ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH TẦNG CHẬU - ĐÙI ..... 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý thiếu máu chi dưới mạn tính BLMMCDMT được định nghĩa là nhữ
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả,
số liệu trong nghiên cứu này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Ký tên
NGUYỄN HỮU THAO
Trang 2ii
MỤC LỤC
MỤC LỤC ii
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH – VIỆT vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH LÝ XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH 4
1.1.1 Giải phẫu và chức năng mạch máu trong cơ thể 4
1.1.2 Chức năng của nội mạc mạch máu 4
1.1.3 Yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch 6
1.2 SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI VÙNG CHẬU, ĐÙI 8
1.2.1 Vùng chậu 9
1.2.2 Vùng đùi 10
1.3 BỆNH LÝ HẸP TẮC ĐỘNG MẠCH CHẬU ĐÙI MẠN TÍNH 11
1.3.1 Dịch tễ học 11
1.3.2 Yếu tố nguy cơ của BLMMCDMT 13
1.3.3 Các bệnh lý mạch máu phối hợp 16
1.3.4 Lâm sàng 17
1.3.5 Cận lâm sàng 20
1.3.6 Phân loại HTĐMCĐMT theo TASC II 23
1.3.7 Điều trị 25
1.4 CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ HTĐMCĐMT 28
1.4.1 Lịch sử phát triển 28
Trang 3iii
1.4.2 Dụng cụ can thiệp 28
1.4.3 Các bước thực hiện 30
1.4.4 Biến chứng can thiệp nội mạch 31
1.4.5 Điều trị nội khoa sau can thiệp 33
1.5 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC GẦN ĐÂY 34
1.5.1 Nghiên cứu trong nước 34
1.5.2 Nghiên cứu ngoài nước 35
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 37
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 37
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 37
2.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 37
2.5 TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU 37
2.6 TIÊU CHUẨN LOẠI TRỪ 37
2.7 CHỌN MẪU 37
2.8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.9 CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 38
2.9.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 38
2.9.2 Đặc điểm lâm sàng 39
2.9.3 Đặc điểm cận lâm sàng 40
2.9.4 Phân loại tầng tổn thương động mạch 41
2.9.5 Kỹ thuật can thiệp nội mạch 42
2.9.6 Quy trình can thiệp động mạch tầng chậu đùi 43
2.9.7 Đánh giá kết quả điều trị trước xuất viện 44
2.9.8 Đánh giá kết quả sớm sau điều trị 45
2.10 PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ 45
Trang 4iv
2.11 VẤN ĐỀ Y ĐỨC CỦA NGHIÊN CỨU 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 47
3.1.1 Đặc điểm tuổi, giới của mẫu nghiên cứu 47
3.1.2 Đặc điểm yếu tố nguy cơ của mẫu nghiên cứu 48
3.1.3 Bệnh lý mạch máu phối hợp 49
3.1.4 Đặc điểm lâm sàng 50
3.1.5 Đặc điểm cận lâm sàng 52
3.1.6 Can thiệp nội mạch động mạch chậu và đùi 53
3.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ 56
3.2.1 Đánh giá kết quả trước xuất viện 56
3.2.2 Đánh giá kết quả điều trị sau 1 năm 58
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 62
4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 62
4.1.1 Đặc điểm về tuổi 62
4.1.2 Đặc điểm về giới 63
4.1.3 Đặc điểm về yếu tố nguy cơ 64
4.1.4 Đặc điểm về các bệnh lý mạch máu khác phối hợp 66
4.1.5 Phân loại lâm sàng theo Fontaine và Rutherford 67
4.1.6 Đặc điểm chỉ số cổ chân – cánh tay 68
4.1.7 Phân loại TASC II các tổn thương được can thiệp 69
4.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH TẦNG CHẬU - ĐÙI 71
4.2.1 Kết quả trước xuất viện 71
4.2.2 Kết quả sau 1 năm 73
Trang 5v
4.3 ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG TRÊN CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH VÀ CÁC KỸ THUẬT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ CAN THIỆP
TẦNG CHẬU ĐÙI 74
4.3.1 Hình thái tổn thương tầng chậu 74
4.3.2 Hình thái tổn thương tầng đùi khoeo 75
4.3.3 Can thiệp động mạch tầng chậu 75
4.3.4 Can thiệp tầng đùi 76
4.3.5 Chiều dài stent 77
4.3.6 Số lượng stent 77
4.3.7 Kỹ thuật chọc động mạch thiết lập đường vào sử dụng trong can thiệp 78
KẾT LUẬN 79
HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6vi
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH – VIỆT
Consensus
Đồng thuận các Hiệp hội xuyên Đại Tây Dương
cách hồi
tính Bệnh lý thiếu máu mạn tính chi
cánh tay
chân cái-cánh tay
Trang 8viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Giá trị chỉ số ABI 21
Bảng 1.2: Chỉ định và chống chỉ định đặt stent mạch máu 29
Bảng 2.1: Xếp loại THĐMCDMT: giai đoạn theo Fontaine và xếp loại theo Rutherford 39
Bảng 3.1: Sự phân bố trung bình của tuổi trong mẫu nghiên cứu 47
Bảng 3.2: Đặc điểm yếu tố nguy cơ 48
Bảng 3.3: Bệnh lý mạch máu phối hợp 49
Bảng 3.4: Lý do nhập viện 50
Bảng 3.5: Triệu chứng lâm sàng 50
Bảng 3.6: Phân độ lâm sàng theo Fontaine và Rutherford 51
Bảng 3.7: Khám mạch máu 51
Bảng 3.8: Kết quả ABI trước can thiệp 52
Bảng 3.9: Thương tổn mạch máu trên siêu âm 52
Bảng 3.10: Phân độ thương tổn theo TASC II 52
Bảng 3.11: Phương pháp vô cảm 53
Bảng 3.12: Phương pháp can thiệp chi tiết 53
