1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát hiện sớm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD): Nên thực hiện ngay từ đợt cấp lần đầu

10 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 882,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài trình bày tổng quan này nhằm phân tích các bài viết, dữ liệu nghiên cứu về chẩn đoán, quản lý COPD, nhất là chẩn đoán sớm và quản lý ở cộng đồng từ đó đề xuất giải pháp. Một kế hoạch hành động và theo dõi ngay sau đợt cấp đầu tiên sẽ giúp tăng được tỷ lệ chẩn đoán để từ đó tăng hiệu quả quản lý và điều trị.

Trang 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên phạm vi toàn cầu COPD là một trong

số ít các bệnh lý có tỷ lệ tử vong đang tăng

(1) Trong COPD, sự suy giảm thể chất từ từ

khiến cho các biện pháp chẩn đoán sớm và

điều trị hỗ trợ dường như không được đặt ra

một cách tích cực Gần 50% bệnh nhân xuất

viện vì đợt cấp COPD sẽ tử vong trong 2 năm

(2) Những dấu hiệu như mức độ nặng của

bệnh, tình trạng dinh dưỡng kém, bệnh tim

đồng mắc, trầm cảm, giảm chất lượng sống,

tuổi cao đã cho thấy có kết hợp với tiên lượng xấu (3,4) Vấn đề phát hiện sớm, chẩn đoán xác định, thực hiện các biện pháp điều trị dự phòng và điều trị sớm là giải pháp chìa khóa

để giảm gánh nặng bệnh tật và tử vong Các nghiên cứu cho thấy chẩn đoán COPD trong thực hành hàng ngày (không phải từ các nghiên cứu điều tra dịch tễ) thông thường là đã ở giai đoạn nặng và rất nặng (5-7) Dữ liệu từ Third National Health and Nutrition Examination Study (NHANES III)

PHÁT HIỆN SỚM BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD): Nên thực hiện ngay từ đợt cấp lần đầu

PCT Hội Lao và Bệnh phổi Việt Nam E-mail: drthanhbk@gmail.com

Tóm tắt:

Thực trạng chẩn đoán và quản lý COPD đang được xem như mới tiếp cận được phần nổi của khối băng chìm Có nhiều nguyên nhân trong đó vấn đề phát hiện và chẩn đoán sớm là một yếu tố then chốt Bài trình bày tổng quan này nhằm phân tích các bài viết, dữ liệu nghiên cứu về chẩn đoán, quản lý COPD, nhất là chẩn đoán sớm và quản lý ở cộng đồng từ đó đề xuất giải pháp Một kế hoạch hành động và theo dõi ngay sau đợt cấp đầu tiên sẽ giúp tăng được tỷ lệ chẩn đoán để từ đó tăng hiệu quả quản lý và điều trị Trong khi chờ các nghiên cứu đánh giá, với thực tế ở Việt Nam, cách tiếp cận như trên nên được xem là hợp lý, cụ thể và có tính thực hành hiện nay.

Abstract:

EARLY DETECTION OF CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE (COPD):

IT SHOULD BE DONE RIGHT AFTER THE FIRST ACUTE EXACERBATION

The current state of COPD diagnosis and management is being seen as reaching the tip of the iceberg There are many causes for this situation in which the problem of early detection and diagnosis is a key factor This review presentation aims to analyze the literature, research data

on the diagnosis, management of COPD, especially early diagnosis and management in the community, and propose a solutions An action plan and follow-up monitoring right after the firts acute exacerbation will help increase diagnostic rates and so able to increase management and treatment effectiveness While awaiting the evaluation for this, with the reality in Vietnam, this approach should be considered reasonable, concrete and practical at present

Trang 2

(5) cho thấy 63% bệnh nhân có giảm chức năng

hô hấp nhưng không được chẩn đoán nguyên

nhân Nhiều trường hợp chỉ được chẩn đoán

COPD khi đến khám vì đợt cấp (8)

Mặc dù đánh giá khả năng thông khí phổi (spirometry) là tiêu chuẩn xác định COPD

nhưng thực hiện thử nghiệm (test) này vì

nhiều lý do không phải là cách để tầm soát

bệnh (case-finding) nên cũng không thể áp

dụng thường quy trong điều kiện thực hành ở

tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu Trong khi

đó, một thực tế quan trọng là hầu hết bệnh

nhân COPD lại có nhu cầu cần được chẩn

đoán và chăm sóc ở y tế tuyến chăm sóc sức

khỏe ban đầu Vậy đâu là giải pháp khả thi

nhất với tiêu chí phát hiện và chẩn đoán sớm

Rất nhiều nghiên cứu đã đi theo hướng đánh

giá phương pháp tầm soát lâm sàng và xác

định COPD bằng spirometry Phương pháp

tầm soát lâm sàng cần đơn giản, dễ áp dụng

và có hiệu quả xác định cao (9) Hiện nay ở

Việt Nam, trong vấn đề này, chúng ta vẫn còn

những khoảng trống (ai?, ở đâu?, bằng cách

nào?) rất cần được xác định

2 CHẨN ĐOÁN COPD Ở TUYẾN CHĂM

SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU

Giống như chẩn đoán hen, chẩn đoán COPD

dường như được xem là công việc của bác sỹ

chuyên khoa (10) hơn là của thầy thuốc chăm

sóc sức khỏe ban đầu, của bác sỹ đa khoa Ở

tuyến y tế ban đầu (bác sỹ gia đình, bác sỹ đa

khoa) spirometry lại ít khi được thực hiện (11)

Trong khi kết quả đo từ các bác sỹ đa khoa

thường có lỗi và có khuynh hướng đánh giá

dưới mức mức độ giảm chức năng hô hấp (12)

Nhìn từ một góc độ khác, trên những bệnh

nhân đã có chẩn đoán COPD và điều trị, trong

một nghiên cứu ở cộng đồng năm 2007 ở Bỉ

(13), chỉ có khoảng 1/3 số bệnh nhân được test

spirometry, trong khi các bác sỹ cho rằng chẩn

đoán COPD như vậy là không chắc chắn trên một nửa số bệnh nhân Khi phân tích nguyên nhân khiến cho thực hành COPD không được như các guideline khuyến cáo cần phải đề cập tới 2 khía cạnh: 1) Trở ngại thực tế khi triển khai spirometry trong thực hành thường quy

và 2) Giá trị của chẩn đoán COPD không spirometry Trong một nghiên cứu, các bác sỹ

đa khoa cho rằng việc thực hiện spirometry

có những trở ngại như sau: Thiếu khả năng duy trì chất lượng hoạt động tốt trang thiết bị, thiếu kiến thức trong việc thực hiện đo, bệnh nhân không sẵn sàng thực hiện, tăng chi phí khám và quản lý, tăng thời gian khám, không

đủ tự tin phân tích kết quả (14)

Hình 1 Tỷ lệ bệnh nhân có spirometry và đặc điểm

chẩn đoán trước nghiên cứu PLATINO (*p <0.0001 so với chẩn đoán đúng, †p <0.001 so với

chẩn đoán đúng).

Từ đó thái độ ứng sử với thực hành trong COPD như sau: Miễn cưỡng thực hiện một chẩn đoán chính thức, cho rằng thuật ngữ

“khí phế thũng” bệnh nhân không thích, nghĩ rằng COPD không phải là từ dễ hiểu khi giải thích cho bệnh nhân, không quan tâm tới sự khác biệt về spirometry giữa hen và COPD,

lo ngại rằng kết quả sprirometry bình thường

sẽ không khuyến khích được bệnh nhân bỏ thuốc lá, xem COPD là trạng thái bệnh mạn tính cũng như nhiều bệnh khác và thường không phải là quan trọng nhất, chỉ định thuốc

Trang 3

dựa trên đáp ứng lâm sàng, không cho rằng

theo dõi spirometry là hữu ích cho bệnh nhân

(14) Cũng không thể nói những lý giải như

trên là hoàn toàn vô lý Như vậy, nếu không

có quy trình tiếp cận chẩn đoán một cách rõ

ràng và hệ thống, việc chẩn đoán quá mức

hay dưới mức là hoàn toàn có thể xảy ra

Dự án PLATINO thực hiện ở các nước Mỹ

La-tinh (năm 2005) phân tích trên 578 bệnh

nhân được xác định là COPD trong đó 28,3%

bệnh nhân COPD chẩn đoán trước đó không

đúng và 15,8% bệnh nhân COPD không được

chẩn đoán trước đó Chỉ có khoảng một nửa

(52,3%) số bệnh nhân được chẩn đoán COPD

trước đó là đúng (15) (hình 1) Ở Việt Nam,

chúng ta cũng không có cơ sở để nói rằng

thực trạng chẩn đoán, quản lý điều trị COPD

ở cộng đồng, nhất là ở y tế tuyến chăm sóc ban

đầu, có thể tốt hơn Chúng ta còn thiếu dữ liệu

đánh giá thực trạng chẩn đoán COPD ở cộng

đồng Theo NV Nhung (năm 2011): “Chỉ có

một số ít bệnh nhân được quản lý thích hợp

và điều trị hiệu quả” mà nguyên nhân được

cho là do có những bất cập của hệ thống y tế

hiện nay trong đó có vai trò của Bảo hiểm y

tế và những vấn đề giống như đã ghi nhận của

các nước khác (như hiểu biết của người dân

về bệnh, kiến thức và năng lực chuyên môn

của cán bộ y tế, nhất là tuyến y tế cơ sở) (16)

Một thực tế đáng ngại là ngay cả khi bệnh

nhân vào đợt cấp cần nhập viện điều trị, khi

xuất viện, thông thường bệnh nhân không có

một kế hoạch đặt trong một hệ thống theo dõi,

chẩn đoán và có các biện pháp điều trị thích

hợp (16)

3 BỆNH HỌC COPD VÀ TRIỆU CHỨNG

Bệnh học nền tảng COPD là viêm mạn tính,

rối loạn chức năng bảo vệ đặc hiệu và không

đặc hiệu dẫn đến phá hủy cấu trúc và suy giảm

chức năng sinh lý phổi Tình trạng bệnh diễn

biến chậm, tăng dần nên triệu chứng thường

được xem là bình thường, không khiến bệnh nhân quan tâm và đi khám bệnh cho đến khi

có đợt cấp, với các triệu chứng nặng hơn Tình trạng viêm tạo nên triệu chứng rất thay đổi, không giống nhau giữa người này với người khác (heterogeneous) Trên nền bệnh học như vậy, tính đặc hiệu của triệu chứng là thấp, kể

cả triệu chứng khó thở gắng sức và khò khè (17,18,19) hay kết hợp nhiều triệu chứng hô hấp (17) Nhiều nghiên cứu đã đi theo hướng tầm soát những bệnh nhân có nguy cơ cao (case-finding) để từ đó xác định chẩn đoán bằng spirometry Các yếu tố xác định nhóm người cần tầm soát bao gồm: tuổi (thường từ 35-40 trở lên), hút thuốc hay có nguy cơ phơi nhiễm bụi nghề nghiệp, có ít nhất một trong các triệu chứng hô hấp kéo dài (ho, khạc đàm, khó thở)

và thường đi khám bệnh vì nhiễm trùng hô hấp (20,21).Năm 2005, D.B Price và cs (22) trên

cơ sở một khảo sát ở cộng đồng trên những người hút thuốc lá chưa từng được chẩn đoán bệnh hô hấp, chưa từng sử dụng thuốc hô hấp

đã xác định có 8 yếu tố có giá trị hồi quy đa biến có ý nghĩa trong tầm soát COPD là: Tuổi,

số thuốc lá đã hút, ho, khạc đàm, ho đàm về sáng, khò khè, BMI và tiền sử dị ứng Theo các các tác giả giá trị tầm soát (diện tích dưới đường cong, AUC) của 8 yếu tố này 0,81 với

độ nhậy là 0,82 và độ đặc hiệu là 0,72 (hình 2) Cũng trong một khảo sát ở cộng đồng, NV Thành và cs (năm 2012) (23) nhận định cùng với các yếu tố lâm sàng như trên, nếu có thêm các yếu tố đã từng nhập viện cấp cứu vì bệnh phổi, đã sử dụng thuốc hô hấp (dãn phế quản, corticosteroid) thì AUC rất cao, 0,95 Trong nghiên cứu này các tác giả cũng đề xuất việc

sử dụng dụng cụ đo lưu lượng đỉnh (PEF) Nếu giá trị PEF giảm <70% giá trị ước tính kết hợp triệu chứng lâm sàng AUC lên tới 0,99 (bảng 1)

Trang 4

Hình 2 Đường cong ROC đối với bảng câu hỏi cuối cùng (n = 246) AUC=0.8158 (theo DB Price 2005) (22)

Bảng 1 Bảng điểm chẩn đoán COPD: CT- COPD-S (NV Thành và cs 2012) (23)

Không

69 0

2 Hút thuốc lá (hoặc đã ngưng hút) từ 15 gói-năm trở lên Có

Không

15 0

3 Khạc đàm (cảm giác đàm từ trong phổi) hàng ngày Có

Không

13 0

Không

31 0

Không

23 0

6 Đã được sử dụng thuốc kháng viêm steroid cho bệnh phổi Có

Không

16 0

7 Đã đi khám bệnh cấp cứu vì triệu chứng bệnh phổi Có

Không

25 0

8 Đã đi nhập viện cấp cứu vì triệu chứng bệnh phổi Có

Không

28 0

Không

15 0

Không

26 0

Trang 5

Những nghiên cứu đầu tiên về COPD

vào những năm thập niên 50-60 thế kỷ 20

đã ghi nhận các biến đổi bệnh học, nhất là

những thay đổi có khuynh hướng mạn tính

trên đường thở và phổi ở người hút thuốc

lá Một kết luận quan trọng là đặc điểm tổn

thương trên đường thở suất hiện sớm và

toàn bộ, trong khi khí phế thũng xuất hiện

muộn hơn, không phải trường hợp nào cũng

có và đặc tính khí phế thũng cũng khác so

với những trường hợp khí phế thũng do thiếu

hụt anpha1-antitrypsin (24-26) Sau đó, khoảng

thập niên 60-70, những nghiên cứu sinh lý

chức năng hô hấp của người hút thuốc lá đã

xác định tình trạng thông khí tắc nghẽn và vị

trí tăng trở kháng đường thở đưa đến triệu

chứng hô hấp Cũng vào thời điểm đó, COPD

được định nghĩa là tình trạng tắc nghẽn với

hình ảnh chức năng đặc biệt là giảm FEV1

và giảm tỷ lệ FEV1/FVC (27,28) Macklem PT

và cs (năm 2010) (29) cho rằng những thay

đổi sớm nhất trong COPD là giảm FVC do

hiện tượng khí cạm hơn là giảm FEV1 Hiện

tượng này gây ra do thu hẹp cố định đường

thở nhỏ (<2mm đường kính) do dầy thành,

xơ hóa, bít tắc Ngược lại với hình ảnh tắc

nghẽn trong hen, chủ yếu ở đường thở lớn

hơn và phân bố không đồng đều, ngoại trừ hen ở người lớn tuổi và hen hút thuốc lá có biểu hiện tương tự COPD

4 PHÁT HIỆN VÀ CHẨN ĐOÁN SỚM

Spirometry được chấp nhận như là test chẩn đoán nhằm xác định tình trạng tắc nghẽn và phân loại mức độ tắc nghẽn Bình thường FEV1 trên người khỏe mạnh không hút thuốc

lá cũng giảm theo tuổi, khoảng 30mL/năm với giới hạn trên là 50mL/năm (30) Do vấn

đề này mà có những tranh luận về việc sử dụng điểm cắt cố định đơn (single fixed cut-off) để chẩn đoán tắc nghẽn trong COPD vì

có thể giá trị bình thường thấp (LLN-lower limit of normal) làm tăng chẩn đoán COPD

Do vậy đã có ý kiến cho rằng sử dụng giá trị LLN FEV1/FVC sẽ tốt hơn trong chẩn đoán (31) trong khi các guideline vẫn khuyến cáo

sử dụng giá trị cố định đơn Mặc dù việc xác định tình trạng thông khí tắc nghẽn là rõ ràng,

cụ thể nhưng, như đã trình bày ở phần trên, tình trạng không chẩn đoán COPD ở cộng đồng là phổ biến Trong một khảo sát cộng đồng ở Australia trên những người từ 40 tuổi trở lên, chỉ có 5,2% những người được xác định là COPD đã có chẩn đoán trước đó

Không

37 0

Không

72 0

13 Xquang ngực thường quy có hình ảnh khí phế thũng Có

Không

88 0

Chẩn đoán COPD khi:

- Từ 1-11: 114 điểm

- Từ 1- 11 + 12 hoặc 13: 210 điểm

PEF: Peak expiratory flow

Trang 6

(32) Cũng ở Australia, trong số những người

có chẩn đoán COPD, 31% và 42% là tỷ lệ

những người không được phân loại COPD

trong 2 nghiên cứu năm 2011 (33,34) Hơn nữa,

có máy đo chức năng hô hấp (spirometer) tại

cơ sở khám cũng không làm cải thiện hiệu

quả chẩn đoán (34)

Ý nghĩa của chữ “sớm” trong phát hiện

và chẩn đoán sớm là ở chỗ chẩn đoán được

COPD ở ngay lần đầu tới y tế khám và/hoặc

chẩn đoán được COPD ở giai đoạn sớm

Đây thông thường là công việc của tuyến y

tế ban đầu Ở đây, việc kết hợp chẩn đoán

bằng spirometry trên những người có nguy

cơ cao là chiến lược hiệu quả (35) Spirometry

nên được tập trung trên những người trung

niên hút thuốc lá Bằng cách như vậy, một tỷ

lệ rất đáng kể COPD được chẩn đoán thêm

(36,37) Biện pháp làm tăng tính thực hành là sử

dụng bảng câu hỏi (questionnaire) tầm soát

trước trên nhóm có nguy cơ bằng các câu hỏi

(thí dụ bảng câu hỏi IPAG, Hội Hô hấp và

Chăm sóc ban đầu, Anh) (bảng 2) (38) hay các

bảng yếu tố nguy cơ của DB Price và cs như

đã trình bày ở trên Trong một nghiên cứu

ở Australia, các tác giả vừa sử dụng bảng

câu hỏi IPAG vừa kết hợp sử dụng cụ thổi

cầm tay để đo giá trị FEV1/FEV6 (PiKO-6

spirometer) cho thấy có hiệu quả chẩn đoán

cao với AUC là 0,85 Với điểm cắt giá trị

FEV1/FEV6 75%, độ nhậy chẩn đoán COPD

của phương pháp này là 81% và độ đặc hiệu

là 71% (39)

Như vậy bệnh nhân không được quản

lý điều trị như một trường hợp COPD sẽ ở

trong 2 trạng thái: 1) Có bệnh nhưng không

biết bệnh nên không đi khám mặc dù có hay

không triệu chứng, kể cả đợt cấp và 2) Có

đi khám vì triệu chứng hô hấp hoặc đợt cấp

nhưng không được chẩn đoán hoặc được chẩn

đoán nhưng không được quản lý điều trị

Bảng 2 Bảng câu hỏi tầm soát COPD của IPAG (38)

50-59 60-69

≥ 70

0 4 8 10 Lượng thuốc lá đang

(hoặc đã) hút (gói-năm) 15-240-14

25-49

≥ 50

0 2 3 7

25.4-29.7

>29.7

5 1 0

Có bị ho khi thay đổi thời

Có khạc đàm ngay cả khi

Có khạc đàm vào buổi sáng khi thức dậy không KhôngCó 30

Có bị khò khè không Không

Thỉnh thoảng hoặc thường xuyên

0 4

Có bao giờ bị dị ứng

Tổng số ≥ 17 điểm là có nguy cơ cao COPD

Trong khi lợi ích thực từ việc tầm soát (screening) COPD ở cộng đồng hiện nay vẫn còn bị hoài nghi (40,41) thì việc xác định một trường hợp COPD bằng chẩn đoán lâm sàng

để có hướng tác động điều trị sớm, nhất là tác động không dùng thuốc, là rất cần thiết Với phân tích như vậy, thái độ phù hợp nhất là tiếp cận COPD từ những đợt cấp Một nghiên cứu đã khảo sát thực hành ở y tế ban đầu trên

Trang 7

một số lượng lớn bệnh nhân ho cấp tính tới

khám, nếu chỉ xác định bằng 2 yếu tố: >40

tuổi và có hút thuốc lá thì đã có 79,8% bệnh

nhân khai đã có triệu chứng hô hấp mạn tính

Nhóm có triệu chứng hô hấp mạn tính có tuổi

đời cao hơn, tỷ lệ phơi nhiễm nhiều hơn và

chất lượng sống thấp hơn Đặc biệt là ở nhóm

bệnh nhân có triệu chứng hô hấp mạn tính

số lần đã đi khám trong 12 tháng trước nhiều

hơn và đã được điều trị kháng sinh nhiều hơn

(42) Một nghiên cứu khác phân tích bệnh nhân

đợt cấp COPD sau khi xuất viện cho thấy tỷ

lệ tử vong trong 90 ngày là 5% Cũng trong

90 ngày, có 37% bệnh nhân tái nhập viện và

trong số đó tử vong là 6,5% Nếu gộp chung,

cả tử vong trong và ngoài bệnh viện sau 90

ngày là 11,6% (43) Tỷ lệ tái nhập viện và tử

vong từ nghiên cứu này cho thấy một hình

ảnh tiên lượng rất xấu của bệnh nhân đợt cấp,

nhất là đợt cấp nhập viện Những phân tích

như trên là cơ sở để nhấn mạnh việc cần thiết

phải chẩn đoán lâm sàng COPD ngay khi tiếp

cận lần đầu trên bệnh nhân có những yếu tố

nguy cơ cao COPD Bằng một lộ trình theo

dõi và xử trí hợp lý sẽ không chỉ làm tăng

khả năng chẩn đoán COPD mà còn làm giảm

gánh nặng bệnh tật và tử vong

5 ĐỀ XUẤT THỰC HÀNH

Như vậy với triệu hô hấp cấp tính đi khám

hoặc nhập viện cấp cứu ở những bệnh nhân

có nguy cơ cao COPD, thầy thuốc cần sử

dụng bảng câu hỏi hoặc tối thiểu là xác định

các yếu tố nguy cơ, khám và thực hiện các

xét nghiệm có sẵn để chẩn đoán COPD Sẽ có

2 tình huống: 1) Ở các phòng khám chuyên

khoa hoặc nhập viện điều trị và 2) Ở các

phòng khám đa khoa và ngoại trú

Ở các phòng khám chuyên khoa, hoặc

bệnh viện, bằng khám và xét nghiệm nếu

không có một chẩn đoán nào cần phân biệt

(nhất là suy tim, lao phổi, hen) thì bệnh nhân cần được chẩn đoán lâm sàng COPD khi:

