Hướng điều trị hiện nay không chỉ dừng lại ở mức đáp ứngthuốc và thuyên giảm mà còn hướng đến sự hồi phục về chức năng sống và giatăng chất lượng sống, vài chục năm gần đây khi nghiên cứ
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
ĐỐI TƯỢNG
Bệnh nhân được chẩn đoán RLTCCY đang điều trị tại đang điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/2018 đến 6/2018.
- Được chẩn đoán RLTCCY theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM – 5.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Có tiền căn mắc các rối loạn tâm thần kinh khác: Đột quỵ, chậm phát triển tâm thần, sa sút trí tuệ, rối loạn phân liệt cảm xúc, tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt, phổ tâm thần phân liệt xác định và không xác định khác, các rối loạn loạn thần khác.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả, có phân tích.
Công thức ước lượng cỡ mẫu trong dân số để tính cỡ mẫu n = 𝑍 (1−𝛼 2 ⁄ )
𝑑 2 α: Xác suất sai lầm loại I, α = 0.05
Z: Trị số từ phân phối chuẩn, 𝑍 0.95 = 1.96 p: tỉ lệ xuất hiện triệu chứng cơ thể trên bệnh nhân RLTCCY.
Theo nghiên cứu của Simon và cs về tỉ lệ xuất hiện triệu chứng cơ thể trên bệnh nhân RLTCCY là 69%[45]. d: Sai số biên cho phép, d = 0,05. Áp dụng vào công thức, ta có cỡ mẫu cần cho nghiên cứu này là 329 bệnh nhân.
2.2.3 Công cụ thu thập số liệu và phương pháp tiến hành:
2.2.3.1 Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu khảo sát thông tin
Bảng đánh giá mức độ trầm cảm PHQ – 9.
Bảng câu hỏi PHQ – 9 có 9 câu Mỗi câu có 4 lựa chọn:
Bệnh nhân tự mình lựa chọn các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi
Cách cho điểm và đánh giá: Mỗi lĩnh vực cho từ 0 đến 3 điểm Để đánh giá mức độ và theo dõi cần tính điểm và phân loại Cách tính như sau: cộng điểm của tất cả các câu từ 1 đến 9, tổng điểm cao nhất sẽ là 27 điểm Phân loại theo tổng điểm như sau:
Điểm 5-9: Triệu chứng tối thiểu, có nguy cơ
Điểm 20-27: Trầm cảm nặng 2.2.3.2 Phương pháp tiến hành:
- Chọn lựa và đưa vào mẫu nghiên cứu tất cả các trường hợp được chẩn đoán xác định bị RLTCCY, phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán và tiêu chuẩn loại trừ.
- Thông tin đầy đủ cho bệnh nhân về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu. Nếu đồng ý tham gia nghiên cứu thì bệnh nhân ký vào phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu.
- Nghiên cứu viên tiến hành thu thập thông tin và ghi chép vào bệnh án nghiên cứu.
- Thực hiện phần phỏng vấn lâm sàng để xác định các triệu chứng cơ thể.
- Ghi nhận việc điều trị tại lần khảo sát thứ nhất.
- Tại lần tái khám tiếp theo (lần 2), đánh giá lại các triệu chứng cơ thể.
- Số liệu thu thập được quản lý và xử lý thống kê bằng phần mềm EpiData 3.1 và SPSS 20.0.
- Tính tần số và tỉ lệ phần trăm cho các biến nhị phân và biến danh định.
- Tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn cho các biến liên tục, biến định lượng.
- So sánh mối tương quan giữa các triệu chứng cơ thể và các yếu tố liên quan; sử dụng phép kiểm Chi bình phương để so sánh tỉ lệ của các biến nhị phân, biến danh định; sử dụng phép kiểm Independent Samples T Test để so sánh giá trị trung bình của các biến liên tục, biến định lượng; phép kiểm có ý nghĩa về mặt thống kê khi p < 0,05.
- Trình bày kết quả theo bảng số liệu, biểu đồ, sơ đồ thích hợp.
- Nhận thức vấn đề, thu thập tài liệu nghiên cứu
- Xác định mục tiêu nghiên cứu, dân số mục tiêu, các yếu tố cần nghiên cứu, hình thành bản thu thập số liệu
TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU tại bệnh viện
Tâm thần thành phố Hồ Chí Minh
BN đến khám, được Bác sĩ chuyên khoa tâm thần chẩn đoán xác định có RLTCCY theo DSM-5 và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Thu thập số liệu lần 1
Xác nhận lại BN đã được khám và điều trị, nhắc nhở BN tái khám theo hẹn, đề nghị thêm biện pháp điều trị hỗ trợ nếu thấy cần thiết.
Thu thập số liệu lần 2 khi BN đến tái khám.
Xử lý số liệu, phân tích kết quả và bàn luận
Sơ đồ 2.1: Tiến trình nghiên cứu.
Là biến định lượng, là tuổi của bệnh nhân tính đến thời điểm làm nghiên cứu theo năm dương lịch, được tính bằng cách lấy năm làm nghiên cứu trừ cho năm sinh (ghi theo Chứng minh thư, Thẻ căn cước hoặc thẻ BHYT)
Là biến nhị giá, ghi theo giấy khai sinh, có 2 giá trị nam và nữ.
Là biến thứ tự, là bậc học cao nhất của bệnh nhân đã học qua gồm mù chữ, tiểu học, phổ thông, trung cấp-cao đẳng, đại học-sau đại học.