Bảng 3.13: Tổng kết phương pháp can thiệp 55
Bảng 3.14: Kỹ thuật can thiệp 55
Bảng 3.15: Đánh giá kết quả lâm sàng trước xuất viện 56
Bảng 3.16: Kết quả ABI sau can thiệp (ABI-S) 57
Bảng 3.17: Thành công về mặt huyết động sau can thiệp 57
Bảng 3.18: Đánh giá kết quả lâm sàng sau 1 năm 59
Bảng 3.19: Phân độ Rutherford sau 1 năm 59
Bảng 3.20: Chuyển giai đoạn Rutherford sau 1 năm 60
Bảng 3.21: Kết quả ABI sau can thiệp 1 năm (ABI-1) 61
Bảng 3.22: Thành công về mặt huyết động sau 1 năm 61
Bảng 4.1: Đặc điểm về tuổi so với các nghiên cứu trong nước 62
Bảng 4.2: Đặc điểm về tuổi so với các nghiên cứu nước ngoài 62
Bảng 4.3: So sánh đặc điểm về giới 63
Trang 9ix
Bảng 4.4: So sánh tỉ lệ rối loạn chuyển hóa lipid 66
Bảng 4.5: So sánh thành công về mặt kỹ thuật 71
Bảng 4.6: So sánh tỉ lệ tổn thương tầng chậu của các tác giả 75
Bảng 4.7: So sánh tỉ lệ tổn thương tầng đùi khoeo của các tác giả 75
Bảng 4.8: So sánh kỹ thuật can thiệp tầng chậu của các tác giả 76
Bảng 4.9: So sánh kỹ thuật can thiệp tầng đùi khoeo của các tác giả 76
Trang 10x
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Cấu tạo thành động mạch 4
Hình 1.2: Sự tiến triển của mảng xơ vữa 7
Hình 1.3: Giải phẫu động mạch chi dưới trên gối 8
Hình 1.4: Tỉ lệ lưu hành của đau cách hồi (hay BLMMCDMT có triệu chứng) dựa theo những nghiên cứu có mẫu dân số lớn 13
Hình 1.5: Nguy cơ mắc bệnh của những yếu tố nguy cơ đối với bệnh lý động mạch ngoại biên có triệu chứng 16
Hình 1.6: Sự giao thoa giữa các bệnh lý mạch máu 16
Hình 1.7: Đo chỉ số ABI 20
Hình 1.8: Phân loại hẹp tắc động mạch chủ chậu theo TASC II 23
Hình 1.9: Phân loại hẹp tắc động mạch đùi khoeo theo TASC II 24
Hình 1.10: Can thiệp động mạch chậu 31
Hình 2.1: Cách tính mức độ hẹp trên cùng một đoạn mạch 41
Hình 2.2: Hệ thống động mạch chi dưới 42
Trang 11xi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Sự phân bố nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu 47
Biểu đồ 3.2: Giới trong mẫu nghiên cứu 48
Biểu đồ 3.3: Thành công về mặc kỹ thuật 56
Biểu đồ 3.4: Biến chứng của can thiệp 58
Trang 121
ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý thiếu máu chi dưới mạn tính (BLMMCDMT) được định nghĩa
là những rối loạn lâm sàng gây ra bởi sự hẹp, tắc ở động mạch nuôi chi dưới và triệu chứng kéo dài trên 2 tuần[25, 54] Xơ vữa động mạch là nguyên nhân chính dẫn đến BLMMCDMT[54] Bệnh có thể gây ra bởi sự tắc hẹp ở nhiều nơi trên đường đi của động mạch nuôi chi dưới, nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi chỉ nhấn mạnh đến hẹp tắc động mạch chậu đùi mạn tính (HTĐMCĐMT)
BLMMCDMT chiếm khoảng 3 – 10% dân số và gia tăng đến 15 – 20 %
ở bệnh nhân trên 70 tuổi[60] BLMMCDMT gây suy giảm chất lượng cuộc sống của xấp xỉ 2 triệu người ở Mỹ và hơn 1 triệu người Mỹ không có triệu chứng đau cách hồi thì cũng bị những ảnh hưởng liên quan đến BLMMCDMT[39] Trong nghiên cứu Framingham, tỷ lệ mắc BLMMCDMT
là 3,5/1000 ở nữ và 7,1/1000 ở nam, trong nghiên cứu tại Netherland (n= 2327),
tỷ lệ mắc BLMMCDMT là 7,8/1000 ở nữ và 12,4/1000 ở nam[61] Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Viện Tim Mạch Việt Nam, BLMMCDMT tăng đáng
kể từ 1,7 % (năm 2003) lên đến 3,4% (năm 2007)[13] Bệnh có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó xơ vữa động mạch là nguyên nhân chính ở người trên 40 tuổi[54] Bệnh gây tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính, làm giảm tưới máu nuôi chi dưới và có nguy cơ gây tàn phế nếu không được điều trị kịp thời Yếu tố nguy cơ của BLMMCDMT gồm: hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol trong máu, tuổi cao[60]…Phát hiện và điều trị sớm BLMMCDMT giúp gia tăng chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ cũng như
có kế hoạch phòng ngừa và điều trị sớm các yếu tố nguy cơ của bệnh
Nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật bắc cầu mạch máu với mảnh ghép tự thân hoặc nhân tạo, thời gian mổ kéo dài, tỉ lệ biến chứng cao, hậu phẫu nặng nề, nhất là đối với những bệnh
Trang 13Ở Việt Nam, từ đầu những năm 2010 đã có nhiều trung tâm bắt đầu áp dụng phương pháp can thiệp nội mạch trong điều trị hẹp tắc động mạch chi dưới mạn tính (HTĐMCDMT) Năm 2012, tại bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, Đào Danh Vĩnh có báo cáo “Kết quả ban đầu can thiệp nội mạch điều trị hẹp tắc động mạch chậu” Năm 2015, tại bệnh viện Chợ Rẫy, luận văn bác sĩ nội trú, bác sĩ Huỳnh Thanh Sơn có báo cáo “Đánh giá kết quả sớm điều trị tắc hẹp động mạch chậu mạn tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch” Cùng năm, tác giả Phạm Văn Huyện, báo cáo “Đánh giá kết quả ngắn hạn điều trị tắc hẹp động mạch đùi khoeo trên gối mạn tính phương pháp nong bóng và đặt giá đỡ nội mạch”
Tại bệnh viện Chợ Rẫy, kỹ thuật can thiệp nội mạch gồm tạo hình động mạch bằng bóng và đặt giá đỡ nội mạch trong điều trị HTĐMCDMT từ năm
2012, ban đầu kỹ thuật can thiệp và chỉ định chỉ gói gọn trong can thiệp từng tầng chủ - chậu hoặc đùi - khoeo, gần đây triển khai can thiệp dưới gối và đã
có những kết quả khả quan Nhưng thực tế, HTĐMCDMT thường xảy ra trên nhiều tầng của động mạch trên một chi thể và được can thiệp nội mạch cùng lúc trong một lần phẫu thuật Vì vậy chúng tôi đã đặt ra câu hỏi nghiên cứu:
“Phương pháp can thiệp nội mạch động mạch chậu và đùi mang lại kết quả như thế nào trong điều trị HTĐMCDMT?” Chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu này tại khoa Phẫu thuật mạch máu Bệnh viện Chợ Rẫy với mục tiêu:
Trang 143
1 Đánh giá kết quả sớm điều trị hẹp tắc chậu đùi mạn tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 6/2016 đến 6/2017
2 Đặc điểm hình thái tổn thương trong chụp cắt lớp vi tính và các kỹ thuật được sử dụng trong can thiệp động mạch tầng chậu đùi
Trang 154
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH LÝ XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH[51]
1.1.1 Giải phẫu và chức năng mạch máu trong cơ thể
Động mạch có 3 lớp: áo trong, áo giữa và áo ngoài Lớp áo trong cấu tạo bởi nội mạc mạch máu, là một lớp tế bào và mô liên kết mỏng, được ngăn cách với lớp áo giữa bởi màng đàn hồi bên trong gồm elastin và mô sợi Lớp áo giữa cấu tạo bởi mô sợi, cơ trơn mạch máu và elastin, ngăn cách với lớp áo ngoài bởi màng đàn hồi bên ngoài Còn lại lớp áo ngoài là mô liên kết lỏng lẻo gồm
có collagen và mô sợi
Hình 1.1: Cấu tạo thành động mạch Nguồn : “Rutherford's vascular surgery”[29]
1.1.2 Chức năng của nội mạc mạch máu
Nội mạc mạch máu toàn vẹn là một cơ quan tự tiết và cận tiết tạo ra các hợp chất có tác dụng giảm trương lực cơ trơn mạch máu, ức chế viêm và ức chế tạo huyết khối Các sản phẩm của lớp nội mạc chính là nitric oxide (NO), prostacyclin, các chất giãn mạch phụ thuộc nội mạc (EDHF) và chất hoạt hóa
Trang 165
plasminogen Trong tình trạng bệnh lý hoặc sau thương tổn bởi các yếu tố như
sự kéo dãn bất thường, nhiệt độ hoặc các yếu tố nguy cơ của bệnh lý xơ vữa động mạch, lớp nội mạc sẽ sản sinh các chất làm tăng trương lực mạch máu, thúc đẩy quá trình viêm và tăng tạo huyết khối Các chất đó bao gồm các cytokine, các yếu tố tăng trưởng (GF), endothelins và các chất ức chế plasminogen
Các chất giãn mạch chính được sản xuất bởi lớp nội mạch bao gồm: NO, prostacyclin và các chất giãn mạch phụ thuộc nội mạc (EDHF) Trong số này,
NO có vai trò điều hòa nhiều chức năng của nội mạc bên cạnh khả năng gây dãn mạch Quá trình sản xuất NO này được thúc đẩy bởi stress nặng, thrombin, serotonin và acetylcholine Prostacyclin ít có vai trò trong điều hòa trương lực mạch, nhưng nó lại rất quan trọng trong việc ức chế kết tập tiểu cầu Còn EDHF thì gây giãn mạch ở những động mạch nhỏ, ít ảnh hưởng đến các động mạch lớn
Tuy nhiên, nội mạc mạch máu cũng sản sinh ra các chất gây co mạch,
mà quan trọng nhất là endothelin Sự sản xuất endothelin được kích thích bởi thrombin, angiotensin II và epinephrine, và bị ức chế bởi NO Sự tác động qua lại giữa endothelin và NO như một cán cân trong việc điều hòa trương lực mạch máu, và phụ thuộc vào tính toàn vẹn của nội mạc mạch máu
NO có vai trò quan trọng trong việc điều hòa sự viêm liên quan đến các tổn thương mạch máu, giúp ngăn ngừa hình thành mảng xơ vữa
Kết quả của quá trình xơ vữa mạch máu chính là huyết khối và hẹp tắc lòng mạch Một lớp nội mạc toàn vẹn sẽ sản xuất nhiều hoạt chất chống đông như heparans và chất hoạt hóa plasminogen mô Ở những mạch máu đã xơ vữa,
sự cân bằng giữa hoạt hóa và ức chế plasminogen mô bị đảo lộn Những yếu tố khác thúc đẩy hình thành huyết khối là sự giảm nồng độ NO trong tiểu cầu, gây kích thích hoạt hóa tiểu cầu
Trang 176
1.1.3 Yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch
Tổn thương nội mạc là dấu hiệu sớm của hiện tượng sinh xơ vữa Mặc
dù các chấn thương cơ học như nong bóng nội mạch hoặc tăng huyết áp có thể
hư hại lớp nội mạc, nhiều yếu tố nguy cơ gây xơ vữa mạch máu có khởi nguồn
từ việc phá vỡ cân bằng chức năng giữa nội mạc và thành mạch Nhiều giai đoạn xơ vữa động mạch được chia dựa theo sinh bệnh học, gồm: tổn thương ban đầu, nhân chất béo, mảng sợi xơ vữa và tổn thương tiến triển Tuy nhiên ở mỗi người, mạch máu sẽ có những giai đoạn xơ vữa khác nhau
Rối loạn chức năng lớp nội mạc chính là đặc điểm sớm của xơ vữa mạch máu Trong đó giảm sản xuất và khả dụng sinh học của NO lên thành mạch là rối loạn cơ bản nhất Nồng độ NO giảm nhiều ở những nơi như chỗ chia đôi hay uốn cong của mạch máu LDL cholesterol thẩm thấu qua lớp tế bào nội mạc vào chất nền tế bào dưới nội mạc Tăng nồng độ LDL trong huyết tương làm gia tăng độ tập trung của LDL trong thành mạch Một khi LDL tồn tại trong thành mạch, các axít béo bề mặt LDL sẽ bị oxi hóa, hoạt hóa các tế bào nội mạc bên dưới HDL là nhân tố quan trọng trong ngăn ngừa hình thành mảng xơ vữa
Tân sinh mạch máu báo trước sự phát triển của những mảng xơ vữa phức tạp, có liên quan đến các triệu chứng lâm sàng Hiện tượng tăng sinh mạch máu
