Đơn vị áp dụng sáng kiến: Đề tài “PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN – BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG” lànhững lớp do tôi trực tiếp giảng dạy, chủ yếu là học sinh lớp 12
Trang 1Đề tài: “Phương pháp nêu vấn đề trong dạy - học môn GDCD - Bậc trung học phổ thông”
SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO AN GIANG
Trang 2MỤC LỤC -
TT
Trang 3Đề tài: “Phương pháp nêu vấn đề trong dạy - học môn GDCD - Bậc trung học phổ thông”
PHỤ LỤC 1:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHIẾU ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN
1 Họ và tên người đăng ký: NGÔ THÀNH Y.
2 Chức vụ: Giáo viên.
3 Đơn vị công tác: Trường THPT Chu Văn An.
4 Nhiệm vụ được giao trong đơn vị: Giảng dạy lớp 10C1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11; 12C 1, 9, 10.
- Tên đề tài sáng kiến: “PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN
- Lĩnh vực đề tài sáng kiến: Phương pháp dạy – học.
5 Tóm tắt nội dung sáng kiến:
- Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
- Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
- Nội dung sáng kiến, bao gồm:
+ Cơ sở lí luận
+ Giải pháp thực hiện - Hiệu quả đạt được
- Mức độ ảnh hưởng của sáng
kiến - Kết luận
7 Thời gian, địa điểm, công việc áp dụng sáng kiến:
- Thời gian: Từ năm 2014 đến nay (2019)
- Địa điểm: Tại trường THPT Chu Văn An, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
- Công việc: áp dụng phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn GDCD nói chung và nhất là nội dung công dân với pháp luật lớp 12
8 Đơn vị áp dụng sáng kiến: Đề tài “PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY
HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN – BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG” lànhững lớp do tôi trực tiếp giảng dạy, chủ yếu là học sinh lớp 12 trường THPT Chu Văn An
9 Kết quả đạt được: Đa số học sinh đều thấy thoải mái, thích giờ GDCD, nắm kiến thức và khả
năng vận dụng kiến thức pháp luật tốt để giải quyết hiệu quả những vấn đề có liên quan trong cuộcsống
An Giang, ngày 09 tháng 02 năm 2019
Tác giả
Ngô Thành Y
PHỤ LỤC 2:
Trang 4SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
An Giang, ngày 19 tháng 02 năm 2019
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến: “PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN – BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”.
I Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Ngô Thành Y; Nam, nữ: Nam.
- Ngày tháng năm sinh: 09/9/1969
- Nơi thường trú: ấp Vàm Nao, Xã Tân Trung, Huyện Phú Tân, Tỉnh An Giang.
- Đơn vị công tác: Trường THPT Chu Văn An.
- Chức vụ hiện nay: Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên dạy lớp.
- Lĩnh vực công tác: Tổ trưởng chuyên môn, giảng dạy.
II Tên sáng kiến: “PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN – BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”.
III Lĩnh vực: Phương pháp dạy - học.
1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:
Môn giáo dục công dân (GDCD) là một môn khoa học xã hội có vai trò quan trọngtrong việc trang bị cho học sinh hệ thống tri thức khoa học cơ bản, phổ thông, thiết thực về đạođức, pháp luật, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước Qua đóhình thành và phát triển ở học sinh thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ và từngbước hình thành cho học sinh thói quen, kỹ năng vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống.Chúng ta sẽ không đạt đựợc những mục tiêu đó nếu như người dạy vận dụng không tốt cácphương pháp trong giảng dạy môn GDCD Nhất là áp dụng các phương pháp để học sinh liên
hệ, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, trong đó có “phương pháp nêu vấn đề trong giảngdạy môn GDCD”
Với những mục tiêu, yêu cầu của môn GDCD như đã nêu thì việc áp dụng các phương
Trang 5Người thực hiện: Ngô Thành Y – Đơn vị: THPT Chu Văn An - Phú Tân.
Trang 6dục của chương trình đã đặt ra Vì một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình, sáchgiáo khoa là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy – học, thực hiện dạy - học dựa vào hoạtđộng tích cực, chủ động của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên nhằm pháttriển tư duy độc lập, sáng tạo, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, tạo niềmtin và hứng thú cho học sinh trong học tập Thì việc vận dụng “phương pháp nêu vấn đề trongdạy – học môn GDCD” là cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến:
Để góp phần đào tạo những con người mới phát triển toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầucủa địa phương, của đất nước trong tình hình mới
Để nâng cao chất lượng dạy - học cho phù hợp với mục tiêu của giáo dục hiện nay trongtình hình mới, một yêu cầu được đặt ra cho người giáo viên là phải đổi mới phương pháp dạyhọc, chuyển phương pháp dạy học từ lấy giáo viên làm trung tâm sang lấy học sinh làm trungtâm, phát huy tích tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học Môn GDCD ở trườngTHPT cũng phải đáp ứng yêu cầu đó Đổi mới phương pháp dạy học đối với môn GDCD thựcchất là giải quyết vấn đề: Làm thế nào để phát huy tính tích cực, chủ động tìm hiểu kiến thứccủa học sinh? Hình thành và phát triển kỹ năng học tập bộ môn GDCD cho học sinh, giáo viêncần đặt cho học sinh trước những tình huống có vấn đề thực tế, sinh động nhằm kích thích sựtìm tòi, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập
Đó là cách dạy học nêu vấn đề, nó đáp ứng được phần nào yêu cầu của nền giáo dụchiện đại Người thầy giữ vai trò là người hướng dẫn, học sinh chủ động, tự giác trong học tập.Với một bài soạn được thiết kế theo nhiều tình huống khác nhau xoay quanh một chủ đề, bàihọc với một vài đơn vị kiến thức nhất định, giáo viên sẽ điều khiển toàn bộ quá trình học tập,
tổ chức để học sinh tham gia tích cực vào việc tự tìm hiểu và chiếm lĩnh kiến thức, đồng thờicũng tự đánh giá về những kết quả tiếp thu của bản thân Đây là phương pháp được vận dụngnhiều không chỉ riêng bộ môn GDCD mà còn trong các môn khoa học khác nữa
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận đổi mới phương pháp dạy - học và kinh nghiệm của bảnthân trong thực tế giảng dạy vừa qua, tôi xin ghi nhận lại những việc đã và đang làm của bản
thân đạt được những kết quả nhất định trong việc áp dụng “Phương pháp nêu vấn đề trong
quá trình giảng dạy môn GDCD ở bậc THPT”.
3 Nội dung sáng kiến:
3.1 Cơ sở lí luận: Luật giáo dục nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 được
Quốc Hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 (ở điều 5, khoản 2) đã ghi nhận: “Phươngpháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
Trang 7Đề tài: “Phương pháp nêu vấn đề trong dạy - học môn GDCD - Bậc trung học phổ thông”
người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê họctập và ý chí vươn lên”
Bản chất của dạy - học là quá trình giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh Sựtác động qua lại của quá trình trên làm cho các nhà khoa học sư phạm nghiên cứu và xây dựngthành các phương pháp dạy học Trong đó phương pháp “Nêu vấn đề” trong giảng dạy là mộtthành tựu của lí luận về phương pháp dạy - học Các phương pháp dạy cũ chủ yếu làm chohọc sinh dễ hiểu, dễ nhớ, thuộc lòng các đơn vị của kiến thức từng bài học, chủ đề nhất định.Giáo viên dùng mọi cách để tác động vào học sinh sao cho trong một thời gian xác định họcsinh tiếp thu một khối lượng tri thức nhất định Với phương pháp giảng dạy như vậy, thì họcsinh sẽ tiếp thu tri thức một cách thụ động, không sáng tạo khó vận dụng tri thức đã tiếp thuvào thực tế lao động, cuộc sống hằng ngày
“Phương pháp nêu vấn đề” trong giảng dạy sẽ kích thích nhu cầu tiếp nhận tri thức củahọc sinh, từng bước hình thành và phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, biết tự đặt ra và giảiquyết những vấn đề của cuộc sống “Phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn GDCD”ngoài việc cung cấp tri thức bộ môn cho học sinh, nó còn xây dựng và phát triển thói quen vậndụng tri thức đã có để giải quyết những vấn đề, tình huống trong cuộc sống và nắm được bảnchất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
3.2 Giải pháp thực hiện
Giảng dạy môn GDCD ở trường THPT là một trong những hoạt động giáo dục và giáodưỡng của giáo viên, thông qua việc truyền đạt kiến thức để tác động đến học sinh nhằm hìnhthành nhân cách cho các em “Phương pháp nêu vấn đề trong dạy - học môn GDCD”, có vaitrò góp phần thực hiện thành công mục tiêu đổi mới phương pháp dạy - học môn GDCD Sửdụng các phương pháp dạy - học môn GDCD là phải chú ý phát huy tính độc lập, sáng tạo củahọc sinh để các em có thể xử lí tốt với mọi tình huống và tự giải quyết các vấn đề của cuộcsống đặt ra Giáo viên không chỉ có nhiệm vụ truyền thụ những kết luận có sẵn mà nêu ranhững tình huống có vấn đề để học sinh giải quyết
* Quan niệm về phương pháp nêu vấn đề:
“Đặt ra” và “giải quyết vấn đề” là những thành tố tất yếu của dạy học nêu vấn đề Với
tư cách là kết quả, giải quyết vấn đề sẽ hình thành ở học sinh sự hiểu biết bản chất của hiệntượng hay sự kiện nào đó Đương nhiên, việc đặt ra và giải quyết vấn đề học sinh chỉ có thểđạt được kết quả dưới sự hướng dẫn của giáo viên và cùng với giáo viên thực hiện Do đó,giảng dạy nêu vấn đề là sự giải thích một hiện tượng hay một sự kiện nào đó thông qua việcđặt ra và giải quyết vấn đề do học sinh thực hiện cùng với giáo viên và dưới sự hướng dẫn của
Trang 8giáo viên Như vậy, hạt nhân của giảng dạy nêu vấn đề là việc hình thành vấn đề, ở đây vai trò củagiáo viên rất quan trọng Giáo viên có thể dùng hệ thống câu hỏi phù hợp với nội dung kiến thứccủa bài học/chủ đề và đối tượng học sinh để đưa các em vào tình huống có vấn đề, hoặc dưới sựhướng dẫn của giáo viên học sinh có thể tự đưa mình vào tình huống có vấn đề Kết quả của việcgiảng dạy nêu vấn đề không chỉ là tổng số các đơn vị tri thức mà học sinh thu nhận được mà cònhình thành ở học sinh ý nghĩa bên trong của các hiện tượng, sự kiện tức là hiểu bản chất của sựvật, hiện tượng, sự kiện Trong khi giải quyết vấn đề, tùy theo mức độ câu hỏi và trình độ của họcsinh mà giáo viên có thể gợi ý hoặc không gợi ý để học sinh giải quyết vấn đề Nhưng quan trọngnhất là sau khi học sinh giải quyết vấn đề xong, giáo viên phải nhận xét, đánh giá, hệ thống hóa trithức cần thu nhận, sản phẩm cần đạt được là những gì.
* Tình huống có vấn đề: Là sự mâu thuẫn giữa những tri thức đã biết với những tri thức chưa
biết, mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết được nhờ vào sự tích cực trong suy nghĩ và sự sángtạo của học sinh trong học tập Việc xác định được các tình huống có vấn đề trong bài dạy/chủ đề giữ vai trò quyết định sự thành công của giáo viên khi thực hiện “phương pháp dạy -học nêu vấn đề” Trên cơ sở mục đích - yêu cầu của từng bài học/ chủ đề giáo viên sẽ xác địnhnhững kiến thức nào là trọng tâm mà thầy và trò cùng giải quyết
Ví dụ 1: Bài 1: “pháp luật và cuộc sống” (lớp 12) Giáo viên có thể nêu vấn đề thế này:
Pháp luật có phải là những điều cấm đoán, làm hạn chế tự do của con người không?
- Vấn đề được đặt ra là: thoáng qua thì pháp luật là những điều cấm đoán làm hạn chế,mất tự do của con người, nhưng vấn đề đặt ra cho học sinh giải quyết “Pháp luật có phải lànhững điều cấm đoán làm hạn chế tự do của con người không ?”
- Hướng giải quyết vấn đề: giáo viên tiếp tục nêu vấn đề “Trong xã hội hiện nay nếu nhưkhông có luật giao thông đường bộ thì sẽ thế nào ? Vì sao như thế ? hoặc giáo viên có thể nêuvấn đề khác như: Trong gia đình cha mẹ không quy định gì về thời gian học hành, vui chơi,giải trí, nhưng sau đó bất ngờ kiểm tra đột xuất và phạt nặng vì vi phạm những qui định “Tùyhứng”, “chủ quan, áp đặt” của cha mẹ hoặc ở trường không có nội qui, qui định thì việc học tập, vui chơi của các em có thuận lợi không ? Vì sao như vậy ?
- Sau đó giáo viên kết luận hoặc hướng dẫn học sinh kết luận vấn đề: Pháp luật khôngphải là những điều cấm đoán, làm hạn chế tự do của con người mà nó còn tạo điều kiện thuậnlợi để mỗi con người đều được tự do trong lao động, học tập, vui chơi - giải trí, nghiên cứukhoa học, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong khuôn khổ của pháp luật
Ví dụ 2 : Bài 2: “Thực hiện pháp luật” (lớp 12) Giáo viên có thể nêu vấn đề để củng cố
cả bài học: Hãy nêu một tình huống pháp luật có chứa đủ các hình thức thực hiện pháp luật ?
Trang 9Đề tài: “Phương pháp nêu vấn đề trong dạy - học môn GDCD - Bậc trung học phổ thông”
- Vấn đề đặt ra là: Học sinh phải vận dụng kiến thức môn Ngữ Văn và kiến thức phápluật của môn GDCD để xây dựng một tình huống và chỉ ra bốn hình thức thực hiện pháp luậttrong tình huống đó
- Hướng giải quyết vấn đề: Giáo viên lưu ý cho học sinh phải hiểu được nội dung củabốn hình thức thực hiện pháp để từ đó đưa vào tình huống cho phù hợp Từ sử dụng pháp luật,thi hành pháp luật, tuân thủ pháp luật đến áp dụng pháp luật một cách hợp lôgic, sát thực tiễncuộc sống
- Sau đó giáo viên kết luận hoặc hướng dẫn học sinh kết luận vấn đề: Bằng cách lấy mộttình huống của học sinh làm tốt để chia sẻ cho cả lớp tham khảo Hoặc giáo viên nêu ra một
tình huống pháp luật gợi ý thế này: “Ông Trần Văn T vừa trúng được hai vé số đặc biệt Do có
kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng nên Ông quyết định thành lập công ty TNHH MTV xây dựng “ TVT” và được cơ quan có thẩm quyền công nhận; Công ty “ TVT” thực hiện việc mở
sổ kế toán đúng quy định của pháp luật và đóng thuế đúng số, đủ kì; do chủ quan tin người trợ lí nên Ông Trần Văn T không kiểm tra việc thuê lao động, để cho người chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc trên công trường và bị thanh tra xây dựng xử phạt về hành vi nhận người chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc trái với luật lao động”.
* Bốn hình thức thực hiện pháp luật trong tình huống trên có thể nêu ra thế như thế này:
+ Hình thức thực hiện pháp luật : Là Ông Trần Văn T thành lập công ty TNHH xây dựng
“ TVT” và được cơ quan có thẩm quyền công nhận - quyền của Ông T
+ Hình thức thi hành pháp luật : Là Công ty “ Văn T” thực hiện việc mở sổ kế toán đúng
quy định của pháp luật về thuế và đóng thuế đúng số, đủ kì - nghĩa vụ buộc mà Ông T phảilàm khi tham gia kinh doanh
+ Hình thức tuân thủ pháp luật : Là Ông Trần Văn T sử dụng người chưa thành niên làm
những công việc nặng nhọc trái với luật lao động đã qui định Trong khi pháp luật về lao động cấm
sử dụng người chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm - Ông
+ Hình thức áp dụng pháp luật : Là Ông Trần Văn T, giám đốc công ty TNHH xây dựng “
TVT” bị cơ quan thanh tra xây dựng xử phạt về hành vi sử dụng người lao động chưa đủ tuổitheo qui định của luật lao động để làm công việc nặng nhọc - thanh tra xây dựng là cơ quan cóthẩm quyền căn cứ vào qui định của pháp luật để xử lí vi phạm
Trang 10* Xây dựng hệ thống câu hỏi tình huống có vấn đề Hệ thống câu hỏi bao gồm câu hỏi tái
hiện, so sánh, phân tích, khái quát hóa, tìm tòi phát hiện để dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề
do giáo viên đặt ra
Ví dụ : Bài 2: “Thực hiện pháp luật” (lớp 12) phần “Bản chất xã hội của pháp luật”
Giáo viên có thể nêu các câu hỏi có vấn đề sau và yêu cầu học sinh giải quyết:
- Theo em, hai Nhà nước có cùng một chế độ chính trị - xã hội thì pháp luật có giốngnhau hoàn toàn hay không ? Vì sao?
- Ở một quốc gia, cùng một giai cấp thống trị thì ở những giai đoạn khác nhau phápluật có khác nhau hay không ? Vì sao?
Vấn đề đặt ra là: ở hai nhà nước nhưng có cùng một chế độ chính trị - xã hội pháp luật
có giống nhau không ? Vì sao ? Và ở trong một đất nước, cùng một giai cấp thống trị thì ởnhững giai đoạn khác nhau pháp luật có khác nhau hay không ? Vì sao ?
Hướng giải quyết vấn đề: Học sinh nắm được lý luận về Nhà nước và pháp luật đã học
từ phần 2 lớp 11, những kiến thức của lớp 12, liên hệ thực tế nước ta và các vốn kinh nghiệmsống của các em sẵn có để giải quyết hai câu hỏi nêu trên, để từ đó đi vào nội dung “Bản chất
xã hội của pháp luật”
Sau đó giáo viên kết luận hoặc hướng dẫn học sinh kết luận vấn đề:
+ Những Nhà nước có chế độ chính trị - xã hội giống nhau nhưng pháp luật do các nhànước đó ban hành không hoàn toàn giống nhau, vì các nhà nước đó tồn tại trong những điềukiện kinh tế - xã hội khác nhau, có những điều kiện lịch sử, phong tục tập quán và lối sống
khác nhau (Nêu ví dụ cụ thể để chứng minh).
+ Ở cùng một quốc gia, cùng một giai cấp thống trị thì ở những giai đoạn phát triểnkhác nhau pháp luật luôn có sự thay đổi Vì thực tiễn đời sống xã hội luôn vận động và khôngngừng thay đổi, làm cho các quan hệ xã hội cũng thay đổi theo Do đó, pháp luật phải thay đổitheo cho phù hợp xu thế phát triển của xã hội và những biến đổi trong đời sống Giáo viên cóthể nêu hoặc yêu cầu học sinh nêu các ví dụ để chứng minh cho sự thay đổi của thực tiễn đờisống xã hội làm cho pháp luật thay đổi theo
* Học sinh nêu ra những cách giải quyết tình huống có vấn đề Giáo viên ghi lên bảng và
cho học sinh chứng minh hay bác bỏ các cách giải quyết của học sinh Dưới sự hướng dẫn củagiáo viên, học sinh sẽ đối chiếu cách giải quyết của học sinh với kết quả cuối cùng để kết luận nội dung bản chất xã hội của pháp luật như ví dụ trên và hướng dẫn học sinh ghi bài
3.3 Trong “dạy - học nêu vấn đề môn GDCD - bậc THPT” có thể phân thành bốn mức
độ sau đây: