong Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900-1954), Thành Nguyên
và Hồ Sĩ Hiệp chia giai đoạn văn học 1945-1954 thành bốn thời kỳ tương ứng với những biến đổi của hoạt động chính trị đương thời:
1-Thời kỳ mở đầu 8/1945-11/1946: trong cao trào khởi nghĩa, trên báo chí phổ biến các bài chính luận kêu gọi và các vở kịch thơ, kịch lịch sử
2-Thời kỳ đấu tranh trực tiếp 12/1946-6/1950: phong trào Báo chí thống nhất, phong trào xuất bản văn chương tranh đấu phát triển mạnh mẽ
3-Thời kỳ tạm lắng 6/1950-6/1951: chính quyền Quốc gia Việt Nam đặt lại lệnh kiểm duyệt, báo chí bị khủng bố, ký giả bị ám sát, phong trào sáng tác tranh đấu tạm lắng
4-Thời kỳ đấu tranh gián tiếp 6/1951-1954: lực lượng văn báo chuyển sang chống văn hoá đồi truỵ
Về mặt nội dung tác phẩm, Thành Nguyên và Hồ Sĩ Hiệp trong Văn học Nam
Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900-1954) chia văn học đô thị giai đoạn 1945-1954
thành hai trận tuyến đối lập Một trận tuyến gồm các nhà văn “yêu nước tiến bộ”, tham gia kháng chiến hoặc có cảm tình với kháng chiến, viết các tác phẩm thể hiện tinh thần tranh đấu, có ảnh hướng tích cực đến quần chúng trong cuộc kháng chiến
Trang 19chống thực dân Pháp và tay sai Nòng cốt của trận tuyến này là các cán bộ văn hoá, văn nghệ của Đảng Trận tuyến còn lại được gọi là “trận tuyến phản động gồm các nhà văn báo bồi bút, tay sai của giặc trắng trợn bôi nhọ kháng chiến” (tr 238) Hồ Hữu Tường, Sơn Khanh, Nguyễn Đạt Thịnh bị liệt vào nhóm này Cũng đứng trên lập trường của Đảng lãnh đạo kháng chiến, Thành Nguyên và Hồ Sĩ Hiệp đánh giá giá trị của các tác giả, tác phẩm văn học thời kỳ này chỉ trên một tiêu chí duy nhất: hiệu quả chống giặc, cổ vũ kháng chiến Những cách viết hơi chệch khỏi đường lối tranh đấu – chẳng hạn các truyện đường rừng, phiêu lưu, lãng mạn của Lý Văn Sâm – cũng bị cho là khuyết điểm, là tàn dư của cái lãng mạn tiểu tư sản thời tiền khởi nghĩa
Cả hai công trình được bàn đến trong mục này không đào sâu phân tích tác phẩm văn học, không đi tìm đặc sắc nghệ thuật hay phong cách nhà văn, mà tái hiện diễn trình văn học sử, với lượng thông tin ngồn ngộn, dồi dào về tác giả, tác phẩm, đặc biệt là thông tin về các tổ chức văn nghệ do Đảng lãnh đạo hoạt động ở nội thành Đây cũng là hai công trình tổng hợp dày dặn, phong phú thông tin nhất về văn học Nam Bộ 1945-1954 trong suốt 35 năm sau khi thống nhất đất nước (1975-2010) Bản thân tác giả Thành Nguyên là người trong cuộc, từng là thư ký Hội Liên hiệp Văn nhân, bí thư chi bộ Ký giả hoạt động mạnh mẽ trong phong trào Báo chí thống nhất,
bí thư chi bộ Văn Giáo Nghệ Sĩ trong phong trào chống văn hoá đồi truỵ, viết nhiều bài xã luận, lý luận phê bình (ký Thành Nguyên, Quốc Bửu), truyện ngắn (ký Thanh Nhã, Thanh Huy, Thanh Bình) và tiểu thuyết (ký Vinh Châu Tử, Long Giang Tử) đăng báo và in sách trong thời gian này, nên ông lưu trữ và cung cấp một lượng thông tin vô cùng phong phú về hoạt động chiến đấu bằng ngòi bút của giới văn nhân, ký giả đương thời
Vì xác định khung thời gian khác với các công trình của Thế Phong và Nguyễn Văn Sâm nên các nhóm tác giả này đã cung cấp thêm nhiều thông tin và tái hiện thêm một đoạn diễn trình văn học sử ở đô thị Nam Bộ mà trước đó ít nhà nghiên cứu tập trung khai thác, đó là văn học giai đoạn 1950-1954 Tuy nhiên, do đứng trên lập trường kháng chiến nên các tác giả chỉ tập trung mô tả hoạt động chống văn hoá đồi
Trang 20truỵ phổ biến trên mặt báo thông qua các bài xã luận, lý luận, phê bình, và chỉ liệt kê các tác phẩm được xem là lành mạnh Nửa còn lại của nền văn học khi ấy – nửa bị kết luận là lạc hậu, không lành mạnh, văn chương “hộp đêm” – bao gồm các sáng tác của Nguyễn Đạt Thịnh, Ngọc Sơn, Nam Đình, Phú Đức, Bà Tùng Long, Hồ Biểu Chánh… đã bị lên án hoặc bỏ qua, mặc dù xét về mặt số lượng và dung lượng, đây là
những tác giả đáng chú ý trong thời kỳ này
Năm 1990, Mã Giang Lân xuất bản chuyên khảo Văn học Việt Nam 1945-1954
trong đó dành một chương dài khoảng 20 trang viết về sáng tác văn học ở Hà Nội, Sài Gòn 1946-1954, phần viết về Sài Gòn chiếm 10 trang Công trình này thường được sử dụng như giáo trình giảng dạy về văn học Việt Nam hiện đại ở nhiều trường đại học, cao đẳng và đã được nhà xuất bản Giáo Dục tái bản nhiều lần, gần đây nhất
là lần tái bản thứ ba vào năm 2007 Mã Giang Lân đặt văn học ở Hà Nội và Sài Gòn trong cùng giai đoạn ở cạnh nhau để độc giả có cái nhìn so sánh Ông chia văn học
Hà Nội thành 4 loại: 1-loại phản động đề cao chính quyền quốc gia xuyên tạc kháng chiến; 2-loại sáng tác đi sâu vào tình yêu, khai thác những cuộc ăn chơi hưởng lạc, sa đoạ; 3-loại mô tả hiện thực xã hội bế tắc ngột ngạt vùng tạm chiếm; và 4-loại sáng tác thể hiện tâm sự hướng về kháng chiến Văn học Sài Gòn được chia thành 2 loại: 1-tố cáo tội ác của giặc; và 2-hướng về kháng chiến, kêu gọi nhân dân giúp đỡ bộ đội, giục giã lên đường đánh giặc, bảo vệ quê hương cuộc sống của mình Từ đó, ông rút
ra kết luận văn học 1945-1954 ở Hà Nội và Sài Gòn “đã diễn ra trong những điều kiện, hoàn cảnh tâm lý khác nhau, và từ đó là những bức tranh xã hội được ghi lại theo những khả năng, ý thức khác nhau: Hà Nội mờ nhạt với những chán chường, hoài nghi, bất lực; Sài Gòn sôi động phong phú nhiều mặt đã làm hiện lên đời sống
Trang 21của nhân dân trong cuộc chiến đấu gian khổ và hình ảnh những người chiến sĩ cách mạng quyết tâm bảo vệ quê hương mình” (tr 159) Những nhận định nói trên của Mã Giang Lân chỉ phản ánh được văn học Sài Gòn những năm từ 1945 đến 1950 mà thôi, không bao quát được các năm từ 1950 đến 1954
Năm 1997 có nhiều bài viết về văn học Nam Bộ 1945-1954 như “Sức hấp dẫn của những trang văn ấy” của Trần Hữu Tá và “Nhìn lại văn học kháng chiến chống
Pháp ở Nam Bộ 1945-1954” của Nguyễn Thị Thanh Xuân đăng trên Bình luận văn học Niên giám của Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí Minh,
“Văn xuôi yêu nước và tiến bộ trong các thành thị bị tạm chiếm 1945-1954” của Võ
Văn Nhơn trên tạp chí Khoa học xã hội Các bài viết này đều khái quát một số vấn đề
văn học 1945-1954 bị giới nghiên cứu thờ ơ trong một thời gian, nhưng cũng chỉ
dừng lại ở những nét chấm phá Đến tận năm 2005, trên Nghiên cứu Văn học, Trần
Hữu Tá vẫn còn nhắc nhở nhu cầu cấp thiết về việc sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá toàn diện văn học Nam Bộ nói chung và văn học trong giai đoạn 1945-1954 nói riêng trong bài viết “Những bổ khuyết cần thiết cho bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam hiện đại”
Năm 2001, trong sách Chân dung văn học dài hơn 1.400 trang khảo cứu, phê
bình các tác giả văn học Việt Nam thế kỷ 20, Hoài Anh có dành các mục để viết về Phi Vân, Dương Tử Giang, Lý Văn Sâm và Khổng Dương – những tác giả có truyện xuất bản công khai ở đô thị Nam Bộ 1945-1954, một lượng tác giả quá ít ỏi so với văn học Nam Bộ thời đó và đây đều là những tác giả theo kháng chiến Năm 2005,
Bùi Đức Tịnh chỉnh sửa và bổ sung quyển Văn học sử Việt Nam cho các lớp trung học đệ nhị cấp (1967) dài 356 trang thành Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thuỷ đến cuối thế kỷ XX dài 688 trang, bổ sung thêm rất nhiều tác giả văn học
Liên quan đến giai đoạn 1945-1954, công trình này chỉ nhắc đến đến Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Lý Văn Sâm, Ái Lan, Hoàng Tấn, Khổng Dương, cũng là những tác giả tham gia kháng chiến Những tác giả nổi bật khác cùng thời như Vũ Anh Khanh, Sơn Khanh, Tô Nguyệt Đình, Quốc Ấn, Việt Quang, Bùi Nam Tử, Hồ Hữu Tường… đều không được nhắc đến
Trang 22Năm 2008, nhà xuất bản Văn hoá Sài Gòn ra mắt bộ sách 30 tập “100 câu hỏi đáp về Gia Định – Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” bao quát các lĩnh vực từ địa
lý, lịch sử, chính trị, văn học, báo chí, sân khấu, điện ảnh, kinh tế… nhằm phổ biến thông tin về thành phố đến độc giả đại chúng Văn học ở đô thành Sài Gòn giai đoạn
1954 cũng được nhắc đến trong bộ sách này qua quyển Văn học thời kỳ
1945-1975 do Vũ Hạnh và Nguyễn Ngọc Phan biên soạn Vì hướng đến độc giả đại chúng
nên sách được trình bày khá đơn giản, chỉ tập trung cung cấp thông tin dưới dạng các câu hỏi đáp về vấn đề văn học hoặc cá nhân nhà văn Văn học Sài Gòn 1945-1954 được dành 30 câu trong tổng số 100 câu hỏi, chiếm 138 trang trên tổng số gần 400 trang sách Đối tượng văn học được nhắc đến ở đây có nhà văn, tác phẩm ở thành lẫn
ở chiến khu, có thơ, văn xuôi, nghị luận, kịch và cả văn học dịch Tuy số lượng tác giả, tác phẩm được nhắc đến không phong phú và chi tiết như hai công trình xuất bản năm 1988, các vấn đề cũng không được xâu chuỗi một cách hệ thống theo kiểu các công trình khoa học, nhưng sách này đã cung cấp thêm một số thông tin mới chưa từng được nhắc đến ở các công trình trước kia, chẳng hạn hoạt động của các nhà xuất bản, sự phổ biến của loại sách tư tưởng mới của Les editions sociales ở Sài Gòn, tình hình sáng tác văn học thiếu nhi, đặc biệt dành riêng một câu hỏi-đáp để bàn về ảnh hưởng của văn học nước ngoài đến nền văn chương tranh đấu Ở đây, các tác giả đã dùng cụm từ “đi ngược trào lưu” để chỉ các tác giả đứng ngoài dòng văn học tranh đấu, chứ không phải định ngữ “bồi bút, tay sai” như đã từng xuất hiện trong các sách năm 1988
Năm 2011, tập phê bình, biên khảo Ấn tượng văn chương phương Nam của
Nguyễn Mẫn – con trai nhà văn Tô Nguyệt Đình – ra mắt bạn đọc, góp thêm một công trình phê bình về văn học miền Nam, trong đó có các nhà văn miền Nam giai đoạn 1945-1954 Nguyễn Mẫn qua đời năm 2006 khi bản thảo công trình này còn dang dở Dù vậy, nó vẫn được Nhà xuất bản Thanh Niên cho biên tập và xuất bản 5 năm sau đó Tập sách này gồm những bài biên khảo, phê bình tác phẩm của 15 nhà văn Nam Bộ, trong đó có 7 nhà văn từng có sáng tác văn xuôi công bố ở đô thị trong giai đoạn 1945-1954, là đối tượng nghiên cứu của luận án này, gồm Tô Nguyệt Đình,
Trang 23Thẩm Thệ Hà, Minh Hương, Ái Lan, Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh, Lý Văn Sâm và Phi Vân Nguyễn Mẫn trình bày sơ lược thông tin tiểu sử, nhắc lại những mảnh vụn
ký ức về các tác giả và bình luận theo phong cách trực cảm về các sáng tác của họ Ông bàn nhiều về giá trị nội dung – đặc biệt là nội dung tranh đấu – của các tác phẩm thời kháng Pháp, bộc lộ những rung động trước vẻ đẹp câu chữ, thể hiện sự tri âm và trân trọng tấm lòng của các nhà văn với đất nước và cuộc đời Những thông tin tiểu
sử nhà văn và hoàn cảnh sáng tác mà ông cung cấp giúp người đọc rõ hơn về đời sống văn học lúc bấy giờ
Nhìn chung, kể từ sau khi thống nhất đất nước đến hết thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, nghiên cứu về văn học ở đô thị Nam Bộ hoặc thiên về cung cấp thông tin, hoặc tản mát rời rạc, hoặc được phân tích trên lập trường ý thức hệ nên có phần chưa bao quát đầy đủ đối tượng nghiên cứu
2.1.2.3 Các nghiên cứu sau năm 2011
Sang thập niên thứ hai của thế kỷ 21, khi điều kiện nghiên cứu trong nước có nhiều thay đổi cả về kinh tế lẫn tư tưởng, giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm trở lại văn học Nam Bộ, trong đó có văn học ở thành thị giai đoạn 1945-1954 Để phục hồi sức sống cho một bộ phận văn học từng ít nhiều bị bỏ qua trong quá khứ, đồng thời giúp bổ khuyết bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam hiện đại như ý kiến Trần Hữu Tá đề cập trong bài viết công bố năm 2005, làm cân bằng nhận thức văn học suốt nhiều thập niên bị lệch về phía miền Bắc, các nhà nghiên cứu về văn học Nam
Bộ đặc biệt tập trung vào công tác sưu tầm tài liệu tác phẩm, đồng thời thực hiện các nghiên cứu ở cả diện và điểm, nghĩa là đánh giá một cách hệ thống diện mạo văn học Nam Bộ và nghiên cứu sự nghiệp tác giả từ nhiều góc nhìn khác nhau
Năm 2012, Võ Văn Nhơn và cộng sự hoàn thành công trình nghiên cứu khoa
học cấp Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sưu tầm, khảo sát, đánh giá văn học Nam Bộ 1945-1954 (chưa xuất bản) Công trình gồm “Phần 1: Tổng luận về văn học