Hình 3 Sơ đồ tiếp cận phát hiện và chẩn đoán sớm

COPD từ đợt cấp ở các cơ sở y tế chuyên khoa hoặc

nhập viện cấp cứu

Từ 40 tuổi trở lên, hút thuốc lá, có triệu chứng

hô hấp mạn tính Các hướng dẫn điều trị không

sử dụng thuốc (như dinh dưỡng, vận động, vaccin, tránh phơi nhiễm) cần thực hiện ngay khi có chẩn đoán lâm sàng Ngay sau trị liệu đợt cấp (5-7 ngày điều trị) hay khi xuất viện, cần thực hiện spirometry để xác định chẩn đoán COPD này Nếu spirometry có tình trạng tắc nghẽn cố định (FEV1/FVC <70% sau thuốc dãn phế quản), cần có kế hoạch quản lý và điều trị COPD duy trì trong 12 tháng tiếp theo Trong trường hợp như vậy, việc quản lý và điều trị cần theo hướng bệnh nhân COPD có nhiều đợt cấp như GOLD đề xuất (46) Spirometry cần thực hiện lại sau mỗi 3 tháng quản lý và điều trị Nếu bệnh nhân vẫn tiếp tục hút thuốc lá và/hoặc phơi nhiễm với khói bụi thì dù giá trị FEV1/FVC ≥70% cũng nên theo dõi đến hết

12 tháng mới xác định nên hay không nên tiếp tục điều trị duy trì COPD vì nhiều trường hợp tình trạng tắc nghẽn có thể đạt điểm cắt sau nhiều lần spirometry nếu bệnh nhân tiếp tục

Trang 8

hút thuốc lá và/hoặc phơi nhiễm (47) Hình 3 thể

hiện sơ đồ quản lý và điều trị để phát hiện và

chẩn đoán sớm COPD ngay sau đợt cấp ở các

phòng khám chuyên khoa hoặc bệnh viện cho

những bệnh nhân chưa được chẩn đoán xác

định COPD trước đó

Đối với bệnh nhân đến khám ngoại trú vì triệu chứng hô hấp tại các cơ sở y tế không

chuyên khoa, bằng khám và ít nhất với hình

ảnh Xquang ngực nếu không có một chẩn

đoán nào cần phân biệt (nhất là suy tim, lao phổi, hen) thì bệnh nhân cần được chẩn đoán lâm sàng COPD khi: Từ 40 tuổi trở lên, hút

thuốc lá, có triệu chứng hô hấp mạn tính Các hướng dẫn điều trị không sử dụng thuốc (thí dụ như dinh dưỡng, vận động, vaccin, tránh phơi nhiễm) cần thực hiện ngay khi có chẩn đoán lâm sàng Ngay sau trị liệu đợt cấp (5-7 ngày) cần đo lưu lượng đỉnh (PEF) (hoặc spirometry nếu có thể) để xác định chẩn đoán COPD

Hình 4 Sơ đồ tiếp cận phát hiện và chẩn đoán sớm COPD từ đợt cấp đến khám ngoại trú

ở các cơ sở y tế không chuyên khoa

Nếu PEF (hoặc spirometry) có tình trạng tắc

nghẽn (PEF <70% hoặc FEV1/FVC <70%),

cần có kế hoạch quản lý và điều trị COPD

duy trì trong 12 tháng tiếp theo Trong trường

hợp này việc quản lý và điều trị cần theo

hướng bệnh nhân COPD có nhiều đợt cấp

như GOLD đề xuất (46) nếu bệnh nhân có ít

nhất 1 lần đi khám trong 3 tháng trước hoặc 1

lần phải vào nhập viện điều trị vì triệu chứng

hô hấp trong 12 tháng trước Hình 4 thể hiện

sơ đồ quản lý và điều trị để phát hiện và chẩn

đoán sớm COPD ngay sau đợt cấp ở các cơ sở

y tế không chuyên khoa cho những bệnh nhân

chưa được chẩn đoán COPD trước đó

KẾT LUẬN

Thực trạng chẩn đoán và quản lý COPD đang được xem như mới tiếp cận được phần nổi của khối băng chìm Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trong đó vấn đề phát hiện và chẩn đoán sớm là một yếu tố then chốt Một kế hoạch hành động và theo dõi ngay sau đợt cấp sẽ giúp tăng được tỷ lệ chẩn đoán để từ đó tăng hiệu quả quản lý và điều trị Trong khi chờ các nghiên cứu đánh giá, với thực tế ở Việt Nam, cách tiếp cận này nên được xem là hợp lý, cụ thể và có tính thực hành hiện nay

Trang 9

1 Mannino DM, Buist AS Global burden of COPD:

risk factors, prevalence, and future trends Lancet

2007;370:765-73.

2 Connors AF, Dawson NV, Thomas C, Harrell

F, Desbiens N,Fulkerson WJ, et al Outcomes

following acute exacerbation of chronic obstructive

lung disease The SUPPORT investigators Am J

Respir Crit Care Med 1996;154:959-67.

3 Connors AF, Dawson NV, Thomas C, Harrell

F, Desbiens N, Fulkerson WJ, et al Outcomes

following acute exacerbation of chronic obstructive

lung disease The SUPPORT investigators Am J

Respir Crit Care Med 1996;154:959-67.

4 Almagro P, Calbo E, de Echagüen AO, Quintana

BBS, Heredia JL, Garau J Mortality after

hospitalization for COPD Chest 2002;121;1441

5 Mannino DM, Gagnon RC, Petty TL, Lydick E

Obstructive lung disease and low lung function

in adults in the United States: data from the

National Health and Nutrition Examination Survey,

2000;160(11):1683-1689 Doi: http://dx.doi.org/10.1001/

archinte.160.11.1683

6 Hvidsten SC, Storesund L, Wentzel-Larsen

T, Gulsvik A and Lehmann S Prevalence and

predictors of undiagnosed chronic obstructive

pulmonary disease in a Norwegian adult general

population The Clinical Respiratory Journal 2010;

4: 13–21.

7 Hvidsten SC, Storesund L, Wentzel-Larsen

T, Gulsvik A and Lehmann S Prevalence and

predictors of undiagnosed chronic obstructive

pulmonary disease in a Norwegian adult general

population The Clinical Respiratory Journal 2010;

4: 13–21.

8 Roche N, Gaillat J, Garre M, et al Acute respiratory

illness as a trigger for detecting chronic bronchitis

in adults at risk of COPD: a primary care survey

Prim Care Respir J 2010;19(4):371- 377 Doi:

http://dx.doi.org/10.4104/pcrj.2010.00042

9 Han MK, Steenrod AW, Bacci ED, et al for the

High-Risk-COPD Screening Study Group

Identifying patients with undiagnosed COPD in

primary care settings: Insight from screening

tools and epidemiologic studies J COPD F

2015; 103-121 Doi:http://dx.doi org/10.15326/

jcopdf.2.2.2014.0152

10 MJ Abramson et al Accuracy of asthma and

COPD diagnosis in Australian general practice: a

mixed methods study Prim Care Respir J 2012;

21(2): 167-173

11 Matheson MC, Abeysena C, Raven JM, et al How have we been managing chronic obstructive pulmonary disease in Australia? Intern Med J 2006;36(2):92-9

12 Den Otter JJ, de Bruyn-Schmidt MA, Wolters

MJ, et al Lung function measurement in general practice General practice measurements compared with laboratory measurements during the DIMCA trial Fam Pract 2000; 17(4):314-16 http://dx.doi.org/10.1093/fampra/17.4.314

13 Buffels J, Degryse J, Liistro G Diagnostic certainty, co-morbidity and medication in a primary care population with presumed airway obstruction: the DIDASCO2 study Prim Care Respir J

2009;18(1):34-40 http://dx.doi.org/ 10.3132/pcrj.2008.00047

14 Julia AE Walters, Emily Hansen, Peter Mudge

et al Barriers to the use of spirometry in general practice Australian Family Physician Vol 34, No

3, March 2005

15 Menezes AM, Perez-Padilla R, Jardim JB, et al Chronic obstructive pulmonary disease in five Latin American cities (the PLATINO study): a prevalence study Lancet 2005; 366:1875–1881

16 NV Nhung Giải pháp cho quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam Tạp chí Lao

và bệnh phổi số 3 4/2011

17 Nathalie Saad, Maria Sedeno, KatrinaMetz et al Early COPD Diagnosis in Family Medicine Practice: How to Implement Spirometry? International Journal of Family Medicine Volume 2014, Article

ID 962901, http://dx.doi.org/10.1155/2014/962901

18 Hani A Jokhdar, Mohammed A Garout, Mohammad M Alkot et al Early Detection of Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD)

in Family Practice Journal of Family Medicine and Health Care 2017; 3(1): 1-5

19 Keiichiro Akamatsu, Toshiyuki Yamagata, Yohei Kida et al Poor Sensitivity of Symptoms in Early Detection of COPD COPD: Journal of Chronic Obstructive Pulmonary Disease, 2008, 5:269–273

20 Ulla Borup Hemmingsen, Margit Stycke, Jens Dollerup et al Guideline-Based Early Detection

of Chronic Obstructive Pulmonary Disease in Eight Danish Municipalities: The TOP-KOM Study Hindawi Pulmonary Medicine Volume 2017, Article

ID 7620397.

21 Janelle M Guirguis-Blake, Caitlyn A Senger, Elizabeth

M Webber et al Screening for Chronic Obstructive Pulmonary Disease: A Systematic Evidence Review for the U.S Preventive Services Task Force AHRQ Publication No 14-05205-EF-1 April 2016

Tài liệu tham khảo

Trang 10

22 David B Price, David G Tinkelman, R.J Halbert et

al Symptom-Based Questionnaire for Identifying COPD in Smokers

23 Nguyễn Văn Thành, Cao Thị Mỹ Thúy, Võ Phạm

Minh Thư và cs Xây dựng mô hình hệ thống quản

lý và điều trị hiệu quả COPD và Hen phế quản trong bệnh viện và ở cộng đồng NXB Y Học 2012,

tr 57-69

24 Anderson DO, Ferris BG Role of Tobacco

Smoking in the Causation of Chronic Respiratory Disease N Engl J Med 1962;267:787-94.

