Nguyễn Ngọc Khôi Mục tiêu: Khảo sát mức độ hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liên quan; khảo sát mức độ tuân thủ điều trị thuốc và các yếu tố cóliên q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-HÀ THANH TÚ
KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT TRẦM CẢM TRÊN NGƯỜI THÂN
VÀ SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA BỆNH NHÂN TRẦM CẢM
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-HÀ THANH TÚ
KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT TRẦM CẢM TRÊN NGƯỜI THÂN
VÀ SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA BỆNH NHÂN TRẦM CẢM
Ngành: Dược lý và Dược lâm sàng
Mã số: 8720205
Luận văn Thạc sĩ Dược học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Thanh Tú
Trang 4Luận văn thạc sĩ – Khóa 2017-2019Chuyên ngành: Dược lý và Dược lâm sàng Mã số: 8720205
KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT TRẦM CẢM TRÊN NGƯỜI THÂN
VÀ SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA BỆNH NHÂN TRẦM CẢM
Hà Thanh TúThầy hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Ngọc Khôi
Mục tiêu: Khảo sát mức độ hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm
và các yếu tố có liên quan; khảo sát mức độ tuân thủ điều trị thuốc và các yếu tố cóliên quan; đánh giá sự cải thiện triệu chứng trầm cảm và các yếu tố có liên quan
Phương pháp: Cắt ngang mô tả Phỏng vấn trên 120 người thân và 120 bệnh nhân
trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh, từ 11/02/2019 đến01/08/2019 Hiểu biết trầm cảm của người thân được đánh giá bằng bộ câu hỏiDLIT Sự tuân thủ của bệnh nhân được đánh giá bằng bộ câu hỏi MMAS-8 Sự cảithiện của bệnh nhân được được đánh giá dựa theo hướng dẫn của APA
Kết quả: Trung bình tổng điểm hiểu biết về trầm cảm của người thân bệnh nhân là
14,48 ± 3,8; tổng điểm hiểu biết về trầm cảm có liên hệ với giới tính, trình độ họcvấn và nghề nghiệp người thân, nơi cư trú, tiền sử gia đình có người mắc trầm cảm.64,8% bệnh nhân tuân thủ điều trị; mức độ tuân thủ có liên hệ với nơi cư trú, bệnhmắc kèm, tác dụng không mong muốn khi điều trị, số thuốc điều trị trầm cảm, mức
độ quan tâm nhắc nhở bệnh nhân, hiểu biết của người thân về trầm cảm nói chung
và về điều trị trầm cảm nói riêng 50% bệnh nhân có cải thiện; mức độ cải thiện cóliên hệ với mức độ trầm cảm và mức độ tuân thủ điều trị
Trang 5Master’s thesis – Academic course 2017-2019Speciality: Pharmacology and Clinical Pharmacy Speciality course: 8720205
INVESTIGATING DEPRESSION LITERACY OF CAREGIVERS
AND MEDICATION ADHERENCE OF DEPRESSION PATIENTS
Ha Thanh TuSupervisor: Assoc Prof Nguyen Ngoc Khoi, PhD
Objectives: Investigating depression literacy of depression patient’s carers and
related factors; investigating medication adherence of depression patients andrelated factors; investigating remission in depression and related factors
Method: Cross-sectional study 120 caregivers and 120 depression patients at Ho
Chi Minh Psychiatric Hospital were interviewed, from Feb 11th 2019 to Aug 1st 2019.Depression literacy of caregivers was evaluated by DLIT questionnaire UsingMMAS-8 questionnaire to assess medication adherence of depression patients.Remission in depression was evaluated according to APA’s Guideline
Results: Mean depression literacy score of carrier is 14.48 ± 3.8 There are
statistically significant associations between literacy score and caregiver’s sex,education level, job, residence, family history of depression 64.8% of patientscomplied with treatment; the patient’s adherence is related to residence,comorbidity, adverse drug reactions, number of depression drugs, level of care forpatient, caregiver’s depression literacy and knowledge about depression treatments.50% of patients responded to the treatment; the remission in depression is related topatient’s depressive level and medication adherence
Conclusions: Caregivers are knowledgable about recognizing symptoms and impact
of depression, but have limited knowledge about depression management Althoughdepression patients are highly compliant to treatments, the remission rate remains low.The research team proposes to conduct further researches on the factors that affectremission in depression and improve the remission assessment tool
Key words: depression literacy, medication adherence, remission, DLIT, MMAS-8.