Là biến danh định, là công việc của bệnh nhân trước khi nhập viện, gồm có không có việc làm, có việc làm thời vụ, lao động tay chân, lao động trí óc.
Là biến danh định, là tình trạng hôn nhân hiện tại của bệnh nhân gồm độc thân, đã li dị-li thân, góa và có gia đình (vợ/chồng).
Là biến danh định, là tình trạng kinh tế hiện nay dựa vào tự đánh giá của bệnh nhân, gồm có thiếu ăn, diện đủ ăn, diện dư ăn.
Là biến định lượng, xác định bằng tính tổng điểm các yếu tố trong thang đánh giá trầm cảm PHQ-9 ở mỗi lần đánh giá.
2.2.5.8 Độ nặng rối loạn trầm cảm chủ yếu:
Là biến danh định, xác định dựa trên thang điểm PHQ-9, bao gồm: không trầm cảm, trầm cảm mức độ nhẹ, trầm cảm mức độ trung bình, trầm cảm mức độ trung bình – nặng, trầm cảm mức độ nặng.
Là biến danh định, thu thập dựa trên quá trình phỏng vấn bệnh nhân trong các lần đánh giá.
2.2.5.10 Độ nặng của triệu chứng cơ thể:
Là biến danh định, ghi nhận dựa trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, bao gồm: không có triệu chứng, mức độ nhẹ, mức độ nặng - ảnh hưởng công việc hàng ngày.
2.2.5.11 Số lượng triệu chứng cơ thể:
Là biến định lượng, là số lượng triệu chứng cơ thể ghi nhận trên bệnh nhân ở mỗi lần đánh giá.
Đạo đức nghiên cứu
- Thực hiện nghiên cứu theo đúng quy định của nhà trường và bệnh viện.
- Người tham gia nghiên cứu được thông tin đầy đủ, rõ ràng về mục đích nghiên cứu, người thực hiện nghiên cứu, đối tượng tham gia nghiên cứu, thời gian và cách thức tiến hành, cách thức tham gia và nguyên tắc bảo mật, lợi ích khi tham gia nghiên cứu, địa chỉ liên lạc trở lại với nghiên cứu viên.
- Đối tượng tham gia nghiên cứu có quyền tự do quyết định tham gia hay không tham gia nghiên cứu Việc không tham gia nghiên cứu sẽ không gây bất kỳ sự ảnh hưởng nào đến việc chăm sóc và điều trị dành cho họ.
- Trong suốt quá trình tham gia nghiên cứu, người tham gia nghiên cứu có quyền chọn không trả lời bất kỳ câu hỏi nào và ngừng tham gia cuộc nghiên cứu bất kỳ lúc nào.
- Những câu trả lời trong buổi phỏng vấn cũng như bảng trả lời của người tham gia nghiên cứu sẽ không ghi tên và được bảo mật.
- Sau khi kết thúc tham gia nghiên cứu, chủ thể có quyền liên lạc lại với nghiên cứu viên nếu muốn biết kết quả của mình hoặc kết quả của nghiên cứu,hoặc có nhu cầu được nâng đỡ tâm lý.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1: Đặc điểm dân số nghiên cứu
Trung bình độ lệch chuẩn
Giới tính Nữ (%) 72,7 Điều kiện kinh tế Thiếu ăn (%) 11,5 Đủ ăn (%) 81,3
Trình độ học vấn Cấp 1 (%) 25
Cấp 3 (%) 27,9 Đại học trở lên (%) 20,7
Nghề nghiệp Không có việc làm (%) 23
Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu nằm trong độ tuổi trung niên.
Trong nghiên cứu, số bệnh nhân nữ chiếm ưu thế Tỉ lệ nữ : nam = 2,7. Hầu hết bệnh nhân đều có điều kiện kinh tế đầy đủ.
Về hôn nhân, số bệnh nhân kết hôn chiếm đa số.
Phân bố trình độ học vấn của dân số nghiên cứu khá đều.
Về nghề nghiệp, hầu hết bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều có việc làm.
PHÂN ĐỘ NẶNG RỐI LOẠN TRẦM CẢM CHỦ YẾU
Bảng 3.2: Điểm PHQ – 9 và phân độ nặng rối loạn trầm cảm chủ yếu.
Lần 1 Lần 2 p Điểm PHQ – 9 Lớn nhất 27 24
Trung bình độ lệch chuẩn 15,84 5,53 4,15 3,75
Phân độ rối loạn trầm cảm chủ yếu theo PHQ – 9
Trung bình - 114 (32,8) 5 (1,4) nặng (n; %) Nặng (n; %) 99 (28,4) 6 (1,7) Nhận xét: Đa số bệnh nhân khi tham gia nghiên cứu có rối loạn trầm cảm chủ yếu từ mức độ trung bình trở lên.
Qua hai lần đánh giá, điểm trung bình PHQ – 9 giảm xuống, kết quả này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Có sự thay đổi về tỉ lệ các độ nặng của RLTCCY qua hai lần đánh giá: giảm dần ở mức độ trung bình, trung bình – nặng và nặng, tăng dần ở nhóm không trầm cảm và nhẹ, kết quả này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
ĐẶC ĐIỂM CÁC TRIỆU CHỨNG CƠ THẾ
3.3.1 Về tần suất các triệu chứng cơ thể
Bảng 3.3: Tần suất các triệu chứng cơ thể qua 2 lần đánh giá
Có 184 (52,9) 48 (13,8) Đau khi giao hợp
Các triệu chứng xuất hiện nhiều nhất là giảm sức lực (89,9%), ngủ không ngon (87,9%), tim đập nhanh (77,6%), đau đầu (69,5%), chóng mặt
Tần suất các triệu chứng cơ thể giảm dần qua 2 lần đánh giá, khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001, trừ triệu chứng ngất có p = 0,015.
3.3.2 Về số lượng các triệu chứng cơ thể
3.3.2.1 Số lượng triệu chứng cơ thể trung bình qua 2 lần đánh giá
Bảng 3.4: Số lượng triệu chứng cơ thể trên bệnh nhân qua 2 lần đánh giá
Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất p
Sau 2 lần đánh giá, số triệu chứng trung bình của bệnh nhân RLTCCY giảm xuống, kết quả này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
3.3.2.2 Mối liên quan giữa triệu chứng cơ thể và độ nặng của RLTCCY
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa số lượng triệu chứng cơ thể và độ nặng RLTCCY Độ nặng RLTCCY Lần 1 Lần 2
Trong cả hai lần đánh giá, số lượng triệu chứng cơ thể có liên quan đến mức độ nặng của RLTCCY, kết quả này có ý nghĩa với p < 0,001.
3.3.3 Về độ nặng của các triệu chứng cơ thể
Bảng 3.6: Độ nặng của các triệu chứng cơ thể
Triệu chứng Độ nặng Lần 1 Lần 2 P Đau lưng
Buồn Nhẹ 124 (35,6) 45 (12,9) < 0,001 nôn/đầy hơi
(n ;%) Nặng 60 (17,2) 3 (0,9) < 0,001 Đau khi giao hợp
Các triệu chứng cơ thể đa số đều giảm về độ nặng, kết quả này có ý nghĩa về mặt thống kê với p < 0,001.
Một số triệu chứng như ngủ không ngon ở mức độ nhẹ, đau khi giao hợp mức độ nhẹ, đau bụng kinh mức độ nhẹ, đau đầu mức độ nhẹ, tim đập nhanh/mạnh mức độ nhẹ, ngất mức độ nhẹ: khác biệt giữa hai lần đánh giá không có ý nghĩa thống kê.
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC TRIỆU CHỨNG CƠ THỂ
Bảng 3.7: Liên quan giữa các triệu chứng cơ thể và tuổi bệnh nhân
Triệu chứng Tuổi trung bình p
Có Không Đau lưng 40,73 15,22 41,68 14,29 0,551 Đau ngực 40,32 15,55 41,78 14,21 0,369
Tim nhanh/mạnh 40,64 14,82 43,25 14,34 0,171 Đau đầu 39,79 14,85 44,50 13,98 0,006 Đau bụng kinh 35,85 12,73 42,67 14,92 < 0,001 Đầy hơi 39,95 15,54 42,66 13,67 0,087 Đau khi giao hợp 38,29 11,13 42,07 15,54 0,046
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi trung bình của các nhóm bệnh nhân có và không có các triệu chứng sau: đau đầu (p = 0,006), đau bụng kinh (p < 0,001), đau khi giao hợp (p = 0,046), đau bụng (p = 0,015), khó ngủ (p = 0,01).
Bảng 3.8: Liên quan giữa triệu chứng cơ thể và giới tính.
Triệu chứng Nữ Nam p Đau lưng (%) 47 53,7 0,269 Đau ngực (%) 39,1 36,8 0,696
(%) 79,8 71,6 0,100 Đau đầu (%) 73,1 60 0,018 Đau bụng kinh
(%) 29,2 0 < 0,001 Đầy hơi (%) 54,9 47,4 0,207 Đau khi giao hợp
Có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê về giới tính của các triệu chứng: táo bón/tiêu chảy (p = 0,037), chóng mặt (p = 0,001), đau đầu (p 0,018), đau bụng kinh (p < 0,001).
Bảng 3.9: Liên quan giữa triệu chứng cơ thể và điều kiện kinh tế.
Triệu chứng Thiếu ăn Đủ ăn Dư ăn p Đau lưng (%) 52,5 47,3 58,3 0,498 Đau ngực (%) 40,0 38,2 37,5 0,646
80,0 77,0 79,2 0,917 Đau đầu (%) 70,0 70,3 58,3 0,584 Đau bụng kinh (%) 22,5 20,5 29,2 0,729 Đầy hơi (%) 57,5 51,9 54,2 0,717 Đau khi giao hợp (%) 15,0 23,7 20,8 0,605
Xét về từng nhóm điều kiện kinh tế, sự khác biệt về tỉ lệ của từng triệu chứng cơ thể không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.10: Liên quan giữa triệu chứng cơ thể và tình trạng hôn nhân.
Triệu chứng Độc thân Kết hôn Li dị p Đau lưng (%) 49,1 47,3 90,0 0,031 Đau ngực (%) 44,6 36,2 30,0 0,277
75,0 79,0 70,0 0,659 Đau đầu (%) 74,1 66,5 90,0 0,221 Đau bụng kinh
(%) 25,9 17,9 40,0 0,134 Đầy hơi (%) 56,2 50,9 60,0 0,783 Đau khi giao hợp (%) 13,4 26,3 20,0 0,003
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tình trạng hôn nhân ở các triệu chứng: đau lưng (p = 0,031), chóng mặt (p = 0,012), đau khi giao hợp (p = 0,003).
