MỤC TIÊU: - Nghiên cứu hình tượng nhân vật yak trong truyện kể dân gian Thái Lan dưới hai góc nhìn: văn bản phương diện nội dung cốt truyện và ngoài văn bản phương diện tôn giáo – văn h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP
TRƯỜNG NĂM 2019
ĐỀ TÀI:
HÌNH TƯỢNG YAK TRONG TRUYỆN KỂ DÂN
GIAN THÁI LAN
Nhóm sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Trần Khoa Nguyên
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019
Trang 2ĐHQG-HCM Trường ĐHKHXH&NV Ngày nhận hồ sơ
Do P.QLKH-DA ghi Mẫu: SV 02
Thành phần tham gia thực hiện đề tài
Trần Khoa Nguyên 0832664910 nguyentrk@gmail.com
TP.HCM, tháng 05 năm 2019
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Khoa Đông phương học
HÌNH TƯỢNG YAK TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN THÁI LAN
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
DẪN NHẬP 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
7 Bố cục của đề tài 11
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 12
1.1 Đôi nét về truyện kể dân gian Thái Lan 12
1.1.1 Khái niệm và phân loại 12
1.1.1.1 Khái niệm 12
1.1.1.2 Phân loại 14
1.1.2 Mối liên hệ với các dòng văn học khác 17
1.1.3 Vị trí truyện kể dân gian Thái Lan trong tiến trình văn hoá Đông Nam Á 23
1.1.3.1 Tính dân tộc và tính ngoại lai 23
1.1.3.2 Tính thống nhất trong sự đa dạng 26
1.2 Quỷ: Nguồn gốc và khái niệm 31
1.2.1 Nguồn gốc 31
1.2.2 Khái niệm 38
1.3 Lý thuyết của Vladimir Propp và các khả năng ứng dụng 42
1.3.1 Lý thuyết về hành động chức năng xoay quanh nhân vật 43
1.3.2 Lý thuyết về nguồn gốc sự kiện lịch sử - dân tộc học trong các thành tố cấu thành truyện cổ tích 47
1.3.3 Trường hợp nhân vật yak 50
1.4 Tiểu kết chương 1 52
Chương 2 HÌNH TƯỢNG YAK NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG CỐT TRUYỆN 53
2.1 Đặc điểm của hình tượng yak trong truyện kể dân gian Thái Lan 53
2.1.1 Đặc điểm định danh 53
2.1.1.1 Tên gọi 53
2.1.1.2 Phân loại 57
Trang 52.1.2 Đặc điểm tâm lý – hành động dựa trên sơ đồ 5 chặng (trong mối tương quan với
nhân vật chính) 61
2.1.2.1 Sơ đồ 5 chặng: Một đặc trưng phân bố cốt truyện dân gian Thái Lan 61
2.1.2.2 Sự tham gia tương tác của hình tượng yak trong từng chặng và các biện pháp nhuận sắc cốt truyện 65
2.1.2.3 Hiện tượng chuyển nhóm nhân vật hành động trong cốt truyện 77
2.2 Chức năng của hình tượng yak trong truyện kể dân gian Thái Lan 80
2.2.1 Truy hại 80
2.2.2 Bảo trợ 86
2.2.3 Thưởng – phạt 89
2.3 Tiểu kết chương 2 91
Chương 3 HÌNH TƯỢNG YAK NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TÔN GIÁO – VĂN HOÁ 92
3.1 Nguồn gốc tôn giáo trong một số hành trạng của hình tượng 92
3.1.1 Mối quan hệ giữa raksha, asura và yak 92
3.1.2 Sự đụng độ quỷ – thần và hành trạng Phật vụ của quỷ 95
3.1.2.1 Nguồn gốc hành trạng “sự đụng độ quỷ – thần” trong bối cảnh Hindu giáo 95
3.1.2.2 Nguồn gốc hành trạng “sự được cảm hoá và thực hành Phật vụ” trong bối cảnh Phật giáo 102
3.2 Sự tiếp biến trong cách thức xây dựng hình tượng 107
3.2.1 Lưỡng tính hoá 107
3.2.1.1 Yak – thần 108
3.2.1.2 Yak – hồn ma/ linh hồn 110
3.2.2 Nhân tính hoá 114
3.2.3 Thiêng hoá 117
3.3 Tiểu kết chương 3 122
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC 135
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quá trình biến đổi của một số tác phẩm tự sự dân gian lớn ở Thái Lan 19
Sơ đồ 1.2: Hai yếu tố cấu thành folklore trong truyện kể dân gian Thái Lan 26
Sơ đồ 1.3: Con đường tiếp nhận khái niệm yak trong ngữ cảnh văn hoá – ngôn ngữ Thái 40
Sơ đồ 1.4: Sự khu biệt khái niệm “yak” trong tiếng Thái và “quỷ” trong tiếng Việt 42
Sơ đồ 6 2.1: Sơ đồ 5 chặng – Bản hoàn chỉnh và đầy đủ 64
Sơ đồ 7 2.2: Diễn biến mạch kể của chặng 1 66
Sơ đồ 8 2.3: Diễn biến mạch kể của chặng 2 68
Sơ đồ 9 2.4: Diễn biến mạch kể của chặng 3 70
Sơ đồ 10 2.5: Diễn biến mạch kể của chặng 4 74
Sơ đồ 11 2.6: Diễn hoá motif “quỷ nhận con nuôi” 84
Sơ đồ 12 2.7: Kí hiệu hoá motif “quỷ nhận con nuôi” theo lý thuyết 31 hành động chức năng của V Propp 85
Sơ đồ 13 2.8: Chuỗi hành động chức năng 3 chặng của cốt truyện Phra Rot Meree 86
Sơ đồ 14 3.1: Quá trình “Phật hoá” các yếu tố folklore trong truyện kể dân gian Thái Lan 106
BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Thống kê và phân loại số lượng đầu truyện sử dụng trong bài luận 17
Bảng 1.2: So sánh một vài đặc điểm nhân vật trong tác phẩm tự sự văn học dân gian và tác phẩm tự sự văn học viết 20
Bảng 1.3: Sự phân bố của 7 nhóm nhân vật vào các hành động chức năng của nhân vật theo lý thuyết của Propp 46
Bảng 4 2.1: Bảng tên gọi của 57 nhân vật quỷ xuất hiện trong danh mục các truyện đang xét 55 Bảng 5 2.2: Sự tham gia của hình tượng quỷ vào các nhóm nhân vật trong lý thuyết 7 nhóm nhân vật hành động của V Propp 57
Bảng 6 2.3: Sự chuyển đổi giữa các nhóm nhân vật hành động trong cốt truyện 79
Bảng 7 2.4: Các nội dung truy hại của nhân vật yak 82
Bảng 8 2.5: Các nội dung bảo trợ của nhân vật yak 87
Bảng 9 2.6: Các nội dung thưởng của nhân vật yak 89
Bảng 10 3.1: So sánh sơ lược Ramayana và Ramakien qua một số kiểu motif tiêu biểu 102
Bảng 11 3.2: So sánh cặp hành trạng “cuộc đụng độ quỷ - thần” và “sự được cảm hoá và thực hành Phật vụ” 103
Trang 7TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Tên đề tài: Hình tượng yak trong truyện kể dân gian Thái Lan
Người thực hiện: Trần Khoa Nguyên
Khoa: Đông phương học Ngành: Thái Lan học
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đào Thị Diễm Trang
Thời gian thực hiện: 10/2018 – 05/2019
A MỤC TIÊU:
- Nghiên cứu hình tượng nhân vật yak trong truyện kể dân gian Thái Lan dưới hai góc nhìn: văn bản (phương diện nội dung cốt truyện) và ngoài văn bản (phương diện tôn giáo – văn hoá), từ đó làm nổi bật lên các đặc trưng riêng biệt của hình tượng: Đối với đặc trưng về văn học dân gian, làm sáng tỏ mối liên hệ mang tính tương tác giữa hành trạng nhân vật đang xét với các nhân vật khác trong diễn biến cốt kể; đối với đặc trưng
về văn hoá – tôn giáo, làm sáng tỏ mối liên hệ mang tính tiếp biến của nhân vật và hình chiếu của chúng trong các bối cảnh văn hoá xã hội và tôn giáo khác nhau, từ đó cho thấy được sự sáng tạo và khả năng chuyển hoá các yếu tố folklore của người Thái Lan
- Kiến tạo được một hệ thống truyện kể dân gian có chứa hình tượng đang xét thông qua việc chuyển dịch và tóm tắt các văn bản kể từ tiếng Anh, tiếng Thái sang tiếng Việt, bên cạnh nguồn truyện kể dân gian tiếng Việt sưu tầm được, từ đó phục vụ cho việc học tập
và nghiên cứu ngôn ngữ, văn hoá và văn học Thái Lan
B NỘI DUNG CHÍNH:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
- Xác định và đánh giá một cách tổng quan khái niệm truyện kể dân gian trong bối cảnh học thuật Thái Lan, từ đó thấy rằng đây là một khái niệm mang nội hàm rất rộng Không đơn thuần chỉ là đề cập đến truyện cổ tích, khái niệm này còn mở rộng ra để chỉ trên các thể loại tự sự dân gian bên trong nó
- Xác định và đánh giá về tính không thống nhất giữa các bối cảnh văn hoá – tôn giáo của hình tượng yak qua việc đặt chúng trong một môi trường cụ thể là Thiên Chúa giáo
và Phật giáo Sự thể hiện hành trạng của hình tượng trong từng môi trường khác nhau là khác nhau, nhưng cùng thể hiện một đặc tính nhị nguyên khá rõ nét
- Xác định và đánh giá khả năng vận dụng của hệ thống 7 nhóm nhân vật và 31 hành động chức năng trong khuôn khổ của lý thuyết V Propp đối với hình tượng yak trong truyện kể dân gian Thái Lan
Trang 8Chương 2: Hình tượng yak nhìn từ phương diện nội dung cốt truyện
- Đề xuất một sơ đồ mang tính dùng chung khi nói về hành trình/ vòng đời của nhân vật chính trong truyện kể Thái Lan, đặc biệt là truyện cổ tích, đó là sơ đồ 5 chặng hành trình
Từ đó thấy được vai trò và khả năng tương tác vào cốt truyện của nhân vật yak đối với từng chặng
- Chỉ ra ba chức năng cơ bản của hình tượng yak đối với các nhân vật khác trong diễn biến cốt truyện Phân tích hai motif tiêu biểu để làm rõ hơn vai trò của hình tượng khi đảm nhiệm các chức năng trên với tư cách của một nhân vật hành chức
Chương 3: Hình tượng yak nhìn từ phương diện tôn giáo - văn hoá
- Nghiên cứu hai kiểu hành trạng lớn và phổ quát của hình tượng yak để tìm ra các cội
rễ tôn giáo tàng ẩn đằng sau hành trạng của nhân vật này trong truyện kể Qua đó có thể thấy được các đặc trưng của Hindu giáo (cảm hứng tôn thần) và Phật giáo (cảm hứng hoà bình) trong các yếu tố folklore được rút ra từ truyện kể
- Đề xuất và phân tích ba cách thức mà các nghệ nhân dân gian Thái Lan xây dựng hình tượng yak trong truyện kể, từ đó thấy được những nét riêng mang đậm tính dân tộc của các cách thức xây dựng này Thông qua đó, diện mạo đặc biệt và độc đáo của hình tượng yak trong truyện kể được thể hiện rõ nét, với hình chiếu sống động có xuất phát điểm là các yếu tố tôn giáo và văn hoá Thái Lan được truyền tụng từ xa xưa cho đến ngày nay
Trang 9DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Thực hiện đề tài này, chúng tôi xuất phát từ bốn lý do sau:
Đầu tiên có thể thấy hiện nay, mối quan hệ giữa văn học dân gian và các ngành khoa học khác, đặc biệt là hình thái học và văn hoá học luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều học giả nghiên cứu Bởi nói đến lĩnh vực của văn học dân gian, đặc biệt là truyện
kể dân gian, là nói đến cả một nền văn hoá sống động đang ẩn mình Xu hướng nghiên cứu liên ngành văn học – văn hoá – tôn giáo đang dần được quan tâm nhiều hơn Truyện
kể dân gian, một bộ phận của văn học dân gian, là môi trường lý tưởng để folklore dân gian được truyền thừa và phát triển một cách sinh động Đằng sau những chi tiết, hình tượng, motif,… là những hình chiếu folklore rất đặc thù Thông qua các thành tố cấu thành truyện kể, folklore không chỉ được phản ánh một cách nguyên vẹn mà còn được biến báo tinh vi, mang đậm nếp nhìn, nếp nghĩ cũng như tài năng sáng tạo của tập thể nhân dân lao động Có thể thấy, kể từ khi môn khoa học nghiên cứu các tác phẩm tự sự dân gian xuất hiện và đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định sự hoà quyện, tương giao đối với các thành tố nội sinh trong văn bản như sự tương tác giữa các hình tượng, các vấn đề về hình thái học, cấu trúc chức năng của hình tượng,… đối với các thành tố ngoại sinh ngoài văn bản như các hình chiếu văn hoá, các giá trị về mặt dân tộc học, nhân chủng học, tâm lý tộc người,… Vì văn bản tự sự dân gian luôn mang một cấu trúc mở nhất định như vậy, nên nghiên cứu truyện kể dân gian nói chung và các thành tố cấu thành truyện kể nói riêng là một việc làm cần thiết và ít nhiều mang ý nghĩa học thuật cũng như ứng dụng, giúp cho người nghiên cứu có thể tiếp cận một cách toàn diện và có hệ thống các văn bản truyện kể dân gian
Lý do tiếp theo xuất phát từ tầm quan trọng của những giá trị của văn hoá - văn học Đông Nam Á trong thời kỳ cổ - trung đại Có lẽ do nằm giữa hai nền văn minh lớn vào bậc nhất thế giới là Ấn Độ và Trung Hoa, Đông Nam Á từ xưa đã không được nhìn nhận như là một khu vực có nền văn minh riêng biệt Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây khi nghiên cứu khu vực này đã có những kết luận phiến diện về Đông Nam Á như “vùng trũng của văn học thế giới”, là những “quốc gia vệ tinh” của Ấn Độ và Trung Hoa, Viễn
Ấn (Father India), Đại Ấn (Great India),… Thậm chí cho đến nay vẫn còn tồn tại cách gọi Đông Nam Á là Indo-China; nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã coi văn minh Đông Nam Á là văn minh ánh sáng trăng (moonlight civilization), văn minh vệ tinh
khu vực này lại nằm ở kho tàng văn hoá – văn học dân gian phong phú của nó Tiếp cận văn học Đông Nam Á nghĩa là “du hành” trước hết vào cái kho tàng ấy – một nơi mà
1 [36,24]
Trang 10chỉ có tìm kiếm, soi rọi thật kĩ mới có thể thấy được những viên ngọc quý với ánh sáng chói ngời khác thường
Những thành tựu vượt bậc của văn học Đông Nam Á nằm ở thời cổ - trung và hậu
kỳ trung đại của nó Ở những giai đoạn này, văn học Đông Nam Á có những bước chuyển mình đáng kể, làm nên những kiệt tác văn chương phong phú và diễm lệ Đó là
lý do vì sao khi nói đến những tác phẩm văn học nào ở quốc gia mình được xem là kiệt
tác, người Thái Lan cho rằng đó là Ramakien và Khun Chang Khun Phaen; với người Campuchia là Riêm Kê, Tum Tiêu và với người Việt Nam là Truyện Kiều của đại thi hào
Nguyễn Du Sức ảnh hưởng của những tác phẩm văn học cổ điển này là vô cùng mạnh
mẽ và sâu rộng Chúng trở thành những quyển “bách khoa toàn thư” về văn hoá của mỗi quốc gia, cộng đồng, dân tộc; chúng bám sâu vào trong tâm khảm của nhiều thế hệ người Đông Nam Á, đến mức có khi còn chi phối cả nhân sinh quan và thế giới quan của bản thân họ một cách vô thức Vì vậy, có thể thấy thời kì cổ - trung đại và hậu kỳ trung đại
là những mốc giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền văn học của những quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Thái Lan “Những viên ngọc quý” trong văn chương Thái Lan đã tập trung chủ yếu ở mảng văn học cổ điển này với ba dòng văn học không tách
bạch rạch ròi mà hoà quyện vào nhau hài hoà, tinh tế, bao gồm: văn học dân gian, văn học cung đình và văn học Phật giáo
Thứ nữa, yếu tố nhân vật là một yếu tố quan trọng và không thể vắng mặt trong truyện kể dân gian, đặc biệt là hình tượng nhân vật quỷ Với chức năng đối đầu – chức năng chính yếu của nhân vật quỷ và cũng là chức năng góp phần hỗ trợ cho diện mạo cũng như hành trạng của nhân vật chính, quỷ đã trở thành một kiểu loại nhân vật cơ bản tham gia vào cấu thành diễn biến cốt truyện cũng như liên kết chặt chẽ với các tuyến nhân vật khác Thông qua hình tượng, các ý nghĩa về mặt hình thái học chức năng có thể được khai thác và phân tích một cách hiệu quả, logic Bên cạnh đó, hình tượng này còn được dự đoán là sẽ mang đến những kiểu chức năng khác hẳn so với cách nhìn nhận
và đánh giá thông thường Đồng thời, việc khai thác hình tượng dưới những góc cạnh khác ngoài văn bản kể, tìm kiếm các yếu tố văn hóa – tôn giáo trong hình tượng nói chung còn mang lại những phát hiện mới mẻ, thú vị Theo đuổi hướng nghiên cứu này tức là đi sâu vào cấu trúc tự sự nội tại bên trong của truyện kể dân gian (phương diện nội dung cốt truyện) và “bóc tách” được những cơ tầng văn hoá – tôn giáo quan trọng đằng sau lớp vỏ ngôn từ dân gian ấy (phương diện văn hoá tôn giáo) Hướng nghiên cứu này được dự đoán là có thể mang đến một cái nhìn toàn diện, đa chiều hơn về đối tượng được nghiên cứu, mang đến những đóng góp thiết thực cho các lĩnh vực chuyên ngành
và liên ngành
Trang 11Cuối cùng, đề tài này, nếu có điều kiện triển khai chuyên sâu hơn, còn là một nguồn tài liệu tham khảo rất bổ ích, phục vụ cho việc giảng dạy văn học dân gian trong các cơ
sở giáo dục theo hướng khai thác tác phẩm văn học dân gian bằng các phương pháp phân tích hình tượng nhân vật qua các chiều kích khác nhau Tài liệu còn là sự gợi ý về nguồn tư liệu truyện kể dân gian Thái Lan tương đối phong phú, đa dạng, rất cần thiết cho những ai đang theo đuổi con đường nghiên cứu văn học dân gian Đông Nam Á nói chung và văn học dân gian Thái Lan nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra hai mục đích khoa học như sau:
Đầu tiên là tiếp cận hình tượng nhân vật yak/quỷ từ phương diện nội dung cốt truyện,
từ đó tìm ra các đặc điểm và chức năng riêng biệt của nhân vật đó khi tham gia vào tương tác cốt truyện Ở luận điểm này, chúng tôi cố gắng áp dụng một cách sáng tạo, linh hoạt lý thuyết của Propp về nhóm nhân vật và hành động chức năng của nhân vật như là một công cụ để đi vào khai thác các mối liên hệ của nhân vật đang xét với các nhân vật khác trong truyện cổ tích Các đặc điểm và chức năng này vừa có nét chung, vừa có nét riêng so với các loại nhân vật đồng chức trong kho tàng truyện kể dân gian Đông Nam Á Đồng thời, chúng không hẳn tách rời nhau mà hoà kết, đan xen vào nhau, được cài đặt bằng các dạng mã khác nhau mà khi giải mã chúng, có thể suy ra được những nội dung ngữ nghĩa nhất định về hình tượng yak
Sau đó, bằng việc vận dụng các lý thuyết về mối quan hệ giữa folklore và thực tại trong truyện kể dân gian, chúng tôi tiến hành soi rọi hình tượng nhân vật yak trên phương diện văn hoá – tôn giáo, từ đó có thể bóc tách được những yếu tố folklore rất đặc trưng của Thái Lan, vừa mang những nét đặc thù của văn hoá quốc gia, vừa có những nét thống nhất nằm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á Bên cạnh những đặc điểm chung hoà vào tiến trình phát triển của lịch sử thế giới, đó còn là di vết của một nền văn minh Thái Lan tuy hình thành muộn nhưng đã nhanh chóng đạt được những thành tựu quan trọng Những thành tựu ấy tồn tại riêng biệt và sống động dưới “vỏ hình thức” là những
câu chuyện kể dân gian được truyền từ đời này sang đời khác
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hình tượng yak là một hình tượng khá quan trọng trong truyện kể dân gian Thái Lan Tuy nhiên, trong phạm vi khảo sát tư liệu của chúng tôi, chúng tôi chưa ghi nhận được công trình nghiên cứu chuyên biệt về kiểu loại nhân vật này trong truyện kể Đông Nam Á nói chung và truyện kể Thái Lan nói riêng Một phần bởi tính đa dạng và không
cố định trong việc xác định nội hàm và ngoại diên khái niệm hình tượng Dưới đây là một số tư liệu có liên quan đến đề tài mà chúng tôi tìm hiểu được
Trang 12Đầu tiên là chuyên luận Motif trong truyện Ma lai của các dân tộc thiểu số ở Trường Sơn - Tây Nguyên: Một vài nét so sánh của Phan Xuân Viện2 Trong bài nghiên cứu này,
tác giả đi vào một hình tượng ma quỷ cụ thể là ma lai Bằng cách tìm kiếm những biểu
hiện của cùng một đối tượng nghiên cứu trên nhiều phạm vi khảo sát (Trường Sơn, Tây Nguyên, Nam Đảo, nhóm cộng đồng Môn Khơ-me), Phạm Xuân Viện đặt hình tượng văn hoá này trong một “vỏ hình thức” là những câu chuyện dân gian có dung chứa hình
tượng để nghiên cứu, và gọi kiểu truyện này là “dạng truyện thần thoại cấp thấp”, ghi lại “những sinh hoạt của cộng đồng mang tính chất siêu linh, đậm chất huyền bí, ma quái của tín ngưỡng dân gian được phản ánh kèm theo những lệ tục đầy mê tín, dị đoan
có thể gây hại đến đời sống yên lành của mọi người trong các bon, buôn, plei, sóc…” Theo tác giả, “ma lai là một thực thể sinh linh mang những đặc tính khác thường tồn tại giữa người thường và ma/quỷ […] Chúng tồn tại trong dân gian nhờ hút máu người, rút ruột người mà sống.” Kết quả nghiên cứu của chuyên luận trước hết là ở sự khu biệt
thể tài truyện ma và đề xuất những cách thức tiếp cận thể tài này một cách hợp lý Theo
ông, có thể liệt kiểu truyện có đề tài về ma quỷ như truyện ma lai vào một thể loại thuộc
tự sự dân gian cấp thấp: “Truyện ma lai là dạng thần thoại cấp thấp thuộc loại truyện đời xưa với nội dung có thật nói về ma quỷ trong hệ thống thần thoại – tôn giáo được hình thành trong đời sống hàng ngày gần như thường xuyên có sự tiếp xúc với con người, được chuyển tải bằng một thể tài văn xuôi dân gian không được thiêng hoá”
Tiếp theo, ông kết luận về sự xuất hiện của các motif trong thể tài truyện ma lai, bao
gồm các motif chung như: ma lai ăn thịt người; người lấy ma lai (ở với ma); ma lai có
thể hoá thân; con người phải diệt ma lai, và các motif riêng như thôi miên, trù yểm, điềm triệu (đối với dân tộc Gia-rai) và motif tái sinh (đối với dân tộc M’nông) Chuyên luận của nhà nghiên cứu Phan Xuân Viện là một nguồn tài liệu tham khảo đáng trân quý, mở
ra một sự gợi ý cho chúng tôi về hướng nghiên cứu motif đối với hình tượng ma quỷ, cũng như các cách thức tương tác qua lại giữa ma quỷ và con người trong nội dung cốt
kể của văn bản tự sự dân gian
Thứ hai là luận văn Thạc sĩ Hình tượng ma nữ trong “Truyền kỳ mạn lục” của Mai
Thị Lệ Quyên Trong luận văn này, người nghiên cứu đã đi sâu vào tìm hiểu các giá trị nội dung (đặc điểm nhân vật) và nghệ thuật (nghệ thuật xây dựng) của hình tượng trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Từ đó Mai Thị Lệ Quyên đã kết luận rằng: “Xã hội trung đại Việt Nam chịu sự chi phối và ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng của Nho giáo […] Xây dựng chuẩn mực cho người phụ nữ, Nho giáo hướng họ đến trách nhiệm và vị thế người con, người vợ, người mẹ, phụ thuộc hoàn toàn vào đàn ông Sự tự do trong tình yêu, tình dục bị bài xích, thậm chí bị lên án như một biểu hiện của sự suy đồi […]
2 [41,58-71]
Trang 13Nếu người phụ nữ sống đúng bổn phận, thực hiện đầy đủ tam cương ngũ thường thì sẽ được ca ngợi, sự hy sinh của họ sẽ được coi là tấm gương tiết liệt Ngược lại, khi thoát
ra khỏi vòng kiềm toả của chế độ nam quyền, xã hội sẽ không chấp nhận họ như một con người”3 Luận điểm này của Mai Thị Lệ Quyên đã nhấn mạnh vào nguồn gốc sâu
xa mang tính lý luận của hình tượng, thứ đã được nảy sinh trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam Lý luận về sự bất bình đẳng phái tính nam – nữ, và thái độ của người sáng tạo đối với nhân vật ma nữ đã mở ra một hướng đi khá mới mẻ trong việc nghiên cứu các hình tượng phi nhân và phi thiên nói chung trong folklore dân gian
Có lẽ vì ở Việt Nam, Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm nổi tiếng vào bậc nhất
trong thể loại truyện truyền kỳ, cộng thêm sự góp mặt đậm đặc của các yếu tố kì ảo mang tính dân gian hoá khá mạnh, nên khi đặt đối tượng nghiên cứu là một nhân vật kì
ảo, các nhà nghiên cứu có xu hướng chọn tác phẩm này như là một tác phẩm điển hình
Vì thế, mục thứ ba mà chúng tôi muốn đề cập tới là tiểu luận Nhân vật ma quái trong
“Thánh Tông di thảo” và “Truyền kỳ mạn lục” của Đặng Thị Thanh Ngân Ở đây, đối
tượng nghiên cứu đã được mở rộng, không chỉ là các nhân vật ma quái mang phái tính
nữ, mà mở rộng ra là toàn bộ các nhân vật ma quái trong tác phẩm Bài tiểu luận đã có
sự phân tích khá triệt để về mặt định danh khái niệm Theo đó, các khái niệm liên quan
đã được người nghiên cứu khu biệt và định nghĩa rất rõ ràng như sau:
Linh hồn: Chỉ hồn người đã chết “Nếu hồn chỉ phần tinh thần của con người nói chung thì khi nói đến linh hồn thường nói về hồn của người đã chết”4
Ma: Chỉ hồn người chết hay sự hiện hình của người chết