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Trầm cảm 3
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm lâm sàng 3
1.1.2 Dịch tễ học của bệnh trầm cảm 4
1.1.3 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ của bệnh trầm cảm 4
1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán 5
1.1.5 Điều trị bệnh trầm cảm 7
1.2 Hiểu biết về sức khỏe tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng 9
1.2.1 Hiểu biết về sức khỏe tâm thần 9
1.2.2 Hiểu biết trầm cảm 10
1.3 Sự tuân thủ điều trị thuốc 13
1.4 Đánh giá sự cải thiện ở bệnh nhân trầm cảm 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
Trang 72.2.5 Thiết kế bộ câu hỏi để đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân
bệnh nhân 24
2.2.6 Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc 27
2.2.7 Thiết kế bộ câu hỏi để đánh giá sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 29 2.2.8 Xử lý thống kê 30
2.3 Y đức 34
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 35
3.1 Xây dựng các bộ câu hỏi khảo sát 35
3.1.1 Bộ câu hỏi đánh giá hiểu biết trầm cảm 35
3.1.2 Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc 42
3.1.3 Bộ câu hỏi đánh giá cải thiện ở bệnh nhân trầm cảm 44
3.2 Khảo sát trên người thân và bệnh nhân trầm cảm 48
3.3 Đặc điểm nền của người thân và bệnh nhân trầm cảm 49
3.3.1 Đặc điểm nền của người thân bệnh nhân trầm cảm 49
3.3.2 Đặc điểm nền của bệnh nhân trầm cảm 50
3.4 Hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm 54
3.4.1 Đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 54
3.4.2 Các yếu tố liên quan đến hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 55 3.5 Sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm 57
3.5.1 Đánh giá tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm 57
3.5.2 Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân 58
3.6 Sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 61
3.6.1 Đánh giá tỷ lệ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 61
Trang 83.6.2 Các yếu tố liên quan đến sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 62
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 65
4.1 Hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm 65
4.1.1 Đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 65
4.1.2 Các yếu tố liên quan đến hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 67 4.2 Sự tuân thủ của bệnh nhân trầm cảm 69
4.2.1 Đánh giá tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm 69
4.2.2 Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ của bệnh nhân 70
4.3 Sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 73
4.3.1 Đánh giá tỷ lệ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 73
4.3.2 Các yếu tố liên quan đến sự cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 74
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76
5.1 Kết luận 76
5.1.1 Về hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm 76
5.1.2 Về mức độ tuân thủ của bệnh nhân trầm cảm 76
5.1.3 Về tỷ lệ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 76
5.2 Đề nghị 77
5.3 Hạn chế của đề tài 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nguyên tắc điều trị trầm cảm 8
Bảng 1.2 Các nghiên cứu tương tự đánh giá hiểu biết về trầm cảm 11
Bảng 1.3 Các biện pháp đo lường tuân thủ điều trị 14
Bảng 1.4 Các nghiên cứu đánh giá liên quan giữa hiểu biết trầm cảm và sự tuân thủ điều trị thuốc ở bệnh nhân 15
Bảng 2.5 Đối tượng nghiên cứu 18
Bảng 2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu 21
Bảng 2.7 Depression Literacy Questionnaire (DLIT) 25
Bảng 2.8 Khai báo các biến trong đề tài nghiên cứu 31
Bảng 2.9 Giá trị và ý nghĩa một số kiểm định thực hiện trong nghiên cứu 33
Bảng 3.10 BCHKST I – Hiểu biết trầm cảm 35
Bảng 3.11 Bảng điều chỉnh cách diễn đạt nội dung khảo sát hiểu biết trầm cảm 37
Bảng 3.12 BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm 38
Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra độ tin cậy BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm 40
Bảng 3.14 Kết quả kiểm tra độ tin cậy bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc 43
Bảng 3.15 BCHKST I - Sự cải thiện trầm cảm 44
Bảng 3.16 Bảng điều chỉnh cách diễn đạt nội dung đánh giá cải thiện 45
Bảng 3.17 BCHKST II – Sự cải thiện trầm cảm 46
Bảng 3.18 Kết quả kiểm tra độ tin cậy BCHKST II – Sự cải thiện trầm cảm 47
Bảng 3.19 Các đặc điểm của người thân bệnh nhân trầm cảm 49
Bảng 3.20 Các đặc điểm của bệnh nhân trầm cảm 51
Bảng 3.21 Kết quả đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân 54
Trang 10Bảng 3.22 Các yếu tố liên quan đến hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Tỷ lệ % người thân bệnh nhân trả lời đúng từng câu hỏi 54 Hình 3.2 Tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân trầm cảm 57 Hình 3.3 Tỷ lệ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm 61
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
APA American Psychiatric
Association
Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ
CI Confidence interval Khoảng tin cậy
DALY Disability-Adjusted Life Year Số năm sống mất đi đã hiệu
chỉnh theo mức độ tàn tậtDLIT Depression Literacy
Questionnaire
Bộ câu hỏi đánh giá hiểu biếttrầm cảm
DSM-V Diagnostic and Statistical
Manual of Mental Disorders,Fifth Edition
Care Excellence
Viện Y tế và Chất lượng Điềutrị Quốc gia Anh
Trang 13LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy PGS.TS Nguyễn Ngọc Khôi.Cảm ơn Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua Mọi thứđối với em đều rất mới mẻ, không có Thầy em không nghĩ rằng mình có thể hoànthành được đề tài này
Cảm ơn các bác sĩ cùng các chị điều dưỡng, thư kí y khoa của Bệnh viện Tâm thầnThành phố Hồ Chí Minh, mọi người đã tạo điều kiện tốt nhất cho em trong quá trìnhlấy số liệu
Cám ơn những người bạn luôn sẵn sàng giúp đỡ em khi em gặp khó khăn
Lời cảm ơn đặc biệt dành cho người đặc biệt
Chân thành cảm ơn tất cả mọi người
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Trầm cảm hiện nay đang là một vấn đề tâm thần phổ biến và nghiêm trọng TheoWHO, có ít nhất 350 triệu người sống chung với trầm cảm trên toàn cầu [62] Trầmcảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra tự sát, khoảng 75% tự sát là do trầm cảm,trong số đó có 15% tự sát thành công [4] Do tính phổ biến và hậu quả nghiêmtrọng, trầm cảm đã trở thành một vấn đề lớn đối với sức khỏe cộng đồng, gây nhiềugánh nặng lên người thân bệnh nhân, bao gồm tài chính, nếp sống, thời gian nghỉngơi, tương tác gia đình, sức khỏe thể chất và tinh thần [12]
Năm 1997, Jorm và các cộng sự đã đề xuất thuật ngữ “Hiểu biết sức khỏe tâm thần”(Mental health literacy – MHL) để mô tả “kiến thức và niềm tin về rối loạn tâm thầngiúp nhận biết, điều trị hoặc phòng ngừa” [26], [23] Định nghĩa này nhấn mạnh vaitrò của sự nhận biết các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tìm kiếm sự giúp đỡ và phòngngừa của bệnh nhân cùng người thân, ví dụ: thành viên gia đình, giáo viên, bạn bè
Kể từ khi được mô tả, với các đặc điểm nổi trội trong việc đánh giá, tiếp cận, thuậtngữ MHL đã mở ra nhiều nghiên cứu đánh giá thực hiện trên các nhóm đối tượngkhác nhau như dân số chung [26], [48], [25], học sinh - sinh viên [42], [49], [13],nhân viên y tế [34] Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá trên người thân bệnh nhân cònnhiều hạn chế [17], [12] Người thân bệnh nhân có vai trò quan trọng không chỉ hỗtrợ tài chính, sinh hoạt mà còn giúp theo dõi tình trạng bệnh nhân, giám sát bệnhnhân uống thuốc kịp thời, xác định các dấu hiệu sớm của bệnh, hỗ trợ về mặt tinhthần và giúp bệnh nhân tiếp cận được các dịch vụ sức khỏe [21] Người thân bệnhnhân có thể đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, vì vậy có thể hiểu được rằng mức độ
Trang 15Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu khảo sát về mức độ hiểu biết trầm cảmcủa người thân và đánh giá mối liên hệ giữa hiểu biết trầm cảm của người thân và
sự tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầm cảm Chính vì thế, chúng tôi tiến hành
đề tài “Khảo sát sự hiểu biết trầm cảm trên người thân và sự tuân thủ thuốc
của bệnh nhân trầm cảm” hướng đến các mục tiêu chính sau:
1 Khảo sát mức độ hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhân trầm cảm và cácyếu tố có liên quan
2 Khảo sát mức độ tuân thủ thuốc của bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liênquan
3 Đánh giá mức độ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm và các yếu tố có liên quan
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Trầm cảm
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm lâm sàng
Trầm cảm là một rối loạn cảm xúc, có đặc điểm chung là bệnh nhân thấy buồn chán,mất hứng thú, cảm thấy tội lỗi hoặc giảm giá trị của bản thân, khó ngủ hoặc ngonmiệng, khả năng làm việc kém và khó tập trung Trầm cảm là một vấn đề sức khỏetâm thần phổ biến và nghiêm trọng Theo WHO (2017), có hơn 300 triệu ngườisống chung với trầm cảm trên toàn cầu, tăng 18% trong vòng 10 năm [62]
Ở Việt Nam, trầm cảm có tỷ lệ cao thứ hai trong số các rối loạn rối loạn tâm thần[56], chiếm 1,79% tổng DALY (số năm sống bị mất đi đã hiệu chỉnh theo mức độtàn tật) [58]
Theo kết quả điều tra trên nhiều quốc gia, WHO nhận định tỷ lệ mắc bệnh là10%/năm và tỷ lệ mắc trọn đời là 17%) Đến năm 2020, thiệt hại do trầm cảm sẽđứng thứ 2 (sau nhồi máu cơ tim) và đến năm 2030 có thể dẫn đầu [63]
Trầm cảm có thể được điều trị, tuy nhiên chưa tới một nửa (ở nhiều nước là dưới10%) nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ cần thiết [62] Sự thiếu nguồn lực, thiếu cácdịch vụ tâm thần, kỳ thị xã hội và thiếu hiểu biết về sức khỏe tâm thần tạo thành ràocản lớn trong tiếp cận điều trị các rối loạn tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng[24], [62]
Người bệnh trầm cảm sẽ dẫn đến gián đoạn học tập và khả năng lao động, rối loạnkhả năng thích ứng, dần dần tách rời xã hội, chất lượng cuộc sống bị giảm sút sau
Trang 17Do tính phổ biến và mức độ nghiêm trọng, trầm cảm đã trở thành một vấn đề lớnảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đáng được quan tâm nghiên cứu trên nhiều lĩnhvực đặc biệt là hình thái lâm sàng, chẩn đoán, điều trị và nguy cơ tái phát.
Bệnh nhân trầm cảm có thể gặp các dạng trầm cảm khác nhau, thậm chí với nhữngtriệu chứng và dấu hiệu nhận biết khác nhau tùy thuộc vào tuổi, giới tính, dân tộc vàtrình độ văn hóa Hiểu biết về sự khác biệt này là cần thiết nhằm tìm cách chữa trịthích hợp và kết thúc sự đau khổ cho bệnh nhân
1.1.2 Dịch tễ học của bệnh trầm cảm
Trầm cảm và lo âu là các bệnh tâm thần phổ biến nhất, có khoảng 10 – 15% dân số
có ít nhất 1 cơn trầm cảm trong bất kỳ giai đoạn nào đó của cuộc sống, xảy ra ở cảnam và nữ, ở mọi tầng lớp văn hóa, nghề nghiệp khác nhau, ở cả thành thị và nôngthôn, không phân biệt nền kinh tế phát triển hay không phát triển
Trầm cảm có thể bắt đầu ở bất kỳ tuổi nào và thường nhất trong lứa tuổi 20 – 50,tuổi thường gặp nhất là 18 – 29 ở phụ nữ có nguy cơ cao mắc trầm cảm gấp 2 lần sovới nam giới [63]
1.1.3 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ của bệnh trầm cảm
Trầm cảm do nhiều nguyên nhân khác nhau có liên quan đến sự giảm truyền thầnkinh các chất trung gian hóa học như norepinephrin, serotonin và dopamin
Những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh trầm cảm gồm có [63]:
Tiền sử gia đình: trầm cảm và tự tử có khuynh hướng xảy ra với yếu tố tiền sử giađình, khoảng 8 – 18% bệnh nhân với trầm cảm nặng có ít nhất bố/mẹ/anh/chị/em bịrối loạn cảm xúc
Tác động từ những biến cố: căng thẳng, những sự kiện tiêu cực của cuộc sống như:
ly dị, mất 1 người thân yêu, mất việc làm,… hoặc những thương tổn sớm xảy ratrong thời thơ ấu
Trang 18Tình trạng kinh tế xã hội: trầm cảm thường gặp với những dân cư sống ở nhữngvùng thành thị hơn là cư dân ở nông thôn.
Tình trạng hôn nhân: tỷ lệ trầm cảm cao ở những người có mối quan hệ kém hoặc ly
dị, góa bụa
Bệnh tật: 1 số bệnh lý có liên quan đến trầm cảm như bệnh lý tuyến giáp, sự mấtcân bằng nội tiết, nhiễm virus mạn tính ung thư và bệnh tim mạch
1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán
Theo DSM-V [6], rối loạn trầm cảm chủ yếu được định nghĩa như sau:
A Năm (hoặc hơn) các triệu chứng dưới đây, hiện diện trong suốt một khoảng thời gian 2 tuần và gây nên sự thay đổi so với chức năng trước đây Ít nhất 1 trong số các triệu chứng phải bao gồm: (1) khí sắc trầm cảm và (2) mất quan tâm hoặc hứng thú.
Ghi chú: Không liệt kê các triệu chứng mà đã rõ ràng quy cho một bệnh lý y khoa khác.
(1) Khí sắc trầm cảm hầu như cả ngày và gần như mỗi ngày, do chính bệnh nhân kểlại (VD: cảm thấy buồn, trống rỗng, vô vọng…) hoặc được quan sát bởi người khác(VD: dễ khóc) (Lưu ý: ở trẻ em và trẻ vị thành niên, có thể là khí sắc dễ bực tức).(2) Giảm quan tâm hứng thú rõ rệt ở tất cả, hoặc hầu như tất cả, các hoạt động hầunhư cả ngày và gần như mỗi ngày (được BN kể lại hoặc được quan sát thấy bởingười khác)
Trang 19(5) Kích động hoặc chậm chạp tâm thần – vận động hầu như hàng ngày (có thể quansát thấy được bởi những người xung quanh, không phải hạn chế ở những cảm giácchủ quan thấy bồn chồn hoặc buồn bã trong lòng).
(6) Mệt mỏi hoặc mất sinh lực hầu như hàng ngày
(7) Cảm giác thấy mình vô dụng, không có giá trị hoặc tự thấy tội lỗi quá đáng,hoặc quá mức một cách không phù hợp (có thể là hoang tưởng) hầu như hàng ngày(không phải chỉ đơn thuần là ân hận, tự trách mình hoặc tự cảm thấy bản thân có lỗikhi mắc bệnh)
(8) Do dự, giảm năng lực tập trung và suy nghĩ, hầu như hàng ngày (có thể do chínhbệnh nhân kể lại hoặc do người chung quanh thấy được)
(9) Ý nghĩ về cái chết tái diễn nhiều lần (nhưng không chỉ đơn thuần là bệnh nhân
sợ chết), ý tưởng tự tử tái diễn nhiều lần nhưng không có kế hoạch cụ thể nào, hoặc
có toan tính tự tử, hoặc có kế hoạch cụ thể để thực hiện việc tự tử
B Các triệu chứng gây nên sự đau khổ rõ rệt về mặt lâm sàng hoặc làm suy giảm các chức năng về mặt xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác.
C Giai đoạn này không gây ra bởi tác động sinh lý của một chất hoặc của một bệnh lý y khoa khác.
Ghi chú: Các tiêu chuẩn A - C đại diện cho 1 giai đoạn trầm cảm chủ yếu.
Ghi chú: Các đáp ứng đối với một mất mát to lớn (mất người thân, phá sản, tổn thất
do thiên tai, bệnh nặng hoặc tàn tật) có thể bao gồm cảm giác buồn rầu, sự nghiền ngẫm về mất mát, mất ngủ, ăn kém ngon và sụt cân như trong tiêu chuẩn A, có thể giống với một giai đoạn trầm cảm Mặc dù những triệu chứng này có thể hiểu được hoặc được coi là phù hợp với sự mất mát, nhưng sự hiện diện của một giai đoạn trầm cảm chủ yếu bên cạnh những đáp ứng bình thường với mất mát nên được xem xét cẩn trọng Quyết định này bắt buộc đòi hỏi thực hiện việc đánh giá về mặt lâm
Trang 20sàng dựa trên tiền sử cá nhân cũng như các chuẩn mực văn hoá về sự biểu hiện đau khổ trong bối cảnh mất mát.
D Giai đoạn trầm cảm chủ yếu này không được giải thích tốt hơn bởi rối loạn cảm xúc phân liệt, tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt, rối loạn hoang tưởng hoặc phổ tâm thần phân liệt chuyên biệt hoặc không chuyên biệt và các rối loạn tâm thần khác.
E Chưa từng có giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ.
Ghi chú: Sự loại trừ này không được áp dụng nếu giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ gây ra do tác dụng của một chất hoặc do tác động sinh lý của một bệnh lý
trong Bảng 1.1 [63]:
Trang 21để tiếp tục đánh giá, can thiệp phù hợp.
Bước 4
Trầm cảm ở mức độ nặng và phức tạp,
đe dọa tới tính mạng, không quan tâm
chăm sóc bản thân
Dùng thuốc, can thiệp tâm lý với cường
độ cao, sốc điện (ECT), điều trị kết hợp,chăm sóc toàn diện và điều trị nội trú
Trang 221.1.5.2 Các thuốc chống trầm cảm
Có thể chia thuốc chống trầm cảm thành các nhóm chính [63]:
- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng (tricyclic – antidepressant)
- Nhóm thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc
- Thuốc ức chế men monoamin oxydase
- Muối liti
1.2 Hiểu biết về sức khỏe tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng
1.2.1 Hiểu biết về sức khỏe tâm thần
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng 450 triệu người bị rối loạn tâmthần, chiếm 13% gánh nặng cho nền Y tế thế giới và tỷ lệ mắc ngày một tăng [64].Kết quả từ Global Burden of Disease study năm 2015 cho thấy, rối loạn thần kinh ởViệt Nam chiếm 4,56% tổng DALY [58] Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc các vấn đề sứckhỏe tâm thần nói chung dao động từ 8 đến 29% đối với trẻ em và thanh thiếu niên[1], [2]
Thuật ngữ “Hiểu biết sức khỏe tâm thần” (Mental health literacy) được giới thiệulần đầu vào năm 1997 bởi Jorm để mô tả “kiến thức và niềm tin về rối loạn tâm thầngiúp nhận biết, điều trị hoặc phòng ngừa” [26], [23] Định nghĩa này nhấn mạnh vaitrò của sự nhận biết các vấn đề về sức khỏe tâm thần, tìm kiếm sự giúp đỡ và phòngngừa của những người trẻ tuổi cùng người thân, ví dụ: thành viên gia đình, giáoviên và bạn bè
Trang 23(1) Khả năng nhận biết các rối loạn cụ thể;
(2) Biết cách tìm kiếm thông tin sức khỏe tâm thần;
(3) Kiến thức về các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân;
(4) Kiến thức tự điều trị;
(5) Kiến thức về hỗ trợ chuyên nghiệp sẵn có;
(6) Thái độ khuyến khích sự thừa nhận và tìm kiếm giúp đỡ
1.2.2 Hiểu biết trầm cảm
Theo WHO [65] tính đến năm 2015 trầm cảm chiếm vị trí số 1 trong các rối loạntâm thần (khoảng 4,4% dân số thế giới), cao hơn rối loạn lo âu (khoảng 3,6%) vàcác rối loạn tâm thần khác Do vậy nghiên cứu này sẽ tập trung vào đánh giá hiểubiết trầm cảm
“Hiểu biết trầm cảm” là một khái niệm chuyên biệt của MHL, được định nghĩa là
“khả năng nhận biết trầm cảm và đưa ra lựa chọn điều trị phù hợp”
Các nghiên cứu hiểu biết trầm cảm đã được thực hiện trên các nhóm đối tượng khácnhau như dân số chung [26], [25], [48], học sinh sinh viên [13], [49], nhân viên y tế[42] Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá trên người thân bệnh nhân còn nhiều hạn chế[12], [17]
Các nghiên cứu liên quan đánh giá hiểu biết trầm cảm được tóm tắt trong Bảng 1.2:
Trang 24Bảng 1.2 Các nghiên cứu tương tự đánh giá hiểu biết về trầm cảm
STT Tác giả
(năm)
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
74
Phương pháp cắtngang mô tả, sửdụng bộ câu hỏi tìnhhuống
72% nhận ra vấn đề trầm cảm và 39%nhận biết đúng trầm cảm từ tình huốnglâm sàng
Bác sĩ đa khoa và tư vấn viên được đánhgiá có lợi (83%, 74%) hơn là bác sĩ tâmthần và nhà tâm lý học (51%, 49%)
Các liệu pháp điều trị chuẩn (thuốc chốngtrầm cảm, sốc điện…) bị đánh giá là cóhại, trong khi các liệu pháp khác như tăngcường hoạt động thể chất và cộng đồng,thư giãn và kiểm soát stress, vitamin vàchế độ ăn được đánh giá cao
Phương pháp nghiêncứu giống nhóm tácgiả A Jorm
Có sự cải thiện về nhận biết trầm cảm vàtăng thái độ tích cực với các liệu pháp trịliệu, bao gồm sự giúp đỡ từ chuyên gia sứckhỏe tâm thần và thuốc chống trầm cảm
3 Ediriwee Nghiên cứu trên 119 35,6% nhận biết trầm cảm, 64% cho rằng
Trang 25giả A Jorm đuối 16% muốn tránh xa họ.
Phương pháp nghiêncứu giống nhóm tácgiả A Jorm
32% nhận biết đúng trầm cảm, trong sốnày có 82,1% sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ Cả 2nhóm đều sẽ tìm sự giúp đỡ từ bác sĩ tâmthần, tư vấn viên, người thân và bạn thân.Can thiệp được đánh giá có lợi nhất là cácliệu pháp tự thân như thư giãn, tăng cườnghoạt động thể chất, tập thể dục buổi sáng
và đọc sách tự lực
Nhóm không nhận biết trầm cảm cho rằngtham gia vào nhóm những người giốngmình sẽ có lợi trong khi nhóm nhận biếttrầm cảm cho rằng bệnh nhân nên đếnbệnh viện gặp bác sĩ tâm thần
Phương pháp nghiêncứu giống nhóm tácgiả A Jorm
Tỷ lệ nhận biết trầm cảm là 43,6%
Tỷ lệ cho rằng thuốc chống trầm cảm cólợi là 80,7%
Phần đông người thân cho rằng bác sĩ tâmthần, chuyên gia tâm lý học và sự thânthiết giữa các thành viên gia đình là có lợi
Trang 261.3 Sự tuân thủ điều trị thuốc
Sự tuân thủ điều trị được định nghĩa bởi WHO (2003) là “mức độ tuân theo của mộtngười về việc điều trị bằng thuốc, chế độ ăn uống và/hoặc thực hiện thay đổi lốisống theo các hướng dẫn từ nhân viên y tế” [60] Theo đó, sự tuân thủ điều trị thuốcđược hiểu cụ thể là việc dùng thuốc đúng cách và đúng chỉ định (gồm đúng liều,đúng thời điểm dùng thuốc và thời gian mua thuốc theo hướng dẫn trên toa)
Mặc dù liệu pháp tâm lý đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị trầm cảm,thuốc chống trầm cảm vẫn được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới [60] Đối vớicác bệnh nhân trầm cảm, các khuyến cáo điều trị hiện hành đề nghị nên tiếp tụctrong ít nhất 6 tháng khi đã giảm được triệu chứng Hơn nữa, đối với bệnh nhân bịtrầm cảm tái phát trong vòng 5 năm, điều trị dài hạn cũng được đề xuất Ngoài việcchẩn đoán và điều trị tối ưu từ bác sĩ, hiệu quả điều trị còn được quyết định bởi sựtuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân Sự không tuân thủ điều trị thuốc là một ràocản lớn đến việc hồi phục của bệnh nhân [10] WHO (2003) còn nhận định rằng,
“cải thiện sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân có thể mang lại hiệu quả cao hơn bất
kỳ cải thiện nào trong điều trị” [60]
Các phương pháp đo lường tuân thủ điều trị được phân thành 2 nhóm: trực tiếp
và gián tiếp Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, được liệt kê và
trình bày trong Bảng 1.3 [43]:
Trang 27Bảng 1.3 Các biện pháp đo lường tuân thủ điều trị
Trực tiếp
Quan sát trực tiếp Chính xác nhất Bệnh nhân có thể giấu thuốc trong
miệng sau đó vứt đi; khó áp dụng trongthực tế
Đo nồng độ thuốc
hoặc chất chuyển
hóa trong máu
Khách quan Sự chuyển hóa không đồng đều và “tuân
thủ áo choàng trắng” có thể cho ra kếtquả sai lệch; đắt tiền; phải lấy máu
Đo nồng độ chỉ dấu
sinh học trong máu
Khách quan Đòi hỏi thiết bị định lượng đắt tiền; phải
Dễ xảy ra sai số khi thời gian giữa cáclần tái khám tăng lên; dễ bị sai bởi bệnhnhân
Nhật ký dùng thuốc Dễ thực hiện Dễ bị chỉnh sửa bởi bệnh nhân
Theo dõi thuốc bằng
Trang 28Chưa có nghiên cứu về mối liên quan giữa hiểu biết trầm cảm của người thân và sựtuân thủ điều trị thuốc ở bệnh nhân trầm cảm Các nghiên cứu tương tự được thể
hiện trong Bảng 1.4:
Bảng 1.4 Các nghiên cứu đánh giá liên quan giữa hiểu biết trầm cảm và sự tuân thủ
điều trị thuốc ở bệnh nhân
Nghiên cứu cắt ngang
Nghiên cứu cắt ngang
Trang 291.4 Đánh giá sự cải thiện ở bệnh nhân trầm cảm
Mục tiêu điều trị khởi đầu cho trầm cảm là đạt được sự thuyên giảm và có lại đầy
đủ chức năng cũng như chất lượng cuộc sống [5]
Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), sự cải thiện ở bệnh nhân trầm cảm đượcđịnh nghĩa là: trong vòng ít nhất 3 tuần, không còn tâm trạng buồn bã và giảm hứngthú (là 1 trong 2 dấu hiệu bắt buộc phải có để chẩn đoán trầm cảm) và không có quá
3 triệu chứng còn lại của trầm cảm theo DSM-V [5]
Tuy nhiên, không ít bệnh nhân có sự giảm triệu chứng hoặc cải thiện các chức năngđáng kể nhưng không đầy đủ trong giai đoạn điều trị cấp Nhiều nghiên cứu đã cungcấp các bằng chứng thuyết phục rằng so với sự thuyên giảm không còn triệu chứng,thì ngay cả với các triệu chứng nhẹ còn sót lại sau đợt điều trị cũng có liên quan đếncác tổn thương tâm lý xã hội đáng kể [28], nguy cơ tái phát tăng gấp 3 lần và đốivới những bệnh nhân mới mắc thì dễ trở thành mạn tính trong tương lai [27].Các triệu chứng nhẹ còn sót lại này được chứng minh là một yếu tố dự báo tái pháttrầm cảm mạnh mẽ hơn so với bệnh sử từng mắc nhiều đợt trầm cảm [5]
Do đó, điều quan trọng khi điều trị trầm cảm là không kết thúc sớm giai đoạn điềutrị cấp cho những bệnh nhân chỉ đáp ứng một phần Trong suốt quá trình điều trị, cảđáp ứng của bệnh nhân và sự phù hợp của việc điều trị phải được theo dõi một cáchthận trọng và có hệ thống, sử dụng các biện pháp đánh giá có hệ thống mức độ trầmtrọng của triệu chứng, tác dụng không mong muốn, tuân thủ điều trị và tình trạngchức năng có thể tạo điều kiện cho việc xác định bệnh nhân chưa có đáp ứng hoàntoàn với điều trị hay không [5]
Nếu một bệnh nhân được xác định có đáp ứng điều trị không đầy đủ, cần đánh giálại việc điều trị Thuốc phải được lựa chọn cẩn thận, liều dùng phải phù hợp và đủthời gian dùng thuốc Tương tự, liệu pháp tâm lý phải được lựa chọn tốt cho bệnhnhân, được thực hiện khéo léo, được tiến hành trong một khoảng thời gian và tầnsuất thăm khám thích hợp [5]
Trang 30Đáp ứng kém ngoài do việc điều trị chưa đầy đủ, còn có thể do nhiều yếu tố khácnhư: chẩn đoán không chính xác, các bệnh lý kèm theo không được giải quyết, lựachọn phương pháp trị liệu không phù hợp, các yếu tố dược động dược lực ảnhhưởng đến tác động của thuốc, không tuân thủ điều trị, tác dụng phụ dai dẳng hoặckém dung nạp, sự rắc rối giữa các yếu tố tâm lý xã hội và tâm lý học, bác sĩ điều trịchưa được đào tạo đầy đủ hoặc thiếu sự tương thích giữa bệnh nhân và bác sĩ [5].Đối với liệu pháp dùng thuốc, cần phải mất ít nhất 4 đến 6 tuần để có thể đi đến kếtluận việc đáp ứng của bệnh nhân với một loại thuốc cụ thể Đối với những bệnhnhân không đáp ứng, cần phải đánh giá và thay đổi hướng điều trị (có rất ít bằngchứng hỗ trợ kéo dài liệu trình dùng thuốc chống trầm cảm sau hơn 6 tuần ở bệnhnhân không đáp ứng, ngoại trừ bệnh nhân trầm cảm mạn tính, bệnh nhân mắc đồngthời các rối loạn Trục I hoặc các bệnh lý khác có thể cần điều trị giai đoạn cấp lâuhơn) [5].
Đối với liệu pháp tâm lý, việc điều trị nên được đánh giá lại nếu không có sự cảithiện đáng kể sau một vài tháng (tùy thuộc vào loại liệu pháp) Bệnh nhân nên đượcđánh giá lại sau 3 đến 4 tháng để đảm bảo cải thiện đầy đủ Bất kể liệu pháp nào nếuthấy thiếu cải thiện sau một thời gian đều cần phải xem xét lại can thiệp và cân nhắccác lựa chọn điều trị khác [5]
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 2 nhóm đối tượng là bệnh nhân trầm cảm và ngườithân bệnh nhân trầm cảm, với tiêu chuẩn chấp nhận và tiêu chuẩn loại trừ được thể
TP HCM, từ Tháng 2/2019 –Tháng 8/2019
Tuổi từ đủ 18 – 65
Là người đi cùng và là ngườichăm sóc chính cho bệnh nhântrầm cảm (Đối tượng 1)
Trang 322.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
+ Z(1-α/2) = 1,96 với độ tin cậy 95%
+ SD: độ lệch chuẩn của các nghiên cứu trước, khoảng 3,28 điểm đến 4,48 điểm [7]
→ chọn SD = 4 điểm
+ d: sai số mong muốn so với giá trị thật của dân số Chọn d = 1 điểm
Vậy n ≥ 1,962 42
12 = 61,5
→ Phải khảo sát ít nhất 62 người thân bệnh nhân trầm cảm
Công thức xác định cỡ mẫu đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân:
Trang 33Vì đặc thù của nghiên cứu nên sẽ tiến hành khảo sát cùng lúc trên ít nhất 96 cặpngười thân và bệnh nhân trầm cảm.
Cỡ mẫu dự kiến sẽ là khoảng 106 cặp người thân – bệnh nhân (lấy dư 10% so với
cỡ mẫu tối thiểu, phòng mất mẫu trong quá trình nghiên cứu)
Thực tế, nhóm nghiên cứu đã khảo sát trên 120 người thân và 120 bệnh nhân trầmcảm tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh, từ 18/02/2019 đến01/08/2019
Trong đó có 12 bệnh nhân khám lần đầu tại đây Việc phỏng vấn để đánh giá tuânthủ và cải thiện của bệnh nhân được thực hiện sau 7 – 9 tuần bằng cách phỏng vấnqua điện thoại, thu thập được đủ dữ liệu của cả 12 bệnh nhân này
2.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Đề tài được tiến hành theo các bước trong Bảng 2.6:
Trang 34Bảng 2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu
- Chuyển ngữ bộ câu hỏi đánh giá hiểu biết trầm
cảm từ bản gốc tiếng Anh: Depression Literacy Questionnaire (DLIT) của Kathy Griffiths
- Phỏng vấn trực tiếp người thân bệnh nhân tớikhám bệnh tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố
Hồ Chí Minh
- Người phỏng vấn: nghiên cứu viên, cộng tácviên (điều dưỡng) Cộng tác viên cần phải đượchướng dẫn cách phỏng vấn và thực hành phỏngvấn thử dưới sự giám sát của nghiên cứu viên.Đánh giá mức độ
hiểu biết trầmcảm của ngườithân bệnh nhântrầm cảm và cácyếu tố có liên
Dùng các phép kiểm thống kê để đánh giá mức
độ hiểu biết trầm cảm của người thân bệnh nhântrầm cảm và các yếu tố ảnh hưởng
Trang 35- Sử dụng bộ câu hỏi Morisky (MMAS-8) [40].
Bộ câu hỏi này đã được chuyển ngữ để phù hợpvới dân số Việt Nam bởi Nguyễn Hương Thảo vàNguyễn Thắng năm 2015 [41]
- Đánh giá lại độ tin cậy
- Đối với các bệnh nhân tái khám, phỏng vấncùng lúc với phỏng vấn người thân bệnh nhântrầm cảm Đối với các bệnh nhân khám lần đầutại bệnh viện, việc đánh giá tuân thủ điều trị củabệnh nhân được đánh giá sau 7 – 9 tuần, bằngcách liên lạc qua điện thoại
Đánh giá mức độtuân thủ điều trịthuốc của bệnhnhân trầm cảm vàcác yếu tố có liênquan
Theo thang điểm Morisky thì mức độ tuân thủđược phân loại như sau:
- Tuân thủ cao: bệnh nhân đạt 8 điểm
- Tuân thủ trung bình: bệnh nhân đạt 6 hoặc 7điểm
- Tuân thủ thấp: bệnh nhân đạt từ 5 điểm trởxuống
Dùng các phép kiểm thống kê để đánh giá mức
độ tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân trầmcảm và các yếu tố ảnh hưởng
Trang 36độ cải thiện củabệnh nhân trầmcảm.
- Dựa vào hướng dẫn của Hiệp hội Tâm lý họcHoa Kỳ [5], xây dựng bộ câu hỏi đánh giá cảithiện của bệnh nhân gồm 9 câu hỏi
- Kiểm tra cách diễn đạt, trình bày, chỉnh sửa chophù hợp
- Đánh giá độ tin cậy
Phỏng vấn bệnhnhân trầm cảm
Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân ngay tại Khoakhám bệnh 1, thực hiện đồng thời với khảo sát sựtuân thủ điều trị của bệnh nhân
Đánh giá mức độcải thiện của bệnhnhân trầm cảm vàcác yếu tố có liênquan
Bệnh nhân được xem là có cải thiện khi trả lời
“Không” ở cả 2 câu hỏi đầu tiên và nhiều hơnhoặc bằng 4 câu trong 7 câu còn lại
Dùng các phép kiểm thống kê để đánh giá mức
độ cải thiện của bệnh nhân trầm cảm và các yếu
tố ảnh hưởng
Trang 372.2.4 Thiết kế bộ câu hỏi để thu thập thông tin đặc điểm nhân khẩu học của
bệnh nhân và người thân bệnh nhân
Thiết kế bộ câu hỏi để thu thập các thông tin bệnh nhân và người thân bệnh nhân:tuổi người thân – bệnh nhân, giới tính người thân – bệnh nhân, nghề nghiệp ngườithân – bệnh nhân, nơi cư trú, trình độ học vấn người thân, mối quan hệ với bệnhnhân, mức độ quan tâm, nhắc nhở bệnh nhân uống thuốc, tiền sử gia đình có ngườimắc trầm cảm không, bệnh nhân khám lần đầu tại đây hay tái khám, bệnh nhân cókhám tại đâu trước đây không, số thành viên trong gia đình, bệnh mắc kèm, sốthuốc điều trị trầm cảm, tác dụng phụ gặp phải khi điều trị trầm cảm, mức độ trầmcảm của bệnh nhân
2.2.5 Thiết kế bộ câu hỏi để đánh giá hiểu biết trầm cảm của người thân
bệnh nhân
2.2.5.1 Chuyển ngữ Bộ câu hỏi Depression Literacy Questionnaire (DLIT)
Tổng hợp nội dung BCHKST (Bộ câu hỏi khảo sát thử) I – Hiểu biết trầm cảm
được dịch từ bản gốc tiếng Anh: Depression Literacy Questionnaire (DLIT) của
Kathy Griffiths (2004) [20] Bộ câu hỏi gồm 22 câu hỏi (dạng chọn “Đồng ý” hoặc
“Không đồng ý”) để xác định đối tượng nghiên cứu có trả lời đúng kiến thức vềtrầm cảm hay không Khi người được phỏng vấn trả lời đúng 1 câu sẽ được 1 điểm,sai được 0 điểm, điểm số cao thể hiện mức độ hiểu biết trầm cảm tốt Bộ câu hỏiđánh giá hiểu biết của đối tượng nghiên cứu ở ba lĩnh vực: hiểu biết về các dấu hiệutrầm cảm (9 câu), hiểu biết tác động của trầm cảm lên đời sống và sức khỏe củabệnh nhân (5 câu), hiểu biết về quản lý điều trị cho bệnh nhân (8 câu)
Bản gốc bộ câu hỏi được thể hiện ở Bảng 2.7:
Trang 38Bảng 2.7 Depression Literacy Questionnaire (DLIT)
1 People with depression often speak in a rambling and disjointed
way
False
2 People with depression may feel guilty when they are not at fault True
3 Reckless and foolhardy behaviour is a common sign of depression False
4 Loss of confidence and poor self-esteem may be a symptom of
6 People with depression often hear voices that are not there False
7 Sleeping too much or too little may be a sign of depression True
8 Eating too much or losing interest in food may be a sign of
depression
True
9 Depression does not affect your memory and concentration False
10 Having several distinct personalities may be a sign of depression False
11 People may move more slowly or become agitated as a result of
their depression
True
12 Clinical psychologists can prescribe antidepressants False
Trang 3916 Many treatments for depression are more effective than
18 Cognitive behavioural therapy is as effective as antidepressants
for mild to moderate depression
True
19 Of all the alternative and lifestyle treatments for depression,
vitamins are likely to be the most helpful
False
20 People with depression should stop taking antidepressants as
soon as they feel better
False
21 Antidepressants are addictive False
22 Antidepressant medications usually work straight away FalseQuá trình dịch bộ câu hỏi gốc dựa trên các hướng dẫn về dịch thuật và tương thích
đa văn hóa của Beaton và cộng sự [9]
Bộ câu hỏi gốc được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt bởi hai Dược sĩ: một ngườibiết mục đích của nghiên cứu và một người không được biết Hai bản dịch này sẽđược đối chiếu và thảo luận các điểm khác nhau để cùng đi đến một bản dịch thốngnhất Bản dịch tiếng Việt được dịch ngược lại sang tiếng Anh bởi một bạn là Thạc sĩkhối ngành Khoa học tự nhiên Các điểm khác nhau giữa bản gốc và bản dịch ngượcđược thảo luận bởi một hội đồng gồm có: thầy hướng dẫn, nghiên cứu viên, cácngười dịch để đánh giá, chỉnh sửa bản tiếng Việt cho phù hợp, kết quả thu được
BCHKST I – Hiểu biết trầm cảm.
2.2.5.2 Kiểm tra cách diễn đạt và hình thức trình bày
Mục đích: Kiểm tra BCHKST I – Hiểu biết trầm cảm về cách diễn đạt, trình bày
và tính phù hợp với mẫu khảo sát
Thực hiện trên 10 – 15 người
Trang 40BCHKST I – Hiểu biết trầm cảm sau khi kiểm tra diễn đạt và hình thức trình bày,
được điều chỉnh cho phù hợp để thành BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm.
2.2.5.3 Đánh giá độ tin cậy
BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm được dùng để phỏng vấn thử trên 30 - 40 người
nhằm đánh giá độ tin cậy Mục đích để kiểm tra xem các câu hỏi nào thực sự đónggóp cho việc đánh giá hiểu biết trầm cảm
Phương pháp đánh giá độ tin cậy: sử dụng giá trị Cronbach’s alpha (α) và Hệ sốtương quan biến – tổng:
- Giá trị α cho biết độ chặt chẽ mà các câu hỏi trong từng khái niệm tương quan với
nhau Giá trị α được trình bày trong Bảng 2.9 (mục 2.2.8.2).
- Hệ số tương quan biến – tổng xác định những câu hỏi không phân biệt được đốitượng có điểm số cao và đối tượng có điểm số thấp trong toàn bộ câu hỏi, từ đó loại
đi các câu hỏi không cần thiết
Tính hệ số tương quan biến – tổng cho tất cả các câu hỏi Loại các câu hỏi có Hệ sốtương quan biến – tổng < 0,3 nếu cần thiết để đạt giá trị α > 0,6
BCHKST II – Hiểu biết trầm cảm sau khi thẩm định, loại đi các câu hỏi không
phù hợp, thu được Bộ câu hỏi đánh giá hiểu biết trầm cảm.
2.2.6 Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc
Sử dụng bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thuốc của Morisky (MMAS-8) [40] Bộ câuhỏi này đã được chuyển ngữ để phù hợp với dân số Việt Nam bởi Nguyễn HươngThảo và Nguyễn Thắng năm 2015 [41] Bộ câu hỏi gồm có 8 câu, nội dung như sau: