Trên phạm vi toàn cầu COPD là một trong số ít các bệnh lý có tỷ lệ tử vong đang tăng. Trong COPD, sự suy giảm thể chất từ từ khiến cho các biện pháp chẩn đoán sớm và điều trị hỗ trợ dường như không được đặt ra một cách tích cực. Bài viết trình bày việc chẩn đoán COPD ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu, bệnh học COPD và triệu chứng.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên phạm vi toàn cầu COPD là một trong
số ít các bệnh lý có tỷ lệ tử vong đang tăng
khiến cho các biện pháp chẩn đoán sớm và
điều trị hỗ trợ dường như không được đặt ra
một cách tích cực gần 50% bệnh nhân xuất
viện vì đợt cấp COPD sẽ tử vong trong 2 năm
(2) Những dấu hiệu như mức độ nặng của
bệnh, tình trạng dinh dưỡng kém, bệnh tim
đồng mắc, trầm cảm, giảm chất lượng sống,
tuổi cao đã cho thấy có kết hợp với tiên lượng
xấu (3,4) Vấn đề phát hiện sớm, chẩn đoán
xác định, thực hiện các biện pháp điều trị dự
phòng và điều trị sớm là giải pháp chìa khóa
để giảm gánh nặng bệnh tật và tử vong
Các nghiên cứu cho thấy chẩn đoán COPD trong thực hành hàng ngày (không
phải từ các nghiên cứu điều tra dịch tễ) thông
thường là đã ở giai đoạn nặng và rất nặng
(5-7) Dữ liệu từ Third National Health and
Nutrition Examination Study (NHANES III)
hô hấp nhưng không được chẩn đoán nguyên
nhân Nhiều trường hợp chỉ được chẩn đoán
Mặc dù đánh giá khả năng thông khí phổi (spirometry) là tiêu chuẩn xác định COPD
nhưng thực hiện thử nghiệm (test) này vì
nhiều lý do không phải là cách để tầm soát
bệnh (case-finding) nên cũng không thể áp dụng thường quy trong điều kiện thực hành ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu Trong khi
đó, một thực tế quan trọng là hầu hết bệnh nhân COPD lại có nhu cầu cần được chẩn đoán và chăm sóc ở y tế tuyến chăm sóc ban đầu Vậy đâu là giải pháp khả thi nhất với tiêu chí phát hiện và chẩn đoán sớm COPD Rất nhiều nghiên cứu đã đi theo hướng đánh giá phương pháp tầm soát lâm sàng và xác định COPD bằng spirometry Phương pháp tầm soát lâm sàng cần đơn giản, dễ áp dụng và
Nam, trong vấn đề chẩn đoán sớm, chúng ta vẫn còn những khoảng trống (ai?, ở đâu?, bằng cách nào?) rất cần được xác định CHẨN ĐOÁN COPD Ở TUYẾN CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU
giống như chẩn đoán hen, chẩn đoán COPD dường như được xem là công việc của bác
chăm sóc sức khỏe ban đầu, của bác sỹ đa khoa Ở tuyến y tế ban đầu (bác sỹ đa khoa, bác sỹ gia đình) spirometry lại ít khi được thực hiện (11) Trong khi kết quả đo từ các bác
sỹ đa khoa thường có lỗi và có khuynh hướng đánh giá dưới mức mức độ giảm chức năng
hô hấp (12) Nhìn từ một góc độ khác, trên những bệnh nhân đã có chẩn đoán COPD và điều trị, trong một nghiên cứu ở cộng đồng
CHẨN ĐOÁN SỚM BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD): TIếP CậN NGAy SAU ĐỢT CẤP
TS.BS Nguyễn Văn Thành
PCT Hội Lao và Bệnh phổi Việt Nam E-mail: thanhbk@hcm.vnn.vn
Trang 2năm 2007 ở Bỉ (13), chỉ có khoảng 1/3 số bệnh
nhân được test spirometry, trong khi các bác
sỹ cho rằng chẩn đoán COPD như vậy là
không chắc chắn trên một nửa số bệnh nhân
Khi phân tích nguyên nhân khiến cho thực
hành COPD không được như các guideline
khuyến cáo cần phải đề cập tới 2 khía cạnh:
1) Trở ngại thực tế khi triển khai spirometry
trong thực hành thường quy và 2) giá trị của
chẩn đoán COPD không spirometry Trong
một nghiên cứu, các bác sỹ đa khoa cho rằng
việc thực hiện spirometry có những trở ngại
như sau: Thiếu khả năng duy trì chất lượng
hoạt động tốt trang thiết bị, thiếu kiến thức
trong việc thực hiện đo, bệnh nhân không
sẵn sàng thực hiện, tăng chi phí khám và
quản lý, tăng thời gian khám, không đủ tự
tin phân tích kết quả (14) Từ đó thái độ ứng
xử với thực hành trong COPD như sau: Miễn
cưỡng thực hiện một chẩn đoán chính thức,
cho rằng thuật ngữ “khí phế thũng” bệnh
nhân không thích, nghĩ rằng COPD không
phải là từ dễ hiểu khi giải thích cho bệnh
nhân, không quan tâm tới sự khác biệt về
spirometry giữa hen và COPD, lo ngại rằng
kết quả sprirometry bình thường sẽ không
khuyến khích được bỏ thuốc lá, xem COPD
là trạng thái bệnh mạn tính cũng như nhiều
bệnh khác và thường không phải là quan
trọng nhất, chỉ định thuốc dựa trên đáp ứng
lâm sàng, không cho rằng theo dõi spirometry
là hữu ích cho bệnh nhân (14) Cũng không
thể nói những lý giải như trên là hoàn toàn
vô lý Như vậy, nếu không có quy trình tiếp
cận chẩn đoán một cách rõ ràng và hệ thống,
việc chẩn đoán quá mức hay dưới mức là
hoàn toàn có thể xảy ra Dự án PLATINO
thực hiện ở các nước Mỹ La-tinh (năm 2005)
phân tích trên 578 bệnh nhân được xác định
là COPD trong đó 28,3% bệnh nhân COPD
chẩn đoán trước đó không đúng và 15,8%
bệnh nhân COPD không được chẩn đoán
trước đó Chỉ có khoảng một nửa (52,3%) số bệnh nhân được chẩn đoán COPD trước đó
cũng không có cơ sở để nói rằng thực trạng chẩn đoán, quản lý điều trị COPD ở cộng đồng, nhất là ở y tế tuyến chăm sóc ban đầu,
có thể tốt hơn Chúng ta còn thiếu dữ liệu đánh giá thực trạng chẩn đoán COPD ở cộng đồng Theo NV Nhung (năm 2011): “Chỉ có một số ít bệnh nhân được quản lý thích hợp
và điều trị hiệu quả” mà nguyên nhân được cho là do có những bất cập của hệ thống
y tế hiện nay trong đó có vai trò của Bảo hiểm y tế và những vấn đề giống như đã ghi nhận của các nước khác (như hiểu biết của người dân về bệnh, kiến thức và năng lực chuyên môn của cán bộ y tế, nhất là tuyến y
cả khi bệnh nhân vào đợt cấp cần nhập viện điều trị, khi xuất viện, thông thường bệnh nhân không có một kế hoạch đặt trong một
hệ thống theo dõi, chẩn đoán và có các biện pháp điều trị thích hợp (16)
Hình 1 Tỷ lệ bệnh nhân có spirometry và đặc điểm
chẩn đoán trước nghiên cứu PLATINO (*p <0.0001 so với chẩn đoán đúng, †p <0.001 so với chẩn đoán đúng).
BỆNH HỌC COPD VÀ TRIỆU CHỨNg Bệnh học nền tảng COPD là viêm mạn tính, rối loạn chức năng bảo vệ đặc hiệu và không đặc hiệu dẫn đến phá hủy cấu trúc và suy giảm chức năng sinh lý phổi Tình trạng bệnh diễn biến chậm, tăng dần nên triệu chứng thường
Trang 3được xem là bình thường, không khiến bệnh
nhân quan tâm và đi khám bệnh cho đến khi
có đợt cấp, với các triệu chứng nặng hơn Tình
trạng viêm tạo nên triệu chứng rất thay đổi,
không giống nhau giữa người này với người
khác (heterogeneous) Trên nền bệnh học như
vậy, tính đặc hiệu của triệu chứng là thấp, kể
cả triệu chứng khó thở gắng sức và khò khè
(17,18,19) hay kết hợp nhiều triệu chứng hô hấp
soát những bệnh nhân có nguy cơ cao
(case-finding) để từ đó xác định chẩn đoán bằng
spirometry Các yếu tố xác định nhóm người
cần tầm soát bao gồm: tuổi (thường từ 35-40
trở lên), hút thuốc hay có nguy cơ phơi nhiễm
bụi nghề nghiệp, có ít nhất một trong các triệu
chứng hô hấp kéo dài (ho, khạc đàm, khó thở)
và thường đi khám bệnh vì nhiễm trùng hô
hấp (20,21).Năm 2005, D.B Price và cs (22) trên
cơ sở một khảo sát ở cộng đồng trên những
người hút thuốc lá chưa từng được chẩn đoán
bệnh hô hấp, chưa từng sử dụng thuốc hô hấp
đã xác định có 8 yếu tố có giá trị hồi quy đa
biến có ý nghĩa trong tầm soát COPD là: Tuổi,
số thuốc lá đã hút, ho, khạc đàm, ho đàm về
sáng, khò khè, BMI và tiền sử dị ứng Theo
các các tác giả giá trị tầm soát (diện tích dưới đường cong, AUC) của 8 yếu tố này 0,81 với
độ nhậy là 0,82 và độ đặc hiệu là 0,72 (hình 2) Cũng trong một khảo sát ở cộng đồng, NV
với các yếu tố lâm sàng như trên, nếu có thêm các yếu tố đã từng nhập viện cấp cứu vì bệnh phổi, đã sử dụng thuốc hô hấp (dãn phế quản, corticosteroid) thì AUC rất cao: 0,95 Trong nghiên cứu này các tác giả cũng đề xuất việc
sử dụng dụng cụ đo lưu lượng đỉnh (PEF) Nếu giá trị PEF giảm <70% giá trị ước tính kết hợp triệu chứng lâm sàng AUC lên tới 0,99 (bảng 1)
Hình 2 Đường cong ROC đối với bảng câu hỏi cuối
cùng (n = 246) AUC=0.8158 (theo DB Price 2005) (22)
Bảng 1 Bảng điểm chẩn đoán COPD: CT- COPD-S (NV Thành và cs 2012) (23)
Không
69 0
2 Hút thuốc lá (hoặc đã ngưng hút) từ 15 gói/năm trở lên Có
Không
15 0
3 Khạc đàm (cảm giác đàm từ trong phổi) hàng ngày Có
Không
13 0
Không
31 0
Không
23 0
Trang 4Những nghiên cứu đầu tiên về COPD
vào những năm thập niên 50-60 thế kỷ 20
đã ghi nhận các biến đổi bệnh học, nhất là
những thay đổi có khuynh hướng mạn tính
trên đường thở và phổi ở người hút thuốc
lá Một kết luận quan trọng là đặc điểm tổn
thương trên đường thở suất hiện sớm và toàn
bộ, trong khi khí phế thũng xuất hiện muộn
hơn, không phải trường hợp nào cũng có
và đặc tính khí phế thũng cũng khác so với
những trường hợp khí phế thũng do thiếu
hụt anpha1-antitrypsin (24-26) Sau đó, khoảng
thập niên 60-70, những nghiên cứu sinh lý
chức năng hô hấp của người hút thuốc lá đã
xác định tình trạng thông khí tắc nghẽn và
vị trí tăng trở kháng đường thở đưa đến triệu chứng hô hấp Cũng vào thời điểm đó, COPD được định nghĩa là tình trạng tắc nghẽn với hình ảnh chức năng đặc biệt là giảm FEV1
sớm nhất trong COPD là giảm FVC do hiện
này gây ra do thu hẹp cố định đường thở nhỏ (<2mm đường kính) do dầy thành, xơ hóa, bít tắc Ngược lại với hình ảnh tắc nghẽn trong hen, chủ yếu ở đường thở lớn hơn và phân bố không đồng đều, ngoại trừ hen ở người lớn tuổi và hen hút thuốc lá có biểu hiện tương
tự COPD
6 Đã được sử dụng thuốc kháng viêm steroid cho bệnh phổi Có
Không
16 0
7 Đã đi khám bệnh cấp cứu vì triệu chứng bệnh phổi Có
Không
25 0
8 Đã đi nhập viện cấp cứu vì triệu chứng bệnh phổi Có
Không
28 0
Không
15 0
Không
26 0
Không
37 0
Không
72 0
13 Xquang ngực thường quy có hình ảnh khí phế thũng Có
Không
88 0
Chẩn đoán COPD khi:
- Từ 1-11: 114 điểm
- Từ 1- 11 + 12 hoặc 13: 210 điểm
PEF: Peak expiratory flow
Trang 5PHÁT HIỆN VÀ CHẨN ĐOÁN SỚM
Spirometry được chấp nhận như là test chẩn
đoán nhằm xác định tình trạng tắc nghẽn và
phân loại mức độ tắc nghẽn Bình thường
lá cũng giảm theo tuổi, khoảng 30mL/năm
với giới hạn trên là 50mL/năm (30) Do vấn
đề này mà có những tranh luận về việc sử
dụng điểm cắt cố định đơn (single fixed
cut-off) để chẩn đoán tắc nghẽn trong COPD vì
có thể giá trị bình thường thấp (LLN-lower
limit of normal) làm tăng chẩn đoán COPD
Do vậy đã có ý kiến cho rằng sử dụng giá trị
(31) trong khi các guideline vẫn khuyến cáo
sử dụng giá trị cố định đơn Mặc dù việc xác
định tình trạng thông khí tắc nghẽn là rõ ràng,
cụ thể nhưng, như đã trình bày ở phần trên,
tình trạng không chẩn đoán COPD ở cộng
đồng là phổ biến Trong một khảo sát cộng
đồng ở Australia trên những người từ 40 tuổi
trở lên, chỉ có 5,2% những người được xác
Cũng ở Australia, trong số những người có
chẩn đoán COPD, 31% và 42% là tỷ lệ những
người không được phân loại COPD trong 2
đo chức năng hô hấp (spirometer) tại cơ sở
khám cũng không làm cải thiện hiệu quả chẩn
đoán (34)
Ý nghĩa của chữ “sớm” trong phát hiện
và chẩn đoán sớm là ở chỗ chẩn đoán được
COPD ở ngay lần đầu tới y tế khám và/hoặc
chẩn đoán được COPD ở giai đoạn sớm Đây
thông thường là công việc của tuyến y tế ban
đầu Ở đây, việc kết hợp chẩn đoán bằng
spirometry trên những người có nguy cơ cao
là chiến lược hiệu quả (35) Spirometry nên
được tập trung trên những người trung niên
hút thuốc lá Bằng cách như vậy, một tỷ lệ rất
đáng kể COPD được chẩn đoán thêm (36,37)
Biện pháp làm tăng tính thực hành là sử dụng bảng câu hỏi (questionnaire) tầm soát trước trên nhóm có nguy cơ bằng các câu hỏi (thí dụ bảng câu hỏi IPAg, Hội Hô hấp và Chăm sóc
tố nguy cơ của DB Price và cs như đã trình bày ở trên Trong một nghiên cứu ở Australia, các tác giả vừa sử dụng bảng câu hỏi IPAg vừa kết hợp sử dụng cụ thổi cầm tay để đo
thấy có hiệu quả chẩn đoán cao với AUC là
độ nhậy chẩn đoán COPD của phương pháp này là 81% và độ đặc hiệu là 71% (39)
Như vậy bệnh nhân không được quản
lý điều trị như một trường hợp COPD sẽ ở trong 2 trạng thái: 1) Có bệnh nhưng không biết bệnh nên không đi khám mặc dù có hay không triệu chứng, kể cả đợt cấp và 2) Có
đi khám vì triệu chứng hô hấp hoặc đợt cấp nhưng không được chẩn đoán hoặc được chẩn đoán nhưng không được quản lý điều trị Trong khi lợi ích thực từ việc tầm soát (screening) COPD ở cộng đồng hiện nay vẫn còn bị hoài nghi (40,41) thì việc xác định một trường hợp COPD bằng chẩn đoán lâm sàng
để có hướng tác động điều trị sớm, nhất là tác động không dùng thuốc, là rất cần thiết Với phân tích như vậy, thái độ phù hợp nhất là tiếp cận COPD từ những đợt cấp Một nghiên cứu đã khảo sát thực hành ở y tế ban đầu trên một số lượng lớn bệnh nhân ho cấp tính tới khám, nếu chỉ xác định bằng 2 yếu tố: >40 tuổi và có hút thuốc lá thì đã có 79,8% bệnh nhân khai đã có triệu chứng hô hấp mạn tính Nhóm có triệu chứng hô hấp mạn tính có tuổi đời cao hơn, tỷ lệ phơi nhiễm nhiều hơn và chất lượng sống thấp hơn Đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân có triệu chứng hô hấp mạn tính
số lần đã đi khám trong 12 tháng trước nhiều hơn và đã được điều trị kháng sinh nhiều hơn
Trang 6(42) Một nghiên cứu khác phân tích bệnh nhân
đợt cấp COPD sau khi xuất viện cho thấy tỷ
lệ tử vong trong 90 ngày là 5% Cũng trong
90 ngày, có 37% bệnh nhân tái nhập viện và
trong số đó tử vong là 6,5% Nếu gộp chung,
cả tử vong trong và ngoài bệnh viện sau 90
vong từ nghiên cứu này cho thấy một hình
ảnh tiên lượng rất xấu của bệnh nhân đợt cấp,
nhất là đợt cấp nhập viện Những phân tích
như trên là cơ sở để nhấn mạnh việc cần thiết
phải chẩn đoán lâm sàng COPD ngay khi tiếp
cận lần đầu trên bệnh nhân có những yếu tố
nguy cơ cao COPD Bằng một lộ trình theo
dõi và xử trí hợp lý sẽ không chỉ làm tăng
khả năng chẩn đoán COPD mà còn làm giảm
gánh nặng bệnh tật và tử vong
Bảng 2 Bảng câu hỏi tầm soát COPD của IPAg (38)
50-59 60-69
≥ 70
0 4 8 10 Lượng thuốc lá đang
(hoặc đã) hút (gói-năm) 15-240-14
25-49
≥ 50
0 2 3 7
25.4-29.7
>29.7
5 1 0
Có bị ho khi thay đổi
Có khạc đàm ngay cả
Có khạc đàm vào buổi
sáng khi thức dậy không KhôngCó 30
Có bị khò khè không Không
Thỉnh thoảng hoặc thường xuyên
0 4
Có bao giờ bị dị ứng
Tổng số ≥ 17 điểm là có nguy cơ cao COPD
ĐỀ XUẤT THỰC HÀNH Như vậy với triệu hô hấp cấp tính đi khám hoặc nhập viện cấp cứu ở những bệnh nhân
có nguy cơ cao COPD, thầy thuốc cần sử dụng bảng câu hỏi hoặc tối thiểu là xác định các yếu tố nguy cơ, khám và thực hiện các xét nghiệm có sẵn để chẩn đoán COPD Sẽ có
2 tình huống: 1) Ở các phòng khám chuyên khoa hoặc nhập viện điều trị và 2) Ở các phòng khám đa khoa và ngoại trú
Ở các phòng khám chuyên khoa, hoặc bệnh viện, bằng khám và xét nghiệm nếu không có một chẩn đoán nào cần phân biệt (nhất là suy tim, lao phổi, hen) thì bệnh nhân cần được chẩn đoán lâm sàng COPD khi: Từ
40 tuổi trở lên, hút thuốc lá, có triệu chứng hô hấp mạn tính Các hướng dẫn điều trị không
sử dụng thuốc (như dinh dưỡng, vận động, vaccin, tránh phơi nhiễm) cần thực hiện ngay khi có chẩn đoán lâm sàng Ngay sau trị liệu đợt cấp (5-7 ngày điều trị) hay khi xuất viện, cần thực hiện spirometry để xác định chẩn đoán COPD này Nếu spirometry có tình trạng
thuốc dãn phế quản), cần có kế hoạch quản lý
và điều trị COPD duy trì trong 12 tháng tiếp theo Trong trường hợp như vậy việc quản lý
và điều trị cần theo hướng bệnh nhân COPD
có nhiều đợt cấp như gOLD đề xuất (46) Spirometry cần thực hiện lại sau mỗi 3 tháng
Trang 7quản lý và điều trị Nếu bệnh nhân vẫn tiếp
tục hút thuốc lá và/hoặc phơi nhiễm với khói
theo dõi đến hết 12 tháng mới xác định nên
hay không nên tiếp tục điều trị duy trì COPD
vì nhiều trường hợp tình trạng tắc nghẽn có
thể đạt điểm cắt sau nhiều lần spirometry nếu
bệnh nhân tiếp tục hút thuốc lá và/hoặc phơi
điều trị để phát hiện và chẩn đoán sớm COPD
ngay sau đợt cấp ở các phòng khám chuyên
khoa hoặc bệnh viện cho những bệnh nhân
chưa được chẩn đoán COPD trước đó
Đến khám vi triệu chứng hô hấp cấp tính
> 40 tuổi, hút thuốc lá Spirometry ngay sau ngưng điều trị đợt cấp FEV 1 /FVC < 70%
Quản lý và điều trị COPD nhiều đợt cấp Spirometry kiểm tra sau mỗi 3 tháng
Xác định có hay không COPD
Quản lý điều trị tiếp theo phenotype ít hay nhiều đợt cấp
FEV 1 /FVC ≥ 70%
Hình 3 Sơ đồ tiếp cận phát hiện và chẩn đoán sớm
COPD từ đợt cấp ở các cơ sở y tế chuyên khoa hoặc
nhập viện cấp cứu
Đối với bệnh nhân đến khám ngoại trú vì triệu chứng hô hấp tại các cơ sở y tế không
chuyên khoa, bằng khám và ít nhất với hình
ảnh Xquang ngực nếu không có một chẩn
đoán nào cần phân biệt (nhất là suy tim, lao
phổi, hen) thì bệnh nhân cần được chẩn đoán
lâm sàng COPD khi: Từ 40 tuổi trở lên, hút
thuốc lá, có triệu chứng hô hấp mạn tính Các
hướng dẫn điều trị không sử dụng thuốc (thí
dụ như dinh dưỡng, vận động, vaccin, tránh
phơi nhiễm) cần thực hiện ngay khi có chẩn
đoán lâm sàng Ngay sau trị liệu đợt cấp (5-7
ngày) cần đo lưu lượng đỉnh (PEF) (hoặc
spirometry nếu có thể) để xác định chẩn đoán
COPD Nếu PEF (hoặc spirometry) có tình
<70%), cần có kế hoạch quản lý và điều trị COPD duy trì trong 12 tháng tiếp theo Trong trường hợp này việc quản lý và điều trị cần theo hướng bệnh nhân COPD có nhiều đợt
nhất 1 lần đi khám trong 3 tháng trước hoặc 1 lần phải vào nhập viện điều trị vì triệu chứng
hô hấp trong 12 tháng trước Hình 4 thể hiện
sơ đồ quản lý và điều trị để phát hiện và chẩn đoán sớm COPD ngay sau đợt cấp ở các cơ sở
y tế không chuyên khoa cho những bệnh nhân chưa được chẩn đoán COPD trước đó
Đến khám vì triệu chứng hô hấp cấp tính
> 40 tuổi, hút thuốc lá Điều trị đợt cấp và đánh giá ngay sau đợt cấp PEF < 70% (hoặc FEV1/FVC < 70%) PEF ≥ 70% (hoặc FEV1 /FVC ≥ 70%)
Có ít nhất 1 lần trong 3 tháng trước đi khám hoặc đã nhập viện ít nhất 1 lần trong 12 tháng trước vì triệu chứng hô hấp
Quản lý và điều trị COPD nhiều đợt cấp COPD không nhiều đợt cấp Quản lý và điều trị
Spirometry kiểm tra sau mỗi 3 tháng
Xác định có hay không COPD
Quản lý điều trị tiếp theo phenotype ít hay nhiều đợt cấp
Hình 4 Sơ đồ tiếp cận phát hiện và chẩn đoán sớm
COPD từ đợt cấp đến khám ngoại trú ở các cơ sở y tế
không chuyên khoa
KẾT LUẬN Thực trạng chẩn đoán và quản lý COPD đang được xem như mới tiếp cận được phần nổi của khối băng chìm Có nhiều nguyên nhân
mà trong đó vấn đề phát hiện và chẩn đoán sớm là một thành tố then chốt Một kế hoạch hành động và theo dõi ngay sau đợt cấp sẽ giúp tăng được tỷ lệ chẩn đoán để từ đó tăng hiệu quả quản lý và điều trị Trong khi chờ các nghiên cứu đánh giá, cách tiếp cận này nên được xem là giải pháp hợp lý, cụ thể và
có tính thực hành nhất hiện nay
Trang 81 Mannino DM, Buist AS Global burden of COPD:
risk factors, prevalence, and future trends Lancet
2007;370:765-73.
2 Connors AF, Dawson NV, Thomas C, Harrell
F, Desbiens N,Fulkerson WJ, et al Outcomes
following acute exacerbation of chronic obstructive
lung disease The SUPPORT investigators Am J
Respir Crit Care Med 1996;154:959-67.
3 Connors AF, Dawson NV, Thomas C, Harrell
F, Desbiens N, Fulkerson WJ, et al Outcomes
following acute exacerbation of chronic obstructive
lung disease The SUPPORT investigators Am J
Respir Crit Care Med 1996;154:959-67.
4 Almagro P, Calbo E, de Echagüen AO, Quintana
BBS, Heredia JL, Garau J Mortality after
hospitalization for COPD Chest 2002;121;1441
5 Mannino DM, Gagnon RC, Petty TL, Lydick
E Obstructive lung disease and low lung function
in adults in the United States: data from the
National Health and Nutrition Examination Survey,
1988-1994 Arch Intern Med
archinte.160.11.1683
6 Hvidsten SC, Storesund L, Wentzel-Larsen
T, Gulsvik A and Lehmann S Prevalence and
predictors of undiagnosed chronic obstructive
pulmonary disease in a Norwegian adult general
population The Clinical Respiratory Journal 2010;
4: 13–21.
7 Hvidsten SC, Storesund L, Wentzel-Larsen T, Gulsvik
A and Lehmann S Prevalence and predictors of
undiagnosed chronic obstructive pulmonary disease
in a Norwegian adult general population The Clinical
Respiratory Journal 2010; 4: 13–21.
8 Roche N, Gaillat J, Garre M, et al Acute respiratory
illness as a trigger for detecting chronic bronchitis
in adults at risk of COPD: a primary care survey
Prim Care Respir J 2010;19(4):371- 377 Doi:
http://dx.doi.org/10.4104/pcrj.2010.00042
9 Han MK, Steenrod AW, Bacci ED, et al for
the High-Risk-COPD Screening Study Group
Identifying patients with undiagnosed COPD in
primary care settings: Insight from screening
tools and epidemiologic studies J COPD F
2015; 103-121 Doi:http://dx.doi org/10.15326/
jcopdf.2.2.2014.0152
10 MJ Abramson et al Accuracy of asthma and
COPD diagnosis in Australian general practice: a
mixed methods study Prim Care Respir J 2012;
21(2): 167-173
11 Matheson MC, Abeysena C, Raven JM, et al
How have we been managing chronic obstructive
pulmonary disease in Australia? Intern Med J
2006;36(2):92-9.
12 den Otter JJ, de Bruyn-Schmidt MA, Wolters
MJ, et al Lung function measurement in general practice General practice measurements compared with laboratory measurements during the DIMCA trial Fam Pract 2000; 17(4):314-16 http://dx.doi.org/10.1093/fampra/17.4.314
13 Buffels J, Degryse J, Liistro G Diagnostic certainty, co-morbidity and medication in a primary care population with presumed airway obstruction: the DIDASCO2 study Prim Care Respir J
2009;18(1):34-40 http://dx.doi.org/ 10.3132/pcrj.2008.00047
14 Julia AE Walters, Emily Hansen, Peter Mudge
et al Barriers to the use of spirometry in general practice Australian Family Physician Vol 34, No
3, March 2005
15 Menezes AM, Perez-Padilla R, Jardim JB, et al Chronic obstructive pulmonary disease in five Latin American cities (the PLATINO study): a prevalence study Lancet 2005; 366:1875–1881
16 NV Nhung Giải pháp cho quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam Tạp chí Lao và bệnh phổi số 3 4/2011
17 Nathalie Saad, Maria Sedeno, KatrinaMetz et al Early COPD Diagnosis in Family Medicine Practice: How to Implement Spirometry? International Journal of Family Medicine Volume 2014, Article
ID 962901, http://dx.doi.org/10.1155/2014/962901
18 Hani A Jokhdar, Mohammed A Garout, Mohammad M Alkot et al Early Detection of Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD)
in Family Practice Journal of Family Medicine and Health Care 2017; 3(1): 1-5
19 Keiichiro Akamatsu, Toshiyuki Yamagata, Yohei Kida et al Poor Sensitivity of Symptoms in Early Detection of COPD COPD: Journal of Chronic Obstructive Pulmonary Disease, 2008, 5:269–273
20 Ulla Borup Hemmingsen, Margit Stycke, Jens Dollerup et al Guideline-Based Early Detection
of Chronic Obstructive Pulmonary Disease in Eight Danish Municipalities: The TOP-KOM Study Hindawi Pulmonary Medicine Volume 2017, Article ID 7620397.
21 Janelle M Guirguis-Blake, Caitlyn A Senger, Elizabeth M Webber et al Screening for
Chron-ic Obstructive Pulmonary Disease: A SystematChron-ic Evidence Review for the U.S Preventive Services Task Force AHRQ Publication No 14-05205-EF-1 April 2016
22 David B Price, David G Tinkelman, R.J Halbert et
al Symptom-Based Questionnaire for Identifying COPD in Smokers
23 Nguyễn Văn Thành, Cao Thị Mỹ Thúy, Võ Phạm Minh Thư và cs Xây dựng mô hình hệ thống
Tài liệu tham khảo:
Trang 9quản lý và điều trị hiệu quả COPD và Hen phế quản trong bệnh viện và ở cộng đồng NXB Y Học
2012, tr 57-69
24 Anderson DO, Ferris BG Role of Tobacco
Smoking in the Causation of Chronic Respiratory Disease N Engl J Med 1962;267:787-94.
25 Dunnill MS The classification and quantification
of emphysema Proceedings of the Royal Society
of Medicine 1969;62:1024-7.
26 Flotte TR, Mueller C Gene therapy for
alpha-1 antitrypsin deficiency Hum Mol Genet 2011;20:R87-92.
27 Macklem PT The physiology of small airways Am
J Respir Crit Care Med 1998;157:S181-3.
28 Macklem PT A Century of the Mechanics
of Breathing Am J Respir Crit Care Med 2004;170:10-5.
29 Macklem PT Therapeutic implications of the
pathophysiology of COPD Eur Respir J 2010;35:676-80.
30 Kerstjens HA, Rijcken B, Schouten JP, et al
Decline of FEV1 by age and smoking status: facts, figures, and fallacies Thorax 1997;52:820-7.
31 Schermer TR, Quanjer PH COPD screening in
primary care: who is sick? Prim Care Respir J 2007;16:49-53.
32 Toelle BG, Xuan W, Bird TE, et al Respiratory
symptoms and illness in older Australians: the Burden of Obstructive Lung Disease (BOLD) study Med J Aust 2013;198:144-8.
33 Walters JA, Walters EH, Nelson M, et al Factors
associated with misdiagnosis of COPD in primary care Prim Care Respir J 2011;20:396-402.
34 Zwar NA, Marks GB, Hermiz O, et al Predictors
of accuracy of diagnosis of chronic obstructive pulmonary disease in general practice Med J Aust 2011;195:168-71.
35 David P Johns, Julia A.E Walters, E Haydn
Walters Diagnosis and early detection of COPD using spirometry J Thorac Dis 2014;6(11):1557-1569
36 Van Schayck CP, Loozen JM, Wagena E, et al
Detecting patients at a high risk of developing chronic obstructive pulmonary disease in general practice: cross sectional case finding study BMJ 2002;324:1370.
37 Sichletidis L, Spyratos D, Papaioannou M, Chloros
D, Tsiotsios A, Tsagaraki V, Haidich A A combination of
the IPAG questionnaire and PiKo-6® flow meter is
a valuable screening tool for COPD in the primary care setting Prim Care Respir J 2011;20(2):184-189
38 Haroon S, Adab P, Griffin C, et al Case finding for chronic obstructive pulmonary disease in primary care: a pilot randomised controlled trial Br J Gen Pract 2013;63:e55-62.
39 Frith P, Crockett A, Beilby J, et al Simplified COPD screening: validation of the PiKo-6 in primary care Prim Care Respir J 2011;20:190-8.
40 Guirguis-Blake JM, Senger CA, Webber EM, Mularski R, Whitlock EP Screening for Chronic Obstructive Pulmonary Disease: A Systematic Evidence Review for the U.S Preventive Services Task Force Evidence Synthesis No 130 AHRQ Publication No 14-05205-EF-1 Rockville, MD: Agency for Healthcare Research and Quality; 2016.
41 Kaplan A, Thomas M Screening for COPD: the gap between logic and evidence Eur Respir Rev 2017; 26: 160113 [https://doi org/10.1183/16000617.0113-2016].
42 Prieto Centurion et al.: Confirmatory spirometry for adults hospitalized with a diagnosis of asthma or chronic obstructive pulmonary disease exacerbation BMC Pulmonary Medicine 2012 12:73.
43 Pozo-Rodrı´guez F, Lo´pez-Campos JL, A´ lvarez-Martı´nez CJ, Castro-Acosta A, Agu¨ ero R, et al (2012) Clinical Audit of COPD Patients Requiring Hospital Admissions in Spain: AUDIPOC Study PLoS ONE 7(7): e42156 doi:10.1371/journal pone.0042156
44 Rea H, Kenealy T, Adair J, Robinson E, Sheridan N: Spirometry for patients in hospital and one month after admission with an acute exacerbation
of COPD Int J Chron Obstruct Pulmon Dis 2011, 6:527–532.
45 Conthe Gutie´rrez P, Garcı´a Alegrı´a J, Pujol Farriols
R, Alfageme Michavilla I, Artola Mene´ndez S,
et al (2010) [Consensus for hospital discharge reports in medical specialities] Med Clin (Barc) 134: 505–510.
46 Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (report 2017).
47 Tjard R Schermer, Bas Robberts, Alan J Crockett
et al Should the diagnosis of COPD be based
on a single spirometry test? npj Primary Care Respiratory Medicine (2016) 26, 16059.