ở lớp áo trong có liên quan đến các tế bào viêm tại chỗ, là nguồn gốc xuất huyết trong mảng xơ vữa, góp phần làm phát triển mảng xơ vữa và gây tắc hẹp mạch máu
Cholesterol của đại thực bào và tế bào cơ trơn mạch máu được tích trữ không được kiểm soát sẽ dẫn đến chết tế bào và giải phóng những sản phẩm tế bào vào khoảng ngoại bào của lớp áo trong
Huyết khối làm tắc lòng mạch trong trường hợp vỡ mảng xơ vữa và là kết cục cuối cùng dẫn đến hội chứng thiếu máu cấp Phá vỡ lớp nội mạc làm bộc lộ mô dưới nội mạc và nhân chất béo, cả hai đều có nguy cơ cao sinh huyết
Trang 18ổn định hơn là những yếu tố gây viêm
Tóm lại, xơ vữa mạch máu là một quá trình hoạt động có liên quan đến rối loạn chức năng nội mạc mạch máu, hiện tượng viêm và huyết khối Việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ, đặc biệt là giảm LDL, cải thiện chức năng nội mạc, giảm hiện tượng viêm và giảm các yếu tố tiền huyết khối trong mảng xơ vữa… giúp giảm triệu chứng lâm sàng và hạn chế biến chứng, cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân
Hình 1.2: Sự tiến triển của mảng xơ vữa Nguồn: “Vascular and Endovascular Surgery at a Glance”[56]
Trang 198
1.2 SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI VÙNG CHẬU, ĐÙI[4, 6-8]
Hình 1.3: Giải phẫu động mạch chi dưới trên gối
Theo “Atlas giải phẫu người”[7]
Trang 209
1.2.1 Vùng chậu
1.2.1.1 Đoạn cuối động mạch chủ bụng
ĐMCB đi bên trái cột sống, đến ngang mức đốt sống thắt lưng 4-5 thì
thường khi đối chiếu lên thành bụng chỗ chia ngang mức rốn ĐMCB có đường kính từ 2-2,5cm
1.2.1.2 Động mạch chậu chung
Từ chỗ phân chia, động mạch chạy xuống dưới và sang bên một đoạn dài 5-6cm thì chia thành hai động mạch chậu ngoài và trong Động mạch chậu gốc không cho nhánh bên nào và chạy sát với mặt trước xương cùng Động mạch chậu gốc phải bắt chéo trước tĩnh mạch chậu gốc phải phía trước ụ nhô, còn động mạch chậu gốc trái chạy phía ngoài tĩnh mạch chậu gốc trái Đường kính trung bình của động mạch chậu gốc phải là 0,89cm và trái là 0,83cm
1.2.1.3 Động mạch chậu trong
Động mạch chậu trong chia ra các nhánh cung cấp máu cho các tạng ở khung chậu và góp phần tạo nên tuần hoàn bàng hệ trong những trường hợp bị bệnh lý
1.2.1.4 Động mạch chậu ngoài
Tiếp theo động mạch chậu gốc, chạy xuyên qua tiểu khung theo hướng
từ sau ra trước đến phía sau điểm giữa dây chằng bẹn thì đổi tên thành động mạch đùi chung
Ở đoạn cuối nó cho hai nhánh bên nhỏ là động mạch thượng vị dưới và động mạch mũ đùi sâu Các nhánh này tiếp nối với các nhánh của động mạch đùi Đường kính trung bình của động mạch chậu ngoài là 0,8cm
Trang 21Động mạch nằm giữa, thần kinh đùi nằm ngoài và tĩnh mạch đùi nằm trong Đường kính động mạch đùi chung khoảng 0,82cm
1.2.2.2 Động mạch đùi sâu
Tách từ động mạch đùi chung phía dưới dây chằng bẹn khoảng 4cm, đi tới bờ trên cơ khép dài rồi chạy sau cơ này, trước cơ khép ngắn và cơ khép lớn Động mạch cấp máu cho các cơ đùi bởi hai nhánh lớn là động mạch mũ đùi trong và động mạch mũ đùi ngoài, và các nhánh xuyên
Ở ngang mức ống cơ khép, các nhánh tận của động mạch đùi sâu nối với
này rất quan trọng trong tắc động mạch đùi ở trên ống cơ khép
1.2.2.3 Động mạch đùi nông
Chạy tiếp theo động mạch đùi chung ở dưới dây chằng bẹn khoảng 4cm, động mạch chạy theo trục của động mạch đùi chung tới lỗ gân cơ khép thì đổi tên thành động mạch khoeo Đường định hướng là đường kẻ nối điểm giữa dây chằng bẹn với bờ sau lồi cầu trong xương đùi
Chỗ nối đùi khoeo có thể bị ép bởi vòng gân cơ khép tạo điều kiện thuận lợi cho các mảng xơ vữa hình thành Đường kính động mạch đùi nông đoạn gần là 0,6cm, đoạn xa là 0,54cm
Trang 2211
1.2.2.4 Động mạch khoeo
Chạy tiếp theo động mạch đùi nông, bắt đầu từ vòng gân cơ khép tới bờ dưới cơ khoeo thì chia làm hai nhánh tận là động mạch chày trước và thân động mạch chày mác
Ở khoeo động mạch nằm sâu nhất và trong nhất rồi tới tĩnh mạch khoeo, thần kinh chày nằm nông nhất và ngoài nhất Lúc đầu động mạch nằm ở sâu theo trục lớn của hõm khoeo, chạy chéo dần xuống dưới và ra ngoài ở đoạn 1/3 trên, và chạy thẳng xuống dưới ở đoạn 2/3 dưới
Ở vùng gối nó cho một số nhánh nhỏ, các nhánh này nối với nhau và nối với các nhánh của động mạch chày trước và chày sau tạo thành vòng nối quanh khớp gối và xương bánh chè
1.3 BỆNH LÝ HẸP TẮC ĐỘNG MẠCH CHẬU ĐÙI MẠN TÍNH 1.3.1 Dịch tễ học
BLMMCDMT chiếm khoảng 10% dân số ở Mỹ, với 30-40% các bệnh nhân này có triệu chứng đau cách hồi Sự phổ biến của bệnh gia tăng theo tuổi
và các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch máu Quan trọng hơn nó là một dấu hiệu của bệnh xơ vữa động mạch, liên quan đến việc gia tăng tỉ lệ tử vong do các nguyên nhân tim mạch và mạch máu ở não[31]
Khoảng 50% bệnh nhân có BLMMCDMT không có triệu chứng do đó khó đưa ra các con số chính xác về tỉ lệ bệnh này Theo các dữ liệu nghiên cứu
sử dụng các phương tiện không xâm lấm, thì tỉ lệ bệnh gia tăng ở bệnh nhân lớn hơn 40 tuổi và có kèm các yếu tố nguy cơ tim mạch như hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa mỡ, suy thận… Ở Mỹ, khảo sát trên 2174 bệnh nhân hơn 40 tuổi sử dụng chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân – cánh tay (ABI), tỉ lệ BLMMCDMT khoảng 0,9% ở lứa tuổi 40 đến 49 tuổi, 2,5% ở lứa tuổi từ 50 đến 59 tuổi, 4,7% ở lứa tuổi 60-69 tuổi, và 14,5% trên 70
Trang 23Đau cách hồi (ĐCH) thường được chẩn đoán bởi tiền sử đau cơ ở chân sau khi vận động trong một thời gian ngắn Nhiều bộ câu hỏi được xây dựng để
sử dụng khảo sát vấn đề này Nhớ rằng ĐCH là triệu chứng chính của BLMMCDMT, tuy nhiên có nhiều bệnh nhân có BLMMCDMT nhưng lại không có triệu chứng Ngược lại có nhiều bệnh nhân có ĐCH lại không phải là BLMMCDMT Tỉ lệ lưu hành của triệu chứng thay đổi từ 3% ở nhóm 40 tuổi đến 6% ở nhóm 60 tuổi Ở nhóm tuổi trẻ, ĐCH thường xuất hiện ở nam giới, nhưng ở nhóm tuổi lớn hơn thì không có sự khác biệt giữa hai giới[60]
Trang 2413
Hình 1.4: Tỉ lệ lưu hành của đau cách hồi (hay BLMMCDMT có triệu chứng)
dựa theo những nghiên cứu có mẫu dân số lớn[60]
1.3.2 Yếu tố nguy cơ của BLMMCDMT[60]
1.3.2.1 Chủng tộc
Chủng tộc da đen gia tăng nguy cơ của BLMMCDMT và nó không liên quan các nguy cơ khác như tiểu đường, tăng huyết áp hay béo phì… Bệnh động ngoại biên phổ biến ở thanh niên Nam Phi cũng đã được mô tả.[60]
1.3.2.2 Giới tính
Nam nhiều hơn nữ, ở bệnh nhân có triệu chứng ĐCH tỉ lệ từ 1:1 đến 2:1,
có nghiên cứu lên đến 3:1 Tuy nhiên ở những nghiên cứu khác, không có sự khác nhau giữa nam và nữ
1.3.2.3 Tuổi
Tuổi càng cao, số lượng bệnh HTĐMCDMTcàng nhiều ở cả tỉ lệ mắc và lưu hành
1.3.2.4 Hút thuốc lá
Có mối liên hệ giữa hút thuốc lá và HTĐMCDMT được ghi nhận từ năm
1911 Chẩn đoán HTĐMCDMT ở bệnh nhân có hút thuốc lá thuờng sớm hơn
cả thập kỉ với những người không hút Sự trầm trọng của HTĐMCDMT cũng
Trang 2514
gia tăng theo số lượng thuốc lá đã hút Những người hút thuốc nhiều có nguy
cơ bị ĐCH cao hơn 4 lần so với những bệnh nhân không hút thuốc
1.3.2.5 Đái tháo đường
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bệnh HTĐMCDMT ở người đái tháo đường gấp đôi so với người không đái tháo đường Ở bệnh nhân đái tháo đường,
cứ mỗi 1% tăng lên của HbA1c thì kéo theo tăng lên 26% nguy cơ của HTĐMCDMT Kháng insulin là gia tăng nguy cơ HTĐMCDMT ở cả những bệnh nhân không đái tháo đường HTĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường thì diễn tiến nhanh hơn, ảnh hưởng sớm đến các mạch máu lớn, đi kèm với bệnh lý thần kinh ngoại biên Do đó bệnh nhân đái tháo đường thường có khả năng đoạn chi cao gấp hơn 5-10 lần những người không bị Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) đã khuyến nghị nên tầm soát HTĐMCĐMT bằng ABI mỗi 5 năm ở những người có bệnh đái tháo đường
1.3.2.6 Tăng huyết áp
Tăng huyết áp liên quan đến tất cả các loại bệnh tim mạch, bao gồm cả HTĐMCDMT Tuy nhiên nguy cơ tương đối do nó gây ra lại thấp hơn đái tháo đường hay hút thuốc lá
1.3.2.7 Rối loạn chuyển hóa lipid máu
Theo nghiên cứu của Framingham, ngưỡng cholesterol lớn hơn 7mmol/L (270mg/dL) gia tăng gấp đôi triệu chứng ĐCH nhưng tỉ lệ HDL-C mới là tốt nhất để chẩn đoán Trong 1 nghiên cứu khác, bệnh nhân với HTĐMCDMT có nồng độ triglyceride, VLDL cholesterol, VLDL triglyceride, VLDL protein, IDL cholesterol, và IDL triglyceride cao, trong khi nồng độ HDL lại thấp hơn mức cần thiết Có bằng chứng cho rằng điều trị tốt tăng lipid máu sẽ làm giảm
sự tiến triển của HTĐMCDMT và cả tỉ lệ của ĐCH Sự phối hợp giữa HTĐMCDMT và tăng triglycerid máu cũng được báo cáo liên quan đến sự xuất
Trang 261.3.2.9 Tốc độ lắng máu và tình trạng tăng đông
Một vài báo cáo có liên quan giữa tăng dung tích hồng cầu và tốc độ lắng máu với HTĐMCDMT, có lẽ là hậu quả của hút thuốc lá Tăng tốc độ lắng máu
và tăng đông là yếu tố nguy cơ cho một tiên lượng xấu của HTĐMCDMT
1.3.2.10 Tăng nồng độ homocystein máu
Có báo cáo về sự tăng nồng độ homocystein máu ở khoảng 30% bệnh nhân trẻ có HTĐMCDMT Homocystein ở bệnh nhân có bệnh mạch máu cao hơn khoảng 1% so với dân số chung
1.3.2.11 Giảm chức năng thận mạn tính
Có liên hệ giữa sự suy giảm chứng năng thận và HTĐMCDMT, vài bằng chứng gần đây cho rằng chúng có liên quan nhân quả Trong nghiên cứu HERS, suy giảm chức năng thận tương quan độc lập với HTĐMCDMT trong tương lai
ở phụ nữ mãn kinh
Trang 2716
Hình 1.5: Nguy cơ mắc bệnh của những yếu tố nguy cơ đối với bệnh lý động
mạch ngoại biên có triệu chứng[60]
1.3.3 Các bệnh lý mạch máu phối hợp
BLMMNBMT: Bệnh lý mạch máu ngoại biên mạn tính
Hình 1.6: Sự giao thoa giữa các bệnh lý mạch máu[20]
Trang 2817
1.3.3.1 Bệnh mạch vành
Bệnh nhân có HTĐMCDMT thường đi kèm bệnh mạch vành mà có nguy
cơ cao về nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong liên quan đến bệnh tim mạch do mọi nguyên nhân so với bệnh nhân không có bệnh mạch vành.Theo nghiên cứu PARTNERS, 13% bệnh nhân có ABI ≤ 0,90 và không có triệu chứng bệnh mạch vành hay mạch não, 16% bệnh nhân có bệnh mạch máu ngoại biên và bệnh mạch vành hoặc mạch não có triệu chứng, 24% có ABI bình thường và
1.3.3.2 Bệnh mạch máu não
Bệnh nhân HTĐMCDMT có và không có triệu chứng gia tăng tỉ lệ nhồi máu não cao hơn bệnh nhân không có HTĐMCDMT và cao hơn cả HTĐMCDMT kết hợp bệnh mạch vành trong cùng lô nghiên cứu Hơn nữa, sự tiến triển của HTĐMCDMT (tăng ABI ≥ 0.15 trên 5 năm) có liên quan đến gia tăng nguy cơ nhồi máu não Một nghiên cứu ở Trung Quốc của REACH, trên 25% bệnh nhân có HTĐMCDMT thì có ≥ 70% bệnh nhân hẹp động mạch cảnh không có triệu chứng kết hợp với 11% bệnh nhân có hẹp động mạch vành[18] 1.3.4 Lâm sàng
1.3.4.1 Không triệu chứng
Bệnh nhân PAD không có triệu chứng có thể diễn tiến đến có triệu chứng hoặc biểu thị 1 dạng nhẹ của bệnh Ở những bệnh nhân không có triệu
Trang 2918
chứng có ABI nhỏ hơn 0.9 có sự suy giảm hoạt động thể lực kết hợp nguy cơ tàn tật và các biến cố tim mạch cao hơn so với nhóm tuổi có chỉ số ABI được kiểm soát bình thường[29] Nhóm không có triệu chứng có thể được phát hiện tình cờ khi tầm soát bệnh
1.3.4.2 Đau cách hồi
Thuật ngữ đau cách hồi “Claudication” được bắt nguồn từ từ Latin
“claudico” có nghĩa là “khập khiễng” Đau khập khiễng cách hồi (IC) hay còn thường gọi là đau cách hồi được định nghĩa là sự đau hay không thoải mái của chi dưới khi đi bộ và giảm khi nghỉ ngơi Nó thường được mô tả: đau, chuột rút, tê, mỏi, yếu cơ đùi, mông, chân trong quá trình hoạt động chi dưới và giảm sau một thời gian ngắn sau nghỉ ngơi Hơn 90% đau cách hồi là hậu quả của hẹp hay tắc động mạch chi dưới do xơ vữa động mạch[26]
Thăm khám mạch máu toàn diện nên được thực hiện ở tất cả các bệnh nhân có triệu chứng đau cách hồi Thăm khám này bao gồm kiểm tra các dấu hiệu của thiếu máu cục bộ chi dưới như: teo mỡ dưới da, rụng lông, chân lạnh, móng biến dạng hoặc phình to…Nếu thiếu máu nghiêm trọng hơn có thể gây phù, loét và thậm chí hoại tử Thăm khám đặc hiệu hơn gồm nghe trên đường
đi động mạch, bắt mạch
Để đơn giản, mạch nên được phân độ từ 0 (mất mạch), 1 (nảy yếu), và
2 (bình thường) Đặc biệt, nên nghi ngờ có phình động mạch khi thấy mạch nảy mạnh ở vùng đùi hoặc khoeo Mạch đùi giảm hoặc mất gợi ý có bệnh lý tắc mạch chủ - chậu Mạch đùi bình thường nhưng mất mạch mu chân gợi ý
có tắc nghẽn đáng kể ở đoạn xa Phải đánh giá hai bên và tìm mối liên quan giữa bất thường mạch với triệu chứng ở chân để xác định bên chân bệnh Những bệnh nhân chỉ tắc đơn độc động mạch chậu trong có mạch đùi và mạch
mu chân bình thường lúc nghỉ ngơi và sau khi vận động Ở những bệnh nhân thăm khám mạch máu bình thường nhưng có triệu chứng đau cách hồi điển
Trang 3019
hình thì cần phải đánh giá thêm bằng các phương pháp khác ABI và hình ảnh học sẽ trợ giúp cho chúng ta chẩn đoán chính xác hơn sẽ được đề cập ở phần sau
1.3.4.3 Thiếu máu nuôi chi trầm trọng[60]
Thiếu máu nuôi chi trầm trọng (TMNCTT) mạn tính là giai đoạn sau của HTĐMCDMT, chỉ những bệnh nhân có tình trạng đau chân khi nghỉ do thiếu máu mạn tính điển hình, hoặc tổn thương da do thiếu máu, kể cả loét và hoại tử chân TMNCTT chỉ dùng để chỉ những bệnh nhân thiếu máu mạn tính, với các triệu chứng xuất hiện hơn 2 tuần Chẩn đoán TMNCTT nên được xác định bằng ABI, huyết áp tâm thu ngón chân cái, hoặc áp lực oxy qua da Đau chân khi nghỉ do thiếu máu thường xảy ra khi huyết áp cổ chân dưới 50 mmHg hoặc huyết áp tâm thu ngón chân cái dưới 30 mmHg Với những bệnh nhân
có loét hay hoại tử chân do TMNCTT, huyết áp cổ chân dưới 70 mmHg hoặc huyết áp tâm thu ngón chân cái dưới 50 mmHg
Giai đoạn sau của TMNCTT là loét và hoại tử chi do thiếu máu Có sự khác biệt đáng kể ở giai đoạn TMNCTT giữa bệnh nhân có và không có đái tháo đường Hoại tử thường xảy ra ở đầu chi, hoặc gót chân Ở những trường hợp nặng có thể hoại tử cả phần xa của bàn chân Những bệnh nhân TMNCTT kết hợp đái tháo đường thường có tổn thương lan tỏa và nằm ở đoạn mạch máu xa, đặc biệt là mạch máu dưới gối Điều quan trọng nữa là, bệnh nhân HTĐMCDMT kèm đái tháo đường thường kèm với bệnh lý thần kinh ngoại biên làm giảm cảm giác, có thể dẫn đến những tổn thương thầm lặng Vì vậy
ở những bệnh nhân không triệu chứng có thể bỏ sót chẩn đoán Bằng việc xác định những bệnh lý nền và có biện pháp phòng ngừa, chúng ta có thể phòng tránh tình trạng TMNCTT hoặc ít nhất làm chậm diễn tiến đến TMNCTT
Trang 31Đo ABI là phần cơ bản trong đánh giá ban đầu những bệnh nhân nghi ngờ HTĐMCDMT Thường nhất là dùng 1 máy đo huyết áp quấn vào phía trên cổ chân, và dùng 1 dụng cụ đo sóng Doppler để đo huyết áp tâm thu ở động mạch chày sau và mu chân ở mỗi chân Sau đó được tính toán với huyết
Trang 3221
áp ở tay để cho ra ABI Chỉ số chung thường được lấy ở chân có ABI thấp hơn Độ đặc hiệu của ABI lên đến 100% ở tất cả các bài báo cáo, độ nhạy vào khoảng 92 - 94%[30]
loét và hoại tử thiếu máu Với ABI ≤ 0,90 làm tăng nguy cơ tử vong do tim mạch lên 3 - 6 lần; liên quan mật thiết đến bệnh mạch vành và mạch máu não Ở những bệnh nhân đái tháo đường, suy thận hoặc có bệnh lý gây vôi hóa mạch máu, các động mạch
ở cổ chân không thể đè xẹp được Trong trường hợp này nên dùng thêm những xét nghiệm chẩn đoán không xâm lấn khác để đánh giá
1.3.5.1.2 Chỉ số huyết áp đầu ngón chân cái - cánh tay (TBI) Chỉ số này dùng để khảo sát những trường hợp có huyết áp cổ chân tăng cao giả tạo do vôi hóa mạch máu TBI bình thường trong khoảng 0,8 - 0,9 TBI trong khoảng 0,35 ±0,15 tương ứng với ĐCH, 0,11± 0,10 tương ứng với đau chân khi nghỉ Không có sự khác biệt giữa bệnh nhân có và không có đái tháo đường [19]
1.3.5.2 Hình ảnh học
1.3.5.2.3 Siêu âm Doppler động mạch chi dưới
Siêu âm Duplex sử dụng kết hợp B mode và siêu âm Doppler xung B mode cung cấp hình ảnh trắng đen của mạch máu đang khảo sát, cho phép tiếp cận các thông tin về kích thước, độ dày thành mạch và hình thái mảng xơ vữa
Trang 3322
Siêu âm Doppler cung cấp vận tốc dòng máu, sóng động mạch…Siêu âm Doppler là cận lâm sàng không xâm lấn và an toàn Siêu âm Doppler có thể
sử dụng khảo sát đánh giá trước các can thiệp nội mạch[28]
1.3.5.2.4 Chụp cắt lớp điện toán mạch máu (CTA)
CTA đã được chấp nhận rộng rãi là phương tiện đánh giá chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị cho HTĐMCDMT CTA cho phép ghi hình ảnh nhanh
và chi tiết toàn bộ bụng, chi dưới, dựng hình mạch máu Tuy vậy, vẫn có thể gây xảo ảnh ở những trường hợp vôi hóa mạch máu nhiều, ít có giá trị đối với động mạch dưới gối
1.3.5.2.5 Chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA)
MRA là kỹ thuật hình ảnh không xâm lấn dựa trên sự thu nhận tín hiệu điện từ từ chuyển động của proton dưới tác dụng của từ trường Trong vài năm trở lại đây MRA phát triển trở thành một công cụ có giá trị cao trong việc khảo sát bệnh mạch máu
1.3.5.2.6 Chụp động mạch kỹ thuật số xóa nền (DSA)
Chụp động mạch tuy là tiêu chuẩn vàng, nhưng lại là một phương pháp xâm lấn và có nhiều yếu tố nguy cơ: khoảng 0,1% có nguy cơ phản ứng nặng với thuốc cản quang, 0,7% nguy cơ biến chứng nặng, 0,16% nguy cơ tử vong, những biến chứng như bóc tách động mạch, huyết khối, suy thận do thuốc cản quang, giả phình, dò động tĩnh mạch, tụ máu tại nơi chích kim[60]
1.3.5.2.7 Siêu âm nội mạch (IVUS):
Với siêu âm nội mạch có thể cho hình ảnh từ trong ra ngoài, nó hỗ trợ mạnh mẽ cho chụp mạch máu quy ước trong lượng giá các tiến triển như bóc tách, tiến triển của mảng xơ vữa hoặc kết quả của can thiệp[26] Hạn chế của
nó là phương pháp xâm lấn, giá thành đắt Ít được sử dụng thường quy ở Việt Nam
Trang 3524
1.3.6.2 Tầng đùi khoeo:
Hình 1.9: Phân loại hẹp tắc động mạch đùi khoeo theo TASC II[60]
Trang 3625
1.3.7 Điều trị
1.3.7.1 Kiểm soát yếu tố nguy cơ tim mạch và các bệnh lý đi kèm[60] 1.3.7.1.1 Ngưng hút thuốc lá
Hút thuốc lá làm tăng đáng kể nguy cơ xơ vữa động mạch ngoại biên
Số gói-năm có liên quan đến độ nặng của bệnh, tăng nguy cơ đoạn chi, tắc mảnh ghép ngoại biên và tử vong Với những lý do trên, ngưng hút thuốc lá là then chốt trong việc quản lý HTĐMCDMT cũng như bệnh mạch vành
1.3.7.1.2 Giảm cân
Bệnh nhân thừa cân (BMI 25-30) hoặc béo phì (BMI >30) nên được tư vấn giảm cân bằng chế độ dinh dưỡng và tập thể thao
1.3.7.1.3 Kiểm soát rối loạn lipid máu
Yếu tố nguy cơ độc lập của HTĐMCDMT gồm tăng cholesterol toàn phần, LDL-C, triglyceride và lipoprotein(a) Yếu tố giúp ngăn ngừa HTĐMCDMT là tăng HDL-C và apolipoprotein(a-1)
Mục tiêu kiểm soát lipid máu:
<130 mg/dL và <100 mg/dL ở bệnh nhân có nguy cơ cao
Khởi đầu điều trị rối loạn lipid máu bằng chế độ ăn hợp lý Ở bệnh nhân HTĐMCDMT có triệu chứng, thuốc đầu tay sử dụng là statin để làm giảm LDL-C, giúp làm giảm nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch Fibrate và/hoặc niacin làm tăng HDL-C và giảm triglyceride, nên được cân nhắc sử dụng cho
Trang 371.3.7.1.5 Đái tháo đường
Mục tiêu kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân HTĐMCDMT kèm đái tháo đường là HbA1c <7,0% hoặc càng gần 6,0% càng tốt
1.3.7.1.6 Kháng kết tập tiểu cầu
Aspirin/ASA có hiệu quả đối với HTĐMCDMT có kèm theo bằng chứng lâm sàng của các bệnh mạch máu khác (như bệnh mạch vành hoặc mạch não) Clopidogrel cũng có hiệu quả trong việc giảm các biến cố tim mạch ở một nhóm nhỏ bệnh nhân HTĐMCDMT có triệu chứng, kèm hoặc không bệnh
lý mạch máu khác
1.3.7.2 Điều trị nội khoa
Các thuốc có bằng chứng lâm sàng trong điều trị HTĐMCDMT là cilostazol (pletaal) và naftidrofuryl (praxilene) Các thuốc trên có tác dụng dãn mạch, ức chế chuyển hóa và hoạt động tiểu cầu, là những thuốc có tác dụng tốt nhất trong cải thiện triệu chứng ĐCH
1.3.7.3 Điều trị ngoại khoa
Tất cả những bệnh nhân HTĐMCDMT có triệu chứng đều có chỉ định phẫu thuật phục hồi lưu thông mạch máu: ĐCH ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, đau chân khi nghỉ, loét hay hoại tử chân
Có rất nhiều kỹ thuật khác nhau được áp dụng tùy thuộc vào vị trí, mức
độ tổn thương, tổn thương phối hợp, toàn trạng người bệnh…
1.3.7.3.7 Phẫu thuật bóc mảng xơ vữa động mạch
Được thực hiện lần đầu tiên năm 1946 bởi Jean Cid Dos Santos Chỉ
Trang 3827
định tốt với các trường hợp tổn thương ngắn khu trú Ưu điểm tránh được các biến chứng khi dùng mạch nhân tạo, giữ được các nhánh bên Tuy nhiên chỉ định hạn chế vì tổn thương động mạch thường lan tỏa, tỷ lệ tắc lại tại chỗ cao, dãn mạch, phồng mạch về sau
1.3.7.3.8 Phẫu thuật làm cầu nối
Phẫu thuật làm cầu nối có thể sử dụng mạch máu tự thân hoặc nhân tạo Các dạng cầu nối thường được thực hiện trong bệnh động mạch chi dưới như:
- Cầu nối giải phẫu là cầu nối xuất phát từ mạch cho sẽ đi theo đường giải phẫu mạch máu thông thường tới mạch nhận Đây là dạng cầu nối phổ biến nhất trong bệnh động mạch chi dưới
- Cầu nối ngoài giải phẫu là cầu nối có đường đi không theo giải phẫu động mạch thông thường Việc chọn cầu nối tùy thuộc nhiều yếu tố, trong dó quan trọng nhất là vị trí mạch cho – nhận và toàn trạng bệnh nhân
- Cầu nối ngoại vi dùng để chỉ những cầu nối mà mạch nhận là các động mạch dưới khoeo, với đặc điểm chung là kích thước nhỏ, nên đòi hỏi
kỹ thuật đặc biệt và dụng cụ vi phẫu
1.3.7.3.9 Can thiệp nội mạch
Can thiệp nội mạch được chỉ định dựa trên khuyến cáo của Hiệp Hội Xuyên Đại Tây Dương 2007 (TASC II: Trans Atlantic Inter Society Consensus), hiệp hội phân loại tổn thương động mạch chi dưới ra làm 3 loại: tổn thương tầng chủ - chậu, tổn thương tầng đùi – khoeo và dưới gối
TASC A, B: can thiệp nội mạch là lựa chọn ưu tiên
TASC C: Can thiệp nội mạch không phải là sự lựa chọn ưu tiên
TASC D: Can thiệp nội mạch chỉ được lựa chọn khi bệnh nhân có các yếu tố chống chỉ định với phẫu thuật
Trang 3928
1.3.7.3.10 Phẫu thuật cắt hạch giao cảm
Cắt hạch giao cảm thường chỉ đặt ra đối với những bệnh nhân bị Buerger, tổn thương động mạch chi trên Đối với những tổn thương động mạch chi dưới ít được sử dụng
1.3.7.3.11 Phẫu thuật đoạn chi
Đoạn chi được chỉ định trong trường hợp bệnh nhân đến muộn có hoại
tử chi, hoặc các biện pháp khác không thể thực hiện được Trước khi đoạn chi phải đánh giá kỹ càng sao cho khi đoạn chi mỏm cụt liền được và bệnh nhân sau này sử dụng các dụng cụ chi giả thuận tiện
1.4 CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ HTĐMCĐMT 1.4.1 Lịch sử phát triển
Can thiệp nội mạch trở nên là một trong các lĩnh vực y khoa phát triển nhanh nhất trong 1 thập niên gần đây Năm 1964, Dotter và Judkins thực hiện
ca can thiệp mạch máu đầu tiên ở tầng mạch đùi - khoeo, sử dụng hệ thống ống thông đồng trục 12G Nhưng mất đến 10 năm sau đó, Gruntzit và Hopff mới mô tả về một bóng đồng trục có thể dãn ra để điều chỉnh đường kính, mở đầu cho kỷ nguyên can thiệp mạch máu bằng bóng Kích thước dụng cụ liên tục được thu nhỏ và có thể sử dụng cho bất kỳ đoạn mạch nào Hiện nay, can thiệp nội mạch đã thay thế rất nhiều chỉ định của phẫu thuật mạch máu[69] Việc dùng giá đỡ nội mạch đã giúp cải thiện rất nhiều hiệu quả can thiệp và các kỹ thuật tiên tiến hiện nay có khả năng điều trị các tổn thương phức tạp.Trong 1 số lượng lớn những ca gần đây, tỉ lệ thành công trong khoảng 95%
và gần như đạt 100%[69]
1.4.2 Dụng cụ can thiệp[57]
Bóng: Bóng dùng trong tạo hình động mạch ngày nay có nhiều kích cỡ
và được làm từ những chất liệu có thành mỏng như polyethylene terephthalate hoặc nylon, giúp giữ hình dạng và kích thước bóng dưới áp lực cao (8-20 atm,
Trang 4029
có khi lên đến 30 atm) Lựa chọn chiều dài bóng nên dựa vào chiều dài và hình dạng đoạn tổn thương
Giá đỡ nội mạch (Stent): Stent mạch máu là một khung kim loại nâng
đỡ mạch máu từ bên trong Stent hoạt động như một giá đỡ giúp mạch máu không bị xẹp lại sau tạo hình, tối ưu hóa đường kính lòng mạch và đè xẹp những mảng nội mạc bóc tách Mặc dù stent nâng đỡ lòng mạch nhưng nó cũng làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối bán cấp và thúc đẩy tăng sinh lớp nội mạc
Stent bung bằng bóng: nhờ vào lực bơm bóng khi tạo hình mạch máu giúp bung stent và gắn nó vào thành mạch
Stent tự bung: không cần bóng và được bung ra trong lòng mạch cho đến khi đạt được kích thước tối đa hoặc khi stent bám chặt vào thành mạch
Stent phủ thuốc: là một bước tiến ngoạn mục trong thiết kế stent Loại stent này phóng thích thuốc tại chỗ từ từ để tránh tái hẹp Các loại thuốc thường dùng là sirolimus và paclitaxel
Bảng 1.2: Chỉ định và chống chỉ định đặt stent mạch máu[46]
CHỈ ĐỊNH ĐẶT STENT MẠCH MÁU
CHỐNG CHỈ ĐỊNH ĐẶT STENT MẠCH MÁU Hẹp đáng kể về mặt huyết động
Hẹp đáng kể sau nong bóng >30%
Nong bóng phức tạp
Mảng nội mạc xơ vữa không ổn định
Bóc tách nội mạc cấp
Tái hẹp sau nong bóng
Kết hợp phẫu thuật bắc cầu ở đoạn xa
Thủng mạch máu Mạch máu vôi hóa rất nặng Xoắn mạch máu đáng kể Tổn thương ở đoạn uốn cong Rối loạn tăng đông
Tổn thương ở đoạn mạch máu có thể phải kẹp khi phẫu thuật bắc