1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN vận dụng các kỹ thuật dạy học vào quá trình giảng dạy có hiệu quả

68 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đặc điểm riêng của mônhọc, nhiệm vụ cụ thể của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông: Trang bị cho học sinhnhững kiến thức phổ thông, hiện đại, có hệ thống như các khái niệm vật lí,

Trang 1

MỤC LỤC

I SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ 2

II.SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ 2

III-MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA SÁNG KIẾN 4

1.Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến 4

2.Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến 5

3.Nội dung sáng kiến 6

3.1.Tiến trình thực hiện 6

3.2.Thời gian thực hiện : 7

3.3.Biện pháp tổ chức 7

IV.HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 35

1.Trước khi áp dụng sáng kiến 35

2.Sau khi áp dụng sáng kiến 35

3 Lợi ích thu được khi sáng kiến áp dụng: 36

3.1 Về mặt định tính : 36

3.2 Kết quả thực nghiệm trong học kì II năm học 2017-2018 37

V.MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG 39

VI.KẾT LUẬN 39

1.Những bài học kinh nghiệm 39

2.Ý nghĩa của SKKN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

PHỤ LỤC

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

An Giang, ngày 12 tháng 2 năm 2019

BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng

dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

-Họ và tên: LÝ THANH XUÂN VŨ. Nam, nữ: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 15/03/1983

Nơi thường trú: 109, Tôn Đức Thắng, ấp Thượng 3, TT Phú Mỹ, Phú Tân, An GiangĐơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Chức vụ hiện nay: Giáo viên

an ninh Số phòng học được sử dụng là 33 phòng và 6 phòng bộ môn Nhiệm vụ trọng tâmcủa đơn vị trong năm học 2018-2019 gồm:

- Thực hiện nghiêm túc việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách HồChí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của BCH TW Đảng khóa XII về

“Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chínhtrị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn vớicuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”

- Thực hiện có hiệu quả hoạt động thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinhtích cực”; các phong trào thi đua của ngành bằng những hoạt động thiết thực, hiệu quả phùhợp với điều kiện của nhà trường nhằm tăng cường kỷ cương, nề nếp, nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện trong đơn vị

Trang 3

- Xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triểnnăng lực học sinh; xây dựng kế hoạch dạy học, soạn giảng, dạy học theo chủ đề; đổi mớiphương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá góp hần nâng cao chất lượng giáo dục, từngbước giảm học sinh yếu kém, học sinh bỏ học, tăng tỷ lệ học sinh khá, giỏi, tăng số lượnghọc sinh giỏi cấp tỉnh.

- Tiếp tục nâng cao vai trò của tổ trưởng chuyên môn trong việc thực hiện và điềuhành hoạt động của tổ bộ môn Nâng cao năng lực của giáo viên chủ nhiệm lớp, tổ chứcĐoàn, hội trong việc phối hợp các môi trường giáo dục Nhà trường - Gia đình - Xã hội,trong công tác giáo dục học sinh, nhất là hạn chế tình trạng học sinh bỏ học

Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên, trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh có những thuận lợi và khó khăn như sau

2 Tình hình giảng dạy bộ môn Vật lý

Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh có nhiều thuận lợi trong việc giảng dạy bộ môn Vật

lý như:

- Được sự quan tâm và tạo điều kiện tốt từ Ban lãnh đạo

- Nhân sự của tổ ổn định, đạt chuẩn, số tiết dạy không vượt quá quy định, giáo viên

có tay nghề vững vàng; có ý thức tự học; tự bồi dưỡng để nâng cao tay

Trang 4

- Các thành viên trong tổ luôn có tinh thần giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết, cùng nhauthực hiện kế hoạch để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Có trách nhiệm và quan tâm đếnchất lượng học tập của học sinh.

- Trang thiết bị đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng về phòng học, có phòng bộ môn tạođiều kiện cho HS có cơ hội để kiểm tra kiến thức, hứng thú trong học tập và tăng cường khảnăng tư duy thông qua thí nghiệm hoặc sinh hoạt bộ môn từ đó kết quả giảng dạy đượcnâng lên Đặc biệt trường còn bố trí nhiều màn hình LCD để phục vụ việc ứng dụng côngnghệ thông tin trong dạy học

Tên sáng kiến : VẬN DỤNG CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC VÀO QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY CÓ HIỆU QUẢ.

- Lĩnh vực: Giải pháp tác nghiệp môn Vật Lý.

III-MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA SÁNG KIẾN

1.Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến

Đất nước ta đang bước vào thời đại Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với mụctiêu đến 2020 Việt Nam sẽ chuyển từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nướccông nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Để chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầucủa nền kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá thì mục tiêu dạy học

ngày nay là tạo cơ hội giúp người học thực hiện được mục đích: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN và hội nhập quốc tế nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương phápdạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiếnthức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật

và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổchức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoahọc Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Trước đòi hỏi thực tiễn, nước ta đang trên đường hội nhập và phát triển thì đổi mớigiáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần thiết

Nhưng thực trạng giáo dục ở nước ta hiện nay, ảnh hưởng tư tưởng dạy học cổ truyềnvẫn còn ăn sâu Trong dạy học đa số giáo viên vẫn còn truyền thụ một chiều; học sinh họctập một cách thụ động, mới dừng lại ở mức độ nhận biết, ghi nhớ và tái hiện Trong khi đó,

Trang 5

đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức đã cócủa nhân loại mà phải bồi dưỡng hình thành cho học sinh tính năng động, óc tư duy sáng tạo

và kỹ năng thực hành áp dụng, tức là đào tạo những người lao động không chỉ có kiến thức

mà phải có năng lực hành động, kỹ năng thực hành

2.Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến

Vật lí là môn khoa học nghiên cứu các hình thức vận động của vật chất, cho nênnhững kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên như hoá học và sinh học.Vật lí học ở trường phổ thông nghiên cứu các dạng vận động của vật chất nên nhiều kiếnthức vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề của triết học, tạo điều kiện phát triển thế giớiquan khoa học ở học sinh; là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trongđời sống và sản xuất, là một khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có kĩ năng quan sát tinh

tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy logic chặc chẽ,biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chân lí Với đặc điểm riêng của mônhọc, nhiệm vụ cụ thể của việc dạy học vật lí ở trường phổ thông: Trang bị cho học sinhnhững kiến thức phổ thông, hiện đại, có hệ thống (như các khái niệm vật lí, các định luật vật

lí, nội dung chính của các thuyết vật lí, các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí trong đờisống và trong sản xuất và các phương pháp nhận thức phổ biến dùng trong vật lí); Rèn luyệnnhững thao tác, hành động, phương pháp nhận thức nhằm chiếm lĩnh kiến thức vật lí, vậndụng sáng tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn sau này; Góp phầngiáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh Những nhiệm vụ trên khôngtách rời nhau mà luôn luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, góp phần đào tạo ra nhữngcon người phát triển hài hoà, toàn diện

Như vậy, nhiệm vụ dạy học vật lí rất phức tạp và nặng nề Tất cả những nhiệm vụ ấyđược thực hiện thông qua việc dạy học những kiến thức vật lí, trong quá trình học sinh họctập vật lí Sự phát triển tư duy khoa học, năng lực sáng tạo, sự hình thành thế giới quan duyvật biện chứng, những phẩm chất đạo đức, nắm được kĩ năng, kĩ xảo hoạt động thực tiễn sảnxuất… đều là kết quả đồng thời với sự nhận thức các kiến thức vật lí của bản thân học sinh.Bởi vậy, muốn thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học vật lí, phải xác định đúng con đườngnhận thức vật lí và tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh với sự hỗ trợ kỹ thuật dạy học(KTDH), thiết bị dạy học (TBDH) và công nghệ thông tin (CNTT) để tạo niềm tin cho họcsinh (HS) Mặt khác, mỗi phương pháp dạy học (PPDH) luôn cấu thành từ 3 thành phần:

Thứ nhất, Phương pháp luận dạy học hay quan điểm dạy học là là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của PPDH; Thứ hai, Phương pháp dạy học

5

Trang 6

cụ thể là hệ thống khái niệm phù hợp để thực hiện phương pháp luận này hay là mô hình

tâm lí của PPDH; Thứ ba, Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của

của giáo viên (GV) và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điềukhiển quá trình dạy học Tính tích cực của mỗi PPDH được thể hiện qua những kĩ thuật, vìchỉ có phần này của PPDH mới tác động đến người học và quá trình học tập Cụ thể, KTDHlàm tăng tính hấp dẫn, kích thích sự tham gia tích cực, kích thích hứng thú học tập của họcsinh, tăng cường trách nhiệm cá nhân tăng cường hiệu quả học tập của học sinh, tăng cường

độ lao động, học tập của học sinh, do đó nâng cao được nhịp độ nghiên cứu tài liệu, giáokhoa qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vì vậy, KTDH có vai trò hết sứcquan trọng trong tổ chức HĐNT cho học sinh đối với môn Vật lí

Từ những lý do trên nên trong quá trình giảng dạy hiện nay đòi hỏi người giáo viênphải đổi mới phương pháp dạy học, tích cực vận dụng các KTDH trong việc tổ chức hoạtđộng nhận thức của học theo hướng tích cực hóa để giúp học sinh có thể phát huy hết tất cảkhả năng của mình, hướng dẫn cho học sinh các phương pháp tự học, tự tìm tòi kiến thức đểhọc sinh có thể tự mình vừng bước trên con đường tương lai của mình Với mong muốn tìm

ra những biện pháp hay nhằm góp phần đổi mới được phương pháp giảng dạy giúp học sinhphát huy được năng lưc tự học của bản thân trong quá trình dạy học, bản thôi tôi đã tìm tòinghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn các biện pháp vận dụng KTDH vào thực tế giảng dạy

có hiệu quả Qua thời gian áp dụng và đạt được một số kết quả khả quan, tôi chọn đề tài:

VẬN DỤNG CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC VÀO GIẢNG DẠY CÓ HIỆU

QUẢ 3.Nội dung sáng kiến

3.1.Tiến trình thực hiện

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ thuật

- Đề xuất biện pháp vận dung các kỹ

môn Vật Lí

dạy học, các kỹ thuật dạy học tích cực

thuật dạy học tích cực vào thực tiễn dạy học

- Nghiên cứu chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông.và áp dụng biện pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy

- Tiến hành giảng dạy thực nghiệm

- Khảo sát ý kiến của học sinh khi được giảng dạy áp dụng các kỹ thuật dạy học tíchcực

- Cho học sinh làm kiểm tra, phân tích kết quả

Trang 7

3.2.Thời gian thực hiện :

- Tháng 9/2017 : tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận về khái niệm kỹ thuật dạy học vàcác kỹ thuật dạy học tích cực

- Tháng 10/2017 : nghiên cứu đề xuất các hình thức vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào quá trình giảng dạy thực tế môn Vật Lí ở trường phổ thông

- Tháng 11/2017 : nghiên cứu nội dung nội dung chương trình Vật Lí 12 trung học phổ thông

- Tháng 12/2017 và tháng 1/2018: vận dụng các kiến thức đã nghiên cứu được kếthợp các hình thức vận dụng kỹ thuật dạy học vàothiết kế các giáo án giảng dạy chương trìnhVật Lí 12 theo phát huy tính tích của học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy

- Tháng 2, 3/2018 : tiến hành dạy thực nghiệm, lấy phiếu khảo sát sau thực nghiệm

và cho học sinh là kiểm tra nhằm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến

3.3.Biện pháp tổ chức

3.3.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận

3.3.1.1 Khái niệm kĩ thuật dạy học

Phương pháp dạy học có thể được chia theo ba cấp độ: cấp độ vĩ mô (Quan điểm dạyhọc), cấp độ trung gian (Phương pháp dạy học cụ thể) và cấp độ vi mô (Kĩ thuật dạy học)

Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là môhình lí thuyết của phương pháp dạy học (có thể hiểu quan điểm dạy học tương đương vớicác trào lưu sư phạm)

Phương pháp dạy học là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học

Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinhtrong các tình huống/hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ/nội dung cụ thể

Tuy nhiên, việc phân định chỉ mang tính tương đối Sự phân biệt giữa quan điểm dạyhọc và phương pháp dạy học, giữa phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học nhiều khikhông thật rõ ràng Mối quan hệ giữa quan điểm dạy học, phương pháp dạy học và kĩ thuậtdạy học có thể được thể hiện ở sơ đồ sau

Trên cơ sở phân tích những quan niêm trên, có thể hiểu: KTDH là những thao thác,hành động cụ thể của giáo viên và học sinh trong các tình huống hoạt động nhận thức nhằmthực hiện mục tiêu dạy học

Trang 8

Các bình diện của PPDH

Mặt khác, mỗi PPDH luôn cấu thành từ 3 thành phần:

- Thứ nhất, Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động PP,trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lý thuyết của

lý luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai tròcủa GV và HS trong quá trình dạy học (DH) Đây là những định hướng mang tính chiếnlược, cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của PPDH Ví dụ: DH giải thích minh họa, DH làmmẫu - bắt chước, DH định hướng HS,

- Thứ hai, Phương pháp dạy học cụ thể là những hình thức, cách thức hành động của

GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu DH xác định, phù hợp với những nội dung vànhững điều kiện DH cụ thể Đây là hệ thống khái niệm phù hợp để thực hiện phương phápluận này hay là mô hình tâm lí của PPDH Ví dụ: PP thuyết trình, PP đàm thoại, PPnhóm,

-Thứ ba, Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của GV và HStrong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Ví dụ: KTđộng não, KT khăn phủ bàn, KT sơ đồ tư duy, Vì vậy, KTDH là một cấp độ của PPDH Việc

GV nắm vững các PPDH cũng như các KTDH tương thích của mỗi phương pháp

dạy học là một trong những điều kiện để nâng cao chất lượng dạy học

Các kỹ thuật dạy học tích cực, là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS; theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học; hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học Nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy

Trang 9

3.3.1.2.Vai trò của kĩ thuật dạy học trong dạy học vật lí

Trên cơ sở phân tích ở trên, KTDH là một phần của PPDH, thể hiện tính tích cực củaPPDH và tác động đến người học và quá trình học tập Vì vậy, KTDH có vai trò quan trọngtrong quá trình tổ chức HĐNT cho HS

- Thứ nhất, tăng tính hấp dẫn, kích thích sự tham gia tích cực, kích thích hứng thú học tập của HS

- Thứ hai, tăng cường trách nhiệm cá nhân, tăng cường hiệu quả học tập của HS

- Thứ ba, giúp tăng ý thức tự học của HS, do đó nâng cao được nhịp độ nghiên cứu tài liệu, giáo khoa

- Thứ 4, tạo điều kiện cho HS tự lực chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo

- Thứ 5, làm giảm thời gian diễn giải, mô tả, gắn bài học với thực tế cuộc sống, học

đi đôi với hành Qua việc vận dụng các KTDH vào làm các thí nghiệm và các PTDH hiệnđại hỗ trợ cho QTDH sẽ giúp hình thành nhân cách, thế giới quan, nhân sinh quan, rèn luyệntác phong làm việc có khoa học của cả GV lẫn HS Tuy nhiên, có nhiều loại KTDH khácnhau, để phát huy vai trò của KTDH thì GV phải vận dụng KTDH trong dạy học phù hợpvới từng đơn vị kiến thức, từng loại bài dạy, từng đối tượng và năng lực tổ chức của GV;Đồng thời, GV cần phải kết hợp một cách hợp lí các KTDH sẽ làm cho hiệu quả của việcgiảng dạy được nâng cao Nếu trong QTDH, biết phối hợp tốt các loại KTDH thì sẽ tạoniềm tin cho HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức đồng thời bồi dưỡng cho HS những kĩnăng học tập, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học

3.3.1.3.Phân loại kĩ thuật dạy học

Dựa vào mục tiêu chính của bài có thể phân các bài dạy học môn Vật lí: Bài nghiêncứu kiến thức mới; Bài luyện tập, củng cố kiến thức; Bài thực hành thí nghiệm Qua đó cóthể phân các KTDH theo các nhóm sau:

a Nhóm kĩ thuật dạy bài nghiên cứu kiến thức mới

Mục đích chính bài nghiên cứu kiến thức mới là xây dựng kiến thức mới, xác địnhđặc tính mới của đối tượng hoặc các mối quan hệ trong đối tượng đó và hiểu nội dung cơbản của kiến thức mới Để đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tạo động cơ hứng thú,nhu cầu tìm tòi kiến thức mới GV cần vận dụng một số KTDH như: KT động não, KT độngnão viết, KT động não công khai, KT khăn phủ bàn, KT bể cá, KT mảnh ghép

Kĩ thuật động não

Trang 10

Kĩ thuật động não là một kĩ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo

về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia mộtcách tích cực, không hạn chế các ý tưởng Không đánh giá và phê phán trong quá trình thuthập ý tưởng của các thành viên, khuyến khích số lượng các ý tưởng và cho phép sự tưởngtượng và liên tưởng

 Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề;

 Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến, không

đánh giá, nhận xét Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau;

 Kết thúc việc đưa ra ý kiến;

 Đánh giá:

• Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng - Có thể ứng dụng trực tiếp

- Có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu

thêm - Không có khả năng ứng dụng

• Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn

• Rút ra kết luận hành động

Phạm vi vận dụng

Kĩ thuật nay được vận dụng trong cả quá trình dạy học, có thể dùng để nghiên cứubài mới, cũng có thể vận dụng trong luyện tập, ôn tập và củng cố,

Ví dụ minh họa: Khi tổ chức dạy học: Tán sắc ánh sáng (Vật lí 12) GV thường lựa

chọn PP thực nghiệm để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Trong giai đoạn xây dựng giảthuyết, GV có thể dùng KT động não để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

Cho HS quan sát TN khi chiếu chùm tia Nghe câu hỏi

sáng trắng hẹp qua lăng kính, thì phía sau

lăng kính ta thấy một vệt sáng cầu vồng (để

quan sát rỏ hơn ta dùng thêm TN mô phỏng)

- GV tổ chức cho HS trả lời - Suy nghĩ đưa ra ý kiến của mình và ghi lại

 Yêu cầu HS đưa ra những ý kiến của ý kiến của các bạn

mình; lưu ý không trùng lặp các ý kiến đã có + YK 1: Lăng kính nhộm màu cho ánh sáng

+ YK 2: ánh sáng trắng là tập hợp vô số ánh

Trang 11

• Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ

Theo kết quả của giai đoạn điều kiện khởi - Suy nghĩ trả lời

đầu thì ý kiến nào bị loại bỏ?

• Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn

• Rút ra kết luận hành động

Để biết chính xác nguyên nhân chúng ta phải Theo dõi và ghi chép

tiến hành thêm thí nghiệm kiểm chứng khi

chiếu tia sáng laze qua lăng kính

Kĩ thuật động não viết

Phiếu hoạt động của kĩ thuật não viết

Cách thực hiện

 Đặt trên bàn 1 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của các thành viên;

 Mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó;

Trang 12

 Có thể tham khảo các ý kiến khác đã ghi trên giấy của các thành viên khác để tiếp tục phát triển ý nghĩ;

 Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm và đưa ra kết luận chung của nhóm

Phạm vi vận dụng

Kĩ thuật động não viết được vận dụng để nghiên cứu bài mới hay ôn tập củng cố bàihọc Thường kĩ thuật này được sử dụng trong PP nhóm để huy động tất cả tư duy của cácthành viên trong nhóm

Ví dụ minh họa: Tổ chức ôn tập chương Sóng ánh sáng có thể vận dụng KT để tổ

chức thảo luận nhóm

Hãy so sánh sự giống và khác nhau của tia

Hồng ngoại và tia Tử ngoại về bản chất, tính

chất, ứng dụng …?

- GV tổ chức trả lời câu hỏi trên: - HS Làm theo yêu cầu của giáo viên

+ Gv phát cho mỗi nhóm một tờ giấy và yêu 1

Mỗi thành viên trong nhóm viết ra ý kiến 3

của mình trên tờ giấy đó(có thể tham khảo 4

trưởng điều khiển: Dựa vào các ý kiến đó,

các thành viên suy nghĩ, kết hợp các ý kiến

đó và đưa ra kết luận chung của nhóm;

- GV thu kết quả của 1 đến 3 nhóm và dùng

đèn chiếu vật thể hắt các phiếu lên màn hình

Trang 13

12

Trang 14

kiến thức mới

Hãy so sánh sự giống và khác nhau của tia Hồng ngoại và tia

Tử ngoại về bản chất, tính chất,

TT Nội dung ý tưởng

1 Đều không nhìn thấy

2 Cùng bản chất sóng điện từ 3

 Phát mỗi HS 1 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của mình;

 Mỗi một HS viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó;

 Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm và đưa ra kết luận chung của nhóm

Phạm vi vận dụng

Kĩ thuật động não không công khai được vận dụng khi nghiên cứu một vấn đề nào

đó, hoặc trong ôn tập củng cố bài để huy động tư duy của từng HS không lệ thuộc vào HSbên cạnh

Ví dụ minh họa: Khi tổ chức dạy học: Tán sắc ánh sáng (Vật lí 12) GV thường lựa

chọn PP thực nghiệm để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Trong giai đoạn xây dựng giảthuyết, GV có thể dùng KT động não không công khai để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

- GV đặt câu hỏi: Theo em nguyên nhân - HS nghe câu hỏi

Trang 15

nào gây ra hiện trượng tán sắc ánh sáng?

- GV tổ chức cho HS trả lời

 Phát cho mỗi HS một tờ giấy

 Yêu cầu HS viết những ý kiến của

mình; lưu ý không tham khảo các ý kiến

của người khác

 Thu 5 đến 6 kết quả của HS và tổ hợp ý kiến lên bảng

Tổ chức cho cả lớp thảo luận và rút ra

Phiếu hoạt động của kĩ thuật động không

kết quả

công khai

- Nhận giấy

- Suy nghĩ viết ý kiến của mình vào giấy

- Suy nghĩ, tích cực đưa ra ý kiến và ghi lại kếtquả

Phương pháp động não là một kỹ thuật giúp người học thoải mái đưa ra các ý tưởngmột cách năng động và sáng tạo để từ đó giải quyết được vấn đề đặt ra

Ưu điểm của phương pháp động não

Tập trung vào vấn đề: Tất cả những người tham gia đều tập trung thảo luận về một

vấn đề

Tìm ra tất cả những đáp án có thể: Mỗi người học sẽ lần lượt theo vòng trả lời đáp

án theo ý kiến riêng Chú ý người điều khiển phải chấp nhận tất cả các câu trả lời, cho dùđáp án không hợp lý Thảo luận, đánh giá không được cho phép trong lúc các thành viêntham gia đưa ra ý tưởng Nếu như đến lượt người nào mà người đó không trả lời được thìchỉ cần nói “chuyển” thì người tiếp theo sẽ đưa ra ý kiến tiếp Cứ như vậy, người học xoayvòng trả lời cho đến khi tất cả mọi người đã hết ý tưởng

Thúc đẩy việc tham gia của học sinh vào quá trình dạy tạo niềm hứng thú trong học tập: Tất cả ý tưởng được đưa ra một cách nhanh chóng từ suy nghĩ, tưởng tượng , suy

luận của người học Từ đó vấn đề sẽ được giải quyết dựa trên ý tưởng của học sinh, giúp học sinh cảm thấy tự tin hơn khi tham gia vào quá trình phát triển ý tưởng

Trang 16

Vai trò của các thành viên khi tham gia PP Động não

Nhược điểm của PP Động não là trong cùng một lúc chỉ giải quyết được một vấn đề

và thường dễ bị lạc đề nếu không có sự chuẩn bị kỹ, sự giải thích rõ vấn đề ngay từ ban đầu

Để học sinh tham gia phương pháp này một cách tích cực và đạt được hiệu quả cao, giáo viên cần chú ý đến những điểm được nhắc đến sau đây:

Xây dựng một không khí vui nhộn, dân chủ: Đây là một điều kiện cần thiết để học

sinh tự do suy nghĩ và đảm bảo tất cả học sinh đều được phát biểu

Kiểm soát thời gian hợp lý: Cần phải hạn chế thời gian trong quá trình thu nhận ý

tưởng của mọi người, để có thể thu nhận được nhiều ý tưởng nhất từ các thành viên tham gia

Tổng hợp các đáp án:Chọn lọc và đưa ra danh sách những ý tưởng phù hợp cho

vấn đề được đặt ra Cần áp dụng chiến lược ghi chép thúc đẩy sự sáng tạo và suy luận nhưlập danh sách (List), lập danh sách ý chính (Scratch Outline), Hỏi và trả lời (Question andAnswer), ghi chép tự do (Free-write), sử dụng ma trận điểm mạnh-điểm yếu-cơ hội- rủi ro(SWOT), đặc biệt là sử dụng bản đồ tư duy (Mindmap), bản đồ từ (Word Map) để tổng hợpcác ý tưởng

Qui trình áp dụng phương pháp Động não gồm có 7 bước cơ bản như sau:

1 Bố trí học sinh và chuẩn bị các dụng cụ cần thiết

2 Xác định mục tiêu, làm rõ vấn đề cần giải quyết

3 Xác định giới hạn về thời gian phát biểu,

4 Giáo viên đề xuất học sinh đầu tiên phát biểu,

5 Các học sinh khác lần lượt theo vòng tròn phát biểu

6 Tổng hợp các ý tưởng giải quyết vấn đề

15

Trang 17

7 Phân loại và lựa chọn các ý tưởng

Để vận dụng phương pháp Động não một cách hiệu quả, thì giáo viên cần hiểu rõ tâm

lý của học sinh, và phải xây dựng nội dung học một cách lôi cuốn

Ở bước 1 giáo viên sẽ bố trí học sinh theo hình vòng tròn đem lại hiệu quả áp dụng

phương pháp động não cao nhất

Sau đó ở bước 2, giáo viên sẽ đưa ra mục tiêu và làm rõ vấn đề cần giải quyết cho

các học sinh được rõ

Bước 3, giáo viên sẽ định ra thời gian tối đa cho một phát biểu, qua đó tạo điều kiện

để tất cả học đều tham gia phát biểu

bước 4 và bước 5, nhằm khuyến khích việc phát biểu của học sinh, giáo viên có thể

đề xuất một ý tưởng sẽ thưởng +1 điểm, càng về sau thì số điểm càng tăng

Ở bước 6 và bước 7, giáo viên sẽ cùng các học sinh phân loại và lựa chọn các ý

tưởng phù hợp nhất dựa trên mục tiêu đã đề ra ở bước 2, các ý tưởng có thể được ghi trêngiấy A4 và A0 với bút nhiều màu, hoặc được ghi trên bảng để cả lớp theo dõi Cuối cùng,giáo viên cùng học sinh phân tích làm sáng tỏ các ý kiến chưa rõ ràng, cũng như thảo luậnsâu hơn về các ý kiến được chọn, và vì sao các ý kiến khác bị loại bỏ

 Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa

 Tập trung vào câu hỏi.

Trang 18

 Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về một chủ đề ) Mỗi

cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút

 Khi mọi người đều đã xong, chia sẻ và thảo luận các câu trả lời

 Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn.

Phạm vi vận dụng

Kĩ thuật khăn phủ bàn có tư tưởng như kĩ thuật động não viết, chỉ khác các thànhviên trong nhóm đồng thời suy nghĩ và viết ra ý kiến của mình mà không lệ thuộc vào ý kiếnngười khác; và được dùng để nghiên cứu một vấn đề nào đó hay dùng trong ôn tập và củng

cố bài

Một sô lưu ý khi tổ chức dạy học theo kỉ thuật khăn phủ bàn:

Câu hỏi thảo luận là câu hỏi mở

Trong trường họp số học sinh trong nhóm quá đông, không đủ chỗ trên “khăn phủbàn”, có thể phát cho học sinh những mảnh giấy nhỏ để học sinh ghi ý kiến cá nhân, sau đóđính vào phần xung quanh “khăn phủ bàn”

Trong quá trình thảo luận thống nhất ý kiến, đính những ý kiến thống nhất vào giữa

“khăn phủ bàn” Những ý kiến trùng nhau có thể đínhcchồng lên nhau

Những ý kiến không thống nhất, cá nhân có quyền bảo lưu và được giữ lại ở phầnxung quanh của “khăn phủ bàn”

Ví dụ minh họa: Khi tìm hiểu công dụng của tia X (ở bài “Tia Rơnghen” Vật lí 12

cơ bản)

- GV đặt câu hỏi: Hãy nêu công dụng của - HS nghe câu hỏi

Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời

hoặc ý kiến của bạn (về một chủ đề ) Mỗi - HS suy nghĩ và viết câu trả lời vào phần

Trang 19

cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài

phút

 Khi mọi người đều đã xong, chia sẻ và

thảo luận các câu trả lời

 Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào

ô giữa tấm khăn trải bàn

- GV thu 4 đến 5 kết quả của các nhóm và tổ

chức cho HS cả lớp thảo luận và đưa ra ý

kiến chung

của mình

- Nhóm trưởng điều khiển cả nhóm thảo luận

và đưa ra ý chung+ Chiếu điện, chụp điện, chẩn đoán bệnhhoặc tìm vị trí xương gãy, mảnh kim loạitrong người,

+ Chữa bệnh (ung thư)+ Dùng trong công nghiệp để kiểm tra chấtlượng các vật đúc, tìm các vết nứt, các bọt khí bên trong các vật bằng kim loại

+ Kiểm tra hành lí của hành khách đi máybay, nghiên cứu cấu trúc vật rắn,

- HS quan sát và thảo luận đưa ra ý kiến chung

+ Trong y học: Chiếu điện, chụp điện, chẩnđoán bệnh hoặc tìm vị trí xương gãy, mảnhkim loại trong người, chữa bệnh (ung thư)+ Dùng trong công nghiệp: kiểm tra chấtlượng các vật đúc, tìm các vết nứt, các bọt khíbên trong các vật bằng kim loại

+ Ngoài ra, tia X dùng để kiểm tra hành lí củahành khách đi máy bay, nghiên cứu cấu trúcvật rắn,

Kĩ thuật các mảnh ghép

Kĩ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa các

cá nhân, nhóm và liên kết các nhóm, được thực hiện theo hai vòng

Vòng 1

- Hoạt động theo nhóm 3 người

Trang 20

- Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm

vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C)

- Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm

vụ được giao

- Mỗi thành viên đều trình bày được nhóm đã tìm ra câu trả lời như thế nào

- Hình thành nhóm 3 người mới (1người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1 người từnhóm 3)

- Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy

đủ với nhau

- Nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa thành lập để giải quyết

- Lời giải được ghi rõ trên bảng

Cách thực hiện

 Lựa chọn một chủ đề thực tiễn

 Phân nhóm hoạt động (mỗi nhóm gồm 3-6 HS)

 Giao nhiệm vụ cho từng nhóm để thực hiện vòng 1 (mỗi nhóm 1 nhiệm vụ)

 Phân nhóm hoạt động mới

 Các thành viên trong nhóm trình bày kết quả nhóm mình thu được ở vòng 1

 Các nhóm thảo luận và đưa ra ý kiến chung

Một sô lưu ý khi tổ chức dạy học áp dụng kĩ thuật mảnh ghép

Trang 21

Một nội dung hay chủ đề lớn của bài học, thường bao gồm trong đó các phần nộidung hay chủ đề nhỏ Những nội dung/ chủ đề nhỏ đó được giáo viên xây dựng thành các

nhiệm vụ cụ thể giao cho các nhóm học sinh tìm hiểu/ nghiên cứu cần lưu ý nội dung của các chủ đề nhỏ phải có sự liên quan gắn kết chặt chẽ vói nhau.

Nhiệm vụ nêu ra phải hết sức cụ thể, đảm bảo tất cả mọi học sinh đều hiểu rõ và cókhả năng hoàn thành nhiệm vụ

Khi học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các nhóm “chuyên sâu”, giáo viên cần quan sát

và hỗ trợ kịp thòi để đảm bảo các nhóm hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian quy định vàcác thành viên đều có khả năng trình bày lại kết quả thảo luận của nhóm

Thành lập nhóm mới “nhóm mảnh ghép” cần đảm bảo có đủ thành viên của cácnhóm “chuyên sâu”

Khi các nhóm “mảnh ghép” hoạt động giáo viên cần quan sát hồ trợ để đảm bảo cácthành viên nắm được đầy đủ nội dung từ các nhóm “chuyên sâu” Sau đó giáo viên giaonhiệm vụ mới, nhiệm vụ mới phải mang tính khái quát, tổng họp kiến thức trên cơ sở nộidung kiến thức (mang tính bộ phận) học sinh đã nắm được từ các nhóm “chuyên sâu”

Ví dụ minh họa: Khi tổ chức hoạt động tìm hiểu về thang sóng điện từ , GV có thể

vận dụng KT các mảnh ghép để tổ chức các hoạt động dạy học

- GV đặt nêu vấn đề: Điền phần còn thiếu trong sơ - HS nghe câu hỏi và suy nghĩ đưa ra

đồ thang sóng điện từ sau: nhận định của mình

- GV tổ chức trả lời câu hỏi

Trang 22

Ứng dụng tiêu biểu: - HS trình bày kết quả của mình

- Thảo luận và đưa ra kết luậnBước sóng:

Ứng dụng tiêu biểu:

- GV thu kết quả của các nhóm, tổ chức cho HS

thảo luận và đưa ra ý kiến chung

Kĩ thuật làm thí nghiệm

Kĩ thuật làm thí nghiệm là KTDH trong đó, HS sử dụng những thiết bị với phươngpháp thực nghiệm để làm sáng tỏ, khẳng định những luận điểm lý thuyết mà GV đã trìnhbày nhằm củng cố, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội hoặc vận dụng lý luận để nghiên cứunhững vấn đề do thực tiễn đề ra

 Cách thực hiện

 GV giúp HS nắm vững mục đích, yêu cầu của thí nghiệm; nắm vững lý thuyết cóliên quan đến nội dung thí nghiệm;

 GV giới thiệu bộ thí nghiệm;

 GV chỉ dẫn nội dung thí nghiệm và các giai đoạn thí nghiệm với các thiết bị cần

thiết;

 GV lưu ý HS cách sử dụng các thiết bị, các nguyên vật liệu thí nghiệm

 HS độc lập tiến hành thí nghiệm, ghi chép và viết bản tường trình thí nghiệm trong

khi đó GV chỉ giám sát để uốn nắn kịp thời

 GV chỉ định một vài HS trình bày thí nghiệm của mình và những kết luận được rútra

 GV Cho HS trao đổi thảo luận và GV tổng kết, đánh giá chung

 Phạm vi vận dụng

Kĩ thuật làm thí nghiệm được vận dụng khi nghiên cứu các định luật, định lí hoặc dụng nghiên cứu khái niệm vật lí bằng PP thực nghiệm hoặc dùng trong khâu củng cố bài

Trang 24

hoặc trong các bài thực hành Tóm lại, khi nghiên cứu một vấn đề nào đó bằng thực nghiệm thì có thể vận dụng kĩ thuật này.

 Ví dụ minh họa: Khi tìm hiểu định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt (Vật lí 10 nâng cao)

thường dùng PP thực nghiệm, ở giai đoạn thí nghiệm kiểm chứng GV có thể tổ chức nhưsau:

Thí nghiệm kiểm chứng

- GV tổ chức làm thí nghiệm

GV nói rõ mục đích: Kiểm chứng lại các giả - Hs nắm mục đích làm thí nghiệm

thuyết đã nêu ở giai đoạn 2

Nếu có đủ thí nghiệm cho các nhóm thì cho HS

độc lập tiến hành thí nghiệm, ghi chép và viết bản - Tập trung làm thí nghiệm và ghi chéptường trình thí nghiệm, còn không đủ thí nghiệm kết quả

thì vận dụng KT bể cá (được tổ chức ở KT bể cá),

trong khi đó GV chỉ giám sát để uốn nắn kịp thời

GV mời một vài HS trình bày thí nghiệm của

mình và những kết luận được rút ra - Trình bày kết quả thí nghiệm

GV Cho HS trao đổi thảo luận và GV tổng kết,

Kĩ thuật bể cá

 Khái niệm

Kĩ thuật bể cá là một kĩ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồigiữa lớp và thảo luận với nhau gọi là nhóm “bể cá”, còn những HS khác trong lớp ngồi xungquanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó gọi là nhóm “quan sát” và sau khi kết thúccuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận

 Cách thực hiện

 Nhóm “bể cá” tích cực làm việc được giao 22

Trang 25

 Nhóm “quan sát” theo dõi và ghi chép nhóm “bể cá” làm

 Sau khi nhóm “bể cá” làm xong thì báo cáo kết quả

 Các thành viên của nhóm “quan sát” đóng góp ý kiến

 Thảo luận chung đưa ra kết luận

 Phạm vi vận dụng

Kĩ thuật bể cá được vận dụng khi nghiên cứu một vấn đề nào đó liên quan đến thínghiệm, nhưng nhà trường không có đủ thí nghiệm không đủ cho các nhóm

Ngoài ra, khi tổ chức dạy bài mới GV có thể vận dụng một số KTDH khác như: KT

sơ đồ tư duy, KT quan sát, KT XYZ, KT tia chớp, KT tham vấn bằng phiếu, ở phần phụlục

b.Nhóm kĩ thuật dạy bài luyện tập, củng cố kiến thức

Mục đích chính của bài luyện tập, củng cố kiến thức là làm cho học sinh hiểu sâu hơnnhững kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống,sản xuất Thông thường, bài học diễn ra dưới dạng luyện tập giải bài tập vật lí Để thực hiệnmục đích đó, ngoài việc vận dụng các KT động não, KT động não viết, KT động não khôngcông khai, KT các mảnh ghép (như mục 1.2.3.1) GV còn vận dụng một số KTDH khác

Kĩ thuật sơ đồ tư duy

Kĩ thuật sơ đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởngmang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Sơ đồ tưduy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính

Mô hình của kĩ thuật sơ đồ tư duy

Cách thực hiện

23

Trang 26

 Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.

 Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết

 bằng CHỮ IN HOA Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu.Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh

+ Gấp toàn bộ sách vở và các tài liệu liên quan

+ Giới thiệu KT sơ đồ tư duy

+ Vận dụng KT sơ đồ tư duy để tốm tắt kiến thức của bài vừa học - HS làm theo yêu cầu của GV dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng

- GV thu 2 đến 3 kết quả của các nhóm và tổ chức cho toàn lớp thảo luận

- HS tập trung thảo luận và ghi chép kết luận

Trang 27

Kĩ thuật ổ bi

Kĩ thuật "ổ bi" là một kĩ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hainhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối diện nhau để tạođiều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm khác

Mô hình của Kĩ thuật ổ bi

Trang 28

Phạm vi vận dụng

Kĩ thuật ổ bi được vận dụng trong quá trình dạy học khi tổ chức hoạt động nhóm để

ôn tập, củng cố bài và dạy bài tập vật lí

Ví dụ minh họa: Trong tiết dạy bài tập vật lí, GV vận dụng KT này để tổ chức cho

HS phân tích hiện tượng của bài tập, nêu phương pháp giải

 Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt; 3 điều chưa tốt; đề nghị cải tiến

 Sau khi thu thập ý kiến thì GV phân nhóm dựa vào các điều tốt (những HS có cùng một điều tốt thành một nhóm)

 Tổ chức cho lớp thảo luận về các ý kiến phản hồi:

+ Đại diện các nhóm giả thích những vấn đề chưa tốt và cần cải tiến

+ GV quan sát điều khiển quá trình thảo luận

Phạm vi vận dụng

Kĩ thuật “3 lần 3” được dùng để tổ chức cho HS ôn tập chương hoặc củng cố bài saumỗi tiết dạy Tuy nhiên, trong thực tế số lượng điều tốt hay điều chưa tốt hay đề nghị cảitiến không phải lúc nào là 3, có thể nhiều hơn hoặc ít hơn

Ví dụ minh họa: Khi củng cố chuong Sóng ánh sáng (Vật lí 12) Sau khi GV yêu

cầu HS viết ra giấy: Các kiến thức của bài mà em nắm được tốt nhất, kiến thức của bài mà

em nắm còn mơ màng, kiến thức của bài mà em chưa nắm được

c.Nhóm kĩ thuật dạy bài thực hành thí nghiệm

Mục đích chính của bài thực hành thí nghiệm rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết

bị cơ bản, thực hiện các phép đo cơ bản Rèn luyện kĩ năng sử dụng thí nghiệm để nghiêncứu những tính chất hay những mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng Vì vậy, GV khi tổchức dạy bài thực hành cần vận dụng các KTDH: KT động não, KT làm thí nghiệm, KT bể

cá, KT lược đồ tư duy, KT khăn phủ bàn như được trình bày ở các mục trên

3.3.2 Các hình thức vận dụng kĩ thuật dạy học trong dạy học Vật Lí

Trang 29

Nhiệm vụ hết sức quan trọng của việc dạy học vật lí là phải trang bị cho học sinhnhững kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có hệ thống, bao gồm: Các khái niệm vật lí,các định luật vật lí cơ bản, nội dung chính của các thuyết vật lí, các ứng dụng quan trọngnhất của vật lí trong đời sống và trong sản xuất, các phương pháp nhận thức phổ biến dùngtrong vật lí và hình thành những kĩ năng học tập Để thực hiện nhiệm vụ đó, GV vật lí cần tổchức các hoạt động dạy học phù hợp với từng đơn vị kiến thức có sự hỗ trợ của TBDH,CNTT, Tuy nhiên, muốn quá trình dạy học hướng vào HS theo tinh thần đổi mới PPDHhiện nay thì GV cần vận dụng một số KTDH đặc trưng vào khâu tổ chức HĐNT để tăngcường sự kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường hiệu quả học tập, tăng cườngtrách nhiệm cá nhân, tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm, Sau đây làmột số mô hình minh họa:

3.3.2.1 Kĩ thuật dạy học với dạy khái niệm vật lí

Khái niệm vật lí không chỉ phán ánh những thuộc tính chung, thuộc tính đơn nhất,riêng biệt mà còn phản ánh cả những mối liên hệ riêng biệt giữa các sự vật hiện tượng Dựavào đặc điểm của khái niệm vật lí, có thể chia khái niệm vật lí thành hai loại: Khái niệm vềhiện tượng vật lí và khái niệm về đại lượng vật lí Ví dụ, để tổ chức dạy các khái niệm hiệntượng vật lí trãi qua các bước: Tạo điều kiện cho học sinh quan sát sẽ giúp HS có nhữngbiểu tượng rõ ràng, chính xác về hiện tượng đó; GV tổ chức hướng dẫn, định hướng để HSphát hiện ra những dấu hiệu chung, bản chất của hiện tượng; Sau đó kiểm tra nhận thức của

HS bằng quan sát và thực nghiệm; Từ các kết quả thu được GV tổ chức cho HS khái quátđịnh nghĩa hiện tượng được nghiên cứu Để tổ chức thực hiện các giai đoạn đó GV vận dụngcác KTDH Sau đây là mô hình dạy các khái niệm hiện tượng vật lí có vận dụng các KTDH

Trang 30

Mô hình dạy khái niệm vật lí có vận dụng kí thuật dạy

học 3.3.2.2 Kĩ thuật dạy học với dạy định luật vật lí

Việc dạy các định luật vật lí GV thường sử dụng phương pháp thực nghiệm (Điềukiện khởi đầu, xây dựng giả thuyết, suy ra hệ quả lôgíc, xây dựng và thực hiện phương ánthí nghiệm kiểm chứng, phân tích, xử lí và suy ra các quy luật, định luật, kiểm tra lại cácquy luật, các định luật bằng thực tiễn) Nhưng việc tổ chức thực hiện các giai đoạn này đòihỏi GV phải vận dụng một số KTDH: KT làm thí nghiệm, KT quan sát, KT lược đồ tư duy,

KT động não, KT khăn phủ bàn, KT XYZ, KT tranh luận ủng hộ - phản đối … để đưa lạihiệu quả dạy học Sau đây là mô hình dạy các định luật vật lí có vận dụng các KTDH

Mô hình dạy định luật vật lí có vận dụng kí thuật dạy học

3.3.2.3 Kĩ thuật dạy học với dạy thuyết vật lí

Trang 31

Do hạn chế về mặt thời gian và trình độ nhận thức của HS nên HS không thể tự lựcthực hiện được tất cả các giai đoạn của quá trình nghiên cứu một thuyết vật lí Nhưng chỉthông báo hạt nhân của thuyết thì HS không thể hiểu được ý nghĩa, vai trò của học thuyếttrong khoa học và thực tiễn Trong thực tế, GV khi dạy các thuyết vật lí theo các bước: Tìmhiểu những cơ sở của thuyết, xây dựng hạt nhân của thuyết, vận dụng hạt nhân của thuyết.Tuy nhiên, GV còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện các bước để tổ chứchoạt động dạy các thuyết vật lí Để góp phần tháo gỡ khó khăn trên, GV phải vận dụng cácKTDH: KT động não, KT làm thí nghiệm, KT quan sát, vào việc tổ chức dạy các thuyếtvật lí Sau đây là một mô hình dạy thuyết vật lí có vận dụng các KTDH:

Mô hình dạy thuyết vật lí có vận dụng kĩ thuật dạy học

3.3.2.4 Kĩ thuật dạy học với dạy ứng dụng kĩ thuật của vật lí

Các ứng dụng của định luật, nguyên lí, vật lí trong kĩ thuật và đời sống được hiểu làcác đối tượng, thiết bị máy móc được chế tạo và sử dụng với mục đích nào đó trong kĩ thuật

và đời sống mà nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên các định luật, nguyên lí đó Nênviệc tổ chức dạy các ứng dụng kĩ thuật vật lí có thể theo 3 bước sau: Cho HS quan sát thiết

bị gốc (nếu có) Trình bày mục đích sử dụng của nó; Nghiên cứu cấu tạo của thiết bị gốc đểđưa ra mô hình của nó (có thể là mô hình hình vẽ hay mô hình vật chất); Sử dụng mô hình

để giải thích nguyên tắc hoạt động của thiết bị trên cơ sở vận dụng các mối quan hệ nhânquả và các mối quan hệ có tính quy luật về vật lí đã biết Tuy nhiên, để tổ chức thực hiện 3bước này đạt hiệu quả cao GV cần vận dụng một số KTDH: KT quan sát, KT động não, KTlược đồ tư duy, Sau đây là mô hình

Trang 32

Mô hình dạy các ứng dụng kĩ thuật vật lí có vận dụng kí thuật dạy học

3.3.2.5 Kĩ thuật dạy học với bài tập vật lí

Tổ chức dạy bài tập vật lí ở trường phổ thông có nhiều cách tiếp cạnh Một trongnhững cách mà GV hay thường sử dụng, đó là: Yêu cầu HS đọc và tóm tắt bài, phân tíchbài, tìm phương pháp giải, giải bài và kiểm tra lại Như vậy, việc vận dụng các KTDH để tổchức dạy bài tập vật lí là rất cần thiết Thật vậy, GV muốn tổ chức cho HS phân tích bài vàhình thành phương pháp giải nhất định phải vận dụng các KTDH để tổ chức Tránh trườnghợp, GV là người giải bài tập cho HS chứ không phải là người dạy bài tập cho HS Sau đây

là một mô hình tổ chức dạy bài tập vật lí có vận dụng một số KTDH:

Hình 1.1: Mô hình dạy bài tập vật lí có vận dụng kí thuật dạy học

3.3.3.Thiết kế và tổ chức giảng dạy các tiết dạy áp dụng các biện pháp nâng cao năng lực tự học cho học sinh

Sau khi nghiên cứu cở sở lý luận cũng như nội dung chương 5 “Sóng ánh sáng”chương trình Vật Lý 12 tôi đã vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào việc thiết kế giáo

án cũng như tổ chức giảng dạy ở một số lớp được chọn để kiểm chứng tính hiệu quả của cácbiện pháp được đề ra

Trang 33

- Nghiêm túc lắng nghe, ghi nhận các nội dung giáo viên truyền đạt.

- Tích cực, chủ đông tham gia các hoạt động do giáo viên phân công

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên: Làm 2 thí nghiệm của Niu-tơn

2 Học sinh: Ôn lại tính chất của lăng kính

III HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Hoạt động 1: Tìm hiểu thí nghiệm về sự tán sắc ánh sáng của Niu-tơn (1672)

- GV trình bày sự bố trí thí - HS đọc Sgk để tìm hiểu I Thí nghiệm về sự tán nghiệm của Niu-tơn và Y/c HS tác dụng của từng bộ phận sắc ánh sáng của Niu-

trong thí nghiệm - HS ghi nhận các kết quả - Kết quả:

- Cho HS quan sát hình ảnh giao thí nghiệm, từ đó thảo luận + Vệt sáng F’ trên màn

thoa trên ảnh và Y/c HS cho biết về các kết quả của thí M bị dịch xuống phía

bị trải dài thành một dảiMặt Trời

Trang 34

Lục Lam

G

Tím

31

Ngày đăng: 19/04/2021, 14:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w