Bảng 3.11: Liên quan giữa triệu chứng cơ thể và trình độ học vấn.
Triệu chứng Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Đại học trở lên p Đau lưng (%) 54,0 50,0 45,4 45,8 0,713 Đau ngực (%) 41,4 34,8 35,1 44,4 0,559
79,3 72,8 75,3 84,7 0,369 Đau đầu (%) 70,1 68,5 68,0 72,2 0,816 Đau bụng kinh (%) 18,4 18,5 19,6 30,6 0,134 Đầy hơi (%) 54,0 47,8 56,7 52,8 0,581 Đau khi giao hợp (%) 21,8 18,5 23,7 26,4 0,794
Xét về từng nhóm trình độ học vấn, sự khác biệt về tỉ lệ của từng triệu chứng cơ thể không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.12: Liên quan giữa triệu chứng cơ thể và nghề nghiệp.
Triệu chứng Lao động trí óc
Không có việc làm p Đau lưng (%) 46,2 59,1 51,7 46,2 0,752 Đau ngực (%) 28,5 59,1 41,4 44,9 0,023
76,9 72,7 76,7 82,1 0,708 Đau đầu (%) 66,2 81,8 71,6 69,2 0,582 Đau bụng kinh (%) 22,3 31,8 13,8 28,2 0,085 Đầy hơi (%) 58,5 27,3 51,7 52,6 0,112 Đau khi giao hợp (%) 14,6 45,5 26,7 23,1 0,011
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm nghề nghiệp ở các triệu chứng: đau ngực (p = 0,023) và đau khi giao hợp (p = 0,011).
BÀN LUẬN
ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 41,2 14,7 với bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 16 tuổi, cao tuổi nhất là 84 tuổi.
So sánh với các nghiên cứu khác về trầm cảm trên thế giới:
Bảng 4.1: Tuổi trung bình của dân số các nghiên cứu.
Tác giả Quốc gia Năm Cỡ mẫu
Tuổi trung bình Độ lệch chuẩn Bekhuis[4] Hà Lan 2016 463 44,9 12,3
Theo y văn, rối loạn trầm cảm chủ yếu thường gặp ở lứa tuổi 20 đến 50 tuổi và tuổi trung bình khoảng 40 tuổi Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi là khá phù hợp với các số liệu đã được công bố trên thế giới, chứng tỏ rằng, ở vùng địa lý khác nhau và ở những thời điểm khác nhau, rối loạn này vẫn tập trung nhiều ở đối tượng tuổi trung niên.
Trong dân số nghiên cứu của chúng tôi, nữ giới chiếm 72,7% Tỉ lệ nữ:nam là 2,7 So sánh với các nghiên cứu trên thế giới:
Bảng 4.2: Tỉ lệ giới tính của các nghiên cứu
Tác giả Quốc gia Năm Cỡ mẫu Nữ (%)
Có thể thấy, kết quả của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu về trầm cảm đã được công bố Theo các sách bệnh học về tâm thần học, trầm cảm thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, với tỉ lệ nữ:nam = 2[3],[26] Đáng lưu ý, nghiên cứu này được thực hiện vào thời điểm mà rối loạn trầm cảm chủ yếu được quan tâm nhiều, vấn đề trầm cảm sau sinh ngày càng được báo đài đưa tin, phần nào thay đổi ý thức của người dân về rối loạn này, nhất là giới nữ, góp phần làm tỉ lệ nữ giới trong nghiên cứu của chúng tôi tăng lên.
4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Nghiên cứu cho thấy, hầu hết mức sống của bệnh nhân đều từ mức đủ ăn trở lên (81,3% đủ ăn và 7,25% dư ăn) Mặc dù kết quả này khác so với các nghiên cứu trên thế giới, nhưng do khác biệt về cách thức lấy mẫu, cỡ mẫu nhỏ chưa đại diện cho dân số chung Ở khía cạnh khác, chúng tôi có thể hiểu rằng, khi đủ ăn, đủ mặc, nỗi lo cơm áo gạo tiền phần nào lắng xuống, mọi người mới có thời gian hơn để chăm lo về sức khoẻ của mình Hiện nay, dù Nhà nước và xã hội đã có nhiều tác động tích cực để nhóm người nghèo, người có thu nhập thấp có thể tiếp cận gần hơn với các dịch vụ y tế, tuy nhiên, kết quả này cho thấy các chính sách này vẫn chưa hỗ trợ hoàn toàn triệt để các đối tượng trên Tỉ lệ BN cho rằng mình dư ăn không cao, một phần vì tính cách khiêm tốn, không phô trương của người Việt Nam, nhất là đối với các vấn đề nhạy cảm như thu nhập cá nhân, do đó, ít có BN đánh giá mình ở mục này.
Rối loạn trầm cảm chủ yếu thường xuất hiện ở những người không có mối quan hệ thân thiết hoặc những người đã li dị Điều này thể hiện qua nhiều nghiên cứu Nghiên cứu công bố năm 2010 của Ching-I Hung cho thấy tỉ lệ kết hôn trong nhóm BN RLTCCY là 45,9%[8] Trong nghiên cứu công bố năm 2016 của tác giả Bekhuis, tỉ lệ kết hôn BN mắc RLTCCY là 36,5%[4].
Trong khi đó, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bệnh nhân kết hôn lại chiếm tỉ lệ cao nhất (64,4%), khác so với các nghiên cứu còn lại Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi nhiều nguyên nhân Thứ nhất, đây là một nghiên cứu với cỡ mẫu nhỏ, chủ yếu thu thập ở phòng khám ngoại trú tại một bệnh viện chuyên khoa về tâm thần, nên số liệu này chưa phải là đại diện hoàn hảo nhất cho dân số chung Thứ hai, theo văn hoá của người Việt Nam, đa số người độc thân là những người trẻ, chưa lập gia đình, họ cho rằng sức khoẻ mình còn tốt và ít dành sự quan tâm của mình về vấn đề này Thứ ba, cuộc sống kết hôn nhiều căng thẳng về tiền bạc, con cái, công việc… Thêm vào đó, những người kết hôn sẽ nhận được sự quan tâm nhiều hơn từ bạn đời, họ sẽ nhận biết những thay đổi từ người bệnh và thúc giục người bệnh đi khám Từ đó, khiến cho tỉ lệ bệnh nhân RLTCCY trong lứa tuổi kết hôn ở nghiên cứu này cao lên.
Tác giả Chaudhry công bố nghiên cứu có kết quả tương tự chúng tôi khi tỉ lệ BN đang kết hôn lên đến 81,7%, trong khi độc thân 13,3% và goá/li dị chiếm 5%[7] Ở nghiên cứu này, tác giả cũng lựa chọn nhóm BN ở một phòng khám ngoại trú, do đó, có thể dẫn đến sự khác biệt so với các nghiên cứu khác.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhận thấy tỉ lệ bệnh nhân phân bố khá đều ở các nhóm trình độ học vấn Việc trình độ học vấn phân bố đều giữa các cấp học trong dân số nghiên cứu, cho thấy hiệu quả của các công tác tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ về trầm cảm đã tăng lên, với nội dung phù hợp với trình độ văn hoá của mọi người. Ở các nghiên cứu khác, các tác giả sử dụng số năm đi học trung bình để đánh giá về trình độ học vấn Nghiên cứu tại Đài Loan của tác giả Ching-I Hung năm 2010 cho thấy số năm đi học trung bình của BN RLTCCY tham gia nghiên cứu là 13 2,4 năm[14] Nghiên cứu của tác giả Taycan (2016), cho thấy, số năm đi học trung bình của dân số nghiên cứu là 9,8 3,6 năm[28] Số liệu này trong nghiên cứu của tác giả Jeon S.W (2016) là 10,7 3,6 năm[15] Có thể thấy, đa số bệnh nhân tham gia ở các nghiên cứu này có trình độ học vấn khá cao.
Nhìn chung, hầu hết BN tham gia nghiên cứu đều có nghề nghiệp ổn định, tỉ lệ không có việc làm thấp (23%) Chính vì có việc làm, có nguồn thu ổn định cuộc sống, BN mới có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế chuyên khoa sâu.
Bên cạnh đó, ở nhóm BN có việc làm, nhóm BN lao động trí óc chiếm ưu thế (37,4%) vì đây là những thành phần dân trí cao, có kiến thức tốt hơn về các vấn đề chăm sóc sức khoẻ Đồng thời, ở nhóm BN này, họ có nhiều phương tiện hơn để tiếp cận thông tin về bệnh lý của mình, do đó, có thể đi khám nhiều hơn. Việc nhóm bệnh nhân lao động tay chân tỉ lệ thấp có thể do ở những người lao động tay chân bị hạn chế về trình độ, về thời gian, về tiền bạc để có thể đi kiểm tra sức khoẻ.
Nghiên cứu của tác giả Ching-I Hung (2010) cho thấy 54,8% BN RLTCCY có việc làm[14] Nghiên cứu đa trung tâm của tác giả Novick công bố năm 2013 cho thấy có 42% bệnh nhân hiện đang làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian tại thời điểm thực hiện nghiên cứu[22] Như vậy, kết quả của chúng tôi khá tương đồng với các tác giả này khi tỉ lệ BN có việc làm khá cao.
ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐỘ NẶNG RỐI LOẠN TRẦM CẢM CHỦ YẾU
Trong nghiên cứu của chúng tôi, theo thang điểm PHQ – 9, tỉ lệ bệnh nhân mắc trầm cảm nhẹ, trung bình, trung bình – nặng, nặng lần lượt là 12,6%; 23,6%;32,8% và 28,4% Có 9 BN ở thời điểm ban đầu ghi nhận theo thang PHQ – 9 là không trầm cảm, điều này có thể do sai sót trong chẩn đoán, hoặc do thang điểm
PHQ – 9 là thang do BN tự đánh giá, nên phần nào sẽ mang tính chủ quan của người bệnh.
Có thể nhận thấy, ở thời gian đầu, tỉ lệ trầm cảm mức độ trung bình, trung bình - nặng và nặng khá cao (84,8%) Tỉ lệ này cho thấy: hầu hết BN đi khám khi bệnh đã biểu hiện rõ Điều này phần nào chứng tỏ mặc dù ngày nay nhiều người tiếp cận được thông tin, biết về trầm cảm nhiều hơn, tuy nhiên, việc phát hiện sớm và tầm soát trầm cảm ở những đối tượng có nguy cơ cao vẫn chưa thực sự có hiệu quả Tỉ lệ RLTCCY mức độ nặng chiếm 28%, thấp hơn tỉ lệ của mức độ trung bình và trung bình – nặng, có thể giải thích rằng ở những BN RLTCCY nặng, một là do tình trạng chậm chạp tâm thần vận động khiến họ không đi khám đầy đủ, hoặc là, do những BN này thường có ý tưởng tự sát khá cao nên đã được chỉ định nhập viện, do đó, tỉ lệ này ở phòng khám ngoại trú không cao Tuy vậy, con số 28% vẫn là một con số rất đáng báo động Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng: cần thúc đẩy thông tin thêm về triệu chứng bệnh cho BN, thân nhân và nhân viên y tế; song song với đó là cần đẩy mạnh hơn về tầm soát trầm cảm ở các cơ sở chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đặc biệt là ở những nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao.
Sau thời gian điều trị, tỉ lệ phân độ nặng của RLTCCY theo thang điểm PHQ – 9 đã thay đổi theo chiều hướng tích cực: tăng dần tỉ lệ ở mức độ nhẹ và lui bệnh và giảm dần ở các mức độ cao hơn Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê với p < 0,001 Sự khác biệt này cho thấy hầu hết các bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị của Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh, là tuyến chuyên khoa sâu ở lĩnh vực này.
Xét về độ nặng của RLTCCY, ở các nghiên cứu nước ngoài, một số các tác giả sử dụng thang đánh giá trầm cảm Hamilton (HAM-D) Trong nghiên cứu về hiệu quả điều trị các triệu chứng cơ thể trên BN RLTCCY công bố năm 2008, tác giả Thomas N Wise cho thấy điểm HAM-D trung bình ở cả nhóm sử dụng giả dược và nhóm sử dụng thuốc chống trầm cảm lần lượt là 20,2 3,7 và 20,7 3,7 điểm[31] Ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu, kết quả của Jeon S.W cho thấy điểm HAM-D trung bình là 13,5 9,5 điểm - ứng với trầm cảm mức độ trung bình[15]; của tác giả Novick (2015) là 24,04 5,41 điểm - ứng với trầm cảm mức độ nặng[21] Như vậy, mặc dù khác về thang điểm sử dụng, kết quả đều cho thấy BN RLTCCY chỉ đi khám đi bệnh đã biểu hiện từ mức độ trung bình trở lên[30] Điều này cho thấy, ngay cả ở những quốc gia phát triển, vấn đề tầm soát và phát hiện sớm trầm cảm vẫn còn nhiều khó khăn.
ĐẶC ĐIỂM TRIỆU CHỨNG CƠ THỂ
4.3.1 Về tần suất của các triệu chứng cơ thể
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các triệu chứng xuất hiện với tỉ lệ cao nhất lần lượt là giảm sức lực (89,9%), ngủ không ngon (87,9%), tim đập nhanh (77,6%), đau đầu (69,5%), chóng mặt (61,5%) Trong đó, ngoài giảm sức lực và ngủ không ngon là hai triệu chứng nằm nhóm triệu chứng cần để chẩn đoán trầm cảm, còn lại nhóm triệu chứng đau, triệu chứng tim mạch và thần kinh là những nhóm triệu chứng đứng đầu.
Nghiên cứu tại Ý của tác giả Passamonti công bố năm 2003 cho thấy các triệu chứng cơ thể xuất hiện trên BN RLTCCY với tần suất cao nhất bao gồm mệt mỏi (81%), các triệu chứng tim mạch (65%), các triệu chứng dạ dày ruột (64%), đau cơ xương (50%), đau nửa đầu (43%)…[23]
Chỉ riêng về triệu chứng đau trên BN RLTCCY, tác giả Munoz thực hiện nghiên cứu ở khu vực Mỹ Latin năm 2005, cho thấy có tới 72,6% BN có triệu chứng này[19] Trong nghiên cứu công bố cũng năm 2005 của tác giả Andre
Tylee, các triệu chứng cơ thể ghi nhận được trên các BN trầm cảm bao gồm: mệt mỏi/mất năng lượng (73%), thức giấc giữa chừng/giảm ngủ (63%), thay đổi sự ngon miệng (40%), đánh trống ngực (34%), các triệu chứng cơ thể khác như đau lưng, viêm khớp… (65%)[29].
Nghiên cứu do Caballero công bố năm 2008 cho thấy các triệu chứng đau chiếm tỉ lệ cao nhất với 85,5% BN có ít nhất 1 triệu chứng đau, theo sau đó là các triệu chứng tim phổi (80,6%), dạ dày ruột (69,4%), triệu chứng phụ khoa/tình dục hiện diện ở 65,7% BN nữ Đặc biệt, nghiên cứu này ghi nhận 64,2% BN có triệu chứng giả thần kinh/chuyển dạng Nếu xét riêng từng triệu chứng, triệu chứng đau lưng chiếm tỉ lệ cao nhất với 69,3%, kế đến lần lượt là đánh trống ngực (57,3%), đau chi (56,7%), đau khớp (49,4%) và đầy hơi (47,6%)[6].
Tác giả Bohman thực hiện nghiên cứu công bố năm 2010, ghi nhận các triệu chứng cơ thể thường gặp nhất trên nhóm BN RLTCCY lần lượt là đau đầu (42%), cảm giác ớn lạnh (33%), mỏi mắt (24%), đau bụng (20%), dị ứng (20%), chóng mặt (17%), vã mồ hôi (16%), buồn nôn (16%)[5].
Nghiên cứu của Fornaro và cộng sự công bố năm 2011, có 68% BN RLTCCY có triệu chứng đau, đứng đầu là đau đầu với 38,5%, đau xương khớp 35%, đau dạ dày 17,9%, đau bụng 13,1%, đau ngực 7,2% Ở nhóm triệu chứng cơ thể khác, đứng đầu là suy nhược 64,4%, mất ngủ 41,5%, căng thẳng 39,8%,đánh trống ngực 33,3%, chóng mặt 20%, giảm ham muốn tình dục 18,9%[13].Tác giả Doris S.F Yu ghi nhận các triệu chứng cơ thể thường gặp trên BN trầm cảm là mệt mỏi (72,5%), mất ngủ (68,6%), chóng mặt (42,4%), đau đầu tái diễn (33,1%), mất cảm giác ngon miệng (33,1%), đau dạ dày tái diễn(31,4%)[32].
Trong nghiên cứu của mình năm 2016, tác giả Bekhuis đã chia thành từng nhóm triệu chứng cơ thể, cụ thể là nhóm triệu chứng cơ xương chiếm 52,3%, nhóm triệu chứng tim mạch chiếm 35,2%, nhóm triệu chứng dạ dày ruột chiếm 29,8% và nhóm triệu chứng chung khác chiếm 28,9%[4].
Tóm lại, mặc dù thông qua phân nhóm triệu chứng hay chỉ xét riêng từng triệu chứng, chúng ta có thể thấy, ở RLTCCY, các TCCT thể hiện rất đa dạng, biểu hiện ở nhiều cơ quan khác nhau như thần kinh, tim mạch, tiêu hoá, hô hấp, cơ xương khớp Điều này không những làm suy giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh mà còn khiến các thầy thuốc gặp khó khăn trong vấn đề chẩn đoán và điều trị, cũng như hao tổn nhiều về thời gian, tiền bạc trong quá trình quản lý bệnh.
4.3.2 Về số lượng triệu chứng cơ thể
Theo thống kê của chúng tôi, ở lần đánh giá đầu tiên, bệnh nhân có số lượng triệu chứng cơ thể nhiều nhất là 9 triệu chứng, ít nhất là có 1 triệu chứng, trung bình là 7,02 1,73 triệu chứng Có thể thấy, các triệu chứng cơ thể trong trầm cảm biểu hiện đa dạng ở bệnh nhân Bên cạnh các nhóm triệu chứng về khí sắc, cảm xúc, các triệu chứng cơ thể cũng biểu hiện khá nhiều, đặc biệt là ở những lần đầu tiên khám bệnh Cụ thể trong nghiên cứu này, 100% BN khi đến khám đều có các triệu chứng cơ thể. Ở lần đánh giá thứ hai, trải qua một thời gian được điều trị, tuy vẫn có BN xuất hiện với 9 triệu chứng cơ thể, nhưng đã có BN không còn triệu chứng nào, đồng thời giá trị trung bình cũng giảm xuống còn 3,52 2,41 triệu chứng, khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Xét về mối tương quan giữa độ nặng của RLTCCY và số lượng triệu chứng cơ thể, chúng tôi nhận thấy ở cả hai lần đánh giá, mức độ nặng của RLTCCY và số lượng triệu chứng cơ thể trung bình ghi nhận được ở BN có liên quan với nhau với p < 0,001 Điều này phần nào ủng hộ cho ý kiến cho rằng các triệu chứng cơ thể xuất hiện trên các bệnh nhân RLTCCY là một yếu tố dự đoán tiên lượng bệnh.
Trong các nghiên cứu trên thế giới, nghiên cứu của Caballero năm 2008 cho thấy số triệu chứng cơ thể trung bình trên BN RLTCCY là 8,1 4,7 triệu chứng[6].
Nghiên cứu của tác giả Bohman năm 2010 trên đối tượng là trẻ vị thành niên, số lượng triệu chứng cơ thể trên nhóm BN RLTCCY chỉ là 2,5 2,4 triệu chứng, cao hơn nhóm chứng 5,2 lần Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, số lượng triệu chứng cơ thể có liên quan với mưu toan tự sát (p < 0,01), kế hoạch và ý nghĩ tự sát (p < 0,01), và sự căng thẳng trong các mối quan hệ (p < 0,001)[5]. Dựa vào các nghiên cứu đã công bố và kết quả từ phía chúng tôi, các triệu chứng cơ thể trên BN RLTCCY không xuất hiện đơn lẻ mà thường đi kèm nhiều triệu chứng Thêm vào đó, số lượng triệu chứng cơ thể thường đi kèm với mức độ RLTCCY nặng hơn, nguy cơ tự sát cao hơn và là yếu tố tiên lượng kém ở người bệnh.
4.3.3 Về mức độ nặng của các triệu chứng cơ thể Ở nhóm bệnh nhân có triệu chứng cơ thể, hầu hết ở thời điểm tiếp xúc đầu tiên, các triệu chứng cơ thể ảnh hưởng khá nhiều đến cuộc sống của người bệnh. Điều đó thể hiện qua tỉ lệ mức độ nặng ở các triệu chứng khá cao.
Tuy nhiên, ở lần phỏng vấn thứ hai, tức sau một thời gian điều trị, tỉ lệ này có sự thay đổi đáng kể: tỉ lệ mức độ nặng giảm xuống, tỉ lệ mức độ nhẹ và không có tăng lên và điều này có ý nghĩa về mặt thống kê với p < 0,001 Kết quả này cho thấy, các triệu chứng cơ thể này không những giảm về số lượng mà còn giảm về “chất lượng” trong quá trình điều trị.
Có kết quả tương tự với chúng tôi, nghiên của tác giả Munoz cho thấy triệu chứng đau càng nặng nề càng làm tăng nguy cơ trầm cảm nặng và càng làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân[19].
MỐI LIÊN QUAN GIỮA TRIỆU CHỨNG CƠ THỂ VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ NGHIÊN CỨU
Sau quá trình phân tích số liệu, chúng tôi ghi nhận có mối liên hệ giữa tỉ lệ của từng triệu chứng cơ thể với một số đặc điểm của dân số nghiên cứu như: tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp Cụ thể như sau:
Về tuổi trung bình: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm BN có và không có triệu chứng đau đầu, đau bụng kinh, đau khi giao hợp, đau bụng,khó ngủ Kết quả cho thấy, nhóm BN đau đầu, đau bụng kinh, đau khi giao hợp,đau bụng có tuổi trung bình thấp hơn so với nhóm BN không có các triệu chứng này (p < 0,05) Ngược lại, nhóm BN khó ngủ lại có tuổi trung bình cao hơn nhóm BN không khó ngủ (p = 0,01).
Về giới tính: nhóm BN nữ có tỉ lệ các triệu chứng chóng mặt, đau đầu, đau bụng kinh cao hơn nhóm BN nam (p < 0,05), riêng nhóm BN nam lại có tỉ lệ triệu chứng táo bón/tiêu chảy cao hơn (p = 0,037).
Về tình trạng hôn nhân: ngoại trừ triệu chứng đau khi giao hợp (cao hơn ở nhóm BN kết hôn với p = 0,003), các triệu chứng đau lưng và chóng mặt có tỉ lệ cao ở hai nhóm độc thân và li dị với trị số p lần lượt là 0,031 và 0,012.
Về nghề nghiệp: hai triệu chứng đau ngực và đau khi giao hợp chiếm tỉ lệ cao hơn ở nhóm BN lao động tay chân với trị số p lần lượt là 0,023 và 0,011. Mối liên quan giữa các triệu chứng cơ thể và trầm cảm cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu và phân tích Tác giả Sugahara công bố nghiên cứu năm 2004 cho thấy: khi phân tích hồi quy đơn biến, ở BN nam, các triệu chứng tiêu chảy, vã mồ hôi có liên quan đến trầm cảm; trong khi ở nữ, triệu chứng đau đầu là triệu chứng có liên quan đến trầm cảm Mặt khác, khi phân tích đa biến, tác giả ghi nhận ở nam có mối liên quan giữa trầm cảm và các triệu chứng tiêu chảy, vã mồ hôi nhiều, sụt cân; còn ở nữ, kết quả này thể hiện ở các triệu chứng đau đầu, dị cảm Xét chung cả hai giới, các triệu chứng mất ngủ, giảm cảm giác ngon miệng, mệt mỏi, mất hứng thú, kích động là có liên quan có ý nghĩa với trầm cảm[27].
Sự khác biệt về giới tính cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Munoz năm 2005 khi kết quả cho thấy nữ giới có triệu chứng đau cao hơn nam giới 2,7 lần (p < 0,001)[19] Khác biệt này cũng thấy trong nghiên cứu của Chaudry, BN nữ có tỉ lệ các triệu chứng cơ thể như đau đầu, đau lưng, đau bụng, tê tay chân cao hơn BN nam (p < 0,05)[7].
Ngoài các nghiên cứu kể trên, trong khoảng thời gian hạn hẹp, chúng tôi chưa tìm thấy các nghiên cứu khác trình bày về sự liên hệ giữa các triệu chứng cơ thể trong RLTCCY và các đặc điểm dân số - xã hội Tuy vậy, các số liệu trên cũng thể hiện phần nào sự biểu hiện đa dạng của triệu chứng cơ thể trên các nhóm BN RLTCCY với các đặc điểm khác nhau Do đó, khi tiếp cận một BN RLTCCY, người thầy thuốc nên đánh giá thật cẩn thận các biểu hiện ở người bệnh, tránh tình trạng chủ quan bỏ sót bệnh cũng như chỉ định can thiệp quá mức không cần thiết.
Như vậy, các triệu chứng cơ thể trên BN RLTCCY xuất hiện ở nhiều cơ quan, biểu hiện rất đa dạng về số lượng, độ nặng cũng như khác nhau ở những nhóm BN có các đặc điểm dân số khác nhau, tình trạng bệnh khác nhau.
HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện với cỡ mẫu nhỏ và tại phòng khám ngoại trú của bệnh viện chuyên khoa về tâm thần, do đó, kết quả này chưa đại diện cho toàn bộ bệnh nhân trầm cảm chủ yếu cũng như cho dân số chung Do đó, kết quả chưa tương đồng với các nghiên cứu lớn ở một số đặc điểm.
2 Thứ hai, khi thực hiện nghiên cứu này, một số đặc điểm chúng tôi chỉ dựa trên đánh giá chủ quan của BN tham gia nghiên cứu (VD: thu nhập, độ nặng của triệu chứng cơ thể) nên độ chính xác của yếu tố này chỉ mang tính tương đối.
3 Chúng tôi dựa vào nhận định lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu theo chẩn đoán của các bác sĩ chuyên khoa tâm thần, có kinh nghiệm sàng lọc và chẩn đoán bệnh, tuy nhiên do hạn chế về kinh phí nên một số các cận lâm sàng khách quan không được thực hiện.