Nam Bộ 1945-1954”, trình bày sự phát triển và thành tựu theo các thể loại văn học như thơ, ký, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch và lý luận phê bình ở cả khu vực thành thị
Trang 24lẫn chiến khu; “Phần 2: Những tác giả tiêu biểu” lần lượt phân tích tác phẩm, đánh giá vị trí và đóng góp của 16 nhà văn, nhà thơ Nguyễn Bính, Hoàng Văn Bổn, Tô Nguyệt Đình, Dương Tử Giang, Đoàn Giỏi, Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Bình Nguyên Lộc, Xuân Miễn, Sơn Nam, Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Văn Nguyễn, Lý Văn Sâm, Hoàng Tấn, Phi Vân và Lê Thọ Xuân Vẫn phân chia không gian văn học thành
đô thị và chiến khu như quan điểm của những nhà nghiên cứu đi trước và thực tiễn sáng tác giai đoạn ấy, công trình có một số bổ khuyết đáng kể như tìm hiểu thành tựu dựa trên đặc trưng thể loại, đào sâu và phân tích tác phẩm của các nhà văn, điều mà Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp, Tầm Vu, Viễn Phương ít làm; phân tích văn nghiệp và phong cách viết của các nhà văn ở vùng chiến khu mà Thế Phong, Nguyễn Văn Sâm chưa có điều kiện tiếp cận tư liệu; đánh giá cả nền văn học và cá nhân nhà văn trên lập trường khoa học gắn với điều kiện lịch sử cụ thể thay vì lập trường chính trị vốn thể hiện rất rõ trong các công trình của Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp, Tầm Vu, Viễn Phương Đặc biệt, công trình có đóng góp lớn trong việc sưu tầm lại những tác phẩm văn học giai đoạn 1945-1954 tản mát, thất lạc Tài liệu tác phẩm phục vụ luận án của tôi kế thừa phần lớn từ thành tựu sưu tầm của công trình nghiên cứu này
Năm 2017, Nguyễn Thị Thanh Xuân và cộng sự hoàn thành công trình nghiên
cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Quốc ngữ ở Nam Bộ trước 1954 (Sưu tầm, khảo sát và nghiên cứu)
Công trình gồm 1 chuyên khảo tổng luận chia thành 3 phần, 8 chương khai thác từ lịch sử xã hội, diễn trình sự kiện lý luận phê bình đến phân tích và đánh giá đặc điểm, thành tựu lý luận phê bình; 1 chuyên khảo tác giả nghiên cứu sự nghiệp của 27 cây bút lý luận phê bình; 1 mục lục phân tích tạp chí và 1 bộ văn tuyển Chuyên khảo tổng luận của công trình này được nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2018 với tựa
Nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở Nam Bộ thời kỳ 1865-1954 Các phần viết
về hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình ở Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 trong công trình là đối tượng quan tâm của luận án này, giúp làm sáng tỏ hoạt động sáng tác văn xuôi đương thời mà luận án tìm hiểu Công trình cho thấy ảnh hưởng rất rõ của phê bình vùng chiến khu, kể cả chiến khu miền Bắc, đến hoạt động phê bình và
Trang 25sáng tác văn học ở đô thị miền Nam Công trình cũng phân tích tác phẩm của nhiều cây bút sáng tác văn xuôi thời này đồng thời là nhà phê bình có sách lý luận phê bình dày dặn như Thiên Giang, Hồ Hữu Tường, Thẩm Thệ Hà, Nguyễn Bảo Hoá hoặc các bài viết trên báo chí như Dương Tử Giang, Quốc Ấn, Lý Văn Sâm… Sản phẩm sưu tầm của công trình này cũng là nguồn tài liệu tham khảo rất lớn cho luận án của tôi Ngoài ra, hai đề tài vừa kể trên cũng đã được công bố một phần dưới dạng những
bài báo khoa học trên nhiều tạp chí như Nghiên cứu Văn học, Lý luận phê bình văn học nghệ thuật, Khoa học Xã hội, Phát triển Khoa học và Công nghệ, Xưa và Nay, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TPHCM, Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn…
Năm 2015, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh ra mắt bộ sách
Một thế kỷ văn học yêu nước, cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh 1900-2000 tuyển
in những tác phẩm mang nội dung yêu nước, cách mạng của các nhà văn Sài Gòn –
TP Hồ Chí Minh trong thế kỷ XX, trong đó có 50 tác giả thuộc giai đoạn 1945-1954
Đa phần các tác giả xuất hiện trong bộ sách này được giới thiệu vắn tắt tiểu sử và sự nghiệp sáng tác từ nửa trang đến một trang Bộ sách này cung cấp rất nhiều tài liệu tác phẩm phục vụ luận án
2.1.3 Nghiên cứu ở hải ngoại
Với sự thay đổi tình hình chính trị, xã hội và sự phát triển của Internet, giao lưu nghiên cứu văn học người Việt giữa trong nước và hải ngoại đã cải thiện mạnh mẽ từ đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21 Tuy nhiên, tác giả luận án tự ý thức rằng mình chỉ mới tiếp cận được một phần những công trình nghiên cứu của giới học giả người Việt ở hải ngoại về vấn đề liên quan đến luận án, vì không phải mọi tài liệu đều có thể tìm kiếm trên Internet
Dựa trên những tài liệu mà tác giả luận án thu thập được, có vẻ các nhà nghiên cứu hải ngoại đặc biệt lưu tâm đến việc nghiên cứu văn học miền Nam các giai đoạn trước năm 1945 và giai đoạn 1954-1975 mà lướt qua 9 năm ở đoạn giữa Có rất nhiều
công trình đồ sộ về văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 như bộ Văn học miền Nam (Văn Nghệ, Hoa Kỳ, 1989) gồm 6 tập của Võ Phiến, Văn học miền Nam 1954-
Trang 261975: nhận định, biên khảo, thư tịch (Nguyễn Publishings, Canada, 2016) gồm 2 tập của Nguyễn Vy Khanh, Văn học miền Nam 1954-1975 (Hiên Phật học, 2012) gồm 7 tập của Huỳnh Ái Tông, Bốn mươi năm văn học chiến tranh 1957-1997 (Đại Nam,
Hoa Kỳ, 1997) của Nguyễn Vy Khanh… Có lẽ đây là kết quả của việc các nhà văn hải ngoại sau 1975 ra sức lưu giữ di sản văn học của thế hệ mình
Tuy vậy, văn học ở thành thị Nam Bộ 1945-1954 vẫn được nhắc đến trong các công trình hoặc bài viết cụ thể dưới đây:
Bài viết Miền Nam khai phóng (Nguyễn Vy Khanh, 1999) dành một mục ngắn
để viết về văn học kháng chiến 1945-1954, chỉ nhắc tên các tác giả nổi bật của giai đoạn này như Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm, nhóm Chân Trời Mới Ông nhận định rằng bộ phận văn học tranh đấu 1945-1950 không được nghiên cứu nhiều ở miền Nam trước 1975 vì mâu thuẫn ý thức hệ giữa hai miền, các nhà văn kháng Pháp thời
kỳ 1945-1950 sau này nhiều người tập kết ra Bắc, những người ở lại miền Nam viết văn làm báo lại chuyển hướng viết theo kiểu khác Các công trình của Thế Phong, Nguyễn Văn Sâm là những trường hợp hiếm hoi về chủ đề này
Bài viết Vài ghi nhận về văn học yêu nước (Nguyễn Vy Khanh, 2006) khảo sát
lịch sử văn học yêu nước trong toàn bộ thế kỷ 20, trong đó có văn học yêu nước ở Nam Bộ 1945-1954 Như thể hiện trong tiêu đề, bài viết chỉ dừng lại ở những ghi nhận chung và có phân tích dẫn chứng để làm rõ những ghi nhận ấy, chủ yếu là dẫn chứng thơ Thông tin về các tác giả văn xuôi, lý luận phê bình cũng dồi dào hơn bài viết trước của ông, nhưng vẫn không ra ngoài những tác giả mà Nguyễn Văn Sâm đã nhắc đến từ những năm 1969, 1972
Tập 1 trong bộ sách 7 tập Văn học miền Nam 1954-1975 của Huỳnh Ái Tông
(2012) được dành để giới thiệu các tác giả giai đoạn 1945-1954 vì ông xem giai đoạn này là “thời kỳ quá độ” của giai đoạn 1954-1975 Mỗi tác giả được trình bày thông tin tiểu sử, sự nghiệp sáng tác và trích tác phẩm, do đó gần như Huỳnh Ái Tông không đưa ra quan điểm hay đánh giá nào về các nhà văn này Thông tin ông thu thập được cũng không mới, chủ yếu căn cứ vào các công trình nghiên cứu đã được giới thiệu ở
Trang 27các mục trên của luận án này và các bài viết đã công bố trên Internet Tuy nhiên, tập sách này có giá trị ở chỗ đã quy tụ lượng tác giả đông đảo nhất của miền Nam 1954-
1975 từng bắt đầu sự nghiệp viết văn trước 1954, với 48 tác giả xuất thân ở miền Nam và 25 tác giả di cư từ Bắc vào Nam (tuy nhiên trong số 25 tác giả di cư không phải ai cũng có tác phẩm in sách hoặc đăng báo ở miền Nam giai đoạn 1945-1954)
và mỗi người được dành cho một phần giới thiệu và trích văn riêng, chứ không phải chỉ được nhắc tên
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về văn học ở đô thị Nam Bộ 1945-1954 ở cả trong nước lẫn hải ngoại trong suốt nửa thế kỷ qua tuy số lượng không nhiều nhưng hầu như giai đoạn nào cũng có Có một đặc điểm chung là khi nhắc về văn học giai đoạn 1945-1954 ở đô thị Nam Bộ, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhớ nhiều hơn đến văn học tranh đấu trong khoảng thời gian từ 1945 đến 1950, phần vì đây là những năm tranh đấu công khai sôi nổi gắn với lòng yêu nước muôn thuở của người Việt bất kể đứng từ lập trường ý thức hệ nào, phần vì văn đàn đô thị miền Nam từ sau
1950 đến 1954 đã chuyển hướng và thường được xem là bước đệm cho sự phát triển của văn học giai đoạn sau
2.2 Các nghiên cứu về tác giả
Bên cạnh những phần viết về tác giả trong những công trình tổng hợp nói trên, nhiều tác giả của văn học đô thị Nam Bộ 1945-1954 cũng được tìm hiểu và nhắc tên trong một số công trình, bài báo khoa học, bài báo phổ thông, hoặc trong hồi ký của người cùng thời Thái độ và cách đánh giá của những nhà nghiên cứu về các tác giả giai đoạn này cũng dần có những chuyển biến theo thời gian Những công trình, bài viết này như những mảnh ghép nhỏ đang từng ngày giúp hoàn thiện bức tranh lớn về văn học đô thị Nam Bộ xưa kia
Như một lẽ tất yếu, ở trong nước sau 1975, các tác giả hoạt động cách mạng công khai hoặc bí mật phục vụ công cuộc thống nhất đất nước được nghiên cứu sớm
và đầy đủ hơn những tác giả bị xem là “ở phía bên kia” Những nhà văn đô thị
1945-1954 được nghiên cứu sớm và thường xuyên được nhắc đến ở trong nước là Dương
Trang 28Tử Giang trong công trình Dương Tử Giang cuộc đời và sự nghiệp: nhà báo, nhà văn, nghệ sĩ (1998) của Trương Võ Anh Giang, Ba nhà báo Sài Gòn (2015) của Trần Nhật Vy, các bài báo “Liệt sĩ Dương Tử Giang” (Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1982) của Thanh Giang, “Nhớ Dương Tử Giang” (Văn, 1996) của Hoàng Tấn, “Dương Tử Giang: nhà báo nhà văn yêu nước” (Khoa học Xã hội, 2007) của Nguyễn Thị Trúc Bạch, “Dương Tử Giang nhà văn dấn thân đất Nam Bộ” (Văn nghệ TP Hồ Chí Minh,
2014) của Phan Mạnh Hùng…; Lý Văn Sâm trong các bài viết và công trình sưu tầm,
tái bản do Bùi Quang Huy biên soạn như Trang sách hồng mở giữa đời hoa (2002),
Lý Văn Sâm nhà văn đường rừng (2005), “Lý Văn Sâm một chỗ đứng riêng trên văn đàn” (lời giới thiệu cho tuyển tập tác phẩm Kòn Trô, 2008), bài viết của Nguyễn Công
Lý “Lý Văn Sâm nhà văn tiêu biểu của dòng văn học yêu nước Nam Bộ” (Nghiên cứu Văn học, 2015)…; Thẩm Thệ Hà trong sách Thẩm Thệ Hà thân thế và văn nghiệp (1993) của Thanh Việt Thanh, “Một cây bút khả kính” (Tuổi Trẻ chủ nhật, 2003) của
Trần Hữu Tá
Ngược lại, các nhà nghiên cứu hải ngoại lại quan tâm nhiều đến những nhà văn
đi theo con đường khác Có thể kể đến các nhà văn như Hồ Hữu Tường với các bài
“Hồ Hữu Tường” (2003) của Thuỵ Khuê, “Hồ Hữu Tường và người Mỹ ưu tư” (2008) của Nguyễn Mạnh Trinh, “Hồ Hữu Tường và cái nghiệp làm báo” của Trần Ngươn Phiêu; Vũ Anh Khanh trong “Bến Hải, dòng sông vĩnh biệt của nhà thơ Vũ Anh Khanh” (2010) của Viên Linh, “Tha La xóm đạo và Hoa trắng thôi cài trên áo tím” (2011) của Mặc Lâm, “Vũ Anh Khanh và Tha La xóm đạo” (2013) của Lê Thương… Các nhà văn có cuộc đời và sáng tác “trung lập”, không nghiêng về một phía chính trị nào dễ dàng được giới nghiên cứu trong nước lẫn hải ngoại quan tâm từ sớm Phi Vân được phân tích trong “Đồng quê, dân quê, tình quê trong sáng tác của Phi
Vân” (Nghiên cứu văn học, 2008) của Huỳnh Công Tín, “Phi Vân người mở rộng dải đất Tân Bồi qua tập truyện phong tục Đồng quê” (Quê Nam một cõi, Pháp, 2007) của
Hồ Trường An Bình Nguyên Lộc được nghiên cứu khá nhiều Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào sự nghiệp của ông trong giai đoạn 1954-1975, nhưng cũng có khi
nhắc đến tập truyện Nhốt gió xuất bản năm 1950 Trong nước có các sách và bài viết
Trang 29về ông như “Bình Nguyên Lộc – một bút lực lớn” (lời giới thiệu Tuyển tập Bình Nguyên Lộc 2001) của Nguyễn Q Thắng, “Văn chương Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hoá” (Sông Hương, 2008) của Phạm Phú Phong, Bình Nguyên Lộc với hương gió Đồng Nai (2010) của Nguyễn Q Thắng, “Bình Nguyên Lộc một chuyến đò quê nặng nghĩa tình” (Văn học Đồng Nai lịch sử và diện mạo, 2011) của Bùi Quang Huy,
“Bình Nguyên Lộc và những truyện ngắn giai đoạn 1945-1954” (Khoa học Xã hội,
2011) của Vũ Văn Ngọc; ở hải ngoại có “Bình Nguyên Lộc và tình đất” (1996) của
Nguyễn Vy Khanh, “Bình Nguyên Lộc một nhân sĩ trong làng văn” (Tuyển tập Bình Nguyên Lộc, An Tiêm xuất bản, Paris, 1999) của Võ Phiến, “Bình Nguyên Lộc đất
nước và con người” (2006) của Thuỵ Khuê, “Nhà văn Bình Nguyên Lộc” (2011) của
Đỗ Hữu Phương, “Bình Nguyên Lộc tổng quan văn chương vùng đất Đồng Nai” (2014) của Hồ Trường An…
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, các tác giả Nam Bộ 1945-1954 ngày càng được nghiên cứu nhiều hơn, từ nhiều góc độ, bàn đến nhiều vấn đề, với sự hỗ trợ của nhiều công cụ lý thuyết hơn thông qua các đề tài luận án, luận văn ở các trường đại học, viện nghiên cứu, giúp khắc phục một số thiên kiến đã từng tồn tại trong quá khứ
vì giới hạn lịch sử
Tuy nhiên, các tác giả, tác phẩm trong nửa sau của giai đoạn, tức là từ 1950 đến
1954, vẫn chưa được nhiều người lưu tâm Các nhà văn gạo cội như Phú Đức, Nam Đình, Hồ Biểu Chánh vẫn sáng tác trong những năm này nhưng rất ít nhà nghiên cứu chú ý đến tác phẩm thời kỳ này của họ, nếu có nhắc đến cũng chỉ để phủ nhận hoặc xem như văn chương cấp thấp, rẻ tiền Một số tác giả trẻ thời này đã có sáng tác như Ngọc Sơn, Dương Hà, Bà Tùng Long, Vĩnh Lộc, Hoàng Thu Đông, Cửu Lang (Vân Nga), Linh Bảo, Minh Hương, Nguyễn Đạt Thịnh… nhưng hầu như các nhà phê bình cũng chỉ quan tâm đến sự nghiệp sáng tác về sau (giai đoạn 1954-1975) của họ mà thôi, có lẽ vì vài năm khởi nghiệp này không đáng kể
Nhìn chung, các nghiên cứu tổng hợp và phê bình sự nghiệp, tác phẩm của những nhà văn đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 tuy không phong phú so với các
Trang 30giai đoạn khác trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ 20, nhưng cũng có thể xem là không quá ít ỏi Tuy hầu hết các công trình đều nhìn tác phẩm và nhà văn từ nhãn quan lịch sử, xã hội, nhưng lại hiếm thấy sử dụng lý thuyết phê bình xã hội học hiện đại để tìm hiểu tổng thể văn học đô thị miền Nam giai đoạn này Đây là điều mà luận
án sẽ bổ khuyết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác phẩm văn xuôi xuất bản ở đô thị Nam
Bộ giai đoạn 1945-1954 cùng những tác giả của chúng Liên quan đến đối tượng nghiên cứu này, tác giả luận án lưu ý 3 khía cạnh để xác định phạm vi nghiên cứu:
3.1 Văn xuôi
Khái niệm văn xuôi ở đây được dùng với nghĩa sáng tác văn xuôi hư cấu, nghĩa
là bao gồm truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết, và ký văn học Luận án không nghiên cứu các văn bản văn xuôi khác như nghiên cứu, biên khảo, lý luận, phê bình, ký báo chí, chính luận, xã luận, tin tức, thông báo, các loại văn bản hành chính khác… Tên gọi của các thể loại văn xuôi kể trên trong giai đoạn này bị sử dụng lẫn lộn (vấn đề này được khảo sát kỹ trong Chương 3 của luận án), nên tác giả luận án chọn khái niệm “văn xuôi” để đảm bảo tính bao quát và từ đó có thể làm rõ vấn đề tính chất xã hội của thể loại trong bối cảnh cụ thể này
3.2 Đô thị Nam Bộ
Luận án khảo sát các tác phẩm xuất bản công khai ở đô thị Nam Bộ dưới dạng đăng báo và in sách Kết quả khảo sát tư liệu của người đi trước cũng như của tác giả luận án cho thấy hầu hết tác phẩm văn xuôi đô thị Nam Bộ giai đoạn này được xuất bản ở Sài Gòn, dù Nam Bộ vẫn có những đô thị nhỏ khác như Mỹ Tho, Cần Thơ, Hà Tiên Tuy chỉ khảo sát tác phẩm ở Sài Gòn nhưng luận án vẫn lấy tên “đô thị Nam Bộ” vì xét thấy tính chất đại diện của Sài Gòn cho vùng đất này, đồng thời nhấn mạnh đặc điểm thị dân của đối tượng nghiên cứu Khi xem xét văn học giai đoạn 1945-
1954 ở Nam Bộ lẫn Bắc Bộ, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có hai bộ phận văn học
ở vùng đô thị và vùng kháng chiến với những đặc điểm tương đối khác biệt (Nguyễn
Trang 31Văn Sâm, 1972; Trần Hữu Tá, 2005; Nguyễn Đăng Mạnh, 2008; Võ Văn Nhơn và cộng sự, 2012) Khái niệm đời sống “đô thị” nhấn mạnh yếu tố không gian nơi sản sinh các hoạt động văn hoá, còn khái niệm đời sống “thị dân” nhấn mạnh tính chất thương mại của hoạt động văn hoá đó Các tầng lớp bình dân và trí thức nếu tham gia vào sinh hoạt văn học thông qua việc mua bán tác phẩm hoặc tác động vào giá trị thương mại của tác phẩm nghĩa là họ cấu thành đời sống “thị dân” Ở Nam Bộ 1945-
1954, tính chất thương mại của văn học chủ yếu thể hiện ở khu vực đô thị, vì những vùng ngoài đô thị do chính quyền kháng chiến kiểm soát tiêu thụ văn học theo một kiểu khác, ít tính thương mại hơn Luận án căn cứ nơi xuất bản in trên ấn phẩm để xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu Những tác phẩm xuất bản công khai ở Sài Gòn được viết bởi những nhà văn hoạt động ở chiến khu như Hoàng Tấn, Liên Chớp hoặc các nhà văn lúc bấy giờ vẫn đang sống ở miền Bắc như Linh Bảo, Thuỵ An, Duy Lam vẫn được nghiên cứu trong luận án này
Trong nhiều công trình nghiên cứu văn học, Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 còn được gọi là Nam Kỳ Trong luận án này, chúng tôi sử dụng nhất quán khái niệm Nam
Bộ, vì nó được nhiều chính thể như chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ Hồ Chí Minh sử dụng chính thức ở Việt Nam từ 1945 với tư cách là một bộ phận của nước Việt Nam thống nhất Trái lại, Nam Kỳ là tên gọi của xứ thuộc địa Pháp trước 1945, cũng là tên gọi của vùng đất mà Pháp muốn tái chiếm sau 1945 thông qua kế hoạch chính phủ Nam Kỳ Tự trị Chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại cũng tuyên
bố thống nhất đất nước, gọi Nam Kỳ trước kia là Nam Phần, nhưng khái niệm “Nam Phần” chưa từng xuất hiện trong định danh vùng văn học Những thông tin cụ thể hơn
về diễn biến chính trị ở Nam Bộ và các chính thể trong giai đoạn này được trình bày
cụ thể trong Chương 1 của luận án Luận án sử dụng khái niệm Nam Bộ cho giai đoạn văn học 1945-1954, và chỉ dùng khái niệm Nam Kỳ khi nói về những đối tượng thuộc
về giai đoạn lịch sử mà tên gọi này được sử dụng chính thức
3.3 Giai đoạn 1945-1954
Trang 32Trong phân kỳ văn học hiện đại Việt Nam, giai đoạn 1945-1954 đã được xác lập dựa trên phân kỳ lịch sử và được chấp nhận rộng rãi, gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp tính từ Cách mạng tháng 8/1945 đến Hiệp định Genève tháng 7/1954 Văn học Nam Bộ cũng lấy hai năm này làm mốc để đảm bảo độ thống nhất với văn học cả nước Sự kiện Cách mạng tháng Tám tác động sâu rộng đến đời sống
xã hội lẫn tâm tư nghệ sĩ dẫn đến bước ngoặt trong tiến trình văn học ở Nam Bộ, vì vậy mốc mở đầu là tháng 8/1945 là hợp lý Tuy nhiên, mốc kết thúc là năm 1954 có thể hiểu một cách tương đối, linh hoạt Đời sống văn nghệ ở Sài Gòn không lập tức thay đổi sau hiệp định Genève mà có những bước chuyển khó thấy hơn và chỉ thực
sự bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi chính quyền vào tháng 10/1955, khi Quốc gia Việt Nam sụp đổ và Việt Nam Cộng hoà ra đời Do đó, các tác phẩm ra mắt công chúng vào nửa cuối năm 1954 sau hiệp định Genève, thậm chí một số truyện feuilleton kéo dài liên tục từ năm 1954 sang đầu năm 1955 vẫn được khảo sát trong luận án này
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phê bình xã hội học: Đây là phương pháp chính, được sử dụng
trong toàn bộ luận án Phương pháp phê bình xã hội học gồm nhiều trường phái, khuynh hướng có thể vận dụng để bóc tách, soi tỏ tác phẩm văn học trong mối quan
hệ với nhà văn và độc giả cùng bầu khí quyển chung của thời đại Luận án sử dụng
lý thuyết của nhiều trường phái phê bình xã hội học khác nhau như phê bình Marxist, phê bình theo lý thuyết “trường” của Pierre Bourdieu, lý thuyết diễn ngôn, xã hội học thể loại Nội dung của các trường phái lý thuyết này và mức độ phù hợp, khả năng
và cách thức vận dụng chúng trong việc nghiên cứu đối tượng của luận án sẽ được trình bày chi tiết trong Chương 1
Trong quá trình vận dụng phương pháp phê bình xã hội học để nghiên cứu đối tượng, luận án còn sử dụng một số phương pháp khác có liên quan, bao trùm hoặc chồng lấn với phương pháp này:
Phương pháp thực chứng-lịch sử: Phương pháp thực chứng là một trong những
phương pháp quan trọng hàng đầu của xã hội học nói chung và phê bình xã hội học
Trang 33nói riêng Nó đề cao – thậm chí có lúc tuyệt đối hoá – sức mạnh của những sự kiện xác thực và cho rằng mọi nhận xét, kết luận chỉ có thể căn cứ trên dữ liệu được xác minh là có thật chứ không phải là những biện luận suy diễn Phương pháp thực chứng được triển khai qua các bước thống kê dữ kiện-mô tả-phân tích-kết luận Áp dụng phương pháp này, tác giả luận án thống kê thông tin chi tiết và tóm tắt các tác phẩm văn xuôi xuất bản ở đô thị Nam Bộ 1945-1954 (Phụ lục 1), thống kê danh sách tác giả kèm thông tin vắn tắt về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác (Phụ lục 2) để làm căn cứ cho việc mô tả và phân tích Tác giả luận án tiếp cận hầu hết tác phẩm trong Phụ lục
1, còn một số ít chưa tiếp cận được thì đều có thông tin trích xuất từ những nguồn đáng tin cậy như biên mục của các thư viện (có ghi nguồn cụ thể), tài liệu nghiên cứu của người đương thời, đảm bảo tính xác thực của dữ kiện Lịch sử chính trị xã hội ở Nam Bộ 1945-1954 vừa phức tạp vừa đã lùi xa nên việc đảm bảo tính xác thực hoàn toàn là rất khó khăn Tác giả luận án cố gắng đảm bảo tính chính xác, có thật của sự kiện bằng cách đối chiếu các nguồn tài liệu lịch sử được viết từ nhiều phía chính trị khác nhau, vì quan điểm có thể khác nhưng sự kiện nếu cùng được nhắc đến thì không thể được bịa ra Việc đề cao minh chứng giúp phương pháp thực chứng đầy tính thuyết phục, nhưng tuyệt đối hoá minh chứng lại làm hạn chế, thậm chí sai lệch khả năng tri nhận thực tại, đặc biệt là thực tại trong quá khứ, vì những thứ xác minh được chưa hẳn đã là toàn bộ thực tại Do đó, phương pháp thực chứng phải đi kèm với phương pháp lịch sử, cho phép người nghiên cứu đưa ra những biện luận, suy luận có tính chất logic lịch sử dựa trên những minh chứng hạn chế sẵn có để có thể nhận định bao quát và đúng đắn hơn về đối tượng Trong điều kiện cho phép, tác giả luận án thu thập số liệu về tình hình dân số, xuất bản, phát hành và tiêu thụ báo chí, sách in ở Sài Gòn trong một số giai đoạn, từ đó suy luận về tình hình xuất bản, phát hành, tiêu thụ
ở Sài Gòn giai đoạn 1945-1954 Lượng dữ liệu thực chứng thu thập được về văn xuôi
ở Sài Gòn trong chặng 1950-1954 không thật sự dồi dào, rất có thể là do phần lớn đã thất lạc quá lâu, nhưng dựa trên mô tả của người đương thời, các quan sát và suy luận
từ tình hình chính trị, xã hội cho phép tác giả luận án nhìn vượt lên trên lượng dữ kiện thực chứng để đưa ra những kết luận hợp lý hơn
Trang 34Phương pháp so sánh: Luận án sử dụng phương pháp so sánh để chỉ ra một vài
điểm tương đồng và khác biệt giữa văn học Sài Gòn và Hà Nội trong giai đoạn
1945-1954, văn học Sài Gòn 1945-1954 với các giai đoạn văn học liền trước và sau nó, giữa các dòng văn học trong cùng giai đoạn, giữa hành trạng và vị trí của các nhà văn với nhau, giữa các giai đoạn sáng tác trong cuộc đời của một nhà văn có tác phẩm văn xuôi xuất bản ở Sài Gòn giai đoạn 1945-1954 Luận án có đưa ra một vài kiến giải cho những sự tương đồng và khác biệt này
Phương pháp hệ thống: Phương pháp này đòi hỏi phân tích đối tượng nghiên
cứu trong các mối liên hệ có tính chất hệ thống, nghĩa là chỉ ra được các quan hệ như quan hệ tôn ti, quan hệ chính-phụ, quan hệ nhân-quả bên trong đối tượng và giữa đối tượng với các yếu tố bên ngoài nó, tái hiện đối tượng theo một trật tự nhất định Vận dụng phương pháp này kết hợp với kết quả từ phương pháp so sánh kể trên, luận
án cố gắng đặt văn xuôi đô thị Nam Bộ trong hệ thống văn xuôi đô thị cùng thời và
hệ thống văn học Việt Nam hiện đại nói chung Tuy nhiên trọng tâm của luận án vẫn
là phân tích văn xuôi đô thị Nam Bộ 1945-1954 trong hệ thống hoàn chỉnh của nó, gắn với thiết chế chính trị, xã hội, pháp luật đặc thù của giai đoạn, chỉ ra những dòng văn học trung tâm và ngoại biên trong từng chặng khác nhau của giai đoạn này
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Về mặt lịch sử văn học, luận án là sự tiếp nối các công trình khái quát đi trước
về văn học Nam Bộ 1945-1954, nghiên cứu sâu một khoảng đối tượng hẹp hơn là văn học ở khu vực đô thị, bổ sung và hệ thống những thông tin tác giả, tác phẩm, độc giả
và môi trường văn học đô thị trong cả giai đoạn, góp phần làm rõ hơn những khoảng
mờ trong bức tranh lịch sử văn học Việt Nam hiện đại
Về mặt lý luận văn học, luận án là một trường hợp vận dụng các trường phái lý thuyết phê bình xã hội học khác nhau vào việc nghiên cứu văn học Nam Bộ, trong đó
có trường phái còn tương đối mới, chưa được áp dụng phổ biến ở Việt Nam là lý thuyết “trường” văn học của Pierre Bourdieu
Trang 356 Cấu trúc của luận án
Theo Quyết định Số 166/QĐ-ĐHQG của Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh về việc Ban hành quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ ký ngày 26 tháng 02 năm
2018 và đang có hiệu lực, không có nội dung nào yêu cầu luận án phải trình bày phần tổng quan nghiên cứu vấn đề thành một chương hay luận án phải có kết cấu từ 4 chương trở lên Do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, chúng tôi quyết định trình bày lịch sử nghiên cứu văn xuôi Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 trong phần Mở đầu,
và cấu trúc nội dung chính của luận án thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lịch sử và lý thuyết Chương này lần lượt trình bày
về bối cảnh chính trị, xã hội, văn hoá ở Sài Gòn giai đoạn 1945-1954 và lý thuyết phê bình xã hội học, từ đó phân tích khả năng áp dụng các trường phái lý thuyết phê bình
xã hội học vào việc nghiên cứu văn xuôi ở Sài Gòn giai đoạn này Chương này có ý nghĩa cung cấp thông tin bối cảnh và phân tích tính hợp lý của việc lựa chọn công cụ nghiên cứu liên quan đến đối tượng và bối cảnh ấy nên người viết chú trọng trình bày thông tin sự kiện và mô tả đời sống giai đoạn 1945-1954 một cách khách quan nhất
có thể, căn cứ các nguồn tài liệu khác nhau Mối quan hệ và ý nghĩa của các sự kiện chính trị, đời sống xã hội với hoạt động văn học nói chung và văn xuôi nói riêng sẽ được phân tích ở chương 2 bằng việc vận dụng công cụ nghiên cứu
Chương 2: Văn xuôi ở đô thị Nam Bộ 1945-1954 nhìn từ xã hội học văn cảnh
Chương này tìm hiểu đối tượng nghiên cứu từ các yếu tố ngoài văn bản tác động đến
Trang 36quá trình sáng tạo và tiếp nhận, sản xuất và tiêu thụ tác phẩm Các thông tin về bối cảnh chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá đã nêu ở Chương 1 được sử dụng ở đây để phân tích mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và công chúng trong giai đoạn này Người viết lần lượt trình bày về đời sống chính trị xã hội đã ảnh hưởng đến người viết lẫn người đọc và được ghi lại trong tác phẩm ra sao; quy luật kinh tế trong hoạt động báo chí, xuất bản chi phối sự sản xuất và tiêu thụ tác phẩm như thế nào; tiểu sử, đời tư, giai tầng của tác giả cùng truyền thống văn hoá, thị hiếu của công chúng vùng Nam Bộ chi phối tác phẩm qua những cách thức gì
Chương 3: Văn xuôi ở đô thị Nam Bộ 1945-1954 nhìn từ xã hội học văn bản
Chương này nghiên cứu một số yếu tố của văn bản tác phẩm như thể loại, nhân vật
và ngôn từ nghệ thuật từ góc nhìn xã hội, nghĩa là việc gọi tên thể loại của một tác phẩm, miêu tả một hành động của nhân vật hay lựa chọn từ ngữ để kể chuyện đều không được xem từ góc độ sở thích, lựa chọn hay năng lực nghệ thuật của cá nhân nhà văn mà là kết quả của tương tác tập thể trên quy mô rộng, là truyền thống hoặc phản ứng có tính chất địa lý và thời đại của một cộng đồng
Trang 37CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT
Chương này lần lượt trình bày ba vấn đề: bối cảnh lịch sử, xã hội ở đô thị Nam
Bộ giai đoạn 1945-1954, lý thuyết phê bình xã hội học được sử dụng làm công cụ nghiên cứu trong luận án, và khả năng vận dụng phê bình xã hội học vào việc nghiên cứu tác phẩm và hoạt động sáng tác văn xuôi trong bối cảnh này Những thông tin về lịch sử, xã hội ở chương này được trình bày theo kiểu sử liệu, sẽ được dùng làm chất liệu để khai thác làm rõ tính xã hội của văn xuôi đô thị Nam Bộ 1945-1954 ở chương
2 và chương 3
1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội, văn hoá ở Sài Gòn 1945-1954
Giai đoạn 1945-1954 tuy ngắn nhưng lại là một giai đoạn có nhiều biến động trong lịch sử đất nước nói chung, lịch sử Nam Bộ nói riêng Nhiều sự kiện chính trị trong giai đoạn này xảy ra dồn dập và có tính chất bước ngoặt, đặt mỗi cá nhân con người trước những lựa chọn lớn lao của cuộc đời mình Đất nước vừa tan tác, phân
ly lại vừa thống nhất, đoàn kết vô cùng mạnh mẽ Văn học của một thời đại đầy bão táp như thế tất yếu in đậm dấu ấn của đời sống chính trị, xã hội Phần viết này hệ thống những chuyển biến quan trọng của lịch sử chính trị, xã hội ở Nam Bộ từ sự kiện Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3/1945 đến hiệp định Genèrve ngày 7/5/1954,
để phần nào tái hiện không khí thời đại mà các nhà văn Nam Bộ ngày ấy đã sống và
viết Phần viết tổng hợp thông tin từ các tài liệu Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 1: Lịch sử do Trần Văn Giàu chủ biên, Hồi ký 1925-1964, tập 2 của Nguyễn Kỳ Nam, Sài Côn cố sự của Bằng Giang, hồ sơ chính trị Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1945-1967 (The United States – Vietnam Relations 1945-1967) của Lầu
Năm Góc, và một số bài viết trên báo chí đương thời
1.1.1 Những biến động chính trị
1.1.1.1 Đêm trước Cách mạng tháng Tám
Trang 38Năm 1945, Nam Bộ đầy những hỗn loạn chính trị Không chỉ đi cùng những biến động chung của cả nước, Nam Bộ (Cochinchine) với đặc thù chính trị riêng – là thuộc địa của Pháp, khác với Bắc Bộ (Tonkin) và Trung Bộ (Annam) là xứ bảo hộ –
đã đối mặt với những sóng gió lịch sử riêng, khác biệt với phần còn lại của đất nước Tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương, kết thúc 5 năm Nhật chia sẻ quyền lợi cai trị với Pháp trên xứ này Để xoá bỏ toàn bộ quyền lực của Pháp ở Việt Nam, Nhật hậu thuẫn cho Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, huỷ những hiệp ước mà triều đình nhà Nguyễn đã ký với Pháp trước kia, đồng thời thành lập chính quyền bản xứ thay thế chính quyền Pháp Việt Nam thống nhất về mặt danh nghĩa Nam Kỳ được đổi tên thành Nam Bộ và được trả về đất nước sau hơn 70 năm
là phần lãnh thổ thuộc “chủ quyền toàn vẹn của nước Pháp” (Hoà ước Giáp Tuất, 1874) bên kia Thái Bình Dương Chính quyền mới đặt tên nước là Đế quốc Việt Nam,
có hoàng đế là Bảo Đại và thủ tướng là Trần Trọng Kim, nhưng họ không có quyền lực thực sự nào vì toàn bộ quân đội, kinh tế, ngoại giao đều do Đế Quốc Nhật Bản quyết định Khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh ngày 15-8-1945, chính quyền Đế quốc Việt Nam không được quốc tế công nhận nên cũng tự động tan
rã Sau khi tuyên bố thành lập chính quyền vào tháng 3-1945, Hoàng đế Bảo Đại bổ nhiệm Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Kỳ, nhưng trên thực tế nhà cầm quyền Nhật dùng dằng không muốn bàn giao Nam Kỳ cho chính quyền Bảo Đại Mãi đến 24-8-1945 Nguyễn Văn Sâm mới từ Huế vào Sài Gòn nhậm chức khâm sai, đúng vào ngày nhân dân Nam Bộ cướp chính quyền thành công (Nguyễn Kỳ Nam, 1964, tr 34-48) Điều này có nghĩa là trong suốt 5 tháng tồn tại của Đế quốc Việt Nam, Nam
Bộ thực tế không có chính quyền người Việt nào cả, mà nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của phát-xít Nhật
Thời gian này, những biến động trên chiến trường và chính trường thế giới vang dội vào mọi ngõ ngách thuộc địa Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung lợi dụng việc Phát-xít đang thất thế trước quân Đồng Minh để chuẩn bị cho việc lật đổ ách cai trị của Nhật Ở Nam Bộ lúc này có rất nhiều lực lượng và tổ chức yêu nước cùng hoạt động như Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Quốc gia Thống nhất, Việt Nam Quốc gia
Trang 39Độc lập Đảng, cộng sản Đệ Tam, cộng sản Đệ Tứ, Thanh niên Tiền phong, Phụ nữ Tiền Phong, Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo, Tịnh Độ cư sĩ Mối quan hệ giữa những lực lượng này rất phức tạp, vừa đoàn kết lại vừa mâu thuẫn, vừa bao trùm, chứa đựng, đan cài lẫn nhau vừa chống lại nhau, có khi vừa là sản phẩm của chính quyền lại vừa chống chính quyền Tổ chức Thanh niên Tiền phong vốn được thành lập dưới sự ủng
hộ thống đốc Nam Kỳ người Nhật là Minoda nhằm tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng Nam Kỳ với Đế quốc Nhật Bản, nhưng lại là lực lượng chính tham gia cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám ở Nam Bộ Những lãnh đạo cốt cán của Thanh niên Tiền phong như Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát là đảng viên cộng sản bí mật Trước Cách mạng tháng Tám, Thanh niên Tiền phong với tôn chỉ xã hội rộng rãi, không phân biệt chính trị tôn giáo nên phát triển lực lượng vô cùng mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành lực lượng có quy mô đông nhất Nam Bộ, thực hiện rất nhiều hoạt động như cứu trợ nạn nhân trong các vụ ném bom của quân Đồng Minh lên Đông Dương thuộc Nhật, chuyển gạo cứu đói cho miền Bắc (Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng & Nguyễn Công Bình, 1998, tr 426-427) Phía chính quyền người Việt có Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng do Khâm sai Nam Kỳ Nguyễn Văn Sâm và chánh văn phòng Khâm sai là Hồ Văn Ngà thành lập, sau này Hồ Văn Ngà đứng ra kêu gọi các lực lượng yêu nước tham gia mặt trận Quốc gia Thống nhất do ông làm chủ tịch Thanh niên Tiền phong ban đầu tham gia Mặt trận Dân tộc Thống nhất, sau đó gia nhập Mặt trận Việt Minh Mặt trận Việt Minh gồm nhiều lực lượng yêu nước với tôn chỉ khác nhau, nòng cốt là cộng sản Đệ Tam Với chiến lược binh vận, Mặt trận lôi kéo, thu hút được đáng kể lính khố xanh – binh lính người Việt phục vụ trong quân đội chính quyền Pháp, sau chuyển sang phục vụ chính quyền Nhật – tham gia lực lượng cách mạng (Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng & Nguyễn Công Bình, 1998, tr 423) Khác với Bắc Bộ và Trung Bộ, hoạt động chính trị ở Nam Bộ có sự góp mặt đáng kể của các tổ chức tôn giáo và cả giới giang hồ Lực lượng quân sự của Cao Đài, Hoà Hảo, và Bình Xuyên rất mạnh, có đóng góp trong hoạt động cướp chính quyền Người dân Nam Bộ sống đời tôn giáo và chính trị không tách rời, họ rất dễ nghe theo lời hiệu triệu của các lực lượng tôn giáo Lực lượng giang hồ trong mắt người Nam
Trang 40Bộ không hoàn toàn gắn với cái xấu mà còn là biểu tượng của anh hùng trượng nghĩa,
do đó dễ huy động sự ủng hộ của quần chúng Tất cả các tổ chức, lực lượng nói trên
đã tạo nên sự đa dạng, mạnh mẽ, nhưng cũng rất phức tạp của cách mạng tháng Tám
Quân đội Anh và quân đội Tưởng Giới Thạch chia nhau đổ vào phía nam và bắc
vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng) để giải giáp quân Nhật Thực dân Pháp cậy mình là thành viên của Đồng Minh – phe chiến thắng trong thế chiến – theo chân quân Anh vào Nam Bộ rắp tâm chiếm lại thuộc địa cũ từ tay phát-xít thua trận Nguy cơ bị tái xâm lăng đã khiến cho dân chúng và các lực lượng chính trị ở Nam Bộ đồng loạt đối mặt với giặc ngoài, trong khi hỗn loạn chính trị tạo điều kiện cho sự phát triển của thù trong, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn vừa một lòng chống Pháp lại vừa nghi kỵ nhau trong lòng Nam Bộ Vì căm ghét Pháp và chống lại ý chí tái xâm lăng của thực dân Pháp, một
số lực lượng vũ trang và thường dân tấn công thường dân Pháp còn sinh sống ở Sài Gòn Để chống lại chính quyền kháng chiến, Pháp viện cớ Lâm uỷ Hành chính không kiểm soát được trật tự trị an, nghĩa là không đại diện cho ý chí của toàn dân Nam Bộ (Nguyễn Kỳ Nam, 1964, tr 228), rồi nổ súng tấn công Lâm uỷ hành chính Nam Bộ vào ngày 23-9 Xung đột vũ trang nổ ra dữ dội ở Sài Gòn, sau đó lực lượng kháng chiến yếu hơn, phải rút ra vùng nông thôn Quân kháng chiến tổ chức nhiều đợt tấn