Quỷ: Không có sự phân biệt rạch ròi giữa ma và quỷ trong tiếng Việt mà hợp lại thành một từ ghép chỉ chung
Quái vật: “Con vật tưởng tượng có hình thù quái dị, đáng sợ độc ác, hay hại người”5
Yêu tinh, yêu ma: chỉ những vật quái dị, có khả năng biến hoá, hay hại người Thông qua việc tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của hình tượng từ trong văn hoá Việt Nam (tín ngưỡng dân gian, thuyết vạn vật hữu linh, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người, thuyết duy linh, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo), Đặng Thị Thanh Ngân đã chỉ ra ba “con đường trở thành ma quái” của hình tượng trong tác phẩm như sau:
1 Thần, Phật không minh trở thành ma quái
2 Tinh vật lâu ngày thành yêu
3 [35,89]
4 [30]
5 [30]
Trang 143 Hồn người chết không tan hoá thành quỷ
Sau đó, tác giả cũng đã chỉ ra ba nguyên nhân trở thành ma quái, bao gồm:
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm văn học viết, nên định hướng khai thác văn bản của
tác giả là tuân thủ theo phương pháp phân tích văn học trung đại, nên phần lớn các đối tượng nhân vật ma quái đều được nghiên cứu dưới góc nhìn thi pháp học, cũng như tuân thủ theo đúng đặc trưng thể loại truyền kỳ Và nhìn chung, thể loại truyền kỳ ở Việt Nam ít có nét tương đồng so với các thể loại tự sự dân gian khác trong văn học dân gian Thái Lan
Thứ tư là luận văn Thạc sĩ Từ biểu tượng quỷ Satan trong Kinh Thánh đến hình tượng chúa quỷ Voland trong Nghệ nhân và Margarita của M Bulgakov của Văn Trịnh
Quỳnh An Công trình này đặt ra định hướng nghiên cứu liên ngành văn hoá – tôn giáo
và văn học nhưng tập trung chủ yếu của tác giả vẫn là bản thân hình tượng được thể hiện trong một tác phẩm văn học cụ thể Trong luận văn này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến
sự khai thác hình tượng quỷ Satan từ trong cội nguồn của nó, bao gồm hệ thống kinh
điển (Kinh Thánh) và lễ hội/ nghi lễ dân gian (Carnaval) Về bản thân hình tượng quỷ trong Kinh Thánh, Văn Trịnh Quỳnh An đã kết luận rằng đây là một biểu tượng tôn giáo mang tính kinh điển, đồng thời cho rằng: “Ma quỷ là một hữu thể thần linh, đã từng là một chê-ru-bin Điều đó đồng nghĩa với việc Satan sở hữu thần tánh giống như các thiên
sứ khác, vượt trội hơn con người, và bất tử” 6 Phần đầu của công trình đã phân tích về các khía cạnh khác nhau trong quá trình nổi loạn của quỷ Satan, cũng như thái độ của Thiên Chúa đối với hành trạng của nhân vật này Qua việc phân tích hình tượng từ trong cội nguồn tôn giáo của nó, Văn Trịnh Quỳnh An, một cách vô tình hoặc hữu ý, đã chỉ
ra một đặc điểm đầy căn tính của hình tượng quỷ Satan: Đó là tính nhị nguyên Tức là bản thân hình tượng này từ trong cội rễ vốn dĩ đã mang tính thần Sự đan hoà giữa tính thần và tính quỷ thông qua tiểu sử và thuyết thoại của nhân vật, được ghi chép đầy đủ
trong Kinh Thánh đã khiến chúng tôi đặt ra vấn đề về tính phổ quát và tính nhân loại
của đặc điểm này đối với hình tượng quỷ nói chung trên thế giới
Ngoài ra cũng có thể kể đến các công trình gần gũi về mặt đối tượng nghiên cứu với
đề tài như: Từ cổ mẫu đến hệ hình tượng nhân vật gây ám ảnh trong truyện ngắn Việt
6 [45,17]
Trang 15Nam đương đại của Trần Thị Tươi; Một số mô-típ tiêu biểu trong Liêu trai chí dị của
Bồ Tùng Linh dưới góc nhìn huyền thoại học; Ma quỷ trong văn học Việt Nam và Ma quỷ trong văn hoá dân gian miền Tây Nam Bộ của Trần Minh Thương; Hình tượng ma như là một thủ pháp nghệ thuật của văn học viết của Phạm Phú Uyên Châu;… Những
công trình này bên cạnh đi vào nghiên cứu một hoặc một nhóm hình tượng nhân vật ma quỷ trong một không gian văn hoá xác định, còn tiến hành phân tích sự thay đổi và chuyển hoá của chúng trong những bối cảnh diễn ngôn khác nhau mà ở đó, hình tượng một mặt vẫn được bảo lưu các khía cạnh về văn hoá – tôn giáo vốn có, mặt khác còn được phú cấp cho những nếp nhìn, nếp nghĩ mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà văn, từ
đó đã kiến tạo nên những diện mạo văn học rất đa dạng và mới mẻ
Như vậy, thông qua khả năng tìm hiểu tư liệu nghiên cứu của chúng tôi, có thể thấy rằng vấn đề về hình tượng yak trong truyện kể dân gian Thái Lan là một vấn đề còn mới
mẻ, chưa được nghiên cứu một cách chính thống và triệt để Qua việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi mạnh dạn triển khai đề tài một cách nghiêm túc, với hy vọng mang đến cho người đọc một góc nhìn mới mẻ về truyện kể Thái Lan, làm tiền đề cho những nghiên cứu chuyên sâu và lâu dài hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hình tượng nhân vật yak (quỷ) trong truyện
kể dân gian Thái Lan Trên cơ sở đó, đề tài tiến hành khảo sát một số lượng lớn truyện
kể dân gian ở khu vực Thái Lan Đối với trường hợp một quốc gia Thái Lan nhưng lại
có nhiều thành phần dân tộc, chúng tôi sẽ cân nhắc trong việc lựa chọn bản kể có ý nghĩa, có giá trị và mang tính đại diện cao
Tuy nhiên, không phải bất cứ truyện kể dân gian Thái Lan nào cũng được lựa chọn
để làm tư liệu cho đề tài Chỉ những truyện kể có sự xuất hiện của hình tượng quỷ thể hiện rõ các chức năng của mình mới được lựa chọn làm đối tượng khảo sát Trên thực
tế, những truyện mà chúng tôi chọn lọc được phân bố rộng rãi ở tất cả các thể loại tự sự dân gian Thái Lan Tuy nhiên, phần lớn tập trung vào tiểu loại truyện cổ tích hay cụ thể hơn là truyện cổ tích thần kỳ
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi cố gắng vận dụng những phương pháp nghiên cứu của văn học dân gian lẫn phương pháp nghiên cứu văn hoá dân gian Do tính chất liên ngành của đề tài mà các phương pháp đề xuất sau đây chỉ mang tính chất tương đối: Đầu tiên là phương pháp so sánh Phương pháp này được sử dụng gần như xuyên suốt trong luận văn, tiến hành so sánh các đối tượng truyện cổ có cùng bản kể hoặc khác bản kể với nhau để tìm ra những nét tương đồng hay dị biệt Đồng thời, thông qua việc
Trang 16so sánh, có thể tìm ra được những yếu tố nguồn gốc, sự tiếp biến hay kế thừa của những hình tượng nhân vật quỷ trong hai hoặc nhiều truyện kể khác nhau
Tiếp đến phương pháp tiếp cận cấu trúc chức năng Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 2, chủ yếu nhằm mục đích tìm ra những chức năng đặc trưng của hình tượng yak đối với các nhân vật khác cũng như đối với diễn biến cốt truyện nói chung
Ngoài ra còn có phương pháp nghiên cứu thi pháp học Phương pháp này được sử dụng để tiếp cận vấn đề từ góc nhìn của thi pháp Từ đó có thể tìm hiểu được các cách thức xây dựng hình tượng, nghệ thuật tự sự cũng như các phương thức biểu hiện của hình tượng quỷ trong truyện kể dân gian
Cuối cùng là phương pháp tiếp cận liên ngành (văn hoá học, tôn giáo học) Truyện
kể dân gian là một kho tàng folklore đầy phong phú Chúng không chỉ cung cấp những giá trị về mặt văn học, mà còn mang đến những ảnh xạ liên quan đến phạm trù văn hoá
và tôn giáo, đặc biệt thể hiện rõ nét qua yếu tố nhân vật Trong bài viết này, phương pháp liên ngành được sử dụng với mục đích khai thác và tìm ra những ảnh xạ đó Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn kết hợp sử dụng các thao tác thống kê, phân loại, sơ đồ hoá để nghiên cứu đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Là một công trình nghiên cứu về một trong những kiểu hình tượng khá đặc thù trong văn hoá dân gian nói chung và trong văn hoá dân gian Thái Lan nói riêng, đề tài đã mang đến những ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, đề tài cung cấp cho người đọc những tri thức quan trọng và hiện đại về một kiểu loại hình tượng khá đặc biệt đã được thao tác hoá và khu biệt hoá một cách rõ ràng và logic hơn về mặt chức năng, thứ tồn tại trong một thể tài văn học cũng đặc biệt không kém là truyện kể dân gian về quỷ Trong công trình này, một cách hệ thống, hợp
lý và rõ ràng, hình tượng quỷ (yak) sẽ được cập nhật với đúng bản chất chức năng của
chúng, được nhìn nhận trong mối quan hệ với các yếu tố cấu thành truyện kể nội sinh
và ngoại sinh Các yếu tố định hình của nhân vật cũng được phát hiện và khu biệt hoá, qua đó, bản chất và vai trò của nhân vật đối với cốt truyện và với các yếu tố được di chuyển ra ngoài cốt truyện (bối cảnh văn hoá – tôn giáo) được nhìn nhận cụ thể
Thứ hai, qua việc vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, đề tài tìm ra những
hình chiếu folklore của hình tượng yak trong thực tiễn đời sống và trong văn hoá - tôn
giáo của người Thái Các ý nghĩa rút ra từ hình tượng nhân vật được nhìn nhận không chỉ với tư cách là một hình tượng văn học, mà còn được đặt trong trường tiếp nhận của
Trang 17một góc nhìn mới Ở đó, tập thể quần chúng nhân dân lao động không chỉ tiếp nhận, biến đổi hình tượng sao cho phù hợp với một mục đích văn hoá nào đó, mà còn đồng sáng tạo hình tượng, khiến nó sống lại một lần nữa ở một ngữ cảnh mới – một chân trời mới
Thứ ba, thực hiện đề tài này, chúng tôi còn có mong muốn mang đến cho người đọc kho tư liệu truyện kể dân gian Thái Lan đã được chúng tôi dịch từ tiếng Anh và tiếng Thái sang tiếng Việt, bên cạnh nguồn truyện tiếng Việt đã được sưu tầm và giới thiệu trước đó
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, nội dung bài nghiên cứu được chia làm 3
chương chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Chương 2: Hình tượng yak trong truyện kể dân gian Thái Lan nhìn từ phương diện
nội dung cốt truyện
Chương 3: Hình tượng yak trong truyện kể dân gian Thái Lan nhìn từ phương diện
tôn giáo – văn hoá
Cuối cùng, phần Phụ lục của luận văn thống kê lại toàn bộ nguồn tư liệu truyện kể
dân gian được sử dụng trong nội dung bài luận cũng như cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn cảnh đối với hình tượng yak trong truyện kể dân gian Thái Lan Chúng tôi chủ trương trình bày tóm tắt nội dung của các truyện được sử dụng, đồng thời chú thích nguồn ngay ở tiêu đề mỗi truyện để người đọc có thể tiện theo dõi
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Đôi nét về truyện kể dân gian Thái Lan
1.1.1 Khái niệm và phân loại
1.1.1.1 Khái niệm
Truyện kể dân gian là một khái niệm mang ý nghĩa khái quát, dùng để chỉ các thể loại tự sự dân gian do tập thể các tác giả dân gian sáng tác và lưu truyền qua các thời đoạn lịch sử cho đến ngày nay Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn học dân gian cũng thống nhất sự tương đương ngữ nghĩa của khái niệm này với các khái niệm cùng loại như “truyện cổ dân gian”, “truyện dân gian”, “tự sự dân gian” để khu biệt nó với một khái niệm đối ứng là “trữ tình dân gian” Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn
khái niệm truyện kể dân gian nhằm mục đích nhấn mạnh vào tính chất “kể” của khái
niệm, tức là nhấn mạnh vào tính chất tự sự của các văn bản truyện được khai thác
Ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ, sự phân định truyện kể dân gian là tương đối giống nhau Bất cứ hình thức dân gian nào được đưa ra (lời nói hoặc chữ viết) nhằm mục đích kể lại, tường thuật cho người đọc hoặc người nghe thưởng thức bằng một lối diễn ngôn phi trữ tình đều được coi là tự sự dân gian Văn chương dân gian thường dùng hình thức kể chuyện truyền miệng để truyền tải các câu chuyện mang ý nghĩa đạo đức, văn hoá,… là chủ yếu Nhờ vậy mà tự sự dân gian hoạt động như những thực thể mang tính cộng đồng, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và hình thành nhiều dị bản
Như vậy, về mặt thể, truyện kể dân gian là hầu như giống nhau, nhưng về mặt loại, tức
những tiểu loại thuộc truyện kể dân gian, thì lại có sự phân định khác nhau đối với những khu vực khác nhau Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu tình hình khu biệt khái niệm truyện kể dân gian cũng như cách phân chia các tiểu loại truyện
kể dân gian ở Thái Lan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi sâu vào phân tích và khai thác nội dung hình tượng trong các văn bản truyện
Ở Thái Lan, tình hình nghiên cứu truyện kể dân gian (นิทาน nithan hoặc นิทานพื้นบ้าน nithan pheunban) có vẻ phức tạp hơn do nguồn truyện nói chung và các thể loại truyện nói riêng khá phong phú và đa dạng Từ đó nảy sinh nhiều quan niệm khác nhau trong việc định danh khái niệm này Trước đây, nhiều người lầm tưởng khái niệm nithan là truyện cổ tích nhưng thực chất khái niệm này có nội hàm rộng hơn nhiều so với truyện cổ tích Xin lược ra một số cách định danh khái niệm đến từ các nguồn cứ liệu uy tín mà chúng tôi tham khảo được trong quá trình nghiên cứu:
Kularb Mallikamas trong Tales and stories from Thailand đã có sự phân biệt rất rạch ròi giữa một bên là truyện truyền tụng (tales) và một bên là câu chuyện kể (stories)
Trang 19Theo đó, ông đã xem truyện kể dân gian (nithan) như một di sản văn học gồm “những truyện kể truyền miệng với mục đích giải trí và thư giãn, gia tăng niềm tin tâm linh vào các vị thần thánh […] là phương tiện để giảng dạy luân lý nhằm tăng cường hiểu biết tinh thần về môi trường xã hội và các hiện tượng tự nhiên…”7 Cách giải nghĩa như trên
là đầy đủ và dễ hiểu đối với người đọc khi tiếp cận nguồn truyện kể dân gian ở Thái Lan thời bấy giờ, vì nó đã nhấn mạnh vào ba mục đích của truyện kể: giải trí, giảng dạy đạo đức và thực hành tâm linh cấp thấp Trong một thời gian khá dài, khái niệm nithan của Kularb được sử dụng và trích dẫn rộng rãi trong các công trình nghiên cứu học thuật có liên quan ở Thái
Đồng ý với quan điểm coi những nithan là một di sản văn hoá cần được tôn trọng, giữ gìn và phát huy, Kingkaew Attakorn (1976) cho rằng truyện kể dân gian là một kho
nhấn mạnh: “Nhiều truyện kể thì được kể lại, nhưng cũng có những câu chuyện tồn tại dưới dạng viết, được trình bày một cách chung chung, không chủ ý tiết lộ ngọn nguồn thực sự của sự việc, hiện tượng Đối tượng (được đề cập) phần lớn mang lại niềm vui
và sự giải trí, đôi khi những châm ngôn đạo đức cũng được chú trọng như là một phần của câu chuyện.”9 Như vậy, đến với Kingkaew Attakorn, khái niệm nithan đã tương đối hoàn chỉnh khi ông bao quát tính chất giáo dục - khuyên răn của nithan đối với việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của con người Tuy nhiên, cách định nghĩa của Kularb Mallikamas và Kingkaew Attakorn có vẻ như tập trung nhiều vào hình thức và chức năng tác động của truyện kể hơn là tính chất vốn có của bản thân truyện kể đó
Năm 1999, trên cơ sở kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, Sumamal
Pongpaiboon trong công trình Anh ngữ The Ideology đã bổ sung thêm một vài luận điểm
để hoàn chỉnh hơn đối với khái niệm nithan, đặc biệt phù hợp hơn với nguồn truyện kể
dân gian của dân tộc Thái: “Nithan là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Pali với hai nét nghĩa chính là câu chuyện (story) và sự kể lại (telling) Như vậy, dù là câu chuyện thuộc bất cứ thể loại nào, nithan trước hết phải mang tính chất kể lại Dù có nhiều câu chuyện tồn tại dưới dạng viết, thì dạng thức trước đó của chúng gần như là truyền khẩu” 10 Trong cách định nghĩa này, Sumamal Pongpaiboon đã nhấn mạnh vào tính chất
truyền khẩu của truyện kể dân gian Hay nói khác đi, sự truyền khẩu đối với văn bản tự
9 Nguyên văn: “Most tales are told stories but there are also many tales in the written forms It was further
explained that tales are stories generally told with out intention to disclose their actual origins The objectives are mostly to bring fun and joy while sometimes the moral precept can also be inserted as part of the story.” [64,12]
10 [79]
Trang 20sự dân gian là một yếu tố mang ý nghĩa sống còn, quyết định xem câu chuyện đang xét
có phải là một nithan hay không
Theo Sumamal Pongpaiboon, nithan là một câu chuyện đặc biệt vì đã được không phải một, mà là nhiều người thay nhau cấu trúc lại một cách thông minh (intellectually
constructed), tuỳ thuộc vào trình độ trí tuệ của người đang sở hữu bản kể “Những nithan
có thể tồn tại dưới các phong cách khác nhau với các mục đích khác nhau tuỳ thuộc vào dịp cũng như môi trường mà nó được diễn xướng ở những địa phương khác nhau.”11 Quan điểm của Sumamal mở ra những mối quan tâm mới cho công cuộc nghiên cứu truyện kể dân gian ở Thái Lan, khi mà khái niệm nithan được cập nhật một cách toàn diện không chỉ về mặt định danh mà còn bao gồm các vấn đề xoay quanh nó như chủ thể diễn xướng, hình thức diễn xướng và mục đích diễn xướng Hướng nghiên cứu điền
dã này giúp cho tình hình nghiên cứu văn hoá – văn học dân gian ở Thái Lan đạt được nhiều thành tựu mới mẻ và tiến gần hơn đến với định hướng nghiên cứu văn học dân gian trên thế giới
Như vậy có thể thấy, bản thân khái niệm nithan đã tạo nên nhiều cách định nghĩa cũng như cách tiếp cận trong nghiên cứu văn học dân gian ở Thái Lan Ngày nay, khái niệm nithan được sử dụng nhiều trong vốn từ vựng ở Thái Lan với nét nghĩa chính vẫn
là câu chuyện được kể lại Nithan pheunban sẽ là một khái niệm hoàn chỉnh và đầy đủ
hơn, nếu như cần thiết phải xét đến tính chất dân gian của câu chuyện đó Trong bài
nghiên cứu này, chúng tôi tạm xem nithan (dịch sang tiếng Việt: truyện kể/ truyện kể dân gian) như là một cách viết ngắn gọn hơn của nithan pheunban, và dùng nó như một
khái niệm công cụ để đi vào phân tích và khai thác đối tượng Ngoài ra, bằng sự tổng hợp quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cũng cố gắng xây dựng một
khái niệm nithan để dùng trong bài nghiên cứu này như sau: Nithan là di sản văn học tồn tại dưới dạng những câu chuyện được kể bởi con người, được bảo lưu và truyền tụng qua nhiều thế hệ với mục đích giải trí, chuyển tải niềm tin, bài học đạo đức, ứng xử,… cũng như lời răn dạy ngầm về thái độ, cách ứng xử của con người trong nội dung câu chuyện
1.1.1.2 Phân loại
Trước đây, ở Thái Lan, người ta thường sử dụng bảng phân loại Aarne-Thompson
để giải quyết sự tồn tại của các thể loại truyện kể khác biệt về chức năng Theo đó, các truyện kể dân gian được chia thành 7 loại chính, bao gồm:
1 Truyện kể loài vật (Animal tales)
2 Tales of magic (Truyện kể thần kỳ)
11 [79]
Trang 213 Religious tales (Truyện kể tôn giáo)
4 Realistics tales (Truyện kể sinh hoạt)
5 Tales of the stupid ogre (Truyện kể về quái vật, yêu tinh ngốc nghếch)
6 Anecdotes and jokes (Giai thoại và truyện cười)
7 Formula tales (Truyện công thức)
Sự phân chia này là thống nhất so với khung phân chia truyện kể dân gian thế giới, tuy nhiên, càng về sau, giới nghiên cứu văn học dân gian ở Thái Lan càng nhận ra sự bất cập trong cách phân chia này khi đối sánh với thực tế nguồn truyện kể trên đất nước Thái Bởi vì tình hình sáng tác truyện kể dân gian ở Thái Lan có những đặc thù riêng,
nên nhiều truyện tương đối phổ biến ở Thái lại khó có thể sắp xếp vào bất kỳ mục nào
trong bảng phân chia của Aarne-Thompson Có thể dẫn ra đây như Truyền thuyết Mae Nak Phra Khnong, các bản kể dân gian của Khun Chang Khun Phaen, Ramakien, Phra Abhai Mani,… Nguồn truyện khá phong phú về mặt thể loại và phức tạp về mặt nội dung
như thế đã dẫn đến tình hình phân loại nithan ở Thái trở nên không thống nhất Trong
công trình nghiên cứu Sổ tay sử dụng truyện kể dân gian để nâng cao khả năng đọc, phân tích và viết (คู่มือการใช้นวัตกรรมนิทานพัฒนาความสามารถในการอ่านอ่าน ควิเคราะห์ และเขียน), Jinaa Wirakiantisunthorn đã trình bày cách phân loại của bốn
nhà nghiên cứu văn học dân gian Thái Lan khác nhau theo những tiêu chí và thể loại
Saowaluck Ananta Sants trong Truyện kể dân gian dưới góc nhìn so sánh (นิทาน พื้นบ้านเปรียบเทียบ), dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển bảng phân loại của Antti
Aarne và Stith Thompson Theo đó, truyện kể dân gian Thái Lan được bà phân chia
1 Truyện cổ tích (เทพนิยาย thep niyai hoặc จักรจักรวงค์วงค์ jakjak wongwong)
2 Truyện dài dân gian (นิทานชีวิต nithan chiwit)
3 Truyện anh hùng (นิทานวีรบุรุษ nithan wiraburut)
4 Thần thoại (นิยายปรัมปรา niyai prampra)
5 Truyện phiêu lưu (นิยายผจญภัยยุคกลาง niyai phajon phayuk klang)
6 Truyền thuyết (ต านาน tamnan)
12 Xem 1.1.2
13 [85,37]
14 [86,69]
Trang 227 Sự tích (นิทานอธิบายเหตุ nithan athibai heet)
8 Truyện loài vật (นิทานสัตว์ nithan sat)
9 Truyện ngụ ngôn (นิทานคติ nithan khati)
10 Truyện cười (นิทานตลก nithan talok hoặc เรื่องข าขัน rueang khamkhan)
11 Truyện tôn giáo (นิทานชาดก nithan chadok)
Tuy nhiên, sự phân loại trên đây cũng chỉ mang tính chất tương đối, việc nhập nhằng
về ranh giới thể loại đối với nguồn truyện kể thực tế là điều tất yếu có thể xảy ra Đơn
cử một vài ví dụ, chùm truyện về con thỏ khôn ngoan ở Thái có thể được xếp vào mục
8 (truyện loài vật) vì có yếu tố loài vật, nhưng cũng có thể xếp vào mục 9 (truyện ngụ
ngôn) vì có yếu tố ngụ ngôn Truyện về người anh hùng Chao Sai Nam Pheung, Phra Ruang Wajasit có thể được xếp vào mục 3, cũng có thể được xếp vào mục 5 Căn cứ
vào yếu tố nào nổi trội hơn, chiếm ưu thế hơn trong nội dung tự sự, người ta có thể xếp tác phẩm ấy vào những mục thích hợp một cách tương đối
Trong khuôn khổ của bài luận này, chúng tôi chủ trương chọn cách phân loại của Saowaluck Ananta Sants để làm tiền đề cho việc tìm kiếm, sưu tầm nguồn tư liệu truyện
cổ làm đối tượng cho việc nghiên cứu Tổng cộng số lượng nguồn truyện thu thập được
Trang 2310 Truyện cười 5 8.8
Bảng 1.1: Thống kê và phân loại số lượng đầu truyện sử dụng trong bài luận
1.1.2 Mối liên hệ với các dòng văn học khác
Từ xa xưa, người Thái vốn đã rất coi trọng và có hứng thú trong việc sáng tác văn chương Đối với người Thái, văn chương không chỉ là phương tiện ghi lại nguồn cảm hứng lớn lao mà còn là thước đo trí tuệ, đạo đức và lòng dũng cảm của họ Thành phần sáng tác văn chương đông đảo nhất bên cạnh những người lao động bình thường còn có các vua, quan lớn trong triều đình Có thể nói, Thái Lan là một trong số ít những quốc gia theo mô hình văn chương “nhóm tác giả hoàng gia”, tức là vua và các quan lại trong hoàng tộc tham gia nhiệt tình vào công việc sáng tác văn chương Chính vì vậy, nhiều học giả khi nghiên cứu nền văn học cổ Thái Lan thường chia nền văn học này thành ba
tế cho thấy sự phân chia này chỉ ở mức tương đối Bởi sự nhập nhằng, hoà quyện giữa các bộ phận văn học này là khá đậm nét và sâu sắc
Về văn học dân gian (mà truyện kể dân gian là một bộ phận trực thuộc bên trong
đó) và văn học cung đình, chúng tôi cho rằng sự hoà quyện và tiếp biến lẫn nhau giữa
hai nền văn học này diễn ra là bởi hai lý do sau:
Một là lý do liên quan đến sự viết lại Nhiều tác phẩm được xác định là thuộc bộ
phận văn học viết (vì do một tác giả cụ thể viết ra, mang tính bản quyền rõ nét) lại có một dạng văn bản hiển ngôn tồn tại trước đó thuộc bộ phận văn học dân gian Đơn cử,
tác phẩm văn học viết bất hủ và vô cùng nổi tiếng của Thái Lan: Khun Chang Khun Phaen (ขุนช้างขุนแผน) vốn dĩ có nguồn gốc là một câu chuyện dân gian có thật ở tỉnh
Suphanburi, Thái Lan (khoảng thế kỷ XVII), được truyền khẩu từ đời này sang đời khác Tuy nhiên, đến khoảng đầu thế kỷ XIX, vua Rama II (พระบาทสมเด็จพระพุทธเลิศหล้านภาลัย Phra Buddha Loetla Nabhalai) cùng với các thi sĩ nổi tiếng trong triều đình
(trong đó có đại thi hào Sunthorn Phu (สุนทรภู่)) tiến hành sưu soạn bản Khun Chang Khun Phaen bản dân gian ấy và viết lại thành Khun Chang Khun Phaen bản cung đình dưới dạng klon (Khun Chang Khun Phaen cung đình dạng đầy đủ nhất có 43 chương,
16 [12,139]
Trang 2445.000 câu thơ klon17) Truyện thơ dân gian Ramakien, vốn dĩ cũng là một tác phẩm tự
sự lưu truyền trong dân gian trước đó, sau được các thi sĩ cung đình dưới thời Rama I (พระพุทธยอดฟ้าจุฬาโลก) viết lại thành một tác phẩm thơ ca mang đậm bản sắc Thái
Có thể nói, kể từ khi vua Rama I bắt tay vào việc viết lại Ramakien, hầu như thời vua nào tiếp theo cũng có những thi sĩ cung đình viết lại Ramakien Nhiều nhà nghiên cứu
đã nhận định, nếu như phiên bản Ramakien của vua Rama I được đánh giá là đầy đủ nhất thì bản Ramakien của vua Rama II đã đưa ngôn ngữ dân tộc lên đến đỉnh cao, khi Ramakien dân gian đã được viết lại thành một kiệt tác thơ ca tuyệt diệu với nghệ thuật
trình biến đổi đầu tiên của rất nhiều tác phẩm văn học cổ điển Thái Lan: Từ thể loại tự
sự dân gian của văn học truyền miệng được viết lại để trở thành một tác phẩm thuộc bộ phận văn học viết cung đình
Hai là lý do liên quan đến sự chuyển hoá Ngoại trừ những truyện kể thuần tuý dân
gian, một số tác phẩm tự sự cung đình (mang tính bản quyền) nói riêng lại có sự chuyển
hoá thành tác phẩm tự sự dân gian Rất nhiều đoạn trong Khun Chang Khun Phaen bản cung đình ở Thái Lan được quảng đại quần chúng nhân dân biết đến và đôi khi thuộc
làu Nhiều học giả đã ghi nhận vai trò của những nghệ nhân ngâm sepha (นักขับเสภา) trong việc tái tạo nội dung, hệ thống nhân vật cũng như đưa những câu thơ klon giàu
sepha đã làm chuyển hoá bộ phận văn học: từ văn học viết sang văn học dân gian, từ văn học cung đình sang văn học truyền khẩu Nhiều khúc ngâm sepha đã được sáng tác
theo cách thức này (sepha Khun Chang Khun Phaen, sepha Piphat, sepha Abuhasan,…)
Như vậy, khi sự tồn tại của tác phẩm đã được chuyển hoá sang bộ phận văn học dân gian, vô hình trung, chúng bị gia giảm đi các yếu tố cá tính (miêu tả nội tâm, biện pháp nghệ thuật ngôn từ,…) và giữ lại các yếu tố loại tính (chi tiết, hình tượng nhân vật và chức năng nhân vật hành động theo type,…) Ngay cả những tác phẩm mang những khởi
đầu phi dân gian như Phra Lo, Phra Aphai Mani thì yếu tố dân gian này vẫn trở nên
đậm đặc, chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác Dưới đây là sơ đồ cụ thể hoá quá trình biến đổi của một số tác phẩm tự sự dân gian ở Thái Lan:
17 [32,11]
18 [12,157]
19 [32,12]
Trang 25Sơ đồ 1.1: Quá trình biến đổi của một số tác phẩm tự sự dân gian lớn ở Thái Lan
Như vậy, có thể thấy truyện kể dân gian nói riêng và văn học dân gian nói chung vừa là “yếu tố nền” để nền văn học cung đình Thái Lan phát triển rực rỡ, vừa là môi trường để nền văn học cung đình đó quay trở lại và một lần nữa tái sinh dưới dạng thức dân gian Chính nhờ hai đặc điểm này mà ta vẫn thấy rải rác trong các tác phẩm của Sunthorn Phu những motif, chi tiết rất quen thuộc được cóp nhặt từ những câu chuyện dân gian, rồi dưới ngòi bút của tác gia, những yếu tố này trở nên sống động và giàu chất
thơ Nhà nghiên cứu Đào Thị Diễm Trang đã rất có lý khi cho rằng: “Không có nền văn học dân gian thì cũng không có nền văn học cổ Thái Lan” 20 Văn học dân gian cung cấp
một kho tàng thi liệu và văn liệu lớn lao để những cây bút văn học cung đình có thể thoả
sức sáng tạo Có thể kể ra đây những tác phẩm như: Chanthakhorop của Sunthorn Phu (văn học cung đình) và Sự tích con vượn kêu “phua” hay Nàng Mora (văn học dân gian); Ramakien bản truyện thơ của nhiều tác giả hoàng gia (văn học cung đình) và Ramakien bản dân gian; Anirut bản truyện thơ và Anirut bản dân gian;… Cũng theo nhà
nghiên cứu, khi văn học cung đình một lần nữa tái sinh trong đời sống dân gian của nó, thì lúc này nó đã tồn tại ở một dạng thức khác, đó là dạng thức diễn xướng dân gian Từ những câu từ trên mặt giấy, những nhân vật, câu chuyện đã đi vào trong những lời ngâm điệu múa lôi cuốn khán giả trên sân khấu trong các lễ hội cung đình Như vậy, ở luận điểm này, các tác phẩm văn học cung đình còn thể hiện một chức năng quan trọng khác
là chức năng diễn xướng
Sự hoà quyện giữa hai nền văn học dân gian và văn học cung đình ở Thái Lan vô tình dẫn đến những hệ quả liên quan đến sự nhập nhằng ranh giới trong việc phân định
“hình tượng nhân vật dân gian” và “hình tượng nhân vật văn học viết” trong văn học Thái Lan Thông thường, sự khác biệt ở phạm trù nhân vật giữa hai bộ phận văn học này thường khởi nguồn từ sự khác biệt về mặt thi pháp học Nói đến thi pháp văn học viết trước hết là nói đến sự xem xét, tìm ra những đặc trưng nghệ thuật của từng tác giả (trào
TỰ SỰ- TRỮ TÌNH văn học viết cung đình
viết lại
chuyển hoá
Trang 26lưu, khuynh hướng, thời đại,…), nhưng thi pháp văn học dân gian thì không hẳn là như vậy Nói đến thi pháp văn học dân gian lại có nghĩa là nói đến thi pháp của từng thể loại văn học dân gian Xét riêng về góc độ nhân vật trong tương quan so sánh giữa các thể loại tự sự dân gian và phi dân gian, có thể thấy nổi lên một số sự khác biệt về khía cạnh nhân vật như sau:
Nhân vật trong các tác phẩm
tự sự văn học dân gian
Nhân vật trong các tác phẩm
tự sự văn học viết
Do tập thể các tác giả dân gian sáng
tạo ra (mang tính tập thể, tính phi bản
quyền)
Do một hoặc một nhóm tác giả có tên tuổi cụ thể sáng tạo ra (tính cá thể, tính bản quyền cao độ)
Nhân vật theo những type và chi tiết
cụ thể, chia thành hai tuyến rõ rệt:
thiện và ác, tự nhiên và xã hội, thần
thánh và con người,… Hành động
(theo chức năng) là yếu tố quan trọng
để cấu thành cốt truyện và đánh giá
nhân vật
Nhân vật đa dạng, phong phú và mang đậm tư tưởng – tình cảm của người sáng tác, được khắc hoạ ở chiều sâu nội tâm, không thể dùng các khía cạnh đạo đức đơn giản, giáo điều
Bảng 1.2: So sánh một vài đặc điểm nhân vật trong tác phẩm tự sự văn học
dân gian và tác phẩm tự sự văn học viết
Nhìn chung, thi pháp nhân vật phân biệt tương đối rạch ròi vấn đề này Theo bảng trên, hai trong số những yếu tố quan trọng đầu tiên thường hay được sử dụng để đánh giá xem tác phẩm ấy có phải là một tác phẩm văn học dân gian hay không chính là xem xét tính bản quyền cũng như phương thức truyền miệng của tác phẩm đó, từ đó có một cái nhìn cụ thể và rõ ràng hơn về hình tượng trong một tác phẩm cụ thể Thi pháp nhân vật khác nhau của hai bộ phận văn học khác nhau cung cấp cho người một một cái nhìn cận cảnh về sự xuất hiện của các hình tượng nhân vật trong các tác phẩm đang xét, xem
đó có phải là một nhân vật thuộc dòng văn học dân gian hay không Tuy nhiên, do tính chất không rạch ròi giữa các nền văn học ở Thái Lan, khi mà việc truy xuất bản gốc của tác phẩm trong nhiều trường hợp là bất khả thi, đôi khi các nhà nghiên cứu vẫn tranh cãi
về tính tác giả của các tác phẩm kiểu như vậy Ví dụ như tác phẩm Khobut, nhiều người
cho rằng tác phẩm này của Sunthorn Phu bởi từ hình thức (thơ ca) đến nội dung (phong
cách viết) đều mang đậm dấu ấn của tác giả, nhưng cũng lại là tác phẩm Khobut được
Trang 27tìm thấy ở vùng Nam Thái Lan, cùng một nội dung nhưng không được viết bằng thơ,
hành trạng nhân vật vẫn được giữ nguyên, vậy thì tác phẩm Khobut này có được xem là thuộc dòng văn học cung đình hay không, hay là bản dân gian của tác phẩm Khobut
gốc? Như vậy, chính sự bắt tay vào gia công sáng tạo thêm của nhóm các tác giả hoàng gia đã làm cho diện mạo của nhân vật vốn có gốc gác từ dân gian trở nên sâu sắc và phức tạp hơn trong hành trạng, và ngược lại cũng làm cho các nhân vật có gốc gác từ văn học cung đình vốn dĩ phải có đặc điểm tuân theo quy luật của thi pháp tự sự dân gian nói chung, lại trở nên có xu hướng “cung đình hoá”, tức tiến gần hơn đến với thi
phận văn học viết nhưng những yếu tố về nội dung, cấu trúc cốt truyện,… lại mang đậm tính dân gian Có tác phẩm thuộc bộ phận văn học dân gian nhưng các yếu tố thuộc về thi pháp như diễn biến tâm lý nhân vật, không – thời gian nghệ thuật,… lại rất khác biệt, rất “hiện đại” so với những tác phẩm cùng loại Và cuối cùng, đối với những tác phẩm
kinh điển như Khun Chang Khun Phaen, Phra Abhai Mani hay Ramakien, chúng tôi vẫn
chủ trương đưa vào đối tượng khảo sát, nhưng chỉ dựa trên tư liệu là bản dân gian mà thôi
Về văn học dân gian và văn học Phật giáo ở Thái Lan, giữa hai nền văn học này
cũng có sự trao đổi, tương tác qua lại cũng như chia sẻ lẫn nhau những yếu tố thuộc dòng văn học của mình Sự tương tác này có lẽ bắt nguồn sâu xa từ tác nhân lịch sử (sự
du nhập và duy trì khá sớm của Phật giáo nguyên thuỷ vào khu vực ngày nay là Thái Lan) và tác nhân văn hoá tộc người (Thái Lan thuộc cơ tầng văn hoá Đông Nam Á) Các tác phẩm văn học Phật giáo, điển hình nhất và đặc biệt nhất là các jataka, đã cùng với Phật giáo du nhập vào Đông Nam Á nói chung và Thái Lan nói riêng một cách hoà bình
êm thấm, và trong quá trình chung đụng với đặc thù văn hoá nơi đây, các jataka này đã biến đổi một cách không ngừng để trở nên phù hợp với tâm thức người bản địa
Jataka (Bổn sinh kinh) hay còn được hiểu là những câu chuyện tiền thân của đức
Phật, là một tập kinh bao gồm 547 truyện nói về những kiếp tiêu biểu trong vô lượng kiếp sống của đức Phật trước khi Ngài trở thành Phật Những câu chuyện này mang nhiều ý nghĩa về mặt triết lý, lời răn, chứa đựng những thông điệp hay bài học đạo lý
khá sâu sắc Theo nhà nghiên cứu Phan Thu Hiền và Đỗ Văn Đăng trong Ảnh hưởng của jataka trong văn hoá Đông Nam Á22, đối với hai trường phái Phật giáo được phân chia từ khá sớm là Mahayana (Bắc tông) và Theravada (Nam tông) thì jataka có vẻ như đóng vai trò quan trọng hơn trong trường phái Theravada Nếu như các quốc gia theo
21 Chúng tôi quan tâm nhiều đến sự khác biệt về khía cạnh nhân vật là bởi, trong khi phân tích hình tượng nhân
vật yak, chúng tôi cũng nhận thấy ở một vài tác phẩm, hình tượng nhân vật này được xây dựng theo một cách
rất gần với thi pháp xây dựng nhân vật trong văn học cổ điển/cung đình Thái Lan
22 [40]
Trang 28dòng Mahayana chủ yếu lưu giữ các jataka trong hệ thống kinh tạng đồ sộ thì ở các quốc gia theo dòng Theravada lại chủ trương tiếp nhận một cách sáng tạo và không ngừng tinh giản theo cách của riêng mình (từ 547 jataka xuống còn 50 jataka, rồi 10 jataka, cuối cùng chỉ còn lại 1 jataka quan trọng duy nhất mà thôi)
Chính sự tiếp nhận theo khuynh hướng tinh giản cho dễ đọc, dễ hiểu, phù hợp với
tạo nên một hiệu ứng sâu rộng trong đời sống sinh hoạt xã hội của người dân Đông Nam
Á Thái Lan cũng không nằm ngoài xu hướng này Sự ảnh hưởng của các jataka đến văn học dân gian mà cụ thể hơn là đến truyện kể dân gian Thái Lan được thể hiện thông qua các yếu tố sau:
Đầu tiên là về mặt kết cấu Các jataka đã góp phần vào việc kiến tạo nên kiểu kết
cấu truyện lồng khung sơ cấp trong các truyện kể dân gian Thái Lan Trong kho tàng
truyện kể Thái Lan, không khó để bắt gặp những câu chuyện mang dáng dấp kết cấu
kiểu Gặp gỡ – Kể chuyện – Nhận diện thường thấy trong jataka:
Gặp gỡ: Một nhân vật Phật giáo có trí huệ sâu rộng gặp mặt một (hoặc nhiều) nhân
vật khác, thường là thường dân hoặc chúng tăng để kể cho họ nghe câu chuyện nào đó
Kể chuyện: Nhân vật Phật giáo có trí huệ sâu rộng đó kể lại một câu chuyện tự sự
hoàn chỉnh về mặt nội dung
Nhận diện: Nhân vật Phật giáo có trí huệ sâu rộng – người kể chuyện nãy giờ, giải
thích về tiền kiếp của từng nhân vật nổi bật trong câu chuyện vừa kể, rồi rút ra một bài học đạo đức sâu sắc nào đó
Con rùa đen, Con cá vàng, Khun Luang Viranga, Nguồn gốc hạt lúa, Sự tích hoa hồng, Hai con thằn lằn,… là những truyện thuộc kiểu kết cấu như vậy
Tiếp đến là về mặt đề tài Từ kiểu kết cấu lồng khung xâu chuỗi và từ những câu
chuyện tập trung nói về thế giới động vật trong jataka, dân tộc Thái đã tiếp nhận từ nhiều nguồn, sau đó sáng tạo nên kiểu truyện loài vật khá đặc trưng như chùm truyện về con
thỏ, con gà, con vẹt (Sự tích hình thỏ trên mặt trăng, Chuyện về gà gô thông thái, Chuyện về con vẹt thông minh,…) Các truyện này đã kế thừa kiểu kết cấu lồng khung
xâu chuỗi với một truyện chính và các tiểu truyện bên trong, nhưng đã tinh giản đi cho
dễ hiểu hơn Thông thường, số tiểu truyện trong truyện chính ít khi nào vượt quá 10,
về nhân vật thông minh Có nhà nghiên cứu cho rằng, kiểu truyện trạng thường gặp trong kho tàng truyện trạng Đông Nam Á có nguồn gốc xuất xứ từ jataka 546, trong đó nhân vật chính là Osadha Kumara, một tiền thân của Đức Phật, tuy chỉ mới bảy tuổi
23 Chữ dùng của Phan Thu Hiền và Đỗ Văn Đăng
24 Jataka 546: Truyện tiền thân Maha Ummagga
Trang 29nhưng Kumara luôn chiến thắng nhờ những mưu mẹo khôn ngoan của mình (dùng mật ong nhử kiến đang được buộc sợi len để xâu sợi len đó qua lỗ ngọc, thả khúc gỗ xuống
Như vậy, có thể thấy nền văn học Phật giáo mà tiêu biểu là các jataka đã góp phần ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn học dân gian nói chung và các tác phẩm tự sự dân gian nói riêng Jataka đã khơi nguồn cảm hứng không chỉ đối với những yếu tố lớn như
đề tài, chủ đề, kết cấu, mà còn đối với những yếu tố nhỏ hơn như kiểu nhân vật (nhân vật Phật giáo, nhân vật thuyết pháp), hình ảnh, biểu tượng, motif trong truyện kể dân gian Đây còn là một sự dung hoà khá thú vị giữa tôn giáo và văn học, làm nên nét đặc trưng của văn học Đông Nam Á, trong đó có Thái Lan
1.1.3 Vị trí truyện kể dân gian Thái Lan trong tiến trình văn hoá Đông Nam Á 1.1.3.1 Tính dân tộc và tính ngoại lai
Cũng đồng thời là một trong những nền văn minh lớn trên thế giới nhưng từ lâu,
Với vị trí địa lý đặc thù cùng với các dấu ấn lịch sử khó phai trong quá khứ, nhiều người
đã nhìn nhận rằng Đông Nam Á dù muốn dù không vẫn phải chịu khép mình dưới hai cái bóng vô cùng lớn của văn minh nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa Thế nhưng, câu chuyện “1000 năm Bắc thuộc” của Việt Nam hay “dấu ấn Ấn Độ hoá” của Malaysia, Indonesia, Thái Lan,… đã là những câu chuyện thuộc về quá vãng Với sự tiến bộ trong cách nhìn nhận và nghiên cứu khu vực Đông Nam Á, nhiều công trình đã được công bố, chứng minh rằng dù nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa, những “cái nôi” vĩ đại của thế giới, nhưng Đông Nam Á vẫn có những bản sắc văn hoá rất riêng, rất đặc trưng Đó là sự tổng hoà của hai yếu tố không thể tách rời: Tính dân tộc và tính ngoại lai
Cũng như nhiều quốc gia Đông Nam Á khác, nền văn hoá Thái Lan nói chung và
folklore dân gian Thái Lan nói riêng cũng được cấu thành bởi hai yếu tố chủ yếu là yếu
tố văn hoá ngoại lai và yếu tố văn hoá bản địa Trên cái nền cơ tầng chung nhất của
Đông Nam Á ấy, người Thái vẫn xây dựng được cho mình những sản phẩm tinh thần rất đặc trưng, mang đậm dấu dấn của văn hoá Thái Lan
Người Thái có mặt trên vùng đất với tên gọi Thái Lan khá muộn mằn, và họ không phải là cư dân bản địa ở đó Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đã có sự “tổng di cư” của tộc người Thái cổ về phía nam men theo các thung lũng sông và chia thành các hướng khác nhau, trong đó nhóm người Shan hay còn được gọi là Thai Yai (ไทยใหญู) di chuyển về phía Bắc Miến Điện, nhóm người đông nhất hay còn gọi là Thai Noi (ไทย
25 Jataka 546: Truyện tiền thân Maha Ummagga
26 Quan niệm lạc hậu này đang dần được cải chính thông qua các nghiên cứu tiến bộ ở khu vực này về sau
Trang 30น้อย) định cư ở Chiang Saen (เชียงแสน) – một tỉnh ở miền bắc Thái Lan ngày nay27 Lúc bấy giờ, nơi này chính là địa bàn cư trú của tộc người Mon - Khmer Tại đây đã diễn ra sự xâm nhập và hỗn cư của người Thái, đặc biệt ở khu vực lưu vực sông Chao Phraya Trải qua nhiều biến cố lịch sử, cộng đồng người Thái cổ mở rộng địa bàn cư trú xuống phía nam, tạo tiền đề cho một vương quốc hùng mạnh ra đời: Vương quốc Sukhothai – Vương quốc đầu tiên của người Thái trên đất Thái Như vậy có thể nói, đã
có dấu vết của sự xuất hiện của con người ở vùng đất được gọi là Thái Lan ngày nay từ hàng ngàn năm trước, nhưng lịch sử của người Thái trên đất Thái chỉ chính thức được ghi nhận từ khi nhà nước Sukhothai (อาณาจักรสุโขทัย) được thành lập vào năm 1238 Vương quốc Sukhothai ra đời đã ghi dấu sự thắng lợi trong cuộc đấu tranh dựng nước của người Thái với người Khmer dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai thủ lĩnh Pho Khun Pha Mueang (พูอขุนผาเมือง) và Pho Khun Bang Klang Hao (พูอขุนบางกลางหาว) Về sau, Pho Khun Bang Klang Hao trở thành vị vua đầu tiên của Sukhothai, tự xưng là Pho Khun Sri Indrathit (พูอขุนศรีอินทราทิตย์)
Có thể nói, người Thái cổ tuy mang trong mình “thân phận” của những “kẻ ngoại bang”, “kẻ nhập cư” nhưng cuối cùng lại nhanh chóng bị thuyết phục và dung hoà bởi lớp văn hoá vô cùng sôi nổi của tộc người Mon - Khmer sẵn có trên đất Thái Đây chính
là sự hoà hợp về mặt dân tộc mà ở đó, người Thái không ngừng tiếp nhận và chuyển hoá các yếu tố văn hoá Mon, Khmer, Myanmar để làm giàu thêm cho văn hoá tộc người sẵn
có của mình Họ kế thừa hàng loạt các thành tựu nghệ thuật cũng như các kho tàng folklore phong phú của người Mon - Khmer, từ các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật cho đến thi ca, từ các truyền thuyết, truyện kể cho đến các bài ca, bài kinh tụng,…Vì thế, có thể dễ dàng tìm thấy các nội dung văn hoá tương đồng trong các tác phẩm tự sự dân gian của Thái Lan và của Khmer cổ như nền văn hoá lấy nông nghiệp trồng trọt sơ khai làm gốc; săn bắt hái lượm bằng những nông cụ tự chế; tín ngưỡng vạn vật hữu linh và các hình thức ma thuật cổ xưa như bùa chú, ma thuật, ngải ếm, nghi lễ trừ tà,…
Ngoài ra, Thái Lan chịu ảnh hưởng rất sâu sắc bởi lớp văn hoá ngoại lai từ Ấn Độ Thế kỷ I, các thương gia người Ấn đã đến “vùng đất vàng” Đông Nam Á để tìm kiếm những sản vật quý hiếm như hương liệu, tơ lụa, khoáng sản,… và đó cũng là lúc mà quá trình cọ xát văn hoá diễn ra Các nhà truyền bá Phật giáo đã mang đến cho vùng đất màu
mỡ này một màu sắc tôn giáo rất khác biệt so với các hình thức tâm linh trước đó của
cư dân Đông Nam Á Người Đông Nam Á tìm thấy trong Phật giáo nói chung những triết lý vừa gần gũi vừa siêu hình, vừa bí ẩn và giản dị về bản chất của con người và nơi
27 [28,14]
Trang 31trần thế mà con người đang sống Ảnh hưởng của Phật giáo và cả Hindu giáo bắt đầu lan rộng sang toàn Đông Nam Á
Cuộc tiếp xúc và giao lưu văn hoá của Ấn Độ đối với Thái Lan diễn ra có khác biệt
so với một số quốc gia Đông Nam Á khác Thái Lan tiếp nhận ảnh hưởng của văn hoá
Ấn Độ gián tiếp thông qua các quốc gia khác như Khmer, Malaysia, Myanmar và Sri Lanka Ảnh hưởng này được đánh giá là khá toàn diện về mọi mặt nhưng đặc biệt đậm nét ở khía cạnh tôn giáo Tuy vậy, điều này không làm cho người Thái “bỏ quên” đi nếp văn hoá bản địa vốn đã khắc sâu vào tâm trí của họ Đứng trước sự du nhập hoà bình của một làn sóng văn hoá ngoại lai, họ không hề tỏ ra lúng túng mà luôn tiếp nhận dựa trên tinh thần tổng hoà, linh hoạt biến báo sao cho phù hợp với thế giới quan và nhân sinh quan của bản thân mình Tính dân tộc đã diễn ra như là một quá trình “Thái hoá” lâu dài lớp văn hoá Ấn Độ, khiến chúng thân thuộc và gần gũi đến nỗi người Thái tưởng như những hình thức sinh hoạt văn hoá ấy là tự sinh, thuộc về bản địa nhưng thực chất
nó có nguồn gốc xa xưa từ Ấn Độ
Có thể dễ dàng tìm thấy tính ngoại lai và tính dân tộc cùng song hành và tương hỗ lẫn nhau trong folklore dân gian Thái nói chung và truyện kể dân gian Thái nói riêng, thể hiện qua sự xuất hiện của các hình tượng nhân vật có gốc gác từ Hindu giáo và Phật giáo như tu sĩ, đạo sư, thần Indra, thần Brahma, đức Phật,… hay qua các motif thần kỳ như sự tái sinh, sức mạnh ẩn dụ của lửa, nước, không khí; các công cụ thần kỳ hỗ trợ nhân vật như búp sen, cái bát vàng, quyển kinh Phật hay chuỗi hạt; các không gian thần
kỳ như chùa chiền, đền tháp, thiên đường, địa ngục,… Có thể sơ đồ hoá mô hình các yếu tố cấu thành folklore trong truyện kể dân gian Thái Lan như sau:
Trang 32Sơ đồ 1.2: Hai yếu tố cấu thành folklore trong truyện kể dân gian Thái Lan
Tóm lại, bằng một vị trí địa lý cũng như điều kiện tự nhiên đầy ưu đãi, cũng như từ
sự đặc thù của khu vực – không gian văn hoá Đông Nam Á bao trùm, quá trình ngoại lai cũng như dân tộc các yếu tố folklore diễn ra ở Thái Lan đã diễn ra như là một tất yếu của lịch sử Bằng cách ấy, người Thái một mặt vẫn giữ được những nét bản sắc văn hoá rất riêng của dân tộc mình, mặt khác có điều kiện để tiếp thu và làm giàu thêm vốn văn hoá phong phú từ những nguồn khác nhau Ở đó, có thể coi các tác phẩm truyện kể dân gian là một hình thức folklore sống động nhất, làm nên bộ mặt tinh thần phong phú và đặc sắc của dân tộc Thái nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung
1.1.3.2 Tính thống nhất trong sự đa dạng
Trong chuyên luận Những thay đổi trong văn hoá và tôn giáo của Đông Nam Á, nhà
nghiên cứu Niels Mulder đã đưa ra một luận điểm khác xác đáng khi nói về khu vực
Văn hoá Đông Nam Á là một nền văn hoá thống nhất trong sự đa dạng, hay nói khác đi,
sự đa dạng trong văn hoá Đông Nam Á không những không biến nơi đây thành các “tiểu văn hoá” riêng biệt, rời rạc, mà ngược lại, nó đã biến khu vực này trở nên có sự liên kết
Trang 33chặt chẽ và thống nhất hơn, thể hiện rõ nét qua hai phương diện: Phương diện thể loại văn học dân gian và phương diện văn hoá khu vực
Tính thống nhất trong sự đa dạng từ phương diện thể loại
Là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á lục địa, văn học Thái Lan mang những nét tương đồng thú vị khi được nhìn nhận trong tiến trình phát triển của Đông Nam Á Có thể nói, không nơi đâu mà tình hình tư liệu các tác phẩm tự sự dân gian lại phong phú và đa dạng như ở khu vực này Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, bên cạnh các thể loại truyện dân gian khá tương đồng với văn học dân gian thế giới như thần thoại, truyền thuyết, sử thi,…, Đông Nam Á là một trong những khu vực đặc biệt thành công trong việc kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố tự sự và trữ trình dân gian để sáng tạo nên
thể loại truyện thơ dân gian cho riêng mình Thể loại này trở thành pantun ở Indonesia,
hikayat ở Malaysia, lam ở Lào và sepha ở Thái Lan Hiếm có nơi đâu mà các tác giả dân
gian lại có thể sáng tác, thuộc làu và truyền tụng một văn bản tự sự dân gian dài có khi đến mấy nghìn câu thơ đơn/ đôi bằng những hình thức đa dạng như ở Đông Nam Á Có
lẽ cũng chính vì thế mà khi nhận định về thể loại truyện thơ ở Đông Nam Á, Vũ Tuyết
Loan và Nguyễn Sỹ Tuấn trong “Văn học Campuchia qua những chặng đường lịch sử” cho rằng: “Truyện thơ là một thể loại tổng hợp gồm nhiều dạng văn học Nó vừa là truyện lại vừa là thơ Nó chứa đựng cả huyền thoại, truyền thuyết, lịch sử, thế giới hiện thực, thế giới tưởng tượng và những giáo lý quen thuộc Nó vừa là dân gian truyền miệng lại vừa là bác học thành văn.”29
Xét ở phương diện thể loại, có thể thấy kho tàng truyện kể ở Thái Lan còn mang nhiều điểm tương đồng so với các quốc gia Đông Nam Á khác Kiểu truyện sự tích ở Thái Lan nổi lên như là một thể loại khá nổi trội và mang nhiều nét giống nhau về mặt cấu trúc hình thái, khung cốt truyện cũng như đặc điểm nghệ thuật so với các kiểu truyện cùng loại Cùng một ngọn núi, nhành cây, bông hoa,…, ở từng đất nước khác nhau có thể có muôn vàn câu chuyện lý giải nguồn gốc xuất hiện và sinh sôi, nảy nở khác nhau nhưng có khi lại thống nhất về mặt chức năng nhân vật hay kiểu chi tiết thành phần Vấn
đề về việc xác định nội hàm của kiểu truyện sự tích ở Đông Nam Á cũng như sự khác biệt của kiểu truyện này so với các khu vực khác trên thế giới đang còn là một vấn đề còn đang bỏ ngỏ và thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu văn học dân gian trong nước
Có một điều thú vị khi nói đến mảng tự sự dân gian ở khu vực Đông Nam Á là sự
xuất hiện của những type và motif quen thuộc trong truyện cổ tích Trước hết cần phải
nhìn nhận rằng, vấn đề type và motif trong truyện cổ tích là một vấn đề khá nổi bật trong nghiên cứu truyện kể dân gian thế giới, và sự xuất hiện của những type hay motif truyện
29 [27,22]
Trang 34giống nhau ở những quốc gia khác nhau không phải là một điều khó hiểu trong truyện
cổ tích Tuy nhiên, ở Đông Nam Á, tần suất xuất hiện của type truyện Cinderella (Nàng
Lọ Lem) thì khá nhiều và sự sáng tạo nhân vật trong cốt truyện ở mỗi quốc gia lại khá giống nhau về mặt thi pháp Phần lớn các hình tượng này đã được dân tộc hoá để trở nên
quen thuộc và phù hợp với mỗi quốc gia hơn Có thể kể ra đây Tấm Cám của Việt Nam, Nàng Utara, Con cá vàng của Thái Lan, Con rùa vàng của Lào, Nàng Can-tóc và nàng Song Ang-cát của Campuchia, Truyện con rùa của Myanmar,…
Đông Nam Á còn chia sẻ nhiều motif giống nhau trong thể loại truyện thần thoại,
đặc biệt là motif quả bầu thần, motif đại hồng thuỷ Theo đó, cốt truyện thường thấy là vào ngày tận thế của nhân loại, có một trận đại hồng thuỷ kinh hoàng trút xuống trái đất
và quét đi hết mọi thứ có trên trái đất Bằng một cách nào đó, có hai người một nam, một nữ đã thoát kiếp nạn (thường là anh em ruột thịt với nhau) Họ đã được chỉ định sẽ lấy nhau và sinh ra một quả bầu to lớn Từ trong quả bầu đó, loài người được tái sinh
một lần nữa Các sáng tác có motif này có thể kể đến như là Truyện quả bầu thần, Đẻ đất đẻ người, Nguồn gốc muôn loài, Sự tích pháo thăng thiên,…
Sự tiếp xúc văn hoá thông qua quá trình thương mại và truyền đạo của Ấn Độ đã thổi một làn gió mới mẻ nhưng lại quen thuộc vào Đông Nam Á Trong quá trình hoà bình này, người Ấn Độ một cách vô tình hay hữu ý đã mang theo cả một kho tàng văn hoá – văn học đồ sộ của đất nước mình đến với Đông Nam Á, một khu vực coi trọng sự
hoà hợp và không ngại ngần tinh biến để đạt được cảnh giới của sự hoà hợp đó Sử thi
Ramayana là một ví dụ điển hình Có thể nói, “bản anh hùng ca Ramayana đã theo
không gian thương mại đến với cư dân Đông Nam Á Đây cũng là lý do Đông Nam Á
thể nói chưa nơi nào như ở Đông Nam Á mà sử thi Ramayana lại được đón nhận nồng
nhiệt đến như vậy Bằng trí tưởng tượng phong phú trên phông nền thẩm mỹ hoà quyện giữa văn hoá Ấn Độ và văn hoá bản địa, người dân Đông Nam Á đã sáng tạo nên những
sản phẩm tinh thần từ một mạch nguồn gốc là Ramayana: Đó là Sri Rama của Inđônêsia, Riêm Kê của Campuchia, Pha Lak Pha Lam, Xỉn Xay của Lào, Ramakien của Thái Lan, Rama của Myanmar, Alim của Philippin, Dạ Thoa Vương của Việt Nam… Ramayana
không chỉ làm nên những áng sử thi – tình sử đẹp lộng lẫy ở mỗi quốc gia, mà motif hàm chứa bên trong nó cũng trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho truyện kể dân gian,
thần thoại, truyện thơ,… Vì vậy, thật không ngoa khi nói rằng Ramayana đã tìm được
quê hương thứ hai của mình trên mảnh đất Đông Nam Á
Cuối cùng, tính thống nhất trong sự đa dạng của thể loại còn thể hiện ở một loại
hình tự sự dân gian rất đặc trưng của người Đông Nam Á, đó là hệ thống truyện trạng
30 [50]
Trang 35Trên cái phông nền thể loại này, mỗi quốc gia Đông Nam Á lại sáng tạo ra cho riêng
tài giỏi và khôn ngoan, họ biết ứng biến sao cho phần thắng nghiêng về chính nghĩa Những tài năng và lối ứng xử của họ đã phần nào khắc họa được tinh thần dân tộc và tính cách dân tộc hàm chứa bên trong Nếu như ở Việt Nam có Trạng Quỳnh thì ở Thái Lan có Sri Thanonchai, ở Campuchia có Thơ Mênh Chây và ở Lào có Xiêng Miệng,… Hành trạng của các hình tượng trên ngoài mục đích mang lại tiếng cười giải trí, nó còn thể hiện những cái nhìn mang tính phê phán của tập thể nhân dân lao động đối với cái bất bình đẳng, bất công và đáng lên án trong xã hội
Tính thống nhất trong sự đa dạng nhìn từ phương diện văn hoá khu vực
Tính thống nhất trong sự đa dạng là một đặc tính quan trọng và then chốt, có ý nghĩa tiền đề khi tiếp cận khu vực Đông Nam Á dù trên bất kì khía cạnh nào Tuy có đến hơn
11 quốc gia thành phần với nhiều sự khác biệt về vị trí địa lý, vùng lãnh thổ, văn hoá, tôn giáo,… nhưng rõ ràng Đông Nam Á trước hết vẫn là một khu vực thống nhất về bản chất Tìm về những biểu hiện folklore trong nguồn truyện kể Đông Nam Á chính là tìm
về những thành tố văn hoá thời cũ xưa mang những nét tương đồng rất lớn trong tiến trình phát triển ở khu vực này Dưới đây xin trình bày một số biểu hiện cụ thể của tính thống nhất trong sự đa dạng qua việc tập hợp và đối sánh một số tư liệu truyện kể Thái Lan và một số quốc gia Đông Nam Á khác
Về biểu hiện của truyền thống văn hoá sản xuất, không phải ngẫu nhiên mà hình
ảnh hay các gợi ý, ẩn dụ về hình ảnh cây lúa lại xuất hiện với tần suất dày đặc trong truyện kể Đông Nam Á Lúa trở thành “nữ thần” trong các truyền thuyết về Nữ thần Lúa Dewi Sri ở Indonesia, trở thành đối tượng thiêng liêng hoá trong chùm truyện lý giải nguồn gốc cây lúa ở Thái Lan hay trở thành một linh hồn đầy nhạy cảm trong truyền thuyết về hồn lúa ở Malaysia.Với quan niệm vạn vật hữu linh, nhân dân Đông Nam Á tạo ra các hình ảnh vật linh bằng sự nhân cách hóa cây cối, đất đai, muôn thú,… mà điển hình là tín ngưỡng thờ thần Lúa, mẹ Lúa Những người nông dân canh tác lúa đối xử với cây lúa như là đối xử với một linh vật Trước khi cấy lúa họ làm lễ cầu được mùa, khi thu hoạch họ cũng phải tiến hành các nghi lễ nhất định Ví như trước khi gieo lúa họ chọn lấy những hạt giống tốt nhất – được để dành từ vụ mùa trước, trịnh trọng đem trồng
ở thửa ruộng tốt nhất; những hạt thóc này sẽ là “mẹ lúa” mà người ta cầu nguyện Trong tâm thức mỗi người Đông Nam Á, lúa là một nguồn lương thực có sức mạnh vạn năng,
là “thánh phẩm” trời ban để duy trì sự sống cho muôn loài Những quan niệm này theo thời gian đã hoá thân vào thành nội dung tinh thần của các lễ hội phong phú, đa dạng diễn ra trên hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, mỗi quốc gia đều có những quan niệm riêng về thần Lúa nhưng tựu trung lại đều thể hiện một sự thành kính, quý trọng cây lúa
Trang 36một cách tuyệt đối Ở Tây Nguyên Việt Nam, từ xưa cho đến nay vẫn còn diễn ra lễ hội mừng lúa mới (Tết Cơm mới) của các tộc người J’rai và Bana Ở Malaysia có lễ hội tạ
ơn thần Lúa (Tadau Kaamatan) của cộng đồng dân tộc Kadazan Dusun diễn ra trong suốt một tháng Ở Thái Lan thì có lễ hội cúng mừng nữ thần Lúa vào tuần trăng đầu tiên của tháng 3 âm lịch, khi vụ mùa thu hoạch đã xong xuôi Các nghi thức cúng tế nữ thần trước hết gắn liền với các truyền thuyết về bà, và thường được tiến hành ba lần trong suốt vụ mùa Lần thứ nhất khi lúa ngậm đòng, lần thứ hai khi lúa đã thu hoạch mang về sân phơi, lần thứ ba là khi lúa đã được phơi khô, đã được cho vào bao, vào bồ, cất trong kho Lần thứ nhất là để gọi hồn Mẹ Lúa về phù trợ cho việc sinh sôi của lúa (tiếng Thái
gọi là tham khuan, có nghĩa là mời gọi linh hồn của mẹ Lúa)
Về văn hoá tổ chức đời sống vật chất, có thể thấy tuy khác biệt về vỏ hình thức là
ngôn từ truyền miệng nhưng nội dung văn hoá – tinh thần của truyện kể dân gian Thái Lan là rất gần gũi so với các quốc gia Đông Nam Á khác Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết các truyện về loài người đều xây dựng hình tượng nhân vật nữ mặc váy hoặc một hình thức trang phục khác có khuôn mẫu như váy, cũng như xây dựng hình tượng nhân vật nam mặc khố hoặc một hình thức trang phục khác tương tự như vậy Chúng trở thành krapong mà Mae Nak, Nang Phikul Thong, Nang Takaew mặc, trở thành phasin của công chúa sen vàng hay trở thành pakhama hay panung của anh chàng Lung
Ta được đề cập trong truyện kể Bên cạnh trang phục, những tương đồng về thói quen
sử dụng động vật cũng được nhận thấy Phần lớn người dân Đông Nam Á sử dụng những con vật có sức bền cao, sức kéo khoẻ để phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp như trâu, bò và sử dụng những con vật to lớn, có đôi chân khoẻ để làm phương tiện đi lại như voi, ngựa Thói quen ở nhà sàn để cách li với thú dữ và tạo điều kiện sinh sống thuận lợi hơn cũng được ghi nhận trong một số truyện sinh hoạt Thái Lan, Lào, Myanmar
và Philippines
Về khía cạnh tôn giáo, đối với các quốc gia theo Phật giáo Tiểu thừa Theravada như
Thái Lan, Lào, Campuchia và Myanmar, hình tượng đức Phật trong truyện kể được mô
tả rất trang nghiêm và uy nghi Thông thường, sự xuất hiện của đức Phật cũng đi kèm với sự xuất hiện của những vị thần vốn có nguồn gốc từ Hindu giáo Ấn Độ như Vishnu, Brahma, Indra Các vị thần này, một mặt có vai trò rất quan trọng và cũng được tôn sùng rất mực trong đời sống nhân dân, tuy nhiên, trong tâm thức người dân ở những quốc gia này (đặc biệt là Thái Lan), các vị thần Vishnu, Brahma, Indra đều “dưới trướng” của đức Phật, đôi khi nghe theo mệnh lệnh của đức Phật và hành trạng của những vị thần này được khắc hoạ rất “đời thường”, mang đậm lời ăn tiếng nói của nhân dân hơn Chính
vì thế, có nhiều type và motif truyện đôi khi xuất hiện tương tự nhau ở những quốc gia khác nhau như Thái Lan, Campuchia, Lào và Myanmar
Trang 37Trên đây, chúng tôi vừa trình bày một số biểu hiện để làm sáng tỏ tính thống nhất trong sự đa dạng như là một đặc tính quan trọng khi đặt truyện kể dân gian Thái Lan vào tiến trình phát triển của văn hoá Đông Nam Á Thông qua đó, có thể thấy được truyện kể dân gian Thái Lan cũng là một bộ phận cấu thành văn học dân gian Đông Nam
Á, mang đầy đủ những đặc điểm quan trọng của một nền văn học lấy truyền khẩu làm công cụ để tồn tại và phát triển Sẽ thật thiếu sót nếu như tiếp cận nền văn học Thái Lan
mà bỏ quên đi bối cảnh tồn tại hay nói khác đi là không gian văn hoá mà nó xuất hiện Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận những điểm khác biệt của hệ thống folklore tồn tại trong truyện kể dân gian Thái Lan Chúng mang đậm bản sắc văn hoá, không gian văn hoá Thái Lan và khó có thể nhầm lẫn với bất kì nơi đâu
1.2 Quỷ: Nguồn gốc và khái niệm
Các sinh vật phi nhân nói chung và quỷ nói riêng luôn là những hình tượng vừa quen thuộc vừa bí ẩn trong thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi quốc gia dân tộc Quen thuộc, bởi những hình tượng này khá phổ biến trong kho tàng văn hoá và ngôn ngữ của các khu vực khác nhau, bí ẩn, bởi tính bán khoa học của chúng: Ma quỷ cùng những sinh vật phi nhân khác không chỉ là đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học
xã hội – nhân văn, mà còn là đối tượng nghiên cứu của tâm linh học, thần học, quỷ học,…, những phạm trù nghiên cứu mà đến nay vẫn còn khá nhiều tranh cãi về tính chất khoa học ngầm chứa bên trong
Vì vậy, để truy nguyên về nguồn gốc cũng như tìm kiếm một định nghĩa phù hợp
và xác thực nhất về yak – quỷ là một việc làm không dễ dàng Trong khuôn khổ của bài
nghiên cứu này, chúng tôi xin đưa ra những cách khu biệt khái niệm yak (mà tạm dịch
qua tiếng Việt là quỷ) bằng những cách nhìn mà chúng tôi khai thác được trong quá trình tìm hiểu tài liệu và phân tích khái niệm Cách làm này chỉ mang tính chất tương đối, nhằm phục vụ cho đối tượng nghiên cứu là yak trong truyện kể dân gian Bởi xét đến cùng, khi đặt hình tượng này trong bối cảnh truyện kể, có thể thấy được một số khác biệt khi đối sánh với bản thân hình tượng trong bối cảnh văn hoá – xã hội đơn thuần
1.2.1 Nguồn gốc
Nguồn gốc của quỷ, như đã có nói qua sơ lược ở trên, thường mang tính khu biệt rất
rõ đối với từng khu vực, vùng lãnh thổ Nói như vậy có nghĩa là, ở mỗi quốc gia dân tộc khác nhau thì sẽ có sự sáng tạo ra những hình tượng quỷ khác nhau, không đồng nhất
về cả bên trong lẫn bên ngoài Ma quỷ là những sinh thể thuộc về thế giới tâm linh của con người, nên cơ chế sáng tạo chủ yếu vẫn là từ trí tưởng tượng của loài người mà ra
Vì vậy, để có thể tìm về nguồn gốc nói chung của hình tượng là một điều không hề dễ dàng Bằng những tài liệu thu thập được, sau đây chúng tôi xin đánh giá một cách tổng
Trang 38quát bức tranh hình tượng qua hai tôn giáo lớn đại diện cho hai phần của thế giới là
Thiên Chúa giáo (phương Tây) và Phật giáo (phương Đông)
Quỷ trong văn hoá phương Tây qua Kinh Thánh
Trong văn hoá phương Tây, đặc biệt là trong Kinh Thánh, người ta tin rằng Satan là
con quỷ lâu đời và cổ xưa nhất trong lịch sử loài người Quỷ Satan được cho là đã cám
dỗ và mê hoặc chúa Jesus Nhiều đoạn trong Tân Ước đã đề cập đến những biểu hiện của sự kiện này: Khi sai các môn đệ rao giảng ở Galilei, chúa Jesus ban cho họ quyền
năng để đứng lên trên ma quỷ Khi họ trở về, Ngài nói với họ: “Ta đã thấy Satan từ trời rơi xuống như một ánh chớp” (Lc 10,17-20) Ở một đoạn khác, Satan đã dùng lời nói với hy vọng đốn ngã được ý chí của chúa Jesus: “Ta sẽ cho ngươi toàn bộ quyền thế của các nước trên thế giới này; cùng với vinh quang của chúng! Quyền hành đó đã được trao vào tay ta, và ta muốn trao cho ai tuỳ ý! Vậy nếu ngươi thờ lạy ta, thì tất cả những cái đó sẽ thuộc về ngươi!” (Lc 4,5-7) Trong lần mê hoặc Eva, Satan, dưới lốt của một con rắn, cũng dùng chính những lời lẽ kiểu như vậy để mê hoặc bà: “Không phải vậy đâu! Ông bà không chết đâu! Nhưng Thiên Chúa biết rằng ngày nào ông bà ăn trái đó thì mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ trở nên như Thiên Chúa, biết được điều lành điều dữ!” (St 3,4-6) Như vậy, qua một số ví dụ trên đây, có thể thấy được những đặc tính cơ bản của Satan đã được khắc hoạ rất rõ nét trong Tân Ước nói riêng và Kinh Thánh nói
chung: Đó là sự khôn lường, sự giả mạo, sự dối trá cũng như tính kiêu ngạo, thích quyền lực và ưa sức mạnh Thật ra, dưới trướng của Satan cũng có tập hợp những con quỷ khác, luôn tận tuỵ hết mình vì chủ nhân của mình Tuy nhiên, có vẻ như những dữ kiện
về những con quỷ khác trong các thánh thư Thiên Chúa giáo lại không nhiều bằng chúa
quỷ Satan Trong tài liệu Ma quỷ trong thế giới ngày nay của Giám mục Cristiani, tác
giả quyển sách cũng công nhận rằng Satan mang những nét chung nhất khi nói về những đặc tính của quỷ, đồng thời ông dẫn lời của Đức Cha Catherinet khi nói về tính chất của
những con quỷ khác ngoài Satan: “…sợ hãi, khúm núm, có quyền phép, bất lương, hay thay đổi, thậm chí thô lỗ, đều được tìm thấy trong bản tường thuật của Tin Mừng […]”31
Các dữ kiện về nguồn gốc của Satan cùng những con quỷ khác trong Kinh Thánh
đã thể hiện được phần nào những đặc tính cơ bản của quỷ trong quan niệm của phương
Tây, ít nhất là ở hai khía cạnh quan trọng là văn hoá và tôn giáo Theo đó, có thể thấy Satan và những con quỷ khác trong quan niệm của văn hoá phương Tây có sự mâu thuẫn
và không cố định trong bản chất Không bàn đến những vấn đề về bản chất tốt và bản chất xấu, có thể thấy rằng tính chất của các con quỷ này không đơn thuần chỉ là bản năng như ta vẫn nghĩ, mà chúng mang mọi ứng xử hành trạng giống con người: từ kiêu ngạo, ghen tức, giả bộ sợ hãi, tỏ ra thân thiết, thích nịnh bợ, cho đến thích quyền lực,
31 [94,326]
Trang 39địa vị và biết cấu kết với nhau thành bè phái,… Trong Đề cương quỷ học được xuất bản
bởi Giáo hội Engrafted Word, Christopher McMichael đã đề xuất 14 biểu hiện thuộc đặc tính bản chất của quỷ bao gồm:
1 Quỷ mang những nét tính cách giống con người Quỷ sẽ làm mọi cách khiến bạn trở thành chúng nếu bạn đầu hàng chúng: sự giận dữ, lòng ganh ghét, sự ham muốn, sự
mê hoặc, sự thất bại,…
2 Quỷ không có cơ thể hữu hình, vì vậy chúng luôn tìm kiếm để chiếm hữu một cơ thể để chiếm hữu
3 Quỷ có sự kiên nhẫn và các kế hoạch khá tốt, có chiến lược và có trí khôn
4 Chiến lược hàng đầu của chúng là tấn công Lời Chúa
5 Chúng được sắp xếp có hệ thống thành các cấp bậc và dạng mục
6 Chúng là những con quỷ tuyệt vọng và không thể chuộc tội
7 Quỷ không phải là những linh hồn của người đã chết
8 Quỷ có ý chí và khát vọng
9 Sẽ không có những con quỷ mới Không có “nơi sản xuất quỷ” ở dưới địa ngục
10 Những con quỷ luôn quyến rũ bạn bằng mọi giá Chúng là những sinh vật lầm đường lạc lối
11 Quỷ có thể biến hình thành các thiên thần ánh sáng
12 Quỷ luôn tìm mọi cách để được vào giáo hội
13 Quỷ không thể bị đày xuống địa ngục, chúng cũng không đến từ địa ngục Chúng
bị giới hạn sống trên trái đất cũng vì lý do này
14 Quỷ có thể sẽ rời khỏi bạn Tuy nhiên chúng có thể trở lại sau một khoảng thời
Bên cạnh những đặc tính cơ bản kể trên, nhất thiết phải lưu tâm đến một đặc tính
khá quan trọng của Satan và những con quỷ khác, đó chính là tính chất bán thần Tính
chất bán thần trong nguồn gốc của quỷ có nghĩa là, ít nhiều trong quá khứ, hình tượng quỷ đó đã từng là một thiên thần trong quan niệm Thánh Kinh Nội dung của nhiều thánh
thư quan trọng của Thiên Chúa giáo như Bức thư thứ hai gửi tín hữu Corinto, Sách Khải Huyền, Bức thư thứ hai gửi ông Timothy đã chỉ ra rằng Satan cùng một số con quỷ khác
đã từng là một cherubim Và Văn Trịnh Quỳnh Anh cũng nhất trí khi nhìn nhận: “Kinh Thánh cho rằng ma quỷ là một hữu thể thần linh, đã từng là một cherubim […] Satan cũng sở hữu thần tánh giống như các thiên sứ khác, vượt trội hơn con người, và bất
32 [81,2-3]
Trang 40tử”33 Vì tính kiêu ngạo cùng với sự tham lam của mình, Satan đã trở nên sa ngã, xúc phạm Chúa và bị cấm vào thiên đàng Mặc dù đã bị đuổi khỏi nơi mà mình vốn từng thuộc về, Satan vẫn luôn kiếm cách để ngồi lên ngai vàng đức chúa trời và thậm chí là còn muốn nâng mình lên cao hơn đức chúa trời Satan đã làm giả tất cả những gì mà đức chúa trời làm, từ lời nói cho tới các chương trình hành động, nhằm tranh thủ sự ủng hộ
và thờ phượng của phần còn lại của thế giới, từ đó xúi giục chống lại, đối nghịch đức chúa trời34
Như vậy, có thể thấy ít nhất là trong Kinh Thánh, hình thức nguyên thuỷ của quỷ
vẫn ít nhiều mang tính chất hữu thần trong quan niệm của người phương Tây Mặc dù hiện nay, việc Satan và thiên thần Lucifer có phải là một hay không thì vẫn thảng hoặc
còn gây tranh cãi, nhưng trong đa số các bản Kinh Thánh từ Cựu Ước tới Tân Ước, trong
các câu chuyện kể dân gian và các thánh thư quan trọng khác, người ta vẫn nhất trí thừa nhận về nguồn gốc minh thần của Satan Tính chất bán thần này đã làm mờ nhoè đi sự khu biệt về tính đạo đức của hình tượng quỷ - vốn là một hình tượng với những nét nghĩa tiêu cực trong tiếng Việt
Có thể nói Kinh Thánh là kinh văn kinh điển nhất có đề cập đến Satan và quỷ nói
chung, là kim chỉ nam cho nhiều nghiên cứu về quỷ học trên thế giới Dù càng về sau,
có những văn bản khác đề cập đến những hình tượng quỷ cụ thể hơn với các cách phân
loại, định danh và chia thứ bậc rõ ràng hơn như Cựu ước Solomon, Đèn lồng ánh sáng
(John Wycliffe), các tác phẩm của Alphonso de Spina Các văn bản này đã thể hiện những nỗ lực định danh và phân chia hình tượng quỷ, trong đó đáng chú ý nhất phải kể
đến quyển Hệ thống cấp bậc của Quỷ của Johann Weyer Theo đó, ông cho rằng có
Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu về nguồn gốc để truy nguyên ra các đặc điểm bản chất của quỷ trong văn hoá phương Tây, đặc biệt là tính bán thần, có thể thu về các kết luận sau:
Thứ nhất, Kinh Thánh đã định hình cái nhìn ban đầu về thế giới quan của người
phương Tây xưa về quỷ: Theo đó, quỷ tuy là một sinh vật phi nhân nhưng vẫn có cấp bậc, có tổ chức, có tính cách riêng Trong đó, Satan đã nổi lên là một hình tượng mang
những tính cách quỷ đậm nét nhất, là một bộ ba tính cách hoàn chỉnh bao gồm tính phi thần – tính phi quỷ – tính người, bởi nó còn đại diện cho những nét tính cách khuất lấp
và không được bộc lộ của con người, trở thành một ẩn dụ cho những điều xấu xa tiêu cực trong cuộc sống của con người
33 [45,17]
34 Sách Khải Huyền 20:10
35 [49]