25 Dunnill MS The classification and quantification of

emphysema Proceedings of the Royal Society of Medicine 1969;62:1024-7

26 Flotte TR, Mueller C Gene therapy for

alpha-1 antitrypsin deficiency Hum Mol Genet 2011;20:R87-92.

27 Macklem PT The physiology of small airways Am

J Respir Crit Care Med 1998;157:S181-3

28 Macklem PT A Century of the Mechanics

of Breathing Am J Respir Crit Care Med 2004;170:10-5.

29 Macklem PT Therapeutic implications of

the pathophysiology of COPD Eur Respir J 2010;35:676-80.

30 Kerstjens HA, Rijcken B, Schouten JP, et al

Decline of FEV 1 by age and smoking status: facts, figures, and fallacies Thorax 1997;52:820-7.

31 Schermer TR, Quanjer PH COPD screening in

primary care: who is sick? Prim Care Respir J 2007;16:49-53.

32 Toelle BG, Xuan W, Bird TE, et al Respiratory

symptoms and illness in older Australians: the Burden of Obstructive Lung Disease (BOLD) study Med J Aust 2013;198:144-8.

33 Walters JA, Walters EH, Nelson M, et al Factors

associated with misdiagnosis of COPD in primary care Prim Care Respir J 2011;20:396-402

34 Zwar NA, Marks GB, Hermiz O, et al Predictors

of accuracy of diagnosis of chronic obstructive pulmonary disease in general practice Med J Aust 2011;195:168-71.

35 David P Johns, Julia A.E Walters, E Haydn Walters

Diagnosis and early detection of COPD using spirometry J Thorac Dis 2014;6(11):1557-1569

36 Van Schayck CP, Loozen JM, Wagena E, et al

Detecting patients at a high risk of developing chronic obstructive pulmonary disease in general practice: cross sectional case finding study BMJ 2002;324:1370

37 Sichletidis L, Spyratos D, Papaioannou M, Chloros D, Tsiotsios A, Tsagaraki V, Haidich A

A combination of the IPAG questionnaire and PiKo-6® flow meter is a valuable screening tool for COPD in the primary care setting Prim Care Respir J 2011;20(2):184-189

38 Haroon S, Adab P, Griffin C, et al Case finding for chronic obstructive pulmonary disease in primary care: a pilot randomised controlled trial Br J Gen Pract 2013;63:e55-62.

39 Frith P, Crockett A, Beilby J, et al Simplified COPD screening: validation of the PiKo-6 in primary care Prim Care Respir J 2011;20:190-8.

40 Guirguis-Blake JM, Senger CA, Webber EM, Mularski R, Whitlock EP Screening for Chronic Obstructive Pulmonary Disease: A Systematic Evidence Review for the U.S Preventive Services Task Force Evidence Synthesis No 130 AHRQ Publication No 14-05205-EF-1 Rockville, MD: Agency for Healthcare Research and Quality;

2016

41 Kaplan A, Thomas M Screening for COPD: the gap between logic and evidence Eur Respir Rev 2017; 26: 160113 [https://doi org/10.1183/16000617.0113-2016].

42 Prieto Centurion et al.: Confirmatory spirometry for adults hospitalized with a diagnosis of asthma or chronic obstructive pulmonary disease exacerbation BMC Pulmonary Medicine 2012 12:73.

43 Pozo-Rodrı´guez F, Lo´pez-Campos JL, A´ lvarez-Martı´nez CJ, Castro-Acosta A, Agu¨ ero R, et al (2012) Clinical Audit of COPD Patients Requiring Hospital Admissions in Spain: AUDIPOC Study PLoS ONE 7(7): e42156 doi:10.1371/journal pone.0042156

44 Rea H, Kenealy T, Adair J, Robinson E, Sheridan N: Spirometry for patients in hospital and one month after admission with an acute exacerbation

of COPD Int J Chron Obstruct Pulmon Dis 2011, 6:527–532.

45 Conthe Gutie´rrez P, Garcı´a Alegrı´a J, Pujol Farriols R, Alfageme Michavilla I, Artola Mene´ndez

S, et al (2010) [Consensus for hospital discharge reports in medical specialities] Med Clin (Barc) 134: 505–510.

46 Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (report 2017)

47 Tjard R Schermer, Bas Robberts, Alan J Crockett

et al Should the diagnosis of COPD be based

on a single spirometry test? npj Primary Care Respiratory Medicine (2016) 26, 16059

Ngày đăng: 19/04/2021, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm